1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Hán hiện đại (Trong sự so sánh với thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Việt

119 709 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, trật tự của chúng lại giống nhau ở vị trí số lượng từ trước TTN theo mô hình sau: Số từ + lượng từ + TTN tiếng Hán Số từ + đơn vị từ + TTN tiếng Việt Trong quá trình học tập,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN NGỌC KIÊN

Nghiên cứu thành phần định ngữ của đoản ngữ

danh từ tiếng Hán hiện đại

(Trong sự so sánh với thành phần định ngữ của

đoản ngữ danh từ tiếng Việt)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: GS.TS Hoàng Trọng Phiến

Hà nội - 2008

Trang 2

KÍ HIỆU VIẾT TẮT:

1 ĐN: định ngữ

2 TTN: trung tâm ngữ

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ truyền thống

về kinh tế và văn hóa từ lâu đời Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa như hiện nay,

sự hợp tác toàn diện đó được nâng lên một tầm cao mới Chính vì vậy, việc học tập tiếng Việt đối với người Trung Quốc và việc học tiếng Hán đối với người Việt là một nhu cầu cấp thiết trong quá trình trao đổi và hiểu biết lẫn nhau

Như chúng ta đã biết, tiếng Việt và tiếng Hán là hai ngôn ngữ điển hình về loại hình đơn lập Cả hai ngôn ngữ đều dùng trật tự từ làm phương thức cơ bản để biểu hiện quan hệ ngữ pháp giữa các từ hoặc cụm từ

Song, trật tự của đoản ngữ danh từ trong hai ngôn ngữ này lại rất khác

nhau Chẳng hạn, khi người Việt nói: máy bay thì người Hán lại nói: 飞机 (phi cơ); còn khi người Việt nói: quyển sách Trung văn này thì người Hán lại nói: 这本中文

(giá bản Trung văn thư : này - quyển - Trung - văn - sách) Tuy vậy, trật tự của

chúng lại giống nhau ở vị trí số lượng từ trước TTN theo mô hình sau:

Số từ + lượng từ + TTN (tiếng Hán)

Số từ + đơn vị từ + TTN (tiếng Việt)

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy tiếng Hán cho người Việt, chúng tôi nhận thấy, đa số học sinh trong giai đoạn đầu học tiếng Hán thường hay mắc những lỗi về trật tự từ, đặc biệt là trật tự của các từ ngữ làm ĐN trong đoản ngữ danh từ, một đơn vị ngữ pháp tương đương với từ để tạo câu Nguyên nhân chủ yếu là các học viên có thói quen tư duy theo lối tư duy của tiếng mẹ đẻ khi thấy hai ngôn ngữ có những điểm tương đồng về ngữ pháp

Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi chọn đề tài: Nghiên cứu thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Hán hiện đại (trong sự so sánh với thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Việt) Đề tài này được thực hiện nhằm

đưa ra được một bức tranh khái quát về ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán có so sánh với hiện tượng tương đương trong tiếng Việt Trên thực tế, hầu như cuốn sách ngữ pháp nào cũng đề cập tới thành phần ĐN trong đoản ngữ danh từ với các cách lí giải khác nhau

Ở Việt Nam đã có một vài công trình nghiên cứu về thành phần ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán có so sánh với tiếng Việt Tuy vậy, thông qua luận văn

Trang 4

biệt giữa ĐN tiếng Hán và tiếng Việt trong cấu trúc đoản ngữ danh từ theo một hướng tiếp cận khác, để giúp cho những người học tập nghiên cứu tiếng Hán và tiếng Việt

có thêm những kiến giải khoa học hữu ích

2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu

Thực hiện luận văn này chúng tôi muốn phân tích, lý giải các loại ĐN cho danh từ trong tiếng Hán cả về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa, các loại từ ngữ có thể tham gia làm ĐN trong tiếng Hán Sau đó, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán với ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt nhằm làm nổi bật những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng, từ đó rút ra được những qui tắc ngữ pháp nhất định để có thể giúp cho người sử dụng hai ngôn ngữ này tránh những sai sót do lối tư duy của tiếng mẹ đẻ gây ra

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn này có đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các loại từ ngữ có thể tham gia đảm nhiệm chức vụ ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán; các loại từ ngữ

có thể tham gia đảm nhiệm chức vụ ĐN tương đương trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt

4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Ngữ liệu trong luận văn này lấy từ các sách báo phổ thông (danh sách tư liệu nghiên cứu sẽ được trình bày ở cuối luận văn) trong tiếng Hán và tiếng Việt

Để hoàn thành được những nhiệm vụ đã đặt ra, ngoài việc sử dụng những phương pháp làm việc chung (phân tích, tổng hợp…), chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp làm việc như: phân tích cấu trúc, phân tích ngữ cảnh, phân tích đối chiếu

Phương pháp phân tích cấu trúc sẽ là phương pháp làm việc chủ đạo để có thể tìm ra sự phân bố (trật tự và vị trí) và khả năng kết hợp của các thành tố trong cấu trúc đoản ngữ đoản ngữ danh từ Khi gặp những trường hợp phức tạp, lối phân tích cấu trúc không làm rõ được các “phẩm chất” ngữ pháp của các từ ngữ tham gia làm ĐN trong đoản ngữ danh từ, chúng tôi sẽ sử dụng bổ sung các thao tác phân tích ngữ cảnh Tiếp theo, thao tác phân tích đối chiếu sẽ được sử dụng để làm rõ các

“phẩm chất” ngữ pháp của những yếu tố tham gia làm ĐN trong đoản ngữ danh từ của cả tiếng Hán và tiếng Việt Trong phân tích đối chiếu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là ĐN trong tiếng Hán Vì thế, tiếng Hán sẽ là ngôn ngữ nguồn, còn tiếng Việt sẽ là ngôn ngữ đích, và tiếng Hán sẽ là ngôn ngữ được chúng tôi mô tả kỹ

Trang 5

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành ba chương

Chương I Những khái niệm có liên quan đến đề tài

Chương II Các yếu tố tham gia làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán

Chương III Sự phân bố của các loại định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán

Trang 6

ĐN là số lượng từ: 两张报/五支钢/ 一把椅子 (hai tờ báo/ năm chiếc bút máy/ một chiếc ghế) Loại ĐN này trả lời cho câu hỏi “bao nhiêu?”

Như vậy, có thể thấy không phải lúc nào giữa ĐN và TTN cũng có trợ từ kết cấu 的 (Điều này sẽ được làm rõ trong chương II)

Cho đến nay, trong giới nghiên cứu Hán ngữ đã đạt được một sự thống nhất tương đối về khái niệm và nội hàm của thuật ngữ ĐN Tuy nhiên, tác giả Chu Đức Hy (Trung Quốc) đề xuất thêm khái niệm “chuẩn định ngữ” [75, tr.146] Tác giả dẫn ra các loại ĐN sau:

(A) 张三的原告,李四的被告 (Trương Tam là nguyên cáo, Lý Tứ là bị cáo) (B) 他篮球打得好 (anh ta chơi bóng rổ rất tốt)

(C)我来帮你的忙 (tôi đến để giúp anh)

Theo cách lí giải của Chu Đức Hy thì các ĐN này đều do các đại từ nhân _

(*) Thuật ngữ “thành phần định ngữ” được dừng ở đây theo cách của các nhà Hán học Trung Quốc Trong tiếng Việt, có sự phân biệt thành phần định ngữ đùng cho câu.còn thành phần làm yếu tố thuyết minh cho danh từ trung tâm danh ngữ là “định tố” (Xem Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Minh Thuyết) Trong luận văn này chúng tôi dùng “định ngữ “ với nghĩa “định tố”

Trang 7

xưng và danh từ chỉ người đảm nhiệm, và đều biểu thị quan hệ sở thuộc Thực chất, trong (A), (B), (C), 的 đều không biểu thị quan hệ sở thuộc Và:

(B) tương đương với 他打篮球打得好

(C) tương đương với我来给你帮忙

Trong những trường hợp này, theo Chu Đức Hy, về thực chất, loại (A) thường có cấu trúc ngữ pháp là một kết cấu chính phụ, vì trước loại câu này có thể thêm 的

是张三的原告 tương đương với 原告是张三

今天是老张的主席tương đương với 今天主席是老张

Cấu trúc này, về bản chất, chính là cấu trúc “是” (Điều này cũng sẽ

được làm rõ trong chương II)

()瓦特发明的蒸汽机 tương đương với蒸汽机是瓦特发明的 (máy hơi nước do Giêm Oát phát minh)

Loại (B) có thể lược bỏ chữ 的 sau khi thay đổi kết cấu chính phụ, biến câu

có kết cấu chủ vị thành câu vị ngữ chủ vị

他的篮球打得好 他篮球打得好 (anh ta chơi bóng rổ rất tốt)

他的部长没当成 他部长没当成 (ông ta không làm được bộ trưởng) Hai câu trên có thể viết lại như sau:

他打篮球打得好

他当部长没当成

Chu Đức Hy cho rằng他的 ở trên là “chuẩn định ngữ” Loại cấu trúc này luôn tiềm tại tính mơ hồ cú pháp; chẳng hạn:他的小说看不完 Trong câu này他的

có thể hiểu là “định ngữ thật”, biểu thị quan hệ sở thuộc, và như vậy ý nghĩa của câu

sẽ là: “tiểu thuyết do anh ta viết (hoặc: tiểu thuyết của anh ta) đọc chưa xong”

Trang 8

Và cũng có thể hiểu他的 là “chuẩn định ngữ”, tương đương với các lối

nói:

他小说看不完 hoặc他看小说看不完 (anh ta xem tiểu thuyết chưa xong)

Loại (C), như chúng ta đều biết, có kết cấu “thuật tân”, bản thân nó không mang tân ngữ; tuy nhiên, về lý thuyết kết cấu thuật tân có thể có cái mà chúng ta thường gọi là bổ ngữ, tức vật tiếp nhận hành động Chẳng hạn, với kết cấu 开玩笑

(nói đùa), chỉ có thể nói开我的玩笑 (khai ngã đích ngoạn tiếu), chứ không thể nói:

开玩笑我 (khai ngoạn tiếu ngã) Và ở trên, theo Chu Đức Hy, 我的 chính là “chuẩn

định ngữ”

Ở đây, về đại thể, chúng tôi tán đồng quan điểm của Chu Đức Hy Tuy nhiên, riêng loại (B), chúng tôi nhận thấy bản thân Chu Đức Hy có một số điểm mâu thuẫn sau:

Trong tiếng Hán cũng như trong tiếng Việt, có một loại câu có cấu trúc ngữ pháp của câu chủ động nhưng lại mang ý nghĩa bị động, hay nói cách khác, đó là loại câu bị động có hình thức trùng với hình thức của câu chủ động Ví dụ:

课文讲完了,语法还没有讲呢 (bài đọc giảng xong rồi, ngữ pháp chưa

giảng)

他的汉字写得不但正确,而且好看 (chữ Hán của nó viết không những

chính xác mà còn rất đẹp)

Xét ví dụ sau: 她说汉语说得很流利 (cô ta nói tiếng Hán rất lưu loát) Đây

là một câu có bổ ngữ chỉ trình độ, và có thể có các cách nói khác như sau:

