Còn trong văn chương, lối diễn đạt tinh tế và hình tượng hơn rất nhiều: “Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu Trỏ lối sang mùa hè Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu Thắp mùa đông ấm áp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
- -
TRẦN THỊ THÙY LINH
NGHIÊN CỨU THỦ PHÁP SO SÁNH TRONG TIỂU
THUYẾT CỦA CHU LAI VÀ LÊ LỰU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01
HÀ NỘI, 2008
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
- -
TRẦN THỊ THÙY LINH
NGHIÊN CỨU THỦ PHÁP SO SÁNH TRONG TIỂU
THUYẾT CỦA CHU LAI VÀ LÊ LỰU
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 12
Chương 1 12
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
1.1 Khái quát về tiểu thuyết hiện đại 12
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết hiện đại 12
1.1.2 Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại 15
1.2.Khái quát về phép so sánh 17
1.2.1 Khái niệm so sánh và cấu trúc của phép so sánh 17
1.2.2 Các kiểu quan hệ so sánh 28
1.2.3 Quan niệm của luận văn 33
Chương 2 38
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI – CẤU TRÚC CỦA PHÉP SO SÁNH VÀ CÁC KIỂU SO SÁNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN 38
CHU LAI VÀ LÊ LỰU 38
2.1 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của phép so sánh 38
2.1.1 Đặc điểm hình thái - cấu trúc của vế cần được so sánh (A) 38
2.1.2 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của yếu tố thể hiện quan hệ so sánh 44
2.1.3 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của vế được đem ra làm chuẩn để so sánh (B) 51
2.2 Phân loại các kiểu so sánh 58
2.2.1 Dựa vào cấu trúc 58
2.2.2 Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa vế A và vế B 61
2.2.3 Dựa vào trường ngữ nghĩa của yếu tố đưa ra làm chuẩn để so sánh 66
2.2.4 Dựa vào mục đích so sánh 75
Chương 3 82
GIÁ TRỊ CỦA PHÉP SO SÁNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN CHU LAI VÀ LÊ LỰU 82
3.1 Phép so sánh với giá trị nhận thức 82
3.1.1 Nhận xét chung 82
3.1.2 Vai trò của ngôn cảnh trong việc tạo dựng giá trị nhận thức 84
3.1.3 Giá trị nhận thức trong tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu 86 3.2 Phép so sánh với giá trị gợi cảm 92
Trang 43.3 So sánh như là yếu tố tạo nên phong cách tác giả 94
3.3.1 Phong cách nhà văn Chu Lai 95
3.3.2 Phong cách nhà văn Lê Lựu 99
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đã từ lâu, khi nêu lên các chức năng cơ bản của ngôn ngữ, tất cả các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất khi cho rằng đó là phương tiện để giao tiếp và là công cụ của tư duy Tuy nhiên, còn một chức năng đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ ít được các nhà nghiên cứu lưu tâm là chức năng thẩm mĩ Chức năng này tồn tại trong mọi hình thức diễn đạt của lời nói hàng ngày của nhân dân, đặc biệt cô đúc và phong phú trong ngôn ngữ văn chương Do đó, ngôn ngữ văn chương đã trở thành môi trường lí tưởng để các nhà ngôn ngữ học, văn học… khai thác và tìm hiểu “tận gốc rễ” chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ Chức năng này hòa vào chức năng thông tin để tăng mức độ hấp dẫn và sức thuyết phục cho thông tin
Nhận biết được tầm quan trọng của chức năng này, những năm đầu thập niên 70 của thế kỉ XX, nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson (1896 – 1982) thuộc trường phái ngôn ngữ học Praha đã dành cho chức năng này một
sự chú ý đặc biệt trong bài viết bàn về Thi pháp học (poétique) Nhờ chức năng này ngôn ngữ đã trở thành yếu tố đầu tiên và là chất liệu duy nhất trong các tác phẩm văn chương Đồng thời, thông qua chức năng này nhà văn đã xây dựng được các hình tượng nghệ thuật và nhờ đó truyền tải được những điều mong muốn đến độc giả
Những nhà văn nổi tiếng là những nghệ sĩ bậc thầy về tiếng nói và tạo dựng cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng Nhưng để có được điều này thì người nghệ sĩ bên cạnh việc có một vốn sống phong phú, một trình độ văn hóa cao họ còn phải luôn luôn làm mới cách diễn đạt của mình thông qua những phương tiện và thủ pháp nghệ thuật, đặc biệt là thủ pháp so sánh Hiện nay trong lời nói hàng ngày cũng như trong các tác phẩm văn chương thủ pháp này đã được sử dụng rất nhiều và trở nên quen thuộc Chúng ta thường
Trang 6nghe thấy trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân những kiểu so sánh
như “xấu như Thị Nở”, “như Chí Phèo”, “như Sở Khanh” Còn trong văn
chương, lối diễn đạt tinh tế và hình tượng hơn rất nhiều:
“Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trỏ lối sang mùa hè
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp mùa đông ấm áp những đêm thâu
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu
Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng”
(Lửa đèn – Phạm Tiến Duật)
Còn nhà thơ Anh Thơ trong bài Tiếng chim tu hú thì so sánh
“Quả bắt đầu chín lự
Ngọt như nỗi nhớ nhà”
Chính vì thủ pháp so sánh đã trở nên quen thuộc với mọi người và được các nhà văn, nhà thơ sử dụng nhiều trong quá trình sáng tạo nghệ thuật nên cần được nghiên cứu một cách có hệ thống để làm nổi bật giá trị nhận thức, giá trị thẩm mĩ của phương tiện tu từ ngữ nghĩa này
1.2 Lí thuyết thủ pháp so sánh đã được nhắc đến nhiều ở những địa hạt khác nhau của ngôn ngữ học nhưng những người quan tâm đến thủ pháp này dường như vẫn cảm thấy thiếu vì các nghiên cứu mới chỉ dừng ở nghiên cứu
lí thuyết mà chưa đi sâu vào nghiên cứu giá trị của thủ pháp này trong các tác phẩm nghệ thuật
Thời gian gần đây, cũng có một số công trình đi vào nghiên cứu thủ pháp này trong ca dao, trong truyện ngắn hiện đại Tuy nhiên, nghiên cứu thủ pháp so sánh trong tiểu thuyết hiện đại hiện vẫn còn bỏ ngỏ và nếu có thì các nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ trích dẫn các câu có thủ pháp so sánh để minh họa cho các nghiên cứu về mặt lí thuyết Chính vì vậy chúng tôi
đã chọn đề tài này
Trang 71.3 Chu Lai và Lê Lựu là hai nhà văn lớn trong thời kì đổi mới, tác phẩm của hai ông đã tạo được chỗ đứng vững vàng trong lòng độc giả và được nhiều lĩnh vực quan tâm Gần đây, nghệ thuật thứ bảy đã đặc biệt chú ý đến các tác phẩm của hai nhà văn này Họ đã chuyển thể những tác phẩm của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu thành những kịch bản phim nổi tiếng và được
đông đảo sự quan tâm như: Bộ phim Người Hà Nội được chuyển thể từ tiểu thuyết Phố của nhà văn Chu Lai, bộ phim Ăn mày dĩ vãng được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Lai hay bộ phim Thời xa vắng cũng
