1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh vai trò tạo lập nghĩa tình thái của các tiểu từ tình thái cuối câu trong tiếng Việt với các phương tiện tương đương trong tiếng Hán

131 807 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI SO SÁNH VAI TRÒ TẠO LẬP NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÁC TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI CÂU TRONG TIẾNG VIỆT

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THI TUYẾT MAI

SO SÁNH VAI TRÒ TẠO LẬP NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÁC TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI

CÂU TRONG TIẾNG VIỆT VỚI CÁC

PHƯƠNG TIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG

TIẾNG HÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội -2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI

SO SÁNH VAI TRÒ TẠO LẬP NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÁC TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI CÂU TRONG TIẾNG VIỆT VỚI CÁC PHƯƠNG TIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG HÁN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 602201

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp

Hà Nội - 2010

Trang 3

1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

2 Mục đích nghiên cứu 8

3 Ý nghĩa của đề tài 8

4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 8

5 Bố cục của luận văn 9

NỘI DUNG Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự 11

1.1.1 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 11

1.1.2 Nguyên tắc lịch sự 14

1.2 Khái niệm nghĩa tình thái trong ngôn ngữ 17

1.2.1 Cách hiểu tình thái trong logic 17

1.2.2 Cách hiểu tình thái trong ngôn ngữ 18

1.3 Kiểu loại nghĩa tình thái và phương tiện diễn đạt tình thái trong ngôn ngữ 21

1.3.1 Các kiểu loại nghĩa tình thái 21

1.3.2 Các phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái 23

Trang 4

2

1.3.2.1 Các phương tiện ngữ pháp 23

1.3.2.2 Các phương tiện ngữ âm 23

1.3.2.3 Các phương tiện từ vựng 23

1.4 Tiểu kết 26

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI CÂU TIẾNG VIỆT VÀ NGỮ KHÍ TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG HÁN 28

2.1 Về tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt 28

2.1.1 Thuật ngữ sử dụng 28

2.1.2 Đặc trưng ngữ pháp .31

2.1.3 Đặc trưng ngữ nghĩa .33

2.1.3.1 Tính có nghĩa hay không có nghĩa? 33

2.1.3.2 Đặc trưng ngữ nghĩa 37

2.1.4 Kết quả phân loại .42

2.1.4.1 Các nhóm tiểu từ tình thái cuối câu 42

2.1.4.2 Danh sách các tiểu từ tình thái cuối câu 43

2.2 Về ngữ khí từ tiếng Hán 47

2.3 Cơ chế biểu đạt nghĩa tình thái .65

2.4 Tiểu kết 68

Chương 3: MIÊU TẢ ĐỐI CHIẾU MỘT SỐ TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI CÂU TIÊU BIỂU VỚI NGỮ KHÍ TỪ TƯƠNG ỨNG TRONG VAI TRÒ BIỂU ĐẠT NGHĨA TÌNH THÁI CHO CÂU (PHÁT NGÔN) 70

Trang 5

3

3.1 Khung miêu tả 70

3.2 Nội dung đối chiếu 73

3.3 Một số cách dùng khác của ngữ khí từ tiếng Hán 103

Chương 4: ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU VÀO VIỆC DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 107

4.1 Thực trạng nắm bắt và sử dụng nhóm TTTTCC 107

4.1.1 Miêu tả đối tượng điều tra 108

4.1.2.Bố cục phiếu trắc nghiệm 108

4.1.3.Phân tích kết quả trắc nghiệm 109

4.1.4 Kết luận 113

4.2 Nguyên nhân của tình trạng yếu kém 113

4.2.1.Ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ 113

4.2.2 Một vài bất cập của giáo trình dạy tiếng Việt 114

4.3 Một số kiến nghị đối với công tác dạy tiếng 114

4.4 Tiểu kết 115 KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM THẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 TTTT : Tiểu từ tình thái

3 TTTTCC : Tiểu từ tình thái cuối câu

4 TTTTCC TV : Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt

5 NKT : Ngữ khí từ

6 Nxb : Nhà xuất bản

7 HNV : Hội nhà văn

Trang 7

5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Chúng ta đều biết, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng của con người

và là phương tiện diễn đạt tư duy Trong giao tiếp hàng ngày, con người không đơn thuần chỉ truyền cho nhau những thông tin miêu tả thế giới mà còn luôn gửi kèm theo đó những thông điệp biểu thị thái độ, tình cảm của mình đối với tính chân thực của điều nói ra và đối với cả người nghe Thái độ, sự đánh giá của người nói lồng vào phát ngôn chính là các yếu tố tình thái trong ngôn ngữ, nó được coi là linh hồn của phát ngôn

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của ngữ nghĩa, ngữ dụng học, định hướng nghiên cứu giao tiếp lời nói đã được đẩy mạnh Theo đó, người ta bắt đầu quan tâm sâu sắc đến nhân tố con người trong ngôn ngữ, xem giao tiếp ngôn ngữ là một dạng hoạt động của con người, trong đó con người sử dụng ngôn ngữ như một chủ thể có ý thức để phục vụ cho lợi ích của mình Theo cách tiếp cận như vậy, nhiều nhà ngôn ngữ học đã chuyển trọng tâm nghiên cứu từ các mô hình cấu trúc trừu tượng của câu sang hoạt động của các phát ngôn hiện thực Nói cách khác, câu đã được nghiên cứu ở bình diện “động”, trong hoạt động hành chức của nó, gắn liền với những nhân tố của ngữ cảnh, những điều kiện sử dụng hiện thực gắn với các hành vi ngôn ngữ , thể hiện như một công

cụ tương tác liên nhân sinh động giữa người nói và người nghe Trong tiếng Việt, với tư cách là những yếu tố điển hình xuất hiện trong các phát ngôn-lời nói, nhóm

các TTTTCC như: à, ư, nhỉ, nhé, đây, đấy v.v có một vai trò hết sức quan trọng,

chúng là nhân tố không thể thiếu để biến ngôn ngữ ở dạng tiềm năng trở thành những “thực thể sống”, hoạt động hiện thực

Nhìn rộng hơn, trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự giao lưu văn hóa và tiếp xúc ngôn ngữ làm nảy sinh mạnh mẽ nhu cầu hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Ngày càng có nhiều người nước ngoài tới Việt nam học tiếng Việt, đặc biệt là học viên người Trung Quốc Trong quá trình học tập của học viên, theo đánh giá của những

Trang 8

6

giáo viên có kinh nghiệm trực tiếp tham gia giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài thì không chỉ học viên Âu Châu mà ngay cả những học viên đến từ những nước có văn hóa và tiếng nói gần với tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, phân tích tính) như học viên người Trung Quốc cũng gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt và sử dụng nhóm từ nêu trên Trước hết là vì bản chất quá phức tạp của bản thân đối tượng, sau là do số lượng những công trình nghiên cứu về phương tiện diễn đạt tình thái tiếng Việt nói chung, TTTTCC nói riêng cho đến nay vẫn chưa nhiều nếu không muốn nói là còn ít ỏi Quả vậy, trong khi các phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái trong nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Tây ban nha v.v đều được người ta miêu tả và phân tích kỹ lưỡng (chẳng hạn nghiên cứu phương tiện biểu đạt tình thái của tiếng Anh có R.W.Langacker, Downing & Locke, Jennifer Coaster, Leo Hoye, John Bybee; tiếng Đức có Bernd Heine; tiếng Nga có Walter Arndt; tiếng Tây ban nha có Patricia V Lunn; tiếng Trung Quốc có Jian Sheng Guo, Xu Jing Ning v.v), thậm chí còn có những nghiên cứu dưới hình thức đối chiếu hai ngôn ngữ với nhau, như đối chiếu tiểu từ tình thái tiếng Nga và tiếng Đức của Walter Arndt, đối chiếu trạng ngữ tình thái tiếng Anh và tiếng Tây ban nha của Leo Hoye v.v, thì trước năm 1980 trong các sách viết về ngữ pháp tiếng Việt của các tác giả nước ngoài cũng như các tác giả Việt Nam hầu như không thể tìm thấy thuật ngữ tình thái theo đúng ý nghĩa đầy đủ của khái niệm này Chỉ từ thập kỷ 80 về sau, nhiều nhà nghiên cứu Việt ngữ học đã chú ý hơn đến vấn đề này, như Nguyễn Đức Dân [1976, 1985, 1987, 1998], Hoàng Phê [1984], Phan Mạnh Hùng [1982, 1985], Hoàng Tuệ [1988], Lê Đông [1995], Phạm Hùng Việt [1996, 2002], Nguyễn Văn Hiệp [1998, 2001, 2002], Huỳnh Văn Thông [1996, 2000], trong đó có những tác giả đã miêu tả khá chi tiết một số phương tiện diễn đạt

ý nghĩa tình thái của tiếng Việt Tuy vậy, những công trình nghiên cứu đối chiếu trong lĩnh vực này còn hết sức ít ỏi (2003 có luận án tiến sĩ ngữ văn của Phạm Thị

Ly tiến hành đối chiếu phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt và tiếng Anh) Bởi hai lý do này mà trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường chỉ đưa ra những cách giải thích hết sức cảm tính, chủ quan, áp đặt, đơn giản hoá vai trò

Trang 9

7

và chức năng của các TTTT chuyên dụng của tiếng Việt Hậu quả là người học chỉ cảm nhận được một cách mơ hồ ý nghĩa của chúng và hầu như không thể nắm bắt được những sắc thái nghĩa tinh tế, uyển chuyển, cái thần thái mà chúng có thể đem đến cho phát ngôn trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp hiện thực

Điều đó đã khuyến khích chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu các TTTTCC tiếng Việt, đối chiếu với phương tiện diễn đạt tương đương là ngữ khí từ trong tiếng Hán Việc phân tích so sánh TTTTCC tiếng Việt với ngữ khí từ cuối câu trong tiếng Hán sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn nét đặc thù của nhóm TTTTCC tiếng Việt Luận văn sở dĩ lựa chọn tiếng Hán làm ngôn ngữ đối chiếu vì tiếng Hán có ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc trong văn hóa Việt nói chung và tiếng Việt nói riêng Hiện nay, bên cạnh tiếng Anh- ngôn ngữ có tính chất phổ biến toàn cầu và có tầm ảnh hưởng lớn đối với quá trình hội nhập của nước ta hiện nay- thì tiếng Hán cũng đang ngày càng khẳng định vị thế cũng như tầm ảnh hưởng của mình trên thế giới