汉语她说得很流利 (tiếng Hán cô ta nói rất lưu loát): câu vị ngữ chủ vị, có

Trang 9

Theo Chu Đức Hy, 她的 là “chuẩn định ngữ” Như vậy, ở đây có một sự

mâu thuẫn: Chu Đức Hy thừa nhận đó là câu chủ vị, nhưng lại phủ nhận cái vai trò

ĐN miêu tả

1.1.2.1 Định ngữ hạn định

ĐN hạn định có tác dụng biểu thị số lượng, thời gian, nơi chốn, sở thuộc v.v , hạn định cho TTN Nói khái quát, ĐN hạn định có vai trò biểu thị phạm vi của sự vật Chúng bao gồm 5 loại chủ yếu sau:

(1) ĐN hạn định biểu thị thời gian Ví dụ:

老师给我们讲了一个三十年前的故事 (thầy giáo kể cho chúng tôi câu

chuyện ba mươi năm trước)

经过十年的努力,他成为了一个有名的专家 (trải qua sự nỗ lực mười

năm, ông ta đã trở thành một chuyên gia nổi tiếng)

这是一年的工作计划 (đây là kế hoạch công tác trong một năm)

(2) ĐN hạn định biểu thị số lượng từ Ví dụ:

我要买一本书 (tôi muốn mua một quyển sách)

星期天有很多人去公园玩玩儿 (chủ nhật có rất nhiều người đi công viên

chơi)

这五本杂志都是田劳的 (năm cuốn tạp chí này đều là của Điền Phương) (3) ĐN hạn định biểu thị nơi chốn Ví dụ:

Trang 10

桌子上的书都中文的 (những quyển sách trên bàn đều là sách Trung văn)

前边的楼是我们的宿舍 (tòa nhà phía trước là ký túc xá của chúng tôi)

她脑子里的想法我不明白 (ý nghĩ trong đầu cô ta tôi không rõ)

那架飞机向西北方向飞去 (chiếc máy bay đó bay về hướng tây bắc)

我们当中的一个人是新来的大夫 (người ở giữa chúng tôi là bác sỹ mới

我刚买的书很有意思 (sách tôi mới mua rất hay)

这些杂志都是英文的 (những cuốn tạp chí này đều bằng tiếng Anh)

八路军抗日的功绩永存史册 (chiến công kháng Nhật của Bát Lộ Quân

mãi được ghi trong sử sách)

我们对武打虎的故事非常感兴趣 (chúng tôi rất thích câu chuyện Võ

Tòng đánh hổ)

Theo các tác giả Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông (Trung Quốc), trong ĐN hạn định có một loại được gọi là ĐN “đồng nhất tính” [49, tr.356] Ví dụ:

Trang 11

为谁服务的问题是一个原则问题 (vấn đề vì ai phục vụ là một vấn đề

nguyên tắc)

讲解员讲说着黄土高原变成肥沃良田的远景 (diễn giả nói về viễn cảnh

cao nguyên Hoàng Thổ biến thành ruộng lúa phì nhiêu)

Sở dĩ gọi như vậy là vì, quan hệ giữa ĐN đồng nhất tính và người/ vật mà

TTN sở chỉ là quan hệ đồng nhất; trợ từ kết cấu 的 giữa ĐN và TTN có thể đổi thành 这个, và khi đó đoản ngữ danh từ sẽ biến thành ngữ đồng vị Chẳng hạn, câu

为谁服务的问题是一个原则问题 (vấn đề vì ai phục vụ là một vấn đề nguyên tắc),

có thể đổi thành: 为谁服务这个问题是一个原则问题 (vì ai phục vụ, vấn đề này là vấn đề nguyên tắc); trong đó: 为谁服务这个问题 (vì ai phục vụ, vấn đề này) là ngữ đồng vị đóng vai trò chủ ngữ trong câu

1.1.2.2 Định ngữ miêu tả

ĐN miêu tả là loại ĐN tu sức cho TTN về các khía cạnh như: trạng thái, tính chất, đặc điểm, công dụng, chất liệu, chức vụ v.v Loại ĐN này thường được

chia thành 6 tiểu loại chính như sau:

(1) ĐN miêu tả biểu thị trạng thái, tính chất của sự vật Ví dụ:

这是一项非常困难的任务 (đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn)

你连这么漂亮的姑娘也不要,要谁呀 (ngay cả một cô gái xinh đẹp như

thế mà cậu cũng không thích thì còn thích ai)

今天她穿着一件天蓝色的衬衫 (hôm nay nàng mặc một chiếc áo sơ mi

màu xanh da trời)

小王是一个又聪明又可爱的小孩 (Tiểu Vương là một cậu bé vừa thông

minh vừa đáng yêu)

在科学上没有平坦的大道,只有不畏劳苦沿着陡峭山路攀登的人,才有希望达到光辉的顶点 (trong khoa học không có con đường bằng phẳng, chỉ có

những người không sợ mệt nhọc dám trèo lên những con đường gập ghềnh của nó thì mới có hy vọng đạt tới đỉnh cao của vinh quang)

(C Mác)

Trang 12

在这儿可以看见巍峨的群山 (từ đây có thể nhìn thấy những dãy núi hùng

vĩ)

(2) ĐN miêu tả biểu thị đặc điểm của người hoặc sự vật Ví dụ:

他是一个矍铄的老人 (đó là một ông già quắc thước)

(3) ĐN miêu tả thuyết minh về cách sử dụng, nguồn gốc của sự vật Ví dụ:

他送给我一支写大字的毛笔 (anh ta tặng tôi một chiếc bút lông để viết

đại tự)

那个装衣服的柜子是胶合板的 (chiếc tủ đựng quần áo kia làm bằng gỗ

dán)

她给了我们一些从树上打下来的苹果 (bà ấy cho chúng tôi mấy quả táo

vừa hái trên cây xuống)

(4) ĐN miêu tả biểu thị nghề nghiệp Ví dụ:

我妹妹是英文老师 (em gái tôi là giáo viên tiếng Anh)

王兰的父亲是一个古文学专家 (bố của Vương Lan là một chuyên gia về

他穿着一件皮大衣 (anh ta mặc một cái áo khoác bằng da)

(6) Ngoài những loại ĐN miêu tả vừa nói ở trên, trong thực tế còn gặp một

số ĐN miêu tả khác Chẳng hạn:

Trang 13

我看完了黄教授的一篇二万字的文章 (tôi đã đọc xong bài báo hai vạn

chữ của giáo sư Hoàng) Trong Hán ngữ, những ĐN kiểu như: 黄教授的一篇二万

trong câu này thường rất khó quy loại

我的家乡是一个有很多名胜古迹的地方 (quê hương tôi là một nơi có rất

nhiều danh lam thắng cảnh) Trong câu này,有很多名胜古迹 là một cụm từ cố

định làm ĐN cho danh từ

我们不喜欢道貌岸然的人 (chúng tôi không thích những kẻ“bề ngoài thơn

thớt nói cười, ở trong nham hiểm giết người không dao”) Trong câu này, 道貌岸然

là một thành ngữ tham gia làm ĐN cho danh từ

饥寒交迫的时代一去不返了 (thời kỳ đói rét đã vĩnh viễn qua rồi)

1.1.2.3 Sự khác biệt giữa định ngữ hạn định và định ngữ miêu tả

Xét về đặc tính từ loại, động từ, ngữ động từ, ngữ giới từ, đều có thể đảm nhiệm vai trò ĐN miêu tả và ĐN hạn định Xét về mặt chức năng, trên đại thể, ĐN hạn định và ĐN miêu tả đều là những thành phần phụ trong đoản ngữ danh từ, có tác dụng tu sức cho danh từ trung tâm; nhưng khi đi vào chi tiết, giữa chúng còn có những điểm khác biệt nhất định Ở đây, có thể kể đến 3 điểm khác biệt quan trọng sau:

(1) Sự khác biệt về ý nghĩa và chức năng biểu đạt

ĐN hạn định chỉ rõ cái này, người này,…trong thế phân biệt với cái kia, người kia,… ĐN hạn định có tác dụng thu hẹp nội hàm khái niệm lại, và do đó,

sẽ mở rộng ngoại diên của khái niệm Trong một đoản ngữ danh từ, người ta hoàn toàn có thể cắt bỏ ĐN miêu tả, chứ không thể cắt bỏ ĐN hạn định Cắt bỏ

ĐN hạn định sẽ ảnh hưởng đến tính hoàn chỉnh về mặt thông tin, về khả năng biểu nghĩa của đoản ngữ, và do đó, sẽ ảnh hưởng đến khả năng thuyết giải của

người sử dụng ngôn ngữ, cụ thể là người tiếp nhận ngôn ngữ So sánh: con mèo khoang của tôi đã bị mất và con mèo khoang đã mất Việc cắt bỏ ĐN miêu tả

không ảnh hưởng nhiều đến tính toàn vẹn về mặt nội dung của đoản ngữ, không

có ĐN này ta vẫn có thể hiểu đúng nội dung đoản ngữ (chính vì thế mà loại ĐN

Trang 14

này, ngoài cái tên “ĐN miêu tả” ra, còn có khá nhiều tên khác nữa, thể hiện tính

“phụ trợ” của nó trong đoản ngữ, chẳng hạn như “ĐN trang trí”) Như thế, nói một cách tương đối, xét về mặt chức năng, ĐN hạn định sẽ có tác dụng trả lời

cho câu hỏi: cái nào? ai/ người nào? của ai? ở đâu?; ĐN miêu tả sẽ trả lời cho câu hỏi: như thế nào/ ra sao? Vì thế, nói một cách khái quát, ĐN hạn định sẽ

bao chứa các ý nghĩa về thời gian, nơi chốn, quan hệ sở thuộc … Ví dụ:

北京的冬天天气很冷 (mùa đông ở Bắc Kinh khí hậu rất lạnh) Ở đây,

北京 (Bắc Kinh) được khu biệt với các nơi khác

今天的课文比较难 (bài học của ngày hôm nay tương đối khó).今天 (ngày hôm nay) khu biệt với ngày khác

桌子上的杂志都是我的 (các tạp chí trên bàn đều là của tôi) 桌子 (bàn)

khu biệt với bàn khác hoặc chỗ khác

Thêm vào đó, xét về mặt kích thước vật chất, nói chung ĐN hạn định có thể là đoản ngữ được cấu tạo từ một cấu trúc ngữ pháp chủ vị, trong đó vị ngữ thường do động từ đảm nhiệm; đa số ĐN miêu tả không có đặc tính này Điều này gần như là tuyệt đối Ví dụ:

专家讲的话我听不懂 (những lời mà chuyên gia nói tôi không hiểu được).