được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Lê Lựu và tác phẩm
Sóng ở đáy sông cũng được chuyển thành bộ phim cùng tên…
Vì tất cả các lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thủ
pháp so sánh trong tiểu thuyết của Chu Lai và Lê Lựu” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Lịch sử nghiên cứu phương thức nghệ thuật trong văn thơ nói chung và thủ pháp so sánh nói riêng gắn liền với tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại Aristotle (384-322 TCN) Dựa vào ngữ liệu thơ
ca Hy Lạp, Aristotle nhận thấy rằng cách thay đổi từ ngữ mang tính chất tâm
lí dựa trên quan hệ liên tưởng, đối chiếu sẽ có tác dụng tăng cường khả năng diễn đạt và nâng cao hiệu lực của lời nói Lối nói này được gọi theo tiếng La tinh là Figura (ngữ hình), nghĩa là hình thức bóng bảy Truyền thống ngữ văn sau này gọi cách sử dụng ngôn từ này là tu từ, mĩ từ pháp hay hình thể ngôn
từ
Trong một chuyên luận của mình, Aristotle đã tổng kết các Figura chủ yếu, có tính phổ dụng trong đó có thủ pháp so sánh, đặc biệt đắc dụng trong thơ ca để tăng hiệu lực nhận thức cho người tiếp nhận văn bản nghệ thuật
Ở Trung Hoa cổ đại, thời kì trước Aristotle, tư tưởng về so sánh (bên cạnh đó còn có ẩn dụ) được bộc lộ qua lời của các nhà chú giải cổ đại về phạm trù được gọi là tỉ và hứng Trong các công trình nghiên cứu, các học giả
Trang 8Trung Hoa thường dùng khái niêm thể tỉ, hứng như một phương thức nghệ thuật để chỉ cách nói ví von, bóng gió
Cùng thời kì này ở Việt Nam chưa có chứng tích gì về sự nghiên cứu này mà phải đợi đến năm 1958 khi Bộ môn Tu từ học chính thức được đưa vào giảng dạy ở bậc đại học thì tên gọi thủ pháp so sánh mới ra đời
Bộ môn Tu từ học ra đời đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu các biện pháp tu từ trong đó thủ pháp so sánh được sâu hơn So sánh là một cách nói sinh động hơn ngôn ngữ bình thường và thường để gợi cảm xúc, ý tưởng bằng
sự chính xác hay độc đáo của nó
Đối với các nhà ngôn ngữ học thì về bản chất, thủ pháp so sánh là sự
vận dụng quy tắc để tạo nên sự biểu đạt tốt, có hiệu lực (Cù Đình Tú, Lê Hiền,
Nguyễn Nguyên Trứ); nó cũng là cách để công khai đối chiếu hai đối tượng có
một dấu hiệu chung nào đó nhằm biểu hiện một cách hình tượng phẩm chất
bên trong của đối tượng (Nguyễn Thái Hòa), là một phương pháp biểu hiện
làm cho lời nói vừa gãy gọn, rõ ràng vừa cụ thể, sinh động có thể mang tới cho hình tượng hoặc khái niệm một cách hiểu, một sắc thái ý nghĩa theo ý
mình (Đinh Trọng Lạc) và là một phương tiện để nhận thức chứ không phải
để diễn đạt, nó cung cấp cho ta những liên hệ mới mẻ, làm giàu có đời sống
tinh thần (Hà Quang Năng)
Còn đối với các nhà nghiên cứu văn học thì so sánh là một hiện tượng
ngôn ngữ văn chương (Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Phương Lựu), là yếu tố của thể loại, của kết cấu văn học (Jakobson, Bakhtin, Kravchenko…) hoặc là một phạm trù tồn tại của hình tượng (Trần Đình Sử, Bùi Ngọc Trác)
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Đồng thời, qua phương pháp này chúng tôi cũng mở rộng được vấn đề nghiên cứu khi đem đối chiếu những so sánh mà hai nhà văn sử dụng với những so sánh trong truyện ngắn và ca dao
3.2 Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng xuyên suốt trong luận văn Phương pháp này giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu mặt nghĩa, mặt cấu trúc của các so sánh
3.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp thống kê, phân loại là thủ pháp đầu tiên được chúng tôi sử dụng khi tiến hành làm luận văn Thủ pháp này giúp chúng tôi có được tư liệu cho việc phân tích, miêu tả, nhận xét và đánh giá về thủ pháp so sánh được sử dụng trong các tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu
3.4 Thủ pháp phân tích cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tổ hợp các thủ pháp trên giúp chúng tôi nêu bật được các kiểu so sánh được sử dụng trong các tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu Thông qua đó, luận văn sẽ làm nổi bật giá trị nhận thức, giá trị gợi cảm mà thủ pháp này đem lại cho người tiếp nhận văn bản nghệ thuật Đồng thời, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn thế giới quan, nhân sinh quan của mỗi nhà văn thông qua cái được
so sánh và cái đem ra làm chuẩn để so sánh
3.5 Thủ pháp quy nạp
Thủ pháp này cho phép chúng tôi bắt đầu từ những số liệu thống kê thông qua các thao tác phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ cảnh đi đến các kết luận về đặc điểm hình thái – cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa, các kiểu loại của thủ pháp so sánh cùng các giá trị về mặt nhận thức, thẩm mĩ và tạo dấu ấn phong cách tác giả
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các thao tác cải biến để thấy rõ giá trị nghệ thuật của thủ pháp
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 10Thủ pháp so sánh với tư cách là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa sẽ được chúng tôi nghiên cứu dưới góc độ của ngôn ngữ học và phong cách học từ đó xác định khái niệm, sau đó tiến hành phân tích đặc điểm hình thái - cấu trúc, phân loại các kiểu so sánh xuất hiện trong tư liệu luận văn khai thác và cuối cùng nêu bật giá trị của thủ pháp này trong tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và
2 Vòng tròn bội bạc (2003), Nxb Hội nhà văn
3 Ăn mày dĩ vãng (2006), Nxb Hà Nội
4 Phố (2006), Nxb Hà Nội
5 Ba lần và một lần (2004), Nxb Hội nhà văn
6 Út Teng (2004), Nxb Hội nhà văn
* Có 4 cuốn tiểu thuyết của nhà văn Lê Lựu với tổng số trang khảo sát
là 1479:
1 Thời xa vắng (2002), Nxb Hội nhà văn
2 Chuyện làng Cuội (2003), Nxb Văn học
3 Sóng ở đáy sông (2003), Nxb Hải Phòng
4 Hai nhà (2006), Nxb Thông tin
5 Mục đích của luận văn
5.1 Khát quát về lí thuyết so sánh để xác định giá trị của biện pháp tu
từ ngữ nghĩa này trong văn chương Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra một
số vấn đề lí thuyết về tiểu thuyết như: khái niệm tiểu thuyết, đặc trưng ngôn ngữ của tiểu thuyết Điều này sẽ giúp cho người tiếp nhận có cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết trong thời kì đổi mới
Trang 115.2 Khảo sát tần số xuất hiện và tiến hành thống kê, phân loại, miêu tả, phân tích đặc điểm hình thái – cấu trúc và phân loại cấu trúc so sánh trong các tiểu thuyết tiêu biểu của hai nhà văn Chu Lai và Lê Lựu
5.3 Trên cơ sở kết quả khảo sát được luận văn sẽ làm nổi bật giá trị của thủ pháp nghệ thuật này trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, nâng cao khả năng nhận thức, năng lực thẩm mĩ cho người tiếp nhận và nêu bật giá trị của thủ pháp nghệ thuật trong việc tạo dấu ấn phong cách tác giả
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về mặt lí luận
Luận văn góp thêm một tiếng nói cụ thể vào việc nghiên cứu giá trị của phương tiện tu từ ngữ nghĩa, đặc biệt là thủ pháp so sánh trong các tác phẩm nghệ thuật theo cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ học - văn học - phong cách học
6.2 Về mặt thực tiễn
Với cách tiếp cận liên ngành, luận văn sẽ đem đến cho các nhà ngôn ngữ học những minh chứng soi sáng cho lí thuyết tu từ học nói chung và thủ pháp so sánh nói riêng Đối với các nhà phong cách học, luận văn sẽ góp thêm
tư liệu cho việc nghiên cứu phong cách của hai nhà văn là Chu Lai và Lê Lựu Ngoài ra, luận văn cũng mở ra một hướng mới trong cách tiếp cận các tác phẩm nghệ thuật - đi từ thủ pháp nghệ thuật được sử dụng Điều này tránh được lối mòn của cách tiếp cận truyền thống, chỉ chú trọng phân tích nội dung của văn bản nghệ thuật Với cách tiếp cận mới này, người giảng dạy văn học vừa nâng cao năng lực cảm thụ của người học, vừa nâng cao chất lượng giảng dạy
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Trang 12Nhiệm vụ của chương này là xác định các khái niệm tiểu thuyết, đặc trưng ngôn ngữ của tiểu thuyết Điều này giúp người tiếp nhận nhận diện và phân biệt được tiểu thuyết với truyện dài
Trong chương một, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến các quan niệm của giới nghiên cứu về so sánh và đưa ra quan niệm của luận văn về phép so sánh làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở các chương tiếp theo Ngoài ra, trong chương này chúng tôi cũng nêu lên hướng tiếp cận so sánh theo lí thuyết của cấu trúc thông báo
Đây là chương có tính lí luận làm nhiệm vụ định hướng cho toàn bộ luận văn, làm tiền đề để khảo sát, thống kê, phân loại, miêu tả các kiểu so sánh ở các chương tiếp theo
Chương 2: Đặc điểm hình thái – cấu trúc và các kiểu so sánh trong một
số tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu
Chương này có 2 nhiệm vụ: thứ nhất là phân tích đặc điểm hình thái - cấu trúc của các yếu tố trong cấu trúc so sánh; thứ hai là tiến hành phân loại các kiểu so sánh dựa vào: cấu trúc so sánh, quan hệ ngữ nghĩa giữa cái cần so sánh và cái được dùng làm chuẩn để so sánh, mục đích của so sánh và đặc điểm ngữ nghĩa trong cái được dùng làm chuẩn để so sánh
Chương 3: Giá trị của thủ pháp so sánh trong một số tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu
Dựa trên các kết quả của chương 2 và cơ sở lí thuyết ở chương 1, chương 3 có nhiệm vụ làm nổi bật giá trị nhận thức, giá trị thẩm mĩ và phong cách của hai nhà văn Chu Lai và Lê Lựu
Phần cuối của Luận văn là danh sách các tư liệu dùng để khảo sát, danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Quy ước
Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai (CL) : Tiểu thuyết 1
Trang 13Ba lần và một lần - Chu Lai
Nắng đồng bằng - Chu Lai
Phố - Chu Lai
Vòng tròn bội bạc - Chu Lai
Út Teng - Chu Lai
Chuyện làng Cuội – Lê Lựu (LL)
Hai nhà – Lê Lựu
Sóng ở đáy sông – Lê Lựu
Thời xa vắng – Lê Lựu
: Tiểu thuyết 2 : Tiểu thuyết 3 : Tiểu thuyết 4 : Tiểu thuyết 5 : Tiểu thuyết 6 : Tiểu thuyết 7 : Tiểu thuyết 8 : Tiểu thuyết 9 : Tiểu thuyết 10
Trang 14NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát về tiểu thuyết hiện đại
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết hiện đại
Như chúng ta đã biết so với các thể loại văn học: sử thi, thơ ca, kịch… thì văn xuôi xuất hiện trên văn đàn nghệ thuật muộn nhất Trong văn xuôi, tiểu thuyết với những đặc trưng thể loại riêng lại ra đời muộn hơn cả, đặc biệt
là ở Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu, những mầm mống sơ khai của tư duy tiểu thuyết manh nha từ trong những sáng tác văn xuôi cổ xưa của thế kỉ XIV-XVI Tuy nhiên phải đến những năm 20 của thế kỉ XX ở Việt Nam mới xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết với đầy đủ ý nghĩa của nó và người mở đầu thực sự cho tiểu thuyết hiện đại được xem là Hoàng Ngọc Phách với tác
phẩm Tố Tâm Sau này khi khảo sát nguồn gốc của tiểu thuyết Bêlinxki đã khẳng định “tiểu thuyết bắt đầu hình thành từ khi vận mệnh của con người,
mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức” Chính nguồn gốc
này nó đã quy định đặc trưng thể loại của tiểu thuyết Đó là ngoài khả năng tái hiện bức tranh mang tính tổng thể của đời sống xã hội, khả năng đi sâu khám phá số phận cá nhân cũng là một phẩm chất tiêu biểu của tiểu thuyết Vậy tiểu thuyết là gì?
Xung quanh việc định nghĩa tiểu thuyết có nhiều ý kiến khác nhau tùy thuộc vào điểm nhìn của mỗi nhà lí luận Có người cho rằng tiểu thuyết chỉ là một câu chuyện về yêu đương, không có nút tình yêu thì không có tiểu thuyết
Người khác lại quan niệm “tiểu thuyết là một thể loại văn học để “tiêu
khiển”, để làm cho người đọc “quên mình đi” trong chốc lát (Vũ Bằng, Khảo
về tiểu thuyết)
Sau này, cũng có nhiều cách hiểu về tiểu thuyết hoàn toàn không phiến
Trang 15diện, không xuyên tạc bản chất tiểu thuyết nhưng lại xem tiểu thuyết là một cái gì đó không thể giải thích được, hoàn toàn không thể cắt nghĩa nổi Chẳng
hạn như Andrew Michael Roberts trong cuốn Tiểu thuyết - Từ nguồn gốc đến
hôm nay do nhà xuất bản Bloomsbury phát hành năm 1993 đã đưa ra hai cách
hiểu tiểu thuyết Theo đó, hiểu một cách khát quát thì “Tiểu thuyết là một thể
loại trần thuật có hư cấu được mở rộng, dưới dạng văn viết” Tuy nhiên, theo
giáo sư Phan Cự Đệ thì cách hiểu này rộng quá, rộng đến mức bao gồm trong
đó cả sử thi Odysée của Homère, thiên tình ca đầy chất thơ Troilus và Criseyde của Chaucer và cả vở Hài kịch thần thánh của Dante… Bên cạnh đó,
Andrew Michael Roberts cũng đưa ra một cách hiểu hẹp về tiểu thuyết: “Tiểu
thuyết là một thể loại trần thuật có hư cấu bằng văn viết, xuất hiện vào hồi đầu thế kỉ XVIII, có đặc điểm là quan tâm nhiều đến cốt truyện, là một hiện thực tâm lí hay xã hội trong một chừng mực nào đó và thường xuất hiện những yếu tố bình luận đạo đức, chính trị và xã hội”
Mặc dù các nhà lí luận đã cố gắng đưa ra một định nghĩa toàn diện và phản ánh đúng nhất bản chất tiểu thuyết, nhưng theo nhà lí luận văn học Phan
Cự Đệ thì các định nghĩa trên vẫn còn nhiều hạn chế Như chúng ta đã nói, tiểu thuyết là một thể loại hãy còn rất trẻ (ra đời vào những năm 20 của thế kỉ XX) và đang phát triển Nó là một thể loại còn uyển chuyển, mềm dẻo và dường như không bị đóng khung trong những quy phạm chật hẹp như một số
thể loại khác Và theo Mikhain Bakhtin thì tiểu thuyết là “Một thể loại luôn
luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả những hình thức đã thành hình của mình Một thể loại như vậy chỉ có thể được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển” Nói như
thế không có nghĩa là chúng ta không thể đưa ra một định nghĩa về tiểu thuyết Tuy vậy, việc đưa ra định nghĩa tiểu thuyết phải bám sát vào bản chất
và các đặc trưng thẩm mĩ của thể loại văn học này Và để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một cách hiểu như sau về tiểu thuyết:
Trang 16Tiểu thuyết là một hình thức kể chuyện cỡ lớn có khả năng phản ánh được cả một thời đại lịch sử nhân loại Hay nói một các rõ hơn thì: Tiểu thuyết là thể loại tự sự có quy mô lớn đối lập với các thể loại khác ở cách tiếp cận đời thường, không có khoảng cách Tiểu thuyết là hình thức tự sự phong phú nhất thể hiện ở số lượng nhân vật nhiều nhất, cốt truyện phức tạp nhất, ngôn từ đa dạng nhất, bối cảnh rõ nét nhất đáp ứng nhu cầu ý thức về cuộc sống con người trong tất cả mọi chiều kích
Nhờ những đặc trưng thể loại:
1- Là một hình thức kể chuyện cỡ lớn
2- Gần gũi nhất với cuộc sống đời thường
3- Có khả năng phản ánh được cả một thời đại lịch sử nhân loại
nên nghiên cứu tiểu thuyết, đặc biệt là nghiên cứu thủ pháp nghệ thuật so sánh, chúng ta sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh xã hội nó phản ánh, về cách nghĩ của một lớp người và thế giới quan của người sáng tác Bởi như chúng ta đã biết, người sáng tác không chỉ đứng ở cương vị một thư kí trung thành của thời đại mà họ luôn phản ánh hiện thực thông qua lăng kính chủ quan của mình, thổi hồn mình vào trong các tác phẩm nghệ thuật với mong muốn làm phong phú đời sống tinh thần của người tiếp nhận văn bản nghệ thuật, làm mới nhận thức của họ Hay nói cách khác, trong tiểu thuyết hiện đại, nhà văn đã sáng tạo nên trong tác phẩm của mình một cuộc sống tự
nó trôi theo dòng, tồn tại một cách độc lập, khách quan đối với tác giả Nhưng người viết tiểu thuyết không làm công việc của một người thợ ảnh tầm thường, không chụp ảnh cuộc sống, sao chép cuộc sống một cách máy móc
mà cuộc sống trong tiểu thuyết được nghệ thuật hóa qua lăng kính, qua cảm quan của nhà văn Do vậy, tiểu thuyết ngày càng thu hút sự quan tâm của người đọc và có nhà nghiên cứu đã nói rằng thế kỉ này là thế kỉ mà tiểu thuyết
sẽ nắm vai trò chủ đạo trong văn học nghệ thuật Nghiên cứu tiểu thuyết dưới góc độ ngôn ngữ học sẽ giúp cho việc cảm nhận cái tài của tác giả, cái hay,
Trang 17cái đặc sắc của tác phẩm có cơ sở rõ ràng
Chúng ta có thể lấy tác phẩm Sóng ở đáy sông của nhà văn Lê Lựu làm
ví dụ Tác phẩm ra đời dựa trên một câu chuyện có thật về cuộc đời của một con người trong xã hội cũ Câu chuyện về nhân vật Núi xuyên suốt từ thời chiến tranh cho đến thời kì hậu chiến Qua đó, nhà văn đã mang đến cho độc giả những kiến thức xã hội, lịch sử nhất định Chính vì vậy, câu chuyện càng trở nên có ý nghĩa Lúc này, người ta đọc nó không chỉ để tiêu khiển mà đọc
để chiêm nghiệm, để hiểu hơn quá khứ Đặc biệt đối với ai đã từng đi qua thời
kì lịch sử này đều tìm thấy trong câu chuyện này một cái gì đó thật gần gũi với mình
1.1.2 Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại
Chúng ta không thể nghiên cứu ngôn ngữ tiểu thuyết tách rời ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ nghệ thuật nói chung Bởi vì những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật cũng là những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ tiểu thuyết
Trong câu chuyện hàng ngày và trong các tác phẩm khoa học ngôn ngữ không có tính nghệ thuật Ngôn ngữ trong những trường hợp này chỉ nhằm mục đích thông tin, truyền đạt điều gì đó một cách chính xác Ngôn ngữ nghệ thuật lại khác, nó đi từ sự thông tin đến sự sáng tạo Nó không chỉ nhằm mục đích thông báo một sự kiện mà còn phải tái tạo lại cuộc sống một cách toàn vẹn, cụ thể và sinh động trong những hình tượng nghệ thuật Ngôn ngữ đó đồng thời cũng mang dấu ấn của cá tính và phong cách nghệ sĩ rất rõ
Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong sự phối hợp giữa các
từ sao cho mỗi từ ngoài các biểu tượng trực tiếp của nó ra còn kéo theo cả một loạt biểu tượng khác đột khởi lên trong tâm hồn người đọc Để đạt được điều trên, các nhà văn đã vận dụng triệt để mọi phương tiện biểu hiện trong ngôn ngữ học trong đó không thể không kể đến thủ pháp so sánh Thủ pháp so
sánh góp phần mang lại cho ngôn ngữ nghệ thuật tính gãy gọn, rõ ràng, cụ thể
Trang 18và sinh động Đối với các độc giả, để hiểu hết nhiều tầng ý nghĩa của ngôn
ngữ nghệ thuật chúng ta phải phối hợp các kiến thức liên ngành
Trong tiểu thuyết, các hình thức tổ chức ngôn ngữ được kết hợp xen kẽ nhau: độc thoại nội tâm và độc thoại của các nhân vật, các loại ngôn ngữ khác nhau của người kể chuyện… Chính đặc điểm này đã đem lại cho tiểu thuyết khả năng phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn nhất với tất cả tính chất sinh động, phức tạp, nhiều màu nhiều vẻ của nó Trong tiểu thuyết chúng ta có thể bắt gặp mọi thứ trong cuộc đời: những vấn đề triết học, văn nghệ, chính trị, quân sự, kinh tế, đạo đức… Nhiều nhà phê bình thường ví những tiểu thuyết lớn như những cuốn bách khoa của đời sống Nói tóm lại, tiểu thuyết là một hình thức kể chuyện cỡ lớn có khả năng phản ánh được cả một thời đại lịch sử của nhân loại Nhờ đặc điểm này khi nghiên cứu tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu chúng ta sẽ hiểu rõ hơn cuộc sống, cách suy nghĩ của lớp người thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước và lối tư duy của người dân những năm đầu thời kì đổi mới
Trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, nhà văn Chu Lai với thủ pháp đồng
hiện, gần như là một sự đối chiếu những năm tháng đánh Mĩ ác liệt của những người lính anh hùng ở phân khu miền Đông ven đô Sài Gòn với thời buổi kinh tế thị trường, “thời buổi thiên hạ đang tự thoát xác để lao vào làm ăn” chụp giật, cạnh tranh, cá lớn nuốt cá bé… tác giả đem đến cho độc giả cái nhìn toàn diện về một giai đoạn của lịch sử dân tộc Đồng thời, tác giả cũng đi vào miêu tả từng ngõ ngách của tâm hồn, của số phận để từ đó thấy được số phận của những người anh hùng sau chiến tranh trở về đã thay đổi một cách