Số lượng học viên người Trung Quốc đến Việt Nam học tập ngày càng đông và sự giao lưu kinh tế Việt Nam-Trung Quốc cũng ngày càng mở rộng

Với tinh thần đó, trong khuôn khổ cũng như trình độ của luận văn cao học, chúng tôi xin xác định đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu như sau:

Đối tượng nghiên cứu: TTTTCC tiếng Việt và phương tiện diễn đạt tương

ứng trong tiếng Hán - giới hạn ở phương tiện từ vựng tương ứng là ngữ khí từ

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giải quyết các vấn đề:

- Xác lập cơ sở lý luận cho việc miêu tả hình thức, nội dung các TTTTCC tiếng Việt và ngữ khí từ tiếng Hán

- Xác lập danh sách tương đối các TTTTCC và các ngữ khí từ Tiếng Hán có tần số xuất hiện cao nhất trong giao tiếp

- Phân tích, miêu tả các ý nghĩa tình thái do TTTTCC tiếng Việt diễn đạt trong sự so sánh với các ngữ khí từ tiếng Hán tương ứng

- Phân tích thực trạng việc dạy và học nhóm TTTTCC tiếng Việt, nguyên nhân và một vài kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt (đối tượng người nước ngoài)

Trang 10

8

2 Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ nội dung ngữ nghĩa của lớp tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt

- Đề xuất một vài kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy về nhóm

tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt cho đối tượng học viên là người nước ngoài

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa lý luận

Về phương diện lý luận, luận văn đã trình bày một bức tranh tổng quát về vấn đề tình thái, thông qua việc đối chiếu với phương tiện diễn đạt tình thái tương ứng trong tiếng Hán – cụ thể là ngữ khí từ (NKT) đã góp phần làm sáng tỏ và nổi bật hơn đặc điểm của TTTTCC tiếng Việt cũng như vai trò to lớn của nó trong sứ mệnh tạo “linh hồn” cho câu/ phát ngôn

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, những kết quả nghiên cứu và so sánh của luận văn có thể

là những cứ liệu và sự kiện gợi ý cho các nhà lý luận ngôn ngữ tiếp tục tìm tòi, đào sâu, cũng như cung cấp tư liệu cần thiết cho những người làm công tác biên soạn, xây dựng sách giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài để có thể cho ra những cuốn giáo trình thực sự hữu dụng và chất lượng cao Quan trọng hơn thế nữa

là nó giúp ích một cách đắc lực công tác dạy tiếng của giáo viên cũng như việc học tiếng Việt chuẩn của học viên nước ngoài (bất kể là người bản ngữ nào) Ngoài ra đối với những người học tiếng Hán, những người làm công tác dịch thuật hay những người quan tâm đến khía cạnh tiếp xúc ngôn ngữ và giao lưu văn hóa (liên ngữ giao văn hóa) cũng hoàn toàn có thể tìm thấy những kiến thức bổ ích hay những vấn đề đáng suy nghĩ ở đề tài này

4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, không có hình thái nên để thực hiện nội dung nghiên cứu nêu trên, luận văn đã chọn cách tiếp cận dưới quan điểm của ngữ pháp chức năng Tức là chúng tôi tập trung vào mối quan hệ giữa nội dung (nội dung được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm chức

Trang 11

tỏ thông qua việc so sánh đối chiếu với phương tiện biểu đạt tình thái tương đương

là ngữ khí từ tiếng Hán với các thủ pháp nghiên cứu chính như sau:

Tư liệu được sử dụng trong luận văn được lấy từ các nguồn sau:

- Các phát ngôn, các câu có sử dụng TTTTCC xuất hiện trong các tác phẩm văn học như: kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam

- Các phát ngôn, các câu có sử dụng TTTTCC xuất hiện trong các cuộc thoại hàng ngày

- Các phát ngôn, câu có chứa ngữ khí từ tiếng Hán xuât hiện trong các tác phẩm văn học, truyện, kịch Trung Quốc

- Các phát ngôn, câu có chứa ngữ khí từ tiếng Hán xuất hiện tại các trang web sina.com và kho ngữ liệu điện tử trường Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa:

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nguồn tư liệu trích dẫn, bảng chữ cái viết tắt và phiếu trắc nghiệm, luận văn gồm có 4 chương được sắp xếp như sau:

Trang 12

10

Chương 1: Trình bày cơ sở lí luận để giải quyết các vấn đề chính của luận

văn Phần này gồm có:

- Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự

- Vấn đề nghĩa tình thái trong ngôn ngữ

Chương 2: Khái quát về TTTTCC tiếng Việt, đối tượng nghiên cứu chính

của luận văn và phương tiện tương đương của nó trong tiếng Hán là ngữ khí từ Từ

đó bước đầu xác định những tương đồng và dị biệt giữa hai đối tượng

Ở chương này luận văn chủ yếu giải quyết vấn đề thuật ngữ cũng như ngữ nghĩa và sự phân nhóm của các TTTTCC tiếng Việt từ đó xác lập bản danh sách tương đối các TTTT sẽ được miêu tả so sánh đối chiếu trong chương sau Đồng thời xác định và đưa ra miêu tả mang tính tổng quan các ngữ khí từ tiếng Hán tương ứng,

có tính chất là nền tảng cho sự đối chiếu Những tương đồng và dị biệt được xác định ở đây cũng có ý nghĩa quan trọng

Chương 3: Luận văn xác lập khung miêu tả ngữ nghĩa các TTTTCC tiếng

Việt và tiến hành miêu tả chi tiết 18 TTTT có tần số xuất hiện nhiều nhất trong hội thoại tiếng Việt Đây không chỉ là sự miêu tả đơn thuần có tính chất từ điển mà là

sự miêu tả trong so sánh đối chiếu với các ngữ khí từ tiếng Hán để tìm ra nét chung cũng như nét đặc thù của tiểu từ tiếng Việt

Chương 4: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý thuyết kết hợp với điều tra thực

tế trình độ nắm bắt và mức độ sử dụng TTTTCC tiếng Việt của học viên nước ngoài,

ở chương này chúng tôi sẽ nêu lên thực trạng của việc học và dạy tiếng Việt, cụ thể

là học và dạy về TTTTCC ở Việt nam Chương này cũng nêu một cách khái quát những bất cập, khiếm khuyết của giáo trình cũng như trong phương pháp giảng dạy của giáo viên để làm cơ sở đưa ra một vài kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

Trang 13

11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 1 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự

Xem xét ngôn ngữ trong hoạt động và hành chức, trong mối tương quan giữa người nói- người nghe - ngữ cảnh nói chung và nghĩa tình thái của câu nói riêng thì

sẽ là thiếu thấu đáo nếu không nói đến lí thuyết hành vi ngôn ngữ Vì vậy trước khi trình bày về chức năng tạo lập nghĩa tình thái của TTTTCC tiếng Việt (trong sự đối chiếu với phương tiện diễn đạt tương ứng của tiếng Hán- ngữ khí từ) luận văn xin được nêu khái quát vài nét cơ bản về lý thuyết hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch

sự

1.1.1 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ

Như chúng ta đều biết, với tác phẩm “How to do things with words” (Tạm dịch: Những hành vi ngôn ngữ) John L Austin đã được coi là người đặt nền móng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ Lần đầu tiên sự phân biệt quá rạch ròi hai phạm trù ngôn ngữ và lời nói của F De Saussure được điều chính, không còn là một đường ranh giới cứng nhắc Theo đó, đối tượng ngôn ngữ được bàn luận không chỉ đóng khung trong những cấu trúc trừu tượng đơn thuần mà còn gắn liền với thực tiễn hành ngôn sinh động Có thể nói, chỉ với lí thuyết hành vi ngôn ngữ thì ngôn ngữ mới thực sự được nhìn nhận như là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người

Để xác định được nội dung thực sự của câu nói, Austin cho rằng phải tính đến yếu tố chủ quan trong ngôn ngữ và những nhân tố tình huống khác Cùng một phát ngôn, nhưng được nói ra trong những tình huống khác nhau, hay kèm theo sắc thái tình cảm, đánh giá khác nhau của người nói mà được hiểu như một lời cảnh báo, một lời đe dọa hay chỉ là một thông báo đơn thuần Xét ví dụ, phát ngôn:

- Dao này sắc lắm đấy!

sẽ chuyển tải những thông điệp giao tiếp rất khác nhau Nếu đây là lời mẹ nói với con thì mang nghĩa như một lời cảnh báo: đừng nghịch hay đừng sờ vào, sẽ đứt tay

Trang 14

12

Nhưng nếu trong trường hợp hai thanh niên đang cãi lỗn, đánh đấm lẫn nhau

và một người giơ con dao lên và nói thì lại mang hàm ý đe dọa

Có thể khái quát tư tưởng cốt lõi của Austin như sau: nói là hành động, khi ta nói một câu, là ta đã thực hiện một hành vi ngôn ngữ nào đó, đặt trong một môi trường cụ thể, với những qui định đã được xác lập về mặt văn hóa, đạo đức, tôn giáo, tập quán

Ví dụ khác, khi người Việt nói “Chị đi chợ về đấy à?” / “Chị đi đâu đấy?”

thường họ không nhằm mục đích hỏi như được thể hiện trên chữ viết, mà thực chất

là họ đã thực hiện hành vi chào, nhằm xác lập một mối quan hệ kiểm thông (phatic)

nào đó (tức xác lập hay củng cố một quan hệ hợp tác, thân tình nào đó đối với người nghe) Không hiểu điều này, người nước ngoài rất dễ hiểu lầm là người Việt hay tò

mò, nhòm ngó việc riêng của người khác

Austin còn cho rằng khi nói ra một câu đồng nghĩa với việc ta thực hiện ba loại hành vi ngôn ngữ: hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời

- Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ âm,

từ, các tổ hợp từ và các kiểu kết hợp từ thành câu…để tạo ra một phát ngôn thành phẩm với một dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định

- Hành vi tại lời: là hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây

ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nghe, như: ra lệnh, hứa hẹn…

- Hành vi mượn lời: là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ tạo ra một hiệu

quả ngoài ngôn ngữ mà người nói chủ ý muốn gây ra ở người nghe Chẳng hạn một lời hứa hẹn sẽ làm người nghe thấy phấn chấn, mừng rỡ…

Mỗi hành vi này lại được chia thành các nhóm khác nhau dựa vào hướng khớp ghép với hiện thực và điều kiện thuận ngôn Searle – môn đệ Searle của

Austin là người đã nêu ra một cách chi tiết các điều kiện thuận ngôn (felicitous

conditions) cho việc thực hiện một hành vi ngôn ngữ nào đó Theo ông, để một hành vi ngôn ngữ nào đó được thực hiện, nó cần thỏa mãn 4 điều kiện thuận ngôn sau đây:

a Điều kiện mệnh đề (propositional condition)

Trang 15

13

Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết, thì điều kiện mệnh đề sẽ là: “cái mệnh

đề được biểu thị sẽ tất yếu không phải hiển nhiên đúng đối với cả người nói và người nghe trong ngữ cảnh phát ngôn” (The expressed proposition must not be obviously true to both the speaker and the hearer in the context of utterance.)

b Điều kiện chuẩn bị (preparative condition)

Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết thì “người nói tất nhiên phải đưa ra được bằng chứng và lí do để đảm bảo cho tính đúng đắn của cái mệnh đề được nói ra” (the speaker must be in a position to provide evidence or reasons for the truth of the expressed proposition)

c Điều kịện chân thành (sincere condition)

Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết thì “người nói tin tưởng vào tính đúng đắn của mệnh đề được biểu thị” (the speaker commits himself to a belief in the truth

of the expressed proposition)

d Điều kiện bản chất (essential condition)

Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết, thì “Khi người nói thực hiện một hành vi xác quyết thì người ấy đã ràng buộc mình vào tính đúng đắn của mệnh đề được nói ra” (the maker of an assertion commits himself to the truth of the expressed proposition) [dẫn theo Keith Allan 1998]

Trong tiếng Việt, Nguyễn Thị Lương [1996] đã thử nghiệm dùng các điều kiện thuận ngôn này để phân tích và miêu tả ý nghĩa của các TTTTCC tiếng Việt Từ đó, tác giả đi đến một sự phân loại rất đa dạng về các tiểu từ này, chẳng hạn, đối với tiểu

từ “à”, khi dùng trong câu hỏi có thể thực hiện những chức năng khác nhau như:

hỏi-chào, hỏi-xác nhận, hỏi-mỉa, hỏi-phê phán v.v Nhưng danh sách các kiểu hành vi

“hỗn hợp” được xác định theo cách thức như vậy rất dễ bị bỏ sót một vài hành vi nào

đó (ví dụ, ta dễ dàng thêm được những hành vi như đểu”, tán tỉnh”,

“hỏi-chửi” v.v.) và cách làm như vậy, nói chung là rất khó nêu thành quy tắc Trong luận

văn này, ngữ nghĩa cũng như vai trò của các TTTTCC tiếng Việt trong việc diễn đạt ý nghĩa tình thái của phát ngôn sẽ được miêu tả theo một khung miêu tả tình thái được

Trang 16

Quả thực, dường như các hiện tượng, quy luật hoạt động và cả cấu trúc ngôn ngữ đều chịu sự tác động của nguyên tắc lịch sự

Lấy ví dụ trong tiếng Anh và tiếng Hán, khi yêu cầu ai đó làm gì, để giảm nhẹ mức độ áp đặt, người Anh sẽ sử dụng chiến lược là tránh dùng thời hiện tại, thay vào

đó bằng một thức quá khứ như “Would you…” Người Trung Quốc cùng một mục đích cuối cùng như vậy, người ta sẽ thêm động từ năng nguyện ở sau chủ ngữ: “你能

不能 ?/您可以 吗?” v.v Đôi khi chỉ cần lựa chọn những ngữ khí từ tình thái

khác nhau để kết thúc câu, cũng giúp cho người Trung Quốc đạt được mục đích giao tiếp khác nhau xét trên khía cạnh lịch sự Bởi mỗi ngữ khí từ tiếng Hán tự thân nó đã bao hàm mức độ lịch sự khác nhau

Theo Xu Jing Ning,话语情态研究, 220 页, 语气助词与礼貌原则 (Nghiên cứu tình thái ngôn ngữ, trang 220, ngữ khí từ và nguyên tắc lịch sự) thì có thể khái quát mức độ thể hiện tính lịch sự của một số ngữ khí từ như sau:

“嘛, 啊,呗” thuộc lớp từ [-lịch sự], thường được sử dụng giữa những người

có mối quan hệ gần gũi, thân thiết, giao tiếp xuồng xã không cần lịch sự, khách sáo Nếu xét cụ thể hơn về mức độ [-lịch sự], thì ta có thứ tự như sau: 呗> 啊>嘛 (呗 kém lịch sự nhất rồi đến 啊 và sau cùng là 嘛)

呗 bei:người nói có thái độ trách móc, chỉ trích người nghe

Trang 17

15

啊 a:do người nói nắm chắc thông tin được nói ra và có ý bắt người nghe phải thừa nhận và chấp hành một việc nào đó nên sắc thái câu thường lạnh nhạt, câu gần như một mệnh lệnh

嘛 ma:có thể là người bề trên nói với người dưới hay lãnh đạo nói với nhân viên, trên cơ sở người nói đã biết và nắm chắc một sự tình nào đó và yêu cầu người nghe thừa nhận, làm theo một cách nhẹ nhàng, tình cảm, vẫn cố gắng giữ thể diện cho người nghe

呢 ne:thuộc lớp từ [+lịch sự]: muốn người nghe chú ý hơn đến điều mình nói, điều đó có thể là đúng hay sai, có thể là điều đã xảy ra hay còn nghi vấn cần giải đáp, nhưng nó không mang ý áp đặt, bắt buộc người nghe phải trả lời Vì thế trong giao tế được dùng khá rộng rãi mà không chịu ràng buộc gì cả

吧 ba: thuộc lớp từ [+lịch sự]: trong cấu trúc 什么 吧! thường thể hiện một yêu cầu, đề nghị trên cơ sở tôn trọng ý kiến của người nghe, có ý mong mỏi người nghe đồng thuận với điều mình nói ra Vì thế dù hai người đối thoại có quan hệ thân thiết gần gũi hay xa lạ thì đều thể hiện sự lịch sự

Trong tiếng Việt, các TTTTCC là một trong những phương tiện linh hoạt nhất phục vụ cho nguyên tắc lịch sự Bởi lẽ, không có lớp từ nào mà những nội dung phi miêu tả (sẽ được chúng tôi làm rõ trong chương tiếp theo) lại được dung hợp một cách

tế nhị trong ngữ nghĩa của lớp từ này Có tác giả như Nguyễn Văn Hiệp [2004] đã thử nghiệm dùng tiêu chí [+/- lịch sự] để tiến hành miêu tả và phân loại các TTTTCC

tiếng Việt Chẳng hạn, tác giả cho rằng tiểu từ “nhé” thuộc lớp các tiểu từ [+lịch sự]

“Với “P nhé!”, người nói nêu ra một đề nghị, được thể hiện như là một mong muốn,

một nguyện vọng chủ quan của mình Tuy nhiên, người nói tỏ ra không có ý định áp đặt mà vẫn để ngỏ các khả năng lựa chọn cho chính người nghe Có vẻ như người nói muốn có được một sự đồng thuận nào đó từ phía người nghe Việc dùng TTTTCC

“nhé” phù hợp với chiến lược tăng sự đồng thuận, để ngỏ sự lựa chọn

Ví dụ:

Trang 18

16

- Ông cho phép tôi gọi ông là anh nhé?

(Vũ Trọng Phụng- Giông tố)

- Hay là tôi lên trình cụ xem nhé?

(Nguyễn Công Hoan- Cụ bá chánh mất giày)

Ngược lại tiểu từ “chứ” sẽ bị xếp vào nhóm các tiểu từ [-lịch sự], bởi lẽ phát

ngôn với tiểu từ này “khẳng định một điều gì đó trong tình huống có sự khác biệt hay

ngầm có sự khác biệt giữa nhiều ý kiến khác nhau Với "P chứ" người nói cho biết

anh ta đã có những cơ sở, căn cứ khá tin cậy để khẳng định ý kiến của mình, đối lập

với ý kiến của người nghe hay của một ai đó khác Như vậy, TTTTCC “chứ” chỉ báo

cho sự khác biệt trong suy nghĩ giữa người nói và người nghe, đào sâu thêm sự bất đồng

Ví dụ:

- Cái nhà này còn tốt đấy chứ? Nhà có bốn năm người ở thế này rộng chán

(Nam Cao - Mua nhà)

- Gọi nó dậy, nó thổi cơm cho mà ăn đã chứ?