专家讲 (chuyên gia nói) khu biệt với “không phải chuyên gia, hoặc chuyên gia khác nói”

她做的饭非常好吃 (cơm mà cô ta nấu rất ngon) 她做 (cô ta nấu) khu biệt với người khác nấu

ĐN miêu tả có tác dụng cung cấp thêm những thông tin phụ nhằm nêu rõ những thuộc tính có tính chất bản thể cho cái đã được thể hiện bằng danh từ trung tâm Khi sử dụng loại ĐN này, người nói chủ yếu miêu tả bản thân sự vật mà không quan tâm tới các sự vật khác Nói cách khác, ĐN này chỉ rõ người hoặc sự vật đó như thế nào Vì vậy, ĐN miêu tả thường là tính từ/ ngữ tính từ hoặc một ngữ có cấu trúc ngữ pháp chủ vị, trong đó vị ngữ thường do tính từ đảm nhiệm Ví dụ:

我刚买了一本很有意思的书 (tôi mới mua một cuốn sách rất hay)

她是一个性情温和的姑娘 (đó là một cô gái tính tình hòa nhã)

Trang 15

Chúng tôi nói “thường” là vì, động từ/ ngữ động từ, ngữ chủ vị, ngữ giới từ vừa có thể đảm nhiệm vai trò của ĐN hạn định vừa có thể đảm nhiệm vai trò của

ĐN miêu tả Nói rõ hơn, những từ ngữ thuộc loại này xuất hiện ở những vị trí khác nhau trong đoản ngữ và ở những vị trí khác nhau trong câu sẽ đảm nhiệm những cương vị ngữ pháp khác nhau.Ví dụ:

戴近视眼镜的那个小伙子就是我们班的班长 (anh chàng đeo kính cận

kia là lớp trưởng lớp tôi); ở đây, 戴近视眼镜 là ĐN hạn định

教室里只有一个戴近视眼镜的小伙子 (trong lớp học chỉ có một anh

chàng đeo kính cận); ở đây, 戴近视眼镜 là ĐN miêu tả

装油的这个桶是我的 (chiếc thùng để đựng dầu này là của tôi); ở đây,

王先生是一位从云南民族学院来的教授 (Vương tiên sinh là vị giáo sư đến từ Học viện Dân tộc Vân Nam)

(2) Sự khác nhau về vị trí trong đoản ngữ

Trong đoản ngữ, trật tự xuất hiện của ĐN hạn định và ĐN miêu tả cũng khác nhau: ĐN hạn định đứng trước, ĐN miêu tả đứng sau Điều này hoàn toàn ngược với trật tự của ĐN hạn định và ĐN miêu tả trong tiếng Việt Chẳng hạn:

我刚买的一件羊皮大衣 (một chiếc áo da dê mà tôi mới mua)

Trong đoản ngữ trên,我刚买 (tôi mới mua) là ĐN hạn định,羊皮 (da dê) là

ĐN miêu tả

(3) Sự khác biệt về tính xác định của TTN sau ĐN

Trang 16

TTN sau ĐN hạn định biểu thị một sự vật xác định, còn TTN sau ĐN miêu tả biểu thị sự vật có thể là xác định mà cũng có thể là không xác định Ví dụ:

林老师送给我的书很有意思 (quyển sách thầy Vương tặng tôi rất hay)

Trong câu này, 林老师送给我 (thầy Vương tặng tôi) là ĐN hạn định, ( sách) là

vật xác định

我很喜欢看中文书 (tôi rất thích đọc sách Trung văn) Trong câu này, 中

(Trung văn) là ĐN miêu tả, (sách) là vật không xác định

Tương tự, trong hai câu sau:

教我们汉语的老师是王老师 (thầy giáo dạy chúng tôi tiếng Hán là thầy

Vương) và她的理想是当一个汉语老师 (nguyện vọng của cô ta là làm giáo viên

tiếng Hán); rõ ràng là, 老师 (thầy giáo) ở câu trên là xác định, còn老师 (thầy giáo)

ở câu dưới là không xác định

Bàn về ĐN nhiều tầng trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán, hai tác giả Hoàng

Bá Vinh và Liêu Tự Đông (Trung Quốc) đã đưa ra mô hình đoản ngữ sau:

我们学校的 两位 有三十年教龄的 优秀 语文老 师

(1) (2) (3) (4) (5) TTN

(hai thầy giáo ngữ văn ưu tú có ba mươi năm trong nghề của trường tôi) Trong đó:

Vị trí (1): danh từ biểu thị nơi chốn, đại từ hoặc từ tổ (biểu thị “của ai?”)

Vị trí (2): đại từ chỉ thị, từ tổ số lượng (biểu thị “bao nhiêu?”)

Vị trí (3): động từ, từ tổ động từ (biểu thị “thế nào”?)

Vị trí (4): tính từ, từ tổ tính từ biểu thị “như thế nào”?)

Vị trí (5): danh từ biểu thị tính chất (biểu thị “cái gì”?)

Theo chúng tôi, đoản ngữ trên còn có thể được mở rộng như sau:

Trang 17

(1) (2) (4) (5) TTN

(một chiếc áo da dê mới của tôi)

Trên cơ sở mô hình đoản ngữ danh từ của Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông, chúng tôi đã mở rộng, phân chia lại theo chức năng cú pháp, ý nghĩa biểu đạt

và so sánh với mô hình đoản ngữ danh từ trong tiếng Việt Điều này sẽ được thể hiện trong chương III của luận văn này

1.2 Khái niệm định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt

1.2.1 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về định ngữ

Tác giả Diệp Quang Ban trong [3, tr.215] cho rằng: “định ngữ là thành phần phụ của từ đi kèm danh từ và nêu lên những đặc trưng của vật do danh từ ấy biểu thị” Còn tác giả Đinh Văn Đức thì cho rằng: “định ngữ là trung tâm hạn định cho danh từ là quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên của danh từ” [9.tr.215]

Tác giả Nguyễn Kim Thản lại đề xuất khái niệm ĐN một cách hết sức khái

quát: “trong lời nói, ta thường chỉ ra những đặc trưng hoặc chỉ ra vị trí số lượng,v.v…của sự vật, bằng cách thêm thành phần phụ vào.Ta gọi thành phần phụ vào thể từ là định ngữ” [28,tr.43]

Theo các tác giả Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Kim Thản, thì:

“thành phần phụ của cụm danh từ trong câu có chức năng bổ sung thêm cho thành phần chính bằng quan hệ phụ thuộc, chỉ ra các thuộc tính, tính chất của người, vật,

sự vật, hiện tượng do danh từ làm thành phần chính gọi tên” “Nói rõ tính chất,trạng thái sở thuộc của danh từ (đứng ở các thành phần) trong câu” [35,tr.219]

Như vậy, dù mỗi người có một cách diễn đạt khác nhau, nhưng các tác giả này đều thống nhất ở chỗ, ĐN là thành phần phụ hạn định hoặc miêu tả cho danh từ (danh từ đó dược gọi là TTN) Nói cách khác, ĐN là thành phần phụ tu sức cho TTN Nó chỉ ra các thuộc tính, tính chất, vị trí, số lượng của danh từ làm TTN

Khi bàn về ĐN cho danh từ, tác giả Hoàng Trọng Phiến cho rằng: “về thực chất loại định ngữ này là định tố của nhóm danh từ làm chức năng bổ ngữ, chủ ngữ trong câu.Chúng đa dạng về ý nghĩa và phong phú về các phương tiện biểu hiện”

[22,tr.141] Tác giả cũng đã chỉ ra những từ ngữ có thể tham gia làm ĐN cho danh từ/ nhóm danh từ:

+ ĐN bằng danh từ có giới từ hoặc không có giới từ chỉ ra tính chất, thuộc tính chủ thể hay khách thể hành động Đưa vào mối liên hệ với từ chính có thể chia thành ba trường hợp:

Trang 18

a) Có giới từ: Chủ trương về kinh tế

b) Không có giới từ: Thư máy bay; Tường vôi

c) Tùy tiện: Dư luận (của) nhân dân Mỹ; Nhà (của) ông Hải

Trường hợp (a) là bắt buộc để phân biệt ĐN với các thành phần bổ ngữ, tổ hợp tên gọi

Chẳng hạn, “Giấy mời của giáo viên”, khác với “Giấy mời giáo viên” (bổ ngữ), “Mẹ của Suốt” khác với “Bà mẹ Suốt” “Chị của em cũng ra ngoài ấy đấy” khác với “Chị và em cũng ra ngoài ấy đấy” (thành phần đồng loại) v.v

So sánh với tiếng Hán, trường hợp (a) sẽ tương đương với cụm giới tân làm

ĐN, trường hợp (b) tương đương với danh từ làm ĐN, còn trường hợp (c) tương đương với danh từ làm ĐN có thể có hoặc không có sự tham gia của trợ từ kết cấu

的 Điều này sẽ được chúng tôi lý giải trong chương II

+ ĐN bằng vị thể từ (động từ và tính từ) ĐN này chỉ ra dấu hiệu của đối tượng thông qua mối quan hệ của nó với hành động Ví dụ:

(a) Con đường đau khổ

(b) Đất nước (được) giải phóng đã sạch bóng quân thù

(c) Đường đi rất sạch

(d) Nhiều nhà cao tng đã được xây dựng xong

Trong loại này, thể từ làm ĐN có thể tương ứng hoặc không tương ứng với

vị ngữ:

(a) Giấy giới thiệu

(b) Điện chúc mừng

=> Không tương ứng với vị ngữ

(c) Con cá bơi (yêu nước)

Con chim ca (yêu trời)

Trang 19

đối phức tạp Chẳng hạn, sau động từ làm ĐN nếu không có的, trong nhiều trường

hợp đoản ngữ sẽ biến thành kết cấu động-tân Điều này cũng sẽ được làm rõ trong

chương II

+ ĐN bằng số từ

Ví dụ:

(a) Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu

(b) Bác Hồ là người công dân số một

(c) Quân ta tiêu diệt 10 ngàn tên địch

Tác giả cho rằng, các ĐN loại này biểu hiện vị trí trật tự trong tính toán Khi mang nghĩa tính toán lại đài thêm tiếng “thứ”

Ví dụ:

Người con thứ hai của mẹ đã hy sinh

Loại ĐN này tương đương với số từ làm ĐN cho danh từ trong tiếng Hán

Số từ ở đây có thể là số phần trăm, phân số hoặc số thứ tự; khi biểu thị số thứ tự thường thêm第 trước số từ

+ ĐN biểu hiện bằng các xác định từ về mức độ, về không gian, về thời gian bằng các tổ hợp từ chỉ không gian, thời gian và bằng các đại từ

Ví dụ:

(a) Công trình này đã được đánh giá cao

(b) Phòng bên cạnh là của ai?

