1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THANH HƯƠNG NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGUYÊN HỒNG QUA CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN LUẬN VĂN THẠC S
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGUYÊN HỒNG QUA CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGUYÊN HỒNG QUA CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Tất Thắng
Hà Nội - 2013
Trang 33
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của luận văn 2
Chương 1 3
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1 Khái quát về từ 3
1.2 Các lớp từ vựng tiếng Việt 4
1.2.1 Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt nguồn gốc 5
1.2.2 Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt phạm vi sử dụng 12
1.2.3 Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt mức độ sử dụng 20
1.3 Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945 25
1.3.1 Khái niệm phong cách và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 23
1.3.2 Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945 28
1.4 Khái quát về thể loại truyện ngắn trong tác phẩm văn học 29
1.4.1 Khái niệm truyện ngắn 29
1.4.2 Đặc trưng của truyện ngắn hiện đại 29
1.5 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyên Hồng 31
Chương 2 34
CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG 34
2.1 Đặt vấn đề 34
2.2 Từ gốc Hán trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 35
2.2.1 Từ gốc Hán đơn âm tiết 35
2.2.2 Từ gốc Hán song âm tiết 39
Trang 44
2.3 Từ gốc Ấn - Âu trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 48
2.4 Từ lịch sử trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 51
2.5 Tiếng lóng trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 54
2.6 So sánh sự khác biệt về sử dụng các lớp từ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng giai đoạn trước và sau năm 1942 58
Chương 3 67
ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUA CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG 67
3.1 Đặt vấn đề 67
3.2 Nghệ thuật sử dụng các lớp từ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng 68
3.2.1 Lớp từ gốc Hán 68
3.2.2 Lớp từ gốc Ấn - Âu 69
3.2.3 Từ lịch sử 71
3.2.4 Tiếng lóng 72
3.3 Hình tượng nhân vật qua nghệ thuật điệp từ 74
3.3.1 Những con người cùng khổ 75
3.3.2 Những người đàn bà dân nghèo 78
3.3.3 Những trẻ em con nhà nghèo 81
3.4 Hình tượng nhân vật qua chất liệu thành ngữ 83
3.4.1 Tỉ lệ sử dụng lặp lại của thành ngữ 4 âm tiết 85
3.4.2 Thành ngữ được sử dụng trong các truyện ngắn 87
3.4.3 Những kết cấu gần giống thành ngữ 89
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 5Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyên Hồng là một trong các nhà văn có quá trình sáng tác liên tục và đã để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, gồm nhiều thể loại khác nhau như: truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, bút ký và thơ Nhiều tác phẩm của ông đã rất thành công và góp phần vào những thành tựu rực rỡ cho nền văn học Việt Nam hiện đại
Một trong những lĩnh vực sáng tác có nhiều thành công của Nguyên Hồng là truyện ngắn Khác với các thể loại văn xuôi khác, truyện ngắn là một thể loại khó, đòi hỏi sự cô đọng Trong truyện ngắn, người viết không thể lan man, dàn trải những quan sát, suy ngẫm trong miêu tả tình huống, khắc họa tính cách nhân vật mà phải hết sức cô đọng Ở những người viết truyện ngắn có nghề, người đọc thường thấy việc chọn lọc những chi tiết trong sáng tác của họ rất đắt, đặc biệt là lối dùng câu chữ khá chuẩn mực
Vì thế, để góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng, chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu các lớp từ vựng tiếng Việt trong tác phẩm của ông và hi vọng sẽ góp thêm một tiếng nói nhỏ bé đối với nhà văn Nguyên Hồng – một trong những cây bút xuất sắc trong giới văn học nghệ thuật Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài "Nghiên cứu phong cách Nguyên Hồng qua các lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn", mục đích chủ yếu của luận văn này là khảo sát và
miêu tả các lớp từ vựng trong truyện ngắn của ông để phục vụ cho việc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng Cụ thể như sau:
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số lớp từ vựng được sử dụng nhiều và thành cộng ở trong các truyện ngắn của Nguyên Hồng như: lớp từ gốc Hán, lớp từ gốc Ấn - Âu, từ lịch sử và tiếng lóng Những lớp từ này được chúng tôi khảo sát trong tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng được in trong cuốn
Nguyên Hồng toàn tập, Nxb Văn học, 2008, do Phan Cự Đệ sưu tầm và giới thiệu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp miêu tả và phân tích từ vựng ngữ nghĩa các lớp từ vựng tiếng Việt thông qua các thủ pháp thống kê kết hợp với các biểu đồ và bảng biểu
Ngoài ra, để làm rõ các đặc điểm sáng tạo trong việc sử dụng các lớp từ của nhà văn, luận văn đã tiến hành phân tích ngữ cảnh các lớp từ đó để thấy được những đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2 Các lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng
Chương 3 Đặc điểm phong cách nghệ thuật thể hiện qua việc sử dụng các
lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng
Trang 7rằng từ trong các ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau …, và không thể có được một khái niệm về từ nói chung Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người
ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều các trường hợp ngoại lệ [3 ; 135]
Theo GS Nguyễn Thiện Giáp: Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có những đặc trưng sau:
+ Chúng đều là những cấu trúc vừa có tính hoàn chỉnh, không thể xen thêm một đơn vị nào vào giữa, vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏi những đơn vị khác một cách dễ dàng
Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âm tiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc ngữ âm của tiếng Việt hiện đại
Về mặt chính tả, chúng được viết liền thành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành
+ Chúng đều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực tại Có những đơn vị vừa có chức năng định danh, lại vừa có chức năng dẫn xuất,
vừa có chức năng biểu niệm như: nhà, cây, đi, cười, đẹp,…
Có những đơn vị vừa có chức năng dẫn xuất và chức năng biểu niệm mà
không có chức năng định danh như: và, với, tuy, nhưng,…
Lại có những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm xúc nào đó trong thực tại chứ
không có chức năng định danh như: à, ôi, ối, ái,… Những đơn vị như: tôi, nó, đấy,
đó, nọ, kia,… tự thân không biểu thị khái niệm, cũng không dẫn xuất, định danh cái
gì cả, những chúng vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ bộc lộ trong những hoàn cảnh nhất định
Trang 88
+ Các đơn vị như vừa nêu trên đều tham gia cấu tạo câu nói Tùy theo tính chất, ý nghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp khác
nhau ở trong câu Những đơn vị như: bàn, nhà, đi, đẹp, tốt,… có thể làm chủ ngữ, vị
ngữ, bổ ngữ,…Những đơn vị như: của, để, vì, bởi, nên, và, với, mà, thì,… làm chức
năng liên kết các từ, nhóm từ hay mệnh đề trong câu Còn những đơn vị như: à, hả,
ái, ối, ôi, ơi,… thì đem lại cho câu nói tính tình thái nào đó
Những đặc trưng của cả mặt phương tiện vật chất lẫn mặt chức năng, ý nghĩa trên đây đã làm cho những đơn vị đang xét trở thành một loại đơn vị thực tại, hiển nhiên nhất đối với mỗi người nói tiếng Việt, tức là trở thành từ của tiếng Việt
Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có những đặc điểm sau:
+ Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những âm vô nghĩa
+ Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và giăng, nhăn và dăn) nhưng không có biến thể hình thái học Dù đứng trong câu hay đứng
lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức
+ Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ tiếng Việt Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát Chỉ khi kết hợp với các từ khác, ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa [19 ; 67]
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, từ trong tiếng
Việt có thể được phát biểu như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.[3 ; 141]
1.2 Các lớp từ vựng tiếng Việt
Do tiếng Việt vốn có một khối lượng từ ngữ khá đồ sộ nên cần phải sắp xếp
từ vựng thành một hệ thống cụ thể để tạo điều kiện cho việc học tập và nghiên cứu tiếng Việt, đồng thời giúp cho tiếng Việt hoàn thiện và phát triển Hệ thống đó chính là các lớp từ
Lớp từ vựng tiếng Việt được hiểu là một tập hợp các đơn vị gồm nhiều đặc điểm giống nhau về nguồn gốc, phạm vi sử dụng, mức độ sử dụng và về mặt phong
Trang 9Về mặt phạm vi sử dụng
Từ vựng toàn dân
Từ địa phương Tiếng lóng
Từ ngữ nghề nghiệp Thuật ngữ
1.2.1 Các lớp từ vựng tiếng Việt xét về mặt nguồn gốc
1.2.1.1 Các từ thuần Việt và giải thuyết về nguồn gốc tiếng Việt
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn - Âu, tất cả các từ còn lại thường được gọi là các từ thuần Việt Những từ được gọi là thuần Việt thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều giải thuyết khác nhau về nguồn gốc của tiếng Việt Có ba khuynh hướng chính như sau:
- Cho tiếng Việt bắt nguồn từ các ngôn ngữ Môn - Khơme (Nam Á)
- Cho tiếng Việt bắt nguồn từ các ngôn ngữ Tày - Thái
- Cho tiếng Việt sinh ra do sự hỗn hợp của ngôn ngữ Nam Á và Tày - Thái
[19 ; 236]
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Lớp từ thuần Việt là các từ gốc Nam Phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái Những kết quả
Trang 1010
nghiên cứu gần đây chp thấy rằng nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt
có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng:
- Tương ứng Việt - Mường: vợ, chồng, ông, ăn, uống, cười, bơi, nằm, khát, trốn, gáy, mỏ, môm, rá, chum, nồi, vại, váy, cơm, cây, củ, rạ, mây, cau, cỏ, gà, trứng,…
- Tương ứng Việt - Tày Thái: đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, đẵn, bánh, vắng, mo, ngọn, méo, vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột,…
- Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt - Mường đồng thời với nhóm Bru - Vân
Kiều: trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy, khạc, củi, hột, rắn, khô,…
- Tương ứng với nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam: trời, mây, mưa, sấm, sét, bàn, chân, đầu gối, da, óc, thịt, mỡ, bố, mẹ, mày, nó, nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi,…
- Tương ứng với nhóm Việt - Mường và các ngôn ngữ Môn - Khmer khác: sao, gió, sông, đất, nước, lửa, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi răng, lưỡi, cổ, lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, đít, con, cháu,…
- Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái: bão, bể, bát,dao, gạo, ngà voi, than, phân, cày, đen, gạo, giặt,…
- Tương ứng Việt - Inddooneexxia: bố,ba, bu, mẹ, bác, ông, cụ, đất, trâu, sông, cái, cây, núi, đồng, mất, nghe, đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu, này, là, rằng, ngày,…
[3 ; 218]
1.2.1.2 Các từ ngữ gốc Hán
a Quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong lịch sử
Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu khi phong kiến nhà hán của Trung Quốc xâm chiếm nước ta, biến nước ta thành những quận, huyện của chúng
Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình Hiện tượng tiếp nhận này diễn ra không giống nhau trong các thời kì, Nếu hiện tượng tiếp nhận từ ngữ Hán của tiếng Việt ở giai đoạn đầu chỉ có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu bằng con đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc trực tiếp của người Việt với người
Trang 11+ Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt, gọi tắt là các từ Hán - Việt
+ Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt
b Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt (các từ Hán - Việt)
Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âm Hán - Việt là bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt Nó bao gồm:
(1) Những từ ngữ Hán - Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày nay Do có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách lâu dài với tiếng Hán nên tiếng Việt đã tiếp nhận có hệ thống một khối lượng to lớn các từ ngữ của tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoạt động Ví dụ:
chính trị có: hoàng thượng, chế độ, triều đình, giám sát, áp chế, bá chủ, dân chủ, xã hội, cách mạng,…
Kinh tế có: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, nội thương, ngoại thương, xuất khẩu, nhập khẩu, năng suất, thặng dư, lợi nhuận,…
Y học có: viêm nhiệt, thương hàn, chướng khí, thương tích, bệnh nhân, bệnh viện,…
…
Đối với các từ tiếp nhận kiểu này cần phân biệt hai loại nhỏ:
- Những từ tiếng Việt trực tiếp nhận của tiếng Hán
Loại này chiếm tuyệt đại đa số các từ Hán - Việt Nghĩa của các từ Hán -
Việt loại này có quan hệ với nghĩa gốc của các từ Hán tương ứng Ví dụ: anh là chúa của loài hoa, hùng là chúa của loài thú, cho nên anh hùng cũng có nghĩa là
người hào kiệt xuất chúng
- Những từ tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác thông qua tiếng Hán
Ví dụ: câu lạc bộ do tiếng Hán dịch âm từ Anh club mà thành, Mạc Tư Khoa là do tiếng Hán dịch âm từ Nga Mockva mà thành,…
Trang 1212
(2) Những từ ngữ Hán - Việt được cấu tạo ở Việt Nam Nhiều từ Hán - Việt được tiếp nhận vào Việt Nam từ lâu, chúng đã trở thành một bộ phận hữu cơ của từ vựng tiếng Việt Người Việt đã sử dụng những từ gốc Hán đó làm chất liệu để cấu tạo nên những đơn vị từ vựng mới theo cách của Việt Nam, cho nên chúng ta không thể tìm thấy một từ ngữ nào tương ứng trong tiếng Hán hiện nay Cần phân biệt 2 loại nhỏ:
Thứ nhất: Những đơn vị do các yếu tố gốc Hán tạo thành
Hãy so sánh:
Từ tiếng Việt Từ gốc Hán
An tri Đại đội Náo động Thiếu tá Tiểu đoàn
Câu cấm Liên Tao động Thiếu hiệu doanh
Thứ hai: Những đơn vị do các yếu tố gốc Hán và thuần Việt tạo thành Ví dụ:
binh lính, cướp đoạt, đói khổ, kẻ địch, súng trường, tàu hỏa, tàu thủy,…
Thực ra, tính ngoại lai của các đơn vị từ vựng được cấu tạo ở Việt Nam là có mức độ Chúng chỉ có tính ngoại lai ở chất liệu cấu tạo còn cách cấu tạo là của Việt Nam Đối với những từ loại thứ hai (yếu tố Hán - Việt kết hợp với yếu tố thuần Việt) thì tính ngoại lai lại càng ít hơn nữa
c Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt
Ngoài các từ ngữ Hán - Việt đã nói ở trên, trong tiếng Việt còn có một số từ gốc Hán nhưng không đọc theo âm Hán - Việt Những từ này chiếm một số lượng
ít, lẻ tẻ, không làm thành hệ thống như các từ Hán - Việt Những từ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt có thể gồm:
- Những từ vào Việt Nam trước đời Đường - Những từ Hán cổ Từ đời Hán đến đời Đường, ngữ âm của tiếng Hán đã phát triển và biến đổi khá nhiều Những từ Hán được tiếng Việt tiếp nhận vào trước đời Đường sẽ có cách đọc theo âm Hán cổ chứ không đọc theo cách đọc Hán - Việt Đến đời Đường, những từ đó lại được tiếp nhận vào tiếng Việt một lần nữa, nhưng đọc theo cách phát âm đời Đường, tức là
Trang 13- Những từ Hán Việt được Việt hóa
Các từ Hán - Việt khi nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt đã chịu sự tác động của quy luật biến đổi ngữ âm của tiếng Việt Vì vậy, có một số từ đã thay đổi diện mạo của mình, không giống với dạng ngữ âm Hán - Việt ban đầu nữa Dạng ngữ âm Hán - Việt của từ có khi vẫn tồn tại trong tiếng Việt, tạo nên những cặp từ song song tồn tại Hãy so sánh:
Hán - Việt H-V Việt hóa
d Từ Việt gốc Hán và từ Hán đọc theo âm Hán - Việt
Như trên đã nói, người ta có thể dùng cách đọc Hán - Việt để đọc bất cứ chữ Hán nào Vì vậy, không phải bất cứ từ nào đọc theo âm Hán - Việt cũng là từ gốc Hán trong tiếng Việt Ngược lại không phải bất kì từ gốc Hán nào cũng phát âm theo cách đọc Hán - Việt Hai khái niệm này bắt chéo lẫn nhau, chứ không trùng nhau Có thể hình dung mối quan hệ của chúng như sau:
I - Từ gốc Hán trong tiếng Việt
II - Từ Hán đọc theo âm Hán Việt
Trang 1414
Vòng tròn thứ nhất (I) biểu thị các từ gốc Hán, vòng tròn thứ hai (II) biểu thị những từ Hán đọc theo âm Hán - Việt Bộ phận giao nhau của hai vòng tròn biểu thị các từ gốc Hán trong tiếng Việt được đọc theo âm Hán - Việt Phần còn lại của vòng tròn thứ nhất gồm: những từ gốc Hán cổ (a), những từ Hán - Việt được Việt hóa về ngữ âm (b), những từ gốc Hán tiếp nhận qua khẩu ngữ địa phương nào đó (c) Phần còn lại của vòng tròn thứ hai biểu thị những từ Hán được đọc theo âm Hán - Việt nhưng chưa được mượn vào Việt Nam
Những từ gốc Hán trong tiếng Việt được đọc theo âm Hán - Việt và những từ Hán đọc theo âm Hán - Việt phân biệt nhau ở chỗ những từ gốc Hán trong tiếng Việt là một bộ phận của từ vựng tiếng Việt, nó chịu sự chi phối của các quy luật hoạt động của tiếng Việt, còn những từ Hán đọc theo âm Hán - Việt là những từ của tiếng Hán, chứ không phải tiếng Việt
1.2.1.3 Các từ ngữ gốc Ấn - Âu
a Sự tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ Ấn - Âu
Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp hoàn thành việc xâm chiếm nước ta thành một thuộc địa của chúng Từ đó trở đi, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của Pháp ngày càng nhiều về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, Địa vị của tiếng Pháp ở Việt Nam rất được đề cao
Chẳng những tiếng Pháp được dùng trong công văn, giấy tờ của nhà nước mà còn được dùng làm phương tiện giảng dạy ở trường học Do đó, những từ ngữ của Pháp đã thâm nhập vào tiếng Việt ngày càng nhiều Tỉ lệ của từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Pháp đứng hàng thứ hai sau tiếng Hán
Ví dụ:
- Tên món ăn: bít tết, kem, pho mát, rượu vang, xúc xích,
- Tên quần áo vải vóc: ba đơ suy, bốt, gi lê, len, may ô, sơ mi, vét tông,
- Tên thuốc: can xi, ca phê in, kí ninh, vi ta min,
- Thuật ngữ quân sự: ách suy đăng, ca nông, cẩm, com măng đô, đoan, lô cốt,
Đồng thời gián tiếp thông qua tiếng Pháp, một số từ ngữ của tiếng Anh cũng
du nhập vào tiếng Việt
Trang 1515
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã có ảnh hưởng lớn đối với
xã hội Việt Nam Nhiều từ Nga như bônssêvích, xô viết đã được tiếp nhận vào tiếng
Việt Sau khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước ta mở rộng quan hệ ngoại giao với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, cho nên tỉ lệ các từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Nga cũng tăng thêm
b Quá trình Việt hóa các từ ngoại lai gốc Ấn - Âu
Theo quy luật chung, tất cả các từ ngoại lai trong tiếng Việt đều có sự biến đổi về ngữ âm sao cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt
Mức độ Việt hóa các từ ngoại lai gốc Ấn - Âu không giống nhau Những từ tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ thường được Việt hóa nhiều hơn các từ tiếp nhận bằng con đường sách vở
Đặc điểm của tiếng Việt là mỗi từ một âm tiết có thanh điệu nhất định, trong
từ, không có phụ âm kép, không có âm câm Nhiều từ Ấn - Âu, vốn là đa âm tiết, không có thanh điệu, có phụ âm kép hoặc âm câm khi vào tiếng Việt đã biến đổi đi cho giống với diện mạo của từ tiếng Việt Ví dụ:
- Thêm thanh điệu:
café - cà phê
carotte - cà rốt
fromage - pho mát
Trang 16l n : balcon - ban công
Trong những trường hợp cần thiết, trên sách báo người ta chỉ chuyển tự các
từ mượn, thậm chí có khi ghi luôn bằng chữ tiếng nước ngoài Hiện tượng chuyển
tự thường thấy trong các trường hợp dịch các tên riêng, tên người, tên thành phố,
sông hồ, núi non, của nước ngoài Ví dụ: Gorki, Puskin, Moskva,
Về mặt nội dung, từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống Chẳng hạn, những từ chỉ hiện
tượng thiên nhiên: mưa, nắng, núi, sông,… ; những từ chỉ bộ phận cơ thể con người: đầu, mắt, mũi, chân, tay,… ; những từ chỉ các sự vật, hiện tượng gắn liền với đời sống: cày, cuốc, kim, chỉ,…
Trang 1717
Về mặt nguồn gốc, vốn từ toàn dân của tiếng Việt có thể bao gồm các từ có
quan hệ với các tiếng Môn - Khơme như: sông, núi, bắn, lớp,…
Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học Nó là vốn từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng trong tiếng Việt Từ vựng toàn dân cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt nói chung
Nói chung, tuyệt đa số các từ thuộc lớp từ vựng toàn dân là những từ trung hòa về phong cách, tức là chúng có thể được dùng trong các phong cách chức năng khác nhau
[19 ; 255]
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: Trừ những từ ngữ thuộc các lớp từ được sử dụng hạn chế về mặt lãnh thổ (từ địa phương) hoặc về mặt "phương ngữ xã hội" (thuật ngữ, tiếng lóng, từ nghề nghiệp), số còn lại được gọi là lớp từ vựng chung hoặc từ vựng toàn dân
Ngay tên gọi của lớp từ này cũng đã ngụ ý rằng nó gồm những từ ngữ mà toàn dân, mọi người, mọi nơi, mọi lúc đều có thể sử dụng một cách rộng rãi
Lớp từ này có khối lượng từ ngữ lớn nhất, và trong từ vựng của ngôn ngữ nào cũng vậy, nó đóng vai trò làm nền tảng Nó cũng là cơ sở để thống nhất từ vựng
và thống nhất ngôn ngữ dân tộc, đồng thời là tài sản chung để mọi thành viên trong dân tộc, trong xã hội sử dụng làm công cụ giao tiếp chung; bởi vì nó gọi tên cho tất
cả những sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình,… thiết yếu nhất trong sự tồn tại của đời sống con người
Trong tương quan với từ địa phương, từ nghề nghiệp, thuật ngữ và cả tiếng lóng, lớp từ chung vừa làm chỗ dựa cho chúng, lại vừa được chúng bổ sung cho Trong trường hợp cần thiết, vẫn có những từ ngữ trong các lớp từ được sử dụng hạn chế đó, được chấp nhận và tiếp thu vào vốn từ vựng chung (dĩ nhiên, không phải là tất cả mọi từ) Đó là sự tác động qua lại hai chiều, là biểu hiện của tính thống nhất trong cái đa dạng của từ vựng
[3 ; 226]
1.2.2.2 Từ địa phương
Nguyễn Văn Tu viết: Trong tác phẩm "Chủ nghĩa Mac và vấn đề ngôn ngữ học", Xta - lin đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ dân tộc và tiếng địa phương Theo
Trang 1818
đồng chí, mỗi ngôn ngữ trong quá trình phát triển vẫn là công cụ duy nhất của mọi thành viên của xã hội Quá trình phát triển của ngôn ngữ nói chung hay của một ngôn ngữ cụ thể nào đó đều lâu dài và phức tạp Trong quá trình đó, ngôn ngữ thị tộc phát triển lên ngôn ngữ bộ lạc rồi bộ tộc và cuối cùng lên ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ bộ tộc xuất hiện vào thời kì tiền chủ nghĩa tư bản Rồi một mặt hình thành ngôn ngữ của toàn dân, mặt khác tính chất đặc thù của bộ phận lãnh thổ trong một bộ tộc phát triển thành tiếng địa phương mới
Tiếng địa phương không có tính giai cấp Nó phục vụ mọi giai cấp ở một địa phương nhất định Một trong những tiếng địa phương sẽ làm sở sở cho ngôn ngữ dân tộc hình thành
Mặc dù tiếng Việt về cơ bản thống nhất nhưng theo sự khác nhau về thanh điệu, về từ vựng có thể có 4 nhóm:
- Tiếng địa phương miền Bắc: Bắc bộ + Thanh Hóa
- Tiếng địa phương Trung bộ, Nghệ An và Thừa Thiên
- Tiếng địa phương miền Nam Trung bộ: Quảng Nam, Phú Yên
- Tiếng địa phương Nam bộ từ Bình Thuận trở vào
Theo Nguyễn Văn Tu, tác dụng của tiếng Việt đến các tiếng địa phương biểu hiện nhiều nhất trong từ vựng Tất cả những từ mới biểu thị các khái niệm chính trị, kinh tế, văn hóa đều được các địa phương dùng Các tiếng địa phương đều tiếp thu các danh từ trừu tượng của tiếng phổ thông Trong quá trình sát nhập vào ngôn ngữ dân tộc, tiếng địa phương làm giầu thêm từ vựng của tiếng phổ thông
[47 ; 127]
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng
của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường
mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật,…
Có thể thấy một số kiểu từ địa phương như sau:
- Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân: Đó là những từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có ở địa phương nào đó chứ không phổ biến đối với toàn dân, do đó không có từ song
Trang 1919
song trong ngôn ngữ văn học toàn dân Các nhà ngôn ngữ học loại này là từ địa
phương dân tộc học Ví dụ: chôm chôm, măng cụt, sầu riêng,
- Từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân: Kiểu từ vựng địa phương này có thể chia ra hai loại nhỏ căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của chúng
+ Từ ngữ địa phương đối lập về mặt ý nghĩa: Những từ ngữ này về mặt ngữ
âm giống với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ văn học toàn dân, nhưng ý nghĩa
khác nhau Ví dụ: cậu: Em trai của mẹ (trong ngôn ngữ toàn dân) nhưng là Anh trai của mẹ (trong phương ngữ Hải Hưng)
+ Từ ngữ địa phương có sự đối lập về ngữ âm: Kiểu này có thể chia ra làm hai loại nhỏ, căn cứ vào mức độ khác biệt về ngữ âm so với từ ngữ toàn dân tương ứng:
(1) Các từ ngữ địa phương có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với các từ
ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân Ví dụ: cua (toàn dân) - rốc ( Hải Hưng) - dạm (Thanh Hóa) - dam (Nghệ Tĩnh)
(2) Các từ ngữ địa phương có hình thức ngữ âm khác bộ phận với các từ ngữ
tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân Ví dụ: đu đủ (toàn dân) - thù đủ (Thanh Hóa) - thu đủ (Nghệ Tĩnh)
Giữa từ vựng toàn dân và từ vựng địa phương có quan hệ qua lại lẫn nhau Ranh giới giữa hai lớp này sinh động, thay đổi phụ thuộc vào vấn đề sử dụng của
chúng Ví dụ: Đã một thời các từ chốc "đầu", cấu "gạo", là các từ toàn dân Với
thời gian, những từ này chỉ được giữ lại ở một vùng nào đó và trở thành các từ địa
phương Ngược lại, các từ địa phương như cây đước, đặng, ngó, sầu riêng, tắc kè,
đã trở thành từ vựng toàn dân sau quá trình mở rộng phạm vi sử dụng của mình [19 ; 257]
1.2.2.3 Tiếng lóng
Theo Nguyễn Thiện Giáp, Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải toàn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp
xã hội nào đó sử dụng mà thôi
Thông thường, tiếng lóng được hiểu là những từ ngữ riêng của bọn ăn cắp Cách quan niệm như vậy là hẹp hòi và không đúng Nói chung, mỗi tầng lớp xã hội
Trang 20(1) Sự thay đổi của bản thân cái môi trường, hoàn cảnh xã hội và những tầng lớp sản sinh ra nó
(2) Bản chất của tiếng lóng là muốn bí mật, muốn che giấu với mục đích nào
đó, trong phạm vi của giới mình, cho nên khi cái bí mật đã bị phát hiện thì cơ sở tồn tại của tiếng lóng cũng bị mất
Ví dụ: tiếng lóng của bọn phe phẩy: bắt mồi (tìm hàng), dính (mua), phảy (bán), luộc (bán), tách bõ (chia phần); tiếng lóng của bộ đội: đi R (đi phép), đi xe dép (đi bộ), lái F (có vợ), đi âm tần đi cao tần (tranh thủ),
[19 ; 261]
Theo Nguyễn Văn Khang, có thể nêu ra một nhận định chung là, từ ngữ lóng tiếng Việt, tức là từ các vật liệu có sẵn và bằng các phương thức tạo từ vốn có để tạo nên những từ ngữ lóng
Những từ lóng thường thấy nhất là những từ lóng sử dụng ngay các đơn vị từ vựng vốn có của tiếng Việt và cấp cho chúng thêm một nghĩa mới: nghĩa lóng Có thể coi đây là hình thức tạo từ lóng cơ bản nhất, phổ biến nhất của tiếng Việt
[27 ; 26]
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Tiếng lóng là một bộ phận từ ngữ do những nhóm, những lớp người trong xã hội dùng để gọi tên những sự vật, hiện tượng, hành động vốn đã có tên gọi trong vốn từ vựng chung, nhằm giữ bí mật trong nội bộ nhóm mình
Ở nước ta, trong bối cảnh xã hội mà chúng ta đang sống, trừ một nhóm rất ít người buôn bán gian lận, làm ăn bất chính hoặc trộm cắp lưu manh, có vốn tiếng lóng khá phong phú để góp phần che giấu hành vi của họ, hoặc tỏ ra cho có vẻ "anh chị", "thời thượng" còn thì các tầng lớp xã hội khác rất ít tiếng lóng (mà tiếng lóng của họ lại chỉ để vui đùa là chủ yếu)
Trang 2121
Tiếng lóng có tính "thời sự" và "mốt" của nó Việc tổng kết, phát hiện nghĩa tiếng lóng và cách cấu tạo của nó luôn luôn "lạc hậu" so với sự đổi mới vì tính không ổn định của nó
[3 ; 226]
1.2.2.4 Từ ngữ nghề nghiệp
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong
xã hội Những từ ngữ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết
và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ ngữ nghề nghiệp cũng là lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội Ví dụ:
- Thuộc nghề nông có: cày vỡ, cày ải, bón lót, bón đón đòng, bón thúc, gieo thẳng, gieo vại,
- Thuộc nghề dệt có: xa, suốt, thoi, cữ, go, trục, gằm, guồng cửu, hồ sợi, lấy go, đánh suốt, sợi mộc,
- Thuộc nghề làm nón có: móc vanh, guột, riệp, nức, khuôn, là lá, bắt vanh, nức nón, chằng nón,
Nhìn chung, tuy là lớp từ vựng hạn chế về mặt xã hội, nhưng khác với tiếng lóng, từ ngữ nghề nghiệp là những tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tế Nó không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Vì vậy, từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riêng của nghề nào đó trở thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội
Thật ra, nghề nào cũng có những từ ngữ riêng của nó để chỉ: đối tượng lao động, động tác lao động, nguyên liệu sản xuất, sản phẩm làm ra, công cụ để lao động, Tuy vậy, không phải là hễ người ngoài nghề thì không thể biết được từ nghề
Trang 2222
nghiệp Người ta (trong phạm vi rộng rãi toàn xã hội) vẫn có thể hiểu được chúng nhiều hay ít tùy theo mức độ quen biết của xã hội đối với nghề đó
Ví dụ, nghề làm ruộng ở Việt Nam, nói chung cả xã hội đều không xa lạ với
nó Ai cũng biết và sử dụng rất tự nhiên các từ như: cày, bừa, ruộng, bón, gieo, nhưng chắc chắn không phải ai cũng biết các từ: chia vè, cứt gián, nứt chanh, cắm
vè, lúa con, bông cài, đỏ đuôi, đứng cái,
Như vậy, lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít quen như: nghề làm giấy, làm đồ gốm, làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề chài lưới, nghề làm muối,
Ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, Những nghề thủ công nghiệp hoặc tiểu công nghiệp vốn phân tán và không tiếp xúc rộng rãi với toàn xã hội Vì thế, những từ nghề nghiệp thuộc phạm vi này có nhiều từ nghề nghiệp hơn cả
Sự hoạt động của các từ nghề nghiệp là không đồng đều, có từ thì vô cùng hạn chế, nhưng cũng có không ít từ ngữ đã đi vào vốn từ vựng chung Chúng được coi là một trong những nguồn cung cấp thêm từ ngữ để làm phong phú hơn cho vốn
thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân, trong toán học; tư bản, tích lũy, giá trị thặng dư, trong kinh tế học; bộ tộc, bộ lạc, huyết thống, trong sử học; âm vị, âm tiết, hình vị, trong ngôn ngữ học,
Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa
sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Thuật ngữ gồm các đặc điểm cơ bản:
- Tính chính xác: Mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm, nhưng các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ Các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường chỉ là các khái niệm thông thường, còn các khái niệm được biểu hiện trong
Trang 2323
thuật ngữ là các khái niệm chính xác của một khoa học nào đó Nội dung của thuật ngữ thuộc về lĩnh vực thuần túy về trí tuệ Trong ngữ cảnh khác nhau cũng như khi đứng một mình, thuật ngữ không thay đổi về nội dung Số phận của thuật ngữ không phụ thuộc vào sự phát triển của bản thân khoa học Nó chỉ thay đổi khi nào xuất hiện những biểu tượng mới, những quan niệm mới, chỉ thay đổi khi nào các khái niệm mà nó diễn đạt được xác lập lại
- Tính hệ thống: Mỗi thuật ngữ đều được quy định bởi hai trường: trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng là những liên hệ của thuật ngữ với các
từ khác trong ngôn ngữ nói chung Tất cả các từ không phải thuật ngữ cũng nằm trong cái trường như vậy Nhưng đối với thuật ngữ, trường khái niệm có tính chất tất yếu hơn và cũng chỉ thuật ngữ mới bị quy định bởi cái trường này
Mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ, hữu hạn, được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Như vậy, mỗi hệ thống đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, đều nằm trong một hệ thống thuật ngữ nhất định Giá trị của nó được xác định bởi mối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác cùng trong hệ thống Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa
Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống về hình thức của nó Muốn thuật ngữ "không cản trở đối với cách hiểu", lại thể hiện được vị trí của nó trong hệ thống thuật ngữ thì qua hình thức của thuật ngữ phải có thể khu biệt
nó về chất với các thuật ngữ khác loạt, đồng thời có thể khu biệt nó về mặt quan hệ
so với những khái niệm khác cùng loạt
- Tính quốc tế: Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ
Nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ, thì phải thừa nhận rằng, tính quốc
tế của thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận
từ vựng khác: thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau, trong khi đó phạm vi biểu hiện của các lớp từ khác nhau nằm trong khuôn khổ của từng dân tộc
Trang 2424
Nếu hiểu tính quốc tế của thuật ngữ chỉ ở khía cạnh hình thức biểu hiện thì
nó sẽ mâu thuẫn với yêu cầu về tính dân tộc, dễ hiểu trong hình thức cấu tạo của thuật ngữ Khi xây dựng thuật ngữ chẳng những phải bảo đảm tính chất riêng của thuật ngữ mà còn phải bảo đảm cả những tính chất chung của thuật ngữ với những lớp từ vựng khác
- Từ vựng tích cực: là những từ ngữ quen thuộc được sử dụng thường xuyên trong phạm vi nào đó của việc giao tiếp bằng ngôn ngữ Như vậy, từ vựng tích cực không mang sắc thái cổ cũng không mang sắc thái mới Cần phân biệt từ vựng tích cực toàn dân và từ vựng tích cực của từng cá nhân Từ vựng tích cực của cá nhân thật là nhỏ bé so với từ vựng toàn dân Hơn nữa, từ vựng tích cực của cá nhân này
có thể không phải là từ vựng tích cực của cá nhân khác Từ vựng tích cực trong lĩnh vực này có thể kém tích cực, thậm chí tiêu cực trong lĩnh vực khác
Từ vựng tích cực của một ngôn ngữ thường được phản ánh trong các từ điển tần số và từ điển tối thiểu Từ điển tần số là một tài liệu rất cần thiết đối với việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập tiếng Việt Nó có thể làm căn cứ cho việc lập bảng
từ của các cuốn từ điển khác nhau như từ điển tối thiểu, từ điển giải thích,… Nó có thể giúp cho quá trình biên soạn các giáo trình tiếng Việt thực hành dạy cho người nước ngoài cũng như cho người Việt Đồng thời, từ điển tần số cũng là một cơ sở để vạch ra chương trình ngữ văn trong nhà trường nói chung
- Từ vựng tiêu cực: là các từ ngữ ít dùng hoặc không được dùng Nó bao gồm các từ ngữ đã lỗi thời và các từ ngữ còn mang sắc thái mới, chưa được dùng rộng rãi
[19 ; 277]
Trang 2525
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Trong thực tế, có rất nhiều từ ngữ luôn luôn được mọi người sử dụng ở mọi nơi, mọi lúc Nghĩa là chúng thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp Chúng thuộc lớp từ tích cực vì được
sử dụng "một cách tích cực"
Ngược lại, có những từ ngữ rất ít được sử dụng, hoặc chỉ sử dụng trong bối cảnh giao tiếp nào đó (vì không phải là quen thuộc với đa số người trong xã hội) Chúng thuộc lớp từ tiêu cực vì chỉ được sử dụng "một cách tiêu cực" Ví dụ: Trong
tiếng Việt, các từ am, lệ, thái thú, suất đội,… là những từ tiêu cực; còn nhà, người,
đi, đẹp,… là những từ tích cực
Mỗi địa phương, mỗi tầng lớp xã hội, mỗi lứa tuổi, giới tính, mỗi nghề nghiệp và ngay cả mỗi cá nhân… đều có từ vựng tích cực và tiêu cực của riêng mình, bởi vì việc tích lũy, xây dựng và sử dụng từ ngữ ở các đối tượng đó không thể đồng đều, như nhau được, và do rất nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng
Có thể thấy những loại như sau:
+ Những từ ngữ cổ đã hoàn toàn biến khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại Chúng chỉ được gặp trong các tác phẩm văn học cổ Muốn xác định nghĩa của chúng đòi
hỏi phải nghiên cứu từ nguyên học Ví dụ: am (nhà nhỏ của người ở ẩn), ầm (nhiều), áo (sâu kín), âu (có lẽ), áy (héo), bát (gang), ca (hòm),…
+ Những từ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị
lu mờ vì chúng không được dùng độc lập nữa Ví dụ: bỏng trong bé bỏng, cả trong
kẻ cả, chèo trong chèo kéo, chiêu trong đăm chiêu, dấu trong yêu dấu,…
- Từ ngữ lịch sử là những từ ngữ trở nên lỗi thời vì đối tượng biểu thị của chúng đã bị mất Trong quá trình phát triển của lịch sử, nhiều sự vật, hiện tượng bị mất đi, các tên gọi của các sự vật, hiện tượng này tự nhiên ít hoặc không được dùng nữa
Trang 2626
Từ ngữ lịch sử không có từ ngữ đồng nghĩa trong tiếng Việt hiện đại Bình thường chúng ít được dùng nhưng khi cần diễn đạt những khái niệm có tính chất lịch sử ấy, người ta phải dùng đến chúng Không phải ngẫu nhiên, trong các sách văn học, sử học viết về các thời kì cổ đại và cận đại, từ ngữ lịch sử chiếm tỉ lệ khá cao
[19 ; 278]
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến:
- Từ cổ là những từ bị đẩy ra ngoài hệ thống từ vựng hiện tại, bởi trong quá trình phát triển, biến đổi, đã xảy ra những xung đột về đồng nghĩa hoặc đồng âm và
bị từ khác thay thế Chính vì vậy, các từ cổ đều có từ tương ứng, đồng nghĩa với chúng trong trạng thái từ vựng hiện tại
- Từ lịch sử là những từ bị đẩy ra ngoài phạm vi từ vựng chung, tích cực bởi các nguyên nhân lịch sử và xã hội Khi đối tượng từ biểu thị, gọi tên bị gạt ra ngoài đời sống xã hội thì tên gọi của nó cũng mất dần vị trí vốn có trước đây Về cơ bản, đối với xã hội ngày nay, những từ như thế người ta vẫn có thể hiểu được ít nhiều Chúng không có từ đồng nghĩa trong từ vựng hiện nay như là các từ cổ Khi nói về những vấn đề lịch sử xã hội thời trước, nếu cần, người ta vẫn phải sử dụng những từ
đó [3 ; 228]
1.2.3.3 Từ ngữ mới và ý nghĩa mới
Theo Nguyễn thiện Giáp: Những từ ngữ thực sự được coi là mang màu sắc mới phải là những từ ngữ vừa mới xuất hiện, tính chất tươi mới của nó vẫn còn được mọi người thừa nhận
Đại đa số các từ ngữ mới xuất hiện không được người nói nhận thức là có màu sắc mới, bởi vì nếu đó là những sáng tạo ngôn ngữ thành công và nếu đối tượng hoặc hiện tượng mà chúng biểu thị chắc chắn đã đi vào đời sống xã hội thì những từ ngữ đó nhanh chóng được mọi người sử dụng như những từ ngữ bình thường khác, nhanh chóng nhập vào lớp từ vựng tích cực của toàn dân hay của nghề nghiệp nào đó Đài phát thanh, báo chí, máy thu hình là những phương tiện có thể truyền bá chúng một cách nhanh chóng và rộng rãi
[19 ; 282]
Trang 2727
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: Khi một từ vừa mới xuất hiện, chắc chắn chưa có nhiều người trong phạm vi toàn xã hội biết đến Nó còn nằm trong phạm vi giao tiếp hẹp nào đó Vì thế, nó thuộc lớp các từ ngữ tiêu cực
Tuy vậy, nếu sau đó, từ này được chấp nhận và phổ biến trong xã hội một cách rộng rãi thì nó lại nhanh chóng đi vào lớp từ vựng tích cực Do đó, cái gọi là từ mới phải luôn được xét trong một thời gian cụ thể, một tình trạng từ vựng cụ thể
Chẳng hạn hiện nay trong tiếng Việt các từ ngữ: tin học, phần cứng, phần mềm, đầu vào, đầu ra, mới được nói tới trên một số phương tiện thông tin đại chúng Chúng
chưa được dùng phổ biến sâu rộng trong phạm vi toàn xã hội và chưa đứng vào lớp
từ tích cực của toàn dân Thời gian và sự sử dụng của xã hội đối với những từ này trong tương lai sẽ trả lời: chúng có đứng vào lớp từ đó hay không
Thời gian để cho một từ mới có chính thức đi vào lớp từ tích cực hay không, thường là ngắn, thậm chí đôi khi rất ngắn Ngược lại, thời gian để một từ trở nên cũ hoặc cổ thường kéo dài hơn vì nó tồn tại dai dẳng khá lâu
Từ vựng của mọi ngôn ngữ được phong phú hóa, đa dạng hóa không phải chỉ
ở chỗ có những từ ngữ mới xuất hiện Nó còn thể hiện ở chỗ tạo dựng nghĩa mới cho những từ hiện có hoặc tìm tòi những cách dùng mới cho chúng Nói khác đi, từ vựng chẳng những có những cái mới ở bề mặt, mà còn có những cái mới ở chiều sâu của nó Nếu ta nói rằng nghĩa này hay nghĩa kia của một từ là nghĩa mới, ta phải luôn luôn đặt trong một mốc thời gian để so sánh
1.3 Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945
1.3.1 Khái niệm phong cách và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.3.1.1 Khái niệm phong cách
Các khái niệm này được du nhập từ ngôn ngữ học Âu châu Thuật ngữ
"phong cách học" được bắt nguồn từ phong cách "Styl, Stil" kết hợp với phần đuôi cấu tạo từ với ý nghĩa là môn học: "Istique", "istics", "istika"
"Phong cách" không hoàn toàn là thuật ngữ của phong cách học Nó được dùng ở nhiều địa hạt nghiên cứu khác nhau và cả trong giao tiếp đời thường Chẳng hạn phong cách được dùng trong lý luận văn học, trong nghiên cứu văn hóa, trong điêu khắc hội họa, trong nghệ thuật biểu diễn, trong thể thao,…
Trang 2828
Thuật ngữ phong cách vốn là của chung nhiều địa hạt khác nhau "Phong
cách học" mà chúng tôi nghiên cứu là Phong cách học ngôn ngữ Theo Hữu Đạt, Đó
là bộ môn khoa học nghiên cứu những đặc điểm và cách sử dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để cuối cùng tiến tới quy loại và miêu tả các phong cách chức năng ngôn ngữ [8 ; 22]
Hiện nay, phong cách có thể được hiểu là bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về các phong cách ngôn ngữ, các phong cách văn học, các phong cách mĩ thuật, ở các cấp độ khác nhau: trong một cá thể sáng tạo, trong một trào lưu, trong một giai đoạn lịch sử, trong một khu vực địa lí - văn hoá Quá trình phát triển của phong cách học là quá trình liên tục phân tích, bình luận về sự ra đời và phát triển của các phong cách, giá trị lí thuyết và ứng dụng của các phong cách; quá trình này được bắt nguồn từ thực tiễn sáng tạo của các phong cách và những yêu cầu mà cuộc sống đã và đang đặt ra đối với các phong cách Để thực hiện các nhiệm vụ trên, khi thực hiện các thao tác tổng hợp, thống kê, phân loại, so sánh phong cách học đã sử dụng đến cả một số biện pháp có tính chất kĩ thuật do máy móc thực hiện
Dưới dạng tồn tại của ngôn ngữ, phong cách thể hiện dưới những đặc điểm riêng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phục vụ có hiệu quả các chức năng xã hội của ngôn ngữ, phù hợp với hoàn cảnh, mục đích, đối tượng giao tiếp Phong cách ngôn ngữ có nhiều loại: phong cách ngôn ngữ nói, phong cách ngôn ngữ viết, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, Phong cách ngôn ngữ được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Phong cách ứng với mỗi chức năng xã hội của ngôn ngữ gọi là phong cách chức năng Mỗi cá nhân khi nói, khi viết đều theo một phong cách chức năng nhất định Có những cá nhân trong quá trình sáng tác đã bộc
lộ những nét độc đáo trong việc sử dụng ngôn ngữ Những nét độc đáo trong nhiều tác phẩm, hình thành phong cách ngôn ngữ cá nhân (phong cách ngôn ngữ tác giả) [8 ; 24 ]
1.3.1.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Trước hết, phong cách nghệ thuật được định nghĩa: Phong cách nghệ thuật là một phong cách chức năng được dùng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật và tác
Trang 29Khi thực hiện chức năng tác động, ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật có thể đi theo các hướng sau đây:
- Tác động theo hướng giải trí
- Tác động theo hướng nhận thức, giáo dục
Trang 3030
tượng là một tiêu chuẩn được coi là hàng đầu của ngôn ngữ nghệ thuật Không có đặc điểm này, phong cách nghệ thuật không còn gì khu biệt với các phong cách chức năng còn lại [8 ; 296]
c Đặc điểm về tính thẩm mỹ cao
Một tác phẩm nghệ thuật đích thực trước hết phải là một mẫu mực về ngôn
từ Điều này thể hiện rõ ý thức, vai trò cũng như vốn sống của nhà nghệ sĩ được phản ánh dưới dạng các lời nói nghệ thuật Khi miêu tả hiện thực, nhà văn không thể bê nguyên si những lời nói ở cửa miệng nhân vật cùng những đối thoại của khẩu ngữ sinh hoạt tự nhiên Để khái quát hóa trong quá trình xây dựng hình tượng, anh
ta phải biết chọn lựa và gọt giũa các phương tiện từ ngữ khi đưa vào tác phẩm Nói đúng hơn, anh ta đã tái tạo lại ngôn ngữ ở ngoài đời làm cho nó trở nên sống động hơn, "văn hóa" hơn Nghĩa là anh ta đã làm cho ngôn ngữ của đời sống có màu sắc của văn hóa thời đại và mang tính thẩm mỹ nghệ thuật [8 ; 301]
d Tính sinh động và biểu cảm
So với tất cả các phong cách chức năng, ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật có tính sinh động và biểu cảm cao nhất Chính đặc tính này đã tạo ra một con đường riêng làm thành bản chất của chức năng tác động ở phong cách nghệ thuật: tác động bằng tình cảm Đây là mặt vừa ưu việt lại vừa hạn chế của phong cách nghệ thuật Ưu việt ở chỗ, đây là phong cách dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được lòng người, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu Nhưng sự hạn chế cũng bộc lộ ở tính trừu tượng, thiếu độ chuẩn xác do kết quả của các thao tác tư duy trực giác và cảm tính đưa lại [8 ; 307]
e Tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật
Một đặc điểm khác làm cho phong cách nghệ thuật khác với tất cả các phong cách chức năng còn lại chính là tính tổng hợp của việc sử dụng ngôn ngữ Phong cách nghệ thuật sử dụng tất cả các phương tiện ngôn ngữ của khẩu ngữ tự nhiên, của phong cách hành chính - công vụ, phong cách chính luận và phong cách khoa học Trong đó, các phương tiện của khẩu ngữ tự nhiên được sử dụng nhiều nhất Vì
Trang 31- Sử dụng các phương tiện của tất cả các phong cách khác
- Tính đa dạng trong hình thức thể hiện ngôn ngữ: ngôn ngữ tác giả (ngôn ngữ người kể chuyện), ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại nội tâm [8 ; 313]
f Đặc điểm về sử dụng từ, ngữ
Phong cách nghệ thuật là phong cách thiên về biểu cảm với mục đích xây dựng hình tượng Do vậy, về mặt sử dụng từ, ngữ nó có những đặc trưng đáng chú ý sau:
- Sử dụng rất nhiều từ láy, từ tượng hình, tượng thanh: Đây là những từ có sức gợi cảm cao, dễ tạo nên tính nhạc điệu, tiết tấu trong các ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt trong thơ ca
- Hiện tượng tách từ nhằm cấp nghĩa cho vỏ âm thanh của từ: Nếu như trong giao tiếp thông thường, chúng ta thường gặp một hiện tượng "trống nghĩa" hay
"không có nghĩa" ở một số vỏ âm thanh là từ hay từ tố thì trong giao tiếp nghệ thuật xuất hiện một hiện tượng "làm đầy" ý nghĩa của các vỏ âm thanh này Nghĩa là qua bàn tay của nhà nghệ sĩ, những từ hay từ tố tưởng như trống nghĩa, không có ý nghĩa, nay lại nhận được một ý nghĩa có tính độc lập, có khả năng tái hiện lại cảm giác của người ta về một nét cá tính, một hành động hay tính chất của sự vật hay hiện tượng
- Thường xuyên sử dụng các đơn vị thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ: Trong kho tàng ngôn ngữ của mỗi dân tộc, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ là những đơn vị có sẵn được hình thành từ lâu đời Nó có đặc điểm là rất giàu hình ảnh và hình tượng Đặc điểm vừa nêu khiến cho các đơn vị này có quan hệ rất mật thiết với ngôn ngữ nghệ thuật Đó chính là lý do khiến cho phong cách này thường xuyên vận dụng các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ phục vụ cho mục đích xây dựng hình tượng tác phẩm [8 ; 319]
Trang 3232
1.3.2 Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, giới chuyên môn đã nói đến phong cách cá nhân của các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu; cũng đã nói đến phong cách hiện thực, phong cách lãng mạn Nhưng cũng có thể nói đến phong cách thời đại thể hiện ở các điểm sau:
+ Một là, quan niệm lí tính đối với cuộc đời, niềm tin vào khoa học, tiến bộ,
lẽ công bằng, tư tưởng bình đẳng, tự do Khi Thơ mới đòi hỏi thể hiện nhu cầu giải phóng cá tính trong tình cảm cũng là lúc các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đấu tranh cho các quyền con người của cá nhân; và cũng là lúc các tiểu thuyết hiện thực lên
án xã hội bất công chà đạp lên số phận con người sau lũy tre làng Một số nhà văn
Tự lực văn đoàn có phong cách hiện thực chính là do ảnh hưởng của phong cách thời đại trong cảm hứng tố cáo và trữ tình Văn học Cách mạng xuất hiện trong giai đoạn này cũng mang tính lý và tính lý tưởng rất đậm
+ Hai là, sự hiện đại hóa đồng loạt các thể loại văn học do tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây Thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, kịch nói, du
kí, tùy bút, phê bình văn học nhất loạt xuất hiện, thay thế hẳn các thế loại truyền thống Các hình thức truyền thống như thơ bảy chữ, năm chữ, lục bát,…đều được cấu trúc lại
+ Thứ ba, các nhà văn, nhà thơ dù sáng tác theo thể loại nào đều đã cắt đứt với truyền thống tập cổ mà tự mình cấu tứ, sáng tạo, vai trò chủ thể của tác giả đặt lên hàng đầu Người ta phân biệt rõ ràng sáng tác và phóng tác, lịch sử và tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao,…cùng một loạt nhà Thơ mới đa dạng về phong cách cá nhân đã tiêu biểu cho ý thức chủ thể nổi bật, như là một đặc trưng của phong cách thời đại
+ Thứ tư, khác với lối văn truyền thống nặng về vần điệu đăng đối với điệu ngâm nhịp nhàng, lối văn hiện đại chuyển hẳn sang văn xuôi: văn tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự mang hình thức khẩu ngữ, kịch hóa, thân mật, suồng sã trong khoảng cách gần, lời thơ về cơ bản là mang hình thức điệu nói đầy giọng điệu giãi bày, tâm tình
Một yếu tố quan trọng nữa của phong cách văn học là cách bố cục, kết cấu,
tổ chức nội dung tác phẩm, thể hiện cách cảm thụ của tác giả là người đọc kiểu mới
Trang 3333
Điều nổi bật của văn học giai đoạn này là kết cấu mở, mở từ giữa chừng và kết thúc lửng
[23 ; 16]
1.4 Khái quát về thể loại truyện ngắn trong tác phẩm văn học
1.4.1 Khái niệm truyện ngắn
Hiện nay nhận diện cũng như sáng tạo về thể loại truyện ngắn là một nỗ lực liên tục cho cả người sáng tác và giới nghiên cứu phê bình Từ W Gớt thế kỷ XVII cho đến Sêkhốp, từ Lỗ Tấn đến Môpatxăng, từ Antônốp thế kỷ XIX - XX, đến Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Minh Châu, Để có một cái nhìn thống nhất hơn, toàn diện hơn về truyện ngắn, chúng tôi khảo sát một số khái niệm truyện ngắn trong các
cuốn: Từ điển thuật ngữ văn học, Từ điển văn học, 150 thuật ngữ văn học tất cả
coi truyện ngắn là một: “Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”, và “thường được viết bằng văn xuôi”, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Điểm chung cơ bản đó là sự giới hạn về dung lượng của truyện ngắn và thích hợp với người tiếp nhận “đọc nó liền một mạch không nghỉ ”
Từ khái niệm trên, theo chúng tôi, để nhận định truyện ngắn cần dựa vào hai
tiêu chí chính là dung lượng và thi pháp Các yếu tố như cốt truyện, tình huống, kết
cấu, lối trần thuật, giọng điệu được coi là cơ bản khi tìm hiểu thể loại này
1.4.2 Đặc trưng của truyện ngắn hiện đại
1.4.2.1.Hình thức tự sự cỡ nhỏ
Truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật Truyện ngắn là cách phát hiện nghệ thuật của đời sống theo chiều sâu Có những bậc thầy về thể loại này đã đem đến cho truyện ngắn một sức chứa của tiểu thuyết Ở lĩnh vực truyện ngắn thì văn học hiện đại thế giới có nhiều cây bút lừng danh như Bunhin, Môroa, Xvaigơ, Môravia,
Văn học thế giới đã nói nhiều đến cái chết của tiểu thuyết - cái chết của bi kịch nhưng chưa từng nói đến cái chết của truyện ngắn Với hình thức tự sự cỡ nhỏ,
số trang ít, ít sự kiện, ít nhân vật, phạm vi phản ánh hẹp nhưng tất cả những chi tiết góp phần làm cho câu chuyện đạt đến hiệu quả mong muốn, tác động mạnh mẽ và giá trị thẩm mỹ lớn lao
Trang 3434
1.4.2.2 Phải có tính tình huống
Tình huống được nảy sinh từ một sự kiện, một mâu thuẫn nhất định Mâu thuẫn càng quyết liệt, bất ngờ, thì tình huống càng hấp dẫn, cuốn hút Nói chung,
tình huống phát triển cao thành xung đột Tình huống giúp cho những gì còn nằm
trong hình thức chưa phát triển nay bộc lộ và hoạt động tích cực Vì thế, truyện ngắn cũng như các thể loại tự sự khác, không thể thiếu tình huống Chỉ trong các tình huống cụ thể các nhân vật mới bộc lộ tính cách, tâm lý hoặc thay đổi tính cách, tâm lý nhằm biểu đạt tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
Nói tóm lại, khi bước vào một truyện ngắn người đọc cần phải nắm được giá trị của các bình diện nghệ thuật cấu thành cái thực thể sinh động - là truyện ngắn Nhưng nếu chưa nắm được tình huống thì xem như chưa nắm được chiếc chìa khóa mầu nhiệm để mở vào một thế giới bí ẩn của truyện ngắn
1.4.2.3 Nhân vật được thể hiện như một lát cắt điển hình
Nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm Có thể nói nhân vật là xương sống là linh hồn của mỗi tác phẩm, nhân vật cũng là người phát ngôn cho tư tưởng nhà văn, thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả
Nếu nhiệm vụ của tiểu thuyết là theo dõi, tìm hiểu và mô tả tỉ mỉ sự thăng trầm của số phận thì nhiệm vụ của truyện ngắn là “sử dụng” nó, có nghĩa là vào lúc cần thiết nó hiện lên rõ ràng, tuân thủ các nguyên tắc điển hình hóa Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, một nét tính chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người - nhân vật tâm trạng
Nhân vật truyện ngắn phải được hiểu theo nghĩa rộng, có khi là người, có khi
là vật Cho dù là tồn tại dưới dạng nào thì tất cả các nhân vật đều hướng tới con người Chỗ khác biệt cơ bản nhất của truyện ngắn là nhân vật của tiểu thuyết thường
là một thế giới thì nhân vật chính của truyện ngắn chỉ là một mảnh nhỏ của thế giới
1.4.2.4 Vai trò quan trọng của chi tiết
Chi tiết là tiểu tiết trong tác phẩm tự sự Truyện ngắn có thể không có một cốt truyện nhưng không thể không có chi tiết Chính chi tiết mà không khí, cảnh trí, tình huống, tính cách, hành động, tâm tư nhân vật được bộc lộ đầy đủ Truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa chân thực còn cần phải
Trang 351.5 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyên Hồng
Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5/11/1918 tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định Nghiên cứu tiểu sử Nguyên Hồng, ta thấy hai đặc điểm nổi bật: thiếu tình thương và phải tự lập kiếm sống từ nhỏ Cha ông làm cai đề lao, sau thất nghiệp, cảnh nhà sa sút, lại nghiện ngập và mắc bệnh lao, phải sống nghèo túng trong tâm trạng kẻ bất đắc chí Mẹ ông là người đàn bà ngoan đạo, tần tảo, hiền hậu, giàu đức hy sinh nhưng sống không có hạnh phúc trong gia đình nhà chồng
Năm 1934 ông phải thôi học, theo mẹ ra Hải Phòng, sống ở xóm Cấm, xóm chùa Đông Khê Những tưởng ở cái thành phố kỹ nghệ lớn vào bậc nhất nước ta hồi
ấy, mẹ con ông sẽ kiếm được việc làm Nhưng sự thật lại quá phũ phàng, cay đắng Nguyên Hồng đã đi xin việc nhiều nơi, phải lén lút dạy học tư để kiếm sống (vì không có giấy phép)
Năm 19 tuổi (1937), Nguyên Hồng cho in 'Bỉ vỏ', tác phẩm sau đó đã được giải thưởng của Tự lực Văn Đoàn Năm 20 tuổi in hồi ký 'Những ngày thơ ấu' trên báo 'Ngày nay', năm 1940 xuất bản thành sách Hai tác phẩm này đã khẳng định một tài năng trẻ trên văn đàn hiện đại
Tháng 9/1939 Nguyên Hồng bị Pháp bắt giam vì hoạt động cách mạng, năm sau bị đưa đi trại tập trung ở cảng Bắc Mê (Hà Giang) sau đó bị đưa về quản thúc tại Hải Phòng và Nam Định
Năm 1943 Nguyên Hồng tham gia tổ chức Văn hoá Cứu quốc vừa được thành lập Sau Cách mạng tháng Tám ông tiếp tục hoạt động trong Hội Văn hoá cứu quốc
Trong thời gian này ngòi bút Nguyên Hồng có những chuyển biến tích cực Ông là nhà văn trong dòng văn học hiện thực phê phán, nhận thức được chân lý
Trang 3636
cách mạng vô sản và thể hiện được nhận thức đó phần nào trong các tác phẩm: 'Người đàn bà Tàu' (1939), 'Qua những màu tối' (1942), 'Quán Nải' (1943), 'Hơi thở tàn' (1943), 'Hai dòng sữa' (1943), 'Vực thẳm' (1944), 'Ngon lửa' (1944), 'Miếng bánh' (1945)
Thời kỳ tiền khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám, Nguyên Hồng viết 'Địa ngục' và 'Lò lửa' phản ánh nạn đói năm 45 và cao trào Việt Minh Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nguyên Hồng đưa gia đình lên Việt Bắc, cùng một số gia đình văn nghệ sĩ khác như Ngô Tất Tố, Trần Văn Cẩn, Đỗ Nhuận, Tạ Thúc Bình, Kim Lân lập thành một xóm gọi là ấp Cầu Đen ở Yên Thế, Bắc Giang Trong thời gian này ông tham gia thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam, tiến hành tại Phú Thọ năm
1948, sau đó công tác tại Hội và trong Ban biên tập tạp chí Văn nghệ của hội Năm
1948 Nguyên Hồng gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Năm 1952 ông được giao trách nhiệm Hiệu trưởng trường Văn nghệ Nhân dân và được gọi vui là 'Ông đốc Hồng'
Năm 1955 về Hải Phòng làm báo ở tờ 'Tin Hải Phòng' Năm 1956 lên Hà Nội làm báo Văn nghệ Năm 1957 tham gia Đại hội thành lập Hội nhà văn Việt Nam, phụ trách tuần báo Văn
Năm 1958 Nguyên Hồng lại đưa gia đình về ấp Cầu Đen Bản thân ông đi thực tế ở Hải Phòng để bắt đầu viết bộ tiểu thuyết 'Cửa biển' (4 tập, tổng cộng hơn
2000 trang: 'Sóng gầm' 1961; 'Cơn bão đã đến', 1968; 'Thời kỳ đen tối', 1973; 'Khi đứa con ra đời'; 1976)
Tháng 1/1964 Nguyên Hồng tham gia Đại hội thành lập Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng (nay là Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng) và là Chủ tịch cho đến khi mất
Ngày 29/4/1982 Nguyên Hồng làm việc lần cuối với anh em văn nghệ Hải Phòng Trở về Yên Thế, ông mất đột ngột vào ngày 2/5/1982 tại ấp Cầu Đen, để lại
di cảo tập II của 'Núi rừng Yên Thế'
Với gần 50 năm lao động nghệ thuật, Nguyên Hồng có một vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại Ông xứng đáng là nhà văn chân chính của 'Những người khốn khổ' Ông sống giản dị, chân chất hồn hậu và giàu xúc cảm
Trang 3737
Nguyên Hồng đã được tặng nhiều Huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, đợt I (1996)
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật gồm 6 đặc điểm chính, đó là: chức năng ngôn ngữ, đặc điểm về tính hình tượng, đặc điểm về tính thẩm mĩ cao, tính sinh động và biểu cảm, tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật, và đặc điểm về sử dụng
từ, ngữ
Về thể loại truyện ngắn được hiểu ngắn gọn là một: “Thể tài tác phẩm tự sự
cỡ nhỏ”, và “thường được viết bằng văn xuôi”, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Và đặc trưng của truyện ngắn hiện đại gồm: hình thức
tự sự cỡ nhỏ, phải có tính tình huống, nhân vật được thể hiện như một lát cắt điển hình và vai trò quan trọng của chi tiết
Cuộc đời của nhà văn Nguyên Hồng có thể tóm lược với tuổi thơ nhiều bất hạnh, lớn lên trong sự thiếu thốn, đặc biệt là tình cảm của người mẹ, sớm vật lộn với cuộc sống mưu sinh, gian khổ, sống cùng với những kiếp người lầm than nghèo khổ nhất, những lớp người cặn bã trong xã hội
Phần lí thuyết ở trên cũng như những kiến thức về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyên Hồng sẽ là bước đệm vững chắc cho phần khảo sát và nghiên cứu
ở những chương tiếp theo
Trang 3838
Chương 2 CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG
53 truyện ngắn của Nguyên Hồng được sáng tác trong một giai đoạn nhất định và gần như liền nhau Tính đến năm 1946, Nguyên Hồng đã có 52 tác phẩm trong một giai đoạn liên tục từ 1936 - 1946, mỗi năm Nguyên Hồng sáng tác ít nhất
1 truyện ngắn Truyện ngắn đầu tiên là Linh hồn (1936) Truyện ngắn cuối cùng của ông là Cháu gái người mãi võ họ Hoa (1967) Đây là tác phẩm viết về hình ảnh
người con gái đã để lại ấn tượng rất sâu đậm với nhà văn Sau gần 20 năm gặp lại,
cô gái đã trở thành một thanh niên xung phong dũng cảm, hát hay, múa giỏi Những xúc động khi gặp lại cô gái năm xưa là tiền đề cho truyện ngắn thứ 53 của ông Điều này cũng lí giải vì sao truyện ngắn cuối cùng của ông lại cách xa như vậy
Trong khoảng thời gian từ 1937 - 1939, chỉ trong 3 năm, Nguyên Hồng đã sáng tác 25 truyện ngắn Trong đó, đáng kể nhất là năm 1939 với 11 truyện ngắn, năm 1938 ít hơn với 8 truyện ngắn và 1939 với 6 truyện ngắn Năm 1945 cũng là một năm bội thu của Nguyên Hồng với 10 truyện ngắn Ngoài ra, năm 1943 Nguyên Hồng cũng sáng tác được 7 truyện ngắn Như vậy, nếu tính trong 5 năm (1937,
1938, 1939, 1943, 1945) thì số lượng truyện ngắn Nguyên Hồng sáng tác là 42 truyện ngắn trong tổng số 53 truyện ngắn 11 truyện ngắn còn lại xuất hiện rải rác vào các năm 36, 42, 44 và 46, mỗi năm có từ 1 đến 3 truyện ngắn Đặc biệt trong 2 năm 1940 và 1941, Nguyên Hồng không sáng tác một truyện ngắn nào Giai đoạn này, ông bị Pháp bắt giam vì hoạt động cách mạng, năm sau bị đưa đi trại tập trung
ở cảng Bắc Mê (Hà Giang) sau đó bị đưa về quản thúc tại Hải Phòng và Nam Định
Như vậy, truyện ngắn của Nguyên Hồng được sáng tác gần như tập trung trong khoảng thời gian từ 1936-1945 Đây là giai đoạn đất nước đang chuyển mình với những biến động lớn của lịch sử Sự khủng hoảng của xã hội với mâu thuẫn
Trang 3939
ngày càng gay gắt giữa các tầng lớp, hoạt động cách mạng ngày càng lớn mạnh với cuộc đấu tranh biểu tình của nhân dân đã tác động đến những truyện ngắn của Nguyên Hồng Từ nội dung truyện ngắn đến cách dùng từ của nhà văn cũng có sự chuyển biến nhất định
Truyện ngắn của Nguyên Hồng nổi bật với từ ngữ gốc Hán, từ ngữ gốc Ấn -
Âu, từ ngữ lịch sử và tiếng lóng Đó là các lớp từ đặc trưng riêng biệt thể hiện sự độc đáo góp phần không nhỏ thể hiện phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng Dưới đây là phần khảo sát chi tiết của chúng tôi về các lớp từ trên
2.2 Từ gốc Hán trong truyện ngắn của Nguyên Hồng
mà từ xuất hiện
Thống kê từ gốc Hán đơn tiết trong 53 truyện ngắn của Nguyên Hồng, chúng tôi thu được những kết quả cụ thể như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát từ gốc Hán đơn tiết
Bảng chữ cái Từ gốc Hán đơn tiết
Trang 4040
Đ đầu (75), định (29), đáp (3), điện (3), đoạn(2),
động, (trên) đỉnh, Đảng, (nối) điệu, đạo (làm người), đoạn, đồng
Gi giao (trả) (3), giam (5)
H hiện(7), hưởng (5), hương (2), hình (2), học, hạ
(xuống), hiền, hội, hướng (về), hoa, hại
T tiền (61), tin (23), tính (23), (lên) tỉnh (9), toàn
(8), tận (7), tội (7), tưởng (6), tiện (6), tự (4), tiến (4), tỉnh (rồi), tài (2), tượng (gỗ), tử, (cái) tâm, tiếp, tình, tù,
Th thành (27), thân (9), thường (7), thu (4), thuận
(2), tham (quá), thọ, thuế