(Nam Cao - Nước mắt)

Vì nguyên tắc lịch sự có ảnh hưởng rất mạnh tới diện mạo hiện thực của các phát ngôn trong quá trình giao tiếp cho nên hầu như bất kì tài liệu nào về ngữ dụng học cũng đề cập tới nguyên lý này

Ta có thể tạm hiểu về phép lịch sự theo quan điểm của B Fraser [1990] như sau:

Phép lịch sự dưới góc độ của sự hợp tác hội thoại: lịch sự như là một nhân tố quan trọng qui định việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ dùng trong giao tiếp Để có thể giữ thể diện, tránh làm phương hại tới thể diện của người khác, các bên tham gia giao tiếp cần dùng các công cụ ngôn ngữ thích hợp, các biện pháp tu từ cần thiết, chẳng

hạn như biết rào đón (hedge), nói vòng để làm giảm mức độ gay gắt, biết dùng những

tiểu từ tình thái (modal particles) làm nhẹ bớt những lời không lịch sự, tránh đưa cái

“tôi” của mình lên quá cao, tránh tự đề cao mình Đó là “phương sách làm dịu” mức

độ phương hại thể diện Cụ thể là:

Trang 19

- Dùng phương thức nói bóng gió, xa xôi

Ngoài ra cũng có thể hiểu lịch sự dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội như

R.Lakoff Ông cho rằng lịch sự là tôn trọng nhau Nó là một biện pháp dùng để giảm bớt trở ngại trong tương tác giao tiếp giữa các cá nhân Vì vậy cần thực hiện những qui tắc sau: không áp đặt (trong lễ nghi, ngoại giao); để ngỏ sự lựa chọn (trong giao tiếp thông thường); làm cho người đối thoại cảm thấy thoải mái (trong trò truyện thân mật)…v.v

1.2 Khái niệm nghĩa tình thái trong ngôn ngữ

1.2.1 Cách hiểu về tình thái trong logic

Bản chất của logic hoc là hướng đến tính đúng sai hay thực cách (Validity) của mệnh đề được biểu thị trong câu nói, nên tình thái trong logic luôn gắn liền với

sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở khía cạnh mức độ phù hợp của phán đoán với thực tế

Theo đó, các phán đoán mà câu biểu thị được phân nhóm thành: khả năng, tất yếu và hiện thực Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó (Predicate) ở đối tượng (Subject) của phán đoán, tức đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít nhất trong một thế giới khả hữu (possible word) nào đó Phán đoán tất yếu phản ánh đặc trưng được gán cho đối tượng ở mọi điều kiện tức đối tượng mang đặc trưng đó trong mọi thế giới khả hữu Phán đoán hiện thực xác nhận sự có mặt hay có mặt của đặc trưng được gán cho đối tượng

Trang 20

18

Tính khả năng tính tất yếu hay tính hiện thực có thể được nêu ra ở khía cạnh nhận thức (dựa trên bằng chứng hay suy luận) hoặc ở khía cạnh đạo nghĩa (dựa trên những ràng buộc về quyền và nghĩa vụ)

Như vậy, khái niệm tình thái trong logic chỉ tập trung vào một số kiểu quan

hệ chung, phổ biến nhất của phán đoán với hiện thực mang tính khách quan, bản thể

và xem đó như một đặc trưng nội tại của cấu trúc chủ từ- vị ngữ logic, hoàn toàn không liên quan gì đến những nhân tố thuộc mục đích, nhu cầu, ý chí, tình cảm, thái

độ, sự đánh giá của con người với tư cách chủ thể của tư duy, chủ thể của giao tiếp

vì thế mà modus trong logic học truyền thống còn được gọi là tình thái khách quan Người nói chỉ trình bày lại hiện thực một cách khách quan như nó vốn có mà thôi Nói cách khác, tình thái trong logic loại trừ vai trò của người nói

1.2.2 Cách hiểu tình thái trong ngôn ngữ

Đối lập với tình thái khách quan trong logic là tình thái chủ quan trong ngôn ngữ Tình thái chủ quan trong ngôn ngữ là phạm trù hết sức phức tạp đến nỗi có nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã phải thốt lên rằng: “Không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận này gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái” [V.Z Panfilov 1977; tr 37- 38] [dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết- Nguyễn văn Hiệp 1998] Sở dĩ như vậy là hàng loạt các nhân tố: những sự khác biệt về tình thái có nghĩa đối với ngôn ngữ học là hết sức đa dạng, không thể chỉ bó hẹp trong một số đối lập khái quát, phổ quát và tách khỏi bình diện chủ quan như logic học, các ý nghĩa hình thái trong ngôn ngữ học làm thành một bảng màu cực kỳ đa sắc, đan giao, giao hòa vào nhau, chồng chéo lên nhau, chúng liên quan đến những bình diện rất khác nhau của tổ chức phát ngôn, tới đồng nghĩa, đa nghĩa, tới việc xác định các cấp độ và phạm trù khác của ngôn ngữ v.v… mà không dễ gì có thể phân biệt rạch ròi giữa các bình diện

Vậy thế nào là tình tình thái của ngôn ngữ? Hiểu một cách đơn giản nhất là loại tình thái thể hiện vai trò của người nói đối với điều được nói ra trong câu với tư cách là chủ thể tri nhận và đánh giá tình thái, người nói thể hiện những đánh giá và cam kết tình thái của mình theo một thang độ rất rộng Theo quan điểm của Charles

Trang 21

19

Bally, khi chúng ta nói ra một câu, câu nói đó bao giờ cũng chứa đựng hai thành phần:

1 Nội dung thông tin miêu tả sự tình của thế giới hiện thực

2 Thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với nội dung thông tin

sự kiện đó, với hiện thực và đối với người đối thoại

[Dẫn theo Lê Đông-Nguyễn Văn Hiệp 2001] Thành phần thứ nhất (lõi nội dung sự kiện), được Charles Bally gọi là Dictum (nội dung mệnh đề) và thành phần thứ hai (thái độ, cách đánh giá của người nói) được ông gọi là Modus (tình thái)

Hai thành phần này luôn luôn xuất hiện cùng nhau, gắn kết với nhau, không thể tách rời trong bất kỳ một phát ngôn nào Không thể có mặt mà không tồn tại mặt kia trong ngôn ngữ tự nhiên Bởi con người sử dụng ngôn ngữ như một công cụ

để phục vụ cho lợi ích của mình nên hoạt động ngôn ngữ không thể tách ra khỏi những nhân tố chủ quan của người nói Nội dung mệnh đề và nội dung hình thái đối lập nhau nhưng đối lập trong sự thống nhất biện chứng tạo nên câu Chúng xuyên thấm vào nhau, tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu, đem đến cho câu một hiệu quả trong sử dụng

Chẳng hạn ta có các câu sau:

1 Lan có 500 đô

2 Lan có những 500 đô

3 Hình như Lan có 500 đô

4 Lan có 500 đô cơ à ?

Nếu không đi vào chi tiết, chúng ta có thể thấy rằng, thông tin miêu tả sự tình

ở năm câu trên không khác nhau Chúng đều đề cập đến một sự tình tiềm năng là

"Lan có 500 đô" Tuy nhiên nhận thức và dụng ý của người nói đối với năm câu

trên là hoàn toàn khác nhau Hệ quả tất yếu là hiệu quả giao tiếp mà năm câu trên mang lại là không giống nhau Điều làm nên sự khác nhau đó xuất phát từ thái độ, cách đánh giá khác nhau của người nói đối với khả năng chân thực của sự tình đó và cái ý định, cái tâm điểm của thông tin mà người nói muốn tác động đến người nghe

Trang 22

20

trong một hoàn cảnh cụ thể (nhằm nhận được một phản ứng mong muốn) Ở phát ngôn thứ nhất, người nói xác nhận, khẳng định một sự tình được coi là hiện thực Ở phát ngôn thứ hai người nói thể hiện sự đánh giá về một số lượng được coi là nhiều theo ý kiến chủ quan của mình Ở phát ngôn thứ ba, người nói thể hiện sự thông báo của mình giống như một đoán định dựa trên những hiểu biết của bản thân, tuy nhiên người nói không cam kết về độ chính xác tuyệt đối của thông tin Ở phát ngôn thứ

tư người nói bày tỏ sự ngạc nhiên của mình khi nhận được thông tin về việc Lan có

500 đô và muốn có sự thẩm định thông tin ấy từ phía người nghe

Ta lại thấy trường hợp như này trong tiếng Hán

Năm câu trên cùng diễn đạt một nội dung sự tình là: Lấy muối cho tôi

Nhưng thái độ và dụng ý của người nói cũng như tùy theo mối quan hệ giữa hai người ở mỗi câu là khác nhau tạo nên sắc thái ý nghĩa mỗi câu là khác nhau Chẳng hạn người nói và người nghe có quan hệ gần gũi, thân thiết có thể nói như A, D nhưng nếu đang trong một buổi tiệc, người đối thoại với mình có quan hệ không mấy thân thiết hoặc là người lớn tuổi hơn hay địa vị xã hội cao hơn mình thì nên sử dụng câu B,C

Vậy tình thái chủ quan là linh hồn của phát ngôn nói rộng ra là linh hồn của ngôn ngữ trong hoạt động nói chung Tình thái chủ quan cho phép ngôn ngữ tự nhiên của con người phản ánh được thế giới với tính cách là hiện thực trong hoạt động chiếm lĩnh và tương tác liên nhân của con người Không có nội dung nhận thức và giao tiếp hiện thực nào lại có thể tách khỏi những nhân tố như mục đích, như cầu, thái độ đánh giá của người nói đối với người được nói ra xét trong quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp

Trang 23

21

1.3 Kiểu loại nghĩa tình thái và phương tiện diễn đạt tình thái trong ngôn ngữ

1.3.1 Các kiểu loại nghĩa tình thái

Như ta đã nói ở trên, tình thái được hiểu là cái truyền đạt quan hệ giữa cách cảm nhận của người nói với nội dung của câu và đối với mối quan hệ giữa cái nội dung này với thế giới ngoài ngôn ngữ, chứa đựng một nội dung vô cùng phong phú,

đa dạng Các ngôn ngữ khác nhau có những cách diễn đạt ý nghĩa tình thái khác nhau và việc phân biệt các kiểu loại nghĩa tình thái luôn gắn với các phương tiện biểu thị chúng Chẳng hạn, trong tiếng Việt thường dùng nhất là các tiểu từ tình thái, nhất là tiểu từ tình thái cuối câu để diễn đạt các ý nghĩa tình thái, nhưng trong tiếng Anh thì lại dùng chủ yếu là thức (mood), tiếng Hán ngoài phương tiện trợ từ động thái (可能,可以,应该),liên từ (如果,就 也) hay phó từ tình thái (也许, 必

须) thì thường dùng ngữ khí từ tình thái chuyên dụng (嘛,吧) Thậm chí có một tình trạng khá phổ biến là ngay trong một ngôn ngữ nhưng lại có những ý nghĩa tình thái khác nhau được mã hóa bằng chỉ một phương tiện biểu hiện duy nhất Bởi thế thật khó lòng có thể dưa ra bẳng phân loại rành mạch, nhất quán trong giới nghiên cứu Kết quả là đều nhằm mục đích là sắp xếp các kiểu ý nghĩa tình thái vào một số nhóm, phạm trù nhất định, nhưng mỗi tác giả lại có cách xử lý hoàn toàn khác nhau

Chẳng hạn Jespersen [1924; tr 320] trong cuốn “The Philosophy of grammar” đã phân biệt 20 phạm trù bậc dưới của tình thái (mà ông gọi là thức) liên quan đến cách diễn đạt “một thái độ nào đó trong tâm trí người nói về nội dung điều được nói” Ông thừa nhận có sự chồng chéo lẫn nhau giữa các phạm trù và con số này còn đang được tranh luận Tuy nhiên quan điểm coi tình thái với tư cách là một phạm trù ngữ nghĩa và dựa trên tiêu chí có hay không có thành tố sự mong muốn của người nói để chia tình làm hai tiểu phạm trù là “chứa đựng những nhân tố nguyện vọng, ý chí” và “không chứa đựng những nhân tố nguyện vọng và ý chí” của ông rất có ý nghĩa Nó mở đầu cho sự phân biệt hai kiểu loại có tính chất nền tảng, hết sức căn bản của tình thái là: tình thái đạo lý và tình thái nhận thức

Trang 24

22

Với một cách nhìn khác E.M Volf [1985] lại cho rằng có nhiều kiểu ý nghĩa tình thái Sự đánh giá có thể coi như một trong những kiểu tình thái trùm lên nội dung đựơc miêu tả của sự kiện biểu thị ngôn ngữ Ngoài ra còn có các kiểu ý nghĩa tình thái khác như: tình thái cần yếu, tình thái mong muốn, tình thái yêu cầu, tình thái khuyên nhủ, tình thái ngăn cấm và cảnh cáo trước, tình thái răn đe v.v

J.Liapon [1990], ở một mức độ khái quát hơn, cho rằng "hướng đi được nhiều người công nhận nhất là phân chia phạm trù tình thái thành phạm trù tình thái khách quan và tình thái chủ quan" Theo đó, ông giải thích: tình thái khách quan thể hiện mối quan hệ giữa cái được thông báo với thực tế ở bình diện hiện thực tính.Tình thái khách quan là dấu hiệu tất yếu của một phát ngôn bất kỳ (phạm trù thức của động từ là phương tiện chính thể hiện tình thái ở chức năng này); tình thái chủ quan là quan hệ của người nói với điều được thông báo, là dấu hiệu không bắt buộc của một phát ngôn Dung lượng ngữ nghĩa của tình thái chủ quan rộng hơn dung lượng của tình thái khách quan và không đồng loại Khái niệm đánh giá làm nên cơ sở ngữ nghĩa cho tình thái chủ quan Nó không chỉ bao gồm các đánh giá logic (lý tính, duy lý) về điều được thông báo mà còn gồm cả các dạng khác nhau

về phản ứng có tính cảm giác (phi lý tính) [dẫn theo Phạm Hùng Việt 1996]

Trong tiếng Việt, Cao Xuân Hạo phân biệt hai loại tình thái khác nhau về bình diện: tình thái của hành động phát ngôn (modalité d'énonciation) và tình thái của lời phát ngôn (modalité d'énoncé) Tình thái của hành động phát ngôn thuộc về lĩnh vực dụng pháp, phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng trong giao tế bao gồm sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến vốn đã được ngữ pháp hoá cho nên đã được ngữ pháp truyền thống miêu tả; những câu có giá trị ngôn trung đựơc đánh dấu như: câu xác nhận, câu phản bác và câu ngôn hành Tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt trong câu trần thuật hay câu hỏi, nó có liên quan đến thái

độ của người nói với điều mình nói ra, hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Đó là một phần quan trọng của bình diện nghĩa học [Cao Xuân Hạo 1991;

tr 50-51]

Trang 25

23

Từ những gì được trình bày một cách vắn tắt trên đây, có thể thấy khái niệm tình thái quả là một khái niệm vô cùng phức tạp và việc đi tìm một sự thống nhất ý kiến giữa các tác giả là một việc vô cùng khó khăn Tuy nhiên, nhìn chung nhiều tác giả đã thiên về cách hiểu tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa chức năng rộng lớn, đa dạng và phức tạp, phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế, cũng như những quan điểm, thái độ đánh giá và định tính khác nhau của người nói đối với nội dung được miêu tả trong câu, với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp Nói một cách khác, các đặc trưng của tính tình thái xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế Theo đó, khi nghiên cứu tính tình thái của câu, chúng ta phải tính đến sự tương tác phức tạp, khúc xạ qua nhiều tầng bậc, giữa các nhân tố của quá trình giao tiếp Đây chính là quan điểm về tình thái mà chúng tôi chọn lựa để làm cơ

sở triển khai những nghiên cứu về các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt trong luận văn này

1.3.2 Các phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái

Cũng như sự phong phú về các kiểu loại ý nghĩa tình thái, các phương tiện biểu thị tình thái cũng rất phong phú và đa dạng trong các ngôn ngữ Ở mỗi loại hình ngôn ngữ khác nhau, mỗi ngôn ngữ, tuỳ vào đặc điểm của chúng, có thể có những phương tiện khác nhau nhưng tựu trung lại có thể chia thành ba loại như sau:

1.3.2.1 Các phương tiện ngữ pháp

Ở các ngôn ngữ biến hình, thời (tense) và thức (mood) của động từ có vai trò tích cực trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái Đối với những ngôn ngữ không biến đổi hình thái như tiếng Việt, các phương tiện ngữ pháp thường được kể đến là: đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc của câu để thực hiện ý đồ của người nói muốn nhấn mạnh vào điểm nào trong phát ngôn

1.3.2.2 Các phương tiện ngữ âm

Dùng ngữ điệu và trọng âm câu để thể hiện thái độ, tình cảm, cách đánh giá

và những thông tin mà người nói cho là cần nhấn mạnh

1.3.2.3 Các phương tiện từ vựng

Trang 26

24

Đây là phương tiện được sử dụng rộng rãi hơn cả Trong tiếng Việt, tiếng Hán, vốn thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, các phương tiện từ vựng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái

Trong tiếng Việt có thể kể ra đây mấy nhóm chính như sau:

Các động từ tình thái : muốn, định, toan, dám, cố…

Ví dụ:

Nó toan đánh cô ấy

Các phụ từ: đã, đang, sẽ, cứ

Ví dụ:

Mười giờ rồi mà nó cứ ngủ

 Các động từ chỉ thái độ mệnh đề gắn với cấu trúc câu phức, với chủ

ngữ ở ngôi thứ nhất và động từ không đi kèm với những phó từ chỉ thời, thể: Tôi lo

(rằng), Tôi sợ (rằng ), Tôi tiếc (là)

Ví dụ:

Tôi sợ rằng anh ta sẽ không đến

Các động từ ngữ vi : mời, khuyên, yêu cầu, hứa, cam đoan

Ví dụ:

Tôi yêu cầu anh giải quyết ngay cho

Các thán từ : ôi, chà, chao, chết, trời ơi, ối giời ơi

Các quán ngữ tình thái: nghe nói, nghe đâu, thế nào cũng, theo ý tôi,

gì thì gì

Ví dụ:

Gì thì gì, tớ chén đã (Tô Hoài- Dế mèn phiêu lưu ký)

 Các tổ hợp từ có nghĩa nhận định hay đặt vấn đề về tính chân xác của

sự tình: có lẽ là , ắt là, quả thực là, ấy thế mà, hay là v.v (Về ý nghĩa và vị trí

trong câu, nhóm này có thể được xếp chung vào nhóm các quán ngữ tình thái Sự khác biệt giữa chúng chỉ là ở mức độ tính thành ngữ (idiom): các quán ngữ tình thái

có tính thành ngữ cao hơn, tức ý nghĩa của các quán ngữ tình thái khác xa so với ý nghĩa của các thành tố tạo nên chúng)

Trang 27

25

Ví dụ:

Ắt là chị hối hận, tiếc rẻ cái lòng nhân đức của tôi và phân vân lo sợ về cái

bụng dạ "lỗ kim" của vợ tôi

- Thế ra bộ râu chú mình không mọc nữa nhỉ ?

- Ngày mai mình thoát chốn này ư ?

(Tô Hoài- Dế mèn phiêu lưu ký) Tiếng Hán cũng có các phương tiện từ vựng sau:

 隐性语法操作 (Thao tác ngữ pháp ngầm ẩn):动词重叠

Ngoài ra trong tiếng hán cũng có hàng loạt các động từ chỉ thái độ mệnh đề hay động từ ngữ vi tương ứng với các động từ chỉ thái độ mệnh đề và động từ ngữ

vi trong tiếng Việt như:

怕 (sợ, e, lo),命令(ra lệnh),不准/不许(không cho phép, cấm),劝(khuyên),要求(yêu cầu),请(mời),发誓(thề) 等。

Ví dụ:

Trang 28

1.4 Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày một cách vắn tắt khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học hiện đại, một khái niệm rất phức tạp và gây nhiều tranh cãi Trên cơ sở kế thừa thành tựu của những tác giả đi trước, chúng tôi đã xác lập cho mình một cách hiểu về khái niệm tình thái, cho phép chúng tôi triển khai những vấn

đề nghiên cứu trong luận văn Đó là một cách hiểu tương đối rộng về tình thái, xem tình thái là phạm trù ngữ nghĩa của câu biểu thị sự đánh giá, thái độ của người nói đối với điều được nói đến trong câu, quan hệ giữa người nói với người nghe và với

Trang 29

27

tình huống nói năng Chúng tôi cũng đã nêu ra những phương tiện dùng để biểu thị tình thái trong ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng Đồng thời cũng xác định phạm vi đối tượng nghiên cứu, so sánh của luận văn

Trang 30

28

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI CÂU TIẾNG

VIỆT VÀ NGỮ KHÍ TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG

Vậy TTTTCC tiếng Việt là gì? Và thế nào là ngữ khí từ tình thái tiếng Hán?