(c) Núi phía trước là Ngũ hành sơn

Loại ĐN này tương đương với đại từ chỉ thị và phương vị từ làm ĐN trong tiếng Hán

+ ĐN biểu hiện bằng kết cấu động từ - bổ ngữ

Ví dụ:

Ở đây có cửa hàng bán rượu

Tác giả cho rằng, về thực chất kiểu ĐN này là biến thể của ĐN biểu hiện bằng danh từ, vị thể từ

So sánh:

(a) Cửa hàng bán rượu -> Cửa hàng rượu

(b) Cửa hàng may đo quần áo -> Cửa hàng may đo (nam nữ)

Trang 20

Loại ĐN này tương đương với kết cấu động tân làm ĐN làm trong đoản

ngữ danh từ tiếng Hán; giữa ĐN và TTN bắt bược phải dùng trợ từ kết cấu的

Cũng theo tác giả, trong tiếng Việt, xét về tính phức tạp của cấu trúc có thể

chia định ngữ nhóm danh từ này thành ĐN đơn giản và ĐN phức tạp ĐN phức tạp

bao gồm ĐN được biểu hiện bằng các kết cấu có hư từ hoặc không có hư từ và ĐN

đồng loại Chẳng hạn:

(a) “Con người chưa nói đã cười

Chưa đi đã chạy là người vô duyên”.(Ca dao)

(b) Hắn nhe hàm răng sáng quắc như gươm

(c) Tao già không sức cầm dao

Giết bay đã có con tao trăm vùng!(Tố Hữu)

Tác giả khẳng định, chính tình hình này đã tạo ra những dữ kiện cho việc

mở rộng cấu trúc câu đơn tiếng Việt

Cách phân loại các từ ngữ làm ĐN cho danh từ của tác giả Hoàng Trọng

Phiến được chúng tôi lấy làm cơ sở để miêu tả, phân tích và so sánh các yếu tố tham

gia làm ĐN cho danh từ trong tiếng Hán và tiếng Việt Điều này sẽ được thể hiện

trong chương II

Nói đến ĐN không thể không nói đến đoản ngữ danh từ; ngược lại, nói

đến đoản ngữ danh từ không thể không đề cập đến ĐN; chúng như hai mặt của một

vấn đề không thể tách rời nhau Khi bàn về đoản ngữ danh từ (danh ngữ) trong tiếng

Việt, các nhà Việt ngữ học hầu hết đều đưa ra mô hình của Nguyễn Tài Cẩn mà

trong đó TTN nằm giữa cấu trúc và các ĐN nằm trước và sau TTN Dưới đây là mô

hình khái quát của đoản ngữ danh từ với các vị trí của ĐN như sau:

Đó là quan điểm ban đầu của Nguyễn Tài Cẩn về đoản ngữ danh từ tiếng

Việt Sau này, Nguyễn Tài Cẩn lại đề xuất mô hình đoản ngữ danh từ với hai trung

tâm ngữ (T1 và T2) Ông cho rằng, hầu hết các từ ở vị trí TTN (trung tâm ngữ thứ

nhất -T1) đều không thể kết hợp trực tiếp với số từ vì chúng là các danh từ không

đếm được Tuy nhiên, chỉ các từ ở vị trí đoản ngữ loại từ (đơn vị từ) mà ông gọi là

TTN thứ hai - T2 mới kết hợp được với TTN Khi nghiên cứu về từ các, tác giả

Nguyễn Tài Cẩn đưa ra kết luận, chỉ những từ ở vị trí đoản ngữ loại từ mới kết hợp

ĐN

cái

(2)

ĐN loại từ (1)

TTN (0)

ĐN miêu

tả (1')

ĐN chỉ định (2')

Tất cả những cái con mèo đen ấy

Trang 21

được với từ các còn các từ ở vị trí TTN thì hầu như không kết hợp được, trừ một

số từ chỉ chất liệu Như vậy có nghĩa là đoản ngữ số lượng, đoản ngữ loại từ không phải là thành tố trực tiếp của TTN

Trong luận án Tiến sĩ “Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của danh ngữ tiếng Hán hiện đại (trong sự đối chiếu với tiếng Việt)”, tác giả Nguyễn Hoàng

Anh đã chia đoản ngữ tiếng Hán thành 5 loại và trật tự của chúng như sau:

(ba giáo viên nổi tiếng ấy của trường tôi)

Tầng bậc cấu trúc ngữ nghĩa giữa các đoản ngữ với TTN được thể hiện như sau:

Khi đối chiếu với đoản ngữ danh từ tiếng Việt, Nguyễn Hoàng Anh đã thừa nhận mô hình đoản ngữ danh từ tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn với một TTN nhưng đã quy chúng về năm loại như trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán

Ví dụ: Tất cả những cái con mèo đen lông mượt như tơ ấy của Minh

Trật tự tuyến tính của chúng được sắp xếp như sau:

ĐN

sở thuộc

ĐN chỉ định

ĐN định lượng ĐN định tính

ĐN định tính

ĐN

ĐN định lượng

ĐN

sở thuộc

ĐN định danh

Trang 22

Dưới đây là mô hình đầy đủ của đoản ngữ danh từ tiếng Việt:

Tuy có sự khác nhau và vị trí giữa các loại ĐN so với TTN trong hai ngôn ngữ nhưng tác giả Nguyễn Hoàng Anh đã dùng sơ đồ các đường tròn đồng tâm để

mô tả khoảng cách giữa các ĐN và TTN trong đoản ngữ danh từ; trong đó, tâm điểm của đường tròn là TTN, còn các đoản ngữ thuộc các đường tròn đồng tâm bao quanh tâm điểm thì tầng bậc kết hợp tầng sâu ngữ nghĩa giữa các định ngữ và TTN trong tiếng Hán và trong tiếng Việt có sự tương đồng, chúng đều có thể được thể hiện như sau:

ĐN

định lượng TTN

ĐN định danh

ĐN định tính

ĐN chỉ định

Trang 23

1.2.2 Quan điểm của luận văn về định ngữ

Luận văn này thừa nhận quan điểm của các tác giả về ĐN cho danh từ tiếng Việt Nay xin được bổ sung một số điểm sau:

Nói chung, ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt cũng được chia thành hai loại: ĐN hạn định và ĐN miêu tả

ĐN hạn định có vai trò biểu thị phạm vi sự vật hoặc biểu thị số lượng, thời gian, nơi chốn, sở thuộc…, hạn định cho TTN Chẳng hạn:

+ Biểu thị số lượng: năm quyển vở/ hai con bò/ mười ngày

+ Biểu thị thời gian: câu chuyện của ngày hôm qua/ kế hoạch sáu tháng đầu năm/ kì nghỉ một tuần

+ Biểu thị nơi chốn: ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên/ hòn đảo giữa biển khơi/ bức chân dung trên tường

+ Biểu thị sở thuộc: chiếc xe của giám đốc/ hàng rào của nhà máy/ quê hương chúng tôi

+ Biểu thị phạm vi: những cuốn tạp chí này/ tài sản do bố mẹ để lại/ ngôi nhà tự mình xây

ĐN miêu tả thường có vai trò bổ sung ý nghĩa cho TTN về các mặt như: đặc điểm, tính chất, trạng thái, chất liệu, công dụng, chức vụ, nghề nghiệp,… Chẳng hạn:

+ Biểu thị đặc điểm của người hoặc sự vật: những kẻ theo đóm ăn tàn/ chàng phóng viên tuổi trạc ba mươi/ đức tính thật thà khiêm tốn

+ Biểu thị trạng thái tính chất của người hoặc sự vật: hàng hóa vừa tốt vừa rẻ/ nhiệm vụ bất khả thi/ chiếc áo màu thiên thanh/ tòa lâu đài nguy nga tráng lệ

+ Biểu thị thuyết minh về cách sử dụng, nguồn gốc của sự vật: bút vẽ, bàn chải đánh răng/ rau trồng trong vườn/ hàng hóa Trung Quốc

+ Biểu thị nghề nghiệp, chức vụ: diễn viên ba lê/ công nhân mỏ/ giám đốc nhân sự/ bác sĩ nội trú

+Biểu thị chất liệu: trần thạch cao/ nền xi măng/ bìa sách bằng da

Trang 24

Trong tiếng Việt, có một số từ ngữ vừa có thể đóng vai trò là ĐN hạn định lại vừa có thể đóng vai trò là ĐN miêu tả Điều này cũng sẽ được làm rõ ở các chương sau

Ở luận văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu thành phần ĐN tiếng Hán; trong quá trình nghiên cứu đối chiếu với ĐN cho danh từ trong tiếng Việt, chúng tôi thừa nhận quan điểm ban đầu về mô hình danh ngữ (đoản ngữ danh từ) với một TTN của Nguyễn Tài Cẩn Chúng tôi cũng tán đồng với cách phân chia ĐN thành năm loại của Nguyễn Hoàng Anh với các đường tròn đồng tâm mà tâm điểm là TTN để làm nổi bật sự tương đồng về vị trí của các loại ĐN trong hai thứ tiếng

Tuy nhiên, trong luận văn chúng tôi tiếp cận, miêu tả các loại ĐN trong đoản ngữ danh từ dưới một góc độ khác: khảo sát lần lượt các loại từ ngữ tham gia làm ĐN nhằm làm nêu bật vị trí, chức năng cũng như ý nghĩa của chúng Vì vậy, luận văn này khác với công trình của Nguyễn Hoàng Anh ở những điểm sau:

- Luận văn đã chi tiết hóa các từ ngữ tham gia làm ĐN cho danh từ

- Luận văn khảo sát quan hệ nội tại của ĐN và các mối quan hệ đó với tổng thể đoản ngữ danh từ trong sự so sánh hai ngôn ngữ; từ đó phác họa một bức tranh hoàn chỉnh về đoản ngữ danh từ

Chúng tôi cũng đã xác định được bảy vị trí của các loại từ ngữ tham gia làm ĐN trong một đoản ngữ danh từ có mô hình đầy đủ trong tiếng Hán và tiếng Việt Mặc dù có sự khác nhau về vị trí, nhưng trên trục tuyến tính chúng đối xứng nhau qua một trục mà trục đối xứng chính là TTN Điều này chúng tôi sẽ lý giải kỹ

ở chương III

TIỂU KẾT

ĐN là thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho danh từ ( thành phần tu sức) Nói chung, các nhà Hán học đều có quan điểm tương đối thống nhất về ĐN trong đoản ngữ danh từ Riêng tác giả Chu Đức Hy đề xuất thêm khái niệm “chuẩn định ngữ” trong đó có những điểm tác giả đưa ra tự mâu thuẫn với chính mình Còn hai tác giả Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông lại đề xuất khái niệm “ĐN đồng nhất tính”

ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán được chia làm hai loại: ĐN hạn định

và ĐN miêu tả TTN trong đoản ngữ danh từ có ĐN hạn định tu sức là những danh

từ biểu thị người/ vật xác định, còn TTN trong đoản ngữ danh từ có ĐN miêu tả tu sức là những danh từ biểu thị người vật có thể là xác định mà cũng có thể là không xác định Mỗi loại ĐN do một số loại từ ngữ đảm nhiệm; tuy nhiên, có những loại

Trang 25

từ ngữ có thể đảm nhiệm cả hai vai trò: vừa là ĐN hạn định vừa là ĐN miêu tả, tùy theo vị trí của chúng trong đoản ngữ hoặc tùy theo vị trí ở trong câu

Nói chung, các thực từ và các ngữ của chúng đều có thể tham gia làm ĐN cho danh từ Mỗi loại từ ngữ làm ĐN lại liên quan đến sự xuất hiện hay vắng mặt của trợ từ kết cấu的

Trong quá trình so sánh với thành phần ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt chúng tôi nhận thấy, nói chung các nhà Việt ngữ, dù có cách tiếp cận khác nhau và ở những góc độ khác nhau, nhƣng đều thống nhất ở một điểm: trong đoản ngữ danh từ, ĐN là thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho TTN Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Tài Cẩn đã đƣa ra mô hình đoản ngữ danh từ với hai TTN trong đó đơn vị

từ là TTN thứ hai Trong nghiên cứu, chúng tôi theo quan điểm ban đầu của ông về

mô hình đoản ngữ mà trong đó đơn vị từ có thể làm ĐN cho danh từ

Trang 26

CHƯƠNG II CÁC YẾU TỐ THAM GIA LÀM ĐỊNH NGỮ TRONG ĐOẢN NGỮ

DANH TỪ TIẾNG HÁN

Như đã trình bày, ĐN là một phạm trù rất rộng, để nghiên cứu về vấn đề này đòi hỏi phải có một công trình lớn công phu Trong chương này, chúng tôi chỉ khảo sát các yếu tố (nói rõ hơn là các loại từ ngữ) tham gia làm ĐN trong đoản ngữ danh từ Nói chung, tất cả các thực từ và các ngữ của chúng đều có thể làm ĐN cho danh từ Nói đến ĐN của danh từ tiếng Hán không thể không nói đến sự xuất hiện

và vai trò của trợ từ kết cấu 的 Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát các loại từ

ngữ tham gia làm ĐN Riêng khi bàn đến các ngữ tham gia làm ĐN, các ngữ danh

từ, ngữ động từ, ngữ tính từ làm ĐN sẽ được chúng tôi đề cập tới ở các mục danh

từ, động từ và tính từ làm ĐN chứ không tách chúng thành những mục riêng

2.1 Danh từ/ ngữ danh từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ

2.1.1 Danh từ làm định ngữ biểu thị quan hệ sở thuộc

Loại này được chia thành mấy nhóm nhỏ khác nhau:

(a) ĐN sở thuộc sở hữu thuần túy Loại ĐN này biểu thị người hoặc vật được sở hữu, giữa ĐN và TTN phải có trợ từ kết cấu的 Bộ phận ĐN biểu thị vật

sở hữu, bộ phận TTN biểu thị chủ thể sở hữu Chẳng hạn:

中国的领土/ 越南的首都/ 班长的词典/小张的杂志 (lãnh thổ của Trung

Quốc/ thủ đô của Việt Nam/ từ điển của lớp trưởng/ tạp chí của Tiểu Trương)

(b) ĐN sở thuộc biểu thị thuộc tính của sự vật Trong loại này, cũng giống như ĐN sở thuộc sở hữu thuần túy, giữa ĐN và TTN nói chung là phải dùng trợ từ kết cấu 的 Tuy nhiên, bộ phận ĐN đứng trước 的 biểu thị thuộc tính, phẩm chất,

đặc trưng đi kèm, gắn liền với đối tượng được thể hiện bằng TTN Chẳng hạn:

Trường hợp có sử dụng 的: 工厂的规模/ 学校的围墙 (qui mô của nhà

máy, tường bao của trường học) Trong loại này, giữa ĐN và TTN có quan hệ hết

Trang 27

sức lỏng lẻo, tính định danh thấp Chẳng hạn, ta có thể nói 规模 (quy mô) của bất

Trường hợp không sử dụng的: 瓶盖子/ 电话铃/ 衣服袖子/ 羊皮/ 学校门

/ 山脚 (nút chai/ chuông điện thoại/ tay áo/ da dê/ cổng trường/ chân núi) Trong

loại này, giữa ĐN và TTN có quan hệ chặt chẽ hơn, tính định danh cao hơn loại

trên So sánh: 瓶盖子 (nút chai) và 瓶的盖子 (nút của (cái) chai), 衣服袖子 (tay

áo) và衣服的袖子 (tay của (cái/chiếc) áo)

(d) ĐN sở thuộc biểu thị thời gian, địa điểm Chẳng hạn:

昨天的报纸/ 去年的故事/ 河内的街道 (báo của ngày hôm qua/ câu

chuyện năm ngoái/ đường phố của Hà nội Trong loại này, nói khái quát,

ĐN thường biểu thị ý nghĩa phương vị, sau các ĐN thường phải dùng trợ từ 的

2.1.2 Danh từ làm định ngữ biểu thị nghề nghiệp, chất liệu, thuộc tính,

nguồn gốc của sự vật

Những ĐN loại này thường là những ĐN miêu tả, trả lời cho câu hỏi

“thuộc loại nào?” Chính vì vậy mà các ĐN kết hợp với TTN rất chặt chẽ, giữa

chúng thường không dùng trợ từ 的 Xét về ý nghĩa, chúng là những đoản ngữ danh

từ có tính thành ngữ nhất định Chẳng hạn:

俄文老师/ 文学教授/ 考古学家 (thầy giáo Nga văn/ giáo sư văn học/

chuyên gia khảo cổ)

水泥椅子/ 木头桌子/ 纸箱 (ghế xi măng/ bàn gỗ/ hòm giấy)

历史事实/ 政治问题/ 经济政策 (sự thực lịch sử/ vấn đề chính trị/ chính

sách kinh tế)

中国画报/ 越南地图 (họa báo Trung Quốc/ bản đồ Việt Nam)

Có một điều đáng lưu ý là, tiếng Hán chỉ có thể nói : 俄文老师/ 音乐老师

(thầy giáo (dạy) tiếng Nga/ thầy giáo (dạy) âm nhạc) mà không thể nói:俄文学生/

音乐学生 (học sinh (học) tiếng Nga/ học sinh( học) âm nhạc)

Cũng cần phải nói thêm, trong tiếng Hán có một số danh từ có thể kết hợp

trực tiếp với danh từ để tạo ra một danh từ định danh; xét về bản chất, chúng là

những từ ghép chính phụ hoàn toàn khác với những đoản ngữ danh từ trên.Chẳng

hạn:铁路/手机 (đường sắt/ điện thoại di động) Xét trường hợp铁路 (đường sắt), rõ

Trang 28

ràng là về bản chất, nó hoàn toàn khác với 铁桌 (bàn sắt); vì thực tế chỉ có thể nói:

铁的桌 (bàn bằng sắt) mà không thể nói: 铁的路 (đường bằng sắt), bởi铁路 là một

từ nên không thể phân tách như phân tách một đoản ngữ

Xét nội bộ cấu trúc của ĐN, hay nói cách khác, xét khả năng kết hợp của danh từ với các từ ngữ khác để tạo thành ngữ danh từ làm ĐN, có thể có mấy khả năng chủ yếu sau:

(a) Các danh từ kết hợp với nhau tạo thành ngữ liên hợp làm ĐN biểu thị quan hệ sở thuộc Chẳng hạn:

爸爸妈妈的工作/ 小李和小张的杂志/ 老师和学生的爱好 (công việc của

bố mẹ/ tạp chí của tiểu Lí và tiểu Trương/ sở thích của thầy giáo và học sinh)

(b) Danh từ kết hợp với danh từ, đại từ và các từ ngữ khác tạo thành ngữ đồng vị làm ĐN biểu thị quan hệ sở thuộc Chẳng hạn:

(d) Danh từ kết hợp với danh từ hoặc các từ ngữ khác tạo thành ngữ chính phụ làm ĐN Chẳng hạn:

中文老师的儿子/ 这本俄语辞典的封面/ 一块手表的价钱 (con của thầy

giáo dạy Trung văn/ bìa của cuốn từ điển tiếng Nga này/ giá tiền của một chiếc đồng hồ đeo tay)

Trong đoản ngữ danh từ có danh từ làm ĐN, ý nghĩa, quan hệ ý nghĩa của đoản ngữ, của ĐN và TTN phụ thuộc vào việc dùng hay không dùng trợ từ 的 , vào việc thay đổi trật từ trước sau của trợ từ 的 Trong trường hợp đoản ngữ danh từ có

sử dụng 的, bộ phận ĐN đứng trước 的 thường là ĐN hạn định, chẳng hạn: 中国的

Trang 29

朋友 (người bạn của Trung Quốc); khi không sử dụng 的, bộ phận ĐN trong đoản ngữ danh từ thường là ĐN miêu tả, chẳng hạn: 中国朋友 (người bạn Trung Quốc)

Với trường hợp thay đổi trật tự của trợ từ 的, so sánh: 我们班主任的老师

(thầy giáo của (thầy giáo) chủ nhiệm lớp chúng tôi) và 我们的班主任老师 (thầy giáo chủ nhiệm lớp của chúng tôi) 主任 (chủ nhiệm) trong ví dụ thứ nhất có vai trò

là ĐN hạn định, 主任 (chủ nhiệm) trong ví dụ thứ hai có vai trò là ĐN miêu tả

Trong tiếng Hán, có một số từ chỉ bộ phận cơ thể của con vật, trong đoản ngữ nếu có的 sẽ biểu thị quan hệ sở thuộc giữa bộ phận và toàn thể, nếu không có 的sẽ là một thành ngữ Chẳng hạn, 狐狸的尾巴 (đuôi của con cáo) khác với 狐狸尾巴 (âm

mưu/ mưu gian); 鳄鱼的眼泪 (nước mắt của cá sấu) khác với: 鳄鱼眼泪 (nước mắt cá sấu); 象的鼻子 (mũi của voi) khác với: 象鼻子 (như mũi voi/ mũi dài)

Trong một số trường hợp, chữ 的 còn có vai trò khu biệt danh từ làm ĐN biểu thị quan hệ sở thuộc với danh từ không phải là ĐN Chẳng hạn: 爸爸的妈妈

(mẹ của bố/ bà nội) khác với爸爸妈妈 (bố mẹ)

Đôi khi, sự hiện diện của chữ 的 còn có tác dụng phá vỡ sự mơ hồ trong những đoản ngữ vốn có tính mơ hồ Ví dụ, nếu ta nói: 学生家长 (phụ huynh học sinh) thì đó sẽ là một đoản ngữ có tính mơ hồ, và có thể hiểu là “phụ huynh và học

sinh”, hoặc “phụ huynh của học sinh”; nhưng nếu ta thêm chữ 的 vào giữa学生

家长 (学生的家长) thì chỉ có thể hiểu là “phụ huynh của học sinh” mà thôi

2.1.4 Một số đoản ngữ (có danh từ là định ngữ) mơ hồ thường gặp

Hiện tượng mơ hồ thường xảy ra đối với một số đoản ngữ có ĐN là danh từ

mà hình thức trùng của nó trùng với hình thức của động từ Hay nói cách khác, đó

là những từ vừa là danh từ vừa là động từ Chẳng hạn: 学习文件 Đoản ngữ này có

hai cách hiểu: (1) văn kiện (tài liệu) học tập (đoản ngữ danh từ); (2) học tập văn kiện (đoản ngữ động từ) Muốn biết đoản ngữ thuộc loại nào, phải đặt nó vào những ngữ cảnh xác định Ví dụ:

(1)今天我们学习文件 (hôm nay chúng tôi học tập văn kiện)

(2) 今天我们领学习文件 (hôm nay chúng tôi lĩnh văn kiện (tài liệu) học tập)

Trang 30

Hiện tượng mơ hồ này khá phổ biển trong tiếng Hán Có thể kể thêm một

số ví dụ khác:

表演节目 (tiết mục biểu diễn/ biểu diễn tiết mục)

预约日期 (ngày hẹn/ hẹn ngày)

保留意见 (ý kiến bảo lưu/ bảo lưu ý kiến)

出口商品 (hàng hóa xuất khẩu/ xuất khẩu hàng hóa)

Tuy nhiên, có những đoản ngữ mơ hồ khi đã đặt trong ngữ cảnh cụ thể mà vẫn không xác định được bản chất của chúng; ví dụ như: 我们打算试验改良品种

Câu này có thể hiểu theo hai cách: “chúng tôi dự định thí nghiệm giống (đã được) cải tiến”, hoặc “ chúng tôi dự định thí nghiệm cải tiến giống”

Hiện tượng mơ hồ còn xảy ra với những đoản ngữ có danh từ làm ĐN biểu thị quan hệ sở thuộc Ví dụ, đoản ngữ:普希金的书 (sách của Putskin), có thể hiểu là: (1) “sách do Putskin viết”; (2) “sách do Putskin sưu tầm/ sở hữu” Sự mơ hồ này hoàn toàn có thể bị triệt tiêu khi câu nói được bổ sung thêm thông tin; chẳng hạn,普希金写的书 (sách do Putskin viết) và普希金收藏的书 (sách do Putskin sưu tầm) Trong những trường hợp này, ĐN của danh từ trung tâm lại có cấu trúc ngữ pháp là một cụm chủ vị sẽ được làm rõ ở mục 2.7

Ngoài ra, còn phải kể đến hiện tượng mơ hồ xảy ra đối với những đoản ngữ

có ngữ liên hợp làm ĐN Xét đoản ngữ sau: 广西和云南的部分地区; rõ ràng đây

là một đoản ngữ mơ hồ, vì có thể hiểu là: (1) Quảng Tây và một bộ phận của Vân Nam; (2) một bộ phận của Quảng Tây và một bộ phận của Vân Nam Để làm triệt tiêu sự mơ hồ của đoản ngữ này, hoặc phải nhờ sự can thiệp của trợ từ kết cấu的, hoặc phải sử dụng thủ pháp thay đổi trật tự từ:

广西的和云南的部分地区 (một bộ phận của Quảng Tây và của Vân Nam)

云南的部分地区和广西 (Quảng Tây và một bộ phận của Vân Nam)

2.1.5 So sánh danh từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán

và danh từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt

Vị trí của danh từ làm ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán luôn đứng trước TTN, danh từ làm ĐN trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt luôn đứng sau TTN

Đó là điểm khác nhau cơ bản

Nếu như sau ĐN biểu thị quan hệ sở thuộc trong tiếng Hán phải dùng trợ từ kết cấu的, thì trước ĐN danh từ tiếng Việt phải dùng kết từ của Chẳng hạn: 中国

Trang 31

的领土 (lãnh thổ của Trung Quốc) Song, trong một số đoản ngữ danh từ tiếng Việt của có thể lược bỏ nếu không làm ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của đoản ngữ đó; chẳng hạn: Dư luận (của) nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, trong trường hợp sau đây của không thể lược bỏ, vì: tình yêu mẹ khác với tình yêu của mẹ

Khi danh từ làm ĐN biểu thị quan hệ giữa bộ phận và toàn thể của sự vật, nếu đó là đoản ngữ danh từ định danh mang tính chất làm thời thì giữa ĐN và TTN

phải dùng kết từ của, còn nếu đó là đoản ngữ danh từ định danh ổn định bền vững thì giữa ĐN và TTN không dùng của Điều này giống với việc sử dụng trong

đoản ngữ danh từ tương ứng của tiếng Hán Chẳng hạn, ta nói:工厂的规模 (qui mô

của nhà máy); nhưng ta lại nói:电话铃/ 学校门口(chuông điện thoại/ cổng trường)

Đối với các ĐN sở thuộc biểu thị thời gian, trong tiếng Hán, nếu như việc dùng 的 là bắt buộc, thì trong tiếng Việt không bắt buộc phải dùng của Chẳng hạn:

去年的故事 (câu chuyện (của) năm ngoái)

Trong các đoản ngữ danh từ có danh từ làm ĐN biểu thị nghề nghiệp chất liệu, thuộc tính, nguồn gốc sự vật, trong tiếng Hán không dùng的; tương tự, đối với

các đoản ngữ danh từ thuộc loại này trong Tiếng Việt, cũng không dùng kết từ của

tiếng Hán, ở đây có sự khác nhau về ý nghĩa biểu đạt Hãy so sánh:

木头椅子 (ghế gỗ) khác với木头的椅子 (ghế làm bằng gỗ); tương tự,

箱子 (va-li da) khác với皮的箱子 (va-li làm bằng da)

Giống như trợ từ 的, kết từ của cũng có vai trò khu biệt ĐN sở thuộc với

ĐN miêu tả So sánh:

Cô ấy là người bạn Việt Nam (Việt Nam là ĐN miêu tả)

Cu Ba là người bạn của Việt Nam (Việt Nam là ĐN sở thuộc)

Giống như trợ từ的, kết từ của cũng có khả năng khu biệt danh từ làm ĐN với danh từ không phải là ĐN Chẳng hạn, bố của mẹ (ông ngoại) khác bố mẹ

Trang 32

Trong Tiếng Việt, các danh từ có hình thức trùng với động từ làm ĐN cho danh từ không tạo ra những đoản ngữ mơ hồ như trong tiếng Hán; bởi vì, trong

tiếng Việt danh từ làm ĐN luôn đứng sau TTN Thật vậy,văn kiện học tập khác với học tập văn kiện; ý kiến bảo lưu khác với bảo lưu ý kiến

Tuy vậy, trong tiếng Việt khi danh từ làm ĐN biểu thị quan hệ sở thuộc cũng có thể tạo ra những đoản ngữ mơ hồ như trong tiếng Hán Chẳng hạn, trường hợp đoản ngữ: 普希金的书 (sách của Putskin) đã dẫn ở trên

Có một điều trùng hợp thú vị là, những đoản ngữ có cấu trúc kiểu như: 广西和云南的部分地区 là những đoản ngữ mơ hồ Đoản ngữ này nếu dịch sang tiếng

Việt là một bộ phận của Vân Nam và Quảng Tây, thì đây cũng là một đoản ngữ mơ

hồ với hai cách hiểu: (1) một bộ phận của Vân Nam và một phận của Quảng Tây, (2) một bộ phận của Vân Nam và cả tỉnh Quảng Tây Muốn làm triệt tiêu sự mơ hồ của

đoản ngữ này cũng phải nhờ đến sự can thiệp của kết từ của hoặc sử dụng thủ pháp

thay đổi trật từ như cách xử lí đoản ngữ mơ hồ trong tiếng Hán đã nói ở trên

Hiện tượng mơ hồ kiểu này thường xảy ra trong tiếng Việt Ví dụ: Chúng

ta hướng cuộc vận chống tham nhũng của chính phủ, hoặc: Các thầy cô cố gắng thực hiện việc trồng người xã hội chủ nghĩa vì lợi ích trăm năm của Bác Hồ

2.2 Động từ/ ngữ động từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ

2.2.1 Động từ/ ngữ động từ làm định ngữ

Động từ/ ngữ động từ làm ĐN có nhiệm vụ chủ yếu là hạn định cho danh

từ trung tâm; giữa ĐN và TTN nói chung là phải dùng trợ từ kết cấu 的; chẳng hạn:

(đánh vỡ cái ly); 喝的东西 (đồ uống) khác với喝东西 (uống cái gì đó)

Xét quan hệ ngữ nghĩa giữa ĐN và TTN, loại ĐN này được chia thành 4 tiểu loại chính sau:

Trang 33

(1) Danh từ làm TTN là đối tượng mà động từ làm ĐN trực tiếp tác động tới, hay nói cách khác, TTN chính là tân ngữ trực tiếp của động từ làm ĐN Như thế cũng có nghĩa là, nếu bỏ trợ từ 的 đi, đoản ngữ sẽ biến thành ngữ động-tân Những

trường hợp vừa xét ở trên đã chứng minh cho điều đó

(2) Danh từ làm TTN là tác nhân gây ra hành động mà động từ làm ĐN biểu thị Trong trường hợp này, ĐN có thể là nội động từ/ kết cấu của nội động từ, ngữ động- tân, ngữ liên động hoặc ngữ kiêm ngữ Chẳng hạn:

刚来的留学生/又说又笑的那个人/ 走在前边的人(lưu học sinh vừa mới tới/ cô gái vừa nói vừa cười kia/ người đi phía trước)

打猎的小伙子/ 种田的人/ 送化肥的车 (anh chàng đi săn/ người làm

ruộng/ xe chở phân hóa học)

去上海参观的代表团/ 上山打虎的英雄/ 下河救上孩子的恩人 (đoàn đại

biểu đi Thượng Hải tham quan/ người anh hùng lên núi đánh hổ/ ân nhân nhảy xuống sông cứu đứa trẻ)

鼓励我学习汉语的中国朋友/ 叫你来的人/ 有哥哥住在北京的姑娘/ 虚心使人进步的话( người bạn Trung quốc khích lệ tôi học tiếng Hán/ người gọi cậu tới/ cô gái có người anh ở Bắc Kinh/ lời nói “khiêm tốn làm cho con người tiến bộ” )

(3) Danh từ làm TTN là công cụ tiến hành của động tác mà động từ làm

ĐN biểu thị Chẳng hạn:写大字的毛笔/ 写报告的资料 (bút lông để viết đại tự/ tài

liệu để viết báo cáo)

(4) Danh từ làm TTN không phải là đối tượng mà hành động do động từ ở phần ĐN biểu thị tác động tới Trong trường hợp này, TTN có thể do từ ngữ biểu thị thời gian, địa điểm hoặc các loại từ ngữ khác đảm nhiệm Chẳng hạn:

开会的地点/ 在中国学习的时间/ 画蛇添足的成语故事 (địa điểm họp/

thời gian học tập ở Trung quốc/ câu chuyện thành ngữ “vẽ rắn thêm chân”)

Trong các trường hợp (2), (3), (4) chữ 的 có vai trò làm ranh giới phân

định giữa ĐN và TTN, hay nói cách khác chữ 的 là dấu hiệu bên ngoài để nhận diện đoản ngữ danh từ

Tuy nhiên, trong tiếng Hán có một số động từ song âm tiết khi tu sức cho một số danh từ song âm tiết nào đó mà không gây ra sự lầm lẫn với quan hệ động-

Trang 34

tân thì 的 có thể được lược bỏ Điều này phù hợp với qui luật tiết kiệm trong ngôn ngữ Chẳng hạn:

考试结果/ 发展工作/ 改进意见 (kết quả thi/ công tác phát triển/ ý kiến cải

tiến)

Những đoản ngữ này chỉ có một cách hiểu như vậy, chứ không thể hiểu là

“thi kết quả/ phát triển công tác/ cải tiến ý kiến” Ở đây, để rõ thêm vấn đề, có thể

kể thêm vài ví dụ như:

扩大会议/ 参考消息/ 创作计划/ 解放战争 (hội nghị mở rộng/ tin tức

tham khảo/ kế hoạch sáng tác/ chiến tranh giải phóng),v.v

Trong tiếng Hán, có một số động từ song âm tiết có thể kết hợp với một danh từ song âm tiết để tạo thành kết cấu động-tân Nhưng khi ta đặt động từ vào vị trí tân ngữ, hay nói cách khác là ta hoán đổi vị trí của động từ và vị trí của tân ngữ

cho nhau, thì ta được một tổ hợp danh từ mới mà không cần tới trợ từ 的; chẳng hạn:一段风景描写 (một đoạn miêu tả phong cảnh), trong đó, 描写 (miêu tả) là một động từ đứng sau danh từ 风景 (phong cảnh), có tác dụng tạo thành đoản ngữ danh

từ 风景描写 ((đoạn văn) miêu tả phong cảnh) Chúng tôi gọi trường hợp này là đoản ngữ danh từ vì, về mặt cấu trúc cũng như ý nghĩa, nó hoàn toàn đối lập với đoản ngữ động từ So sánh: 风景描写 (đoạn miêu tả phong cảnh) và 描写风景

(miêu tả phong cảnh) Ở đây, trường hợp đầu là đoản ngữ danh từ, trường hợp sau

là đoản ngữ động từ có kết cấu động- tân

Hiện tượng hoán đổi vị trí giữa động từ và danh từ ở trên hoàn toàn khác với trường hợp động từ có hình thức (xét về mặt từ loại) trùng với danh từ (còn gọi

là từ kiêm loại, hay nhất từ đa loại) mà chúng tôi đã lý giải ở phần 1 Sở dĩ như vậy

là vì, với những động từ này, xét về mặt nghĩa, tính động từ (tức sự biểu thị ý nghĩa quá trình, hoạt động, trạng thái của ngữ đoạn) rất yếu trong khi đó tính danh từ (tức sự biểu thị ý nghĩa thực thể, sự vật của ngữ đoạn ) của chúng lại vượt trội Những kết cấu này thường được dùng làm ĐN cho một danh từ khác; chẳng hạn:

人才培养的问题/ 口头表达能力/ 土地测量的工作/ 身体检查的结果/ 青少年教育问题/ 民族解放运动/ 妇女解放的意义 (vấn đề bồi dưỡng nhân tài/ khả

năng diễn đạt khẩu ngữ/ công tác đo đạc ruộng đất/ kết quả kiểm tra sức khỏe/ vấn

đề giáo dục thanh thiếu niên/ phong trào giải phóng dân tộc/ ý nghĩa của (việc) giải phóng phụ nữ)

Trang 35

Những đoản ngữ này nếu sắp xếp đúng trật tự, chúng phải là:培养人才的

问题/ 表达口头的能力/ 测量土地的工作/ 检查身体的结果/ 教育青少年的问题/

解放民族的运动/ 解放妇女的意义 Và như vậy, trong các đoản ngữ danh từ này,

ĐN của chúng sẽ là các cụm động-tân (điều này sẽ được chúng tôi làm rõ sau) Tuy nhiên, không phải tất cả các động từ song âm tiết đều có thể đảo vị trí cho danh từ

để tạo nên những đoản ngữ theo kiểu này

Các loại ngữ làm ĐN nói chung, ngữ động-tân làm ĐN nói riêng, giữa ĐN

và TTN thường phải có sự tham gia của trợ từ kết cấu的 Nhưng trong thực tế, còn

có thể gặp những ngoại lệ là, một số ngữ động-tân làm ĐN kết hợp trực tiếp với danh từ làm TTN; chẳng hạn:学中国普通话节目/ 排片表 (chương trình học tiếng phổ thông Trung Quốc/ bảng chương trình chiếu phim)

Chính vì vậy, cần chú ý tới trường hợp, một số động từ khi kết hợp với danh từ không thông qua trợ từ 的 cho ta một kết cấu không phải là đoản ngữ danh

từ, cũng không phải là ngữ động-tân mà là một danh từ định danh đích thực; nói chính xác hơn đó là danh từ ghép chính phụ Chẳng hạn, với động từ飞 (bay), có

thể cho kết hợp với danh từ để tạo ra các danh từ định danh飞碟/ 飞机 (máy bay/

đĩa bay) Tương tự, có một số ngữ động- tân kết hợp trực tiếp với danh từ cũng cho

ta một danh từ định danh Với các ngữ động- tân:打火/ 打字/ 打包/阅报 (đánh lửa/

đánh chữ/ đóng gói/ đọc báo), có thể tạo ra các danh từ định danh打火机/ 打字机/

打包机 (bật lửa/ máy chữ/ máy đóng gói)

Xét nội bộ cấu trúc, hay nói cách khác là xét khả năng kết hợp của động từ với các từ ngữ khác tạo thành ngữ động từ làm ĐN cho danh từ, có thể có 5 trường hợp sau:

(a) Động từ kết hợp với danh từ thành ngữ động-tân làm ĐN cho danh từ như một số trường hợp đã phân tích và minh họa ở trên

(b) Các động từ kết hợp với nhau thành ngữ liên hợp làm ĐN cho danh từ Chẳng hạn: 吃和喝的东西/ 听和说的能力 (đồ ăn uống/ khả năng nghe nói)

(c) Động từ kết hợp với động từ, tính từ làm bổ ngữ (trình độ, kết quả, khả năng, xu hướng ) tạo thành ngữ bổ sung làm ĐN cho danh từ Chẳng hạn: 看不清楚的汉子/ 做得对的作业/ 寄来的信/ 爬上山去的人/ 起得早的人/ 洗干净的衣服

Trang 36

/ 整理好的资料 (chữ Hán xem không rõ/ bài tập đã làm đúng/ bức thư gửi tới/

người leo lên núi/ người dậy sớm/ quần áo đã giặt sạch/ tư liệu đã sửa chữa xong)

Về trường hợp đoản ngữ danh từ (có động từ làm ĐN ) mơ hồ, có thể chia

làm hai loại nhỏ, xét về mặt cú pháp, như sau:

- Thứ nhất, hiện tượng mơ hồ trong đó có cụm động-tân làm ĐN cho danh

từ Xét ví dụ: 咬死了猎人的狗 ((cái) con chó đã cắn chết người đi săn) Trên thực

tế, đoản ngữ này có hai cách hiểu: (1) con chó đã cắn chết người đi săn; (2) đã cắn

chết con chó của người đi săn Ở cách hiểu thứ nhất, 猎人的狗 (đã cắn chết người

đi săn) có tư cách là một ngữ động-tân, làm ĐN cho danh từ狗 (chó); ở cách hiểu

thứ hai, 猎人的狗 (con chó của người đi săn) có tư cách là tân ngữ của ngữ động từ

咬死了 (đã cắn chết)

Tuy vậy, có những đoản ngữ có kết cấu giống nhau nhưng, xét về mặt lôgíc ngữ nghĩa, thì không thể hiểu khác được Chẳng hạn: 饲养猎人的狗 chỉ có

thể hiểu là: “nuôi con chó của người đi săn”, chứ không thể hiểu là: “con chó nuôi

người đi săn”

- Thứ hai, hiện tượng mơ hồ trong đó chỉ có một động từ làm ĐN Xét ví

dụ: 吃的人(*(*)) Trường hợp này ta có thể hiểu hoặc là: 吃某种东西的人 (người ăn

cái gì đó), hoặc là: 被野兽吃的人 (người bị thú dữ ăn thịt) Tuy nhiên, nếu nói

的饭/ 写的字 (cơm đã được nấu/ chữ đã được viết), thì đó không phải là những

đoản ngữ mơ hồ

Như trên đã trình bày, khi động từ làm ĐN cho danh từ, ta buộc phải dùng

的 để tránh lầm lẫn với cụm động-tân Tuy vậy, người Hán vẫn chấp nhận lối nói:

煮饺子 (luộc bánh chẻo/ bánh chẻo luộc);

炒米粉 (xào phở/ phở xào)

(*)

Trang 37

Trong cả hai trường hợp này, ta đều có thể hiểu theo hai cách Muốn hiểu đúng và muốn xem chúng thuộc loại từ loại nào, phải đặt chúng vào ngữ cảnh; ví dụ: 他在煮饺子 —Anh ấy đang luộc bánh chẻo; và: 他很喜欢吃煮饺子 – Anh ấy

rất thích ăn bánh chẻo luộc) Ta biết rằng, trật tự của đoản ngữ danh từ trong tiếng Hán là chính sau phụ trước (ĐN đứng trước TTN), trật tự của ngữ động từ là chính trước phụ sau (bổ ngữ, tân ngữ đứng sau động từ trung tâm) Trong tổ chức của đoản ngữ danh từ, khi ĐN thuộc diện “nhất từ đa loại”, và khi đoản ngữ đó có chữ

bị tỉnh lược (xin lưu ý rằng, chữ 的 là một dấu hiệu hình thức đặc hữu để xác định danh từ trong tiếng Hán), ở nhiều trường hợp (chẳng hạn như đã dẫn) ta có thể thuyết giải chúng, về mặt cấu trúc, nếu ngữ nghĩa cho phép, hoặc là đoản ngữ danh

từ, hoặc là đoản ngữ động từ Hiện tượng mơ hồ như vậy là một thuộc tính vốn có của bất kỳ một ngôn ngữ tự nhiên nào

2.2.3 So sánh động từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán

và động từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Việt

Xét về mặt vị trí, động từ làm ĐN cho danh từ trong tiếng Hán luôn đứng trước TTN; ngược lại, động từ làm ĐN cho danh từ trong tiếng Việt luôn đứng sau TTN Chẳng hạn, khi người Hán nói: 打破了的杯子 thì người Việt nói: cái ly bị đánh vỡ

Một điểm khác biệt nữa là, giữa động từ làm ĐN và TTN trong Tiếng Việt không có bất cứ từ ngữ nào chen vào Vì thế, trong tiếng Việt không có sự mơ hồ

giữa đoản ngữ danh từ và ngữ động từ (cụm động-tân) Rõ ràng là cái ly bị đánh vỡ khác với đánh vỡ cái ly Tuy nhiên, cái ly bị đánh vỡ có thể hiểu là một câu hoàn

hiểu chúng là những đoản ngữ danh từ mà thôi

Trong Tiếng Việt cũng không có hiện tượng hoán đổi vị trí giữa động từ và danh từ để tạo thành một đoản ngữ danh từ Chẳng hạn, khi người Hán nói:一段风景描写 (nhất đoạn phong cảnh miêu tả), thì người Việt chỉ có thể nói: một đoạn miêu tả phong cảnh, mà không thể nói: một đoạn phong cảnh miêu tả Có nghĩa là,

có thể thêm số lượng từ vào trước đoản ngữ, hoặc thêm đại từ chỉ thị vào sau đoản

ngữ; ví dụ : (một) đoạn miêu tả phong cảnh (này) .Mặc dầu vậy, ta cũng không thể

Trang 38

nói: miêu tả phong cảnh này Còn nếu nói miêu tả phong cảnh thì chỉ có thể hiểu đó

là cụm động-tân

Để tránh mơ hồ, trong tiếng Việt, một số ngữ động từ khi muốn biến đổi

chức năng thành đoản ngữ danh từ, ta có thể thêm sự, việc, cuộc, công cuộc, nỗi, niềm, v.v … vào trước các ngữ động từ đó để danh hóa Chẳng hạn:

công cuộc xây dựng CNXH

việc học tiếng Hán

nỗi nhớ quê hương

Điều này hoàn toàn không thấy xuất hiện trong lối nói của người Trung Quốc Có lẽ vì thế mà trong tiếng Hán, ở nhiều trường hợp ta có thể bắt gặp những cách nói mơ hồ như đã dẫn ở trên

2.3 Tính từ/ ngữ tính từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ tiếng Hán

2.3.1 Tính từ làm định ngữ trong đoản ngữ danh từ

Tính từ làm ĐN tu sức cho danh từ, nói chung, có chức năng biểu thị quan

hệ miêu tả Việc dùng hay không dùng trợ từ 的 có liên quan tới số lượng âm tiết của tính từ Giữa tính từ đơn âm tiết và TTN thường không dùng trợ từ kết cấu 的;

chẳng hạn:

新同学/ 好朋友/ 旧书/ 短裙 (bạn học mới/ bạn tốt/ sách cũ/ váy ngắn) Tuy vậy, khi cần nhấn mạnh hoặc so sánh về đặc điểm tính chất của sự vật

mà tính từ miêu tả thì ta có thể thêm的 vào giữa tính từ và TTN Ví dụ:

这个新的书包是我的, 那个旧的是她的 (cái cặp sách mới này là của tôi,

cái cũ kia là của cô ấy)

他们只买了嫩的茶 (họ chỉ mua chè tươi)

Khi trước tính từ đơn âm tiết có thành phần tu sức khác, buộc phải dùng 的

giữa ĐN và TTN; chẳng hạn:

很好的邻居/ 比较贵的货物/ 很旧的词典 (hàng xóm rất tốt/ hàng hóa

tương đối đắt/ từ điển rất cũ)

Khi ĐN là đoản ngữ tính từ chỉ mức độ, ta cũng phải dùng giữa ĐN và TTN; chẳng hạn:

通红的脸/冰冷的手/ 黑洞洞的地道/ 白花花的银子/ 五十多吨重的钻探

(mặt đỏ rực/ tay lạnh cóng/ đường hầm tối om om/ bạc trắng lấp lánh/ máy

khoan nặng hơn năm mươi tấn)

Trang 39

Khi tính từ đơn âm tiết láy lại hoặc tính từ đa âm tiết làm ĐN, nói chung phải dùng 的 sau các tính từ đó; chẳng hạn:

长长的桌子/ 弯弯的新月 (cái bàn dài dài/ vầng trăng non cong cong)

Tính từ phẩm chất làm ĐN cho danh từ với sự xuất hiện hay vắng mặt của trợ

từ的 phải tuân thủ theo qui tắc đã được phân tích cùng với các ví dụ minh họa ở trên

Tính từ trạng thái làm ĐN cho danh từ thường phải có sự xuất hiện của trợ

từ的, nhất là đối với những ĐN gồm một tổ hợp tính từ mà trong tổ hợp đó có sự

góp mặt của danh từ nhằm bổ sung ngữ nghĩa Chẳng hạn:

洁白的心灵/ 雪白的背信/ 冷冰冰的面孔/ 黑咕隆咚的山洞/ 通红的太阳

/ 鲜红的国旗 (tâm hồn trong trắng/ áo may ô trắng tinh/ khuôn mặt lạnh băng/ hang

động tối om om/ mặt trời đỏ rực/ quốc kì đỏ thắm)

(b) Căn cứ vào cương vị ngữ pháp mà tính từ đảm nhiệm trong câu, tính từ tiếng Hán lại đựợc chia làm hai loại: tính từ thông thường và tính từ chuyên biệt

- Tính từ thông thường là những tính từ có thể tham gia làm định ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ, thậm chí có thể làm chủ ngữ trong câu Tất nhiên, luận văn này chỉ xét những tính từ làm ĐN Đặc điểm nổi bật của loại tính từ này là, đại đa

số chúng có thể kết hợp với các phó từ trình độ khi làm ĐN cho danh từ, và khi đó đương nhiên là phải có sự xuất hiện của trợ từ的 Chẳng hạn:

非常美丽的风景/ 很可爱的小孩/ 比较难的作业 (phong cảnh vô cùng xinh đẹp/ thằng bé rất đáng yêu/ bài tập tương đối khó)

-Tính từ chuyên biệt là những tính chỉ có chức năng duy nhất là làm ĐN cho danh từ mà không thể làm vị ngữ, bổ ngữ trong câu; chúng tôi dùng chữ

“chuyên biệt” cho loại tính từ này là để khu biệt khu biệt chúng với loại tính từ thông thường Đặc điểm nổi bật của các tính từ thuộc loại này là, chúng không thể kết hợp được với 的 khi làm ĐN cho danh từ, bất luận đó là tính từ đơn âm tiết hay

đa âm tiết Chẳng hạn, chỉ có thể nói:

Trang 40

男工人/ 国营企业/ 万能拖拉机/ 色彩电视机/ 黑白电视机/ 高级汉语/

性病/ 根本问题/ 基本原理/ 天然景色 (nam công nhân/ xí nghiệp quốc doanh/ máy

kéo vạn năng/ tivi màu/ tivi đen trắng/ Hán ngữ cao cấp/ bệnh mãn tính/ vấn đề căn bản/ nguyên lý cơ bản/ cảnh sắc thiên nhiên); mà không thể nói:

男的工人/ 国营的企业/ 万能的拖拉机/ 色彩的电视机/ 黑白的电视机/

高级的汉语/ 慢性的病/ 根本的问题/ 基本的原理/ 天然的景色病

Những tính từ thuộc loại này cũng không kết hợp được với phó từ tu sức很

(rất) Chẳng hạn, không thể nói: 很男/ 很黑白/ 很万能 (rất nam/ rất đen trắng/ rất

vạn năng); tuy vậy, cũng có khi người Trung Quốc nói:很主要/ 很个别 (rất chủ

yếu/ rất cá biệt), nhưng đó chỉ là những trường hợp hãn hữu và được coi là ngoại lệ

(c) Trong tiếng Hán còn có một số ít tính từ khi làm ĐN cho danh từ bắt buộc phải có từ tu sức cho chúng, nhưng giữa ĐN và TTN không nhất thiết phải có trợ từ的 Đại diện cho nhóm này là: (nhiều), (ít) Ví dụ:

我有很多中文书,也有很多法文书 (tôi có rất nhiều sách Trung Văn, cũng

có rất nhiều sách Pháp văn)

星期天有很多人在公园玩 (chủ nhật có rất nhiều người chơi trong công viên)

他送给我不少礼物 (anh ta tặng tôi không ít quà)

在中国的时候我参观过许多地方 (hồi ở Trung Quốc, tôi đã đi thăm rất

nhiều nơi)

(d) Có một số tính từ song âm tiết làm ĐN cho một số danh từ nào đó (mang tính chất hạn chế) không cần đến trợ từ 的, được coi là những đoản ngữ cố

định có kết cấu rất chặt chẽ và có tính thành ngữ cao Chẳng hạn, với các tính từ 伟

(vĩ đại), 重大 (trọng đại) 先进 (tiên tiến), thông thường người Trung Quốc nói: 伟大的领袖/ 伟大的祖国/ 伟大的事业 (lãnh tụ vĩ đại/ Tổ quốc vĩ đại/ sự nghiệp vĩ

đại), 重要的任务/ 重要的损失 (nhiệm vụ quan trọng/ tổn thất nặng nề), 先进的人/

先进的国家 ((con) người tiên tiến/ nhà nước tiên tiến); nhưng họ lại nói: 伟大胜利

(thắng lợi vĩ đại), 重大贡献 (cống hiến quan trọng), 先进人物/ 先进技术/ 先进集体

/ 先进水平 (nhân vật tiên tiến/ kĩ thuật tiên tiến/ tập thể tiên tiến/ trình độ tiên tiến)

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hoàng Anh (2003), Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của danh ngữ tiếng Hán hiện đại (trong sự đối chiếu với tiếng Việt) ( Luận văn TS ngữ văn), Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của danh ngữ tiếng Hán hiện đại (trong sự đối chiếu với tiếng Việt)
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2003
2. Diệp Quang Ban (1984), Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt, Trường ĐHSP Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1984
3. Diệp Quang Ban (2000), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2) , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
4. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng-Từ ghép-Đoản ngữ), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng-Từ ghép-Đoản ngữ)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
5. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
6. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2002), Đại cương ngôn ngữ học (tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
7. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1992
8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trong Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trong Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1992
9. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt ( từ loại), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
10. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1994), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
11. Hoàng Văn Hành (1988), Về cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai trong các ngôn ngữ đơn lập, Những vấn đề ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai trong các ngôn ngữ đơn lập, Những vấn đề ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1988
12. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt, sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
13. Cao Xuân Hạo (1994), Về cấu trúc danh ngữ tiếng Việt-Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cấu trúc danh ngữ tiếng Việt-Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
14. Nguyễn Văn Khang (1999) Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
16. Hà Quang Năng (1988), Đặc trưng ngữ nghĩa của hiện tượng chuyển loại các đơn vị từ vựng tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngữ nghĩa của hiện tượng chuyển loại các đơn vị từ vựng tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Hà Quang Năng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1988
17. Trần Đại Nghĩa (1996), Sự tổ hợp của loại từ với danh từ trong tiếng Việt hiện đại (Luận án PTS Ngữ văn), Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tổ hợp của loại từ với danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Trần Đại Nghĩa
Năm: 1996
18. Vũ Đức Nghiệu (2001), Ngữ pháp, ngữ nghĩa của hai kiểu danh ngữ: hạt dưa… , một hạt dưa , Ngôn ngữ số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp, ngữ nghĩa của hai kiểu danh ngữ: hạt dưa… , một hạt dưa
Tác giả: Vũ Đức Nghiệu
Năm: 2001
19. Hoàng Trọng Phiến (1988), Môt giải pháp miêu tả hệ thống các đơn vị ngữ pháp tiếng Việt ( tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á), Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môt giải pháp miêu tả hệ thống các đơn vị ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1988
20. Hoàng Trọng Phiến (2003), Cách dùng hư từ tiếng Việt, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách dùng hư từ tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
22. Hoàng Trọng Phiến (1988), Ngữ pháp tiếng Việt (câu), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1988

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ trên  biểu  diễn trật tự thuận của các ĐN trong hai  ngôn  ngữ. Gọi là - Nghiên cứu thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Hán hiện đại (Trong sự so sánh với thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Việt
Sơ đồ tr ên biểu diễn trật tự thuận của các ĐN trong hai ngôn ngữ. Gọi là (Trang 99)
Sơ đồ vị trí của ĐN hạn định và ĐN miêu tả của đoản ngữ danh từ tiếng Hán - Nghiên cứu thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Hán hiện đại (Trong sự so sánh với thành phần định ngữ của đoản ngữ danh từ tiếng Việt
Sơ đồ v ị trí của ĐN hạn định và ĐN miêu tả của đoản ngữ danh từ tiếng Hán (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm