Đố i tuựiig và m ụ c tlícli ciiii dề lài: Như chúng ta đã biết, nghiên cứu lừ loại là một ứng dụng quan trọng cua ngữ pháp học, đặc biệt đối với tiêng Việt, việc nghiên cứu này lại càng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA IIẢ NỘI TRUỜNG ĐẠ[ I iọc KI IOA HỌC XẢ HỘI VẢ NI IẢN VÁN
ĐINH KIỀU CHÂU
TÌM HIỂU LOẠI TÙ QUA MỘT TỪĐIEN
KẾT HỢP DANH TỪ- LOẠI TỪ
TRONG TIẾNG VIỆT
LUÂN VÃN I I IẠ (: SÌ NGỦN NGU I lụ c
Cl 1UYÊN NGHÀNII LÝ LUẬN NGÓN NGŨ
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHUƠNGI : Tổ hợp loại lừ + danh từ nh II từ góc độ loại lừ 10
3 Tìm một quan niệm loại từ cho một từ điển kết hợp loại lừ 19với danh từ ( theo chiêu danh từ - loại từ )
CHUƠNG 2 : Tổ hợp loại từ + danh lù nhìn lừ góc độ danh lừ 36
2 Loại từ trong (|u;m hô với các lập hợp I'ú;i nội bộ (lanh lừ 37
3 Tổ hợp loại từ + danh từ như là biến thê cua việc (lanh từ 50dùng loại từ
CHUƠNG 3 : Một vài nhận thức vê công lác xữy dựng từ điển 58liên quan đến luCtn án
2 Những yêu cầu chung của công tác lừ iliển 59
Trang 4MỞ ĐẦU
í Đố i tuựiig và m ụ c tlícli ciiii dề lài:
Như chúng ta đã biết, nghiên cứu lừ loại là một ứng dụng quan trọng cua ngữ pháp học, đặc biệt đối với tiêng Việt, việc nghiên cứu này lại càng
có nhũng điểm cán chứ ý vì đíìy là một vân để ngữ pháp lý luận được ứng dụng (long một ngôn ngữ cụ tliể lluiộc loại hình đơn lập, phân tiết Nếu từ loại tiêng Việt được nghiên CIÍII đẩy đù, sâu sắc thì việc làm này sẽ là đóng góp không nlió vào những công việc có lính thực tiễn như: biên soạn các loại sách, các loại từ điển, các tài liệu hội (hoại
Với đề tòi:"Bước đầu xác lập một tir điên kêl hợp loại từ + danh từ (rong tiêng Việt" cho luận vãn tốt nghiệp cử nhân trước đày (" và đề tài Tìm hiểu loni lừ tiêng Việt qua một từ điển kết hợp danh từ - loại từ" cho luận văn thạc sĩ hiện nay chúng tôi muốn dành sự quan lâm của mình cũng vào một vân đề cụ ỉliể lluiộc clia hạt từ loại tiêng Việt Đó là loại từ, đặc biệt hơn là loại từ (rong mối quan hệ với (Innli tù' qua việc thực hiện một công trình ứng dụng: một từ điếu nhó liong dó ỉlie hiện khá năng kết hợp có lựa chọn của danh từ và các loại từ (iêng Việl
Trong tiếng Việt cùng một sụ' vật, một hiện tượng được biểu hiện bằng clanli từ nhưng không phải chỉ có duy nliât một cácli biểu đạt CTiúng ta có " nhà" có " (hư", có " thuyền" nhung chúng la cũng có " căn nhà, ngôi nhà"
lá thư, bức (hư’ " "chiếc thuyền, con thuyền" Bên cạnh " mối tình" ta lại có
"cuộc lình" Điều đỏ cho (hây Irong liêng v iệ t đã có một lớp ngữ pháp cứa lừ mà sự xuâí hiện của 11Ó tlã lạo liên một phạm trù, trong dó các yêii tô
1 Đ in li K i ề i i C l ì ì t i NịỊUVỖn ! lỏ n g C h i In íìn VMM tn l n ụ h iệ p ( Yr n h íìn , 1)1 ỉ lỏ m * h(*p ll à N Ọ i I 9 ‘ >4
Trang 5không chỉ (luiíìn lũ y cliỗn clạl mặl liìn h thức n g iĩ pháp mà CÒI) là m ột tham tố
lạo Iigliĩa cua cấu trúc mở lộng cùa danh lừ Lớp ỉừ này lựu clumg được các nhà Việt ngữ liọc gọi là loại (ừ ( Classificaleur)
Mội khác dối với người Việt Níim các kêl hựp giữa loại từ (con, cái, cục hòn, líìm, bức, chiếc ) với danh từ là hết sức lự nhiên và tiềm tàng Các kêl hợp ấy biểu tliị mội (rong số những cư câu vận hành quan trọng nhất của tiếng việt ( CƯ câu tổ chức, dưa danh ngữ vào lioạl động cấu tạo câu nói); đồng ỉliời dây cũng là cánh cửa mớ ra cho tliây nluìng dặc điểm liong lư duy I>ân ngữ trong cách (li nhím và pliân loại sự vật của người Việt Thực lê này từ mấy chục năm nay (lã thu luít sự chú ý của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là với nhiều kliúi cạnh lý luận CIKI loại lù' HÀU Iilur mọi còng liìnli về ngữ pháp liêng việl xa g;ìn dền có đổ cộp dên khía cạnhnày hiiy kli.it-' Chỉ liêng (10112, tliíip ky niìy cũng dã có lới gầu công(lình liêp lục kliai tliác và lliáo luân ( xem (lanh sách mục 2.2)
Tiến liànl) luận văn này chúng tôi mong muốn góp phần vào việc tiếp tục nghiên cứu loại từ nói liênẹ VÌI từ loai liêng Việt nói chung; một vân đề Việt ngữ tlíi có hề ílày licli SƯ (láng (lân họng (đăc l'iệl tiên lĩnh vực ứng dụng )
Luận vfm này cũng có những khác biệt vứi còng Ilìnli đã đuực thực hiện trước (1:1 V (1994) ớ chồ các vân dề sẽ được mớ lộng và đi sâu hưn để (.lạt mục tlícl) là:
1.1 Tìm hiển loại (ứ írn iìg tô họp rói (Idĩih lừ (lé xây tlụiĩỉỊ m ột tu (ỉiếìì kết họp loại lừ - ílanh từ theo clĩicĩi Ìtguọc.
Điều dó có Iigliĩa là xác lập mọt danh sách chình lừ tiếng Việl có kliá
năng kêl hựp V('yi loại từ và đua danh sách (tổ vào miêu lả trong các kết hợp với các loại lừ cụ lliể mà người bán ngữ vẫn sử dụng
/.2 ỉỉo tìii tliiện m ột chuyên luận liai chiên có ííiih ứng (lintg nhò việc:
4
Trang 6a/ Tìm hiểu và xác lộp một danh sách loại lừ liếng Việt thường gập trên bình diện sử dụng.
b/ Đưa la một từ điển ngữ pháp ứng dụng, trước liêt cho việc dạy và học tiêng Việt Iilnr một ngoại ngữ và giúp biên soạn các loại sách tra cứu.c/ Tliam gia vào việc tháo luận và nghiên cứu các đối lập cơ bán trong nội bộ danh tìr ( đưa đến việc tlímg loại từ ) Đổng thời qua việc miêu tả các kết hợp loại từ - danh từ rút ra những nhận xét có tính qui luật, phản ánh đặc điểm lu'duy và phan cắt thê giới của người Việt
d/ Do công việc mà công tiìnli này cúng sẽ tham gia vào việc bàn luận
về loại lừ
2 T í nh c ấ p thiết c ủa đề lài
Như chúng la đã biêt, trong thực lừ liếng Việt có 11101 lập hợp từ lất lớn
và lất quan (lọng Đó là danh lừ Theo Ihỏng kê cúa cluìng tôi có gần14.000 (.lanh từ trên 38.600 mục lừ trong Từ điển liếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1992) Danh lìr không chỉ lớn về số lượng mà còn phức tạp về nội
bộ và trong quan liệ với các từ khác Một trong những sự phức tạp đó là việc lựa chọn sử dụng loại từ để chỉ cái đơn vị cùa chínli 11(5
Trong lịch sử ngliiên cứu liêng Việt với tínli chất đặc biệt tinh tê về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa loại từ đã được nghiên cứu liên tục trong khoảng lliừi giai 1 hưu kém một (hê ký Tuy nhiên cho tiên Itay mọi cố gắng đều tập trung vào bình diện !ý luân nhằm miêu tá nó, phân lích nó với mục đích giải đáp những câu hỏi như:
- Loại ÚI là ỉliực lừ hay hư lừ ?
- Loại lừ là (rung tâm đoán ngữ hav danh từ sau nó là trung tâm đoản ngữ ?
- Chức Iiãiig của loại từ là gì ?
Trang 7- Danh sách cụ thể của loại từ tiếng v i ệ t là bao nhiêu?
