Nếu đối chiếu với những câu có hình thức thể tiếng Anh tương tự như trên trong các văn bản song ngữ, chắc chắn nhiều người Việt Nam không khỏi băn khoăn về cách chuyển dịch chúng sang ti
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HÀ THỊ BÍCH LIÊN
NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC, Ý NGHĨA THỂ CỦA CÂU TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HÀ THỊ BÍCH LIÊN
NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC, Ý NGHĨA THỂ CỦA CÂU TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201 Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN HỒNG CỔN
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……… 7
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….9
3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu……… 9
4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu……… 10
5 Bố cục của luận văn……… 11
Chương 1: THỂ TRONG TIẾNG ANH - MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Thể là gì?……… 12
1.1.1 Thể từ vựng……… 13
1.1.2 Thể ngữ pháp……… 14
1.2 Hình thức và ý nghĩa của thể……… … …… 15
1.2.1 Hình thức của thể 15
1.2.2 Ý nghĩa của thể ……….……… … 18
1.3 Mối quan hệ giữa thể với các phạm trù khác.……… 20
1.3.1 Mối quan hệ giữa thể với thì….……… ……….20
1.3.2 Mối quan hệ giữa thể với tình thái…….……… 23
1.3.3 Thể trong mối quan hệ với thức….……… 25
1.3.4 Mối quan hệ giữa thể và dạng….……… 27
1.4 Vấn đề khái niệm thể trong tiếng Việt….……… 28
1.5 Lý thuyết dịch thuật và vấn đề dịch thể của tiếng Anh sang tiếng Việt 34
Chương 2: THỂ HOÀN THÀNH TRONG CÂU TIẾNG ANH VÀ CÁCH THỨC CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT
Trang 42.1 Hình thức và ý nghĩa của thể hoàn thành trong tiếng Anh.…… …40
2.1.1 Hình thức của thể hoàn thành trong tiếng Anh….……… 40
2.1.1.1 Về mặt hình thái….……… 40
2.1.1.2 Về mặt cú pháp.……….42
2.1.2 Ý nghĩa của thể hoàn thành trong tiếng Anh….……… 49
2.1.2.1 Tính hoàn tất hay không hoàn tất của sự tình.……….……… 49
2.1.2.2 Sự thay đổi trạng thái của sự tình….……….52
2.1.2.3 Tính lặp của sự kiện.……… 53
2.1.2.4 Miêu tả những hoạt động quá khứ gần với hiện tại mà thời gian không xác định……… 54
2.1.2.5 Ý nghĩa tình thái của thể hoàn thành….……… 55
2.1.2.6 Chức năng quy chiếu thời gian của thể hoàn thành….……… 56
2.2 Cách thức chuyển dịch thể hoàn thành của tiếng Anh sang tiếng Việt……….59
2.2.1 Cách thức chuyển dịch sử dụng “đã” của tiếng Việt.……… 59
2.2.1.1 “Đã” và ý nghĩa của thể hoàn thành….……… 59
2.2.1.2 Cách thức vận dụng “đã” trong chuyển dịch….……… 61
2.2.2 Cách thức chuyển dịch sử dụng các kết cấu với “đã” và các phó từ tương đương với “đã”……… 64
2.2.2.1 Kết cấu đã…rồi……… 64
2.2.2.2 Kết cấu đã…xong/được/hết…….……… 66
2.2.2.3 Kết cấu đã từng………….……… 67
2.2.2.4 Các phó từ tương đương với “đã”: vừa, mới……….………69
2.2.3 Các cách chuyển dịch thể hoàn thành-thức phủ định trong tiếng Anh.……71
2.2.4 Những cách chuyển dịch khác….……….73
Chương 3: THỂ TIẾP DIỄN TRONG CÂU TIẾNG ANH VÀ CÁCH THỨC CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT 3.1 Hình thức và ý nghĩa của thể tiếp diễn trong tiếng Anh.………… 76
Trang 53.1.1.1 Về phương diện hình thái học…….……… 76
3.1.1.2 Về phương diện cú pháp học…….……… 78
3.1.2 Ý nghĩa của thể tiếp diễn trong tiếng Anh….……… 84
3.1.2.1 Thể tiếp diễn cho biết những hành động đang diễn tiến…….………… 84
3.1.2.2 Thể tiếp diễn không miêu tả những sự kiện trọn vẹn….……… 87
3.1.2.3 Thể tiếp diễn đánh dấu tính tạm thời của sự kiện…….……….88
3.1.2.4 Thể tiếp diễn miêu tả những hoạt động thói quen, lặp lại….……….90
3.1.2.5 Thể tiếp diễn hàm nghĩa tương lai…….………92
3.2 Cách thức chuyển dịch thể tiếp diễn tiếng Anh sang tiếng Việt… 95
3.2.1 Cách thức chuyển dịch sử dụng “đang” của tiếng Việt ….……… 95
3.2.1.1 “Đang” và ý nghĩa của thể tiếp diễn……….……… 95
3.2.1.2 Cách sử dụng từ “đang” để chuyển dịch thể tiếp diễn…….….………….97
3.2.2 Các cách chuyển dịch khác đối với thể tiếp diễn trong tiếng Anh…… 102
3.2.2.1 Cách chuyển dịch sử dụng đã trong tiếng Việt……….……… 102
3.2.2.2 Cách chuyển dịch ý nghĩa tương lai của thể tiếp diễn trong tiếng Anh 103
3.2.2.3 Cách chuyển dịch sử dụng vẫn, còn trong tiếng Việt….……….108
3.3 Hình thức, ý nghĩa của sự kết hợp thể hoàn thành - tiếp diễn và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt……… 109
3.3.1 Hình thức và ý nghĩa của thể hoàn thành - tiếp diễn….……… 109
3.3.1.1 Hình thức của thể hoàn thành - tiếp diễn…….……… 110
3.3.1.2 Ý nghĩa của thể hoàn thành - tiếp diễn…….………111
3.3.2 Cách chuyển dịch thể hoàn thành - tiếp diễn sang tiếng Việt……….… 114
KẾT LUẬN……….……… 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……… 119
PHỤ LỤC……… ……… 125
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Viết đầy đủ
1 [e] Ellipsis (yếu tố ẩn)
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Anh là một ngôn ngữ có đặc điểm loại hình khác với tiếng Việt Vì vậy trong quá trình giảng dạy, học tập và sử dụng, người Việt Nam gặp những khó khăn nhất định trên nhiều phương diện Một trong những khó khăn ấy là cách chuyển dịch các hình thức, ý nghĩa của thể trong tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
Trong các sách ngữ pháp nhà trường, câu They have gone out được coi là sử dụng thì hiện tại hoàn thành; hay câu He is working in the garden sử dụng thì hiện
tại tiếp diễn Nhưng thực tế, các nhà ngôn ngữ học, ngữ pháp học lại cho rằng chúng sử dụng thể hoàn thành và thể tiếp diễn
Xét về cấu trúc hình thức, thể hoàn thành và thể tiếp diễn trong tiếng Anh có hình thức khá rõ ràng, nhất quán Thể hoàn thành luôn được diễn tả bởi cấu trúc
động từ have + V-en (như “Have slept) Thể tiếp diễn có kết cấu gồm be + V-ing
(trong “I am learning”) Tuy nhiên, động từ tiếng Anh gắn liền với những phạm trù như thời, thức, dạng và tình thái Do đó, cấu trúc hình thức thể trong tiếng Anh sẽ biến đổi khi kết hợp với những phạm trù ngữ pháp này
Xét về ý nghĩa, thể hoàn thành mang nét nghĩa cơ bản là tính hoàn tất của sự kiện được miêu tả Thể tiếp diễn chủ yếu cho biết tính diễn tiến (đang trong tiến trình) của sự kiện Song, khi suy xét các trường hợp cụ thể, còn phải căn cứ vào những yếu tố liên quan khác nữa như: yếu tố vị từ (tĩnh hay động, hữu kết hay vô kết, điểm tính hay thời lượng), yếu tố bổ ngữ, hay trạng ngữ thời gian, v.v để có thể xác định rõ tính hoàn tất hay chưa hoàn tất của sự kiện
Phạm trù thể trong tiếng Anh có sự phân biệt rạch ròi về hình thức cũng như
ý nghĩa đối với hai loại thể trên Trong tiếng Việt, vấn đề về thể còn gây rất nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu ngôn ngữ Tuy nhiên, cho đến nay hầu hết các nhà Việt ngữ học đều nhất trí cho rằng trong tiếng Việt không có các dấu hiệu thuần
Trang 8túy chỉ thời hoặc thể, mà chỉ có các từ biểu thị ý nghĩa thời - thể, như đã, đang, sẽ,
chưa, từng, mới, vừa mới, Chính vì tiếng Việt không có phạm trù ngữ pháp thể
riêng biệt cho động từ, nên việc lựa chọn phó từ nào để chuyển dịch thể tiếng Anh
là một câu hỏi không dễ trả lời đối với người dịch
Chẳng hạn, muốn diễn tả việc viết báo cáo đã xong, người Anh có thể nói: I
have finished the report hoặc I had finished the report tuỳ thuộc vào thời điểm quy
chiếu đối với sự tình trong câu Nếu đối chiếu với những câu có hình thức thể tiếng Anh tương tự như trên trong các văn bản song ngữ, chắc chắn nhiều người Việt Nam không khỏi băn khoăn về cách chuyển dịch chúng sang tiếng Việt Hai câu trên rất có thể sẽ được chuyển dịch như sau:
Tôi đã hoàn thành bản báo cáo
Tôi đã viết xong báo cáo
Tôi đã viết báo cáo rồi
Tôi vừa/mới/vừa mới viết báo cáo
Tương tự với một câu sử dụng thể tiếp diễn tiếng Anh như He is crying sẽ
có thể nhận được các cách chuyển dịch khác nhau:
Nó đang khóc
Nó vẫn đang khóc
Nó còn khóc
Nó đương khóc
Nhưng câu “He is getting married next month” lại được dịch là “Anh ta sẽ
cưới vợ vào tháng tới” Một câu tiếng Việt: Mùa xuân đến rồi có thể được dịch
ngược lại tiếng Anh là: The spring has come, hay cũng có thể được dịch là: The
spring is coming Với câu hỏi ở tiếng Việt “Anh đã ăn sáng chưa?” phải được
chuyển dịch sang tiếng Anh là “Have you had your breakfast?” chứ không thể hỏi
“Did you have breakfast?”
Mặc dù người Việt, khi học và nghiên cứu tiếng Anh, có thể quen với việc
sử dụng đã, đang tương đương lần lượt với thể hoàn thành và thể tiếp diễn tiếng Anh, còn sẽ để chỉ ý nghĩa tương lai; song việc vận dụng một số phó từ khác tương đương với đã, đang, sẽ hay thậm chí có trường hợp đã được dùng thay cho đang
Trang 9và ngược lại nhất định sẽ gây không ít khó khăn đối với họ Và càng khó khăn hơn
khi những phó từ như đã, đang, sẽ lại mang ý nghĩa tình thái chứ không phải ý
nghĩa thể
Để góp phần giải quyết những khó khăn trên đây, chúng tôi chọn đề tài
“nghiên cứu hình thức, ý nghĩa thể của câu trong tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
Việc lựa chọn đề tài “nghiên cứu hình thức, ý nghĩa thể của câu trong tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt” không ngoài mục đích tìm hiểu
những đặc điểm về hình thức và ý nghĩa của thể trong tiếng Anh; đối chiếu, phát hiện những nét tương đồng và khác biệt trong cách chuyển dịch sang tiếng Việt Trên cơ sở đó, đánh giá hướng khắc phục những khó khăn giúp việc chuyển dịch chính xác và đạt hiệu quả cao hơn
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các cấu trúc hình thức, ý nghĩa của thể hoàn thành và thể tiếp diễn trong tiếng Anh ở cấp độ câu, song song với các câu chuyển dịch tương đương ở tiếng Việt Tuy nhiên, theo nguyên tắc của lý thuyết dịch, việc chuyển dịch một câu từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác đôi khi phải dựa vào ngữ cảnh của câu đó Do vậy, đối tượng nghiên cứu của đề tài có thể được mở rộng sang cấp độ trên câu
Với đề tài trên, việc nghiên cứu sẽ được thực hiện chủ yếu ở hai bình diện:
cú pháp và ngữ nghĩa Bình diện dụng học, đôi khi, cũng được vận dụng kết hợp
để làm sáng tỏ ý nghĩa và chức năng của đối tượng nghiên cứu
3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
Quyết định chọn đề tài “nghiên cứu hình thức, ý nghĩa thể của câu trong
tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt”, người viết hướng đến những mục
đích cụ thể sau:
- Thứ nhất, điểm lại tình hình nghiên cứu về thể trong tiếng Anh, xác định các hình thức biểu hiện và ý nghĩa của thể trong tiếng Anh, các dạng thể cơ bản của tiếng Anh, mối quan hệ giữa chúng với các phạm trù khác (như thì, thức, tình thái, dạng), khái niệm thể trong tiếng Việt và một số vấn đề về lý thuyết dịch Trên
Trang 10cơ sở đó, xây dựng một khung lý thuyết đủ hiệu lực để xem xét, đối chiếu việc chuyển dịch thể tiếng Anh sang tiếng Việt
- Thứ hai, miêu tả một cách có hệ thống các biểu hiện hình thức và phân biệt
rõ các ý nghĩa, chức năng của hai dạng thể trong tiếng Anh không tách rời mối liên
hệ với những phạm trù ngữ pháp khác
- Thứ ba, dựa vào các kết quả miêu tả, tiến hành nghiên cứu, đối chiếu cách chuyển dịch để làm sáng tỏ những phương tiện chuyển dịch trong tiếng Việt tương đương với hình thức và ý nghĩa thể của tiếng Anh
Nếu thực hiện được những mục tiêu trên đây, luận văn có những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn sau:
- Về mặt lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt về hình thức và ý nghĩa thể giữa các câu tiếng Anh và các câu chuyển dịch tương đương ở tiếng Việt
- Về mặt thực tiễn:
Dựa trên những kết quả thu được, luận văn giúp cho người học, người dạy
và nghiên cứu tiếng Anh, đặc biệt chuyên về lĩnh vực dịch thuật có những kiến thức nền cần thiết để tránh những lỗi không cần thiết và đạt hiệu quả cao trong công việc
4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
Bên cạnh hai phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp quy nạp và diễn dịch, trong luận văn này chúng tôi còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học như: mô tả, thống kê, phân tích cấu trúc, phân tích ngữ nghĩa - chức năng, so sánh đối chiếu
Tư liệu của luận văn bao gồm 420 câu trích dẫn tiếng Anh và tiếng Việt có
sử dụng các hình thức biểu thị ý nghĩa thể cũng như các ý nghĩa ngữ pháp khác có liên quan Trong số 72 câu tiếng Việt bao gồm cả những câu mang ý nghĩa thời - thể, cả những câu biểu thị ý nghĩa tình thái 348 câu còn lại bao gồm các câu song ngữ và tiếng Anh có sử dụng các hình thức của thể hoàn thành, thể tiếp diễn và hình thức kết hợp của hai thể Bên cạnh đó, chúng tôi còn khảo sát tần số xuất hiện
Trang 11“đã” tương đương với thể hoàn thành tiếng Anh qua 68 câu song ngữ Anh - Việt trong cuốn “A Doll‟s House” (Ngôi nhà búp bê) của tác giả Henrick Ibsen, nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2006 Đồng thời, luận văn cũng sử dụng một số trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của các tác giả khác
5 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương chính với nội dung cụ thể như sau:
Chương I: Thể trong tiếng Anh - tình hình nghiên cứu và một số khái niệm
cơ bản
Trong chương này, chúng tôi trình bày những luận điểm về nguồn gốc, tình hình nghiên cứu thể trong tiếng Anh, hướng nghiên cứu của luận văn, các khái niệm cơ bản liên quan đến thể trong tiếng Anh và vấn đề khái niệm thể trong tiếng Việt
Chương II: Thể hoàn thành trong câu tiếng Anh và cách thức chuyển dịch
sang tiếng Việt
Các dạng cấu trúc hình thái của thể hoàn thành tiếng Anh và các ý nghĩa do chúng thể hiện sẽ được miêu tả, phân tích kỹ ở phần chương này Trên cơ sở đó đối chiếu cách thức chuyển dịch và tìm ra các phương tiện chuyển dịch tương đương trong tiếng Việt
Chương III: Thể tiếp diễn trong câu tiếng Anh và cách thức chuyển dịch
sang tiếng Việt
Trong chương này, chúng tôi tiếp tục tiến hành miêu tả, phân tích sâu về hình thức cũng như các ý nghĩa thể hiện của thể tiếp diễn trong tiếng Anh Từ đó khảo sát, đối chiếu các phương tiện chuyển dịch tương đương ở tiếng Việt Đặc biệt, ở chương này, chúng tôi còn đề cập tới sự kết hợp về hình thức giữa hai loại thể nêu trên trong tiếng Anh và ý nghĩa diễn đạt của hình thức ấy Đồng thời cũng đánh giá chung về phương tiện chuyển dịch trong tiếng Việt tương đương với hình thức thể kết hợp đó
Ngoài ra, luận văn còn có mục tài liệu tham khảo, tài liệu trích dẫn, mục lục
và phụ lục tư liệu
Trang 12CHƯƠNG 1 THỂ TRONG TIẾNG ANH - MỘT SỐ KHÁI NIỆM
CƠ BẢN 1.1 Thể là gì?
Trong cuốn “Conc ise Oxford Companion to the English Language” (Tom
McArthur,1998), thể được định nghĩa như là một phạm trù ngữ pháp (được thể hiện qua hình thái của động từ ) diễn tả cách nhìn nhận thời gian của một sự tình :
chẳng hạn, tính thời lượng, tính lặp lại và tính hoàn tất của sự tình Thể đối lập với
thì, một phạm trù quan tâm tới thời gian của sự tình trong mối tương quan với một
số thời gian khác như : thời điểm nói hoặc viết
A Jacobs và George Yule cũng có cách hiểu tương tự : thể là cái tên chung
cho các hình thái của động từ nhằm biểu thị những cách thức quan sát hay cảm nhận một biến cố Một biến cố có thể được xem như một tổng thể hoàn tất , như
đang diễn tiến hay đang được lặp lại một cách gián đoạn Theo cách hiểu đó , thể
chính là sự đánh dấu về ngữ pháp đối với động từ trong cấu trúc thời gian nội tại của một sự tình
Theo định nghĩa trong cuốn từ điển mạng Merriam-Webster , thể là một
phạm trù ngữ pháp nói tới đặc điểm của động từ trong mối quan hệ với dòng thời gian của sự kiện hay trạng thái được miêu tả
Về mặt truyền thống , bản thân thể liên quan đến cái mà Comrie (1976) gọi
là “những cách thức quan sát diễn tiến thời gian nội tại của một sự tình” Có thể
ngầm hiểu định nghĩa trên của Comrie như sau : trong khi thì liên kết việc đ ịnh vị
thời gian của một sự tình với một vài quy điểm thời gian khác , chẳng hạn như thời
điểm phát ngôn , thì thể liên quan đến những đặc tính cấu trúc của bản thân sự tình
Trong cuốn “Linguistic semantics - An introduction” của John Lyons (do
Nguyễn Văn Hiệp dịch ), thể được định nghĩa một cách khái quát như sau : thể là
phạm trù có được do sự ngữ pháp hóa cái thể thức thời tính bên trong của sự tình
(hành động , biến cố, tình trạng , v.v ) Định nghĩa này cho thấy rõ rằng thể là một
phạm trù ngữ pháp chứ không phải là một phạm trù từ vựng
Trang 13Để tìm hiểu về thể, cần phải xem xét bên trong sự tình, nói về những thông
số nội tại của một sự tình Nó có thể được diễn tả như là ổn định hay thay đổi, nó
có thể được coi như chỉ kéo dài trong chốc lát hoặc có thời lượng, và nó có thể được xem là đã hoàn tất hay đang tiếp diễn Đây chính là những đặc tính giúp phân biệt hai loại thể điển hình trong các ngôn ngữ có thể: thể từ vựng (lexical aspect)
và thể ngữ pháp (grammatical aspect) Chúng tôi sẽ giới thiệu một số nét cơ bản liên quan đến hai loại thể này trong tiếng Anh
1.1.1 Thể tƣ̀ vƣ̣ng
Thể từ vựng đôi khi được gọi là “Aktionsart” , được hiểu là một đặc tính nghĩa h ọc của vị từ liên quan đến nhữn g đặc trưng “bên trong” như : kéo dài (durative), lặp lại (iterative), tập quán (habitual), bắt đầu (ingressive ), kết th úc (terminative ), và tương đương với thể cảnh huống của Smith (1991) Loại thể này phân biệt những đặc tính của các loại sự kiện được diễn đạt bởi nghĩa của
động từ
Trong thể từ vựng, hai khái niệm đầu tiên cần được phân biệt là thể tĩnh và
thể động Thể tĩnh là loại thể gắn liền với vị từ mang nghĩa tĩnh, tức là những vị
từ chủ yếu miêu tả trạng thái, quan hệ, cảm xúc, tri nhận, như các động từ: own (sở
hữu), have (có), know (biết), fear (sợ),… Trái lại, thể động là đặc trưng gắn liền
với những vị từ miêu tả hành động, quá trình,… như: play (chơi), write (viết), go (đi), run (chạy),… Trong thể động lại cần phân biệt thể điểm tính (punctual aspect)
và thể thời lượng (durative aspect) Thể điểm tính mô tả những hành động diễn ra
và chấm dứt gần như đồng thời tại một thời điểm nhất định chứ không kéo dài trong một khoảng thời gian Những động từ có thể đáp ứng đặc điểm của thể này
gồm kick (đá), fire (bắn), jump (nhảy), hit (đánh),… Đối lập với thể điểm tính là
thể thời lượng, miêu tả những tình huống kéo dài về mặt thời gian Thể thời lƣợng
là một đặc trưng cơ bản của những vị từ biểu thị hoạt động như run (chạy), eat (ăn), walk (đi) và các vị từ diễn tả quá trình như change (thay đổi), learn (học),
grow (trưởng thành) Ngoài bốn loại thể điển hình trên đây, còn có một số loại thể
từ vựng khác như thể lặp, thể thói quen, thể khởi phát, thể lâm trạng, thể ngừng nghỉ v.v…
Trang 141.1.2 Thể ngƣ̃ pháp
Thể ngữ pháp cho biết sự phân biệt về hình thức được mã hóa trong ngữ pháp của một ngôn ngữ Như vậy , để nhận diện thể ngữ pháp người ta dựa vào hình thái ngữ pháp hay cấu trúc của động từ chứ không dựa vào mặt ngữ nghĩa
Theo cách nhìn nhận truyền thống và thậm chí ngay cả đối với tiếng Anh hiện đại , thể ngữ pháp tiếng Anh bao gồm hai kiểu loại : thể tiếp diễn (progressive) và thể hoàn thành (perfective) Sự phân biệt cơ bản về mặt ngữ
pháp giữa hai thể này được đánh dấu bởi các dạng thức của động từ “be” với phân
từ hiện tại (Verb + ing) đối với thể tiếp diễn , như ở ví dụ I am/was eating, và thể
hoàn thành sử dụng các dạng thức của động từ “have” kết hợp với phân từ quá khứ
(Verb + -en/ed), như I have/had eaten
Trong tiếng Anh , sự phân biệt nhận thức giữa hai loại thể ngữ pháp liên quan đến hai quan điể m khác nhau Đối với thể tiếp diễn , sự tình được quan sát nội tại như đang diễn ra tại thời điểm qua n sát , có liên quan đến sự tình khác Thể hoàn thành lại được nhận thức khi một sự tình được quan sát ngoại tại , thường là trong sự hồi tưởng , liên quan đến sự tình khác Việc hiểu “sự tình khác” trong mỗi
loại thể sẽ phụ thuộc vào thì gán cho be và have Sự phân biệt cơ bản này có thể
được tóm tắt trong bảng sau :
(Trích theo G Yule, trang 65) Bảng trên có thể tạm thời được chuyển sang tiếng Việt như sau :
Thể ngƣ̃ pháp
Thể tiếp diễn
Thể hoàn thành
Nhận thƣ́c tình huống
Được quan sát nội tại, trong sự tiếp diễn Được quan sát ngoại tại, trong sự hồi tưởng
Trang 15Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thể ngữ pháp của tiếng Anh Hình thức và ý nghĩa của thể ngữ pháp trong tiếng Anh (sau này gọi là thể trong tiếng Anh) sẽ được đề cập tới ở mục dưới đây
1.2 Hình thức và ý nghĩa của thể trong tiếng Anh
1.2.1 Hình thức của thể trong tiếng Anh
Cùng xét các ví dụ sau :
(1) Please don’t make so much noise I am working (Làm ơn đừng gây ồn
nhiều như vậy Tôi đang làm việc )
(2) She is driving now (Lúc này, cô ấy đang lái xe )
(3) I saw you in the park yesterday You were sitting on the grass and
reading a book (Hôm qua tôi nhìn thấy anh trong công viên Lúc ấy anh đang ngồi
trên thảm cỏ đọc sách)
(4) He has lost his key (Anh ta bị mất chìa khóa )
(5) When we got home last night, we found that somebody had broken into
the flat (Tối hôm qua , khi trở về nhà , chúng tôi phát hiện ra rằng trước đó đã có
một kẻ nào đó đột nhập vào căn hộ của chúng tôi )
Rõ ràng là có sự biến đổi về mặt hình thái đối với thể tiếp diễn và thể hoàn thành trong các ví dụ trên Cụ thể, đối với thể tiếp diễn , đó là sự biến đổi về hình
thái của động từ to be (am, is, are, was, were) và các hình thái của động từ có đuôi
ing (V-ing) Tương tự như vậy là những biến đổi về hình thái của have (have, has, had) kết hợp với các dạng phân từ quà khứ của động từ (V-en) ở thể hoàn thành
Thể hoàn thành và thể tiếp diễn trong tiếng Anh không chỉ được thể hiện về mặt hình thái học mà còn về mặt cú pháp Tức là chúng cũng biến đổi khi kết hợp
với thành phần khác trong câu (như chủ ngữ, trạng ngữ, tình thái, ) Chẳng hạn,
đối với hai câu sau:
(6) This time last year I was living in Brazil (Vào thời điểm này năm ngoái,
tôi đang ở Brazil.)
(7) Jonathan has visited his cousins daily (Jonathan ngày nào cũng đi thăm
anh em họ của mình )
Trang 16Nếu ta thay đổi chủ ngữ của các câu trên thì thành phần vị ngữ của câu sẽ thay đổi theo Cụ thể:
This time last year they were living in Brazil (Vào thời điểm này năm
ngoái, họ đang ở Brazil.)
Mike and John have visited their cousins daily ( Mike và John ngày nào
cũng đi thăm anh em họ của mình )
Như vậy, tạm thời có thể tổng kết về hình thức của các yếu tố bắt buộc ở thể hoàn thành và thể tiếp diễn trong tiếng Anh qua bảng sau :
Thể tiếp diễn
am working
is driving are building was living were sitting
Subject + predicate + adverb
Thể hoàn thành
have arrested has lost had broken
Subject + predicate + adverb
Cũng phải nói thêm rằng, ở đây chúng tôi không dám đồng nhất sự biến thái của thể trong tiếng Anh với sự biến đổi hình thái thể trong một số ngôn ngữ khác như tiếng Nga, Pháp, Đức,… Những ngôn ngữ này đánh dấu thể bằng cách sử dụng những dấu hiệu biến đổi hình thái đặc biệt nằm trong bản thân động từ, chứ không bằng cách kết hợp động từ với các phụ từ (trợ từ, trạng từ,…) như trong tiếng Anh Cùng một động từ với hình thái khác nhau có thể diễn tả ý nghĩa thể khác nhau Ví dụ, trong tiếng Nga, động từ mang nghĩa “viết” nếu ở hình thái
“пиca” sẽ có nghĩa phi hoàn thành (imperfective), còn nếu ở hình thái “нaпиca” thì mang nghĩa hoàn thành (perfective) Khi động từ này được sử dụng ở thì quá khứ, ý nghĩa và hình thức thể của nó sẽ được thể hiện phân biệt trong hai câu sau:
Я нaпиcaл пиcьмо (= I wrote the letter.) (Tôi đã viết thư.)
Я пиcaл пиcьмо (= I was writing the letter.) (Tôi đang viết thư.)
Trang 17Chúng tôi tạm thời phân biệt như vậy để việc nghiên cứu hình thức của thể trong tiếng Anh rõ ràng và thuận lợi hơn
Điểm chung về hình thức của hai loại thể đang được xét trong tiếng Anh là
ở chỗ chúng đều được trình bày dưới dạng cụm động từ (verb phrase) Xét theo
ngữ pháp ch ức năng, Halliday cho rằng : “Cụm động từ là hình thức mở rộng của
một động từ và nó bao gồm một chuỗi từ thuộc lớp động từ chính” [14, tr 333]
Thể hoàn thành được thể hiện dưới dạng ngữ động từ thông qua phương tiện
chính là động từ have Khi have được sử dụng để chỉ thể thì động từ ngay sau nó
phải tồn tại dưới dạng một phân từ quá khứ , chính là cái hình thức được gọi là có
đuôi -en của động từ Và hình thức của thể hoàn thành có thể được trình bày dưới
dạng công thức như sau :
have
<-en>
Cấu trúc cụm động từ của thể tiếp diễn được diễn tả thông qua động từ be
Lúc này động từ theo ngay sau be phải có dạng phân từ hiện tại , hình thức đuôi
-ing của động từ Dưới đây là công thức trình bày thể tiếp diễn :
be
<-ing>
Ngoài ra, cần nói thêm rằng , có những trường hợp ta thấy sự xuất hiện đồng thời của cả hai loại thể trên Khi hai thể trên kết hợp với nhau thì trong cô ng thức thể hiện chúng, thể hoàn thành luôn luôn đứng trước thể tiếp diễn Công thức đó như sau:
have be
<-en> <-ing>
Để rõ hơn về điểm này , chúng tôi xin đưa ra hai ví dụ cụ thể dưới đây:
(8) He has been working very hard (Ông ấy đã (đang) làm việc rất vất vả ) (9) I have been talking to Carol about the problem ( Tôi đã (đang) nói
chuyện với Carol về vấn đề đó )
Khi nghiên cứu về thể , không thể chỉ dừng lại ở mặt hình thức mà nhất thiết phải quan tâm tới ý nghĩa của nó Vậy thể hoàn thành và thể tiếp diễn trong tiếng
Trang 18Anh diễn tả những thông số hay khía cạnh nào của các tình huống do chúng mô tả?
1 2 2 Ý nghĩa của thể trong tiếng Anh
Mới đầu thuật ngữ thể “aspect” được sử dụng để miêu tả một loại hình đối
lập cụ thể trong ngữ pháp tiếng Nga Một sự kiện có thể được hiểu như một hoạt động đã chấm dứt hay như một hoạt động còn đang tiếp diễn
Sau này, một sự đối lập tương tự xuất hiện trong tiếng Anh Hãy so sánh hai câu sau:
(10) Jane Austen was writing her greatest novel
(11) Jane Austen had written her greatest novel
Trong cả hai câu đều có sự xuất hiện của thì quá khứ Cả hai câu đều đề cập đến mộ t thời điểm trong quá khứ Tuy nhiên giữa chúng có một sự đối lập nhất định Ở câu đầu tiên , quá trình “viết tiểu thuyết” đang diễn ra tại thời điểm quy
chiếu Chính động từ thể tiếp diễn be và ảnh hưởng của nó tới độ ng từ theo sau đã
chỉ ra tính tiếp diễn của tình huống tại thời điểm đó Còn ở câu sau, sự kiện viết đã
hoàn thành Điều này được cho thấy bởi động từ thể hoàn thành have và tác động
của nó tới động từ đứng sau
Nếu sử dụng thì hiện tại thay thế cho thì quá khứ đối với sự kiện tương tự như trên thì sự đối lập về nghĩa giữa hai thể vẫn không hề thay đổi Chẳng hạn như:
(12) Maureen Duffy is now writing a novel about two friends
(13) Maureen Duffy has now written a novel about two friends
Cả hai câu trên đều quy chiếu tới thời điểm bây giờ là thời điểm hiện tại Nhưng chỉ có câu (12) mới diễn tả việc viết tiểu thuyết đang tiếp diễn Ngược lại, trong câu (13), sự kiện đó đã hoàn thành
Qua các ví dụ trên có thể thấy ý nghĩa của thể không bị tác động bởi việc
quy chiếu thời gian liên quan đến tình huống Cho dù tình huống ấy có sử dụng
hình thức thì nào đi chăng nữa thì thể hoàn thành và thể tiếp diễn vẫn giữ nguyên ý
nghĩa diễn đạt của chúng
Trang 19Đó cũng chính là ý nghĩa cốt lõi của thể trong tiếng Anh Thể tiếp diễn cho biết sự kiện được miêu tả như đang trong quá trình diễn tiến chứ không phải bị giới hạn bởi điểm khởi đầu và điểm kết thúc của nó Trong khi đó , thể hoàn thành miêu tả một sự kiện như một hoạt động hoàn chỉnh Randolph Quirk cũng đã nhận
xét: “Thể liên quan đến cách thức mà ở đó hành động củ a vị từ được xem xét , chẳng hạn như là đã kết thúc hay còn tiếp diễn” [38, tr 40]
Bên cạnh ý nghĩa cơ bản nêu trên , thể trong tiếng Anh còn nắm giữ những chức năng ngữ nghĩa và chức năng quy chiếu nhất định Hãy cùng tì m hiểu xem liệu thể tiếp diễn trong ví dụ dưới đây có phải diễn tả một hoạt động đang diễn ra hay không:
(14) Alex is getting married next month (Alex sẽ cưới vợ vào tháng tới) (15) John is hitting his carpet (John đang đập tấm thảm của mình )
Khi nhìn vào câu chuyển dịch tương đương ở tiếng Việt của câu (14) ta
nhận thấy ngay sự khác biệt so với các ví dụ trước đó Ở đây, từ sẽ được sử dụng thay thế cho từ đang Trong tiếng Việt sẽ thường hàm ý tương lai chứ không phải
hiện tại Trong trường hợp này , thể tiếp diễn của tiếng Anh cũng mang nghĩa tương tự như ở tiếng Việt Nó được sử dụng để chỉ ra một sự kiện đã được lên kế hoạch và sẽ diễn ra tại một thời điể m nào đó trong tương lai (sau thời điểm phát ngôn) Cụ thể , sự kiện được miêu tả trong ví dụ này chính là việc cưới vợ của Alex Sự kiện đó không phải đang diễn ra mà sẽ diễn ra vào tháng tới Còn câu
(15) thì sao? Nó cũng có một điểm khác thường đáng chú ý Chính vì động từ hit
được sử dụng trong câu là một động từ điểm tính (diễn ra và chấm dứt ngay tại một thời điểm chứ không mang tính thời lượng ), cho nên thể tiếp diễn ở đây không chỉ diễn tả hành động đang diễn ra mà hành động đó còn lặp đi lặp lại nhiều lần
Để tìm hiểu tiếp về thể hoàn thành , hãy cùng đối chiếu hai câu sau :
(16) When Tom arrived, we had dinner (Khi Tom đến chúng tôi dùng bữa
ăn tối)
(17) When I arrived at the party, Tom had gone home (Khi tôi đến dự tiệc ,
Tom đã về nhà )
Trang 20Ở câu đầu tiên , thì quá khứ được sử dụng ở cả hai mệnh đề chính và phụ
Câu đó còn có thể được hiểu là Tom đến và rồi chúng tôi dùng cơm tối Điều đó có
nghĩa rằng hành động ăn tối diễn ra sau hành động đến của Tom Nhưng ở câu (17) tình hình có vẻ khác Hai mệnh đề của câu đều sử dụng thì quá khứ Song ta lại thấy có sự xuất hiện của thể hoàn thành ở mệnh đề chính Chính thể hoàn thành
ở đây đã chuyển dịch hành động “về nhà” của Tom lùi lại một thời điểm trước thời
điểm tôi đến bữa tiệc Vậy là thể hoàn thành đã có vai trò diễn tả một hành động diễn ra trước thời điểm quy chiếu , đó là thời điểm tôi đến dự tiệc
Nói một cách tóm lược , ý nghĩa mà thể trong tiếng Anh diễn đạt khá phong phú nhưng tương đối phức tạp Ngoài hai nghĩa cơ bản nêu trên, thể trong tiếng Anh còn có những chức năng ngữ nghĩa nhất định, nghĩa tình thái hay thậm chí là nghĩa ngữ cảnh Tuy vậy , khi càng nghiên cứu sâu hơn về khía cạnh này , chúng
ta sẽ thấy nó thực hấp dẫn và rất bổ ích cho công việc giảng dạy cũng n hư học tập tiếng Anh Vấn đề này sẽ còn được đề cập đến một cách kỹ lưỡng hơn ở những chương sau
Chúng ta thấy rõ rằng ý nghĩa của thể không thể tách rời hình thức thể Đó
có thể được coi là mối quan hệ nội tại , cần được quan tâm trước hết khi nghiên cứu về thể Song hình thức thể lại được thể hiện rất đa dạng Nó đa dạng trước hết vì bản thân hình thức thể ở dưới dạng cấu trúc động từ Mặt khác, động từ không chỉ
chỉ ra số và ngôi của chủ ngữ mà chúng còn chỉ ra thì, thức, dạng, tình thái Do đó
mà không thể gạt bỏ mối quan hệ giữa thể với các phạm trù như phạm trù thời,
thức, tình thái, dạng v.v Khi quan hệ với các phạm trù này, thể trong tiếng Anh
chắc chắn hình thành những nét nghĩa mới Trong phần tiếp theo của đề tài , chúng tôi xin điểm qua tình hình này
1.3 Mối quan hệ giƣ̃a thể với các phạm trù khác
1.3.1 Mối quan hệ giƣ̃a thể với thì (tense)
Trước hết cần hiểu thì là gì Jacobs đã nhận xét : “Thì là sự đánh dấu về ngữ
pháp đối với động từ Nó thường chỉ ra sự quy chiếu thời gian hoặc liên quan đến thời điểm phát ngôn hoặc liên quan đến thời điểm mà tại đó một sự kiện khác được coi là có hiệu lực” [35, tr.187] Nguyễn Thiện Giáp cũng có nhận xét tương tự :
Trang 21“Thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời
điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói ” [5, tr
234]
Để cấu tạo cấu trúc vị từ trong mệnh đề hay câu, chúng ta luôn cần một vị từ
cơ bản và một thì cơ bản (hiện tại hoặc quá khứ ) Giả sử ta có một thì hiện tại
(present) và một vị từ cơ bản love Chúng ta có thể tạo ra cấu trúc vị từ đơn I love Nếu ta thay đổi thì hiện tại sang quá khứ (past), chúng ta có cấu trúc vị từ I loved
Có thể khẳng định hai yếu tố thì (tense) và động từ (verb) là hai yếu tố bắt buộc đối với cấu trúc vị từ tiếng Anh
Ngoài ra, chúng ta có thể thêm những yếu tố không bắt buộc khác để tạo cấu trúc vị từ phức Chẳng hạn , ta có thể thêm những yếu tố chỉ thể (thể hoàn thành
hoặc thể tiếp diễn ) Nếu ta thêm yếu tố thể hoàn thành , ta có cấu trúc I have loved
Chúng ta cũng có thể chọn thể tiếp diễn để các hình thái khác nhau của vị từ “be”
được kết hợp với vị từ chính tận cùng là -ing Như vậy ta có: I am loving hoặc she
is loving Có thể hình dung các thành tố trong cấu trúc vị từ tiếng Anh ở bảng dưới
đây:
Tense (Modal) (Perfect) (Progressive) Verb
PAST or PRESENT (WILL) (HAVE + -EN) (BE + -ING) VERB
Bảng 2: Basic structure of English verb forms (Cấu trúc hình thái cơ bản của vị từ tiếng Anh )
(Trích dẫn theo George Yule , Explaining English Grammar, trang 55)
Ở bảng trên , những yế u tố được để trong ngoặc đơn là những yếu tố không bắt buộc và những yếu tố còn lại là bắt buộc Đồng thời , theo như George Yule nhận xét , vị trí của các thành tố trong bảng trên là cố định Mỗi thành tố trong đó
sẽ tác động đến hình thái của thành tố đứng bên phải nó Như vậy, đương nhiên là thể sẽ chịu sự chi phối của thì Hay nói cách khác , thì là yếu tố quyết định hình thái cụ thể của thể
Trang 22Chẳng hạn, nếu ta có cấu trúc: PRESENT TENSE, HAVE + -EN, cook, ta
có thể xây dựng một câu có cấu trúc vị từ tương đương She has cooked Cấu trúc
này có thể được lý giải như sau : thì hiện tại PRESENT TENSE tác động yếu tố
HAVE để tạo ra has Và sự ảnh hưởng của yếu tố -EN đối với động từ cook dẫn
đến hình thái mới của động từ là cooked Nếu cấu trúc trên được thay đổi một chút
thành PAST TENSE , HAVE + -EN, cook, ta sẽ có câu she had cooked
Cũng vậy , nếu ta có cấu trúc các thành tố PAST TENSE , BE + -ING,
learn, ta có thể có câu I was learning Cứ như vậy , nếu ta lựa chọn những thành tố
khác nhau trong bảng trên , ta sẽ nhận được những hình thái khác nhau của vị từ cơ bản
Nhìn lại bảng 2, ta cần lưu ý thêm một điểm khá quan trọng Khi hình thái của hai thể tiếng Anh được kết hợp thì thể hoàn thành luôn luôn đứng trước thể tiếp diễn Điều này cũng đã được trình bày ở phần nói về hình thức thể trong tiếng Anh
Để hình dung các hình thái vị từ thông qua mối quan hệ thì - thể một cách
cụ thể hơn , ta cũng có thể tham khảo một ví dụ mà Quirk đã đưa ra Những hình
thái của vị từ cơ bản write có thể được sử dụng để điền vào chỗ trống trong khung
câu “I with a special pen” mà ông đưa ra như sau :
SIMPLE COMPLEX (cấu trúc đơn) (cấu trúc phức)
progressive present write am writing present
was writing past perfective
have written (present) perfect past wrote had written (past) perfect
perfect progressive
have been writing (present) perfect
had been writing (past) perfect
Trang 23Những ví dụ được phân tích ở trên cho thấy mối quan hệ giữa thì và thể là rất khăng khít Trong đó phạm trù thì chính là yếu tố quyết định hình thái cụ thể đối với thể Mỗi cấu trúc hình thái thể sẽ biểu đạt những ý nghĩa riêng Và những ý nghĩa đó cũng không thể tách rời khỏi yếu tố thì
1.3.2 Mối quan hệ giƣ̃a thể với tình thái (modality)
Gerald P Delahunty đã định nghĩa về ph ạm trù tình thái như sau : “Tình thái
của câu cho biết sự đánh giá hay niềm tin của người phát ngôn đố i với tính chân
lý của câu ”[32, tr.155] Tình thái của câu được thể hiện thông qua cách sử dụng
các vị từ tình thái cơ bản như will, would, shall, should, may, might, can, could,
must
Nhìn lại mô hình các thành tố cấu tạo cấu trúc vị từ ở mục 3.1, ta thấy có một vị trí dành cho vị từ tình thái (MODAL) đứng trước vị trí của thể Vậy, chắc chắn giữa chúng sẽ có mối quan hệ nhất định
Cùng xem xét ý nghĩa của các vị từ tình thái trong những câu sau:
(18) He can speak English but he can’t write it very well (Anh ấy nói tiếng
Anh rất tốt nhưng viết tiếng Anh thì không tốt lắm )
(19) Could I smoke in here? (Tôi có thể hút thuốc ở đây không ?)
(20) You may borrow my car if you like (Anh có thể mượn xe ô tô củ a tôi
nếu anh cần)
(21) The game will/must/should be finished by now (Trò chơi sẽ /phải/nên
chấm dứt ngay bây giờ )
Tất cả các câu trên đều sử dụng vị từ tình thái Nhưng mỗi câu mang một
nét nghĩa khác nhau Trong câu (18), can và can’t được dùng để miêu tả khả năng (ability) Trong câu (19), (20), could và may dùng để diễn đạt sự cho phép
(permission) Các vị từ tình thái trong câu (21) lại nói lên dự đoán (prediction) của người nói
Quả thật, khi các vị từ tình thái được sử dụng trong câu văn cụ thể thì nghĩa
mà chúng diễn tả rất đa dạng Tuy nhiên, không phải với nét nghĩa nào chúng cũng
có thể kết hợp với thể hoàn thành và thể tiếp diễn Quirk đã nhận xét : “Thể hoàn
thành và thể tiếp diễn thường được loại bỏ khi vị từ tình thái diễn tả khả năng hay
Trang 24sự cho phép, và khi shall hoặc will diễn tả ý muốn” [38, tr 58] Mặt khác, ông cho
rằng hai loại thể này được sử dụng khá tự do để biểu đạt những ý nghĩa tình thái khác như tính có thể (possibility), tính tất yếu (necessity) hay sự dự đoán (prediction) Hãy đối chiếu các trường hợp sau:
- Tính “có thể ” được thể hiện thông qua sự kết hợp giữa thể và vị từ tình
thái như may, might, can, could
(22) He may have missed the train (Có lẽ anh ta đã lỡ chuyến tàu.)
(23) He can’t be coming (Chắc chắn là anh ta không đến được rồi )
(24) She can’t have seen me (Ắt hẳn là cô ấy đã không thấ y tôi)
- Tính “tất yếu ” giường như chỉ được thể hiện bằng vị từ tình thái must có
kết hợp với thể
(25) You must be studying very hard at the moment (Ắt hẳn là hiện giờ anh
đang ôn bài ráo riết)
(26) You must have heard me (Ắt hẳn là anh đã nghe thấy tôi )
(27) I must have been sleeping (Ắt hẳn là tôi đã đang ngủ )
- Sự kết hợp giữa vị từ tình thái will với thể để cho biết một dự đoán của
người phát ngôn về tình huống hiện tại hoặc tương lai
(28) The guests will have arrived by now
(29) John will still be reading his paper
Rõ ràng là các vị từ tình thái nêu trên có thể được sử dụng kết hợp với thể hoàn thành, thể tiếp diễn hoặc đồng thời cả hai thể Và mỗi sự kết hợp đó đem đến một nghĩa tình thái nhất định
Quan hệ giữa vị từ tình thái và thể còn được bộc lộ ở một điểm khác nữa Vì các vị từ tình thái không có tính đánh dấu về thì , do đó để thể hiện thời quá khứ chúng thường kết hợp với thể hoàn thành Có thể đối chiếu hai ví dụ sau :
(30) There may be some errors now in that computer program (Hiện giờ có
lẽ có một vài lỗi trong chương trình máy tính đó )
(31) There may have been some errors then in that computer program (Lúc
ấy có lẽ có một vài lỗi trong chương trình máy tính đó )
Trang 25Ở câu đầu, sự kết hợp giữa may và động từ nguyên mẫu be quy chiếu đến thời điểm phát ngôn ở hiện tại Khi be được thay thế bởi thể hoàn thành như ở câu
thứ hai thì thời điểm quy chiếu lùi lại trước đó và được thể hiện thông qua từ
“then”
Như vậy , phạm trù tình thái và phạm trù thể có mối quan hệ qua lại tương đối bền vững Thể kết hợp với vị từ tình thái để thể hiện những ý nghĩa tình thái khác nhau Ngược lại, vị từ tình thái cũng cần có sự theo sau của thể hoàn thành để
có thể quy chiếu về sự kiện quá khứ
1.3.3 Thể trong mối quan hệ với thƣ́c (mood)
“Thức là cách sử dụng hình thức để chỉ ra những khác biệt về ngữ nghĩa ,
ngữ pháp trong cách thức hành động của vị từ ” (Trích theo trang web : http:// www Shared - vision.com / explore / English / mood.html)
Theo Horner, “thức chỉ ra thái độ của người nói hoặc người viết đối với những gì mà họ đang đề cập tới ” [34, tr 80]
Theo Nguyễn Thiện Giáp , “thức là phạm trù của động từ , biểu thị quan hệ giữa hành động với thực tế khách quan và với người nói” [5, tr 237]
Theo các nhà ngữ pháp truyền thống , có bốn loại thức phổ biến Đó là thức
tường thuật, thức nghi vấn, thức mệnh lệnh và thức giả định Thức tường thuật cho
biết ý kiến của người nói khẳng định hay phủ đ ịnh sự tồn tại của hoạt động , sự kiện trong thực tế khách quan Thức này của động từ không có dạng thức riêng để biểu thị Nó trùng với dạng thức biểu thị ngôi và thời của động từ Thức nghi vấn diễn tả những thắc m ắc của người phát ngôn về một hành động , hiện tượng trong thực tế Thực chất loại thức này là dạng chuyển đổi từ dạng thức tường thuật Thức mệnh lệnh biểu thị nguyện vọng , yêu cầu của người nói đối với việc thực hi ện hành động Ví dụ tiếng Anh :
(32) Eat your dinner, boys! (Ăn cơm đi các cậu!)
(33) Don’t hurry! (đừng có vội!)
(34) Be quiet, Tom! (Im lặng nào Tom!)
Trang 26Thức giả định cho biết hoạt động tuy không diễn ra , nhưng đáng lí đã có thể diễn ra t rong những điều kiện nhất định Nói chính xác, đó là sự hối tiếc cho một tình huống nào đó ở hiện tại hoặc quá khứ
Trong bốn dạng thức trên , thức tường thuật , thức nghi vấn và thức giả định
có quan hệ chặt chẽ với phạm trù thì và thể trong tiếng Anh Ngoại trừ duy nhất có
thức mệnh lệnh không thể kết hợp với thể Vì thức này có một điểm đặc biệt là khuyết chủ ngữ , động từ được sử dụng luôn đứng đầu câu và phải ở dạng nguyên
thể không có to
Có thể xét một số trường hợp cụ thể biểu đạt mối quan hệ giữa thức và thể Chẳng hạn, nếu muốn khẳng định hay phủ định quá trình diễn tiến của một sự kiện trong quá khứ, ta lần lượt có các ví dụ:
(35) Tom was cooking the dinner (Tom đang nấu bữa ăn tối )
(36) I wasn’t driving very fast when the accident happened (Không phải tôi
đang lái xe nhanh khi tai nạn xảy ra )
Hay khi muốn biết thông tin về một kết quả của một sự kiện ở hiện tại , ta có câu:
(37) Has it stopped raining yet? (Trời dứt mưa chưa ?)
(38) Is your Enghlish getting better? (Vốn tiếng Anh của bạn có khá lên
chưa?)
Các ví dụ sau thể hiện mối quan hệ giữa thức giả định và thể :
(39) If I had seen you, I would have said hello (Nếu như tôi đã thấy bạn , tôi
đã lên tiếng chào bạn )
(40) I feel sick I wish I hadn’t eaten so much (Tôi cảm thấy khó chịu Tôi
ước gì đã không ăn nhiều như thế )
Có thể nhận thấy rằng khi thức giả định kết hợp với thể, chúng thường gắn liền với thì quá khứ Và hành động mà chúng quy chiếu thường là ở quá khứ cụ thể, ở hai câu trên , người phát ngôn đã giả định và mong ước về một sự việc trái với thực tế
Nói chung , thức cũng là một phạm trù không thể thiếu đối với thể Một cấu
trúc vị từ thể chỉ có thể đem đến một thông tin trọn vẹn cho người tiếp nhận thông
Trang 27qua một hình thái thức cụ thể Đồng thời, nếu thức thay đổi thì chắc chắn ý ngh ĩa của thể trong trường hợp đó sẽ thay đổi theo Chính vì vậy , khi nghiên cứu ý nghĩa
của thể, người nghiên cứu không thể bỏ qua mối quan hệ quan trọng này
1.3.4 Mối quan hệ giữa thể và dạng (voice)
Từ điển ngôn ngữ học và ngữ âm học của David Crystal định nghĩa về dạng
như sau: “Dạng là một phạm trù được dùng trong việc mô tả cấu trúc câu hoặc
mệnh đề chủ yếu liên quan đến động từ , để thể hiện cách mà các câu có thể lựa chọn mối quan h ệ giữa chủ ngữ và bổ ngữ của động từ , mà không làm thay đổi nghĩa của câu.”[1, tr 2]
Horner cho rằng : “Dạng là phạm trù chỉ ra mối quan hệ giữa hành động
của động từ và chủ thể của động từ” [34, tr 79]
Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng : “Dạng là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị mối quan hệ giữa hoạt động với các sự vật nói ở chủ ngữ và bổ ngữ của động từ ấy”[5, tr 238]
Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều thống nhấ t có hai dạng cụ thể : dạng chủ động (active voice ) và dạng bị động (passive voice) Về hình thức , dạng
bị động chỉ là sự thay đổi vị trí các thành phần trong câu so với dạng chủ động
Chẳng hạn, ta có câu ở dạng chủ độn g Someone picked her up at the airport (Một
ai đó đã đón cô ấy ở sân bay ) Dạng bị động của nó sẽ là She was picked up at the
airport (Cô ấy đã được đón tại sân bay)
Cho đến nay, dạng bị động được kiến giải theo nhiều cách khác nhau, song
nó vẫn đảm nhiệm những chức năng dụng học nhất định , phân biệt với dạng chủ động Trong đó có hai chức năng được coi là điển hình và phổ biến hơn cả Thứ nhất, dạng bị động nhấn mạnh đến tiếp thể hay bị thể của hành động, giảm nhẹ vai trò của tác thể và tạo ra những câu có nhiều từ hơn Ví dụ:
(41) He was killed by the enemy in the war (Anh ấy bị giết trong chiến tranh )
Thứ hai , khi sử dụng câu bị động tức là người nói không muốn đề cập đến bản thân hành động mà chỉ muốn nhấn mạnh đến kết quả do hành động đó mang lại đối với bị thể:
(42) The document have been thrown away (Tài liệu đã bị quẳng hết đi rồi )
Trang 28Khi thể kết hợp với dạng chủ động thì không có vấn đề gì đáng bàn cãi Nhưng khi được sử dụng dưới dạng bị động , hình thức và chức năng của thể cũng
sẽ có sự thay đổi tương tự như sự thay đổi của dạng bị động so với dạng chủ động
Tóm lại , tất cả nhữn g phạm trù vừa được xét trong mối quan hệ với thể tạo thành một mạng quan hệ khăng khít , khó tách rời Chúng ta cũng dễ dàng có thể tìm thấy những câu kết hợp những phạm trù đó Chẳng hạn:
(43) Have you been shown the new machine? (Anh có được chỉ cho xem cái
máy mới chưa ?)
Câu này sử dụng thì hiện tại thông qua dấu hiệu là trợ từ have Thể hoàn
thành xuất hiện dưới cấu trúc have been Dạng bị động tồn tại dưới hình thức been
của động từ “be” và động từ chính “show” sau nó có hình thái phân từ quá khứ
shown Và đây là một câu hỏi nên thức được sử dụng là thức nghi vấn
Hay ví dụ sau đây là sự kết hợp giữa thể tiếp diễn, tình thái, thức trần thuật, dạng chủ động:
(44) Jan’s article didn’t appear in this month’s magazine It might be appearing in next month’s issue (Bài báo của Jan không xuất hiện trên tạp trí
tháng này Có thể nó sẽ được đăng trên tạp trí của tháng tới )
Mục tiêu của đề tài kh ông chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thể trong tiếng Anh mà còn phải tìm hiểu , đánh giá xem hình thức và ý nghĩa của thể trong tiếng Anh được chuyển dịch sang tiếng Việt như thế nào Chính vì vậy , vấn đề tiếp theo được chúng tôi quan tâm tới là vấn đề khái niệm thể trong tiếng Việt
1.4 Vấn đề khái niệm thể trong tiếng Việt
Thể là một trong những khái niệm còn có phần xa lạ trong lý luận Việt ngữ Trước đây, người ta mặc nhiên cho rằng t iếng Việt không có phạm trù thể Mãi tới những năm 50 - 60 của thế kỷ trước , ngành ngữ pháp học tiếng Việt bắt đầu có những nghiên cứu riêng , độc lập và tách dần khỏi sự mô phỏng các ngôn ngữ Âu châu Cũng từ đó vấn đề thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ
Nhưng có thể khẳng định một điểm chung là tiếng Việt không có những hình thái ngữ pháp cụ thể được mã hóa vào bản thân các động từ để biểu thị ý
nghĩa thể như ở các ngôn ngữ biến hình khác Tiếng Việt chỉ được coi là một ngôn
Trang 29ngữ có các phương tiện biểu thị ý nghĩa thể chứ không có phạm trù thể độc lập Trong phạm vi của đề tài , chúng tôi chỉ xin được tóm lược lại những ý nghĩa thể của tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu Việt ngữ đúc kết
1.4.1 Thể trong mối quan hệ với sự phân loại tình huống dựa trên “ý nghĩa thể cố hữu" của vị từ
Theo sự phân loại này, các sự tình có thể đối lập nhau ở các tiêu chí:
với nhau dựa trên sự đối lập hƣ̃u kết/vô kết
Cao Xuân Hạo đã nhận xét : “Sự phân biệt [± hữu kết] là một sự đối lập ngữ pháp có tính phổ quát tuyệt đố i có liên quan đến ý nghĩa thể ” (cf Ngôn ngữ số
5/1998, tr 11) Cũng theo Cao Xuân Hạo , một sự tình hữu kết là một sự việ c được nhìn từ điểm kết thúc của nó , là một biến cố đi tới một kết cục nào đấy , một hàn động đem lại một kết quả nào đấy , thành thử nếu chưa đạt điểm kết thúc ấy thì cái biến cố ấy chưa có thể được gọi tên bằng những từ ngữ đã dùng để biểu hiện nó Một sự tình vô kết là một trạng thái hoặc một hoạt độn g không nhằm tới một kết cục nào , một kết quả nào , thành thử dù có kết thúc ở giai đoạn nào , ở thời điểm nào, thì cũng có thể nói là cái trạng thái hay cái hoạt động ấy đã từng có ha y đã
diễn ra được ít nhiều Chẳng hạn, ta có câu Họ đi đến cơ quan là một sự tình hữu kết và Họ đi trên cầu là một sự tình vô kết
Ở tiếng Việt , những sự tình hữu kết khi làm bổ ngữ cho đã sẽ có ý nghĩa
hoàn thành “perfect” , những sự việc quá k hứ có tầm quan yếu đối với thời điểm hiện tại Còn những sự tình vô kết khi làm bổ ngữ cho đã sẽ thể hiện ý nghĩa
“trạng thái hiện tại của chính sự tình đó” và thường kèm theo tiền giả định “trước
đây không ở trong trạng thái ấy” (cf Ngôn ngữ, số 8/2000, tr 53)
Trang 30Các sự tình hữu kết và vô kết lại được phân chi a thành những nhóm nhỏ hơn phân biệt nhau ở các đặc trưng thể như ở bảng dưới đây :
tĩnh (static) _động (dynamic)
phi thời đoạn
(atemporal)
trải dài (durative)
kết thúc (terminative)
bắt đầu (ingressive)
điểm tính (punctual) định loại
(class membership)
định tính (property)
trạng thái (state)
quá trình (process)
biến cố
(event)
(cf Ngôn ngữ, số 8/2000, tr 53)
Phân biệt các sự tình tĩnh và động cũng không thể không nói đến sự đối lập
điểm tính /đoạn tính Đây là sự đối lập phản ánh đặc trưng kéo dài hay tức t hời của sự tình Sự tình điểm tính là sự tình xảy ra và chấm dứt ngay theo cách nhìn nhận của người nói Nói cách khác , xét trên trục thời gian , điểm bắt đầu và điểm kết thúc của sự tình dường như là một Những sự kiện đoạn tính là những sự kiện diễn ra kéo dài , hay nói đúng hơn là chiếm một khoảng có giá trị đủ lớn trên trục thời gian Trong tiếng Việt , chúng ta có những động từ diễn tả sự tình điểm tính
như nổ, chết, bắn, đá, nhảy Và các sự tình đoạn tính như cháy, hấp hối , ngủ,
chạy, Các sự tình điểm tính và đoạn tính kết hợp với đã, đang sẽ cho ta những
kiến trúc ngữ nghĩa khác nhau So sánh những câu sau :
(45) a Anh ấy đã chết lúc 5 giờ 7 phút
b * Anh đã hấp hối lúc 5 giờ 7 phút
c * Anh ấy đang chết
d Anh ấy đang hấp hối
Bảng phân loại sự tình ở trên cho thấy mỗi loại sự tình thường gắn với
những đặc trưng thể nào đó Chúng ta xét tiếp các đặc trưng thể của sự tình vô kết
và hữu kết trong bảng
b) Đặc trƣng thể phi thời đoạn
Những tình huống định loại (với các vị từ quan hệ như là, có, ) và các tình huống định tính (với các vị từ chỉ tính chất nh ư đẹp, xấu, ) là những tình huống
có đặc trưng phi thời đoạn Chúng không có liên quan gì đến cấu trúc thời gian ,
Trang 31đến vấn đề thời đoạn cả Chúng làm thành loại cùng cực của những tình huống vô kết Dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa hai loại tình huống này Tình huống định loại sử dụng hệ từ, còn tình huống định tính thì không
Cũng cần phân biệt các tình huống định tính với những tình huống rất giống với nó là tình huống trạ ng thái Nhóm tình huống trạng thái có khả năng nhận ý nghĩa thể “suy giảm” (sẽ được bàn tới ở phần sau), còn nhóm tính chất thì không
c) Thể trải dài
Sự tình trạng thái (state) phân biệt với các sự tình còn lại chủ yếu nhờ đặc trưng thể trải dài Những sự tình trạng thái là kiểu sự tình không có tiến trình , tức
là chúng không có điểm khởi đầu và điểm kết thúc Trái lại , những sự tình quá trình (process) là những sự tình có đặ c trưng trải dài, nhưng lại có tiến trình , tức là
có bắt đầu và có kết thúc
Trong tiếng Anh , các tình huống trạng thái không bao giờ xuất hiện trong hình thái “tiếp diễn” Ở tiếng Việt thì khác Một số câu có tình huố ng trạng thái và
cả các tình huống phi thời đoạn có thể sử dụng kết hợp với từ đang để thông báo
hàm nghĩa “trạng thái này là tạm thời , về sau sẽ không thế nữa” Có thể thấy điều này qua các ví dụ sau:
(46) a Nam đang say khướt
b Nam đang là giám đốc
c Nam đang ở Sài Gòn
d) Thể kết thúc
Kết thúc là một đặc trưng thể của các tình huống liên quan đến việc phản ánh sự tình từ chỗ “đang diễn ra” chuyển sang chỗ “không còn diễn ra nữ a” (chỉ áp dụng với các sự tình đoạn tính) Các vị từ tình thái (theo cách gọi của Huỳnh Văn Thông) có thể diễn đạt đặc trưng thể này bao gồm : dứt, hả, hết, nghỉ, ngưng,
ngừng, bỏ, thôi Trong đó , có những vị từ mang hàm ý chủ động, có những vị từ
lại mang hàm ý thụ động ; có những vị từ kết hợp được với loại vị từ ngôn liệu này hoặc vị từ ngôn liệu kia Rất tiếc rằng, ngay bây giờ , chúng tôi không có dịp trình bày kỹ về những vấn đề nà y
1.4.2 Thể trong mối quan hệ đến các đặc trƣng “tƣ̀ bên trong sƣ̣ tình ”
Trang 32a) Thể tiếp diễn
Nghĩa cơ bản của thể này là “đang trong tiến trình” (on - going process) Nó cho biết sự kiện đang diễn ra trong thời điểm nó được nói đến Để diễn tả ý nghĩa
thể này, người Việt thường dùng vị từ tình thái như đang/đương hay còn [24, tr
51] Ví dụ:
(47) Loan về đến nhà thì ông Hai, bà Hai còn ngồi bên mâm cơm chờ con (48) Lờ mờ trong khối pháo , nàng thấy Thâ n đang mặc áo thụng xanh đương cúi rạp trước bàn thờ
Nguyễn Minh Thuyết cũng nhận xét : “Đóng vai trò là tiền phó từ , đang
(đương) hàm ý hành động , trạng thái diễn ra trong một khoảng thời gian hạn chế
trùng với thời điểm mốc, không có tính chất thường xu yên hoặc lặp đi lặp lại” [25, tr 8]
Mặc dù cách gọi tên các từ đang/đương hay còn của hai tác giả có khác
nhau, song họ đều có cùng quan điểm Nguyễn Minh Thuyết còn làm rõ nghĩa thể
của đang/đương bằng cách phân biệt chúng với hình thái “zero + P”, hình thái dùng để thông báo những hành động , trạng thái diễn ra cùng lúc với thời điểm mốc nhưng có tính chất thường xuyên hoặc lặp đi lặp lại Ông đưa ra hai ví dụ so sánh:
(49) [Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi]
-Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây
(50) [Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi]
-Ngõ này đây, ông Hoàng đang ở đây
Câu (49) với hình thái “zero + ở” cho biết đó là nơi cư ngụ của nhân vật được gọi tên, còn câu (50) với hình thái “đang + ở” hàm ý nhân vật chỉ tạm thời có mặt ở đó trong thời điểm phát ngôn mà thôi
b) Đặc trưng thể “suốt cả tiến trình”
Nghĩa của thể này cho ta thấy sự tình được nói đến là luôn luôn diễn ra
trong suốt một đoạn thời gian nào đấy Những câu có đánh dấu nghĩa thể này hầu như luôn bao hàm trong nó một sự quy chiếu đến một đoạ n thời gian nào đó Chẳng hạn như các câu sau :
(51) a Thằng ấy cả buổi toàn nói chuyện vợ con nó
Trang 33b Suốt những năm tháng trung học nó luôn quan tâm đến tôi
c Mười mấy năm qua cậu ấy không ngừng phấn đấu
c) Thể “tiếp tục tiến trình”
Nghĩa thể này liên quan đến việc diễn đạt sự bắt đầu trở lại của sự tình sau khi bị gián đoạn Những câu có đánh dấu nghĩa thể này luôn có tiền giả định liên quan đến sự gián đoạn của sự tình trước đó Ví dụ:
(52) Dũng tiếp tục làm việc (Trước đó Dũng có tạm ngừng làm việc )
d) Thể “trọn vẹn” (hoàn thành)
Ý nghĩa thể hoàn thành ở tiếng Việt cũng được hiểu tương tự như đối với thể hoàn thành trong tiếng Anh Theo quan điểm của Cao Xuân Hạo và Phan Thị
Minh Thúy , họ cho rằng thể dĩ thành chính là một biến thái của thể hoàn thành
Thể dĩ thành biểu thị “ý nghĩa khái quát về một sự thể hay một biến cố đã diễn ra trong quá khứ nhưn g kết quả của nó vẫn còn mang tính quan yếu đối với hiện tại”
[18, tr.79] Để thể hiện ý nghĩa thể này , người ta thường sử dụng từ đã trong tiếng
Việt Ví dụ:
(53) Nó đã ngủ say
Tôi đã ngồi đây chờ anh từ sáng tới giờ
Huỳnh Văn Thông thì nhận xét : “Tiếng Việt hầu như không sử dụng vị từ tình thái để chỉ định ý nghĩa thể này Nó thường được chỉ định bằng các phó từ đặt
sau vị từ”[24, tr 52] như hết, xong, rồi,… Ví dụ:
(54) Nam đã đọc hết cuốn tiểu thuyết ấy
Câu trên có thể được chuyển đổi về hình thức nhưng ý nghĩa không đổi như sau:
Nam đã đọc xong cuốn tiểu thuyết ấy
Nam đã đọc cuốn tiểu thuyết ấy rồi
Nói chung , về ý nghĩa thể đối với đã còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố ảnh hưởng như : nhân tố vị từ , nhân tố chủ thể , nhân tố bổ ngữ và nhân tố ngữ cảnh
Tuy nhiên, chúng tôi chưa tiện đề cập tới ngay ở đây
e) Thể kết quả
Trang 34Thể này phản ánh “thành tựu” của mộ t hoạt động nào đấy Huỳnh Văn Thông cũng cho rằng tiếng Việt không dùng vị từ tình thái để chỉ định thể “kết
quả”, mà dùng các phó từ đặt sau vị từ như :
(55) Nam ăn được hai cái bánh
Nga đạt toàn điểm mười môn tiếng Anh
Anh ấy uống những mười chai bia một lúc
Thằng bé ăn hết một đĩa xôi to
f) Thể lặp
Thể này liên quan đến việc thể hiện sự lặp đi lặp lại của sự tình Chính vì thế, không phải ngẫu nhiên mà thể này thường đem lại hà m ý “ngoài ý muốn”
Trong tiếng Anh , người ta có thể sử dụng vị từ điểm tính ở hình thức thể
tiếp diễn để biểu đạt ý nghĩa “lặp” này như câu He is kicking at the wall (Anh ta
đang đá bức tường) Hoặc sử dụng kết hợp với again như He comes again (Anh ta
lại đến)
Tiếng Việt thì thường dùng kết hợp một số phó từ đứng trước vị từ chính trong câu để diễn tả đặc trưng thể này Ví dụ:
(56) Nam tiếp tục làm việc
(57) Vì một câu nói, một cái cớ không đâu, hai vợ chồng lại giận nhau (58) Bao nhiêu năm đã trôi qua mà cô ấy vẫn đợi tôi
Ngoài năm loại thể nêu trên, tiếng Việt còn có một số thể khác nữa như: thể
tiến triển, thể giới hạn, thể tập quán và thể suy giảm Mặc dầu vậy, trong phạm vi
của đề tài luận văn chúng tôi xin không miêu tả kỹ những loại thể này
Tóm lại, ý nghĩa “thể” trong tiếng Việt được thể hiện bằng nhiều con đường khác nhau Một trong những con đường đó là sử dụng các vị từ tình thái như đã nêu ở trên Trong đó phải kể đến ba vị từ (một số tác giả gọi là phó từ ) gây tranh
cãi nhiều nhất là đã, đang và sẽ, với cách hiểu ban đầu là đã chỉ quá khứ, đang chỉ hiện tại và sẽ chỉ tương lai Tuy nhiên nội du ng này chúng tôi xin trình bày rõ ở
chương II và III khi đối chiếu với tiếng Anh
1.5 Lý thuyết dịch thuật và vấn đề dịch thể của tiếng Anh sang tiếng Việt
1.5.1 Những vấn đề cơ bản về lý thuyết dịch thuật
Trang 35Trong bài viết có nhan đề “On linguistic aspects of translation” (Bàn về những khía cạnh ngôn ngữ của dịch thuật) [11, tr.20], nhà cấu trúc luận người Mỹ gốc Nga Roman Jakobson đã mô tả ba thể loại dịch như sau:
Dịch nội ngữ: là giải nghĩa các ký hiệu ngôn ngữ bằng các ký hiệu khác cũng của chính ngôn ngữ ấy
Dịch liên ngữ: là giải nghĩa các ký hiệu ngôn ngữ bằng một ngôn ngữ khác nào đó
Dịch liên ký hiệu: là diễn giải các ký hiệu ngôn ngữ bằng ký hiệu của các hệ thống ký hiệu phi ngôn ngữ
Trong đó, chỉ có dịch liên ngữ được coi là trọng tâm truyền thống của các nghiên cứu dịch thuật, mặc dù không phải là trọng tâm duy nhất Trong quá trình dịch một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác (dịch liên ngữ), người dịch chuyển đổi một văn bản gọi là văn bản nguồn (VBN) viết bằng một ngôn ngữ gọi
là ngôn ngữ nguồn (NNN) thành một văn bản gọi là văn bản đích (VBĐ) viết bằng một ngôn ngữ khác gọi là ngôn ngữ đích (NNĐ)
Về lĩnh vực dịch liên ngữ, Peter Newmark đã định nghĩa như sau: “Dịch là
một nghề nghiệp bao hàm hoạt động thay thế một thong điệp bằng chữ và/hoặc một bản tường thuật của ngôn ngữ này bằng một thông điệp và/hoặc bản tường thuật giống như thế của một ngôn ngữ khác.” [11, tr.9]
Cùng với hoạt động dịch thuật, tương đương dịch thuật (TĐDT) với tư cách
là mối quan hệ tương đương giữa VBĐ và VBN (cũng như giữa các đơn vị dịch thuật của chúng) đã được các dịch giả cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu với những ý kiến khác nhau Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng quan tâm tới vấn đề này Trong đó phải kể tới PGS TS Nguyễn Hồng Cổn với bài viết
đáng giá “Về vấn đề tương đương trong dịch thuật” trên tạp chí Ngôn ngữ số
11/2001
Nói đến bản chất của TĐDT, các tác giả theo quan điểm ngôn ngữ học cấu trúc nhấn mạnh trước hết đến sự thống nhất giữa tương đương về nghĩa và tương đương về hình thức, trong đó tương đương về nghĩa đóng vai trò quyết định Theo Catford, dịch thuật thực chất là sự thay thế hình thức và chất liệu của VBĐ, mà cơ
Trang 36sở của sự thay thế đó là sự tương đương về nghĩa hay chất liệu tình huống Còn với A Fedorov, dịch thuật phải chuyển tải được nội dung ý nghĩa của nguyên bản
và sự tương đương về hình thức (nghệ thuật tu từ) Theo Newman, tương đương dịch thuật là sự trùng hợp hay tương ứng của bản dịch và nguyên bản (cũng như các đơn vị của nó) trên các đặc trưng ngữ âm/kí tự, cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Tương tự, Koller cho rằng TĐDT có thể được biểu hiện qua năm khía cạnh khác nhau là nghĩa biểu vật, nghĩa biểu thái, thể loại văn bản và chuẩn mực ngôn ngữ, ngữ dụng và hình thức
Trong bài viết của mình, tác giả Nguyễn Hồng Cổn cũng đưa ra một định
nghĩa như sau: “Tương đương dịch thuật là sự trùng hợp hay tương ứng trên một
hoặc nhiều bình diện (ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng) giữa các đơn vị dịch thuật của VBN và VBĐ với tư cách vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của dịch thuật như một quá trình giao tiếp” Qua định nghĩa này, tác giả muốn nhấn
mạnh ba vấn đề Thứ nhất, TĐDT là một thuộc tính khách quan, một mối quan hệ
có thực tồn tại giữa VBN và VBĐ và các đơn vị của chúng Thứ hai, TĐDT là một đại lượng động, biến thiên theo số lượng và tính chất của các bình diện tương đương được dịch Thứ ba, TĐDT chịu sự ảnh hưởng và chi phối của nhiều nhân tố trong việc ưu tiên lựa chọn một bình diện, một khá cạnh tương đương này hay khác
Tác giả cũng đã phân biệt bốn bình diện tương đương trong dịch thuật là:
tương đương ngữ âm, tương đương ngữ pháp, tương đương ngữ nghĩa và tương
đương ngữ dụng Tương đương ngữ âm là khả năng tương ứng giữa các đơn vị
của VBN và VBĐ về cấu trúc âm vị, đặc trưng ngôn điệu và độ dài tuyến tính
Tương đương ngữ pháp là khả năng tương đương giữa các đơn vị dịch thuật về
các phương diện phạm trù từ loại của các từ, trật tự từ, cấu trúc cú pháp và kiểu
câu Ví dụ, I like cats = tôi thích mèo; he goes to work by car = anh ấy đi làm
bằng ô tô Tương đương ngữ nghĩa là khả năng tương đương giữa các đơn vị
dịch của VBN và VBĐ về a) nghĩa sở biểu và nghĩa sở chỉ ở cấp độ từ; b) nghĩa
mô tả hay nghĩa mệnh đề ở cấp độ câu Tương đương ngữ dụng là sự tương ứng
giữa các đơn vị dịch thuật của VBN và VBĐ về các thong tin ngữ dụng (hay còn
Trang 37gọi là thông tin phi miêu tả), liên quan đến các nhân tố của tình huống giao tiếp Ở bình diện này có các khả năng tương đương về mục đích thông báo, về giá trị thông báo hay tiêu điểm thông tin, về nghĩa tình thái, về giá trị biểu cảm và phong cách
Xét theo sự có mặt hay vắng mặt của bốn bình diện tương đương cơ bản nêu trên, tác giả cũng có phân chia các kiểu tương đương sau:
Các tương đương hoàn toàn bao gồm hai kiểu: tương đương hoàn toàn tuyệt đối và tương đương hoàn toàn tương đối Tương đương hoàn toàn tuyệt đối là các TĐDT tương đương với nhau trên cả bốn bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
và ngữ dụng Tương đương hoàn toàn tương đối là các TĐDT giống nhau trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Các tương đương bộ phận là các TĐDT chỉ tương ứng với nhau trên một hoặc hai bình diện Chúng bao gồm bốn kiểu tương đương Tương đương ngữ nghĩa - ngữ pháp là kiểu TĐDT mà do sự khác biệt tinh tế giữa hai ngôn ngữ người dịch không thể chuyển tải được hết các thông tin dụng học khác nhau của đơn vị dịch Tương đương ngữ pháp - ngữ dụng là kiểu tương đương trong đó các đơn vị dịch của VBN và VBĐ chỉ tương đương nhau về ngữ pháp và ngữ dụng nhưng không tương đương về ngữ nghĩa Tương đương ngữ nghĩa - ngữ dụng là kiểu tương đương phổ biến nhất Ở kiểu tương đương này đơn vị gốc và đơn vị đối dịch có nghĩa biểu hiện và nghĩa ngữ dụng tương ứng với nhau nhưng giữa chúng
có những khác biệt nhất định về mặt ngữ pháp Tương đương thuần ngữ dụng là kiểu tương đương tự do nhất, trong đó các khía cạnh tương đương khác nhau về thông tin ngữ dụng hầu như độc lập với tương đương ngữ pháp và ngữ nghĩa, và nếu chúng ta cố liên kết chúng khi dịch, câu đối dịch sẽ trở nên vô nghĩa giống như “dịch từng từ”
1.5.2 Vấn đề dịch thể của tiếng Anh sang tiếng Việt
Tiếng Anh và tiếng Việt thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau Tiếng Anh
là một ngôn ngữ biến hình, còn tiếng Việt thì không Điều này tác động lớn đến cách nhìn nhận khái niệm “thể” trong hai ngôn ngữ Chắc chắn chúng không thể giống nhau Thể trong tiếng Anh là một phạm trù ngữ pháp độc lập giống như các
Trang 38phạm trù khác như phạm trù thời, tình thái, thức, dạng, v.v… Thể trong tiếng Anh gắn liền với động từ và được thể hiện qua sự biến đổi về hình thức của cấu trúc động từ Đối với tiếng Việt thì khác, mặc dù trong giới nghiên cứu Việt ngữ học có
những ý kiến công nhận và phủ nhận sự tồn tại của phạm trù thể, song việc coi thể
trong tiếng Việt không phải là một phạm trù ngữ pháp riêng biệt giống như phạm
trù thể trong tiếng Anh hay các ngôn ngữ Âu Châu khác thì dường như được thống
nhất cao Rõ ràng, động từ tiếng Việt không có sự biến đổi hình thái, như ở các ngôn ngữ biến hình khác, để có thể diễn đạt ý nghĩa thể Theo sự nghiên cứu và đúc kết của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, thể trong tiếng Việt được diễn tả
thông qua một số phương tiện từ vựng như đã, đang, sẽ, sắp, hết, nổi, xong,
v.v…kết hợp với động từ chính Do đó, không thể nói tiếng Việt có phạm trù thể
mà chỉ có thể coi nó có những phương tiện mang ý nghĩa thể mà thôi Không những thế, ý nghĩa thể trong tiếng Việt không tách rời ý nghĩa thời của ngôn ngữ này Cùng những hình thức phương tiện từ vựng nhưng chứa đựng cả ý nghĩa thời
và thể Chính vì thế, vấn đề nghiên cứu thể của tiếng Việt cũng là nghiên cứu thời
- thể
Dựa trên cơ sở như vậy, chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề dịch chuyển thể tiếng Anh sang tiếng Việt theo tiêu chí hình thức và ý nghĩa, chủ yếu của các thành phần trong cụm động từ nằm trong câu Nói như vậy tức là vấn đề chúng tôi quan tâm nằm trong phạm vi của hoạt động dịch thuật, nhưng nó không giống như việc nghiên cứu của các nhà dịch thuật thực thụ Ở đây, chúng tôi chủ yếu quan tâm tới vấn đề tương đương trong dịch thuật giữa hai cách thể hiện khái niệm thể trong hai ngôn ngữ Tuy nhiên, vấn đề tương đương dịch thuật được chúng tôi quan tâm cũng không phải xét trên cả bốn bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng như đã nêu ở mục trên Tương đương dịch thuật giữa thể tiếng Anh và tiếng Việt được chúng tôi quan tâm chủ yếu trên hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa Nói một cách chính xác, chúng tôi sẽ đối chiếu cách chuyển dịch thể tiếng Anh sang tiếng Việt nhằm tìm ra những tương đồng và khác biệt về hình thức cũng như
ý nghĩa xoay quanh cấu trúc động từ của hai ngôn ngữ trong một số kiểu câu nhất định Đó là một sự tương đương bộ phận, chứ không phải tương đương hoàn toàn
Trang 39Chúng tôi sẽ nghiên cứu và đánh giá cách vận dụng các phương tiện từ vựng trong tiếng Việt để diễn tả thể của tiếng Anh Trong tiếng Việt, cấu trúc của một động ngữ gồm các thành tố chính và thành tố phụ Thành tố chính ở trung tâm, thành tố phụ được phân bố ở vị trí trước và sau trung tâm như sau:
Trang 40CHƯƠNG 2 THỂ HOÀN THÀNH TRONG CÂU TIẾNG ANH VÀ CÁCH
THỨC CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT
2.1 Hình thức và ý nghĩa của thể hoàn thành trong tiếng Anh
2.1.1 Hình thức của thể hoàn thành trong tiếng Anh
2.1.1.1 Về mặt hình thái
Như ở chương I chúng tôi có đề cập rằng sự biến đổi hình thái của thể trong tiếng Anh không giống như một số ngôn ngữ khác Ở đây, chúng tôi nhìn nhận sự biến thái của thể trong tiếng Anh từ khía cạnh khác
Sở dĩ hình thức thể của tiếng Anh có sự biến đổi về hình thái là do mối quan
hệ chặt chẽ của thể với thì Cùng nhìn lại cấu trúc vị từ trong bảng 2 ở chương một
để thấy rằng yếu tố quyết định hình thái của thể chính là thì Điều này bị chi phối
bởi quy luật tác động của thành tố bên trái đối với thành tố đứng sau nó
Do đó, cấu trúc hình thức chung nhất của thể hoàn thành như được nói tới ở
chương trước have - V + -en sẽ có những biến thể nhất định khi kết hợp với những
thì khác nhau Ta có thể hình dung những biến thái của thể hoàn thành trong tiếng
Anh khi nó kết hợp với hai thì cơ bản (hiện tại và quá khứ) ở bảng dưới dây:
Cấu trúc các thành tố vị từ Dạng thể hiện của động từ
present + perfect + fall have fallen / has fallen
past + perfect + work had worked
Như vậy, khi thể hoàn thành kết hợp với thì hiện tại, yếu tố have có thể có biến dạng là has Và khi kết hợp với thì quá khứ nó lại biến đổi thành had Cùng
xét các ví dụ cụ thể sau:
(59) I have written some notes (Tôi đã viết một số tin nhắn.)
(60) Tom has had a bad car crash (Tom đã bị đụng xe trầm trọng)
(61) Kiên had crossed almost all the North Wing area (Kiên đã đi qua hầu
suốt miền cánh Bắc)