Nhằm phân biệt những điểm khác nhau về các từ chỉ vị trí giữa tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi xuất phát từ góc độ ngữ nghĩa, ngữ pháp, mô tả đặc điểm của các từ chỉ vị trí trong tiếng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
============================
GIANG HẢI YẾN
CÁC TỪ CHỈ VỊ TRÍ TRONG TIẾNG HÁN
SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS ĐINH VĂN ĐỨC
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
Mở đầu ……… 1
Chương I Những vấn đề lý luận về từ chỉ vị trí trong tiếng Hán……… 6
1.1 Cương vị của từ chỉ vị trí trong hệ thống từ loại ……….… 6
1.1.1 Khái niệm của từ và từ loại ……… 6
1.1.2 Vị trí của các từ chỉ vị trí trong hệ thống từ loại tiếng Hán hiện đại ……… 7
1.2 Cách nhận diện các từ chỉ vị trí……….… 8
1.2.1 Một số quan điểm về từ chỉ vị trí……… 8
1.2.2 Giải thích về định nghĩa từ chỉ vị trí……… 14
1.3 Các tính chất của từ chỉ vị trí……… 15
1.3.1 Tính chất chung của từ chỉ vị trí……… 15
1.3.2 Đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa của từ chỉ vị trí……… 17
1.4 Mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với các nhóm từ liên quan (ví dụ từ chỉ hướng, từ chỉ thời gian v.v )……… 20
1.4.1 Khái niệm về từ chỉ hướng, từ chỉ thời gian……… 20
1.4.2 Mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với từ chỉ hướng và từ chỉ thời gian……… 22
Chương II Nhận xét các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán hiện đại…… 27
2.1 Mô tả……… 27
2.1.1 Thống kê danh sách các từ chỉ vị trí……… 27
2.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa các từ chỉ vị trí……… 31
2.1.3 Đặc điểm ngữ pháp của từ chỉ vị trí qua cách suy nghĩ của người Trung Quốc……… 49
2.2 Bàn luận……… 61
Trang 4Chương III So sánh một số đặc điểm của từ chỉ vị trí
giữa tiếng Hán và tiếng Việt……… 64
3.1 Mô tả……… 64
3.1.1 Những điểm gống nhau……… 73
3.1.2 Những điểm khác nhau……… 76
3.2 Bàn luận……… 79
Kết luận……… 81
Tài liệu tham khảo………
Phụ lục 1 Bảng đối chiếu các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán với các từ tương đương trong tiếng Việt ………
Phụ lục 2 Những thành ngữ thục ngữ thường dùng có chứa các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán hiện đại………
Phụ lục 3 Nguồn ngữ liệu phục vụ mô tả………
Trang 5MỞ ĐẦU
0.1 Lý do chọn đề tài
Các từ chỉ vị trí trong hệ thống từ loại tiếng Hán hiện đại tuy số lượng không nhiều nhưng chúng có vai trò rất quan trọng trong ngữ pháp và ngữ nghĩa Từ chỉ vị trí trong hệ thống tiếng Hán hiện đại không những có thể biểu thị quan hệ định vị thời gian, không gian, mà còn có thể biểu thị nhiều
ý nghĩa khác, ví dụ biểu thị phạm trù, giới hạn v.v Chẳng hạn, 三天前
(tam thiên tiền) ba ngày trước, 桌子上(trác tử thượng) trên bàn biểu thị nghĩa định vị thời gian, không gian, còn 学生中(học sinh trung) trong số
sinh viên, 三天以内(tam thiên dĩ nội) trong vòng ba ngày thì biểu thị
phạm trù và giới hạn
Văn hóa Trung Quốc và Việt Nam có nhiều nết tương đồng, đó cũng dẫn đến cách diễn đạt người Hán và người Việt về cơ bản là giống nhau Cũng như các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán thường cũng có thể tìm được các
từ tương đương trong tiếng Việt Nhưng do thuộc hai loại văn hóa khác nhau, cách suy nghĩ cũng khác nhau, cho nên các từ chỉ vị trí tuy phần lớn
là tương đồng, nhưng vẫn có một số khác biệt Nhằm phân biệt những điểm khác nhau về các từ chỉ vị trí giữa tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi xuất phát từ góc độ ngữ nghĩa, ngữ pháp, mô tả đặc điểm của các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán cũng như trong tiếng Việt, qua đó, đưa ra những điểm khác nhau giữa tiếng Hán và tiếng Việt Hiện nay, bất cứ ở Trung Quốc hay ở Việt Nam đều có nhiều người đang học tiếng Việt hoặc tiếng Hán, trong quá trình học tập, thường có nhiều cách hiểu không đúng nghĩa hoặc chuyển dịch sai các từ chỉ vị trí, ví dụ khi từ tiếng Hán sang tiếng Việt, các
từ 学习上(học tập thượng) về học tập, 基本上(cơ bản thượng) về cơ bản, 三十左右(tam thập tả hữu) trên dưới 30 / khoảng 30 thì hay chuyển dịch sai là trên học tập, trên cơ bản, phải trái 30 Và khi từ tiếng Việt sang tiếng
Trang 6Hán những từ không biết phải trái, mặt trái thì dễ chuyển dịch sai là 不知
左右(bất tri tả hữu), 左面(tả diện) Cho nên việc tìm ra những điểm khác biệt về ngữ nghĩa, ngữ pháp (chủ yếu về ngữ nghĩa) của các từ chỉ vị trí giữa tiếng Hán và tiếng Việt sẽ có thể giúp ích cho việc dạy và học tiếng
Hán hoặc tiếng Việt Đây chính là lý do chọn đề tài Các từ chỉ vị trí trong
tiếng Hán so sánh với tiếng Việt
0.2 Mục đích của đề tài
Mục đích nghiên cứu luận văn là khảo sát đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán và qua mô tả những đặc điểm của từ chỉ vị trí trong tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh những đặc điểm
tương đồng và khác biệt giữa tiếng Hán và tiếng Việt
Luận văn này sẽ thực hiện một số vấn đề sau:
-Tổng kết lại những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán
-Tìm hiểu một số đặc điểm của các từ chỉ vị trí tương ứng trong tiếng Việt
- So sánh một số đặc điểm của từ chỉ vị trí giữa tiếng Hán và tiếng
Việt, và rút ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa tiếng Hán và tiếng Việt
Qua mô tả và so sánh, đưa ra những điểm giống nhau và khác nhau, để giúp ích cho việc học và dạy tiếng Hán hoặc tiếng Việt, nhất là về các điểm khác biệt giữa hai thứ tiếng Ở phần phụ lục luận văn, chúng tôi sẽ thống kê lại một số thành ngữ, tục ngữ thường dùng, trong đó có gạch chân các từ chỉ vị trí để làm tài liệu tham khảo
0.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận văn này là:
- Mô tả các từ chỉ vị trí trong hệ thống từ loại tiếng Hán hiện đại và đặc điểm của các từ chỉ vị trí trên bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp
Trang 7- Nhận diện các biểu hiện từ vựng, ngữ pháp tương đương trong tiếng Việt Mô tả đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của các biểu đạt này, qua sự mô
tả, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán và các biểu đạt tượng đương trong tiếng Việt
0.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đơn vị từ vựng chỉ vị trí trong tiếng Hán và các từ tương đương trong tiếng Việt Dựa trên đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán để nhận diện những điểm giống nhau và khác nhau về các biểu hiện từ vựng, ngữ pháp giữa các từ này và các từ tương đương trong tiếng Việt Luận văn sẽ thông qua những ngữ liệu trong tác phẩm văn học, từ đó có thể so sánh đối chiếu các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán và tiếng Việt bằng những ví dụ sinh động, thực tế và mang tính thuyết phục
0.5 Phương pháp tiếp cận
Phương pháp thống kê: luận văn thống kê các đơn vị từ vựng chỉ vị
chí trong tiếng Hán thông qua Từ điển Hán ngữ hiện đại Bằng phương
pháp này, luận văn hướng tới tìm hiểu dung lượng các đơn vị từ vựng chỉ vị
trí trong tiếng Hán
Phương pháp miêu tả: đây là phương pháp giúp luận luận văn đạt
được mục tiêu chính là miêu tả các đơn vị từ vựng chỉ vị chí trong tiếng Hán Trong quá trình miêu tả, luận văn cố gắng đi vào nhóm từ chỉ vị trí trong tiếng Hán với những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa
Phương pháp phân tích: luận văn áp dụng phương pháp này cùng
với phương pháp đối chiếu để tìm ra sự đồng nhất và khác biệt giữa các
đơn vị từ vựng chỉ vị trí trong tiếng Hán và tiếng Việt Trên cơ sở này, tìm hiểu sự khác biệt về đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của cac từ chỉ vị trí
trong tiếng Hán và tiếng Việt Từ đó có thể áp dụng phương pháp quy nạp
rút ra những điểm giống nhau và khác nhau
Trang 8Phương pháp nghiên cứu dựa trên từ điển và các nguồn ngữ liệu:
Trong luận văn những từ chuyển dịch đều theo các từ điển như sau:
-Từ điển tiếng Hán hiện đại, nhà xuất bản Thương Vụ, 1990
-Từ điển Việt Hán hiện đại, Hoàng Long, Dương Vĩnh Thiện, NXB Văn hóa thông tin, 1999
-Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2000
-Từ điển Hán Việt, NXB Thương Vụ, 1994
Các nguồn ngữ liệu được sử dùng trong luận văn sẽ liệt trong phần phục lục
0.6 Tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận văn là:
- Các chuyên luận về từ chỉ vị trí trong tiếng Hán và tiếng Việt Qua những chuyên luận này, chúng tôi tìm hiểu các đặc điểm của từ chỉ vị trí trong tiếng Hán và so sánh với những đặc điểm của các từ tương đương trong tiếng Việt
- Các tác phẩm văn học tiếng Hán và tiếng Việt phục vụ cho việc mô
tả các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán và các từ tương đương trong tiếng Việt。
0.7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo theo quy định, luận văn gồm 3 chương:
Chương I Những vấn đề lý luận về từ chỉ vị trí trong tiếng Hán
Trong chương này, chủ yếu mô tả khái niệm của các từ chỉ vị trí trong bối cảnh hệ thống từ loại tiếng Hán hiện đại, đưa ra một số quan điểm về khái niệm từ chỉ vị trí khác nhau mà có tính tiêu biểu Qua mô tả trong chương này để làm nền móng cho các chương 2, 3 sau
Chương II Nhận xét các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán hiện đại
Trong chương này, chủ yếu mô tả về đặc điểm ngữ nghĩa của các từ
Trang 9chỉ vị trí trong tiếng Hán (gồm nghĩa cơ bản, nghĩa phái sinh), và ngữ pháp của các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán theo khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của chúng
Chương III So sánh một số đặc điểm của từ chỉ vị trí giữa tiếng Hán và tiếng Việt
Trong chương này, qua phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ tương đương trong tiếng Việt, chủ yếu so sánh đối chiếu về một số điểm giống nhau và khác biệt giữa hai ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 10CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỪ CHỈ VỊ TRÍ
TRONG TIẾNG HÁN
1.1 Cương vị của từ chỉ vị trí trong hệ thống từ loại
1.1.1 Khái niệm của từ và từ loại
Trong Ngôn ngữ học, từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có ý nghĩa
và có thể sử dụng độc lập, ví dụ 工人(công nhân) là một từ, bởi vì trước hết, nó có ý nghĩa, nó có thể sử dụng độc lập và cũng có thể độc lập trả lời câu hỏi Ví dụ:
(1) 问:他哥哥是干什么的?