Ở chương này, chủ yếu luận văn sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể hai khái niệm này về mặt thuật ngữ cũng như ngữ nghĩa khái quát của chúng Trên cơ sở đó đi đến miêu tả đối chiếu qua từng từ ở chương 3

2.1 Về tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt

2.1.1 Thuật ngữ sử dụng

TTTTCC là một lớp từ rất đặc biệt của tiếng Việt Tuy có số lượng không nhiều nhưng đó lại là phương tiện thường gặp nhất trong phát ngôn của người Việt Thiếu nó, khiến người ta cảm thấy câu như thiếu đi cái gì đó giống kiểu linh hồn của câu Thay cho việc phải nói một câu dài để diễn đạt ý cần nói, người ta chỉ cần dùng một câu nói ngắn gọn có chứa tiểu từ tình thái Chẳng hạn câu: “Mười hai giờ

đêm rồi đấy!” được dùng như một lời cảnh báo có thể được khúc giải là: đã muộn/

khuya lắm rồi, anh/ chị cần lưu tâm đến điều đó để có thể có những ứng xử thích hợp như đi ngủ, đi về nhà, ngừng làm việc gì đó…v.v Ngoài ra, tiểu từ tình thái còn

là một trong những tiêu chí quan trọng vào bậc nhất để phân biệt ngôn ngữ hội thoại

và ngôn ngữ phi hội thoại (vấn đề này ngoài phạm vi nghiên cứu của luận văn, xin được gác lại, không bàn đến)

Vậy khái niệm tiểu từ tình thái cuối được hiểu như thế nào trong tiếng Việt?

Trang 31

29

Tùy theo từng quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về bản chất từ loại cũng như ngữ nghĩa chức năng của lớp từ này mà giới Việt ngữ học có những cách gọi tên cũng như định nghĩa khác nhau về tiểu từ tình thái

Chẳng hạn Lê Văn Lý gọi nhóm từ này là "phụ tự cảm thán" và theo ông chúng là những yếu tố chuyên dụng để "diễn tả một tình cảm, một cảm tưởng như:

vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, thoả mãn trong ngôn ngữ tình cảm" [dẫn theo

Nguyễn thị Lương 1995] Còn Đái Xuân Ninh thì cho rằng "chúng chuyên dùng để

biểu thị thái độ của người nói" và ông gọi chúng là "từ đệm cuối câu" [dẫn theo

Nguyễn thị Lương 1995] Chi tiết hơn, Nguyễn Kim Thản đã xác định hai chức

năng cơ bản của "ngữ khí từ", cách gọi của tác giả, là "phục vụ cho việc tạo hình

thức của các câu nghi vấn,mệnh lệnh, cảm thán hoặc việc tỏ thái độ của người nói" [Nguyễn Kim Thản, 1964] Cụ thể hơn nữa, L.Thompson cho rằng các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt biểu thị thái độ hoặc cách đánh giá của người nói như sự

kính trọng (ạ); sự đối lập ở mức độ vừa phải (chứ, chớ); sự mong muốn được đồng tình (nhé) [dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998] Còn các tác

giả cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” [1975] lại cho rằng các tiểu từ tình thái "biểu thị quan hệ giữa người nói với đối tượng của phát ngôn" và chia chúng ra thành nhiều

tiểu lớp như: các tiểu từ có tính chất nghi vấn: à, ấy à , ư, hử, nhỉ; các tiểu từ chỉ ra

sự đối lập: cơ, cơ mà, kia mà; các tiểu từ có tính chất nhấn mạnh: chắc, hẳn, đấy

Khi nghiên cứu về từ loại Glebova cũng đặc biệt quan tâm đến lớp từ này Tác giả

gọi chúng là “tiểu từ câu” và phân biệt chúng theo kiểu câu mà chúng xuất hiện, gồm: các tiểu từ dùng trong câu nghi vấn: à, hả, hử, nhỉ, chăng, ru, chắc, hẳn; các tiểu từ dùng trong câu cầu khiến, mệnh lệnh: đi, thôi, nào, với, nhé; các tiểu từ dùng

trong câu trần thuật biểu thị quan hệ của người nói đối với hiện thực,mang màu sắc

biểu cảm: ạ, kia, vậy, mà, đâu, đây, ấy, thế [dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết,

Nguyễn Văn Hiệp 1998]

Thuật ngữ "trợ từ" cũng được khá nhiều tác giả sử dụng để gọi nhóm từ này,

tuy rằng phạm vi bao hàm trong nó không giống nhau Trương Văn Chình -Nguyễn Hiến Lê [1963; tr180] xếp nhóm từ này và tất cả những loại mà ngữ pháp truyền

Trang 32

30

thống vẫn gọi là "thán từ", "bổ ngữ" vào cùng một loại và gọi chúng là "trợ từ" Các

tác giả cuốn "Ngữ pháp tiếng Việt" của Uỷ ban Khoa học Xã hội lại xếp các từ thuộc hai nhóm:

- Nhóm 1: ngay , cả , chính, đích thị

- Nhóm 2: à , ư, nhỉ, nhé, hả, chăng , thôi

vào nhóm có tên gọi chung là "trợ từ" và xác định chức năng của chúng là "được

gia thêm vào cho câu để biểu thị sự ngạc nhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vui mừng, lễ phép hay sự khẳng định đặc biệt" [Uỷ ban khoa học Xã hội Việt nam 1983; tr 72]

Tuy nhiên quan điểm gộp chung này ít được các nhà ngữ pháp khác tán

đồng Đa số các tác giả khác đều gọi nhóm: chẳng lẽ, có lẽ là phụ từ và nhóm:

ngay, chính,cả là trợ từ và phân biệt chúng một cách rạch ròi với nhóm tiểu từ tình

thái: à, ư, nhỉ ,nhé

Đinh Văn Đức trong cuốn "Ngữ pháp tiếng Việt-Từ loại" xuất bản năm 1986

[tr 188] đã gọi nhóm từ này là "tình thái từ" và ông phân biệt hai loại từ tình thái

"chuyên dụng" và "lâm thời" Theo ông những từ tình thái "chuyên dụng" thường

gặp là: à, ư, nhỉ, nhé (nhá, nhớ), a, ạ , ấy ,với, thế, nào, đâu, vậy, chắc, chăng ,mà,

cơ (kia), chứ (chớ), đây, thôi, đã, đi, hả, hử(hở), ơi, hời, ôi, sa có một số trường

hợp là song tiết: cơ chứ , mà lại, (mà lị ), chăng tá, chăng chớ, than ôi, hỡi ôi, vậy

ư, mà thôi ý nghĩa chung của các từ tình thái này là diễn đạt các mối quan hệ giữa

người nói và thực tại trong các phát ngôn có tính thông báo (câu)

Nguyễn Anh Quế gọi nhóm từ này là "ngữ khí từ" và ông cho rằng chúng

có vai trò rất lớn trong việc tạo câu Chúng có thể "dạng thức hoá bất kỳ một kiểu cấu trúc nào, làm cho cấu trúc đó (kể cả cấu trúc tối giản là một từ) trở thành một câu nói được dùng trong giao tiếp" Tác giả phân biệt chúng thành bốn nhóm: ngữ

khí từ tạo câu nghi vấn: à, ư ,nhỉ , chứ, chăng, hả; các ngữ khí từ tạo câu mệnh lệnh:

đi, đã, thôi ,nào, với; ngữ khí từ tạo câu cảm thán: thay; các ngữ khí từ biểu thị thái

độ: ạ, kia ,cơ, vậy, nhé, mà, đây, đấy, này, ấy, đâu [Nguyễn Anh Quế 1989;

tr222-239]

Trang 33

đó là những phụ ngữ hay những yếu tố biến cải (modifier), mà tầm tác dụng không phải chỉ là một bộ phận riêng lẻ nào đấy của câu, mà trước hết là toàn bộ câu hay toàn bộ phát ngôn được coi như một tổng thể

Về tên gọi, luận văn sẽ sử dụng xuyên suốt thuật ngữ tiểu từ tình thái cuối câu (viết tắt là “TTTTCC”) trong các phần mục nghiên cứu của mình với ba lí do sau:

Thứ nhất là vì hiện nay trong hầu hết các tài liệu nghiên cứu cũng như giáo trình giảng dạy tình thái tiếng Việt của giới Việt ngữ học đều chấp nhận và sử dụng rộng rãi thuật ngữ TTTTCC

Thứ hai là tên gọi này dễ dàng nhận diện, phân biệt với thán từ tiếng Việt, tránh sự đa nghĩa của các thuật ngữ như trợ từ, tiểu từ Hơn nữa, nó lại có tính khái

quát hóa cao hơn so với những thuật ngữ như: tiểu từ biểu cảm, tiểu từ nhấn

mạnh…

Thứ ba là tránh nhầm lẫn với cái gọi là “ngữ khí từ” hay “trợ từ ngữ khí”

trong tiếng Hán – đối tượng so sánh đối chiếu của luận văn

2.1.2 Đặc trưng ngữ pháp

Trong quan niệm mà luận án chấp nhận, tiểu từ tình thái là lớp từ mang những đặc trưng cơ bản sau đây:

- Thuộc loại tiểu từ, không có trọng âm

- Xuất hiện ở vị trí cuối câu (đối với câu đơn) hoặc cuối mỗi vế câu (đối với câu phức) Tuy nhiên trong thực tế cũng xuất hiện những phát ngôn mà TTTTCC được đưa lên đầu câu đồng thời lặp lại ở cuối câu biểu thị ý khuyến lệnh, hối thúc,

giục giã người nghe hành động, ví dụ: " Nào, bố bế con trai một tí nào!" hay "Đi, mẹ

Trang 34

32

đồng ý đi mẹ" Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp [2001] gọi đây là hiện tượng “đồng

hiện” của các tiểu từ tình thái trong câu

Cũng ở đặc điểm vị trí này, cần phân biệt tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt với một số phó từ đồng âm, ngẫu nhiên cũng có vị trí cuối câu

So sánh các cặp câu sau đây:

1a Nó làm bài tập rồi

1b Cả làng này ai cũng sợ ông rồi!

