Trong quá trình tham gia giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Môi trường ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, chúng tôi thấy hệ thuật ngữ của ngành chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẰNG NGA
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH HỆ THUẬT NGỮ MÔI
TRƯỜNG ANH - VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, tháng 09 năm 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẰNG NGA
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH HỆ THUẬT NGỮ MÔI
TRƯỜNG ANH - VIỆT
Luận văn Thạc sỹ Ngôn ngữ học Ngành học: Ngôn ngữ học
Mã ngành: 602201
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ QUANG THIÊM
Hà Nội, tháng 09 năm 2009
Trang 3Chương 1 Cơ sở lí luận cho việc khảo sát HTN Anh- Việt 5
1.1.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới về thuật ngữ và
1.1.2 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học 7 1.1.3 Việc nghiên cứu lí luận về thuật ngữ trong ngôn ngữ học 9
1.3 Yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam 15
1.5.2 Các công trình nghiên cứu gần đây 20 1.5.3 Cách hiểu về thuật ngữ môi trường 20
Chương 2 Những đặc điểm cấu tạo TNMT tiếng Anh 23
Trang 42.3 Thuật ngữ là một cụm từ 33
Chương 3 Phân tích về mặt ngữ nghĩa và đánh giá về việc giải
nghĩa các TNMT tiếng Việt
53
3.2 Vài nét về đối chiếu cấu tạo từ Anh –Việt 53 3.3 Các vấn đề về ngôn ngữ học trong chuyển dịch 56
3.4.3 Các kiểu tương đương trong chuyển dịch TNMT 60 3.4.3.1 Tương đương hoàn toàn tuyệt đối 61 3.4.3.2 Tương đương hoàn toàn tương đối 62
3.5 Chuyển dịch TNMT TA không có tương đương 63
3.5.4 Tạo thuật ngữ mới (giữ nguyên nội hàm của TNMTTA) 68 3.5.5 Giải thích thuật ngữ (nhằm chuyển dịch khái niệm) 70 3.5.6 Gán ghép khái niệm tương đương trong tiếng Việt 70
Trang 5BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà nội ĐHKHTN Đại học Khoa học Tự nhiên HTN Hệ thuật ngữ
TNMTTA Thuật ngữ Môi trường tiếng Anh TNMTTV Thuật ngữ Môi trường tiếng Việt
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Việc xây dựng, tiếp nhận hệ thuật ngữ (HTN) là một hoạt động quan trọng và cần thiết trong quá trình phát triển và đào tạo của các ngành khoa học
Thuật ngữ khoa học tự nhiên chính thức được khởi đầu những năm 40 của thế kỉ 20 Nhiều công trình để lại dấu ấn có tính chất mở đầu là cuốn
Danh từ khoa học (toán, lí, hóa, cơ, thiên văn) của Hòang Xuân Hãn
(1942) Sau Cách mạng tháng 8 đến hòa bình lập lại và sau đổi mới (1976), cùng với sự phát triển khoa học của xã hội Việt Nam và đội ngũ trí thức, hệ thuật ngữ phát triển rất nhanh Mỗi ngành khoa học kĩ thuật đều cần xây dựng cho mình một hệ thuật ngữ riêng làm phương tiện nghiên cứu, giao tiếp và trao đổi thông tin Ngành nào ra đời sớm, hệ thuật ngữ phong phú
và cũng sớm được hoàn chỉnh, ngành nào mới ra đời, cũng có hệ thuật ngữ, thậm chí hệ thuật ngữ có thể phong phú nhưng vẫn đang trong quá trình xây dựng và chuẩn hoá để tiến tới có một hệ thuật ngữ hoàn chỉnh Tuy nhiên một số ngành khoa học do ra đời muộn hoặc tiếp xúc muộn với các ngành khoa học của thế giới nên HTN hiện mới chỉ đang trong quá trình phát triển ban đầu Khoa học Môi trường là một ngành học như vậy
Năm 1992 Bộ môn Địa Môi trường thuộc Khoa Địa lý - Địa chất và sau
đó Bộ môn Môi trường của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (một trong những cơ sở hàng đầu về nghiên cứu và đào tạo) mới được thành lập Cho mãi đến Ngày 5 tháng 8 năm 2002 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 quy định danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ, trong đó có Bộ Tài nguyên và Môi trường Còn Khoa Môi trường , Đại học Quốc gia Tp.HCM- là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu trong các lĩnh vực về hệ thống môi trường - được thành lập vào ngày 18 tháng 1 năm 2000, theo quyết định số 14/QĐ/ĐHQG/TCCB của giám đốc Đại học Quốc gia Tp.HCM
Trang 7Tuy còn khá mới mẻ nhưng đây là ngành rất quan trọng vì nó nghiên cứu những vấn đề cấp bách của môi trường toàn cầu, liên quan mật thiết đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống cũng như các ngành khoa học cơ bản nhất như Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học…Do đó, việc chậm bước của HTN Môi trường có thể tạo ra khó khăn nhất định trong việc tiếp nhận cũng như vận dụng các tri thức khoa học Nhìn chung HTN Môi trường ở nước ta còn đang xây dựng, các sách dùng để tra cứu vẫn còn thiếu thốn, từ điển chuyên ngành còn rất khó tiếp cận đối với những người có nhu cầu học tập và nghiên cứu
Ở nhiều nước nói tiếng Anh trên thế giới như Anh, Mỹ, Úc, khoa học môi trường tuy không ra đời sớm nhưng đã phát triển rất mạnh, hệ thuật ngữ rất phong phú đa dạng và dễ tiếp cận Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá cũng như tính thúc bách của các vấn đề môi trường, Việt Nam đang tập trung nghiên cứu và phát triển ngành khoa khọc quan trọng này Điều này đòi hỏi phải quan tâm tới hệ thuật ngữ bằng tiếng Anh của ngành
để nghiên cứu, trao đổi thông tin và tiếp thu những tinh hoa của thế giới phục vụ cho sự phát triển của ngành khoa học nước nhà Vì vậy, xây dựng
hệ thuật ngữ môi trường tiếng Việt là một việc rất quan trọng và cần thiết Trong quá trình tham gia giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Môi trường ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, chúng tôi thấy hệ thuật ngữ của ngành chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống
Sự thiếu hụt này thể hiện ở cả hai mặt lý luận và ứng dụng Chính vì thế trong giới hạn cho phép, chúng tôi sẽ nghiên cứu hệ thuật ngữ Môi trường Anh- Việt, với tiếng Việt với mong muốn góp phần xây dựng và nâng cao HTN Môi trường cũng như chất lượng đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên ngành học này
Chính vì những lí do đã nêu mà chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài luận