答:工人。
(A: Anh trai anh ấy làm nghề gì?
B: Công nhân.)
Thứ hai, nó là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có thể sử dụng độc lập,
ví dụ nếu chúng tôi chia nhỏ hơn nữa thì từ 工人 có thể chia thành 工
và 人, không những nghĩa không hoàn toàn giống với 工人, mà khi 工làm danh từ thì thường nó không thể sử dụng độc lập Ví dụ, từ 的 cũng
là một từ Nó biểu thị ý nghĩa ngữ pháp nhất định và có thể độc lập đặt vào trong câu mà không cần kết hợp với các thành phần ngôn ngữ đặc biệt nào đó Ví dụ:
(2) 我的家在云南。
(Quê (của) tôi ở Vân Nam.)
Ngoài ra, nó tất nhiên cũng là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa Mà ở đây chúng tôi hãy xem từ 民(dân) trong từ 人民(nhân dân) thì không phải
là một từ rồi, bởi vì nó không thể độc lập đặc vào trong câu được, phải kết hợp với các từ tố 人(nhân), 公(công), 居(cư) để hợp thành 人民
Trang 11(nhân dân), 公民(công dân), 居民(cư dân-dân cư) mới có thể đặt vào câu đươc Ví dụ:
(3) 全国人民团结起来。
(Nhân dân cả nước đoàn kết lại.)
Trong những lời nói hàng ngày của chúng ta, từ là những vật liệu không thể thiếu để ―xây dựng‖ câu, những lời nói của chúng ta đều do chúng tạo ra
Tuy từ là thành phần cấu tạo câu, nhưng không phải tất cả những từ trong câu đều đóng vai trò như nhau Những từ khác nhau cũng có chức năng tạo câu khác nhau, cho nên chúng ta phải phân loại vốn từ theo chức năng của chúng Từ loại chính là những lớp từ có bản chất ngữ pháp chung, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định Về vấn đề tiêu chuẩn phân loại vốn từ , các nhà ngữ pháp thông thường xắc định tiêu chuẩn phân định theo ý nghĩa, chức năng
Đại thể có thể phân loại từ loại tiếng Hán hiện đại thành 12 loại Trong
đó gồm hai loại lớn thực từ và hư từ Thực từ có ý nghĩa thực, có vị trí tự
do trong câu, có thể từ làm đoản ngữ hoặc làm thành phần câu, cũng có thể
từ làm thành câu Hư từ không có ý nghĩa thực, có vị trí cố định trong câu,
Trang 12không làm đoản ngữ hoặc thành phần câu, vai trò cơ bản của hư từ chủ yếu
là biểu hiện quan hệ ngữ pháp Trong danh từ lại gồm các từ chỉ thời gian,
từ phương vị (từ chỉ hướng và từ chỉ vị trí), từ chỉ địa điểm v.v
Theo cách phân loại trên, từ loại tiếng Hán hiện đại có thể cụ thể phân loại như sau 1:
Bảng 1: Cách phân loại của từ loại tiếng Hán
từ Trong đó, về vấn đề phân định phó từ còn nhiều ý kiến khác nhau, có một số nhà ngôn ngữ học cho rằng phó từ nên thuộc phạm trù hư từ, bởi vì
ngoài mấy từ đặc biệt như 也许(dã hứa), 可能(khả năng)…có lẽ, có thể…
có thể tự làm đoản ngữ hoặc tự làm một câu độc lập, những phó từ khác đều không có chức năng này Về từ loại của các từ chỉ vị trí, hiện nay cũng vẫn đang có nhiều ý kiến khác nhau, đa số cho rằng các từ chỉ vị trí thuộc
từ loại danh từ, nhưng cũng có một số người cho rằng là giới từ Theo quan điểm luận văn này, các từ chỉ vị trí thuộc từ loại danh từ
1
Theo quan điểm cuốn sách Ngữ pháp tiếng Hán thực hành hiện đại do nhà xuất bản Thương Vụ Trung Quốc xuất
Trang 13chỉ hướng cũng có thể chỉ vị trí, vai trò khác nhau được thể hiện bằng giới
từ khác nhau, cho nên thường gọi chung là phương vị từ, ví dụ: từ 南边
(nam biên) phía nam trong hai câu 他往南边走/ 他住在南边 (Anh ấy đi
về phía nam / Anh ấy ở phía nam) vừa là từ chỉ hướng vừa là từ chỉ vị trí
Cho nên, trong tiếng Hán hiện đại không tách ra hai loại từ chỉ phương hướng và vị trí thành hai loại từ riêng mà gọi chung là phương vị từ
Trong tiếng Hán hiện đại có nhiều quan điểm về khái niệm phương vị
từ, nhưng trong những quan điểm khác nhau này, có một điều là như nhau,
đó chính là về khái niệm và phạm trù của các từ chỉ phương hướng, cho nên về những quan điểm này chủ yếu khác về các từ chỉ vị trí Ở đây chúng tôi hãy nêu ra mấy quan điểm mang tính tiêu biểu như sau:
- Quan điểm trong cuốn sách Ngữ pháp khẩu ngữ tiếng Hán của tác
giả Triệu Nguyên Nhiệm đã giải thích phương vị từ như sau:
方位词或者是一个语素,如―上‖,或者是一个语素组合,如―上头‖,跟它前头的从属于它的体词合起来构成一个处所词,如―桌子上‖,或者一个时间词,如―晚上‖ 2。
(Phương vị từ có thể là một từ tố như 上(thượng) trên, có thể là một
tổ hợp từ tố như 上头(thượng đầu)trên, có thể kết hợp với thể từ đứng
trước nó mà lại phụ thuộc nó làm một từ chỉ nơi chốn, ví dụ ―桌子上‖(trác
tử thượng) trên bàn, và cũng có thể là một từ chỉ thời gian như ―晚上‖(vãn thượng) buổi tối, ban đêm.)
Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra 14 từ chỉ vị trí đơn: 上(thượng)
trên, 下(hạ) dưới, 前(tiền) trước, 先(tiên) trước, 后(hậu) sau, 内(nội) trong, 里(lí) trong, 外(ngoại) ngoài, 左(tả) trái, 右(hữu) phải, 旁(bàng) bên cạnh, 中(trung) trong, 间(gian) giữa, 这儿(giá nhi) đây, 那儿(ná nhi)
đó Theo tác giả, những từ đã được nêu ra là từ chỉ vị trí đồng thời cũng là
từ chỉ nơi chốn
2
Trang 14- Trong Tám trăm từ tiếng Hán hiện đại, tác giả Lữ Thúc Tương đã
coi phương vị từ là một loại danh từ và mô tả phương vị từ như sau:
方位词有单音的,有双音的。双音的方位词可以加在别的词(主要是名词)或短语后边,组成方位短语,也可以作为一个词单独用(除少数例外)。单音的方位词主要加在名词或别的词后边,一般不单用。
Phương vị từ có hai loại đơn âm tiết và song âm tiết Từ song âm tiết
có thể đứng sau các từ khác (chủ yếu là danh từ) và đoản ngữ, kết hợp thành đoản ngữ phương vị, cũng có thể sử dụng độc lập như một từ (trừ một số trường hợp ngoại lệ) Từ đơn âm tiết chủ yếu đứng sau danh từ và các loại từ khác, thông thường không sử dụng độc lập
Theo tác giả, các từ chỉ vị trí đơn có 上(thượng) trên, 下(hạ) dưới, 前 (tiền) trước, 后(hậu) sau, 里(lí) trong, 内(nội) trong, 中(trung) trong, 外 (ngoại) ngoài, 旁(bàng) bên cạnh, 左(tả) trái, 右(hữu) phải Các từ chỉ vị
trí kép chủ yếu là các từ đơn kết hợp với tiền tố 之(chi), 以(dĩ) và hậu tố 边(biên), 面(diện), 头(đầu), ngoài ra, còn có trường hợp ngoại lệ 面前
(diện tiền) trước mặt, 跟前(cân tiền) bên cạnh, 头里(đầu lí) trước, 背后 (bối hậu) phía sau, 底下(để hạ) dưới, 中间(trung gian) giữa, 当中(đang trung) giữa, 内中(nội trung) bên trong, 旁边(bàng biên) bên cạnh
- Quan điểm trong cuốn Giáo trình ngữ pháp của tác giả Chu Đức Hy
đã định nghĩa các từ chỉ vị trí như sau:
方位词可以分成单纯方位词和合成方位词两类。单纯方位词包括
―上、下、前、后、里、外、内、中、左、右、间、旁、东、西、南、
北‖。
单纯方位词加上前缀―之‖、―以‖或―边(儿)、面(儿)、头(儿)‖等后缀造成合成方位词。
Phương vị từ có thể chia thành hai loại phương vị từ đơn và phương
vị tự kép Phương vị từ đơn gồm: 上(thượng)trên, 下(hạ)dưới, 前
(tiền)trước, 后(hậu)sau, 里(lí)trong, 外(ngoại)ngoài, 内(nội)trong, 中
Trang 15(trung)trong, 左(tả)trái, 右(hữu)phải, 间(gian)giữa, 旁(bàng)bên cạnh,
东(đông), 西(tây), 南(nam), 北(bắc) Phương vị từ đơn kết hợp với hậu tố
hoặc tiền tố hợp thành phương vị từ kép
Như vậy, theo tác giả thì các từ chỉ vị trí đơn là 上(thượng) trên, 下 (hạ) dưới, 前(tiền) trước, 后(hậu) sau, 里(lí) trong, 外(ngoại) ngoài, 内 (nội) trong, 中(trung) trong, 左(tả) trái, 右(hữu) phải, 间(gian) giữa
Ba quan điểm trên chính là ba loại quan điểm có tính tiêu biểu nhất trong tiếng Hán hiện đại Trong ba cuốn tác phẩm tiêu biểu, ba nhà Hán ngữ học đã thống nhất ý kiến về một số từ, cáctác giả đều nhất trí về một số
phương vị từ 上(thượng) trên, 下(hạ) dưới, 前(tiền) trước, 后(hậu) sau, 左(tả) trái, 右(hữu) phải, 里(lí) trong, 外(ngoại) ngoài, 内(nội) trong, 中(trung) trong, 旁(bàng)bên cạnh Trong đó, tác giả Triệu Nguyên Nhiệm
và Chu Đức Hy cho rằng 间 cũng là phương vị từ, nhưng tác giả Lữ Thúc Tương lại không nhất trí với hai tác giả trên Ngoài ra, Triệu Nguyên Nhiệm còn cho rằng 这儿(giá nhi), 那儿(ná nhi), 先(tiên) cũng là phương
vị từ Chúng tôi có thể qua một bảng biểu mẫu sau thể hiện ba quan điểm trên một cách trực quan:
Bảng 2: Phần tương đồng và khác biệt giữa ba quan điểm
Từ đơn
Từ kép
Tiền tố 以 Tiền tố 之 Hậu tố 边 Hậu tố 面 Hậu tố 头
đối lập
Trang 16Sau ba quan điểm này, tác giả Lưu Ngọc Hoa trong cuốn Ngữ pháp
tiếng Hán thực hành hiện đại cho rằng phương vị từ là một loại danh từ, bà
đã mô tả phương vị từ như sau:
方位词是指表示方向和相对位置关系的名称的词。方位词按其构
成特性可分为两种:单纯方位词和合成方位词。
单纯方位词是最基本的方位词,都是单音节的。它们是:―上、下、前、后、里、外、内、中、左、右、间、旁、东、西、南、北‖。单纯
方位词前边加上―以‖或―之‖或者后边加上―边‖―面‖―头‖就构成合成方
位词,表示方向、处所或时间。―边‖―面‖―头‖要读轻声。不同的词与―以‖,
―之‖等组合的情况不完全相同。
Phương vị từ là những từ biểu thị phương hướng và vị trí tương đối
Theo đặc điểm cấu thành có thể chia phương vị từ thành hai loại phương vị
từ đơn và phương vị từ kép
Phương vị từ đơn là phương vị từ cơ bản nhất, đều là đơn âm tiết
Chúng bao gồm: 上(thượng)trên, 下(hạ)dưới, 前(tiền)trước, 后(hậu)sau,
里(lí)trong, 外(ngoại)ngoài, 内(nội)trong, 中(trung)trong, 左(tả)trái, 右
Trang 17(hữu)phải, 间(gian)giữa, 旁(bàng)bên cạnh, 东(đông), 西(tây), 南(nam),
北(bắc) Phương vị từ đơn kết hợp với tiền tố ―以‖(dĩ), ―之‖(chi) hoặc hậu
tố ―边‖(biên), ―面‖(diện), ―头‖(đầu) để tạo thành phương vị từ kép, biểu thị phương hướng, vị trí hoặc thời gian Hậu tố ―边‖(biên), ―面‖(diện),
―头‖(đầu) phải đọc thanh nhẹ Tình hình mà các từ khác nhau khi kết hợp với ―以‖(dĩ), ―之‖(chi) cũng không hoàn toàn như nhau
Theo mô tả trên, chúng tôi có thể thấy, trong cuốn Ngữ pháp tiếng
Hán thực hành hiện đại đã tổng hợp lại ba quan điểm tiêu biểu trước,
nhưng về khái niệm phương vị từ vẫn còn tính hạn chế nhất định, vẫn định nghĩa phương vị từ là các từ biểu thị phương hướng và vị trí Tính hạn chế của định nghĩa này chủ yếu thể hiện về có một số từ là danh từ biểu thị chỗ, nơi, nhưng chúng cũng có thể biểu thị phương hướng, đó phải xác định
theo ngữ cảnh cụ thể Ví dụ câu 他住在北京(Anh ấy sống ở Bắc Kinh),
Bắc Kinh ở đây là danh từ chỉ nơi chốn đồng thời cũng là danh từ biểu thị
phương hướng, nhưng nó không thuộc nhóm phương vị từ Cho nên sự định nghĩa phương vị từ là từ biểu thị phương hướng và vị trí có tính hạn chế nhất định
Châu Thiệu Hoa so sánh, tổng hợp lại quan điểm trong ba cuốn Ngữ
pháp khẩu ngữ tiếng Hán, Tám trăm từ tiếng Hán và Giáo trình ngữ pháp,
và dựa theo đặc điểm chức năng ngữ pháp (tức là hình thức kết cấu ngữ pháp) đã định nghĩa phương vị từ một cách khách quan: Các từ biểu thị ý nghĩa phương hướng và vị trí, có thể phổ biến gắn kết với các từ khác (hoặc các đơn vị to hơn) Như vậy, đã định nghĩa phương vị từ khá khách quan và toàn diện
Theo quan điểm trên, chúng tôi đã hiểu khái niệm từ chỉ vị trí một
cách khách quan là các từ biểu thị ý nghĩa vị trí, có thể phổ biến gắn kết với
các từ khác Trong đó, chúng tôi chú ý vào những từ quan trọng: phổ biến,
vị trí, gắn kết Đó chính là các tiêu chỉ của từ chỉ vị trí
Trang 181.2.2 Giải thích về định nghĩa từ chỉ vị trí
Theo định nghĩa trên, chúng tôi có thể nắm được mấy nghĩa về từ chỉ
vị trí như sau:
- Tính gắn kết với các từ khác của từ chỉ vị trí rất phổ biến Ngoài từ
chỉ vị trí, các từ như 顶 (đỉnh) đỉnh, 根 (căn) cuống, chân cũng mang tính gắn kết, ví dụ: 山顶 (sơn đỉnh) đỉnh núi, 墙根 (tường căn) chân
tường Nhưng khả năng gắn kết của những từ này vẫn không bằng từ chỉ vị
trí Chẳng hạn, chúng ta có thể nói 床上(sàng thượng) trên giường, 心里 (tâm lí) trong lòng nhưng không thể nói là 床顶(sàng đỉnh), 床根(sàng
căn) và 心顶(tâm đỉnh), 心根(tâm căn) Chình vì vậy, chúng tôi mới nói tính gắn kết với các từ khác của từ chỉ vị trí rất phổ biến, đó cũng là một đặc tính nổi bật của chúng
- Các từ chỉ vị trí mang tính vị trí 子 (tử) trong từ 椅子(ỷ tử) ghế cũng có tính gắn kết, ví dụ: 筷子 (khoái tử) đũa, 儿子 (nhi tử) con trai,
绳子 (thằng tử) dây thừng, 鞋子(hài tử) giầy v.v nhưng chúng không có
nghĩa vị trí, cho nên cũng không thể nói là từ chỉ vị trí Ví dụ:
(4) 透过宽大的玻璃门可以看到候机室一样的五等舱里,人们坐在一圈圈软排椅上聊天,打扑克。(王朔《一半是火焰,一半是海水》)
(Xuyên qua cửa kính rộng lớn có thể nhìn thấy trong khoang hạng 5 giống như phòng chờ máy bay, người ta đang ngồi trên từng hàng ghế mềm nói chuyện, chơi bài.)
Trong câu ví dụ (4), từ chỉ vị trí 里(trong) chính nói về vị trí, nó mang nghĩa vị trí
- Các từ chỉ vị trí mang tính gắn kết, những từ không gắn kết được đằng sau các từ khác thì không phải là từ chỉ vị trí, như vậy có thể bài trừ những danh từ phổ thông như từ chỉ nơi chốn Chúng ta có thể nói 学校(的)
上面 (học hiệu đích thượng diện)phía trên (của) nhà trường, nhưng mà không thể nói 学校(的)北京 (Bắc Kinh đích học hiệu)Bắc Kinh (của) nhà
Trang 19trường Lý do chính là từ 上面 (thượng diện)phía trên là từ chỉ vị trí, mà
từ 北京 (Bắc Kinh) là từ chỉ nơi chốn, không phải từ chỉ vị trí, không thể gắn kết đằng sau các từ khác được Ngoài tính gắn kết đằng sau các từ khác,
từ chỉ vị trí còn có tính độc lập Ví dụ: 房间里面有一张床/里面有一张床 (Trong phòng có một chiếc giường / Bên trong có một chiếc giường) Nói
về tính gắn kết với các từ khác của từ chỉ vị trí, chúng tôi còn không thể không nhắc đến một điều chính là các từ chỉ vị trí có thể gắn kết với hậu hết tất cả các từ loại khác Ví dụ:
(5) 她嫌这儿靠近窗户有风,坐到墙角的藤沙发上面朝墙吐。(王朔《动物凶猛》)
(Cô ấy chê chỗ ngồi gần cửa sổ có gió, thế là ngồi lên trên ghế sô-pha mây và quay về phía bức tường nôn)
(6) 那条船上,有我一生中最好的时光,我最年轻、最热情的日子都在那上面度过了。(王朔《空中小姐》)
(Trên chiếc tàu đó, với những thời khắc đẹp nhất của đời tôi, tôi đã trải qua những ngày tháng trẻ nhất và nhiệt tình nhất.)
Trong câu ví dụ (5), từ chỉ vị trí 上面 gắn kết với danh từ 藤沙发,
mà trong câu ví dụ (6) thì 上面 gắn kết với từ chỉ thị 那 Ngoài ra, các từ chỉ vị trí cũng có thể gắn kết với các từ loại khác như tính từ, số từ, lượng
từ v.v Về vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày tỉ mỉ trong phần 2.1.3.1 khả
năng kết hợp của từ chỉ vị trí
Theo trình bày trên, chúng tôi có thể tổng kết lại là từ chỉ vị trí phải có những điều kiện sau: tính gắn kết với các từ khác, tính phổ biến, tính vị trí Những từ có đủ ba tính chất này mới có thể gọi là từ chỉ vị trí
1.3 Các tính chất của từ chỉ vị trí
1.3.1 Tính chất chung của từ chỉ vị trí
Là một loại từ độc lập (cùng với từ chỉ hướng tổ hợp thành một loại từ
Trang 20độc lập – phương vị từ), tương đối với đặc tính hệ thống chung của các loại
từ khác trong hệ thống từ vựng tiếng Hán hiện đại, đặc điểm hệ thống của
từ chỉ vị trí là: tính khép kín tương đối và tính sáng tạo tương đối
Về mặt nghĩa hẹp từ chỉ vị trí, hệ thống từ chỉ vị trí mang tính khép kín mà ít sáng tạo được từ mới Nhóm từ chỉ vị trí trong tiếng Hán hiện đại
đã xuất hiện từ thời kỳ Chữ Giáp Cốt (thời Thương, Trung Quốc), trải qua mấy nghìn năm, đến nay cũng chỉ có những từ tổ hợp kết hợp v ới mấy từ như 头 (đầu), 面 (diện, phía), 边 (biên, bên, phía) v.v Cho nên, hệ thống nhóm từ chỉ vị trí khá ổn định Nhưng chúng tôi cho là tính khép kín này cũng chỉ là khép kín tương đối, bởi vì về mặt nghĩa rộng, từ chỉ vị trí lại là một loại từ tự do và có thể sáng tạo Một số tên gọi của bộ phận con người, động vật và các loại sự vật khác thường dùng làm để biểu thị ví trí,
ví dụ 心(tâm), 口(khẩu), 脚(chân), 腰(eo), 头(đầu), 面(diện, phía) v.v Nghĩa của các từ chỉ vị trí do những từ trên tổ hợp thành luôn luôn liên quan với nghĩa gốc của những từ này:
- 心(tâm): tương ứng với giữa, trung tâm của sự vật, ví dụ:
(7) 我来到塘边,往巴掌心吐唾沫,低头挖地。(叶蔚林《在没有航标的河流上》)
(Tôi đến bờ ao, nhổ nước bọt vào bàn tay, cúi đầu đào đất.)
- 口(khẩu): biểu thị chổ hình như mồm mở ra, có thể cho người và động vật ra vào Ví dụ:
(8) 服务员亭亭伫立在餐厅两旁,宾馆总经理则站在门口…… (朱苏进《醉太平》)
(Nhân viên phục vụ xinh đẹp đứng lặng im hai bên phòng ăn, tổng
giám đốc khách sạn thì đứng ở cửa )
- 脚/根/跟)(chân): đáy, dưới của sự vật Ví dụ:
(9) 追到小山脚下,远远地看见他在积雪的路上踯躅、徘徊,瞻前顾后。(叶蔚林《少年乔乔》)
Trang 21(Truy đuổi đến dưới chân núi, từ xa nhìn thấy anh ấy đang trên đường
tuyết phủ kín đi đi lại lại, quanh quẩn một chỗ, nhìn trước ngó sau.)
- 腰(eo): giữa của sự vật Ví dụ:
(Tôi vội vàng lại trở về đầu cầu, tìm một cây tre cắm vào đất, kéo rách
áo ba lỗ màu đỏ của mình treo nó lên cây tre…)
- 面(diện, phía): bề mặt của sự vật Ví dụ:
(12) 他不是别个,就是昨天在江面打鱼的老魏头。 (叶蔚林《在没有航标的河流上》)
(Ông ấy không phải người khác, chính là ông Ngụy hôm qua bắt cá
trên sông.)
Trong các câu ví dụ trên, những từ được nêu trong câu đều là do tính sáng tạo của từ chỉ vị trí mà tạo ra Như vậy chúng tôi có thể thấy tính khép kín và tính sáng tạo của từ chỉ vị trí này liên quan với nhau, cho nên mới có thể xuất hiện tính khép kín tương đối và tính sáng tạo tương đối Nói về cả
hệ thống của từ, tính khép kín chiếm vị trí chủ yếu, là bản chất, tính sáng tạo là thứ yếu, là biểu tượng
1.3.2 Đặc trƣng ngữ pháp, ngữ nghĩa của từ chỉ vị trí
Từ góc độ ngữ pháp và ngữ nghĩa, từ chỉ vị trí chủ yếu có hai đặc tính như sau:
Một, sự khác nhau về tính độc lập, tức là tính độc lập của từ chỉ vị trí đơn và từ chỉ vị trí kép có sự khác nhau Nói chung, tính độc lập của từ chỉ
vị trí đơn kém hơn, chúng phần lớn không thể sử dụng độc lập, phải kết
Trang 22(Mặt trời mọc lên e ấp trên mặt sông, trên mặt sông hiện luôn sóng
gợn rộng rãi và sầu muộn.)
Nếu từ đơn chỉ vị trí sử dụng độc lập thì không tự do, chỉ xuất hiện trong hình thức đối lập, Ví dụ:
(15) 端好笛子,左手在前右手在后,要放松,脖子腰板挺直—你怎么把笛子横左边了?(王朔《无人喝彩》)
(Cầm ống sáo đúng vị trí, tay trái ở trước tay phải ở sau, phải thả lỏng, cổ và lưng phải thẳng — sao em lại cho ống sáo ngang về bên trái?)
(16) 然而这时候酒却对我产生了巨大的诱惑力,身上实在冷,从里往外冷。 (叶蔚林《酒殇》)
(Nhưng mà đến lúc này rượu đã có sức mê hoặc mạnh mẽ với tôi,
người thật rét quá, rét từ trong ra ngoài)
Ngoài ra, từ chỉ vị trí đơn thông thường không độc lập làm thành phần của câu Thử so sánh hai nhóm câu a, b sau đây:
(17) a.前面来了一个人 b.前来了一个人
(18) a.把书放在上面 b.把书放在上
Trong hai nhóm câu ví dụ trên, 前面 (tiền diện) phía trước, mặt
trước, 前 (tiền) trước trong nhóm (17) đều nằm vị trí chủ ngữ của câu,
nhưng mà đối với từ đơn 前(tiền) trong câu b thì không thể làm chủ ngữ
của câu 上面 (thượng diện) trên, 上 (thượng) trên, phía trên trong nhóm
câu (18) đều nằm vị trí tân ngữ của câu, nhưng từ đơn 上 cũng không thể làm tân ngữ của câu được
Trang 23Hơn nữa, các từ đơn 旁(bàng)bên cạnh, 边(biên) bên, 间(gian)giữa, 中(trung)trong do không có cách thức đối lập, cho nên không thể dùng độc
lập Các từ chỉ vị trí đơn trong tình hình đa số thường đi theo đằng sau các danh từ khác cùng biểu thị vị trí Khác với từ đơn, từ chỉ vị trí kép mang tính độc lập, thông thường có thể dùng một mình Nhưng có thể dùng độc lập không phải có thể biểu thị vị trí cụ thể Trong ngữ cảnh cụ thể luôn luôn giấu một điểm quy chiếu, chỉ có nhờ điểm quy chiếu này mới có thể biểu thị vị trí rõ ràng được Cho nên tính độc lập của từ chỉ vị trí kép này cũng chỉ là tương đối, không phải tuyệt đối:
(19) 盘老五……朝后面伸出手, 拖长声音:― 往上面走啦———‖ (叶蔚林《在没有航标的河流上》)
(Anh Bàn đưa ra tay hướng về sau, chầm chậm nói: ―Đi lên trên rồi
đấy ‖)
(20) ……石拱桥上,聚起一堆人,闹闹嚷嚷,桥两头的人也向中间跑。 (叶蔚林《五个女子和一根绳子》)
(… trên cầu vòm thạch, nhiều người tập hợp lại ầm ĩ, những người ở
hai đầu cầu cũng chạy sang giữa cầu.)
Trong hai ví dụ trên, từ 上面 trong câu (19) lấy nước sông làm điểm quy chiếu, tức 上面 ở đây chính là thượng du của con sông Từ 中间 lấy
cầu làm điểm quy chiếu Nếu không có các điểm quy chiếu này, vị trí mà
do từ chỉ vị trí trong hai câu này biểu thị rất khó xác định
Hai, tính lẫn lộn về sự biểu nghĩa Về mặt ngữ nghĩa, từ chỉ vị trí và hệ thống từ chỉ vị trí không những biểu thị vị trí mà còn có thể biểu thị thời gian, số lượng và các nghĩa riêng khác Nói về cách khác, ba phạm trù tri nhận vị trí, thời gian, số lượng trong một điều kiện nhất định có thể nhờ từ ngữ như nhau để diễn đạt nghĩa khác nhau Đó chính là tính lẫn lộn về sự biểu nghĩa mà chúng tôi nói
Nếu nhìn từ góc độ ngữ pháp tri nhận, tính lẫn lộn của từ chỉ vị trí này
Trang 24nên bắt nguồn từ một loại ý tưởng ước định mà thành nào đó và phương thức hình thành ý tưởng này Đối với việc tri nhận và sử dụng từ chỉ vị trí, tiếng Hán và các ngôn ngữ dân tộc khác không có gì khác nhau, nhưng về quan niệm thời gian và số lượng, người Trung Quốc có kinh nghiệm trực quan và phong phú hơn Cho nên, hình thức diễn đạt thời gian và số lượng trong tiếng Hán càng sinh động và đa dạng hơn
Nên nói rõ một điều là ―tính lẫn lộn biểu nghĩa‖ ở đây khác nhau với các thuật ngữ ―từ đa nghĩa‖, ―một từ đa nghĩa‖, ―từ đồng hình‖ trong lĩnh vực từ vựng học Vì ―tính lẫn lộn biểu nghĩa‖ nói chung về hệ thống từ chỉ
vị trí chứ không phải nói riêng về các từ cụ thể
Nói khái quát, đặc tính chung của từ chỉ vị trí là: tính khép kín và tính sáng tạo tương đối, sự khác nhau về tính độc lập và tính lẫn lộn biểu nghĩa
1.4 Mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với các nhóm từ liên quan (ví dụ
nào đó, ví dụ thường dùng 以内(dĩ nội), 以外(dĩ ngoại) trong , ngoài
diễn đạt phạm trù số lượng Mà tình hình phổ biến nhất là một từ có thể
đồng thời biểu thị ba phạm trù khác nhau này, ví dụ 前(tiền) trước, 后(hậu)
sau Cho nên, các từ chỉ vị trí với từ chỉ thời gian, số lượng có quan hệ rất
mật thiết Sau đây chúng tôi sẽ nói về quan hệ giữa từ chỉ vị trí với từ chỉ hướng (trong tiếng Hán cùng với từ chỉ vị trí được gọi chung là phương vị từ) và từ chỉ thời gian
Trang 251.4.1 Khái niệm về từ chỉ hướng, từ chỉ thời gian
1.4.1.1 Khái niệm từ chỉ hướng
Trong phần 2.1 Một số quan điểm về từ chỉ vị trí chúng tôi đã trình
bày khái niệm của phương vị từ Theo đó, chúng tôi có thể nắm được khái niệm của từ chỉ hướng, tức là: các từ biểu thị ý nghĩa phương hướng, có thể phổ biến gắn kết với các từ khác Các từ chỉ hướng đơn có ―东 đông, 西 tây,
南 nam, 北 bắc‖ Từ đơn có thể dùng trong những tục ngữ, thành ngữ hay
là kết hợp với một số từ tạo thành từ kép Ví dụ: 东张西望(đông trương
tây vọng) nhìn đông nhìn tây, 南腔北调(nam xoang bắc điệu)giọng nam
điệu bắc, 天南地北(thiên nam địa bắc) trời nam đất bắc; 以东(dĩ
đông)phía đông của , 之南(chi nam)phía nam của , 西面(tây diện)phía
tây, 北边(bắc biên)phía bắc v.v Từ chỉ hướng trong câu có thể làm các
thành phần câu như: chủ ngữ, tân ngữ, định ngữ v.v ví dụ: 学校的西边是一个天然湖(Phía tây của trường là một hồ thiên nhiên), 我们的前进方向是东边(Phương hướng chúng ta tiến lên là phía đông), 北京冬天常刮西北风(Mùa đông Bắc Kinh hay nổi gió tây bắc)
1.4.1.2 Khái niệm từ chỉ thời gian
Theo quan điểm trong cuốn sách Ngữ pháp Hán ngữ thực hành hiện
đại, từ chỉ thời gian là những danh từ hoặc nhóm từ danh từ biểu thị thời
gian, có thể kết hợp với giới từ, phương vị từ và cũng có thể độc lập làm thành phần trạng ngữ, chủ ngữ, tân ngữ trong câu Từ chỉ thời gian có hai loại, một loại là biểu thị một điểm cụ thể thời gian, còn một loại là biểu thị một khoảng cách thời gian nào đó
Những từ biểu thị điểm cụ thể thời gian có:
Trang 26Thể kỷ 19, thập kỷ 50 thể kỷ 20
Năm ngoái, năm nay
Mùa xuân, mùa hè
Tết Nguyên đán, tết Trung thu, ngày Quốc Khánh
ví dụ: 立刻(lập tức), 马上(lập tức), 忽然(bỗng nhiên), 时间(thời gian), 时候(khi) Các từ 立刻(lập tức), 马上(lập tức), 忽然(bỗng nhiên) là phó
từ, mà các từ 时间(thời gian), 时候(khi) là danh từ phổ thông, chúng không phải là từ chỉ thời gian, chỉ là khi sử dụng ý nghĩa của chúng liên quan đến ý nghĩa thời gian thôi
1.4.2 Mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với từ chỉ hướng và từ chỉ thời gian
1.4.2.1 Mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với từ chỉ hướng
Trong tiếng Hán, người ta gọi chung từ chỉ vị trí và từ chỉ hướng là phương vị từ, tìm tòi nguyên nhân của nó chính vì mối quan hệ từ chỉ vị trí với từ chỉ hướng rất chặt chẽ, nhiều khi khó phân biệt là phương hướng hay
vị trí, cho nên mới có khái niệm phương vị từ Về mối quan hệ giữa từ chỉ
vị trí và từ chỉ hướng chúng tôi có thể xem các ví dụ sau đây:
(21) 我家的地在村西头。(引自詹人凤 1997)
(Ruộng đất của nhà tôi ở phía tây làng.)
Trang 27(22) 陈德铭出生在上海,长期在东部工作,自言到陕西工作前对西部―一无所知‖。(《南方周末》2006 年 6 月 8 日)
(Nơi sinh của Trần Đức Minh ở Thượng Hải, làm việc lâu dài ở miền
đông, anh ấy đã bộc bạch rằng trước khi đi làm Thiểm Tây không biết tí nào về miền tây.)
(23) 我从长安街向天安门广场走去,未进入广场就望见纪念碑。它像顶天立地的巨人一样矗立在广场南部,和天安门遥遥相对。(周定舫《人民英雄永垂不朽-瞻仰首都人民纪念碑》)
(Tôi từ phố Trường An đi quảng trường Thiên An Môn, chưa đi vào
quảng trường đã nhìn thấy bia kỷ niệm Nó như một người khổng lồ đội trời đạp đất đứng sừng sững ở phía nam quảng trường.)
(24) 东方红,太阳升,中国出了个毛泽东。(歌词)
(Phía đông hiện lên màu đỏ, mặt trời mọc lên, Trung Quốc xuất hiện
một người Mao Trạch Đông.)
(25) 遥远的东方有条龙,它的名字就叫中国。(歌词)
(Xa tít về phía đông có một con rồng, tên nó chính là Trung Quốc.)
(26) 一天,阿里巴巴照例去山上砍柴。忽然远处传来了马蹄声,阿里巴巴赶紧把毛驴藏好,自己爬到大树上隐藏起来。(连环画《一千零一夜》)
(Một hôm, Alibaba vẫn lên núi chặt củi như bình thường Bỗng nhiên
thấy nơi xa có tiếng vó ngựa, thế là Alibaba nhanh núp con lừa rồi trèo lên cây giấu mặt mình.)
Trong các ví dụ được nêu trên, các từ như ―西头 (tây đầu)phía tây, 东部(đông bộ)miền đông, 西部(tây bộ)miền tây, 南部 (nam bộ)phía nam, 东方(đông phương)phía đông‖ thuộc nhóm từ chỉ hướng, nhưng trong câu
chúng cũng biểu thị vị trí, có nghĩa vị trí Còn các từ ―上面(thượng
diện)phía trên, 下面(hạ diện)phía dưới, 山上(sơn thượng)trên núi, 大树 上(đại thụ thượng)trên cây‖ lại là từ chỉ vị trí, nhưng mang ý nghĩa phương
Trang 28hướng Theo các ví dụ trên, chúng tôi có thể tổng kết lại mối quan hệ giữa các từ chỉ vị trí với các từ chỉ hướng:
- Về nghĩa, trong từ chỉ vị trí thường có nghĩa phương hướng, và trong
từ chỉ hướng cũng hay có nghĩa vị trí
- Về đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, hai loại từ này như nhau, nhiều khi rất khó phân biệt
Chính vì vậy, trong tiếng Hán mới coi hai loại từ này như một loại, gọi chung là phương vị từ (phương: phương hướng, vị: vị trí)
1.4.2.2 Mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với từ chỉ thời gian
Nói về mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với từ chỉ thời gian, chúng tôi đành phải nhắc đến khả năng kết hợp của từ chỉ vị trí Từ chỉ vị trí có thể kết hợp với các loại từ khác tạo thành từ chỉ vị trí kép, có thể biểu thị nhiều
ý nghĩa khác nhau như: nơi chốn, thời gian, không gian v.v Sau đây, chúng tôi sẽ nói về tình hình biểu thị thời gian
- Khi các từ chỉ vị trí đơn xuất hiện thành đôi như 前后(tiền
hậu)trước sau, 左右(tả hữu)trên dưới, khoảng có thể đứng sau những từ
chỉ thời gian để biểu thị một thời gian ước lượng Ví dụ:
两点钟前后(trước và sau 2 giờ)
国庆节前后(trước và sau ngày lễ Quốc Khánh)
三点钟左右(khoảng 3 giờ)
一个月左右(khoảng một tháng)
Trong đó两点钟前后(trước và sau 2 giờ) cũng có thể nói là 2点左右
(khoảng 2 giờ), nhưng一个月左右(khoảng một tháng) thì không thể nói là
(一个月前后)trước và sau một tháng
- Từ chỉ vị trí đơn có thể đứng trước danh từ hoặc đoản ngữ danh từ biểu thị thời gian, có thể thêm một từ ―个‖(cá)(lượng từ: cái, chiếc ) vào giữa từ chỉ vị trí với danh từ hoặc đoản ngữ danh từ, rồi chúng sẽ trở thành đoản ngữ chỉ thời gian:
Trang 29上(个)星期(tuần trước), 上上个星期(tuần trước nữa), 上个月(tháng trước), 上个季度(quý trước), 上半个月(nửa tháng trước), 上个世纪(thế
kỷ trước)
下(个)星期(tuần sau), 下下个星期(tuần sau nữa), 下个月(tháng sau), 下个季度(quý sau), 下半个月(nửa tháng sau), 下个世纪(thế kỷ sau)
- Từ chỉ vị trí đơn đứng sau động từ, danh từ hoặc đoản ngữ danh từ biểu thị thời gian:
他走后(sau anh ấy đi), 三天前(trước ba ngày), 十年后(sau mười năm), 三个月内(trong ba tháng), 期中(giữa kỳ), 本世纪中(giữa thế kỷ)
- Từ đơn chi vị trí 前(tiền)trước, 后(hậu)sau đứng sau tiền tố 以(dĩ)
mà kết hợp thành từ chỉ vị trí kép 以前(dĩ tiền)trước đây, 以后(dĩ hậu)sau
đó, sau này Hai từ kép 以前(dĩ tiền)trước đây, 以后(dĩ hậu)sau đó, sau
này vừa là từ chỉ vị trí vừa là từ biểu thị thời gian Trong tình hình đa số, hai từ này thường được sử dùng bằng nghĩa chỉ thời gian:
三天以前(trước ba ngày), 一年以后(sau nột năm)
Cho nên, các từ chỉ vị trí ngoài biểu thị ý nghĩa vị trí ra còn có thể biểu thị ý nghĩa khác, chẳng hạn như các ví dụ được nêu trên, chúng còn có thể biểu thị ý nghĩa thời gian Còn những ý nghĩa khác nữa, vì độ dài của bài văn này có hạn, cho nên ở đây tạm không trình bày từng một ý nghĩa, sau này nếu có thời gian sẽ hoàn chỉnh phần này
Nói chung, từ chỉ vị trí liên quan với các nhóm từ khác một cách mật thiết Quan hệ giữa chúng với từ chỉ hướng có thể nói là cùng một họ, là hai anh em không thể tách ra Về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa, chúng đều có những đặc điểm như nhau Nhiều khi từ chỉ vị trí có thể biểu thị ý nghĩa phương hướng và từ chỉ hướng cũng có thể biểu thị ý nghĩa vị trí Và từ chỉ
vị trí với từ chỉ thời gian tuy chúng không mật thiết như với từ chỉ hướng, nhưng về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng có nhiều điểm như nhau Nhiều khi từ
Trang 30chỉ vị trí kết hợp với các từ khác có thể biểu thị ý nghĩa thời gian, đó cũng
là một cách dùng phổ biến nhất của các từ chỉ vị trí Chính vì mối quan hệ với các từ loại khác này, các từ chỉ vị trí mới có những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa này, mới có thể biểu thị nhiều ý nghĩa đa dạng này
Trang 31CHƯƠNG II NHẬN XÉT CÁC TỪ CHỈ VỊ TRÍ TRONG TIẾNG HÁN
2.1.1 Thống kê danh sách các từ chỉ vị trí
Căn cứ vào hình thức và âm tiết, các từ chỉ vị trí trong tiếng Hán có thể phân làm hai loại là từ chỉ vị trí đơn và từ chỉ vị trí kép Nhưng cụ thể
về phân định từ chỉ vị trí, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.Chính
như chúng tôi đã trình bày trong 1.2.1 Một số quan điểm về khái niệm từ
chỉ vị trí, tổng hợp lại quan điểm và ý kiến của các nhà Hán ngữ học, căn
cứ khái niệm của từ chỉ vị trí trong luận văn này, chúng tôi có thể tổng kết lại các nhóm từ chỉ vị trí đơn và kép như sau:
Nhóm từ chỉ vị trí đơn có 12 từ, cụ thể là: 上(thượng)trên, 下 (hạ)dưới, 前(tiền)trước, 后(hậu)sau, 左(tả)trái, 右(hữu)phải, 里(lí)trong,
外 (ngoại)ngoài, 内 (nội) trong, 中 (trung)trong, giữa, 间 (gian)giữa, 旁 (bàng)bên cạnh
Nhóm từ chỉ vị trí kép chủ yếu có hình thức như sau:
Trang 32- Tiền tố 以, 之+ từ chỉ vị trí đơn
以上(dĩ thượng)trên, trên đây, 以下(dĩ hạ)dưới, dưới đây, 以前(dĩ tiền)trước, trước đây, 以后(dĩ hậu)sau, sau đó, 以外(dĩ ngoại)ngoài,
ngoài đó, 以内(dĩ nội)trong, trong vòng, 之左(chi tả)trái , 之右(chi
hữu)phải , 之上(chi thượng)trên, 之下(chi hạ)dưới, 之前(chi tiền)trước,
trước khi, 之后(chi hậu)sau, sau khi, 之外(chi ngoại)ngoài, 之内(chi
nội)trong, 之中(chi trung)trong, 之间(chi gian)giữa
- Từ chỉ vị trí đơn + hậu tố 边, 面, 头
左 边 (tả biên)bên trái, 右 边 (hữu biên)bên phải, 上 边 (thượng biên)bên trên, 下边(hạ biên)bên dưới, 前边(tiền biên)phía trước, 后边 (hậu biên)phía sau, 里边(lí biên)bên trong, 外边(ngoại biên)bên ngoài, 旁边(bàng biên)bên cạnh;
左面(tả diện)bên trái, 右面(hữu diện)bên phải, 上面(thượng)trên, 下面(hạ diện)phía dưới, 前面(tiền )đằng trước, 后面(hậu diện)đằng sau, 里面(lí diện)bên trong, 外面(ngoại diện)bên ngoài;
上头(thượng đầu)trên, 下头(hạ đầu)phía dưới, 前头(tiền đầu)phía
trước, đằng trước, 后头(hậu đầu)đằng sau, 里头(lí đầu)bên trong, 外头
(ngoại đầu)bên ngoài
- Hình thức đối lập: từ chỉ vị trí đơn + từ chỉ vị trí đơn
左 右 (tả hữu)trái phải, 上 下 (thượng hạ)trên dưới, 前 后 (tiền hậu)trước sau, 里外(lí ngoại)trong ngoài
Trang 33― 面 前 (diện tiền)phía trước, 跟 前 (cân tiền)bên cạnh, 背 后 (bối hậu)phía sau, 内中(nội trung)bên trong‖4
―左上(tả thượng)phía trên bên trái, 左下(tả hạ)phía dưới bên trái, 右 上(hữu thượng)phía trên bên phải, 右下(hữu hạ)phía dưới bên phải, 之间 (chi gian)giữa, 背后(bối hậu)phía sau, 内里(nội lí)bên trong, 内中(nội trung)bên trong, 当间(đang gian)giữa‖5 v.v
Theo mô tả trên, chúng tôi có thể làm một bảng danh sách từ chỉ vị trí một cách trực quan và rõ ràng
Chú thích: Dấu ―+‖ biểu thị có thể kết hợp, dấu ―-‖ biểu thị không thể kết hợp
Căn cứ vào khái niệm của từ chỉ vị trí trong luận văn này, chúng tôi
Trang 34còn có thể thử đưa ra một số từ có thể làm từ chỉ vị trí mà trong danh sách trên chưa nhắc đến Lý do là các từ được đưa ra mang đặc tính của từ chỉ vị trí (tính gắn kết, tính phổ biến và tính vị trí):
内外(nội ngoại)nội ngoại, 顶上(đỉnh thượng)trên đỉnh, 对面(đối diện)đối diện, 附近(phụ cận)lân cận;
正 面 (chính diện)mặt chính, 侧 面 (trắc diện)mặt bên, 背 面 (bối diện)mặt sau, 反面(phản diện)mặt trái;
外 部 (ngoại bộ)phần ngoài, 中 部 (trung bộ)phần giữa, 内 部 (nội bộ)phần trong, 上部(thượng bộ)phần trên, 下部(hạ bộ)phần dưới;
左侧(tả trắc)bên trái, 右侧(hữu trắc)bên phải, 内侧(nội trắc)bên
trong, 外侧(ngoại trắc)bên ngoài;
上 端 (thượng đoan)đầu trên, 下 端 (hạ đoan)đầu dưới, 前 端 (tiền đoan)đầu trước, 后端(hậu đoan)đầu sau, 左端(tả đoan)đầu trái, 右端 (hữu đoan)đầu phải;
边上(biên thượng)bên cạnh, 面上(diện thượng)bề mặt, 头前(đầu tiền)phía trước;
左上头(tả thượng đầu)đầu phía trên bên trái, 左下头(hữu hạ đầu)đầu
phía dưới bên trái, 右上头(hữu thượng đầu)đầu phía trên bên phải, 右下
头(hữu hạ đầu)đầu phía dưới bên phải;
左上部(tả thượng bộ)phần trên bên trái, 左下部(tả hạ bộ)phần dưới
bên trái, 右上部(hữu thượng bộ)phần trên bên phải, 右下部(hữu thượng
bộ)phần dưới bên phải;
左上方(tả thượng phương) phía trên bên trái, 左下方(tả hạ phương)
phía dưới bên trái, 右上方(hữu thượng phương) phía trên bên phải, 右下
方(hữu hạ phương)phía dưới bên phải, 前上方(tiền thượng phương)phía
trên đằng trước, 后上方(hậu thượng phương)phía trên đằng sau
Về các nhóm từ trên, vì chỉ là quan điểm của người số ít thôi, tần xuất
sử dụng cũng không nhiều bằng các từ chỉ vị trí trong luận văn này chúng
Trang 35tôi đã đưa ra, cho nên trong luận văn này chúng tôi không thảo luận nhiều thêm nữa, hy vọng sau này có thể nghiên cứu sâu hơn
2.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa các từ chỉ vị trí
Nói về đặc điểm ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí, chúng tôi không thể
không nói đến vật quy chiếu Nói cách khác chính là khi xác định vị trí của
A thì ta xem xét nó trong tương quan với vị trí của B Lúc đó B sẽ đóng vai trò là vật quy chiếu, còn phạm vi vị trí mà A và B tồn tại được xác định là vùng vị trí Có thể thấy, để phân tích đặc trưng ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí ta cần đặt chúng trong vùng vị trí và trong mối tương quan giữa A và B Lúc này, từ chỉ vị trí chỉ là một thành tố của cấu trúc định vị không gian Xác định ngữ nghĩa của từ chỉ vị trí tùy thuộc vào việc xác định đặc điểm của cấu trúc quy chiếu từ chỉ vị trí nói chung và trong quan hệ với vật quy
chiếu nói riêng
2.1.2.1 Phân tích ngữ nghĩa từ chỉ vị trí
Theo nội dung trên, chúng tôi có thể thấy: chức năng ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí chính ở chỗ biểu thị vị trí hoặc phạm vi Các từ biểu thị sự vật tiêu chuẩn cơ sở kết hợp với từ chỉ vị trí tạo thành một từ mới khác với
từ biểu thị tiêu chuẩn cơ sở đó Theo mối quan hệ giữa từ chỉ vị trí với các
từ khác và chức năng ngữ pháp tổng thể của từ chỉ vị trí chúng tôi được biết là ngữ nghĩa từ chỉ vị trí có chỗ đặc thù của chúng Sau đây chúng tôi nhận xét vấn đề này từ các mặt dưới đây:
- ―Tính định hướng‖ và ―tính phiếm hướng‖
―Tính định hướng‖ và ―tính phiếm hướng‖ là hai khái niệm do Lữ Thúc Tương đưa ra Theo cách hiểu của chúng tôi, ―tính định hướng‖ nghĩa
là các từ chỉ vị trí hướng về vị trí thực tế của chúng, còn ―tính phiếm hướng‖ nghĩa là hướng của từ chỉ vị trí thường không phải là vị trí thực tế của chúng Nói chung, những từ mà ý nghĩa vị trí khá mạnh thì không thể
xuất hiện ―tính phiếm hướng‖, chẳng hạn như các từ 左 (tả)trái, 右
Trang 36(hữu)phải v.v Mà các từ thường dùng và có thể lấy khá nhiều sự vật làm
tiêu chuẩn cơ sở thì dễ xuất hiện hiện tượng phiếm hướng Có thể nói tính định hướng là nghĩa gốc của từ chỉ vị trí mà tính phiếm hướng là nghĩa suy
ra của chúng ―Định hướng‖ và ―phiếm hướng‖ cùng tạo nên tính đa nghĩa của từ chỉ vị trí Các từ chỉ vị trí thường dùng phần lớn có thể đồng thời xuất hiện ―tính định hướng‖ và ―tính phiếm hướng‖, chính vì vậy, khi tìm hiểu đoản ngữ từ chỉ vị trí mới hình thành hiện tượng khác nghĩa và đan
xen với nhau về ngữ nghĩa Ví dụ: 墙上 (tường thượng)trên tường có thể hiểu theo nghĩa là phía trên của tường và cũng có thể hiểu là một chỗ nào
đó trên tường; 天空中(thiên không trung)trên không và ―天空上 (thiên
không thượng)trên không, 地上(địa thượng)trên đất và 地下(địa hạ)dưới
đất đan xen với nhau Sự tồn tại của những tình hình đó đã giải thích rõ về
sức biểu hiện phong phú của từ chỉ vị trí, mặt khác cũng cung cấp chỗ trống nhất định về các từ ngữ lựa chọn nhau Chỗ trống lựa chọn càng lớn, sức biểu hiện ngôn ngữ càng mạnh hơn
- Đối xứng và không đối xứng
Nếu xem từ chỉnh thể, các từ chỉ vị trí về cơ bản là đối xứng và đều đặn: có trên, có dưới, có trước, có sau… Nhưng trong quá trình sử dụng cụ thể, khi kết hợp với các từ khác, từ chỉ vị trí lại hiện lên quan hệ không đối xứng khá nổi bật Đại thể có bốn tình hình như sau:
a Tần xuất sử dụng của các từ rất không cân bằng Không những các
từ chỉ vị trí đơn mà còn các từ chỉ vị trí kép và ngay cả các từ có ý nghĩa
giống nhau cũng không cân bằng, ví dụ các từ 里(lí)trong, 中(trung) trong, 内(nội)trong Tình hình này khá phức tạp, không chỉ liên quan tới ngữ
nghĩa của các từ chỉ vị trí và các từ được gắn kết mà còn liên quan tới thói quen sử dụng, kết hợp âm tiết, phong cách ngữ thể và tâm lý người sử dụng Trước mắt, về điều này chúng tôi vẫn không thể giải thích toàn diện Ví dụ: (27) 我在家里等你。
Trang 37(Em chờ anh ở nhà.)
Trong câu ví dụ trên, từ 家里 chúng tôi cũng có thể biểu thị bằng từ
家中, nhưng theo thói quen sử dụng, người ta sử dụng 家里 nhiều hơn 家
中 Còn từ 家内 thì không có cách diễn đạt này
b Các từ ý nghĩa đối lập nhau không phải lúc nào cũng có cách thức
tương ứng với nhau Chẳng hạn như 上 (thượng)trên và 下 (hạ)dưới, 前 (tiền)trước và 后(hậu)sau có ý nghĩa đối lập nhau và có cách thức tương ứng với nhau nhưng từ 面 (diện)mặt có thể kết hợp với từ 前(tiền)trước tạo thành từ 面前 (diện tiền)trước mặt, còn không thể kết hợp với 后 (hậu)sau để tạo thành từ 面后(diện hậu)sau mặt được Ví dụ:
(28) 我的面前是一条河,我的背后是一片稻田。
(Trước mặt tôi là một con sông, sau lưng tôi là một cánh đồng.)
Trong câu này, nếu theo lô-gích đối lập thì từ 面前 trước mặt nên đối
lập với từ 面后sau mặt, nhưng trong tiếng Hán thì không có cách diễn đạt
này, cho nên chúng tôi thay bằng từ 背后sau lưng Về mặt này trong tiếng
Việt cũng tương đồng vì không có cách diễn đạt sau mặt
c Các từ gần nghĩa xoắn xuýt với nhau, có thể thay đổi với nhau, nhưng ý nghĩa không thay đổi Ví dụ các từ 里 (lí)trong, 中 (trung)trong,
内 (nội)nội, 家里 (gia lí)trong nhàvà 家中 (gia trung)trong nhàý nghĩa như nhau nhưng từ 里 với 中 lại là hai từ khác nhau, 车里(xa lí) và 车内
(xa nội) đều mang nghĩa trong xe nhưng chữ 里 và 中 là hai từ khác nhau
Trong câu trên, câu hỏi dùng từ 家中, nhưng câu đáp lại sử dùng từ
家里, tuy từ 中 với 里 là hai từ khác nhau, nhưng nghĩa của chúng lại như
Trang 38nhau Hiện tượng này trong tiếng Hán rất phổ biến, có khi là do thói quen của người sử dụng, có khi là để tránh tình hình trùng lặp mà chọn từ khác nhau
d Các từ trái nghĩa trong tổ hợp cụ thể lại ý nghĩa như nhau, ví dụ có thể nói 东西掉在地下 (đồ rơi xuống (dưới) đất) cũng có thể nói 东西掉 在地上 (đồ rơi xuống (trên) đất) Trong quan hệ tuần hoàn 前 (trước) và
后 (sau) cũng có thể đồng nghĩa, ví dụ: câu 星期二在星期五之前 (thứ
ba ở trước thứ sáu) và câu 星期二在星期五之后 (thứ ba ở sau thứ sáu)
đều đúng 地上 (trên đất), 地下 (dưới đất) là do thói quen sử dụng mà
前 (trước), 后 (sau) trong quan hệ tuần hoàn thì liên quan với tâm lý của người sử dụng
- Tính chính xác và tính mơ hồ
Sự diễn đạt ngôn ngữ càng đơn giản rõ ràng, chính xác thì càng tốt hơn, nhưng ngay cả bản thân đơn giản rõ ràng và chính xác cũng là một đôi mâu thuẫn thể Trong một tình hình nào đó, người ta luôn luôn không thể không áp dụng một loại cách nói khá mơ hồ nhưng đơn giản rõ ràng Nhình
từ góc độ giao lưu tin tức, tính chính xác và tính mơ hồ không phải mâu thuẫn mãi mãi Ý nghĩa trạng thái tĩnh của từ chỉ vị trí đều không cố định (có tính đàn hồi hoặc có thể kéo dài về một phương hướng nào đó), tức là
mơ hồ Các từ kết hợp với chúng có thể rất chính xác, ví dụ: 九点四十分 三十秒左右 (khoảng 9 giờ 10 phút 30 giây), cũng có thể khá mơ hồ, ví dụ:
最近几个月内 (trong mấy tháng gần đây) Về mặt lý luận, 89年前 (trước
năm 89) có thể trở lại vô cùng trước năm 1989, nhưng trong hoàn cảnh
ngôn ngữ thực tế, nó lại có hạn (thông thường không vượt qua 10 năm) Chính vì vậy, khi mấy từ chỉ vị trí cùng sử dụng vào một lúc luôn có thể thu hẹp phạm vi, do đó chính xác biểu thị vị trí đặc biệt của một sự vật nào
đó Ví dụ: 西子湖中的一叶小舟上 (trên một con thuyền trong hồ Tây Tử),
phạm vi từ 西子湖 dần dần thu hẹp; 1 号之后3 号之前 (sau mồng 1
Trang 39trước mồng 3), phạm vi được thu hẹp đến 2 号 (mồng 2) Từ đó thấy rõ,
tính mơ hồ và tính chính xác vừa đối lập vừa thống nhất
Từ chỉ vị trí là một loại từ khép kín, tuy nhiên cách dùng của chúng rất phong phú và phức tạp Từ góc độ ngữ nghĩa tuy có thể nhìn rõ một số vấn
đề, nhưng khó nói rõ mọi mặt của chúng Nếu muốn tìm hiểu toàn diện từ chỉ vị trí thì phải nghiên cứu từ góc độ do ba bình diện ngũ pháp, ngữ nghĩa,
ngữ dụng Từ bình diện ngữ pháp thì trong phần sau 2.1.3 chúng tôi sẽ trình
bày, nhưng về bình diện ngữ dụng, trong luận văn này chúng tôi tạm không nghiên cứu
2.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa các từ chỉ vị trí
Các từ chỉ vị trí trong hệ thống phương vị từ tiếng Hán hiện đại tuy có cùng chức năng biểu thị quan hệ không gian, nhưng vai trò của chúng khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào phân tích theo nhóm các từ chỉ vị trí đơn có tần số sử dụng cao trong đời sống hàng ngày Trong quá trình phân tích, chúng tôi cũng sẽ bàn đến các từ chỉ vị trí kép tương ứng
Trước khi phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí, chúng tôi cần làm rõ phương pháp cắt không gian đã:
+ Phương pháp cắt ngang không gian: cắt một vật thể nào đó thành hai
bộ phận theo hướng ngang mặt nước
+ Phương pháp cắt dọc không gian: cắt một vật thể nào đó thành hai
bộ phận theo hướng dọc, thẳng góc với mặt nước
+ Phương pháp hàm cắt không gian: trong một vật thể nào đó chứa một vật thể khác, do đó vật thể sau cắt vật thể trước thành hai bộ phận: không gian mà vật thể sau vốn có và không gian còn lại của vật thể trước
Sự lựa chọn phương pháp cắt không gian khác nhau sẽ quyết định sự lựa chọn từ chỉ vị trí khác nhau Ví dụ nếu chọn phương pháp cắt ngang thì
từ chỉ vị trí tương quan là 上(thượng)trên, 下(thượng)dưới, chọn phương pháp cắt dọc là 前(tiền)trước, 后(hậu)sau, 左(tả)trái, 右(hữu)phải, chọn
Trang 40phương pháp hàm cắt là 里(lí)trong, 外(ngoại)ngoài Sau đây chúng tôi
phân tích ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí từng nhóm
A Nhóm 上(thƣợng)trên, 下(hạ)dưới
Về ngữ nghĩa hai từ 上(thượng) và 下(hạ), chúng tôi có thể mô tả như sau:
- Khi vật quy chiếu cắt ngang một vật thể khác thành hai bộ phận, phía
có trời mà không có đất là 上, nếu vật được quan sát ở vị trí đó thì nói nó ở phía trên của vật quy chiếu Ngược lại phía có đất mà không có trời là 下, nếu vật được quan sát ở vị trí đó là ở phía dưới vật quy chiếu Ví dụ:
(30) 问题是,现今的戏剧有时忘掉了自己的这份魅力,往往用一堵透明的墙,象电视的屏幕一样,或者象冷冰冰的银幕,把台上演员同台下观众的这种交流自己给隔断了。(高行健《现代戏剧手段初探》)
(Vấn đề là ở chỗ kịch hiện nay có khi quên mất sức hấp dẫn này của mình, luôn bằng một bức tường trong suốt tự ngăn cách sự giao lưu giữa
diễn viên trên sân khấu với khán giả dưới sân khấu, như màn phản quang
máy tivi hoặc màn ảnh lạnh lùng vậy.)
(31) 海面上停着一艘大船,船上的人正在为一位英俊的王子庆贺生日。(《安徒生童话》连环画解说词)
(Trên mặt biển dừng lại một con tàu lớn, người trên tàu đang chúc mừng sinh nhật của một hoàng tử tuấn tú.)
(32) 从飞船上可以看到美丽的月球已经遥遥在望。它发着美丽的银光,静静的悬在飞船的上方。(朱长超《月亮上的足迹》)
(Nhìn từ trên tàu vũ trụ có thể nhìn thấy mặt trăng diễm lệ khá xa Nó
tỏa sáng màu bạc đẹp, treo yên lặng phía trên tàu vũ trụ.)
Trong các câu ví dụ trên, vật quy chiếu trong câu (30) là sân khấu, nó cắt ngang không gian thành hai bộ phận, phía gần trời là phía trên, cho nên
diễn viên ở trên sân khấu, phía gần đất là phía dưới, khán giả nằm ở phạm
vi này, cho nên là dưới sân khấu Trong câu (31), có hai vật quy chiếu, tức