Cùng với thời gian, ở mỗi giai đoạn, đi đôi với sự tiến bộ của lý thuyết ngôn ngữ học và Việt ngữ học người ta lại đặt la nhũng cãu hỏi mới và theo
đó các cuộc thảo luận lại có một một nét mới
Tuy nhiên cho đến nay chúng ta chưa có những công trình có tính ứng dựng nliằm làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa các tham tố của tổ hợp loại từ + danh từ, đồng thời chỉ lõ cách thức sử dụng dù tiên thực tế các kết hợp của kiểu loại tổ chức này được sử dụng cực kỳ sinh động
Từ một xuất pliát điểm nhơ vậy luân văn tốt nghiệp của chúng tôi trước đây và luận văn cao học này là một cố gắng nhằm góp phần cải thiện tình hình đó Một lừ điển xuôi- ngược, đặc biệt là một từ điển ngược cho loại từ
là hết sức càn thiết cho người nước ngoài học tiếng Việt như một ngoại ngũ'.Vừa thảo luận Ihêm về lý luận, vừa làm một công việc ứng dụng thử nghiệm cho loại từ chúng tôi hy vọng luận văn này phán nào sẽ đáp ứng được lính thời sự trong nghiên cứu cùa Mgữ pháp tiêng Việt nói liêng và Việt ngữ học nói chung hiện nay
Luận văn này có 2 pliần: nghiên cứu lý luận và xác lập từ điển
Việc nghiên cứu phần lý thuyết nlnr các công trình khác, chúng tôi đi theo hướng qui nạp Cụ (hể là chúng tôi dã tiến hành sưu tầm và thảo luận
hệ thống quan niệm về loại từ do các nhà nghiên cứu cuối thế kỷ trước đến nay như: Trương VTnh Ký (1883); Hồ Ngọc c ẩ n (1933); Nguyễn Hiệt Chi,
Lê Tlnrớc (1936); Trần Trọng Kim, Bui Kỷ (1940), Lê Văn Lý (1948); Emenaeau (1951); Cadiere (1958) Nguyễn Tài c ẩ n (1960,1963,1969, 1975); Nguyễn Kim Thản (1963) nhằm cố gắng xác lập những tiêu chí nhận diện cụ thể để tập hợp và đira ra một danh sách loại từ sẽ ứng dụng (rong từ điển
6
Trang 8Công đoạn thứ hai của chúng tôi lă xđy dựng từ điển Chúng tôi đêluđn thủ những nguyín tắc căn bản của việc lăm từ điển Trình tự câc côngviệc được lăm như sau:
n/ C ông tâc iư liệu:
- Xâc lập danh sâch loại từ qua câc văn bản
- Xâc lập danh sâch danli từ từ một từ điển tiếng Việt
Số phiếu lấy cho loại từ lă lio ìi dơn vị
Số phiếu lấy cho danh từ lă khoảng 5000 don vị (dựa theo từ điển Hoăng Phí chủ biín -1992)
bl X ử ỉ ý trín mây tính:
- Vẳ câc dữ liệu trín mây lính PC chương trình Microsoft - Word 6.0.
- Xử lý câc mục từ vă kiểin định trín mây tính
- Sắp xíp câc mục từ theo danh từ tlieo đó lă câc loại từ được lựa chọn ( theo thứ lự A,B,C )
Trang 9a/ Đặt vấn đề nghiên cứu về mặt thực tiễn ( ứng dụng) với một bộ phận
lù loại mà các nghiên cứu trước đó chủ yêu mới dừng lại ử mật lý luân.b/ Làm thử nghiệm một từ điển ngữ pháp loại từ- danh từ có tính thực hành nhằm đưa vào phục vụ việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ.c/ Qua llụrc tế xây dựng từ điển loại lù - danh từ cố gắng làm sâu sắc (liêm về khía cạnh nghiên cứu lý luận nói chung cho loại lừ và danh từ tiếng Việt
8
Trang 10L u ậ n văn có cư c âu tổ c hức nhu sau:
Mở đầu
Phần chính văn
ChưoiìỊị 1: Tổ hợp loại từ + danh từ nhìn từ phía loại từ.
Chương 2: Tổ hợp loại từ + danli từ nhìn từ phía danh từ.
Cliu'om> 3: Một vài nhân thức về công tác xfly dựng từ điển liên quan
Trang 11Tuy nliiên để thực hiện được và thực hiện tốt mục đích này chúng ta phải xuất phát lừ cơ sở có định hướng tốt về mặt lý luân.
Vì vậy việc nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về mặt đặc điếm ngữ pháp, ngữ ngliĩa, về mối liên hệ của từng yếu tố trong tổ hợp này là việc làm hết sức quan trọng và cẩn tliiêt
Mặt khác, khi đặt vấn đề nghiên cứu loại từ trên cơ sở một từ điển có tính thực hành (LT-DT) Luận văn này cũng mong muôn có một hướng đi mới để từ đó việc đánh giá bộ phận tù loại còn nliiều pluíc tạp này được chính xác và đẩy đủ hơn ( nhất là trong lình Iiìnli hiện nay khi còn có nhiều
ý kiên lliảo luận )
Luận văn của chúng tôi dặt vấn để mối quan liệ loại lừ- danh từ cần dược nhìn cá từ hai phía Do vậy chúng tôi xin dành chương này cho việc xem xét tổ hợp loại từ - danh từ lừ yếu tố tlúí nhất (long tổ hợp, đó là loại
2 Loại lù và các c u ộ c íháơ luận:
2.1 Thuật n g ữ loại từ và đ ặ t loại từ (rong m ối quan liệ vói danh í ừ ị tò hợp "LT+DT").
10
Trang 12Mỗi ngôn ngữ đều có một vốn từ vựng l iêng, tlnrờng là rất lớn và có thể được phản loại theo nhiều hướng.
Từ loại là kết quả của việc phân chia vốn tìr thành từ theo bản chất ngữ pháp của chúng trên cơ sở một hệ nguyên lắc:
a/ Phản ánh được tính qui luật của đối tượng
b/ Kết quả có tính khách quan
c/ Khả năng áp dụng có tínli ỉ l iệt để
Tuy nhiên chúng ta lliấy muốn phan chia dược từ loại tiếng Việt Ihì pliải xuất pliál từ thực tế tiếng Việt Do vậy không phải bất kỳ qui tắc phan loại chung nào cũng có thể đưa vào áp dụng
Tiêng Việt không giống nhu' những ngôn ngữ A11 -Au Đây là một ngôn ngữ đơn lập, phân tiết, không biên hình nên không thể căn cứ vào hình (hức biên hình từ để phân loại Hơn nữa, tiêng Việt lại có những vấn đề phức tạp riêng của nó cho nên việc phan định từ loại cho đến nay thườngdựa vào 3 cơ sở:
a/ Ý nghĩa ngữ pliáp khái quát của từ
b/ Khá năng kết hợp của từ
c/ Chức vụ cú pháp của (ừ tiong câu
Tuy vậy, việc vận dụng 3 tiêu chí này đến từng tập hợp cụ thể là một việc làm khống đơn gián và không phải lúc nào cũng rành mạch đối với mọi trường hợp
Ví dụ: trong tiếng Việt, liêu áp dụng các tiêu chí tiên để phân loại vốn
từ ta sẽ có 2 tập hợp lớn là thực từ và hư từ Trong thực từ ta lại có: clanli từ, dộng lừ, tính lừ Trong lur lừ la có: liên lừ, giới lừ, quán từ Đây là
»những bộ phận tìr loại được phân chia (ương đổi dễ dàng, không gây nhiều " sóng gió" nhưng bên cạnh đó có một số tập hợp từ mà klìi đánh giá bán chất
Trang 13và xếp loại lại gặp không ít khó khăn, lạo nên những cuộc tháo luân không ngừng Một (long số những tạp hợp từ như vậy chính là đối tưựng của luận văn này - " loại từ".
VẠy loại lừ là gì 7 quan liệ hưởng ngoại của nó nlnr ỉliế nào? mà gíìy ra nhiều ý kiên khác nhau thậm chí ngày càng có nhiều quan điểm đánh giá đôi lộp Iiliau ĩilur vậy?
Cỏ lẽ để hiểu lõ vấn đề này liơn cluíng la nên tĩêp cộn với một bộ phận
lừ loại khác ( cũng sẽ là một nội dung của luân văn ) Đó là danh từ, và cụ lliể hơn là đoan ngữ có ciaitli lù' làm trung lâm
Nlnr chúng ta biêt trong tliực tù tiêng Việt có một lập hợp từ lất lớn và lất quan trọng Đó là danh lừ ((heo ỉliống kê sơ bộ của chúng tôi có túi gán14.000 danli lừ các loại liên 38000 mục lù 11ong Từ điển tiếng Việl- Hoàng l’liê chù biên -1992) Bộ phận lù loại này không chí lớn về mặt sô lượng
mà CÒI1 khá phức tạp trong mối quan hệ với các từ loại kliác Nêu nói về khá năng kết hợp của danh từ (hì quan liọng Iiliât là danli (ừ có khả năng tập hợp quanh 11Ó nlũrng lừ tluiộc loại khác để tạo tliàiìli đoán ngữ danli (ìr mà nó làm trung (âm (gọi tắt là danh ngữ).*
Trong cấu trúc danh ngữ, ngưừi ta đã quan tâm tứi một bộ phận từ vựng dặc biệt bao gồm các từ luôn luôn đúng (rước một số danh lừ nhằm để miêu tá, pliAn loại clối tượng và chỉ xuất sự vậl (nói cách khác là có chức năng "chỉ" "chỏ” ) Bộ phận lừ loại này là loại từ
Cho tiên nay trong Việt ngữ học dã cỏ nhiều (luiậỉ ngữ kliác nhau được dùng dể chỉ nhóm từ loại này, ví dụ như: Trương v in h Ký lliì gọi là từ gọi chung (ngữ pháp tiếng An nam -1883); Lê Văn Lý gọi là lừ làm chứng (Le parler Vielnamien - 1948); Phan Khôi gọi là tiến danh lừ Việt ngữ nghiên cứu" Nguyễn Kim Thản thì gọi là phó danh từ (nghiên cứu về ngữ pháp
* IlitiẠl 111*1? (lo c;íc 11I1Í1 I lán ngTr học kliỡi xirớntỉ vh (lirợc Nctiyõn I M ( 'Àn (lĨNii! IÀ1I (líiu liOn lionu liOng ViỌl í 19í»0).