văn “Bước đầu nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ môi trường
Anh- Việt”
2 Mục đích và nội dung nghiên cứu
Trang 8Mục đích chính của luận văn này là bước đầu khảo sát đánh giá HTN Môi trường tiếng Anh đã được chuyển dịch, dùng trong các tài liệu chuyên ngành theo định hướng chuẩn của việc xây dựng HTN Việt Nam về mặt tiếp nhận và cấu tạo
Từ đó, chúng tôi sẽ đưa ra một số đề xuất về mặt lí luận của việc xây dựng HTN và việc ứng dụng trong quá trình giảng dạy
Cụ thể, luận văn sẽ tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Khảo sát sơ bộ hệ thuật ngữ môi trường tiếng Anh dựa trên một
số tài liệu chuẩn mực (từ điển thuật ngữ, từ điển giải thích thuật ngữ, văn bản chuyên ngành Môi trường)
Phân tích những đặc điểm cấu tạo hệ thuật ngữ môi trường tiếng Anh
Phân tích sơ bộ nội dung nghĩa và cách thức tiếp nhận, chuyển dịch giải nghĩa thuật ngữ môi trường bằng tiếng Việt theo hướng chuẩn hóa và ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy thuật ngữ chuyên ngành ở Việt Nam
3 Tư liệu nghiên cứu
Các cuốn sách về lí luận ngôn ngữ tiếng Anh, Việt
Các văn bản khoa học chuyên ngành bằng tiếng Việt
Các văn bản khoa học chuyên ngành bằng tiếng Anh
Từ điển Môi trường Anh Việt, Từ điển Môi trường giải thích tiếng Anh
Thực tế sử dụng thuật ngữ môi trường của các đối tượng khác nhau trong cuộc sống hàng ngày (trong giao tiếp, trong các buổi hội thảo, seminar chuyên ngành) và trên các phương tiện thông tin đại chúng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi đã vận dụng những phương pháp phổ biến trong nghiên cứu ngôn ngữ học áp dụng cho lĩnh vực từ vựng-ngữ nghĩa như:
Trang 9 phân tích cấu tạo thuật ngữ
phân tích miêu tả ngữ nghĩa
phân tích đối chiếu, chuyển dịch thuật ngữ
Ngoài việc sử dụng các thủ pháp thống kê, định lượng các đơn vị biểu thức theo định hướng nghiên cứu, chúng tôi cũng áp dụng các phương pháp định tính trong quá trình khảo sát Phương pháp này giúp chúng tôi phân tích và miêu tả hình thái cấu trúc và ngữ nghĩa của các thuật ngữ cần nghiên cứu Từ đó tìm ra các nguyên tắc cấu tạo cơ bản thuật ngữ môi trường Trong luận văn này, các thuật ngữ cũng được đánh giá theo các tiêu chuẩn được qui định: tính dân tộc, tính khoa học, tính đại chúng và tính hệ thống
5 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lí luận, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc
hệ thống hóa các vấn đề thuật ngữ hiện nay ở Việt Nam Hơn thế nữa, qua việc khảo sát và phân tích đặc điểm của TN Môi trường về cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa, nghiên cứu này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng
hệ TN Môi trường tiếng Việt hiệu quả giúp ích cho sự phát triển của ngành khoa học Môi trường của Việt Nam
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn là cầu nối tri thức giữa 2 ngành Ngôn ngữ học và Khoa học Môi trường Cũng qua việc khảo sát và phân tích đặc điểm của TNMTTA về cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa, chúng ta sẽ mạnh dạn và chủ động hơn trong việc tiếp thu hệ thuật ngữ nói riêng, các tri thức khoa học nói chung bằng tiếng Anh Nói cách khác, việc nghiên cứu này sẽ hỗ trợ tích cực cho quá trình học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận Nội dung chính của nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận cho việc khảo sát HTNMT Anh- Việt
Chương 2 Những đặc điểm cấu tạo thuật ngữ môi trường tiếng Anh
Chương 3 Đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ Môi trường Anh- Việt
Trang 10Theo Tom Hutchison và Alan Waters trong cuốn English for Specific
Purposes “Tiếng Anh với tư cách là một ngôn ngữ chuyên ngành (English
for Specific Purposes- ESP) không được coi là một sản phẩm mới trong sự
so sánh với ngôn ngữ nói chung (general language) mà nó chẳng qua chỉ là một cách tiếp cận với ngôn ngữ dựa trên nhu cầu của người học mà thôi
Và nền tảng của ngôn ngữ chuyên ngành được phản ánh trong câu hỏi: Tại sao người học cần phải học ngôn ngữ đó?” Cũng theo quan điểm của họ, nếu coi ngôn ngữ chung là một cây xanh với gốc rễ của nó là nhu cầu học tập và giao tiếp thì ESP chỉ là một cành lớn mà thôi [21, tr 13]
Sager, Dungworth và Mc thì cho rằng “Ngôn ngữ chuyên ngành (special language) là hệ thống bán độc lập (semi- autonomous), phức tạp được xây dựng trên nền tảng của ngôn ngữ chung (general language); nó hàm chứa những kiến thức chuyên ngành và được sử dụng giới hạn trong việc giao tiếp giữa các chuyên gia trong các lĩnh vực chuyên môn gần hoặc giống nhau” [19, tr 20]
S.Gerr thuộc giới nghiên cứu ngữ văn Anh, Mỹ cho rằng: “Cái khác biệt bản chất của ngôn ngữ khoa học kĩ thuật là vốn từ chuyên môn tăng nhanh chóng” (trích dẫn bởi Lê Hoài Ân, 2003)
M.A.K.Halliday đại diện cho giới ngôn ngữ học Anh những năm 60 đã từng có quan điểm như sau “đặc trưng của ngôn ngữ chuyên ngành không phải là các thành tố ngữ pháp mà chính là các đơn vị từ vựng” (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Kim Thanh 2005)
Trang 11Theo cuốn Đại từ điển tiếng Đức Langenscheidts “Ngôn ngữ chuyên
ngành là tất cả những diễn đạt chuyên môn và chuyên biệt được sử dụng trong một chuyên ngành nhất định” (trích dẫn bởi Lê Hoài Ân, 2003)
Còn các nhà thuật ngữ học Xô Viết định nghĩa thuật ngữ như sau:
“Thuật ngữ không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt, đó là chức năng gọi tên” [22, tr 65]
Bách khoa toàn thư điện tử định nghĩa thuật ngữ là bộ phận từ vựng chuyên dụng trong một lĩnh vực nào đó Những thuật ngữ này chỉ các khái niệm cụ thể trong lĩnh vực đó và nghĩa của thuật ngữ không nhất thiết phải giống với nghĩa của từ được sủ dụng trong văn cảnh thông thường
(Technical terminology is the specialized vocabulary of a field, the nomenclature These terms have specific definitions within the field, which
is not necessarily the same as their meaning in common use.)
Ví dụ: Warming
Trong ngành Môi trường, thuật ngữ này chỉ hiện tượng biến đổi khí
hậu: nóng ấm toàn cầu Trong văn cảnh thông dụng hơn, từ này có nghĩa là
làm ấm
Cũng theo quan điểm của bài viết này, thuật ngữ tồn tại trong cách diễn đạt trang trọng: trong văn bản khoa học, trong quá trình giảng dạy, đào tạo thuộc lĩnh vực đó Một số thuật ngữ có nghĩa thông dụng hơn, được tạo
ra và ưa dùng bởi đội ngũ những người thực hành trong cùng lĩnh vực đó
và tương tự như Slang (tiếng lóng) Ranh giới giữa Technical terminology - Technical slang trong tiếng Anh đôi khi khá lỏng lẻo, khiến cho một số thuật ngữ nhanh chóng được thừa nhận hoặc chối bỏ Ví dụ: firewall ban
đầu là tiếng lóng, nhưng do nó rất cần thiết và được sử dụng rộng rãi nên nhanh chóng được thừa nhận là một thuật ngữ kĩ thuật
Thuật ngữ kĩ thuật phát triển là do các nhà chuyên môn có nhu cầu giao tiếp chuẩn xác và ngắn gọn trong lĩnh vực chuyên môn của họ Tuy nhiên, thuật ngữ kĩ thuật có thể gây trở ngại cho những người không quen
sử dụng chúng
Trang 12Tựu chung lại, các định nghĩa về thuật ngữ đề cập đến tính chuyên dụng, tính chính xác của thuật ngữ
1.1.2 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học
Thuật ngữ là đề tài có sức cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đã có không ít định nghĩa về thuật ngữ ra đời Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Xuân Hãn, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Quang Hào, và một số nhà nghiên cứu khác cũng đã đưa ra những định
nghĩa về thuật ngữ Theo Hoàng Xuân Hãn, “thuật ngữ hay danh từ khoa
học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” [15, tr 47] Nguyễn Văn Tu lại
cho rằng: “ Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học
kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật… và có một nghĩa đặc biệt biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc các ngành nói trên”
[30, tr.176] Theo ông thuật ngữ là lớp từ vị trong ngôn ngữ Thuật ngữ giống từ thường ở chỗ đều tuân theo qui luật ngữ âm và ngữ pháp của ngôn ngữ đó Nhưng thuật ngữ khác từ thường là chỉ có một nghĩa và ít gợi cảm Một từ có thể có đồng nghĩa, trái nghĩa nhưng khi trở thành thuật ngữ nó không có đồng nghĩa và trái nghĩa
Nguyễn Thiện Giáp cũng đưa ra một định nghĩa về thuật ngữ rất cô đọng, súc tích, dễ hiểu đồng thời cũng chứa đựng tất cả các đặc điểm mà
các nhà Việt ngữ học đi trước nói đến: “Thuật ngữ khoa học là một bộ
phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [14, tr.118]
Cũng nói về thuật ngữ, Vũ Quang Hào [18, tr.124,125] lại đề cập về phương diện ngữ nghĩa của thuật ngữ Theo ông, trong tiếng Việt, bản thân hai chữ “thuật ngữ” phải được hiểu theo bốn nghĩa:
Trang 13“Thuật ngữ” được hiểu là nội dung của khái niệm khoa học (nội hàm khái niệm) Theo nghĩa này, thuật ngữ là đơn vị cơ bản của mỗi khoa học chuyên ngành
“Thuật ngữ” được hiểu là hình thức ngôn ngữ, là cái vỏ, là tên gọi của một khái niệm khoa học Theo nghĩa này, thuật ngữ - tên gọi là đơn vị
cơ bản trong vốn từ của ngôn ngữ khoa học
“Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ khái niệm trong một khoa học, một lĩnh vực Theo nghĩa này, toàn bộ thuật ngữ - khái niệm làm thành hệ thuật ngữ - khái niệm của một khoa học
“Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ tên gọi trong một khoa học Theo nghĩa này , toàn bộ thuật ngữ - tên gọi làm thành hệ thuật ngữ - tên gọi của một khoa học Tình trạng của hệ thuật ngữ - tên gọi phản ánh tình trạng ứng dụng lý luận ngôn ngữ học vào việc giải quyết những vấn đề của hình thức ngôn ngữ trong một khoa học
Qua định nghĩa trên ta thấy thuật ngữ khoa học chính là một lớp từ trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ Nó không phải là từ vựng chung mà
là lớp từ vựng đặc biệt Nét đặc biệt được thể hiện ở chỗ thuật ngữ khoa học là những từ và những cụm từ cố định thuộc một chuyên môn nhất định, chính xác và xác định về nghĩa
Sau khi tìm hiểu các định nghĩa về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu nói trên, chúng ta thấy thuật ngữ là từ và cụm từ nhưng không giống với từ
và cụm từ thông thường Từ ngữ thông thường có thể biểu thị sắc thái tình cảm, sắc thái phụ như thái độ đánh giá con người, khen, chê…, có thể mang tính đa nghĩa, có thể có đồng nghĩa, trái nghĩa, có thể có đồng âm, trong khi thuật ngữ thì chỉ đơn nghĩa và chỉ mô tả một khái niệm hay một khách thể Nói cách khác, thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng của một ngôn ngữ, chúng biểu thị khái niệm xác định trong các ngành khoa học kỹ thuật nên thuật ngữ phải tuân thủ tính nghiêm ngặt của nó
Trang 14Tựu chung lại, các nhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm tới những nội dung cơ bản về thuật ngữ như sau
Định nghĩa thuật ngữ với việc phân tích khái niệm và bản chất ngôn ngữ của lớp từ vựng đặc biệt này
Nêu rõ chức năng cơ bản của thuật ngữ trong hoạt động ngôn ngữ của chúng
Khẳng định các đặc điểm cốt yếu của thuật ngữ để thực hiện tốt các chức năng
Xác định các tiêu chuẩn cần có của thuật ngữ
Từ việc lĩnh hội và tổng hợp các quan điểm khác nhau về thuật ngữ
chúng tôi đi đến kết luận như sau: Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ được
phân chia theo phạm vi sử dụng, tư duy và các hoạt động khoa học kĩ thuật
để diễn đạt các khái niệm khoa học
1.1.3 Việc nghiên cứu lí luận về thuật ngữ trong ngôn ngữ học
Như trên đã nói, thuật ngữ là một bộ phận từ vựng quan trọng của ngôn ngữ Đối với ngôn ngữ được nhiều người và nhiều nước trên thế giới
sử dụng thì vốn từ vựng phong phú và đương nhiên số lượng thuật ngữ chiếm tỉ lệ rất lớn Tiếng Anh là một ngôn ngữ như vậy Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, thuật ngữ là bộ phận phát triển mạnh nhất so với các bộ phận khác trong từ vựng Thuật ngữ phát triển theo sự phát triển của khoa học kĩ thuật Hiện nay, khoa học kĩ thuật trên thế giới đang phát triển như vũ bão nên số lượng thuật ngữ trên thế giới ra đời rất nhanh để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật
đó và ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu thuật ngữ
Ở Việt Nam hiện nay, các ngành sản xuất công nghiệp, khoa học và công nghệ đang phát triển mạnh Số lượng các thuật ngữ ở Việt Nam ngày càng nhiều và đang được hoàn thiện dần, nhưng bên cạnh đó lại tồn tại một
số bất cập Ví dụ, có những khái niệm được biểu thị bằng hơn một thuật ngữ Sở dĩ có điều này là vì các thuật ngữ có khi chưa được hệ thống hoá
Trang 15và cách hiểu của các nhà khoa học cũng thiếu thống nhất Thí dụ: Lũ - lũ
lớn - hồng thuỷ; phi cơ trực thăng – máy bay lên thẳng Ngay cả cách phiên
âm thuật ngữ Ấn Âu ở nước ta cũng không thống nhất Thí dụ: Cùng một
thuật ngữ tiếng Anh acid nhưng sang Việt Nam lại được viết thành axít,
a-xít Nhìn chung những vấn đề nêu trên gây không ít khó khăn cho người
học
Hiện nay ở Việt Nam chưa có đội ngũ đủ mạnh các nhà nghiên cứu thuật ngữ Chúng ta còn thiếu các chuyên gia chuyên nghiên cứu thuật ngữ học Vấn đề đang được đặt ra trước mắt là phải chú trọng nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng và tiêu chuẩn hoá các hệ thống thuật ngữ thuộc các ngành khoa học ở nước ta Đây là một vấn đề cấp thiết vì Việt Nam đang cần những hệ thống thuật ngữ chuẩn xác, khắc phục những nhược điểm như đã nêu trên
1.2 Những tính chất của thuật ngữ
Vì thuật ngữ là những từ hoặc những cụm từ cố định dùng để biểu thị chính xác các khái niệm và đối tượng thuộc lĩnh vực của mỗi ngành khoa học nên thuật ngữ phải có những tính chất, đặc điểm sau:
Tính chính xác
Muốn có tính chất khoa học thì trước tiên thuật ngữ phải đảm bảo được tính chính xác, rõ ràng trong khoa học Mức chính xác khoa học yêu cầu thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác Tính chính xác của thuật ngữ được thể hiện ở mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ Như chúng ta đã biết, trong khoa học các khái niệm, các định luật hay các công thức bắt buộc phải chính xác Trong khoa học không có khái niệm nào được hiểu không rõ ràng Khi nhắc tới khoa học, tính chính xác của thuật ngữ thể hiện ở chỗ nó được xác định theo giới hạn của ngành khoa học sử dụng nó Ví dụ:
Trang 16precipitation: giáng thuỷ
precipitation: mưa
Ta không thể dịch thuật ngữ trên là “mưa” như trong từ điển thông thường được vì mưa trong tiếng Anh là “rain”, còn giáng thuỷ là toàn bộ nước từ trên trời rơi xuống, gồm cả mưa, tuyết, mưa đá, mưa tuyết…
Deposit: mỏ
Deposit: tích tụ
Cùng diễn đạt sự tích tụ của vật chất, nhưng cụm từ coal deposit chuyển dịch sang tiếng Việt là mỏ than Còn acid deposit phải được hiểu là lắng đọng hoặc tích tụ a-xit thì mới đúng
Muốn giải thích đúng nội dung của thuật ngữ, ta phải có sự hiểu biết tường tận về ngành khoa học có thuật ngữ đó Sử dụng chính xác thuật ngữ không dễ dàng gì đối với những người không phải chuyên môn Muốn làm tốt được điều này, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ với những nhà chuyên môn thuộc lĩnh vực đó
Tính hệ thống
Đặc điểm thứ hai của thuật ngữ là tính hệ thống Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng, nên thuật ngữ bắt buộc phải mang tính hệ thống Nói đến tính hệ thống của thuật ngữ khoa học kĩ thuật tức là đề cập tới cả hai góc độ nội dung và hình thức Nói cách khác là hệ thống khái niệm và hệ thống kí hiệu Hơn nữa, mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ mà mỗi thuật ngữ lại biểu thị một khái niệm, đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của ngành khoa học nên nó phải tuân theo hệ thống Hệ thống thuật ngữ thường do các chuyên gia đầu ngành của một ngành khoa học nào đó tập hợp rồi định
vị trong từ điển thuật ngữ hay các sách tra cứu chuyên ngành Giá trị của thuật ngữ được xác định bởi mối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác trong hệ thống ấy
Trang 17Ta xét bảng sau:
vựng thông thường
deposit Tích tụ, lắng đọng Tiền gửi
Greenhouse
effect
Hiệu ứng nhà kính (hiện tượng làm gia tăng nhiệt độ của trái đất)
Nếu một yếu tố của thuật ngữ bị tách ra khỏi hệ thống thì nội dung của
thuật ngữ sẽ mất đi Thí dụ: Deposit refund system nếu không đặt trong HTN Môi trường thì nó sẽ không chỉ khái niệm Kí quĩ môi trường Hay
warming chỉ được hiểu một cách thông thường là làm ấm một cái gì đó chứ
không phải đặc chỉ hiện tượng biến đổi khí hậu như khi nó nằm trong HTNMT
Tính quốc tế
Ngoài đặc điểm chính xác và tuân theo một hệ thống nhất định, thuật ngữ còn mang tính quốc tế Tính quốc tế là một vấn đề đang được tranh luận nhiều trong giới ngôn ngữ học và thuật ngữ học, bởi vì khái niệm khoa học của thuật ngữ mang tính phổ niệm, tính quốc tế vì nó là tài sản chung
Trang 18của toàn nhân loại nhưng ngôn ngữ lại mang tính dân tộc Trong khi đó, hầu hết tất cả các thuật ngữ đều là của nước ngoài nên khi được chuyển dịch hoặc phiên âm vào tiếng Việt thì phải làm sao để vừa đảm bảo tính khoa học, tính quốc tế nhưng vẫn phải mang tính dân tộc Đây là một bài toán rất khó giải cho các nhà Việt ngữ học cũng như các dịch giả thuật ngữ Việt Nam Thông thường, nói tới tính quốc tế của thuật ngữ người ta thường chú ý tới hình thức cấu tạo của nó về mặt âm, mặt nghĩa Nhưng thực tế, quan trọng hơn, nó còn thể hiện ở mặt hình thái bên trong của nó (có nghĩa là cách chọn đặc trưng của sự vật, khái niệm làm cơ sở định
dạng cho việc đặt thuật ngữ Và theo như Lê Hoài Ân “ tính quốc tế của
thuật ngữ chính là sự giống nhau, gần nhau ở mặt âm, mặt chữ của thuật ngữ và có các đặc trưng hình thái bên trong của khái niệm định danh cho thuật ngữ” [1, tr 28] Ví dụ:
Tiếng Đức: Ausfuhr volumen
Xuất khẩu khối lượng
Tiếng Anh: volume of export
khối lượng xuất khẩu
Tiếng Việt: Hợp đồng xuất khẩu
Các đặc trưng này là các điểm cơ bản biểu hiện tính quốc tế, nhưng trong thực tế do niềm tự hào dân tộc mà thuật ngữ bao giờ cũng được cải biên đi một chút về mặt âm, mặt chữ nếu có thể để phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ dân tộc, chỉ giữ lại khái niệm khoa học mà thôi Nhưng bên cạnh
đó cũng có những trường hợp bắt buộc thì phải copy hoàn toàn thuật ngữ nước ngoài Ví dụ:
Tiếng Anh: radio, Tiếng Pháp: radio, Tiếng Đức: radio
Tiếng Việt: ra-đi-ô
Trang 19Trong quá trình chuyển dịch, tiếp thu các hệ thuật ngữ quốc tế nhằm xây dựng và phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt là một việc làm vô cùng ý nghĩa Trong quá trình chuyên dịch đó, chúng ta có thể “gia công” để làm giàu cho hệ thuật ngữ tiếng Việt còn non trẻ nhưng trong mọi trường hợp phải đảm bảo nguyên tắc chính xác, khoa học cho thuật ngữ Nếu vì tính dân tộc đại chúng mà phải chuyển dịch thuật ngữ một cách khiên cưỡng, rườm rà gây khó hiểu, không đảm bảo được tính chính xác khoa học thì nhất thiết chúng ta không làm
Các ngôn ngữ như tiếng Việt, Nhật, Triều Tiên… xây dựng thuật ngữ phần lớn dựa trên cơ sở các yếu tố gốc Hán nên hầu hết các thuật ngữ trong các ngôn ngữ này đều mang yếu tố Hán Trong đó thuật ngữ ngành Môi trường Việt Nam tất yếu có các yếu tố Hán-Việt Ví dụ:
xu hướng phát triển tất yếu của ngôn ngữ Nó có ý nghĩa trong việc hoàn thiện ngôn ngữ giao tiếp thế giới, khắc phục rào cản ngôn ngữ trong hợp tác quốc tế về mọi mặt, nhất là lĩnh vực khoa học công nghệ
Như vây, tính quốc tế đòi hỏi thuật ngữ phải có nội dung và biểu đạt gần gũi không chỉ với một cộng đồng ngôn ngữ và với các cộng đồng ngôn ngữ khác
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch, tiếp thu các hệ thuật ngữ quốc
tế nhằm xây dựng và phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu không thể không chú ý tới những chuẩn mực của HTN tiếng Việt
Trang 201.3 Yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam
Nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học, dần dần tiêu chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ trong các ngành chuyên môn, cuối tháng 12 năm 1964, Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã triệu tập Hội
nghị bàn về vấn đề Xây dựng thuật ngữ khoa học Có rất nhiều bản báo cáo
đã đề cập tới nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học, nêu ra những tiêu chuẩn có quan hệ khăng khít chặt chẽ của thuật ngữ khoa học Nhìn chung, các tác giả đã nhất trí với nhau về các tiêu chuẩn Thuật ngữ khoa học Việt nam trước tiên phải thỏa mãn các tiêu chuẩn chung về thuật ngữ như đã nêu trên, sau đó phải có màu sắc dân tộc, đảm bảo tính khoa học, tính đại chúng (ngắn gọn và dễ dùng) Muốn đảm bảo được mức độ chính xác thì khi đặt một hệ thống thuật ngữ, trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, nên tránh các hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa (những hiện tượng ngày nay thường thấy trong ngôn ngữ), muốn thế thuật ngữ khoa học phải cố gắng tiến tới
nguyên tắc: mỗi khái niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ có một
khái niệm [25, tr.41] Theo các nhà khoa học, tính chính xác là đặc điểm
quan trọng nhất, cơ bản nhất trong các đặc điểm của thuật ngữ Còn theo Nguyễn Thiện Giáp, tiêu chí hàng đầu của thuật ngữ là phải đảm bảo tính chính xác của khái niệm Nếu các thuật ngữ tự đặt ra trên cơ sở các yếu tố
có sẵn của tiếng Việt không bảo đảm tính chính xác thì thà tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài còn hơn Nếu các thuật ngữ tự đặt ra đảm bảo tính chính xác thì tất nhiên không cần tiếp nhận các thuật ngữ nước ngoài Nếu tính chính xác của khái niệm được đảm bảo thì mặc nhiên thuật ngữ có được tính hệ thống và tính quốc tế về nội dung Không nên câu nệ vào tính hệ thống và tính quốc tế về hình thức mà phương hại đến tính chính xác của thuật ngữ Muốn thuật ngữ có tính chính xác, thì thuật ngữ nên có một nghĩa, tránh hiện tượng đồng nghĩa, đồng âm có thể gây lẫn lộn, hiểu lầm
Để thẩm định tính chính xác của thuật ngữ, cần nắm vững nội dung khái niệm mà thuật ngữ diễn đạt Chỉ riêng các nhà ngôn ngữ học thì sẽ không làm nổi việc này mà cần có sự phối hợp giữa các nhà ngôn ngữ học với các nhà khoa học thuộc các ngành khác Công việc cấp bách hiện nay là biên
Trang 21soạn các cuốn từ điển khái niệm chuyên ngành Trên cơ sở đó, chúng ta mới có điều kiện để chọn lựa hợp lí những thuật ngữ đang được sử dụng trên sách báo hiện nay [12, tr 322–325]
Để đảm bảo màu sắc dân tộc và tính đại chúng của các thuật ngữ, các
nhà khoa học đều đi đến thống nhất: trước hết phải tận dụng kho tàng từ vựng của tiếng Việt, đó là những từ mà mọi người dân thường dùng Điều này vừa bảo vệ, phát triển được ngôn ngữ dân tộc vừa hạn chế các yếu tố ngoại lai không cần thiết khiến cho một số thuật ngữ trở nên xa lạ và khó hiểu đối với người sử dụng Điều này đã sớm được khẳng định bởi Lưu
Văn Lăng: “Thuật ngữ dù là thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào,
cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó thuật ngữ phải có tính dân tộc và phải mang màu sắc ngôn ngữ dân tộc” [26, tr 58]
Bảo đảm tính chất ngôn ngữ dân tộc của thuật ngữ là góp phần xây dựng tính đại chúng của thuật ngữ khoa học kĩ thuật không thể tách rời quần chúng, tách rời người sử dụng, nhất là trong thời đại mà nền kinh tế tri thức đang được tiếp nhận trên phạm vi toàn cầu khoa học công nghệ phải thực sự xâm nhập sâu rộng vào quần chúng Muốn vậy thuật ngữ không thể là những từ cao siêu, xa lạ với quần chúng, chỉ dành riêng cho các nhà chuyên môn mà phải dễ dùng đối với đông đảo quần chúng Như vậy, thuật ngữ phải được hình thành từ ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ đọc, dễ viết
Tuy nhiên, khi cần có thể dùng yếu tố Hán - Việt để đảm bảo tính chính xác và hệ thống khi các từ trong tiếng Việt không đảm bảo yêu cầu trên Ví dụ:
Microbe: vi sinh vật thay vì nói sinh vật nhỏ
Air Pollution: ô nhiễm không khí thay vì nói không khí bẩn
Adaptation: thích nghi thay vì nói phát triển phù hợp
Photosynthesis: quang hợp thay vì nói tổng hợp nhờ ánh sáng mặt trời Thermometer: nhiệt kế; không nói thiết bị đo nhiệt độ
Trang 22Với việc tận dụng các yếu tố Hán- Việt trong quá trình tạo lập, các thuật ngữ trên tỏ ra ưu thế hơn bới cách diễn đạt tư duy khúc triết ngắn gọn Tính khoa học của thuật ngữ thể hiện ở tính chuẩn xác, hợp lý của các đơn vị thuật ngữ được cấu thành Tránh tình trạng, sau khi chuyển dịch ta không tạo lập được một thuật ngữ tương ứng mà chỉ là một cụm từ giải nghĩa Ví dụ:
Catalytic Converter thiết bị lọc thải thay vì nói bộ phận chuyển xúc tác
Crop Rotation luân canh thay vì nói canh tác cây trồng luân phiên
Endangered Species loài nguy cấp
Genetic Engineering công nghệ gen thay vì nói công trình nghiên cứu gen Household Waste rác sinh hoạt thay vì nói rác thải từ các gia đình
1.4 Xây dựng thuật ngữ tiếng Việt
Về chất liệu
Một điều kiện tiên quyết trọng quá trình xây dựng thuật ngữ là sử dụng tối đa và triệt để các yếu tố ngôn ngữ dân tộc Sau đó, chúng ta có thể dùng các yếu tố ngoại lai để cấu tạo tốt nhất HTN một khi các chất liệu tiếng Việt không thể một mình đảm đương nổi vai trò trên Khi đó ngoài yếu tố Hán Việt ra, các yếu tố Ấn Âu cũng được sử dụng
Như vậy, có ba nguồn xây dựng thuật ngữ là:
Lớp thuật ngữ thuần Việt Lớp thuật ngữ Hán -Việt Lớp thuật ngữ Ấn- Âu
Về con đường xây dựng thuật ngữ
Việc xây dựng hệ thuật ngữ tiếng Việt chủ yếu thông qua các con đường sau
Vay mượn
Trang 23Các nhà khoa học đều thống nhất mượn thuật ngữ nước ngoài để làm giàu vốn thuật ngữ của dân tộc Nhưng vay mượn thuật ngữ nước ngoài không phải là bắt chước người nước ngoài, cố giữ nguyên cách nói, cách đọc hay cách viết để đưa vào tiếng Việt, làm cho tiếng Việt bị lai căng, mất tính trong sáng Phải dùng thuật ngữ nước ngoài một cách có sáng tạo, biến
nó thành thuật ngữ khoa học của dân tộc ta, vừa chính xác, vừa có hệ thống Khi dùng yếu tố Hán - Việt để đặt thuật ngữ, ta nên chú ý đến yếu tố
có nghĩa, độc lập thường dùng và kết hợp theo ngữ pháp tiếng Việt Khi
dùng thuật ngữ Ấn Âu, theo Lưu Vân Lăng, không nên “cố giữ nguyên
dạng chữ quốc tế mà nên dựa theo âm là chủ yếu (âm của nguyên ngữ hoặc của nhiều nước dùng gần giống nhau) mà phiên một cách sáng tạo, sao cho nó phù hợp với đặc điểm và sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc ta” [23, tr 153] Ông còn nhấn mạnh đến dạng chữ viết, kí hiệu khoa học
quốc tế để đảm bảo tính chính xác khoa học Ví dụ:
Trang 24Website, chip, chat, file, Internet, menu, download…
Nó cũng được áp dụng đối với những thuật ngữ tuy có hình thái cấu trúc phức tạp nhưng mới cả về thời gian xuất hiện lẫn khái niệm Ví dụ
Multicast, tunneling, normalized latency…
Cấu tạo theo qui tắc của tiếng Việt
Phương thức ghép: Kết hợp các từ, yếu tố cấu tạo từ với nhau để tạo ra một
thuật ngữ mới Ví dụ:
áp + kế → áp kế
không khí + đặc → không khí đặc
mây + tích → mây tích
đối + lưu → đối lưu
mưa + đối lưu → mưa đối lưu
Nguyễn Văn Tu [31, tr 177] cũng cho rằng: “Tạo những từ ghép
Phương thức này được dùng nhiều trong tiếng Việt như: đòn bẩy, đoạn thẳng, mặt phẳng, tam giác… cách này thường dựa vào vốn từ vị của ngôn ngữ toàn dân” Ví dụ:
Nước mặt, nước ngầm, rác thải y tế, rác thải sinh hoạt…
Phương thức thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường
Với phương cách này, đơn vị ngôn ngữ có sẵn được tận dụng bằng việc gắn cho chúng nội dung thuật ngữ Ví dụ:
Warming (Ấm lên toàn cầu), ozone hole (lỗ thủng ôzôn),desertification (sa mạc hóa), red tide (thủy triều đỏ), agal bloom (tảo nở hoa) …
1.5 Thuật ngữ Môi trường
1.5.1 Bàn về chính tên gọi thuật ngữ
Các nhà khoa học trong nước cũng thảo luận rất nhiều về tên gọi của thuật ngữ Hàng loạt các tên gọi khác nhau được áp dụng cho thuật ngữ
Trang 25như: thuật ngữ, danh từ khoa học, tiếng khoa học, thuật ngữ khoa học và chuyên danh Tại hội nghị ngôn ngữ học được tổ chức vào tháng 7/1980
“Về vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ”, Hồng Dân (Đại học Tổng hợp thành phố
Hồ Chí Minh) đã trình bày một tham luận về tên gọi của thuật ngữ Theo ông, dùng “chuyên danh” để thay cho “thuật ngữ”, “thuật ngữ khoa học”,
“danh từ khoa học”… Thực ra giữa các cách gọi trên có sự khác nhau chứ không phải hoàn toàn trùng nhau Chuyên danh không thể dùng để thay thế cho thuật ngữ khoa học Thuật ngữ, danh từ khoa học hay tiếng khoa học đều coi là thuật ngữ khoa học, được sử dụng trong các ngành khoa học, còn chuyên danh chỉ dùng chuyên biệt trong các ngành cụ thể
1.5.2 Các công trình nghiên cứu gần đây
Bên cạnh các hướng nghiên cứu về thuật ngữ như nêu trên, gần đây tại Việt Nam đã có một số đáng kể luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu
về thuật ngữ Điều này chứng tỏ vấn đề thuật ngữ, nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ đã và đang càng ngày càng được quan tâm Ví dụ:
- Thuật ngữ kinh tế thương mại Nhật Việt (tác giả Nguyễn Thị Bích Hà, luận án tiến sĩ 2000)
- Thuật ngữ điện tử Anh Việt (tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh, luận văn thạc sĩ 2000)
- Thuật ngữ thương mại Anh Việt (tác giả Vũ Thị Bích Hà, luận văn thạc sĩ 2003)
- Thuật ngữ kiểm toán tiếng Đức (tác giả Lê Hoài Ân, luận văn thạc sĩ 2003)
-Thuật ngữ khí tượng thủy văn tiếng Anh (tác giả Đoàn Thúy Quỳnh, luận văn thạc sỹ năm 2007)
1.5.3 Cách hiểu về thuật ngữ môi trường
Cho đến nay, thuật ngữ môi trường cả tiếng Anh và Việt vẫn còn là
hệ thuật ngữ chưa được nghiên cứu đầy đủ cả về lí luận và thực tiễn ở nước
Trang 26ta Hiện mới chỉ có một số ít từ điển đối chiếu hay giải thích nhằm phục vụ cho bộ phận các nhà nghiên cứu, giáo viên, học viên hoặc nhưng người quan tâm đến chuyên ngành này Tuy nhiên, dựa trên các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học về thuật ngữ, chúng tôi mạnh dạn đưa ra định nghĩa
như sau: Thuật ngữ môi trường là những từ và cụm từ cố định gọi tên chính
xác các loại khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực môi trường
Trang 27TIỂU KẾT
Trong chương 1 của luận văn chúng tôi đã trình bày các vấn đề sau:
1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học ngữ học thế giới và các nhà Việt ngữ học khi bàn về thuật ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành
Luận văn đã trích dẫn nhiều quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới Từ việc lĩnh hội và tổng hợp các quan điểm khác nhau về
thuật ngữ chúng tôi đi đến kết luận như sau: Thuật ngữ là một bộ phận từ
ngữ được phân chia theo phạm vi sử dụng, tư duy và các hoạt động khoa học kĩ thuật để diễn đạt các khái niệm khoa học
2 Những tính chất của thuật ngữ Nếu đi sâu phân tích và nghiên cứu thì thuật ngữ có rất nhiều tính chất Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi xin nêu ra những tính chất mà chúng tôi cho là đặc trưng nhất: tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế
3 Yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam Thuật ngữ khoa học Việt nam trước tiên phải thỏa mãn các tiêu chuẩn chung về thuật ngữ như
đã nêu cụ thể trong luận văn, sau đó phải có màu sắc dân tộc, đảm bảo tính khoa học, tính đại chúng (ngắn gọn và dễ dùng)
5 Thuật ngữ Môi trường Chúng tôi có quan niệm về thuật ngữ môi trường như sau: Thuật ngữ môi trường là những từ và cụm từ cố định gọi tên chính xác các loại khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực môi trường
6 Nội chung của các chương tiếp theo
Phân tích, khảo sát những đặc điểm về mặt cấu tạo hệ thuật ngữ môi trường Anh- Việt
Phân tích về mặt ngữ nghĩa và đánh giá về việc giải nghĩa các thuật ngữ môi trường bằng tiếng Việt
Trang 28CHƯƠNG 2 Những đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Môi trường tiếng Anh
Thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng Khi nghiên cứu cấu tạo của TNMTTA, nhất thiết phải xem xét cấu tạo chung của từ vựng tiếng Anh
2.1 Cấu tạo từ tiếng Anh
Trong tiếng Anh cũng như trong các ngôn ngữ khác, từ là đơn vị độc
lập nhỏ nhất Khái niệm từ đối lập với khái niệm hình vị- đơn vị ngôn ngữ
nhỏ nhất có nghĩa về mặt ngữ pháp Một từ có thể gồm một hoặc nhiều hình vị nhưng một hình vị lại không có khả năng tồn tại độc lập Thông thường, một từ gồm một căn tố, có thể có hoặc không có phụ tố (hay phụ tố zero) Từ được tạo bởi 2 căn tố kết hợp với nhau là từ ghép Từ có thể tạo thành các đơn vị ngôn ngữ khác như cụm từ, mệnh đề và câu
Quan niệm này xuất phát từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu vốn rất mạnh về hình thái học, dựa trên hàng loạt các ngôn ngữ biến hình
Chẳng hạn, trong dạng thức played của tiếng Anh người ta thấy ngay là:
play và -ed Hình vị thứ nhất gọi tên, chỉ ra khái niệm về một hành động,
còn hình vị thứ hai biểu thị thời của hành động đặt trong mối quan hệ với
các từ khác trong câu mà played xuất hiện
Đơn vị cấu tạo từ
Từ được cấu tạo nhờ các hình vị Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định
Ví dụ: Antipoison = anti + poison
Các hình vị được phân chia thành những loại khác nhau Trước hết là
sự phân loại thành các hình vị tự do và hình vị hạn chế (bị ràng buộc)
Hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách những
từ độc lập Ví dụ:
house, man, black, sleep, walk…
Hình vị hạn chế là những hình vị chỉ có thể xuất hiện trong tư thế đi kèm, phụ thuộc vào hình vị khác Ví dụ:
-ing, -ed, -s, -ity…
Trang 29Trong nội bộ các hình vị hạn chế, người ta còn chia thành hai loại nữa: các hình vị biến đổi dạng thức (các biến tố) và các hình vị phái sinh
- Hình vị biến tố là những hình vị làm biến đổi dạng thức của từ để biểu thị
quan hệ giữa từ này với từ khác trong câu Ví dụ:
cats, played, worked, singing
- Hình vị phái sinh là những hình vị biến đổi một từ hiện có cho một từ
mới
kind – kindness; work – worker…
Nếu căn cứ vào vị trí của hình vị trong từ, người ta có thể phân chúng thành hai loại lớn: gốc từ (cái mang ý nghĩa từ vựng chân thực, riêng cho từng từ) và phụ tố (cái mang ý nghĩa ngữ pháp, chung cho từng lớp, nhiều từ) Tuỳ theo phụ tố đứng ở trước gốc từ hay sau gốc từ, người ta gọi chúng lần lượt là tiền tố và hậu tố
phương thức cấu tạo từ
Người ta có những cách khác nhau trong khi sử dụng các hình vị để tạo từ
- Dùng một hình vị tạo thành một từ Phương thức này thực chất là người ta
cấp cho một hìnhvị cái tư cách đầy đủ của một từ, vì thế, cũng không có gì khác nếu ta gọi đây là phương thức từ hoá hình vị
in, out, with, …
- Tổ hợp hai hay nhiều hình vị để tạo thành từ
bio- fuel, non-stop, abil-ity…
- Phương thức phụ gia: thêm tiền tố hoặc hậu tố vào gốc từ hoặc một từ có
sẵn
foreign – antiforeign, possible – impossible
player, kindness, homeless…
Trang 302.2 Thuật ngữ là một từ
2.2.1 Thuật ngữ gồm 1 căn tố
Chúng mang đầy đủ ý nghĩa và đặc điểm của một từ, hoạt động với tư cách là một từ hoàn chỉnh Thuật ngữ thuộc loại này không có cấu tạo bằng phương thức ghép hoặc phụ tố
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên một nhóm thuật ngữ bất kì của 2 cuốn
từ điển thuật ngữ Môi trường
1 Từ điển Môi trường Anh- Việt của Cục Môi trường, Bộ KHCN và MT
2 Danh mục thuật ngữ của Cục Bảo vệ môi trường EPA của Mỹ
Thuật ngữ gồm 1 căn tố
2.2.2 Thuật ngữ là một từ phái sinh
Đây là thuật ngữ được cấu tạo bởi một căn tố ghép với ít nhất một phụ
tố Có những thuật ngữ được cấu tạo với tiền tố như proto/galaxy, có những thuật ngữ được cấu tạo với hậu tố như dens/ity, có những thuật ngữ được cấu tạo với cả tiền tố và hậu tố như radio/meteor/ology Trên chữ viết, có
những thuật ngữ được viết có dấu “-” nhưng cũng có những thuật ngữ viết không có “-”
Thông thường, tiền tố và hậu tố được viết liền với thuật ngữ gốc mà không có dấu “-” Nhưng chú ý các trường hợp sau:
Trang 31 Đối với thuật ngữ nếu viết liền mà có hai nguyên âm liền với nhau thì ta phải dùng dấu gạch ngang “-” nối giữa tiền tố hay hậu tố Thí
dụ: semi-opan (nửa opan), tuy nhiên đối với de-, pre-, pro-, re- khi
được kết hợp với từ gốc thì không cần có dấu “-” mặc dù nó có thể
liền vào một nguyên âm nào đó, như reenter
Dấu gạch ngang được sử dụng khi từ gốc được viết hoa Thí dụ:
American-like (giống người Mỹ)
Dấu gạch ngang được sử dụng đối với các từ đồng âm khác nghĩa để
tránh hiểu sai về cách đọc cũng như cách viết Thí dụ: release (giải phóng) và re-lease (thuê lại)
Ngoài ra cách dùng dấu gạch ngang còn do quy định, ví dụ cùng là
tiền tố half- nhưng trong từ half-life (nửa đời người) lại được viết có gạch ngang, còn halfhearted (không nhiệt tình), halffpenny (đồng
nửa xu) lại không được viết có gạch ngang
Các phụ tố trong tiếng Anh: trong tiếng Anh có tổng số 220 phụ tố, trong
đó có 132 tiền tố và 88 hậu tố Các phụ tố thông dụng là: un-, dis-, non-,
mis, in, ill, im, ir, re, pre, fore, over, super, er, or, ing, tion, ness, -ist, -able, -ish, -ed, -less,-ment, -y, -ize, -en, -fy, -ly, -ward(s), và - wise Dựa vào ý nghĩa người ta đã phân chia các phụ tố trong tiếng Anh
-thành nhiều nhóm khác nhau, cụ thể là:
Ba nhóm tiền tố:
Tiền tố mang ý nghĩa phủ định: un-, dis-, non-, mis-, in-, ill-, im-, ir-
Tiền tố chỉ sự lặp lại của hành động: re-
Tiền tố đề cập tới mối quan hệ không gian, thời gian: pre-, post-,
fore-over-, super-
Bốn nhóm hậu tố:
Làm danh từ: -er, -or, -ing, -tion, -ment, -ness, -ist
Làm tính từ: -able, -ish, -ed, -less, -y
Làm động từ: -ize, -en, -fy
Làm trạng từ: -ly, -ward (s), -wise
Trang 32Tất nhiên trong một thuật ngữ phái sinh, căn tố mang ý nghĩa cơ bản Chúng tôi cũng tiến hành thống kê số lượng thuật ngữ Môi trường phái sinh trên hai nhóm từ đã nói trên
Kết quả khảo sát như sau:
Lần khảo
sát
Tổng số thuật ngữ khảo sát
Thuật ngữ phái sinh
Bio- degradable phân hủy sinh học
De- carbonize khử cácbon
De- colorise khử màu
Eco- balance cân bằng sinh thái
Inter- cropping xen canh
Iso- bar đường đẳng áp
Macro- species loài lớn
Micro- habitat tiểu sinh cảnh
Mid- water tầng giữa nước
Over -grazing chăn thả quá mức
Resolv-er dung môi
Căn tố + hậu tố + hậu tố (3 hình vị)
Trang 33Environment- al-ism chủ nghĩa môi trường
Glacierization sự đóng băng (Glacie / rize / ation)
Solidification sự rắn lại (Solid / fy / ation )
Tiền tố + căn tố + hậu tố (3 hình vị)
Over-graz-ing chăn thả quá mức
Eco-tax-ation thuế sinh thái
Re-product-ive sinh sản
De-hydr-ation khử nước
Bio-mechan-ism cơ chế sinh học
Tiền tố + tiền tố + căn tố + hậu tố (4 hình vị)
Bio- photo- genesis phát quang sinh học
Photo- hetero- troph-ism quang dị dưỡng
Tiền tố + căn tố + hậu tố+ hậu tố (4 hình vị)
Biodegradability phân hủy sinh học
(Bio /degrade/able/ity)
Tiền tố + tiền tố + căn tố + hậu tố+ hậu tố (5 hình vị)
Photoinactivation khử hoạt hóa quang học
2.2.3 Thuật ngữ là từ ghép (compound word)
Từ ghép là từ do hai từ trở lên ghép lại với nhau tạo thành Các thành
tố có thể viết liền nhau hoặc cách nhau bởi dấu “- “ Từ ghép có thể mang nghĩa là nghĩa của các thành tố cộng lại hoặc nó có thể mang nghĩa mới khác hẳn với nghĩa của các thành tố Ví dụ:
Trang 34Greenhouse ↔ Phụ- chính
Living-room
Chúng tôi đã tổng hợp các cách cấu tạo danh từ ghép như sau:
1 Danh từ + danh từ Lifemas, Zootechnichs
2 Danh động từ (P1)+ danh từ Living- room
3 Tính từ+ danh từ Greenhouse, blackboad
4 Danh từ + giới từ Passer-by, looker- on
6 Nhiều tiếng hỗn tạp Forget me not, do it yourself
Khảo sát 200 thuật ngữ là danh từ ghép chúng tôi thu được kết quả như sau:
Tiếp đến là thuật ngữ ghép có cấu tạo là tính từ + danh từ Chỉ một
số tương đối nhỏ là từ ghép Còn lại phần lớn là cụm từ Ví dụ:
Trang 35Radioactive waste rác thải phóng xạ
Toxic waste rác thải độc hại
Renewable resource tài nguyên tái sinh
Organic farming nông nghiệp hữu cơ
Green revolution cách mạng xanh
Tuy không có vai trò quan trọng về số lượng như danh từ ghép, nhưng tính từ ghép tương đối phức tạp trong cấu trúc và ngữ nghĩa Do vậy chúng tôi cũng muốn đề cập đến loại từ này với mong muốn tránh cho người dùng thuật ngữ hiểu sai nghĩa của chúng do nắm bắt không đầy đủ về cấu trúc Tính từ ghép có thể được tạo thành bằng các mô hình sau:
1 Tính từ + danh từ + ed old-fashioned (lỗi thời), artistic-minded
(có óc thẩm mỹ)
2 Tính từ + phân t 1 easy-going (thoải mái),
far- reaching (sâu rộng)
good-looking (xinh xắn)
3 Phó từ + phân từ 1 high-sounding (huênh hoang)
naturally occurring (nguồn gốc tự nhiên)
4 Phó từ + phân từ 2 well-behaved (lễ phép)
Loosely- managed (quản lí lỏng lẻo)
Seriously polluted (ô nhiễm nghiêm trọng)
5 Danh từ + phân từ 1 time-consuming (tốn thời gian)
breath-taking (đáng kinh ngạc) Ozone- depleting (suy giảm tầng Ôzôn)
Trang 36Air- polluting (gây ô nhiễm không khí) Flood-producing (sinh lũ)
6 Danh từ + phân từ 2 handmade (làm bằng tay)
heart-broken (đau khổ) Lead- poisoned (nhiễm độc chì) Grid controlled (điều khiển trên mạng)
7 Danh từ + tính từ: nation-wide (khắp nước)
duty- free ( miễn thuế) waste- free (không rác thải)
pollution- free (không ô nhiễm)
Trong các tính từ ghép nói trên, loại có cấu tạo Danh từ + phân từ 1
trùng cấu tạo với cụm danh từ trong phần dưới đây Sự giống nhau về hình thức mang lại sự tương đồng về nghĩa từ vựng nhưng chức năng của chúng hoàn toàn khác nhau
Tính từ ghép
Ozone- depleting (substances) (Chất) suy giảm tầng Ôzôn
Air- polluting (factory) (Nhà máy) gây ô nhiễm không khí
Flood-producing (storm) (Bão) sinh lũ
Fireproofing (materials) (Vật liệu) chống cháy
Cụm danh từ
Food/ lead poisoning Ngộ độc thực phẩm/ chì
Environment poisoning Đầu độc môi trường
Trash burning Đốt rác
Transport planning Hoạch định giao thông
Trang 37Tuy nhiên, loại tính từ kép có cấu tạo Tính từ + phân từ 1 trùng cấu
tạo với cụm danh động từ Sự giống nhau về hình thức không mang lại sự tương đồng về nghĩa từ vựng như trường hợp trên Cụm danh động từ có nghĩa tạo bởi nghĩa của từng thành tố cấu tạo, trong khi tính từ ghép có thể
có nghĩa khác xa với nghĩa của từng thành tố
Cụm danh động từ
Organic farming nông nghiệp + hữu cơ
Global warming nóng ấm + toàn cầu
Evaporative cooling làm mát + bằng bốc thoát hơi nước
Tính từ ghép
easy-going (dễ + đi) thoải mái, dễ tính, bình thản
good-looking (tốt + có vẻ) đẹp trai, ưa nhìn
far- reaching ( xa + đạt tới) có ảnh hưởng sâu rộng
Chúng tôi tiến hành khảo sát tần xuất xuất hiện của các tính từ ghép trên một số tư liệu Môi trường tại các trang web sau:
Trang 38Kết quả khảo sát cho thấy, tính từ ghép không những chỉ khiêm tốn
về số lượng mà còn cả về tần xuất xuất hiện Chỉ có tính từ ghép cấu tạo
bởi Phó từ + phân từ 2 là xuất hiện khá đều đặn và ổn định với tỉ lệ cao nhất Nguyên nhân chính của hiện tượng này là: cấu trúc Phó từ + phân từ
2 có thể diễn đạt một nội dung tương đương với một cấu trúc bị động có
phó từ Hơn nữa, trong tiếng Anh, đăc biệt là văn phong khoa học, cấu trúc
bị động luôn luôn được ưu tiên xuất hiện để đảm bảo tính khách quan của văn bản Đương nhiên, tính từ đơn chiếm ưu thế lớn về tần xuất xuất hiện trong tất cả các văn bản được khảo sát
2.3 Thuật ngữ là một cụm từ
Định nghĩa cụm từ (phrase): Cụm từ là tổ hợp các từ có mối liên kết chặt chẽ, mang ý nghĩa nhất định, và không có thành phần chủ ngữ hoặc động từ
Richard C Trench, English language, October 17, 2008
Ví dụ:
Artificial climate khí hậu nhân tạo
Biological treatment biện pháp xử lí sinh học
Các loại cụm từ
Dựa trên cấu trúc, cụm từ được phân thành mấy loại sau đây:
a Cụm danh từ A victim of the war, he hated the war
Trang 39b Cụm danh động từ A farmer hates spending money
c Cụm động từ nguyên mẫu Our duty is to serve our country
e Cụm phân từ Working all day long, he felt tired
f Cụm tính từ The sea lay down, golden in the
sunlight
(Trong các ví dụ trên đây, cụm từ là những nhóm từ được gạch chân)
Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, ranh giới giữa một số cụm từ
và từ ghép rất mờ nhạt vì các thành phần cấu tạo tương đối giống nhau Về mặt cấu tạo, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu chung cả từ ghép và cụm từ Qua khảo sát các hệ thuật ngữ Môi trường, chúng tôi thấy mô hình cụm từ chủ yếu là cụm danh từ, tiếp đó là cụm danh động từ Các loại cụm từ khác
ít xuất hiện hoặc không có trong HTN Môi trường
Chúng tôi tiến hành tính toán dựa trên kết quả của khảo sát đối với thuật ngữ đơn Kết quả là: trong HTN Môi trường, thuật ngữ cụm từ chiếm
tỉ lệ rất lớn, do đó đóng vai trò rất quan trọng
Lần khảo
sát
Tổng số thuật ngữ khảo sát
Thuật ngữ phức (gồm từ ghép và cụm từ)
Danh từ + danh từ
Những thuật ngữ có mô hình này bao giờ danh từ đứng trước cũng bổ nghĩa cho danh từ đứng sau về nhiều phương diện
Thời gian: night dress, evening class
Không gian: village church, air pollution, indoor pollution
Chất liệu: gold ring, leather shoes, ozone layer
Trang 40 Giá trị: penny stamp, pound note
Mục đích (bao gồm hành động và đối tượng của hành động): tea cup,
toothpaste
Nguồn gốc, sở hữu: cat tail, city center, plant cell
Nơi sản xuất và sản phẩm: gold mine (mỏ vàng)
Nơi sản xuất và loại công việc: assambly plant (nhà máy lắp ráp),
treatment facility (trạm xử lí), recycling center (trung tâm tái chế)
Chúng tôi đã thử thu thập các thuật ngữ và phân loại theo các phương diện nói trên Kết quả như sau:
STT Phương diện bổ nghĩa Số
lượng
Ví dụ
1 Phân loại 5 Food chain chuỗi thức ăn
2 Hành động 15 Rubbish dump bãi rác
3 Đối tượng hành động 19 Drainage system hệ thống thoát
nước
4 Phương thức hành động 3 Spray can bình xịt
5 Không gian 5 Air pollution ô nhiễm không khí
6 Nguồn gốc, Sở hữu 3 Ground water nước ngầm
7 Thứ hạng 4 Top predator động vật ăn thịt
bậc cao
9 Chất liệu 7 Clay soil đất sét
10 Nội dung 5 Earth hour giờ trái đất
Danh động từ P1 (V+ing)+ danh từ
Danh động từ là một dạng thức đặc biệt trong tiếng Anh, được cấu
tạo bằng cách thêm hình vị - ing vào sau mỗi động từ Đúng như tên gọi,
nó có tính chất, chức năng của cả động từ và danh từ
Chỉ hành động, trạng thái
Có thể kết hợp với mạo từ