2a Cô ấy nói thật (còn anh ta nói dối)

2b Nó có nói thế thật

Xét về khía cạnh ngôn điệu, khi phát ngôn những câu trên, các phó từ rồi,

thật ở 1a, 2a được mang trọng âm nhấn mạnh, còn các tiểu từ tình thái cuối câu rồi, thật ở 1b, 2b không mang trọng âm Trong nhiều trường hợp, tiêu chí trọng âm là

tiêu chí duy nhât phân biệt một số tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt với một số phó từ đồng âm, ngẫu nhiên cũng có vị trí cuối câu (xem thêm Cao Xuân Hạo 1991) Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể dùng qui tắc tương hợp về ngữ nghĩa, kết hợp với một số thao tác cú pháp để phân biệt chúng với nhau Theo đó ta

biết rồi ở 1b là tiểu từ tình thái bởi sự tình được biểu đạt trong câu này là một sự

tình vô kết (hay [-hữu kết]), vốn không chấp nhận kết hợp với phó từ chỉ sự hoàn thành, kết thúc Thủ pháp bổ sung cũng giúp cho sự phân biệt này: có thể phủ định

bộ phận, tức phủ định các phó từ chỉ sự hoàn thành hành động, phó từ chỉ cách thức của hành động ở các câu 1a và 2a, trong khi đó các tiểu từ tình thái cuối câu ở 1b và 2b không kết hợp với các từ phủ định như vậy So sánh:

1a Nó làm bài tập rồi

* Nó làm bài tập chưa rồi

1b Cả làng này ai cũng sợ ông rồi!

*Cả làng này ai cũng sợ ông chưa rồi!

2a Cô ấy nói thật (còn anh ta nói dối)

* Cô ấy nói không thật

2b Nó có nói thế thật

Trang 35

hệ ngữ pháp theo cách hiểu truyền thống

2.1.3.1 Tính có nghĩa hay không có nghĩa?

Khi bàn về vấn đề tiểu từ tình thái tự thân nó có phải là đơn vị từ vựng có nghĩa hay không thì có hai ý kiến khác nhau: i) tiểu từ tình thái tự thân nó không có nghĩa mà nghĩa nó có đƣợc nhờ vào văn cảnh; và ii) tiểu từ tình thái cũng giống nhƣ các yếu tố phi miêu tả của ngôn ngữ tự nhiên nhƣ các liên từ, giới từ, đại từ trực chỉ…tự bản thân chúng đều có nghĩa

Trên các sách vở ngôn ngữ học hiện nay vẫn khá phổ biến những ý kiến cho

rằng: các tiểu từ tình thái là những yếu tố không có nghĩa “Không có nghĩa” ở đây

là muốn nói rằng, tự bản thân chúng, các tiểu từ tình thái hoàn toàn không có nghĩa

gì cả các sắc thái mà một phát ngôn có đƣợc khi một tiểu từ tham gia vào, chẳng qua chỉ là do ngữ cảnh tác động vào nội dung phát ngôn mà thành, còn các tiểu từ tình thái cơ hồ chỉ nhƣ là những yếu tố xúc tác, đƣa đẩy, nhấn mạnh thêm, thậm chí

là yếu tố đơn thuần tạo điều kiện thuận lợi cho sự thể hiện ngữ điệu, giúp cho câu nói thuận tai hơn, linh hoạt hơn về mặt ngữ âm Vì sao lại có quan niệm nhƣ vậy?

Trang 36

34

Thực tế cho thấy ở nhiều trường hợp, ta khó mà có thể chỉ ra hay diễn đạt chính xác nội dung mà một tiểu từ tình thái truyền đạt cũng như nêu quy tác sử dụng hay vị trí của chúng trong phát ngôn Lại có không ít trường hợp, cùng một tiểu từ, song tùy theo nội dung cụ thể của phát ngôn và các bối cảnh sử dụng nó, mà các nội dung được truyền đạt rất khác nhau, có khi trái ngược nhau

Xét tiểu từ “nhỉ” trong các ngữ cảnh khác nhau nó mang những sắc thái ý nghĩa khác nhau Có thể là sự thân mật “Anh yêu em nhỉ!” hay sự mỉa mai kinh thị

“Mày giỏi quá nhỉ!/ Gớm, rõ đẹp mặt nhỉ!”, có khi lại bộc lộ sự ngạc nhiên “ừ nhỉ! tí

nữa thì quên” v.v.…

Hoặc câu hỏi có TTTTCC "à" trong tiếng Việt có ý nghĩa khá đa dạng là: bày

tỏ một sự ngạc nhiên, một sự mỉa mai, một câu hỏi yêu cầu sự khẳng định mà dạng

câu hỏi "yes - no" hoặc câu hỏi đuôi trong tiếng Anh không có Ví dụ:

- Chị cứu em à?

nếu được dịch sang tiếng Anh là:

- Did you save me?/ You saved me, didn't you?

thì sẽ mất đi rất nhiều sắc thái

Một nguyên do nữa khiến người ta cho rằng tiểu từ tình thái không có nghĩa

đó là vì trong nghĩa học, bình diện nghĩa miêu tả thường được coi là chính, bình diện nghĩa cảm xúc, công cụ thường bị coi là phụ, có tính chất bổ sung vào bình diện miêu tả Như ta biết, tín hiệu học đại cương từ lâu đã có sự phân biệt giữa 3 bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Kết học nghiên cứu tín hiệu trong mối quan hệ cới những qui tắc chi phối sự kết hợp hình thức giữa các tín hiệu; nghĩa học nghiên cứu tín hiệu trong mối quan hệ với những đối tượng của thế giới bên ngoài, với thế giới được qui chiếu, mô hình khái niệm và quan niệm cho phép trình diễn những sự tình, tạo ra những mệnh đề; dụng học nghiên cứu tín hiệu trong mối quan

hệ giữa tín hiệu với người sử dụng nó Do vậy, một số bình diện của nghĩa không thuộc phạm vi nghiên cứu của nghĩa học, thường được gọi bằng những cái tên khác nhau như: nghĩa cảm xúc, nghĩa công cụ để đối lập với nghĩa miêu tả, nghĩa mang

Trang 37

35

tính chất khái niệm, nhận thức, trí tuệ về thế giới Và theo tinh thần “nghĩa học” trong mô hình tam phân của tín hiệu học như vậy, các yếu tố ngôn ngữ mang kiểu nghĩa này đôi khi cũng bị coi là không có nghĩa

Tuy nhiên trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của ngữ pháp chức năng

và ngữ dụng học, theo đó xuất hiện chủ trương đề cao hướng nghiên cứu nghĩa trong mối quan hệ liên nhân thì quan điểm tiểu từ tình thái nói riêng hay các yếu tố phi miêu tả nói chung tự thân chúng có nghĩa đã được nhiều nhà nghiên cứu đồng thuận (Phạm Hùng Việt, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp v.v.) Luận án cũng dựa trên tinh thần này để nghiên cứu nhóm tiểu từ tình thái cuối câu

Người ta thừa nhận những điều hiển nhiên dẫn đến quan niệm tiểu từ tình thái không có nghĩa nói trên, nhưng đồng thời cũng khẳng định rằng đó chưa đủ để phủ nhận ý nghĩa của các tiểu từ tình thái Bởi vì:

Thứ nhất, việc ta gặp lúng túng hay khó khăn trong khi chỉ ra một cách tương đối cụ thể, chính xác nội dung mà một tiểu từ tình thái truyền đạt, có thể chỉ là do

bộ máy siêu ngôn ngữ mà ngôn ngữ học xây dựng được vẫn còn nghèo nàn, chưa hoàn thiện, chưa đủ sức để xác định nghĩa của những yếu tố phi miêu tả ấy

Thứ hai, việc tiểu từ tình thái có những sắc thái nghĩa, hàm ý nghĩa khác nhau không hoàn toàn do ngữ cảnh quy định mà còn do nhiều nguyên nhân Chẳng hạn, do hiện tượng đồng nghĩa, đa nghĩa của từ hay sự kết hợp của tiểu từ với cả cấu trúc, thậm chí là do yếu tố ngữ điệu câu Hơn nữa, hiện tượng dao động thực tại của nghĩa trong lời nói như vậy là một hiện tượng phổ quát của từ vựng nói chung, có

thể xảy ra với bất kỳ đơn vị mang nghĩa nào (chẳng hạn: Mẹ nó ốm/ Nó không có

mẹ; Lan rất đẹp/ Đẹp như con tép kho tương; Cô đứng đây đợi tôi, tôi ra đây một lát

rồi tôi trở lại ngay )

Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, các đơn vị từ vựng, các từ của một

hệ thống ngôn ngữ, đều biểu thị một cái gì đó, đều đóng góp một phần nội dung gì

đó vào phát ngôn, và đó chính là nghĩa của chúng Do đó, mọi từ trong đó có các tiểu từ tình thái đều có nghĩa Chính cái ý nghĩa vốn có này của tiểu từ khiến cho

Trang 38

36

phát ngôn mà tiểu từ tham gia vào có một ý nghĩa khác so với khi không có tiểu từ, cũng như khi thay tiểu từ này bằng một tiểu từ khác

So sánh:

- Nam là sinh viên (ý nghĩa trần thuật)

- Nam là sinh viên à? (hỏi nhằm xác nhận thông tin)

- Nam là sinh viên cơ mà! (người nói nắm chắc thông tin, phủ nhận và đính

chính lại thông tin chưa chính xác mà người đối thoại đưa ra)

- Nam là sinh viên đấy! (khẳng định sự thật, kèm thái độ khen ngợi)

Hoặc có trường hợp việc thay một tiểu từ này bằng một tiểu từ khác đã phá

vỡ sự tương hợp về nghĩa, gây nên sự bất thường mà tất cả những người bản ngữ bình thường đều có thể xác nhận một cách như nhau [Lê Đông- Nguyễn Văn Hiệp 2001]

Ví dụ:

1a Chuyện vớ vẩn ấy mà

1b *Chuyện tày đình ấy mà!

2a Sao anh lại đánh nó? Tôi vẫn thấy nó ngoan thế cơ mà?

2b Sao anh lại đánh nó? *Tôi vẫn thấy nó ngoan thế cơ à?

Cũng chính do cái ý nghĩa vốn có của tiểu từ tình thái khiến cho, nói chung, trong các ngữ cảnh khác nhau (nếu không kể đến hiện tượng đa nghĩa hay đồng âm)

người ta vẫn có thể đồng nhất được ý nghĩa này như một thực thể ổn định, kể cả khi

tách khỏi ngữ cảnh rộng Còn khi do sự tác động của ngữ cảnh mà phát ngôn có một sắc thái mới nào đó, thì nói chung, người ta vẫn có thể chỉ ra cái lô gich của sự thay

đổi sắc thái nghĩa đó Chẳng hạn như, nói “Đẹp nhỉ?” (có thể với một ngữ điệu hoàn

toàn bình thường), trong khi cái đối tượng mà phát ngôn này áp dụng là xấu, thì phát ngôn sẽ có hàm ý mỉa mai, do người ta đã sử dụng phát ngôn trong một ngữ

cảnh mâu thuẫn với cái nghĩa vốn có của từ nhỉ (người nói tin điều mình nói là đúng,

đồng thời cho rằng người nghe cũng có đầy đủ cơ sở để có ý kiến như mình; và người nói chờ đợi ở người nghe một thái độ đồng tình, chia sẻ) Phát ngôn chứa tiểu

từ hỏi à ở cuối có thể được dùng cả khi sự việc nêu trong câu là điều diễn ra ngay

Trang 39

37

trước mắt ta, nếu đó là sự việc khiến ta ít nhiều chú ý, ngạc nhiên, hay ít ra có thể làm ra vẻ như vậy Sự hỏi lại như vậy là cốt để bộc lộ thái độ, chứ thực tế không ai

bưng bát cơm lên mà lại hỏi: “Đây là cơm à?”

Xét về mặt tín hiệu học, cái nghĩa đó tồn tại một cách khách quan trong ý thức của cộng đồng ngôn ngữ, và trong giao tiếp, nó cũng mang một bản chất qui ước (conventional) như ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ khác (chẳng hạn, như ý

nghĩa của các từ bàn, ghế, sinh viên, đi, đứng ) Cái ý nghĩa vốn có khách quan đó

cũng hoạt động theo những qui luật ngôn ngữ học chung: sự tương hợp nghĩa của các từ trong phát ngôn, sự dao động thực tại của nghĩa dưới sự tác động qua lại của ngữ cảnh, và chính nó là nhân tố chi phối qui luật về sự đồng nhất và sự khác biệt

về giữa các đơn vị ngôn ngữ xét trong quan hệ đối vị nào đó

Như vậy, điều không thể phủ nhận là, các tiểu từ tình thái có nghĩa, chứ không phải chỉ là những yếu tố vô nghĩa, chỉ thêm vào cho thuận tai về mặt ngữ âm hay là những yếu tố đưa đẩy cho câu nói Chúng cũng không phải là những yếu tố

chỉ có chức năng nhấn mạnh thêm, nhấn mạnh hiểu theo cái nghĩa chỉ là một dấu

hiệu thuần tuý hình thức, tuỳ tiện, chỉ khiến cho một cái gì vốn đã có được lưu ý thêm mà thôi

đủ nghiêm ngặt để phân giới các kiểu ý nghĩa đó Các thuật ngữ “ý nghĩa từ vựng”,

“ý nghĩa ngữ pháp” vẫn được hiểu theo những ý nghĩa rộng hẹp rất khác nhau

Những đặc điểm được xem là quan trọng hơn cả của ý nghĩa ngữ pháp, theo quan niệm hẹp của truyền thống ngôn ngữ học, thường được nhắc tới là: a) tính phi định danh, phi miêu tả của nghĩa, gắn với những kiểu phương tiện biểu hiện điển hình của nó là các hệ thống hình thái học, hư từ, trật tự từ (đương nhiên, không phải

Trang 40

38

hễ biểu hiện bằng các phương tiện đó thì là thuộc phạm vi ý nghĩa ngữ pháp); b) tính bắt buộc: ý nghĩa ngữ pháp tạo thành những thế đối lập hữu hạn, khép kín bên trong mỗi một phạm trù; trong giao tiếp mỗi đơn vị ngôn ngữ nằm trong phạm trù

đó, bắt buộc, phải xuất hiện gắn với một trong các ý nghĩa đối lập loại trừ nhau của

hệ thống ấy; do vậy, ý nghĩa ngữ pháp là cái nghĩa gắn với cả một lớp, một phạm trù các đơn vị đồng loại, và là bộ phận mang tính chất của một “biến”, hiểu theo nghĩa, việc gắn các đơn vị thuộc một lớp có ý nghĩa ngữ pháp nào đó với ý nghĩa ngữ pháp sẽ không làm thay đổi nội dung miêu tả, có tính vật chất, của đơn vị ấy

Đôi khi, người ta cũng nói rằng, ý nghĩa ngữ pháp, do các đặc trưng trên đây,

có thể diễn đạt thành những qui tắc tương đối chặt chẽ, không cần đưa vào miêu tả

- Ý nghĩa từ vựng của từ bao hàm 2 nhân tố: a) những nội dung có tính miêu

tả, khái niệm, gắn với bình diện định danh (bộ phận mang tính nghĩa học của nghĩa

từ vựng)

- Những nội dung thuộc tình thái, đánh giá, biểu cảm (nói chung là các nhân

tố nghĩa thuộc dụng học) mang tính cá thể của từ được phản ánh vào ngôn ngữ Đây cũng chính là những phần thuộc phạm vi nghĩa từ vựng của tiểu từ tình thái

Như vậy, ý nghĩa của các tiểu từ tình thái, về cơ bản, không thuộc phạm vi ý nghĩa ngữ pháp, chúng chứa những thông tin cá thể, riêng biệt là ý nghĩa mang tính từ vựng và có chức năng tình thái hóa câu nói, góp phần biểu đạt đích ngôn trung của phát ngôn và biểu thị thái độ, cách đánh giá khác nhau của người nói đối với thông báo, với hiện thực và với người đối thoại Những kiểu ý nghĩa tình thái mà tiểu từ tình thái cuối câu đảm nhiệm đều thuộc phạm vi của tình thái chủ quan

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Phụng (chủ biên, 1993), Tiếng Việt cho người nước ngoài, tập 1, Nxb ĐH&THCN, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt cho người nước ngoài
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
2. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
3. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt- từ loại, Nxb Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt- từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
5. Hoàng Phê (1994), Toán tử logic- tình thái, Tạp chí ngôn ngữ, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán tử logic- tình thái
Tác giả: Hoàng Phê
Năm: 1994
6. Khoa Tiếng Việt và văn hóa Việt nam cho người nước ngoài (1997), Tiếng Việt thực hành dùng cho người nước ngoài, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành dùng cho người nước ngoài
Tác giả: Khoa Tiếng Việt và văn hóa Việt nam cho người nước ngoài
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà nội
Năm: 1997
7. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa – ngữ dụng câu hỏi chính danh, Luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa – ngữ dụng câu hỏi chính danh
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1996
8. Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp (2001), Ngữ nghĩa- Ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt, Công trình khoa học cấp Đại học Quốc gia, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa- Ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt
Tác giả: Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2001
9. Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp (2003), Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học, Tạp chí ngôn ngữ, số 6 và số 7-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
Tác giả: Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2003
10. Lê Thị Hoài Dương (2001), Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt với vấn đề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Luận văn thạc sĩ, Đại học KHXH&NV, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt với vấn đề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Lê Thị Hoài Dương
Năm: 2001
11. Nguyễn Anh Quế (1989), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hư từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Anh Quế
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
12. Nguyễn Anh Quế (1996), Tiếng Việt cho người nước ngoài, Nxb Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Anh Quế
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
13. Nguyễn Hữu Trí (2001), Thực hành ngữ pháp tiếng Hán hiện đại, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành ngữ pháp tiếng Hán hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hữu Trí
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2001
14. Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1964
15. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1998), Thành phần câu tiếng Việt, Nxb Đại Học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
16. Nguyễn Thị Lương (1996), Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sƣ phạm I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: Đại học Sƣ phạm I Hà Nội
Năm: 1996
17. Nguyễn Văn Hiệp (2000), Một thử nghiệm về vai trò của ngữ nghĩa trong phân tích cú pháp (biểu hiện qua việc phân tích các nội dung tình thái của câu), T/c Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Số 3/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thử nghiệm về vai trò của ngữ nghĩa trong phân tích cú pháp (biểu hiện qua việc phân tích các nội dung tình thái của câu)", T/c "Khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2000
18. Nguyễn Văn Hiệp (2001a), Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt, Ngôn ngữ, Số 5/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt, Ngôn ngữ
35. 陈开举 (Chen KaiJu) (2002), 英汉会话中末尾标记语的语用功能分析 , 期刊论文 - 中北大学学报(社会科学版)。http://d.wanfangdata.com.cn/periodical_xdwy200203011.aspx Link
38. 方小燕 (Fang XiaoYan), 廣州方言句末語氣助詞 . http://www.bookssearching.com/search.php Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TỔNG HỢP DANH SÁCH CÁC TIỂU TỪ TTCC TIẾNG VIỆT - So sánh vai trò tạo lập nghĩa tình thái của các tiểu từ tình thái cuối câu trong tiếng Việt với các phương tiện tương đương trong tiếng Hán
BẢNG TỔNG HỢP DANH SÁCH CÁC TIỂU TỪ TTCC TIẾNG VIỆT (Trang 46)
Bảng tổng kết những nét tương đồng và dị biệt giữa TTTTCC tiếng Việt - So sánh vai trò tạo lập nghĩa tình thái của các tiểu từ tình thái cuối câu trong tiếng Việt với các phương tiện tương đương trong tiếng Hán
Bảng t ổng kết những nét tương đồng và dị biệt giữa TTTTCC tiếng Việt (Trang 119)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w