Trang 14tiếng Việt -1963, T l ) còn Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Tài c ẩ n , Đinh Văn Đức thì gọi là loại từ Có thể nói qua sô lượng các thuật ngữ cũng cỏ thể tliấy được tính phức tạp của vân đề Trong các nghiên cứu của mình chúng lôi sẽ dùng thuật ngữ loại từ để chỉ bộ phạn từ vựng này.
Nêu lấy sơ đồ danh ngữ của Nguyễn Tài c ắ n (1960) tliì loại lừ có vị trí như sau trong cấu trúc danh ngữ:
■r
Chúng lòi sẽ tháo luận dựa theo sơ đổ này
2.2 Các kltía cạnh nghiên cíni:
Có thể nói cho đến nay hiếm có một tập hợp từ nào tiong tiêng Việt lại lạo ra được sự quan tâm lâu dài cũng nlur CÒ11 gây nhiều tranh cãi như loại (ừ tiếng Việt Với khoảng thời gian liưii kém một trăm năm (kể từ khi được nhắc đêu lán dầu tiên trong cuốn "ngữ pháp tiẽng An nam" của Trương Vĩnh Ký) loại từ đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu Việt nam cũng nhơ nước ngoài với nliííng mục đích, quan niệm và mức độ khác nhau Đặc biệt trong
6 năm (lở lại đây, nghiên cứu vân để loại từ này gàn Iilur là sự "bùng nổ" trở
lạ i v ớ i I11ỘI lo ạ i c á c c ô n g t r ìn h lli e o I iliiề u q u i m ô v à I i l i i ề ư g ó c đ ộ
Chúng lòi xin nêu ra đây danh sách IÌ1ỘỊ sô tác giá dã từng dề cập đến vấn đề loại từ Đfty cũng là hệ thông các ý kiến mà luận văn này phái đề cập đến lìliíim cố gắng tìm một hướng di cho phù hợp với đề lài (từ điển kêl hợp loại từ + danl) từ ) Danh sách này lõ làng là chưa đầy đủ nhưng theo chúng lôi có lliể tiêu biểu cho các quan niệm khác nhau về loại từ 11ong việc nghiên cứu này
1 Trương VTii.il Ký -Nngữ pháp tiếi g An nam -1883
Trang 152 Trần Trọng Kim - Việl nam văn pliạm -1940.
3 Lê Văn Lý - Le Parlei Vietnamicn -1948
4 Emeiieau- Studies in Vielnainese - 1951
5 Bùi Đức Tịnh- Việt nam văn phạm -1952
6 Phan Khôi- Việt ngữ nghiên cứu -1955
7 Nguyễn Đình Hòa - Classirier in Vietnamese-1957
8 Nguyẻn Kim Thán - nghiên cứu về ngũ pháp tiêng V iệt.(T I) -1963
9 Nguyền Tài c ẩ n - tìr loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại -1975
10 Đinh Văn Đức- Ngữ pháp tiếng v i ệ t ( từ loại) -1986
1 I Cao Xu An Hạo - về Cấu trúc danh ngữ trong tiêng Việt -1992
12 Trần Đại Nghĩa - sự tổ hợp loại từ với danh (ừ trong tiêng Việt hiện dại -1996
13 Hoàng Tất Thắng - Hoạt dộng của loại (ừ liếng Việt trong các phong cách ngôn ngữ -1996
14 Nguyễn Phú Phong - Les classiíicateurs et les decitiques, 1996.Với một thời gian tương đối dài cùng với nhiều biến đổi trong lịch sử nghiên cứu liếng Việt, loại từ dã dần dán (lược quan tâm đáy đủ và được khảo sát sâu sắc hơn và phát triển Ngoại trừ những nliiỊi) xét mang tính chất tlụrc hành của các khách dạy tiếng v i ệ t liêu la, có lẽ Trán Trụng Kim là ngirời đầu tiên đã có nhạn xét sAu sắc hơn về.mặt lý luận cho nhóm loại từ Nhờ tìm cách llioát ra khỏi những cuốn sách ngữ pháp nhà trường đương (hời (1940) Trán Trọng Kim đã nói đến ý nghĩa loại từ, cácli dùng loại từ
M Enienenu là người đầu liên dã phân tích đoàn ngữ danh từ để xác lộp được các đối lập trong nội bộ danh (ừ Với ông việc chia danh từ thành
14
Trang 16danli tờ đơn loại và danh từ không đơn loại là một dóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu từ loại này.
Nếu như Lê Văn Lý (1948) đã đặt loại từ vào nhổm những từ kiểm chứng cho danh từ thì Emeneau đã nhìn chúng trong toàn cục của danh ngữ
Lê Văn Lý vì chú tâm đến danli từ cho nên trong khi lập danh sách các từ kiểm chứng đã lẫn lộn giữa loại lừ với từ chỉ chúng loại (cá trong cá thu; lioa trong hoa sen) Sau này chỉ có nhờ vào mô hình danh ngữ mới khắc phục được sự nhầm lẫn này
Có thể khẳng địnli lằng cho đến nay người ngliiên cứu kỹ nhất và sâu sắc nhất về clanli ngữ, trong đó có loại từ là Nguyễn Tài c ẩ n Nguyễn Tài Cẩn trong các công trình của mình (1960,1963,1969,1975) đã tiến hành khảo sát lất lỷ mỷ và chi tiết loại từ và chức năng ngữ pháp của nó Những
n h ậ n đ ị n h q u a n t r ọ n g n h ấ t c ủ a ô n g là :
a/ Loại lừ là một nhóm lừ "Không có ý nghìn lừ vựng rõ ràng, và clmyên dùng để đếm thành từng cá thể, tliànli từng đon vị tự nhiên của sự vật cũng như phục vụ việc phan chia sự vật vào các loại"
b/ Nói clumg loại từ nào cũng có hai khả năng về mặt ngữ pháp thứ nhất là nó dược dùng trước clanli lừ với tư cách là một công cụ ngữ pháp dùng để diễn đạt phạm trù cá tliể và dùng để chỉ loại cho danh từ Thứ hai là loại từ có kliá năng xuất hiện ử ngay vị trí trung lâm của danh ngữ, gần như một đai từ để thay cho danh từ"
c/ Loại (ừ có loại chuyên dụng và loại lâm thời Trong những chuyên luận đoạn sau (1969,1975) Nguyễn Tài c ẩ n có khuynh lurớng ngữ pháp hóa triệt để loại lừ, chứng minh nó về mặt ngữ pháp mới là trung tâm của danh ngữ Trong "Ngữ pháp tiếng Việt" (1975) ông tạm lliời tìm một giải pliáp
11ung dung bằng cách mô tả trung (Am danh ngữ là một hợp thể gồm có 2 v ị trí (T1+T2) gồm loại từ và danh tìr
Trang 17Có thể coi quan Iiiệrri của Nguyền Tài c ẩ n về loại lừ là quan niệm nghiêm ngặt nhất về mặt ngữ pháp, cả về tính chất ngữ pháp của loại từ lẫn
vị trí phân bố của loại từ trong danh ngữ Vị trí loại từ trong mô hình danh ngữ cỉia Nguyễn Tài c ẩ n là sự thể hiện triệt để Iihũng quan niệm phân bố luân (miêu tá luận) khi ông ứng dụng I 1 Ó vào tiế n g Việt Nguyễn Tài c ẩ n chứng minh rằng về mặt ngữ pháp loại từ có thể được coi là trung tâm của (lanh ngữ đã mở ra một hướng mới trong việc nghiên cứu nliữiig quan hệ hình thức của ngữ pháp tiếng Việl Sau này Cao XuAn Hạo (1992), Trần Đại Nghĩa (1996) cũng có bàn đến vân dề này nhưng nhìn từ khía cạnh khác Chúng (ôi trong luận văn này lất quan tâm đến những nguyên tắc ngữ pháp căn bản mà Nguyễn Tài c ẩ n nêu ra cho loại từ Theo những nguyên tắc đó việc nhận diện loại từ thật là nghiêm ngặt Một lừ đứng trước danh từ, muốn thuộc về loại từ ít nhất pliải thỏa mãn những điều kiện sau:
1/ Ý nghĩa từ vựng không nhất thiết phải rõ ràng
2/ Tính toán đơn vị một cách "tự nhiên"
3/ Có lác dụng phan loại danh từ sau I1Ó
4/ Tham gia vào việc diên đạt các đối lập ngữ pháp của phạm trù cá
í h ể
Mỏi một yếu tố có lọt qua được bộ lọc này thì mới được coi là loại từ Bởi vậy danh sách loại lừ mà Nguyễn Tài c ẩ n đề nghị không dài, clúmg có khoảng trên dưới 50 từ (1960) và lìgặt nghèo hơn thì có khoảng hơn 30 từ (1963) Trên nguyên lắc xét về mặt ngữ pliáp hệ thống hình thức của Nguyễn Tài c ẩ n cực kỳ chặt chẽ và nếu nlnr đê tiên hành các giải pháp có tính chât lý thuyết thì luận chứng này là một chỗ dựa dáng tin cậy Tuy nhiên nếu như xét từ góc độ thực hành thì một danh từ như Nguyễn Tài c ẩ n
đề ngliị mới chỉ là cái tâm Một người học ỉiêng v i ệ t như một ngoại n g ữ nếu chi châ|) nhộn danli sácli này thì ở phần biên còn lất nhiều hiện lượng
16
Trang 18phải dược tínli tới thì việc sử dụng liếng Việt trong thực hành mới có kết quả
Cái biên này nằm ở đâu? Đó chính là ở chỗ (rong khi cùng chỉ đơn vị cho danh tìr đứng sau đâu là ranh giói của cái gọi là "đơn vị tự nhiên" và đâu là "đơn vị qui ước không chính xác"
Cao Xuflii Hạo trong bài viết "Về cấu trúc danlì ngữ trong tiếng Việt" (1992) đã tìm cách tri nhận danh ngữ từ một cách khác Cũng từ đó vấn đề loại từ cũng được xem xét dưới một ánh sáng mới Có lẽ cuộc thảo luận về loại trở nên (hú vị từ một quan niệm mới này
Xuất phát điểm của Cao Xuãn Hạo là ở chỗ, cho rằng khi miêu tả danh ngữ lý luận về phân bố luận đã đạt được một cách khả quan đặc biệt trên phương diện hình thức Qua ví dụ: "Lấy cái áo kia cho chị" thì tiêu chuẩn phân bố "độc lập/ không độc lạp " không phải là tiêu chuẩn tuyệt đối để xác lập danh ngữ Hơn thế Cao Xuân Hạo còn cho rằng nếu coi những yếu tố như " áo" là trung tâm danh ngũ kiểu "cái áo" thì đó không phải là sự vận dụng thao tác phân bố luận Thường người ta cho rằng "áo" quan trọng hơn
"cái" về giá trị (hông báo và nlnr vậy là đã đưa một yếu tố không thuộc về cấu trúc cú pháp vào một tiêu chuẩn để phân tích cú pháp và như vậy đã có
sự không hệ thống về tiêu chuẩn
Ngoài ra còn phải kể đến cái ấn tượng không có cơ sử cú pháp trên lại *
dược tăng cường thêm khi dịch những danh ngữ của châu Âu trong đó yếu
tố "cái" tương ứng với một quán tử (tức là một hư từ phụ thuộc vào một danh từ trung tâm)
Cũng trên cơ sở đó Cao Xuân Hạo cho lằng việc nảy sinh cái gọi là loại từ chính là do không chú ý đên việc ứng dụng nghiêm ngặt những tiêu chuẩn thực sự của ngôn ngữ học trong việc pliân tích câu (rúc danh ngữ
Từ đó Cao Xuân Hạo đi đến ý kiến rằng tiêu chuẩn phân bô không phái là liêu chuẩn đáng tin cậy trong trường hợp này Nó cliỉ có giá trị trong
Trang 19chừng mực 11Ó là hệ quả của chức năng và thái độ cú pháp của yêu tố đang xét.
Trong khi giữ lại những (hànli tựu về miêu tả phân bô luận của danh Iigĩt Cao Xuiìn Hạo cũng đòi xél lại một loạt khái niệm về thuật ngữ và phạm trù
Với Cao XuAn Hạo thì đối lộp quan trọng nliAÌ trong nội bộ danh từ là đối lập giữa danh từ "đơn vị" (counl nouns) và danh từ " khối" Cái thứ nhất chỉ những danh từ mà sử biểu ch ỉ bao gồm nhũng hình thức tồn tại phân lộp (và có thể có một vài thuộc tính hình tluíc khác) Ngoài ra nếu kliông là hình thức phân lập (lù I1Ó còn chứa đựng những thuộc tính về nội dung gần với danh từ khối Theo ông sô này nếu là đưn tiết lliì có khoảng 229 từ thông dụng (ghép thì có thể tăng gấp 3 lán) Các danh lừ đơn vị làm trung lflm cho những danh ngữ có sỏ' chỉ (reíerent) trong phát ngôn Cái thứ hai - danh từ khối- là nhũng danh từ mà sở biểu của nó là một tập hợp những thuộc tính khiên sự vật được biểu thị phân biệt với các sự vật được chỉ bằng những danh lừ khối khác Số dơn vị đơn tiêt thông dụng là 3100 (nếu ghép lăng lên khoíing 2,5 lần) Chức năng của danli từ kliói là làm định ngữ chỉ loại, hay chỉ chất liệu cho danh từ chỉ cliất liệu; hay làm trung tâm cho một danh ngữ không được đánh dấu về sô và về tính xác định
Nlur vậy nếu như Nguyễn Tài c ẩ n , tiên phương diện pliân bố, có lúc
dã coi loại từ là trung tâm danh ngữ thì Cao Xuân Hạo, trong khi xuất phát
lừ phương diện nghĩa học, clã hỗ trợ lh ê m cho lập luận này Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là trong khi kịch liệl phê phán phân bố luận, chính ông lại phải dựa vào lý luân về vị trí (position) dể giái quyêt vấn đề nghĩa Đó là lìiột bằng chứng cho thấy trong khi xem xét ngữ pháp của danh ngữ không chỉ (huắn túy dựa trên hoặc ch ỉ mặt này hoặc chỉ mặt khác
Vào cùng thời điểm vói Cao Xuân Hạo, trong cổng trình "Các Ciìu hói
về Việl ngũ học " (tiêng Pháp- Paris 1995) Nguyễn Phú Phong đã sư kêt các
18
Trang 20quan niệm về loại từ và cfing tiên hành tháo luận về chúng Ông nghiên cứu định lượng và giải thích những đặc điểm liêng cùa loại từ Nguyễn Phú Phong ngoài việc xem xét các loại từ cá tliể- truyền thống đã đề xuất một kiểu loại từ theo các đối lập: tnrờng hợp/ cá tliể (ả, bản, bài, bắp ), đo đạc/
số lượng (bàn, bánh, bao, bầu, bè ), thời gian /không gian (cuộc, chầu, đêm, hôm ), loại từ cho danh từ và loại từ cho động từ (bó, bọc, bốc, bơm, búi ) Nguyễn PIuí Phong cũng trình bày những chỉ tố biểu hiện của chúng Phần đáng lưu ý nhất là các nghiên cứu về một loạt định tố Các giải thuyết khác của ông còn clirực I11Ở rộng tói các mối quan hệ không gian - thời gian nhằm làm sáng rõ cơ chê của danh ngữ
Các cuộc (hảo luận này cho lliấy không gian của I1Ó (hạt là lộng lãi và kết quá cũng lất đa dạng Các danh sách của loại từ có lẽ được xác lập theo các phương pháp chứ không pliái lừ chính bán (hân dối tượng Tình hình đó đặt la cho cluíiig tôi klii bước vào làm từ điển cũng phải căn cứ vào tình hình chung và vào đặc điểm của bản thân tổ hợp loại từ + danh từ mà xem xét
3 T ì m một quan Iiiệni loại lù c ho mộ t từ điển
kết hự|) loại từ+ danh f ừ:
.1.1 M ột vài ỉiliận xét rê các thảo luận xoay quanh loại từ.
Từ những quan điểm có tính chất "tlien chốt" và những vấn để đã được nêu ở phán trên (2.2) chúng ta cỏ mấy nhộn xét:
a/ Loại íừ là một hiện tượng ngôn ngữ có thật, tổn tại trong thực tế liếng Việt, đưực sử dụng lộng rãi nhưng cííng là hiện tượng ngôn ngữ hết sức đặc biệt Từ trước đến nay các nhà nghiên cứu đều công, nhộn sự có mặt của bộ phận từ loại này nhung do (hời gian nghiên cứu lương dối dài ( hơn một trăm năm khi lần clầu tiên được nhắc đến bởi Trương Vĩnh Ký) với
Trang 21nhiều quan điểm khác nhau đã dÃn đến tình trạng bản chất của loại từ chưa dược đánh giá thống nhất.
Có thể nói cho đẽn nay chưa tác giả nào đưa ra được một quan niệm về bản chất loại từ lõ làng và triệt để Sự phan tán không cố ý này đã dẫn đến việc tháo luận kéo dài và có XII hướng ngày càng phức tạp bởi vì việc nghiên cứu đã được mở rộng từ nhiều lurớiig
Trong các cuộc thảo luân nhằm đánh giá về bản chất từ loại của loại từ thì vấn đề thực từ - hir tìr có lẽ nổi lên nlnr một điểm đáng chú ý nhất Tlioạt đầu một sô' Iilià nghiên cứu đã cho loại tìr là hư từ như một điều tất nhiên Thậm chí đổng nhất cả nhóm từ này với cái gọi là mạo từ trong các ngôn ngữ châu Âu Hiện nay loại từ đã được đặt vấn đề hoàn toàn khác dưới ánh sáng cỉia ngữ học hiện đại (diều này có thể thấy khi so sánh các ý kiến đánh giá về loại từ của Trần Trọng Kim- Nguyễn Tài c ẩ n - Can Xuân Hạo) Nói chung hiện lượng phân cực cùa các quan niệm về vấn đề tlurc từ - hư từ đối với loại từ có thể được hiểu là một tiến trình phức tạp với 3 xu hướng:
vụ việc phân chia sự vạt vào các loại "và loại (ừ " dùng làm công cụ* dạng thức hóa daiih từ, giúp danh từ diễn đạt một phạm trù ngữ pháp nào đấy " ( Tìr loại danh từ tiêìig Việt -1975)
20
Trang 22b/ Tiêu chí nhận diện loại từ cũng còn nhiều vấn dề nan giải Thực ra khó khăn này cũng khởi nguồn từ việc bản chất loại lừ còn chưa được đáiĩh giá rõ làng, thống nhất Phẩn lỏn các (ác giả đều đưa ra nhũng tiêu chí nhộn diện liêng dựa trên nhiều góc độ lý luân khác nhau Có tác giá đưa ra những liêu chí nhận diện từ góc độ chức năng cú pháp, có tác giả lại nhìn vấn đề từ
cơ sở khả năng kết hợp Có những tiên chí còn mang nặng tính chú quan,
kinh nghiệm ( Trần Trọng Kim, Lê Văn Lý ) lại có những tiêu ch í được xác lập liên cư sử lý (huyết rất chặt chẽ ( Nguyễn Tài c ẩ n ) hoặc mới mẻ v;ì táo bạo ( Cao Xuân Hạo)
Đây cũng là nguyên nhân tất yếu dẫn đêìi sự khác nhau trong việc xem xét phạm vi của loại từ mà trong đó danli sách loại ỉừ là biểu hiện cụ thể nhất của hiện tượng này Hiện nay có nhiều danh sách loại từ rất khác nhau
Ví dụ nlnr Trần Trọng Kim dưa ra một danh sácli với khoáng 15 yếu
lố, Lê Văn Lý -29 yếu tố, Nguyễn Kim Thản - 45, Nguyễn Tài c ẩ n khoảng
30 yếu lố Cao Xuân Hạo - 3 yêu tô Hoàng Tất Thắng -1 38 yếu tố.Điểm lại Iiliững danh sách loại từ dược xác lập lừ trước đến nay ta thấy
có sự kliác nhau về mặt số lượng cũng như chất lượng của các yếu tố được lựa chọn ( thâm chí có cả sự nliầm lẫn những yêu tố có ý nghTa ngữ pháp rất khác với loại lừ trong danli sách loại từ )
Lại nói về quan niệm cho loại lừ là từ chỉ đơn vị tự nhiên như là một tiêu chí nhộn diện loại từ Điều này làm nảy sinh sự phân vân giữa những cái được gọi là "đơn vị lự nhiên" vđi những yếu tố được gọi là "đơn vị có lính qui Ưức" Một số loại từ như : COI1, cái, bức, chiếc là những yếu tố được coi là dễ nhận diện, kliông gây nhiều bàn cãi nlurng bên cạnh đó những yếu (ố như: miếng, mẩu, đoạn kluíc không phải là kliông tạo ra những băn khoăn khi lựa chọn bởi vì việc các tấc giả hiểu khái niệm "tự nhiên" lộng lãi và ngặt nglièo cũng hết sức khác nhau (điều này cũng thể hiện ở danli sách )
Trang 23c/ v ề cách thức lập danli sách và phân loại danh sách loại từ cũng còn nhiều vấn đề khó khăn vãn tồn lại Thực ra clio đến nay các tác giả mới chỉ
clừng lại ờ mức đưa ra danli sách loại từ của mình mà chưa lý giải được
nliĩrng thao tác cụ tliể nhằm giải tlúch cho việc tại sao lựa chọn được các yếu tố Iilur vậy Hơn nữa việc phan loại danh sách loại từ hiện nay vẫn là một khoáng trống không nhỏ bởi vì clio đến nay những nguyên tắc phân chia loại tír một cách cụ thể, có khá năng áp dụng triệt để ( ít ngoại lệ ) là chưa có
d/ Vì vậy trong khi tham gia vào cuộc tliáo luận này, để tiên tới một từ điển kết hợp loại lìr - danli từ (heo đúng Iigliĩa của 11Ó chúng tôi cũng xin làn lượt trình bày quan niệm của chúng lôi liên quan đến những vấn đề đã được đề cộp ở trên
Tuy nhiên, chỗ dứng cùa chúng tôi là xuất phát từ một công trình mang tính ứng dụng, tiiệt để tôn trọng người bản ngữ, nlnmg đồng thời cũng có cách nliìn vấn đề này (ừ plurơng thức dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Đây cũng là lý do giải tliícli cho việc chuyên I11Ộ11 này (iếp cân đối lượng không thuần túy từ góc độ ngữ pháp hình (hức Cái nhìn của chúng (ôi sẽ tlirực tliani chiếu từ các phương diệu sau:
- Những tiêu chuẩn về mặt ngữ pháp để nghiên cứu loại lừ trong mối quan hệ qui chiêu của các vị (l í trong danh ngữ
- Mỏi quan hệ ngữ ngliTa giữa loại lừ với danli tù (cụ 1 hể là với các tiểu loại trong danh lừ)
- Cách tliức tư duy cùa ngưừi bản ngữ (rong klii SỪ dụng tổ hợp loại từ
- danh lừ
- TÌI11 liiểu vai trò của loại lừ với ý nghĩa là một tham lô tạo nghĩa liong việc dua cấu trúc danh ngữ vào sử dụng
11
Trang 24Đặt la những phương diện nghiên cứu cụ thể như vậy chúng tôi mong muôn đưa ra được những tìm lòi mới nliằm làm sáng ló và cái thiện cho các nghiên cứu vé bộ |)hân từ loại còn nhiều phức lạp này.
3.2 Các quai) điểm cơ bản của luận văn clio một từ diên
thực hành rê loại l ừ
a/ Cao XuAn Hạo clio lằng khái niệm và thuật ngữ loại từ (classificateur) sinh ra từ một sự ngộ nhận của những người nói tiếng Au chau và quen với ngữ pháp Âu chau khi phan tích các cấu trúc ngữ pháp (Cao Xuân Hạo - đã dẫn- trang 23)
Luận văn này lại nhằm vào chính chỗ đó Luận văn nhằm giúp đỡ những người có cái nhìn "Au vi trung" dễ dàng hơn trong khi học tiếng Việt
và phân tích ngữ pháp tiếng Việt
Nlũmg người Âu châu, trong khi xuất phát từ liêng mẹ đẻ của họ,kliông phái là ngộ nhân mà (liật sự khó khăn khi gặp phải tổ hợp loại từ +danh từ 0 trình độ thấp liọ ngạc nliiên với các tổ hợp:
ơ bậc cao liơn, liọ không lý giải đưực trường liựp nào không dùng tlơợc loại lừ, trường liợp nào vắng loại tù Một tác giá người châu Âu đã dẫn việc dùng loại lừ "chiếc" với danli từ " cấu" trong ví dụ sau đây:
"Lại nói chuyện, người bên Hà Đóng nghe bên Hà Tây có chiêc cầu cao lắm, bèn 111 nhau di xem cần ( huyện cười Việ( nam )
Hoàng Trọng Phiên cũng dẫn ví dụ:
Trang 25" Con cá rỏ ơi chớ có buồn Ngày ngày Bác vãn nhớ lô luôn "
( Tố Hữu - theo chân Bác )Những trường hợp như vậy kliông thể không nói lằng loại từ là một (hực thể tồn tại trong sử dụng và thực hành tiếng Việt và phải có giải pháp clio chúng
Tiên phương diện (hục hànli ta khoan đặt vấn đề cái gì là trung tâm cùa clanli ngữ Xuất phát điểm cùa chúng (ôi là phái có danh từ mới có loại lừ
Dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ thì phải dạy danh từ rồi mới tính đến loại lừ Như vậy, trên bìnli diện thực hành loại từ chỉ là một (ham tố tất yếu cíia danh từ trong cấu cl úc danh Iigữ
Bằng cách kiểm nghiệm trong khi dạy liếng Việt thì (uyệt đại bộ phận các trường liợp chúng tôi thay người học quan tâm đến danh từ và đòi chỉ rõ (lanh từ này hay danh từ kia có Ihê kêt hợp với những loại từ nào chứ không phái ngược lại Nlur vậy về phương diện nào đó thì danh lừ cũng phân loại loại từ chứ không thuần lũy là loại từ phân loại danh từ Người học tiếng Việt không bao giờ quan lâm đến ngữ nghĩa của bât ký loại (ừ nào trong bối cánh cluíng tách khỏi danh từ Nói điều đỏ để cluíiig ta dặt đúng vị trí của loại từ trong tổ hợp với danh từ trên plurơng diện thực hành tiêng
b/ Trong việc sử dụng tổ hợp loại tìr + danh từ khá nhiều trường hợp xuất hiện dạng tỉnh lược mà nliiều ngươi đã cho lằng loại từ là trung tftm của danh ngữ Xuất phát đ iể m đó hoàn toàn mang tính ngữ pháp v ề quan điểm trung tâm Nhưng tiong (hực hành tiêng thì việc sử dụng loại từ lliay cho các clanli từ ở trung tâm đôi với người nước ngoài lại liên quan đến một khái niệm lừ loại khác là đại từ bởi lẽ vói người chân Âu tất cả những yếu tố
24
Trang 26nào thực hiện chức năng thay thê' đều được sắp xếp vào đại từ Do đó ' cái"
sẽ là đại từ cho danh từ chỉ vật ( khá rộng)
Ngôi sẽ là đại từ để khỏi phải nhắc lại
Như vậy (heo lô gic dó thì các từ chỉ dơn vị trong tiêng Việt khả đĩ còn
là một loại đại từ mà người châu Âu không có Không phải ngẫu nhiên người ta hiểu tổ hợp "This one " và " That one" là "cái này" và "cái kia" liong tiếng Việt
c/ Các nhà nghiên cứu Việt ngữ học trong suốt một lliời gian dài, trong khi nhấn mạnli đặc điểm riêng của loại từ thì dường như đã tách rời chúng khỏi hệ hình chung của chúng Đó là liệ hình chỉ đơn vị Cái ý nghĩa cộng đổng 'đơn vị' của danh từ tiếng Việt cũng thật đặc biệt Trong các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Anh, Pháp, Nga nhiều klii quan hệ giữa đơn vị và danh
lừ được diễn đạt bằng mối quan hệ sở hữu
Ví dụ: tiếng Nga
Hai cân bơ (C2) (C2)Trong tiêng Việt, ở cấu trúc danh ngữ quan hệ đơn vị và danh từ được biểu hiện về mặt hình thức là một vị trí ngay trước danh từ Vị trí này là một kết hợp chặt, do đó Ĩ1Ó là cố định Cũng có klii ta gặp lối do lường sau đãy:
Ví dụ: Một bọc to tướng giấy tờ
Một bát chiết yêu IIƯỚC luộc gàthì các yếu tố như "to tưứiig”, "chiết yêu" tuyệt nhiên không phải là một vị trí Chúng chỉ là một thuộc tính, một thành tô bậc dưới của cái trật tự giữa bọc- giây từ và bát - nước luộc gà DÌI chỉ xem xét mối quan hệ giữa loại từ và danh từ trên bình diện Iigĩr nghĩa tluiần líiy (liì cũng không thể bỏ
Trang 27qua được cái vị trí có tính hình thức này Nó đã là một phương thức ngữ pháp chứ không phải là một trật tự " phong cách".
d/ Cái gọi là vị trí " đơn vị" đặt trước danh từ có ý nghĩa gì ?
Chúng tối thiết nghĩ đương nhiên chức năng do lường phải là căn bản,
là trước hết Cho nên trong danh từ phải có một bộ phận rất quan trọng các
từ chỉ sự vạt có khả năng đo lường, tính toán Đó là các danh từ chỉ chất liệu:
Một đoạn đườngMột kluìc củiMột miếng bánhĐối với Iigưừi bản ngữ nói tiêng v i ệ t thì cả hai loại tlưn vị này đều như nhau, Uiyệt clối về ý nghĩa do lường cũng như cách dùng Nhưng đối với người nước ngoài học liếng Việt thì loại dưn vị thứ hai klió hội nhập với loại đơn vị thứ nhất, chúng có thiên lurớng gần với nhóm loại từ trong khi sử dựng Hãy so sánh:
Trong tiềm (hức của người liọc ngoại ngữ trong những trường hợp này *
sự phân hiệt giữa khía cạnli "đơn vị tự nhiên" và "đơn vị qui ước" hoàn toàn không lõ Vì vậy loại từ với các nhà ngữ pháp là cô gắng khoanh vùng để
26
Trang 28làm lõ còn 11Ó là một tập hợp mờ đối với người sử dụng, từ góc độ bản ngữ
và tír góc độ ngoại ngữ Đây là vấn đế rất quan trọng mà cluing tôi sẽ trở lại
ở phần sau.
e/ Cluíng ta trở lại cái hệ hình của đơn vị
Như đã trình bày sự hiện diện của các danh từ chịu sự do lường là một phần căn bán để tạo ra một thứ áp lực đối với bộ phận còn lại Trong toàn
bộ danh từ thì có một bộ phận cực IỚI1 các từ để chỉ các sự vật tồn tại dưới dạng những cá thể xung quanh ta v ề nguyên tắc do chỗ chúng là những cá lliể cho nên không ai đo lường, tính (oán chúng nữa Người ta đếm chúng, tính toán cluíng theo định lượng Trong các ngôn ngữ châu Âu đối với các danh từ của phạm trù các sự vật cá thể thì chỉ có đối lập số ít - số nhiều, xác định - bất định (với việc dùng các quán từ) Hệ đo lường của người Âu châu một khi đã diễn đạt bằng quan hệ sở hữu thì không còn là (huộc tính của danh từ nữa và người ta không thể đặt ra một hình thức ngữ pháp nào khác phụ trợ cho hliững danh từ chỉ cá thể
Trong tiếng Việt do plurơng thức trật tự từ là một phương thức ngữ pháp căn bản cho nên vị trí trước danh từ, như đã nói là một qui tắc ngữ pháp vì vậy cái gọi là ý nghĩa đơn vị tại vị trí này đã tạo ra một áp lực kết cấu cực kỳ mạnh mẽ Nó trong một hệ liìnli liên tưởng có cường độ lớn đã khiến người bản ngữ ( người nói tiếng Việt với tư cách là tiêng mẹ đẻ) đã tự dộng "đơn vị hóa" tất cả những sự vệt tồn tại dưới dạng cá thể v iệ c "đơn vị hóa" này trong tư duy hoàn toàn là một qui tắc liìnli thúc và cái gọi là "dơn
vị tự nhiên" lliực chất là một hình thức ngữ pháp thuần túy trong mối quan
hệ với danh (ừ Nó là một vị trí plìi ngữ nghĩa lừ vựng mà ngữ pháp phải lấp đíìy Trong sự lựa chọn lự do, người bán ngữ đã dùng một hệ yếu tố đa nguồn gốc dể thực hiện chức năng tại vị trí này
Sự kliác nhau căn bản giữa I11ỘI bên là những hình thức từ vựng nhằm
do lường và một hên là những liình thức ngữ pháp chỉ nliằm tạo ra sự đối
Trang 29xứng trong một trục kết hợp tại cùng một vị trí Đó là nguồn gốc của sự xuất hiện cái gọi là loại từ trong một ngôn ngữ đơn lập, có thanh điệu.Hãy so sánh hai ví dụ:
Một can thịt Một cuốn sáchTrong tư duy Iig ir ờ i bản ngữ trước hết có một trục đơn vị trong đó "cân thịt" là sự đo lường tất yếu, llieo nguyên lắc "cân, đong" còn "một cuốn sách" thì sự xu ỐI hiện của "cuốn " cũng là một sự "đong, đếm" nhung chỉ có diều đó là một dong đếm ngữ pháp hoàn loàn mang lính chất hình thức Nhưng cái hình thức dó lại tập hợp được vô số yếu lố trên mộ) trục liên tưởng và bất kỳ một yếu tô nào lọt vào trục này thì đều có giá trị về mặt ngữ Iigliĩa đẳng trị với các yếu tố vốn đã được tập hợp trong đó
Nhu' vậy nhận thức của clnìng tôi về loại từ có khác với một số người
di trước ở chỗ clnìng tôi chưa quan lâm ngay đến nét nghía phân loại cũng Iilnr chưn đặt ngay vấn đề là công cụ để diễn đạt dạng thức ngữ pháp của danh từ mà cluíng tôi coi ý Iigliĩa của loại tù như là một loại ý nglila hình lliức của đơn vị mà người hả 11 ngữ tri giác được nhờ áp lực chung của cả một liệ liên tưởng Cái hình thức dơn vị này kliông xuất hiện (rước những danh từ có khả năng đo lường thực sự ( như danh (ừ chỉ chất liệu)
Do mối liên lưởng về tư duy, người nước ngoài học tiêng Việt tri nhận một qui lắc ngữ pháp như sau:
* Trước hết có một qui tắc gổm có từ chỉ đơn vị 4- danh lừ (có nội dung
do lường được - 111 à ngôn ngữ nào cũng có) Qui lắc này liọ nắm lất nhanh
cho dù vị tất bán ngữ liêng Iiirớc họ từ chỉ dơn vị đã đúng trước danh từ như
một yêu tô trực tlniộc
* Khi gcặp qui tắc loại từ + danh từ họ có thể ngỡ ngàng hoặc băn khoăn nhưng clưực tập luyện thì họ sẽ nhanh clióng nhân ra rằng trong ngôn ngữ này, tiếng v iệ t có một loại "đơn vị giả" trước danh lừ nhằm xác nhận
28
Trang 30danh từ đó Nói chung người nước ngoài không quan tâm đến khả năng phãn loại danh từ sau loại từ Họ quan tâm đến những kết hợp cơ giới nhiều hơn Đôi với họ cái khó nhất là klii nào dùng tổ hợp này và khi nào không dùng tổ hợp Iiày.
Do chỗ loại từ là một vị trí hình thức, một nél nghĩa có tính liên tưởng liên khác với loại đơn vị đo lường ở cách sử dụng: "một cAn thịt" chắc chắn khác "một lạng thịt" còn "một cuốn sách" và "một quyển sách" về nguyên lắc chúng giống nhau Do chỗ đó việc sử dụng loại từ sẽ xuất hiện thêm một nét nghĩa mang tính phong cách mà người ta vẫn nói rằng loại từ mô tả danh từ liãy so sánh:
vị khác đối với danli lừ
Sắp hết ngày đông ẩm khỏi sươngBướm ong bay rảo khắp ngồi vườn( Hà Nguyện Dũng - TPCN- 1997- số 8)Trong câu (liơ trên " ngôi" dược di cliuyển từ "nhà” sang "vườn" tliay
vì phải dùng "mảnh" " thửa"
Lâu nay người ta có clní ý tới sự kiện ngôn ngữ này, nhưng chưa ai giải thích Đôi với ngirừi học tiêng Việt Iilnr một ngoại ngữ thì những ví dụ , Iilur loại ví dụ này chỉ có thể giải thích là một phong cácli 1 rong văn học chứ không phải tìiột quy tắc trong học tiếng
Trang 31Từ điển của chúng tôi là một từ điển ngữ pháp ứng dụng do vậy việc lựa chọn các tổ hợp loại từ 4- danli tír chỉ có thể thực hiện tiên nhũng ngữ liệu nào dược coi là qui (ắc Một danh từ như từ "nhà", từ "sách" từ "bút" phải sử dụng những loại từ nào trong nhũng qui (ắc giao liếp thông thường
Do đó vị trí loại từ trước danh lừ trong tìr điển của chúng lôi là một vị trí đẳng trị đối với việc lựa cliọn của clanli từ trước một vài loại từ xét về mặt ngữ pháp (qui (ắc) Việc pliAn biộl nét ngliĩa phong cácli giữa các loại từ phái được gióng tlcỊy ở bộc cao của việc học tiếng
g/ Nhìn từ loại từ thì tổ hợp loại từ - danli từ còn có nét nghĩa thứ hai
mà nhórn từ này được mang tên Đó là nét nghĩa có tính phân loại Người ta đặt lên cho nhóm này là loại từ và đòi (hay dổi tên của nó có lẽ cũng là do nét nghĩa này Ngưừi gọi nhóm từ này là phó danh lừ (Nguyễn Kim Thản)
có lẽ là cảm nhãn I1Ó lộ n g hơn, chí trong m ột yếu tố phụ trợ của danh từ
Trần Tiọng Kim, Lê văn Lý, Nguyễn Tài cẩn và những người khác gọi là loại tìr chắc chắn rằng họ cho cái tổ hợp này mang tính phân loại Người ta
có lý khi nói lằng một khi loại từ dứng trước danh từ thì nó có tác dụng vừa
I11Ô lá, vừa phím loại danh từ đó Đi xa liơii có ngưừi cho lằng có khả năng dựa vào việc sử dụng các loại từ mà phân loại nội bộ danh lừ
Nêu lấy nhóm loại lừ trong phạm vi hẹp nhất (30-50 từ) thì chúng ta lliííy mối quan hệ miêu lá và phân loại cùa chúng (mức danh từ nhìn lừ phía loại từ có thế chấp nhận dược <1 ong mức độ nhất định
Các sách ngữ pliáp xưa nay thường clio lằng ciìng một loại để chỉ cái gọi là đơn vị tự nhiên trước danh từ thì những từ đó clược gọi là loại từ thật sự: bức, lá, cuốn, cây, quả Ihì lổ liựp loại lừ - danh lừ (Iong khi sử dụng
íl bị phụ thuộc vào ý chí cliủ quan của người sử dụng ngôn ngữ, có phần mờ nhạt ( tức là cái ngày nay ta gọi là nét nghĩa " ngữ dụng" ) Đó cũng là một
cơ sử đê cho lằng nhóm lừ này có tính phan loại Tính pliân loại này trên
30
Trang 32nguyên tắc là tính phan loại ngữ pháp, sự tương ứng, sự pliAn loại giữa loại
từ và các loài trong thế giới có trùng nhau nhưng chỉ là bộ phân
Ví dụ: Loại từ "quả" có thể đi với các danh từ chỉ sự vật gần như trái cây ( quả bóng, quả lựu đạn, quả đất )
Loại lừ cây đi với các danh từ chỉ sự VỘI có dạng dài và thẳng ( cay cột, cây bút, cây súng, cây đèn )
Loại từ " mũi" gắn với các danh íừ chỉ sự vật ử dạng sác, nhọn (inĩĩi
k im , m ũi dao, m ũi tên )
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác lliì không Iiliất lliiết Iilur vậy: chẳng hạn không lliể kết luận rằng loại từ " ngôi" chỉ những danh (ừ gắn với sản phẩm của ngành xay dựng (ngôi nhà, ngôi đình, ngôi chùa ) một klii
ỉa gặp tổ hợp : ngôi sao, hoặc là (rong tổ hợp của loại l i r " ngọn" với danh từ
1 hì ta I'âì khó lý giải những trường hợp như: một ngọn loi , một ngọn đèn, một ngọn gió
Trong các lliống kê của chúng tôi khái niệm phân loại không nên đặt vấn đề với khái niệm phân loài bới lẽ danh sách những loại từ được gắn với loài không quá 20 từ trong số toàn bộ danh sách hẹp Sớ dĩ chúng gây ấn lượng vì tíìn số xuất hiện nhiều nhưng tần số xuất liiện cao không phải là bằng chứng có tính tluiyêt pliục trong trường hợp này Khái niệm phân loài
là một yêu lố ngữ nghĩa có màu sắc tâm lý ciia ngưừi bán ngữ và có tính liên tướng nhiều hơn là nét nghTa ngữ pháp Trong việc giáng dạy tiêng Việl cho người nirức ngoài clníng ta chỉ có thể sử dụng lổ liựp này trong đó loại
từ là m ộ t y ê u l ố n g ữ p h á p h ì nh Ihức ỈIƯỚC tlanli từ ứ b ạc d ạ y l i ế n g c ấp t hấp
luyệt nhiên kliỏng lliể giải thích cho liọc viên cái nét nghĩa lâm lý kia, càng không thể quy việc sử dụng các lừ như: cây, quả, cuốn, thành những qui tắc miêu tả, nêu kliông người học sẽ đưa ra vô số ví dụ mà ĩigơừi dạy kliông giải thích dược Điều đó cùng là một cliứng minh rằng tính phân loại của loại lừ là phân loại về mặt ngữ pháp mà nội (lung chủ yếu là : trong trục liên
Trang 33lưởng về đơn vị thì có một nhóm yếu tố hình thức có tính phân loại tự nhiên, nghĩa là mõi một loại từ trong nghĩa đúng của I1Ó chỉ có thể kết hợp với một số danh từ nhất định và kliông có khả năng kết hợp với những danh
lừ khác mặc (JÀU cùng một cliủng loại, một phạm trù trong số các sự vậl
Trong trường liợp danh sách loại tìr được mở lộng ở một số tác giả (Cao
Xuân Hạo, Nguyễn Phú Phong, Hoàng Tất Thắng và cả chúng tôi nữa) thì đặc trưng phan loại của loại lừ nó cũng giảm đi và có tliể nói trong ý nghĩa
đó thì loại lừ chỉ còn có tliê dược hiểu Iilnr là từ chúng (mot - temoin- thuật ngữ của Lê Văn Lý) cho từng Ìihóm danh từ cụ thể trong nội bộ từ loại danh
từ nhưng không thành hệ Ihống lắm
h/ Luận văn của chúng (ôi cũng đặt vấn đề mở lộng danh sách của loại
từ nhưng xuất phát điểm của chúng tôi qua những trình bày trên đây có thể
đi đến nhận xét là chúng tôi kliông xét loại từ theo ý nghĩa l iêng của từng từ hay (ừng nhóm từ Chúng tôi xuất phát lằng trong cái lổ hợp loại từ + danh
lừ thì trên bình diện sử dụng cũng như trong mối quan liệ với tư duy thì danh từ phải được, phải nên coi là yếu tố có tác dụng quyết định Loại từ, llieo đó là mội vị trí trước danh từ và đẳng trị với một Iilióm từ khác tại vị trí
đó Cái đối lập lưỡng phân tại vị trí trước danh từ một bên là các từ chỉ đơn
vị và một bên là loại tìr llụrc chất là đối lập ở bậc sau của các yêu tô đẳng trị Xuất phát từ chỗ đó để giúp người học tiếng Việt (lược thuận lợi, chúng tôi lựa chọn tất cả những từ nào có kliá năng lọt vào vị trí này với tư cách là một yếu tố ngữ pháp hình thức đứng trước danh từ tạo ra một tổ hợp có ý nghĩa " dơn vị giả" cho sự vật Một danh sách như vậy chúng tôi tạm thống
kê trong các văn bán điều tra được gồm c ó từ Danh sách này sẽ đượctăng lên nếu phạm vi điểu tra được mở rộng Luận văn và bâng từ vựng mà chúng tôi giới thiệu ở đây là một ví dụ bước đầu ( xin xem phụ lục : a- danh sách loại từ Ihu (hộp được, b- Từ điển kêt họp, phần 2)
32
Trang 34Với nhân thức danli từ là yêu tô có tính quyêt địnli trong tổ hợp này ( loại từ + danh từ) cluìng tôi có một nhận thức hơi khác về sự có mặt của những khía cạnh khác nhau trong ý nghĩa của các nhóm loại từ.
Nếu nlur danh từ tự thân nó chia thành những tiểu loại khác nhau do việc danh lừ phản ánh các khái niệm trong kliách thể và những khái niệm vẫn quen được gọi là " danh hóa" thì với loại từ có khác Ý nghía chung của loại tìr là một loại ý nghĩa có tính chất hình thức, I1Ó phản ánh mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy của người bản ngữ (người Việt) Loại từ không phản ánh thực tại Nó là một hình thức phân loại sự vật phụ thuộc vào khái niệm được phản ánh hằng danh từ mà nó phụ tluiộc sắc thái ý nghĩa của mõi loại lừ lioàn toàn kliông được nhận diện bởi người dùng tiêng Việl như một ngoại ngữ Với họ, loai tù chỉ là Iiliững chỉ tố (indicator) của một sô khá lớn danh từ mà người hán ngữ vẫn dùng, còn họ phải theo Nét khác biệt giữa các nhóm loại lừ và thậm chí giữa lừng loại từ với nhau còn khó hơn lất nhiêu, chẳng hạn người Việt liọc ngoại ngữ phải phân biệt cách dùng quán lừ (long đối lập b ít định - xác định ( các ngôn ngữ châu Au)
Từ điển của cluìng tôi tliể liiện rằng mỗi danh từ nào đó của tiếng Việt (hì thường đi với những nhóm loại từ r à o hoặc mỗi loại từ nào trong tiếng Việt là thể hiện sự tri nhân đó Người Việt (long khi sử dụng cái ý nghĩa
"dơn vị tự nhiên" trước danh lừ do cliỗ cái " tự nhiên" đây là một khái niệm ngũ pháp trừu tượng nên ctã căn cứ vào đặc điểm của danh từ đứng sau đó
mà trao cho loại từ những nhóm Iiậliĩa cụ Ihể (người, dộng, thực vật , đồ đạc ) CI1Í11I1 vì vậy mà các nhóm loại từ đứng trước danli từ có thêm những sắc thái MgliTa mang tính chất ch ủ quan ( "ngôi nhà" khác "tòa nhà", "chiếc Ihuyền" khác "con thuyền ", "cái roi" khác "ngọn roi"), ngliTa là tất cá các nét nglíìa ngữ pháp của loại từ đều sinh 11 từ sự tồn íại của chính danh lừ.i/ Trong klii dạy tiếng Việt clio người nước ngoài ỉổ liỢ|) loại từ + danli
lừ còn được coi là một qui lắc ngữ pháp để diễn đạt số íỉ
Trang 35sách ( ngoài số ) cuốn sách ( số ít)Những cuốn sách ( sỏ nhiều)Nhìn vào đối lập trên clíìy Iigưừi Âu cliâu học tiếng Việt (hoạt đầu lất khó hiểu là tại sao danh từ ở ngôn ngữ này lại có một dạng thức 1'đt lạ trong khi chí sự vật : dạng ngoài số ( kliôiìg ít, không nhiều) nhưng nếu đối lộp các dạng với nhau thì người liọc sẽ hiểu ra ngay cái cấu trúc có tính "phân (ích tính" này Dạng (hức loại (ừ + clanli từ đế chỉ sớ íỉ dễ dàng được hiểu là qui tắc số íl của một phần lớn danh từ tiêng Việt Muốn đổi sang số nhiều người ta chí cần thêm "những " hay " các" vào hước tổ liựp này Nhìn hàng ngang, cluiõi kêl hợp này có vẻ giỏng nlur lòi kêl liựp các phụ tó (long ngôn ngữ chắp chính ( aglunitive ).
Xuất phái (ừ dó từ điển của chúng lỏi khi trình bày các kết hợp danh từ chọn loại từ về mặt ngữ pháp cííng là lừ điển dạng số íl của danh tứ tiêng Việt
k /T rê n bình điện ngữ pháp llmẩn lũy các nhà lý luận nlnr Nguyễn Tài Cẩn, C;io XiiAn Hạo đã cỏ Iiliữiig lập luân lluiyêì phục về việc dường như
là loại tù' là hung tâm cua danh ngữ Lập luận này (liậl là chặt chẽ khi đứng ngay trong liệ ỉliống của các ông Một bằng chứng là lnmg tâm clanli ngữ không thể vắng được lliì quả thật líìt nliiều lúc danh (ừ đã vắng mặt và thay
vì nó ngơừi ta đã dùng loại từ Tuy nhiên trên bình diện SƯ dụng thì chiíng lỏi cho lằng việc vắng mặt danh lừ trong tổ hợp loại từ 4- danh từ chỉ có thể xuât hiện do một áp lực khác Đó là ngữ cánh Cái áp lực mà các nhà phan
bô luận không bao giờ tính đến bởi vì cấu trúc loại lừ -danh từ việc yếu tô nào thay cho yêu lố nào trong mỗi hối cành giao tiếp thì còn phụ thuộc vào ngữ nghía cun loàn cục cũng như là ý lliức cỉia người sử dụng ngôn ngữ lức
là ngữ dụng vây Trong luận văn này chúng (ôi không có kliá năng và không
đủ điều kiện dể fham gia vào một cuộc (liảo luân như vậy
34
Trang 36Vấn đề sử dụng tổ hợp này trong các trường hợp của các dạng thức có dùng và vắng loại từ sẽ được đề cập (rong chương tiếp theo khi nhìn tổ hợp này từ phương diện danh từ Tuy nhiên với chúng tôi trong khi làm một từ điển về sự kết hợp thì cố nhiên sự quan tâm sẽ thiên về biến thể có dùng loại từ.
Trang 37Trong chương này việc nhìn loại từ từ danh từ là cần thiết bởi vì có như vây mới pliát liiện hết những đặc điểm của tổ hợp này, hơn nữa quan niệm của chúng tôi trong khi lập từ điển là có danh từ 1 hì mới có loại từ trong tiếng Việt Loại từ là một thứ thuộc tính ngữ pháp của danh từ Dưới ảnh hưởng của đanh từ khi nho xuất hiện loại từ, khi nào dung loại từ + danh từ
đã quyêì định đến tính phân loại của loại từ Đó cũng là những quan tâm của chúng tôi
Nhìn tổ hợp loại tìr + danh từ từ phía danh (ừ kỳ lliực ra có Iihiều khía cạnh hết sức pliírc tạp trên bình diện lý luận của ngữ pháp tiếng Việt, nhưng
í rong khuôn khổ luân vãn này chúng tôi chỉ đề cộp đến 3 kliía cạnh có liên quan đến việc sử dụng loại lừ
Ba kliía cạnh đó là:
a/ Những danh từ nào trong tổng thể của lừ loại này phải sử dụng loại
b/ Những danh từ đó sẽ sử dụng loại từ (rong những bối cảnh ngữ phápnào
36
Trang 38c/ Mối quan hệ giữa các nhóm loại từ với các tiểu loại danh từ sử dụng chúng.
2 L oại tù t r o n g q u a n hệ với c á c tập hụp c ủ a nội bộ tlanli tù.
2.1 MỘI sò ỷ kiên vê việc pliíhi loại nội bộ (lanh lữ liếng Việt.
Đối với các ngôn ngữ nói chung và vói tiếng Việt nói liêng danh từ luôn là tập hợp từ có số lượng lớn và lất phức tạp Đề cập đến từ loại danh
từ tức là đề cập đến một loạt vấn dề có tầm quan trọng đặc biệt về mặt lý luân trong dó có việc phan chia nội bộ danh từ thành những tiểu hệ thống, những nhóm Iiliỏ (tiểu loại danh từ)
Trong giai đoạn đíìu tiên, danh từ được nghiên cứu theo khuynh hướng chung là mô phỏng các sách ngữ pháp phương Tây, đặc biệt là các sách ngữ pháp dạy tiếng Pháp nhà trường Do chỗ quan niệm ngôn ngữ nào cũng có ngữ pháp về cơ bản giống nhau nên ở những tài liệu này rất ít những nhận định sâu sắc về tìr loại danh từ (long tiêng Việt Điều này có thể thấy rất rõ qua các sách của J Rôxni (1855), cùa íuy- liêng (1906), của Trương Vĩnh
Ký (1883)
Cho đến những năm 40 của thế ký này một khuynh hướng mới nghiên cứu về liếng Việt đã manh nha được thực hiện và mang ý nghĩa khá tích cực Đó là khuynh hướng cố gắng Ihoát ra khỏi các sách ngữ pháp tiếng Pháp nhà trường, cố gắng đi sAu tìm hiíki những dặc điểm l iêng, bán chất của tiếng Việt trong đó có vấn đề từ loại tiếng Việt Cũng nhờ khuynh hướng này mà danh từ tiếng Việt nói riêng được nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc liơii Trong giai đoạn này có (hể nhắc đến hai lài liệu có liên quan trực tiếp tiến vân dề danh từ là: Etucles SUI la langue annnmite của Gram-mồng
và Lê Quang trinh ( 1 9 1 1) và Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim và Bùi Ký (1940) Đặc biệt trong sách của Trần Trọng Kim ông đã nói một cách khá sâu về danh lừ như chia thành danh từ clnmg - danh (ừ liêng; những điểm nói về loại từ, hệ thống loại từ và mối quan hệ của danh từ với
Trang 39loại từ, cũng như mối quan hệ giữa danh từ với những từ loại khác như " những, các "
Tuy nhiên phải chờ đến những năm 50-60 thì việc nghiên cứu từ loại tiếng Việt nói chung và danh lừ tiếng Việt nói liêng mới có một bước tiến vượt bậc Đáng chú ý nhất trong các tác phẩm giai đoạn này là phán miêu tá đặc điểm danh từ, đối lập danh từ với động từ của Lê Văn Lý và Mactini, phần xác lập các phạm trù từ vựng ngữ pháp nhỏ trong nội bộ danh từ của Emeneau
Có thể nói những thành còng trong nghiên cứu về lừ loại ở giai đoạn này là xuất phát từ những nhận thức mới rất quan họng Đó là nghiên cứu tiếng Việt phải thực sự xuất phát tù thực tế tiếng Việt
Nãm 1948 ớ Paris đã xuất bán cuốn sách " Le parler Vielnamien" của
Lê Văn Lý liong đó có một chương ông bàn về vãn để phân loại từ Đây cũng là một lẩn đầu tiên có một nhà nghiên cứu chú tiưong miêu tá từng loại tiếng việt thông qua khá năng kết hợp cỉia từ Theo õng mỗi tập hợp lừ trong tiếng việt đều có khá năng kết hợp không lặp lại với những tạp hợp (ừ khác Trên nguyên tắc đó ông cho rằng trong tiếng việl có hôn tập hợp chính:
38
Trang 40nhóm từ chí chủng loại có khá năng thêm vào với nhưng lừ lluiộc phạm trù
A đế tạo thành một từ ghép Dĩ nhiên từ ghép này là thuộc A
Ví dụ: nghề/ thợ móc - A ghép
Aỏng cũng đưa ra danh sách các từ mà tập hợp từ A có khả năng đi cùng ( xin xem phụ lục )
Năm 1951 M.B Emeneạu trong cuốn sách " Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt " Ở đại học Be keley (Mỹ) trong khi miêu lá danh từ tiếng việt liên nguyên lắc của phân bô luân đã cho rằng các hình tliúc danh ngữ liếng Việt có liên quan chạt chê với một đường ranh giới nội bộ danh từ dường ranh giới này chia danh từ làm hai tập hợp Danh lừ đon loại - danh từ không đơn loại
Các (lanh từ đơn loại được đặc trưng bởi việc sơ (lung loại từ còn tập hợp kia thì không
Nhận xét của M.B Emeneau là rất quan trọng bói vì có lẽ ông là người đầu tiên nhận ra ý nghĩa của cái đối lập này Và cũng từ M.B Emeneau các nhà ngữ pháp tiếng Viêt sau đó mói bắt đầu quan tâm sáu sắc đến câu hỏi là: liệu máng nào trong danh từ có quan hệ với loại từ và mảng nào thì không ?
Vân đề mà M.B Emeneau đặt ra đến năm 1960 tlã được Nguyễn Tài Cẩn trong chuyên luận về "lừ loại danh từ" (1960, 1975) giái quyết khá triệt
để Trong khi miêu tá câu trúc danh ngữ tiếng việt Nguyền Tài c ẩ n đã dùng rất nhiều nội dung để bàn về các tiểu loại trong nội bộ danh từ và quan hệ giữa chúng với các nhóm loai từ Nguyễn Tài c ẩ n đã chia nồi bộ của lừ loai danh từ Iheo các đối lập sau