kì lạ như thế nào Đặc biệt là những suy nghĩ của nhân vật chính – Hai Hùng Cách nghĩ, cách nhìn cuộc đời của anh một phần nào đó chính là của nhà văn Qua đây chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới quan của tác giả
Qua ví dụ trên, chúng ta cũng đồng thời thấy được khả năng giàu tính tạo hình của ngôn ngữ nghệ thuật Lúc này, ngôn ngữ nghệ thuật có nhiệm vụ
Trang 19miêu tả một cách chính xác những đối tượng được phản ánh Bằng ngôn ngữ nghệ thuật, nhà văn có thể trực tiếp tác động đến người đọc làm cho họ cảm giác được nhân vật một cách vật chất Chưa bao giờ nghệ thuật lại gần với cuộc sống như trong tiểu thuyết hiện đại
1.2.Khái quát về phép so sánh
1.2.1 Khái niệm so sánh và cấu trúc của phép so sánh
So sánh là một thao tác của tư duy Đó là thao tác đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa chúng Từ đó ai cũng công nhận giá trị nhận thức của so sánh và điều này liên quan đến việc tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của phép so sánh theo cấu trúc thông báo mà chương tiếp sau chúng tôi sẽ đề cập tới
Nói tới phép so sánh, các nhà nghiên cứu bao giờ cũng phân biệt rõ ràng giữa so sánh tu từ và so sánh so sánh logic Cơ sở của so sánh logic dựa
trên tính đồng chất, đồng loại của các sự vật, hiện tượng, ví dụ: Cô Lan cao
bằng cô Huệ ; Nhà này cao bằng nhà kia Còn cơ của phép so sánh tu từ
chính là tính khác biệt về chất và về loại giữa các sự vật, hiện tượng được đem ra so sánh Chính điều này đã làm nên tính hình tượng, tính biểu cảm cho
Trang 20Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi chỉ xin đề cập tới so sánh tu từ
Những trình bày về so sánh của các tác giả bên cạnh những điểm chung cũng có những điểm khác nhau nhất định Điểm khác nhau chủ yếu là việc đưa ra những mô hình so sánh
Trong cuốn giáo trình Phong cách học tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa đã định nghĩa về so sánh như sau: “So sánh là
phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn
là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [9,
tr189] Theo các tác giả này, hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố sau:
- Cái cần được so sánh, kí hiệu là (A)
tua tủa hồn nhiên
to
như như bằng
Dây kẽm gai cây cỏ
cái đình Khát quát lên chúng ta sẽ có mô hình cấu trúc so sánh đầy đủ là:
A (t) tss B
Tuy nhiên, trên thực tế, tùy từng trường hợp người ta có thể đảo trật tự
so sánh hoặc bớt một số yếu tố trong mô hình Cụ thể ta có 5 biến thể của mô hình cấu trúc so sánh trên:
1 Đảo trật tự so sánh: (t) A tss B
Ví dụ:
Trang 21“Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái như ai không chồng”
(Tố Hữu)
Trang 22Bàn về thủ pháp so sánh, Nguyễn Thế Lịch trong bài viết “Các yếu tố
và cấu trúc của so sánh nghệ thuật” đăng trên Số phụ Tạp chí ngôn ngữ số 1,
1988 đã đưa ra một định nghĩa như sau: “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật ra đối chiếu về một mặt nào đó với một sự vật khác khác loại nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểu sự vật đưa ra đó dễ dàng hơn” Như vậy, theo tác giả Nguyễn Thế Lịch điều kiện để
một so sánh tu từ tồn tại là hai sự vật đem ra đối chiếu phải khác loại Tác giả cũng đưa ra một cấu trúc so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố giống như Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa
- Yếu tố cần so sánh hay còn gọi là yếu được/bị so sánh (YTĐ/BSS) – (A)
- Yếu tố biểu thị phương diện so sánh (YTPDSS) - (t)
- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH) - (tss)
- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS) – (B)
Mô hình cấu trúc so sánh (CTSS) hoàn chỉnh:
Đặc điểm của từng yếu tố được tác giả Nguyễn Thế Lịch trình bày cụ thể như sau:
* Đối với yếu tố được so sánh, về nguyên tắc bất luận là sự vật, hiện tượng gì cũng có thể đem ra so sánh
Trang 23(Ca dao)
- So sánh thuộc tính:
“Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
* Với yếu tố phương diện, Nguyễn Thế Lịch cho rằng, trong CTSS nó có vai trò xác định ý nghĩa của so sánh, thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị, thuộc tính này là thuộc tính tiêu biểu của sự vật mà yếu
tố so sánh biểu thị Đối với cấu trúc so sánh vắng YTPD phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa YTĐSS và YTSS, từ đó mới có thể xác định được là đã so sánh về phương diện nào
* Yếu tố quan hệ được xem như là đơn giản nhất trong CTSS Nó bao gồm các từ so sánh, từ “là” và cặp từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu” Các từ so
sánh được dùng phổ biến nhất là: như, tựa, như là, như thể, chừng như, tựa
như, hồ như…
Ví dụ:
“Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau”
(Ca dao)
Từ là trong CTSS có giá trị tương đương từ như Tuy nhiên, trong CTSS nó đem đến cho cấu trúc này sắc thái khẳng định khác với CTSS có từ như mang
sắc thái giả định
Trang 24Ví dụ: “Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông mát lấp loáng”
(Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương)
Các cặp từ có quan hệ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu
Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào một so sánh cũng hội tụ cả 4 thành phần trên Theo quan sát của tác giả Nguyễn Thế Lịch, có 4 CTSS không hoàn chỉnh Cụ thể:
* Vắng yếu tố phương diện
“Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau”
(Ca dao)
* Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ
“Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt”
(Xuân Diệu, Lời kĩ nữ)
Trang 25Theo tác giả, cấu trúc này đã tạo ra vô vàn các thành ngữ so sánh kiểu: cao như núi, ngọt như mía lùi, dễ như trở bàn tay, mềm như bún, đỏ như son… Cấu trúc so sánh này giúp cho việc tiếp nhận trở nên dễ dàng vì phương diện so sánh được nói ra thành lời rõ ràng Nói chung, những so sánh loại này rất chân phương
* Vắng yếu tố bị/được so sánh và yếu tố phương diện
“Như diều gặp gió”
“Như nước vỡ bờ”
(Thành ngữ) Với CTSS này, gánh nặng ngữ nghĩa dồn cả vào yếu tố đem ra làm chuẩn để so sánh Vì thế yếu tố này phải do một ngữ chứ không phải một từ thể hiện
Cũng đề cập tới thủ pháp so sánh, tác giả cuốn giáo trình Phong cách
học tiếng Việt hiện đại, Nguyễn Hữu Đạt, đã đưa ra một định nghĩa về so sánh
như sau: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan
hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng” [19,
tr294] Về thực chất, phép so sánh tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của
sự vật hay hiện tượng này giải thích cho thuộc tính, tình trạng của sự vật khác
Mô hình khái quát của phép so sánh:
A – X – B
A: cái chưa biết được đem ra so sánh
B: cái đã biết được đem ra để so sánh
X: phương tiện so sánh được biểu thị bằng các từ: như, giống như, là, như là,
Trang 26(a) Đẹp như tiên (Thành ngữ)
(b) Rách như tổ đỉa (Thành ngữ)
(c) Gái thương chồng đương đông buổi chợ
Trai thương vợ nắng quái chiều hôm
(Ca dao)
Ở ví dụ (a), (b) là phép so sánh có X còn ví dụ (c) là phép so sánh không có X Theo tác giả, đối với những trường hợp thiếu từ thể hiện quan hệ
so sánh kiểu này chúng ta có thể phục hồi được một cách dễ dàng, chẳng hạn như:
“Gái thương chồng như buổi chợ đông Trai thương vợ như nắng quái buổi chiều hôm”
Về việc có mặt yếu tố thể hiện quan hệ so sánh X hay vắng X theo tác giả đều nằm trong dụng ý của người viết, yêu cầu của thể loại và một phần do yêu cầu của tính chất vần điệu
Qua phần trình bày trên, chúng ta đã nhận thấy sự khác nhau trong mô hình cấu trúc so sánh của tác giả Hữu Đạt và các tác giả đi khác Đó là sự thiếu vắng yếu tố chỉ phương diện so sánh Điều này đã khiến cho cấu trúc so sánh mà tác giả đưa ra chỉ có 3 yếu tố Và biến thể của cấu trúc này chỉ có 2 loại là:
Trang 27nó vào nhóm của những phương thức chuyển nghĩa là ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa và một phần nào đó trong các phương thức tượng trưng, liên dụ, phúng
dụ Mặc dù, ông cũng khẳng định rằng về thực chất thì so sánh không phải là chuyển nghĩa song nó lại là cơ sở của nhiều phương thức chuyển nghĩa nên nó vẫn được coi là phương thức chuyển nghĩa Ông đã đưa ra định nghĩa về so
sánh như sau: “So sánh tu từ là công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng
có cùng một dấu hiện chung nào đó (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh, đặc điểm của đối tượng”
Ví dụ:
“Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”
(Ca dao)
Ở đây phẩm chất bên trong của đối tượng cần được làm sáng rõ là thái
độ kiên định, tấm lòng thủy chung không hề thay đổi trước mọi hoàn cảnh của một con người Hình ảnh cái kiềng vững chãi – bởi nó có ba chân, nó không thể nào nghiêng ngả dù cho mặt đất bằng phẳng hoặc không bằng phẳng -
Trang 28được dùng để soi tỏ thái độ kiên định, tấm lòng thủy chung, bền vững nói trên
Tác giả Cù Đình Tú cũng đưa ra sự phân biệt giữa so sánh tu từ và so sánh lí luận Theo đó, sự khác nhau cơ bản nhất của hai loại so sánh này theo tác giả chính là ở dụng ý nghệ thuật và tính chất không cùng loại giữa cái được so sánh và cái so sánh
Ví dụ: Mặt nó như cái cán tàn (đồ vật)
Mặt và cán tàn là hai đối tượng khác loại được đem ra so sánh với mục
đích làm nổi bật dáng cứng, bất động của khuôn mặt
Bên cạnh đó, tác giả đã nêu lên cách xác định một so sánh tu từ như sau: Các đối tượng được đưa ra so sánh phải khác loại nhưng lại có nét cá biệt giống nhau Nét cá biệt giống nhau này chính là cơ sở để phép so sánh thể hình thành được và tạo nên hạt nhân của phép so sánh Đó cũng là căn cứ để bình giá so sánh tu từ Ngoài ra, tác giả cũng nêu lên yêu cầu của một so sánh
tu từ Theo ông, một so sánh tu từ được gọi là tốt, là đắt phải đồng thời thỏa mãn được hai yêu cầu về mặt nội dung:
1 Tài liệu so sánh là những đối tượng quen thuộc và khác loại
2 Phát hiện ra một cách chính xác nét cá biệt giống nhau giữa những đối tượng khác loại
Ví dụ:
“Mặt đồng khô xóa sạch những bờ ngăn Như mặt người tươi giãn những đường nhăn”…
Bờ ngăn và đường nhăn là những đối tượng khác loại, khác nhau về
bản chất nhưng quen thuộc Nét giống nhau giữa hai đối tượng này chính là những đường nét trên một đối tượng có bề mặt; hình ảnh biểu thị sự khổ cực
Bằng sự phân tích đời sống xã hội, chúng ta có thể nhận ra bờ ngăn là hiện
thân của nông nghiệp cá thể, có chủ đất, có tá điền, nguồn gốc sâu xa gây nên những khổ cực… Chính sự so sánh này giúp nhận thức sâu sắc hơn những
Trang 29phương diện nào đó của sự vật, giúp bày tỏ lòng yêu ghét, khen chê, thái độ khẳng định hay phủ định
So sánh tu từ mang đặc trưng của phong cách thời đại, phong cách dân tộc, phong cách tác giả và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng Chính do mục đích diễn tả này mà phép so sánh tu từ ít nhiều đều khập khiễng, mang tính chất khoa trương
Về cấu tạo của so sánh tu từ, theo tác giả Cù Đình Tú thì bao giờ nó cũng công khai phô bày hai vế: vế so sánh và vế được so sánh Mỗi vế này có thể gồm một hoặc nhiều đối tượng và nó gắn với nhau lập thành hình thức so sánh sau:
* A như (tựa như, chừng như…) B
“Đôi ta làm bạn thong dong Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng”
(Ca dao)
* A bao nhiêu B bấy nhiêu
“Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêu”
(Ca dao)
* A là B
Trong cấu trúc này, từ là có ý nghĩa và giá trị tương tự từ so sánh như nhưng có sắc thái ý nghĩa khác Như có sắc thái giả định, là có sắc thái khẳng
định Kiểu so sánh này khác với phán đoán logic khẳng định có công thức “S
là P” Đối với phán đoán này, nếu ta thay là bằng như là thì nội dung cơ bản
của phán đoán bị thay đổi, giá trị khẳng định logic không còn
Ví dụ: Em là con gái Bắc Giang (khẳng định logic)
Em (giống) như là con gái Bắc Giang (không khẳng định)
Trái lại, ở so sánh tu từ, nếu thay là bằng như là thì nội dung cơ bản không
thay đổi, chỉ thay đổi về sắc thái ý nghĩa: từ sắc thái khẳng định chuyển sang sắc thái giả định
Trang 30Quan điểm cuối cùng về phép so sánh chúng tôi muốn đề cập tới trong luận văn này là của tác giả Đào Thản Về cơ bản quan điểm của ông không
khác mấy so với các tác giả trên khi ông đưa ra một định nghĩa như sau: “So
sánh là lối nói đối chiếu hai sự vật hoặc hiện tượng có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hoặc tính chất bên trong”
Qua một vài định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra một vài đặc điểm chính nhất của phép so sánh như sau:
1 So sánh là việc đối chiếu một phương diện nào đó của ít nhất là hai sự vật
2 Hai sự vật đưa ra đối chiếu phải khác loại
3 Hai sự vật đưa ra đối chiếu phải có nét tương đồng mà giác quan có thể nhận biết được
4 Đối chiếu để tìm ra các nét giống nhau và khác biệt giữa các sự vật
1.2.2 Các kiểu quan hệ so sánh
Phần trước chúng tôi đã đề cập tới quan niệm về phép so sánh của tác giả Đào Thản Về cơ bản, quan niệm của tác giả không khác so với các nhà nghiên cứu cùng lĩnh vực này Tuy nhiên, khi đi vào phân chia các kiểu quan
hệ so sánh thì tác giả lại có cách nhìn nhận hoàn toàn khác Nếu như các tác giả trên đều nhìn nhận so sánh ở phương diện cấu trúc thì Đào Thản lại nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và phân chia so sánh dựa vào mục đích Theo đó, tác giả đã đưa ra 8 kiểu quan hệ so sánh như sau:
* So sánh để giải thích
Ví dụ: “Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội như thuyền,
nước sông lên thì thuyền đi lại dễ dàng”
Trang 31Ví dụ: “Thế địch như lửa, thế ta như nước”
Ví dụ: “Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu”
(Ca dao)
* So sánh phát triển
Ví dụ: “Thân em như tấm lụa đào
Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai”
Ví dụ:
“Cây khô xuống núi cũng khô Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo”
(Ca dao) Tác giả Hữu Đạt khi phân loại các kiểu quan hệ so sánh đã dựa vào cả
hai tiêu chí hình thức và nội dung của nó Tác giả viết “Khi xem xét phép so
sánh, chúng ta có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó” [19, tr296] Theo đó chúng ta có các kiểu quan hệ so sánh như sau:
Trang 32* So sánh ngang bằng
Ví dụ:
“Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa”
(Lưu Quang Vũ, Vườn thành phố)
* So sánh hơn – kém
Ví dụ:
“Khi ra đi chỉ dép lốp chiến trường Nguồn ánh sáng đến muôn đời chẳng tắt Vượt cao hơn sự chết vẫn soi đường
(Phạm Tiến Duật, Gửi em cô thanh niên xung phong)
2.3 Tiếp cận phép so sánh dựa vào cấu trúc thông báo của câu
Như chúng ta đã biết, bên cạnh sự phân đoạn câu về mặt ngữ pháp thường được miêu tả bằng lí thuyết thành phần câu, mấy chục năm trở lại đây các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến sự phận đoạn câu theo quan điểm thông tin thực tại hay quan điểm thông báo Khởi đầu cho những khám phá theo hướng này là V Mathesius và nhiều học giả của nhóm ngôn ngữ học Praha, mà những nghiên cứu của họ thường được gặp dưới cái tên lí thuyết phân đoạn thực tại của câu Xét trong mối quan hệ thông tin giữa thông tin mà người nói định truyền đạt và người nghe muốn tiếp nhận, cấu trúc câu được phân chia thành hai phần thông tin cũ - mới Sự phân đoạn cấu trúc thông tin
Trang 33thực tại của câu theo tiêu chí cũ mới này được phân biệt với sự phân đoạn cấu trúc cú pháp của câu thành chủ ngữ - vị ngữ dựa trên các tiêu chí hình thức
Trong Việt ngữ học, các tác giả cuốn ngữ pháp tiếng Việt là Nguyễn Tài Cẩn và N.V Stankievich là những người đầu tiên áp dụng cách phân chia lưỡng phân cũ – mới để xem xét các khả năng phân đoạn thực tại của cấu trúc câu tiếng Việt Tiếp sau đó, Panfilov đã mô tả khá chi tiết các kiểu phân đoạn
thực tại khác nhau của câu tiếng Việt theo tiêu chí cũ mới qua bài báo Sự
phân đoạn thực tại của câu tiếng Việt (1980) và tác giả Lý Toàn Thắng cũng
có cũng một bài viết đề cập đến vấn đề này với tiêu đề “Giới thiệu lí thuyết
phân đoạn câu” đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ số 1 – 1981
Xét câu với tư cách là một thông báo, Diệp Quang Ban đã nêu lên rằng:
“Câu với tư cách lời trao đổi có thể chứa phần nội dung cho sẵn và phần nội dung mới, tức phần mang thông tin” [7, tr274] Phần cho sẵn trong câu là
phần nội dung đã được cung cấp hoặc dễ nhận biết trong trường hợp dùng cụ thể Phần mới là phần nghịch đối với phần cho sẵn, nó chỉ ra nội dung chưa được biết đến, nó là cái mới hay là phần mang tin Phần cho sẵn và phần mới trong câu làm thành cấu trúc thông tin
Bàn về vấn đề này, trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học (2008) tác giả
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng một phát ngôn được tạo lập bao giờ cũng nhằm một mục đích nhất định Chính vì vậy, nhiệm vụ của ngôn ngữ học là phải tìm hiểu ý nghĩa của các phát ngôn, có như thế chúng ta mới có được cái nhìn tổng quát về các mặt quan trọng của ngôn ngữ Thông thường, trong giao tiếp, mỗi câu nói khi biểu thị một nhận định trọn vẹn bao giờ cũng chứa đựng một thông tin gì đó đối với người nghe trong phạm vi tình huống giao tiếp Cái thông tin ấy được tổ chức trong các câu mà mỗi câu gồm các đơn vị ngữ nghĩa tạo nên một hình thể phức tạp Trong thông tin ấy, có một bộ phận mà người nói cho là cái mới, đó là cái thông tin mà lần đầu tiên anh ta đưa vào ý thức của người nghe và một bộ phận không phải là cái mới, đó là cái thông tin
Trang 34mà cả người nói lẫn người nghe đều đã đoán định được trong lúc phát ngôn ra câu ấy Chính sự tác động lẫn nhau giữa cái mới và cái không mới đã tạo ra cấu trúc thông tin và ngôn cảnh, văn cảnh đóng vai trò quan trọng quy định cấu trúc thông tin của phát ngôn
Tiếp thu quan niệm của các nhà nghiên cứu ngữ pháp theo quan điểm
đa bình diện, Nguyễn Hồng Cổn dùng thuật ngữ cấu trúc thông báo để chỉ bình diện phân tích cấu trúc câu xét theo sự khác biệt về vị thế thông tin do tình huống giao tiếp mang lại Sự khác biệt về vị thế thông tin trong cấu trúc thông báo của câu thể hiện ở chỗ, trong khi một phần thông tin được người nói và người nghe cùng biết thì một phần thông tin còn lại người nói và/hoặc người nghe chưa biết hay không biết và mối tương liên giữa hai phần thông tin này khác nhau theo tình huống giao tiếp
Áp dụng lí thuyết thông tin trên vào cấu trúc so sánh chúng ta sẽ có:
- Cái được/bị so sánh chính là cái cũ
- Cái đem ra làm chuẩn để so sánh chính là cái mới, cái đem đến sự hiểu biết cho người tiếp nhận cấu trúc này
Ví dụ: “Người chồng như cái cột cái trong nhà”
(LL, Tiểu thuyết 8)
Nghĩa biểu hiện trong ví dụ trên chính là sự đồng nhất người chồng với
cái cột cái trong nhà Tuy nhiên, sự đồng nhất giữa hai sự vật khác loại này
dựa trên phương diện nào thì lại được tác giả ẩn tàng đi Như chúng ta đã biết, mỗi sự vật, hiện tượng có rất nhiều thuộc tính, nhưng trong một so sánh bao giờ cũng chỉ có một phương diện được đem ra so sánh mà thôi Ở ví dụ trên, bằng vốn hiểu biết của mình và cảm quan ngôn ngữ của người bản ngữ chúng
ta có thể suy ra rằng cái ở đây có nghĩa là lớn Trong tiếng Việt, chúng ta bắt gặp rất nhiều kết hợp từ với cái mang ý nghĩa là lớn, chính như: sông cái (sông lớn), đường cái (đường rộng và lớn), ngón tay cái - ngón chân cái (bộ phận lớn nhất của bàn tay và bàn chân) và như vậy cột cái chính là cái cột lớn
Trang 35nhất trong nhà Với ý nghĩa trên, khái quát lên chúng ta sẽ có được thông tin
mới “vai trò quan trọng, vai trò trụ cột của người chồng trong một gia đình”
Điều này cũng có nghĩa là trong một gia đình người chồng/người đàn ông có tiếng nói quyết định nhất Đây cũng được hiểu là tiêu điểm thông báo của phát ngôn trên
1.2.3 Quan niệm của luận văn
Như chúng ta biết, bất kì một nhà phong cách học nào không nhiều thì
ít cũng đề cập đến thủ pháp so sánh bởi họ đã sớm nhận thức được đặc điểm
rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là hay so sánh Mỗi cách trình bày về
thủ pháp này có những điểm giống và khác nhau bởi các nhà nghiên cứu đã xem xét vấn đề ở những phương diện khác nhau Để thuận lợi cho việc tìm hiểu và phân tích thủ pháp so sánh trong một số tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu, chúng tôi sẽ nêu lên quan niệm về thủ pháp so sánh của luận
văn “So sánh tu từ là lối nói đối chiếu hai sự vật hoặc hiện tượng có một hay
nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hoặc tính chất bên trong nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng” Nhờ khái niệm này
chúng tôi đã có một định hướng rõ ràng trong quá trình xử lí tư liệu, phân tích
+ Thiếu từ thể hiện quan hệ so sánh
+ Thiếu phương diện so sánh
+ Thiếu yếu tố cần được so sánh
* Theo quan hệ ngữ nghĩa giữa A – B
trong đó:
Trang 36- A – B: trừu tượng – trừu tượng
* Theo trường ngữ nghĩa của B có:
- Các từ liên tưởng biểu thị con người và các bộ phận cơ thể của con người
- Các từ liên tưởng chỉ loài vật và các bộ phận của chúng
- Các từ liên tưởng chỉ các hiện tượng thiên nhiên
- Các từ liên tưởng biểu thị thực vật
- Các từ liên tưởng biểu thị đồ dùng sinh hoạt
- Các từ liên tưởng biểu thị hành động tạo ra sản phẩm có thuộc tính điển hình
- Các từ liên tưởng biểu thị bánh trái, thực phẩm
- Các từ liên tưởng tản mạn mang tính chất cá nhân
- Các từ liên tưởng biểu thị phương tiện và các hoạt động trong quân sự
so sánh mà họ sử dụng So sánh phải đắt, phải bất ngờ, giàu hình ảnh vì có như thế nó mới mang đến cho độc giả những tri thức mới Xét ví dụ sau:
Trang 37“Bác Địa và Tâm nhâm nhi chén rượu thuốc trông điệu đà, sau mỗi một tợp cả hai cùng khà lên một tiếng, hai cái đầu gật gật như hai con ngỗng khàn khàn nói chuyện với nhau, con này vươn cổ lên, con kia rụt cổ về và ngược lại”
(LL, Tiểu thuyết 8) Cảnh hai người đàn ông ngồi nhâm nhi chén rượu đã được Lê Lựu so sánh với hình ảnh của hai con ngỗng đứng đối diện với nhau Một so sánh khá bất ngờ, giàu hình ảnh, đồng thời thỏa mãn được điều kiện hai sự vật đem ra so sánh khác loại nhau
Như chúng ta đã biết, thủ pháp so sánh với tư cách là một biện pháp tu
từ luôn luôn vận động và phát triển theo quá trình của tư duy Quá trình này được thể hiện qua sự biến đổi về cấu trúc hình thức và nội dung ngữ nghĩa bên trong của phép so sánh
Về mặt hình thức, độ dài cấu trúc có chiều hướng phát triển Nếu như trong thể thơ truyền thống chúng ta có những CTSS khá đơn giản và ngắn gọn như:
“Anh em cùng một mẹ cha Cũng như cây cọ sinh ra nhiều cành”
(Ca dao)
Trang 38thì trong văn hiện đại so sánh cứ được kéo dài mãi, so sánh này lồng vào so sánh kia, tạo nên tính nhiều tầng ý nghĩa của so sánh:
“Cuội đời phấn đấu của anh giống như đám kiến cánh trong thân cây tre cộc ở đầu ngõ Đám kiến chui từ ống tre ra hốt hoảng chen nhau nhao lên rồi mới vòng xuống Từng đàn, dài như một sợi dây luồn qua đám tay gai xuống dốc đi tha mồi Có con tha được hạt mày ngô, tí vỏ khoai lang, hạt tấm,
có con chỉ quẹt đầu vào đống phân trâu, phân bò cho nó có dính vào râu, vào mõm mang về góp phần xây lên cái tổ đen kịt ở chỗ ngã ba giữa thân và cành tre, trông như cái sọ đầu lâu Hiếu cũng “nhao lên” rồi kiên nhẫn cặm cụm đi tha mồi như con kiến, có hơn gì Từ trưởng ban thuế nông nghiệp, sang làm địa chính rồi trưởng ban thuế giao thông, phó ban vận động hợp tác xã nông nghiệp thôn Thượng, ủy viên ủy ban rồi phó chủ tịch, rồi chủ tịch và trúng đảng ủy khóa đầu tiên khi chuyển từ chi bộ xã thành đảng ủy”
(LL, Tiểu thuyết 7)
Hoặc:
“…cái thói quen sống giấu giếm vụng trộm suốt năm chục năm nay bây giờ
có cho anh được công khai phơi bày tất cả mọi ý nghĩ và hành động, đố anh làm được Mong mỏi đấy Thèm khát đấy Nhưng bỏ đi những thói quen, anh không tài nào chịu nổi Giống như những con chim nhốt trong lồng chỉ tìm cách bay ra Đến vài ba chục năm sau người ta mở lồng cho nó bay nhưng thể nào nó cũng bay lại cái lồng cũ Nếu cái lồng đó không còn, nó lại bơ vơ, lại phải loay hoay kiếm tìm cái lồng khác mà chui vào để tìm lại thói quen, tìm lại nỗi nhớ”
(LL, Tiểu thuyết 7)
Về mặt nội dung ngữ nghĩa trong CTSS, chúng ta có thể nhận thấy rất
rõ sự khác biệt giữa văn thơ hiện đại và văn thơ truyền thống Nếu quan hệ
ngữ nghĩa giữa A – B trong văn thơ truyền thống luôn là trừu trượng – cụ thể thì trong văn thơ hiện đại ngoài quan hệ trên còn tồn tại kiểu quan hệ cụ thể -
Trang 39trừu tượng, trừu tượng – trừu tượng Sở dĩ trong văn thơ truyền thống vế B
chỉ có các hình ảnh cụ thể vì người lao động xưa quen tư duy theo lối trực quan Nhờ vậy, người đọc dễ dàng nhận biết được sự tương đồng nào đó giữa hai đối tượng Còn trong văn học hiện đại, vế B được mở rộng thêm bởi các hình ảnh trừu tượng do nhu cầu ưa thích sự khám phá và không thích sự áp đặt trong tiếp nhận
Tiếp sau chương này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu các đặc điểm hình thái – cấu trúc của các yếu tố trong CTSS và đưa ra tiêu chí cùng kết quả phân loại CTSS
Trang 40Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI – CẤU TRÚC CỦA PHÉP SO SÁNH VÀ CÁC
KIỂU SO SÁNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN
CHU LAI VÀ LÊ LỰU
Chương này trình bày kết quả thống kê, phân loại về mặt hình thái – cấu trúc của các thành phần trong phép so sánh và các kiểu so sánh được phân loại theo 4 tiêu chí: cấu trúc, quan hệ ngữ nghĩa, trường ngữ nghĩa của vế được đưa ra làm chuẩn so sánh và mục đích so sánh
2.1 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của phép so sánh
Một CTSS đầy đủ sẽ gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố cần so sánh
- Yếu tố thể hiện phương diện so sánh
- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh
- Yếu tố đem ra làm chuẩn để so sánh
Tuy nhiên, khi xét đặc điểm hình thái – cấu trúc của CTSS chúng tôi đặc biệt quan tâm đến 3 yếu tố còn yếu tố phương diện so sánh chúng tôi không bàn tới bởi nó nghiêng về mặt ngữ nghĩa nhiều hơn
2.1.1 Đặc điểm hình thái - cấu trúc của vế cần được so sánh (A)
Cấu trúc của A cũng như của B được sử dụng hết sức phong phú và đa dạng A, B có khi là một đơn vị từ vựng, có khi lại là một đoản ngữ hoặc một tiểu cú
Khi A, B là một đơn vị từ vựng tức là sẽ có ba trường hợp sau: