1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích đối chiếu chuyển dịch ngữ nghĩa của một số nhóm danh từ đa nghĩa tiếng Anh sang tiếng Việt

121 951 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lẽ trên mà chúng tôi lựa chọn đề tài: Phân tích đối chiếu chuyển dịch ngữ nghĩa của một số nhóm danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh sang tiếng Việt.. Mục đích nghiên cứu *

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYÔN THÞ MINH T¢M

PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH NGỮ NGHĨA

CỦA MỘT SỐ NHÓM DANH TỪ ĐA NGHĨA

TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI 2007

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYÔN THÞ MINH T¢M

PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH NGỮ NGHĨA

CỦA MỘT SỐ NHÓM DANH TỪ ĐA NGHĨA

TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60 22 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ QUANG THIÊM

HÀ NỘI 2007

Trang 3

MỤC LỤC

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU NGHĨA CỦA TỪ ĐA NGHĨA

1.3 Sơ lược về lịch sử phân tích đối chiếu đa nghĩa trong các ngôn

2.2 Sự phân bố đa nghĩa trong danh từ tiếng Anh, tiếng Việt 19

Trang 4

2.3 Sự phân bố đa nghĩa danh từ tiếng Anh, tiếng Việt xét

2.3.1 Sự phân bố danh từ đa nghĩa tiếng Anh trên phương diện cấu

ANH -VIỆT TỪ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH

VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH ANH SANG VIỆT

3.3.1 Cơ sở phân loại chung của danh từ tiếng Anh và

3.3.2 Hướng dẫn xuất của danh từ cụ thể và trừu tượng

3.3 Nhận xét chung về tuyến dẫn xuất trong hai ngôn ngữ 61

3.4 Giải pháp đề xuất chuyển dịch danh từ đa nghĩa

3.4.3 Chuyển dịch dựa theo hướng dẫn xuất phái sinh nghĩa 65

PHẦN KẾT LUẬN

68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

71

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tín hiệu ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt Nét làm nên tính đặc biệt

so với các hệ thống tín hiệu nhân tạo là tính không tương ứng một đối một giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện Hệ quả của hiện tượng này làm nên tính đồng âm đồng nghĩa và tính đa nghĩa của từ vựng Như vậy, đa nghĩa là một hiện tượng có tính quy luật của ngôn ngữ Nó là hệ quả, là sản phẩm tất yếu của tính không đối xứng, không đồng hình của tín hiệu ngôn ngữ Trong ngôn ngữ,

đa nghĩa biểu hiện một cách điển hình ở cấp độ từ vựng – ngữ nghĩa thông qua các từ đa nghĩa Từ đa nghĩa có vị trí quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt trong cấu tạo, hoạt động của hệ thống từ vựng ngữ nghĩa Đồng thời, từ đa nghĩa có các mối quan hệ đặc biệt với văn hoá, lịch sử, với quá trình sử dụng ngôn ngữ Trước hết phải thừa nhận rằng, từ đa nghĩa là từ có kết cấu nghĩa khá phức tạp Tổng thể các nghĩa của từ đa nghĩa tạo thành một hệ thống con của các biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, các biến thể này được tổ hợp trên cơ sở một vài nét nghĩa chung và loại biệt Mối quan hệ giữa các nghĩa nằm trong tương quan dẫn xuất phái sinh, là kết quả của việc sử dụng và phát triển lịch đại ngữ nghĩa Các nghĩa của từ đa nghĩa được nhìn nhận từ góc độ biểu vật trong quá trình ký hiệu hiện thực, nhưng lại được định hình như một đơn vị, một cấu tạo từ góc độ biểu niệm Như vậy, nội dung đa nghĩa của từ là một thế giới riêng, một thế giới khác biệt nhiều hơn là đồng nhất Điều này càng làm nên tính đặc trưng, tính loại biệt khi nhìn từ bình diện so sánh đối chiếu các ngôn ngữ

Hơn nữa, từ đa nghĩa có thể xem như là một vốn tích luỹ, như là một tài sản liên quan đến hoạt động của ngôn ngữ cho nên nó là hiện tượng ngôn ngữ

và cũng là hiện tượng văn hoá Từ đa nghĩa là kết quả của sự phát triển lịch sử nghĩa của từ trong quá trình tồn tại và sử dụng; là sản phẩm của sự phát triển ngôn ngữ văn hoá, sự giàu có, phong phú tư duy và kinh nghiệm của cộng đồng

Trang 6

người nói một thứ tiếng nhất định Có thể nói, nằm trong nội dung từ đa nghĩa

là chiều sâu tinh tế, tính dân tộc sâu sắc và biểu hiện của sự phát triển tư duy và giao tiếp sáng tạo của chủ nhân các ngôn ngữ

Trong quá trình học tập và giảng dạy tiếng Anh chúng tôi gặp một số lượng không nhỏ các từ đa nghĩa Kết cấu nghĩa phức tạp của từ đa nghĩa đã gây không ít khó khăn cho người học cũng như người dạy ngoại ngữ trong việc lĩnh hội, giải thích và chuyển dịch tương ứng sang tiếng Việt Tuy nhiên, khó khăn này còn do một nguyên nhân khách quan nữa phải kể đến là từ đa nghĩa liên quan đến chiều sâu của cấu tạo ngữ nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, và quan trọng hơn là liên quan đến cách tư duy ngôn ngữ của từng dân tộc

Chính vì những lẽ trên mà chúng tôi lựa chọn đề tài: Phân tích đối chiếu

chuyển dịch ngữ nghĩa của một số nhóm danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh sang tiếng Việt

Thực hiện đề tài này chúng tôi mong muốn được nghiên cứu sâu sắc hơn

về tiếng Anh, tiếng Việt cũng như tìm hiểu về văn hoá, tư duy ngôn ngữ của hai dân tộc Đáng chú ý là chúng tôi hiểu được, tìm cách nhận thức, chuyển dịch nội dung phong phú đa dạng hàm chứa trong nghĩa của từ đa nghĩa mà thiếu đào sâu phân tích thì không thể nào hiểu được, giải quyết được

2 Mục đích nghiên cứu

* Khảo sát một số lượng nhất định các danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh

và các danh từ đa nghĩa trong tiếng Việt để có được kết quả phân tích định lượng của chúng ở hai ngôn ngữ

* Phân tích, đối chiếu, chuyển dịch ngữ nghĩa của một số nhóm danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt tương ứng ở ba phạm vi cụ thể: nội dung nghĩa, kiểu loại và dung lượng nghĩa, tuyến dẫn xuất phái sinh của các nghĩa

* Từ kết quả đối chiếu, chúng tôi chỉ ra sự giống và khác nhau ở ba phạm

vi ngữ nghĩa này Qua đó, chúng tôi chỉ ra đặc điểm tư duy ngôn ngữ và đặc

Trang 7

trưng văn hoá dân tộc của người Anh và người Việt Và đặc biệt chúng tôi hiểu được, tìm giải pháp chuyển dịch tương ứng sang Việt ngữ

* Vận dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động dạy và học tiếng Anh và tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ

3 Tư liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này dựa trên kết quả phân tích nghĩa của các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời, chúng tôi có sử dụng kết quả phân tích nghĩa của từ trong các cuốn từ điển có uy tín để lấy ra những tư liệu mà các nhà chuyên môn đã phân tích, tổng hợp trong hai ngôn ngữ Anh, Việt Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đối chiếu, chúng tôi tiến hành phân tích bổ sung những hiểu biết của mình với những tư liệu cần thiết

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này là các phương pháp thường được dùng trong khoa học ngôn ngữ Cụ thể là các phương pháp sau:

 Phương pháp thống kê, định lượng: thông qua các nguồn tài liệu tin cậy, chúng tôi tiến hành tập hợp, thống kê các nét nghĩa, kiểu nghĩa của các nhóm danh từ đa nghĩa trên vốn tư liệu khảo sát trong tiếng Anh và tiếng Việt

 Phương pháp phân tích thành tố: nói chung phương pháp phân tích thành tố nghĩa có thể được hiểu là phương pháp nghiên cứu mặt nội dung các đơn vị có nghĩa, được khởi thảo ra trong phạm vi ngữ nghĩa học cấu trúc và có mục đích là phân giải ý nghĩa ra thành các thành phần ngữ nghĩa tối thiểu là các nghĩa hoặc các nghĩa vị (các ý niệm sơ đẳng, các nhân tử ngữ nghĩa, các đặc trưng ngữ nghĩa) Đối tượng phân tích bằng phương pháp này giả định là một tổng thể các nghĩa liên quan với nhau về ngữ nghĩa trong cấu tạo và hoạt động của chúng

 Phương pháp so sánh đối chiếu: đối chiếu là phương pháp nghiên cứu dựa trên sự so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ về cấu trúc, chức năng và hoạt động của các phương tiện ngôn ngữ được nghiên cứu để tìm ra những giống

Trang 8

nhau, khác nhau hoặc tìm giải pháp chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn ra ngôn ngữ đích một cách tương ứng, chính xác

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu nghĩa của từ đa nghĩa

Chương 2: Đặc điểm đa nghĩa danh từ Anh - Việt từ kết quả phân tích đối

chiếu định lượng

Chương 3: Phân tích, đối chiếu định tính danh từ đa nghĩa Anh - Việt và

cách thức chuyển dịch Anh ra Việt

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU NGHĨA CỦA TỪ ĐA NGHĨA

1.1 Nghĩa của từ

1.1.1 Khái niệm nghĩa của từ

Nghĩa của từ là một khái niệm phức tạp và khó xác định Cho đến nay có đến hàng trăm cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ Ý kiến khác nhau có nhiều Chúng tôi thử tạm chấp nhận một cách hiểu sơ bộ làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở luận văn này Nhìn một cách đại thể có thể hiểu nghĩa là một thực thể tinh thần tồn tại trong mọi cấp độ của ngôn ngữ, đặc biệt trong từ vựng Trong ngôn ngữ học, nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng nhất Khái niệm này đã được khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới cũng như ở Việt nam quan tâm

Một số người cho rằng nghĩa của từ là sự vật hay hiện tượng do từ biểu

thị Chẳng hạn, từ nhà là bản thân cái nhà có trong thực tế, từ đẹp, xấu là tính

chất tương ứng của nó

Quan điểm thứ hai rất phổ biến về nghĩa của từ là đồng nhất nghĩa với khái niệm logic hay biểu tượng tâm lí có liên quan đến từ ấy Tiêu biểu quan điểm này là A.I Smirnitcki V.M Solncev Những người theo quan điểm này cho rằng nghĩa của từ là khái niệm, biểu tượng, tức là nghĩa của từ gắn liền với

tư tưởng của người nói và nghĩa được xem là toàn bộ các nội dung biểu tượng được biểu hiện bằng hình thức ngữ âm của từ

Cách hiểu thứ ba về nghĩa của từ là quy nó về mối quan hệ giữa từ và đối tượng Theo V.A Arlomov: “nghĩa của từ là sự lệ thuộc của nó với sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực” [1,216] Tương tự như thế, A.C Chikobava định nghĩa: “nghĩa của từ là mối liên hệ giữa từ với sự vật của thực tế” [10, 120]

Trang 10

Quan điểm thứ tư cũng cho nghĩa của từ là quan hệ nhưng không phải quan

hệ giữa từ và đối tượng mà là quan hệ giữa từ và khái niệm, biểu tượng P.A Budagov phát biểu: “Nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tượng, sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, [20, 120]) B.N Golovin cũng có cái nhìn tương tự: “ sự thống nhất của sự phản ánh vỏ vật chất của từ và sự vật tương ứng chúng tôi gọi là nghĩa”(Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, [20, 120]) Quan niệm này bắt nguồn từ học thuyết của F de Saussure Ông cho rằng nghĩa là quan hệ giữa cái biểu hiện (significant) và cái được biểu hiện (signifié) Trên cơ sở đó, St Ullman – nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Pháp nổi tiếng lí giải nghĩa của từ chính là mối liên hệ liên tưởng giữa âm thanh của từ (name) và nội dung khái niệm(sense) của nó

Cùng với sự ra đời của chủ nghĩa cấu trúc hiện đại, nghĩa của từ lại được quan niệm là mối quan hệ giữa các từ với nhau Theo Ju D Apresjan, “ Nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân Nó hoàn toàn được quy định bởi nhưng mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với từ khác cũng thuộc trường từ ấy” [33, 53] Những nhà ngôn ngữ học mô tả Mĩ quan niệm “phân bố theo nghĩa rộng” chính là nghĩa của từ Họ xem như miêu tả nghĩa của từ thực chất là miêu tả sự phân bố của nó Trong khi đó, những người theo thuyết chức năng mà đại diện nổi tiếng của họ là Wittgenstein và J Rile lại cho nghĩa của từ là chức năng, là vai trò từ đảm nhận trong ngôn ngữ

Như vậy, có nhiều cách lý giải khác nhau về khái niệm nghĩa của từ Ở Việt Nam cũng vậy Theo Nguyễn Văn Tu [51, 105], “Nghĩa từ vựng của từ được quy định bằng những yếu tố tác động lẫn nhau như:

a) thuộc tính đối tượng

b) khái niệm về đối tượng

c) hệ thống ngôn ngữ giúp cho việc diễn đạt

Trang 11

Theo Nguyễn Thiện Giáp khi nghiên cứu về nghĩa của từ ông thấy nổi lên hai khuynh hướng:

Thứ nhất, cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm,

ngữ nghĩa học Tác giả chấp nhận cách hiểu nghĩa theo cách hiểu “phản ánh

của hiện thực khách quan vào ý thức và được thể hiện trong ngôn ngữ” của A.I.Smirnixki và áp dụng phương pháp phân tích thành tố để xác định cấu trúc nghĩa từ vựng của từ”

Hoàng Phê trong tác phẩm Logic – ngôn ngữ học đã đưa ra quan niệm rất

xác đáng:

1) Ngữ nghĩa quan hệ trực tiếp với nhận thức và qua nhận thức quan hệ với hiện thực nhờ đó ngôn ngữ thực hiện chức năng chủ yếu của nó là công cụ

tư duy và công cụ giao tiếp [36, 2]

2) Nghĩa của từ cần được nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt, không những trong quan hệ với nhận thức và với hiện thực, mà còn quan hệ với cấu trúc nội tại, cũng như trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những nghĩa từ khác trong ngữ, trong câu, trong lời” [36]

Cũng có những điểm tương đồng như Hoàng Phê trong cách nhìn nhận về nghĩa, Lê Quang Thiêm cho rằng nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình thức tồn tại của tín hiệu nên ngữ nghĩa học và nghĩa của tín hiệu phải được xem xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu Nghĩa có được là do con người, con người cấu tạo và sử dụng như một loại phương tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải được xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa Hơn nữa,

Trang 12

mỗi loại nghĩa đều thể hiện trong quan hệ với chức năng và toàn bộ các loại nghĩa thuộc các loại hình thức của biểu thức trong ngôn ngữ

Từ đó, ông đã đề xuất một cách hiểu về nghĩa: “Nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ của giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, trong diễn ngôn” [46, 19]

Nhìn chung, để chọn cơ sở làm việc chúng tôi chấp nhận nghĩa của từ có thể được hiểu một cách khái quát như sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần

mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp của nhiều nhân tố Trong số

đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữ như sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan,

tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như chức năng tín hiệu học,

hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xác lập, phân tích, xác định nội dung, dung lượng, kiểu loại nghĩa của từ và nhờ đó ta có thể so sánh đối chiếu nghĩa của từ trong ngôn ngữ này với từ tương ứng trong ngôn ngữ khác để tìm ra sự tương đồng, dị biệt, cũng như chuyển dịch tương ứng

1.1.2 Các kiểu loại nghĩa từ vựng trong từ

Trong lịch sử ngữ nghĩa học, các nhà nghiên cứu đã có khá nhiều kiến giải khác nhau về nghĩa của từ Người ta đã phân chia nghĩa của từ thành nhiều loại Trên quan điểm lịch đại, người ta cho rằng: nghĩa có nghĩa gốc và nghĩa phái sinh Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên, nghĩa vốn có ban đầu của từ Nghĩa phái sinh là nghĩa có sau, chúng được tạo nên trên cơ sở nghĩa gốc Nghĩa này được sinh ra nhờ quá trình sử dụng sáng tạo của người dùng trong quá trình tồn tại của từ đó

Trên quan điểm đồng đại, người ta phân chia nghĩa thành nghĩa cơ bản – nghĩa không cơ bản, nghĩa đen – nghĩa bóng, nghĩa độc lập – nghĩa phụ thuộc văn cảnh Nghĩa đen là nghĩa có chứa nhiều nét nghĩa khái quát, phạm trù,

Trang 13

gắn với các dấu hiệu của hiện thực Nghĩa bóng là nghĩa chứa nhiều nét nghĩa khu biệt, gắn với hình tượng, biểu trưng hoá

Chúng ta đều biết rằng, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa Khi một từ

có nhiều hơn một nghĩa thì các nghĩa có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo tổ chức cơ cấu nhất định Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gồm những thành tố nhỏ hơn có thể phân tích và cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó

Đỗ Hữu Châu phân chia nghĩa của từ dựa theo đặc điểm nội dung ngữ nghĩa của từ Một từ sẽ có ý nghĩa nào đó tuỳ chức năng mà từ đó đảm nhận

Từ có tính chất liên quan đến khái niệm thì từ đó mang nghĩa biểu niệm, liên quan đến sự vật, hiện tượng, thì mang nghĩa biểu vật Theo ông nghĩa của từ

có bốn loại ngữ nghĩa cơ bản sau:

 Ý nghĩa biểu vật (ứng với chức năng biểu vật)

 Ý nghĩa biểu niệm (ứng với chức năng biểu niệm)

 Ý nghĩa biểu thái (ứng với chức năng biểu thái)

 Ý nghĩa ngữ pháp (ứng với chức năng ngữ pháp)

Như vậy, có thể nói cách phân chia này dựa theo đặc điểm nội dung, dựa vào chức năng định danh mà ông chưa quan tâm nhiều tới tính cấu trúc hệ thống Trong nghiên cứu của mình ông quan tâm chú ý nhiều phân tích nghĩa của từ, song chủ yếu chỉ là thực từ (từ miêu tả) và có thể nói nghĩa từ vựng ở đây chỉ giới hạn ở nghĩa miêu tả

Một cách nhìn khác hơn, sâu hơn về nghĩa của từ là dựa trên nhân tố các mối quan hệ của nó để phân loại nghĩa của từ Nguyễn Thiện Giáp đồng quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu, cho rằng nghĩa của từ là một loạt các quan hệ của từ với các hiện tượng khác Trước hết, nghĩa của từ là quan hệ của từ với đối tượng mà

nó biểu thị đó là các sự vật, quá trình, tính chất Hơn nữa, nghĩa của từ là quan hệ của

từ với các biểu tượng, khái niệm Nghĩa của từ là quan hệ của một từ với các từ khác trong cùng một hệ thống từ vựng và còn là quan hệ của từ với người sử dụng nó Như

Trang 14

vậy, từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tượng cho nên nghĩa của từ cũng là đối tượng không kém phần phức tạp Ông phân chia nghĩa của từ thành 4 loại:

• Nghĩa sở chỉ là quan hệ của từ với đối tượng mà từ biểu thị Đối tượng mà từ biểu thị là các sự vật, các quá trình, tính chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó được gọi

là cái sở chỉ của từ Cái sở chỉ có thể bao gồm các đối tượng trong ngôn ngữ lẫn các đối tượng ngoài ngôn ngữ

• Nghĩa sở biểu là quan hệ của từ với biểu tượng, khái niệm Khái niệm hoặc biểu tượng có quan hệ với từ gọi là cái sở biểu và quan hệ giữa từ khái niệm hoặc biểu tượng là nghĩa sở biểu

• Nghĩa sở dụng là quan hệ của từ với người sử dụng (người nói, người viết, người nghe, người đọc) Người sử dụng ngôn ngữ bộc lộ thái độ chủ quan của mình đối với từ ngữ và qua đó tới cái sở biểu và sở chỉ của từ ngữ

• Nghĩa kết cấu: Mỗi từ đều nằm trong một hệ thống từ vựng, có quan hệ

đa dạng và phức tạp với những từ khác Quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ thống từ vựng được gọi là nghĩa kết cấu của từ

Tuy nhiên việc phân tích đối chiếu đa nghĩa trong luận văn này chúng tôi chưa có điều kiện sử dụng sự phân chia thuộc tính đồng đại thành các kiểu nghĩa của các tác giả vừa nêu Chỗ dựa mà chúng tôi chọn là:

- Phân biệt nghĩa gốc và nghĩa phái sinh để đi tìm tuyến dẫn xuất phái sinh nghĩa theo phân tích thành tố nghĩa

- Phân biệt dung lượng đồng đại của nghĩa từ đa nghĩa theo kết quả phân tích từ điển để đối chiếu dung lượng nghĩa

- Phân biệt định lượng với định tính để xét cấu trúc nghĩa, tuyến phát triển nghĩa

để làm rõ đặc trưng từng ngôn ngữ trong phái sinh đa nghĩa liên hệ đặc trưng văn hoá dân tộc

Nhiệm vụ luận văn của chúng tôi là phân tích đối chiếu chuyển dịch ngữ nghĩa của một số nhóm từ danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh sang tiếng Việt Xét về đặc điểm nội dung nghĩa của từ đa nghĩa, chúng tôi nhận thấy tiếp theo

Trang 15

cần xác định một cách hiểu đa nghĩa cũng như lịch sử nghiên cứu đối chiếu đa nghĩa để làm chỗ dựa cho khảo sát ở luận văn này

1.2 Từ đa nghĩa

1.2.1 Nguồn gốc từ đa nghĩa

Ngôn ngữ học đã chỉ ra rằng: mọi từ lúc mới sinh ra từ chỉ có một nghĩa Theo dòng thời gian tồn tại và phát triển từ trở thành nhiều nghĩa Sự xuất hiện nghĩa mới của từ có quan hệ với sự phát triển một cách có quy luật và sự giàu

có, phong phú của thành phần từ vựng một ngôn ngữ Điều đó cho thấy kết cấu

ý nghĩa của từ không nhất thành bất biến mà luôn vận động phát triển Đó là do

sự phát triển của đời sống, của nhận thức và của chính hệ thống ngôn ngữ

Sự biến đổi, phát triển không ngừng của đời sống tất yếu dẫn đến phát triển thêm nghĩa mới của từ Trong thực tế, con người luôn có ý thức tìm hiểu, khám phá, chinh phục thiên nhiên và kết quả là những kinh nghiệm lao động, những thành tựu khoa học phục vụ cho cuộc sống Bên cạnh đó, con người luôn

có ý thức xây dựng xã hội, làm cho xã hội ngày càng văn minh, thế giới ngày càng trở nên phong phú Những cái mới nảy sinh trong thiên nhiên, xã hội và con người đòi hỏi phải được biểu hiện trong ngôn ngữ

Một nguyên nhân làm cho nghĩa của từ phát triển nữa là sự phát triển của nhận thức Đồng thời với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con người cũng ngày một nâng cao Vẫn những sự vật, hiện tượng hay quan hệ ấy nhưng càng ngày người ta càng nhận thức sâu sắc hơn Nhiều thuộc tính của sự vật trước đây bị che mờ thì bây giờ được phát hiện Do đó, ý nghĩa không thể không thay đổi theo sự phát triển của nhận thức

Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống ngôn ngữ (với tư cách là nhân tố bên trong) cũng ảnh hưởng tới kết cấu ý nghĩa của từ Với thời gian, ngôn ngữ cũng được bổ sung thêm nhiều yếu tố mới, đồng thời yếu tố cũ không thông dụng nữa Do đó mối quan hệ giữa các từ trong ngôn ngữ cùng với kết cấu chung của nó bị thay đổi Điều này cũng làm cho từ có thêm nghĩa mới

Trang 16

Như vậy, sự phát triển từ đa nghĩa liên quan đến sự phát triển xã hội và sự phát triển của ngôn ngữ Các ngôn ngữ gắn liền với văn hoá thành văn, nền văn minh tiên tiến thường phát triển với tỷ lệ cao những từ đa nghĩa bởi lẽ đa nghĩa liên quan đến trình độ, đến sự sáng tạo của cả một dân tộc

Đa nghĩa là qui luật chung của ngôn ngữ nhân loại Việc tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt trong nội dung từ đa nghĩa của các dân tộc lại liên quan đến ngôn ngữ và văn hoá của riêng của mỗi quốc gia Bởi vì đặc điểm đa nghĩa của mỗi ngôn ngữ như là sản phẩm sáng tạo, như là thành tựu được tập thể cộng đồng ngôn ngữ ấy xây dựng nên

1.2.2 Định nghĩa từ đa nghĩa

Theo cách hiểu thông thường và rất đơn giản: từ đa nghĩa là từ có nhiều hơn một nghĩa Trong nghiên cứu ngôn ngữ vấn đề lại không phải giản đơn như thế Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về từ đa nghĩa từ vựng

Có tác giả cho đa nghĩa là sự thể hiện chức năng định danh của từ Theo quan niệm trên, từ đa nghĩa bao gồm trong nội dung của nó các nghĩa biểu vật

khác nhau Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, Mátxcơva, 1969,

A.A.Rêphomatski cho rằng: “Vấn đề đa nghĩa trước hết là vấn đề định danh, tức là có các nội dung biểu vật khác nhau trong cái đồng nhất của từ” (Dẫn theo

Lê Quang Thiêm) [44, 305]

Một cách hiểu khác được nhiều người đồng tình hơn là quan niệm cho rằng: mọi ý nghĩa của từ là nội dung khái quát trừu tượng được tổ hợp từ một

số dấu hiệu, thuộc tính của một lớp sự vật, hiện tượng mà từ biểu thị Đa nghĩa của từ bao gồm nhiều khái quát khác nhau tạo lập một hệ thống Cách hiểu này

có thể gọi là cách hiểu đa nghĩa biểu niệm O.C.Akhmanôva cho rằng: “đa nghĩa là sự tồn tại ở từ một số nghĩa vốn thường xuất hiện do việc sử dụng từ

và sự phát triển các nghĩa bóng của từ” (Dẫn theo Lê Quang Thiêm) [44]

Trang 17

Vũ Đức Nghiệu cho rằng: “Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại.”[12, 172]

Sau khi phân tích đánh giá một số cách hiểu Lê Quang Thiêm cho rằng:

“Từ đa nghĩa là từ mà nội dung bao gồm một số nghĩa khác nhau, các nghĩa này lập thành một hệ thống nằm trong các mối quan hệ liên kết với nhau, gồm một vài nét nghĩa chung và nhiều nét nghĩa loại biệt thường biểu thị các đối tượng khác nhau nhưng lại được đặt cơ sở trên một sự giống nhau về chức năng, hình thức hoặc thuộc tính nào đó của đối tượng” [44, 305] Chúng tôi

chấp nhận cách hiểu này làm chỗ dựa cho sự phân tích, nghiên cứu của luận văn này

1.2.3 Các kiểu nghĩa của từ đa nghĩa

Các nghĩa của từ đa nghĩa được xây dựng và tổ chức theo những cách thức

và trật tự nhất định Việc phân loại các nghĩa khác nhau của từ đa nghĩa giúp chúng ta tìm ra được mối quan hệ của chúng và từ đó có cơ sở hiểu rõ hơn ý nghĩa của từ

 Dựa vào tiêu chí nguồn gốc của nghĩa, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai

loại: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên, vốn có đối với

một từ nào đó Vì thế nghĩa gốc thường là nghĩa không giải thích được lí do và

có thể nhận ra một cách độc lập không cần thông qua nghĩa khác Nghĩa phái

sinh là nghĩa có sau được tạo nên trên cơ sở nghĩa gốc cho nên chúng thường

có lí do và được nhận ra qua nghĩa gốc của từ Ví dụ, trong Từ điển tiếng Việt

của Hoàng Phê [35] có định nghĩa từ chân như sau:

1 Bộ phận dưới cùng của cơ thể người và động vật, dùng để đi, đứng, thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người (Què chân; Vui chân đi quá xa; Nước đến chân mới nhảy)

Trang 18

2 Chân của con người, coi là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong hội đồng; thiếu một chân tổ tôm; chân sào)

( )

Như vậy, trong hai nghĩa trên của từ chân thì nghĩa 1 là nghĩa gốc, nghĩa 2

là nghĩa phái sinh

 Dựa vào khả năng tồn tại độc lập của từ, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai

loại: nghĩa tự do và nghĩa hạn chế Nghĩa tự do là nghĩa được bộc lộ trong mọi

hoàn cảnh, không lệ thuộc vào hoàn cảnh bắt buộc nào Nghĩa hạn chế là nghĩa

chỉ xuất hiện trong một hoàn cảnh nhất định Ví dụ sắt:

1 Kim loại màu xám xanh, dễ dát mỏng và kéo sợi, dễ bị gỉ trong không khí ẩm, là thành phần chính của gang và thép

2 Dùng để ví cái cứng rắn về tinh thần (kỉ luật sắt, dạ sắt gan vàng) [35, 852]

Chúng ta nhận thấy nghĩa 1 của từ sắt là nghĩa tự do, còn nghĩa 2 là nghĩa

hạn chế

 Dựa vào mối quan hệ định danh giữa từ và đối tượng, nghĩa của từ đa

nghĩa gồm hai loại: nghĩa trực tiếp và nghĩa gián tiếp Nếu một nghĩa trực tiếp

phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách trực tiếp thì đó là nghĩa trực tiếp (nghĩa đen) Còn nếu một nghĩa gián tiếp phản ánh đối tượng, làm cho

từ gọi tên sự vật một cách gián tiếp (thông qua hình tượng hoặc nét đặc thù) thì

đó là nghĩa gián tiếp (nghĩa bóng) Chẳng hạn, xét từ bụng trong tiếng Việt Theo Hoàng Phê [35, 89] bụng là:

1 Bộ phận cơ thể người, động vật chứa ruột, dạ dày, v.v.(đau bụng; cả đầy một bụng trứng)

2 Bụng con người, coi là biểu tượng của ý chí, tình cảm sâu kín đối với người, đối với việc (có gì nói ngay không để bụng; suy bụng ta ra bụng người) Như vậy, nghĩa 1 là nghĩa trực tiếp, nghĩa 2 là nghĩa chuyển tiếp

Trang 19

 Nghĩa của từ đa nghĩa được chia thành nghĩa thường trực và nghĩa

không thường trực dựa vào tiêu chí nghĩa đang xét đã nằm trong cơ cấu trong

cơ cấu chung ổn định của nghĩa từ hay chưa Một nghĩa được coi là nghĩa thường trực nếu nó đã đi vào cơ cấu chung ổn định của nghĩa từ và được nhận thức một cách ổn định, như nhau trong các hoàn cảnh khác nhau Ngược lại, nếu có một nghĩa bất chợt nảy sinh trong một hoàn cảnh nào đó trong quá trình

sử dụng, sáng tạo ngôn ngữ, nó chưa hề đi vào cơ cấu ổn định, vững chắc của nghĩa đó là nghĩa không thường trực (nghĩa ngữ cảnh)

Trên đây là cách phân loại nghĩa của từ đa nghĩa thường gặp Mỗi tiêu chí khác nhau có hệ thống phân loại khác nhau Trong thực tế, từ đa nghĩa không chỉ có 2, 3 nghĩa mà có từ có đến hơn 7, 8 nghĩa Nghĩa của từ đa nghĩa rất phong phú, đa dạng nên khi phân tích nghĩa theo thế lưỡng phân e là sẽ có một

số nghĩa không được gọi tên mà bị gộp chung với một nghĩa nào đó khái quát hơn Để khắc phục tình trạng này, khi phân tích nội dung nghĩa của từ đa nghĩa chúng tôi có sử dụng quan điểm về đa nghĩa của Lê Quang Thiêm làm cơ sở lí luận cho đối chiếu kiểu loại nghĩa của từ đa nghĩa

1.3 Sơ lược về lịch sử phân tích đối chiếu đa nghĩa trong các ngôn ngữ

Có thể nhận thấy rằng ngôn ngữ học đối chiếu ra khá đời muộn Vì vậy các nghiên cứu thuộc bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng nói chung được chú

ý thì phân tích đối chiếu đa nghĩa từ vựng chưa có mấy, đặc biệt là đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt về bình diện này

Công bằng mà nói nếu lấy sản phẩm làm từ điển phiên dịch (song ngữ) là kết quả phân tích đối chiếu thì ta thấy có nhiều kết quả Chẳng hạn, lấy vài ví

dụ từ từ điển Anh - Việt [59] ta thấy như sau:

Ví dụ:

1 box: hộp, thùng, tráp, lô

2 affair: việc, công việc

3 chance: sự may rủi, số phận, cơ hội

Trang 20

Kết quả giải quyết thực tế này chưa làm ta thoả mãn vì còn quá nhiều bỏ

sót Ví dụ từ box thì các nghĩa như: khu vực riêng biệt, lều nhỏ hay chỗ (cho

một nục đích nào đó); từ affair thì các nghĩa: sự kiện, biến cố, món đồ, chuyện tình cảm, không được chuyển dịch, đối chiếu Hay từ chance còn có nghĩa như

sự tình cờ, sự mạo hiểm cũng không được đề cập Nguyên nhân có lẽ nhiều

Ngoài những nguyên nhân khác thì người làm chưa có ý thức khai thác, chưa

có nhận thức lý luận về đa nghĩa Anh ngữ và Việt ngữ

Xét về lý luận đối chiếu đa nghĩa cũng đã có thể nghiệm Đó là công trình của Lê Quang Thiêm từ cuối những năm bảy mươi Nhưng đó là đối chiếu tiếng Bungari và tiếng Việt trong luận án Tiến sỹ “Một số vấn đề phân tích dối chiếu từ đa nghĩa Bun-Việt” (Xôphia 1979)

Như vậy, dù đã có công trình, có chỉ ra một số cách làm, cách đối chiếu nhưng là phân tích đối chiếu loại hình chứ không phải chuyển dịch Hơn nữa chưa đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt Cho nên công trình của chúng tôi trong lúc tiếp thu những cách làm và kinh nghiệm đã có sẽ thực hiện đối chiếu

đa nghĩa Anh -Việt theo hướng chuyển dịch Và đây có lẽ là thử nghiệm đầu tiên theo hướng này

Tiếp theo luận văn đã đưa ra một số nét cơ bản về nguồn gốc, khái niệm

và các kiểu loại nghĩa của từ đa nghĩa

Trang 21

Phần cuối của chương, luận văn đã giới thiệu vài nét sơ lược về lịch sử phân tích đối chiếu đa nghĩa trong các ngôn ngữ

Dựa vào phần cơ sở lí luận này, luận văn sẽ tiến hành phân tích đối chiếu định lượng danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh, tiếng Việt trong chương tiếp theo

Trang 22

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM ĐA NGHĨA DANH TỪ ANH-VIỆT

TỪ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU ĐỊNH LƯỢNG

2.1 Đặt vấn đề

Chúng ta biết rằng từ đa nghĩa là những từ bao gồm nhiều nghĩa Toàn bộ

những nghĩa ấy được gọi là dung lượng nghĩa của từ đa nghĩa Dung lượng nghĩa có thể được xem xét dựa trên các đơn vị, thành tố và các số đo nội dung xác định Các số đo và các thành tố đo có thể là nghĩa, số lượng nghĩa, nét nghĩa và số lượng của chúng Trong chương này chúng tôi đặc biệt quan tâm tới dung lượng nghĩa của danh từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ Anh - Việt

Tư liệu để thực hiện nghiên cứu này là từ điển giải thích Chúng tôi sử dụng hai cuốn từ điển giải thích có dung lượng khá tương đương (đều là từ điển

cỡ trung) Đó là cuốn từ điển Larousse Cobuild English learner’s Dictionary gồm 1204 trang do John Sinclair chủ biên (Nxb Collins, 1992) và cuốn Từ điển

tiếng Việt của Hoàng Phê gồm 1221 trang (Nxb Đà Nẵng, 2004) Chúng tôi

nhận thấy, hai cuốn từ điển này có cách xử lý nghĩa của các đơn vị từ vựng khá giống nhau Tác giả của hai cuốn từ điển này đều định nghĩa phân tích, chỉ rõ nội dung nghĩa của từ ngữ, có khi nêu cả phạm vi sử dụng; giải thích nghĩa của

từ dựa vào từ đồng nghĩa, hoặc từ trái nghĩa Hơn nữa, các nghĩa của từ đa nghĩa được xếp theo thứ tự căn cứ vào vào sự phát triển logic của ngữ nghĩa hoặc nêu nghĩa cụ thể trước nghĩa trừu tượng, nghĩa đen trước nghĩa bóng, nghĩa thông thường trước nghĩa chuyên môn

Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát khoảng 14.500 từ

tiếng Anh (từ vần A đến vần G) trong cuốn từ điển Larousse Cobuild English

learner’s Dictionary và số lượng từ tương đương tiếng Việt (cũng từ vần A đến

vần G) trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê để tìm ra những danh từ

đa nghĩa trong hai ngôn ngữ Từ số liệu thu được chúng tôi tiến hành phân tích đặc điểm về số lượng nghĩa, về sự phân bố đa nghĩa của danh từ đa nghĩa trong

Trang 23

tiếng Anh và tiếng Việt Kết quả thu đƣợc làm cơ sở để đối chiếu về dung lƣợng nghĩa của từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ Qua đó, chúng ta có cái nhìn tổng quan về danh từ đa nghĩa ở hai ngôn ngữ, đồng thời chỉ ra những đặc điểm giống, khác nhau về số lƣợng, sự phân bố đa nghĩa của từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ Hơn thế nữa, luận văn còn đề cập đến vấn đề sâu xa hơn đó là đặc trƣng văn hoá dân tộc thể hiện trong định danh ngôn ngữ của hai ngôn ngữ Anh, Việt

2.2 Sự phân bố đa nghĩa trong danh từ tiếng Anh, tiếng Việt

2.2.1 Sự phân bố đa nghĩa trong danh từ tiếng Anh

Qua quá trình khảo sát chúng tôi thu đƣợc kết quả cụ thể nhƣ sau:

Từ vần A đến vần G trong cuốn từ điển tiếng Anh Larousse Cobuild

English learner’s Dictionary có 5433 danh từ trong đó có 1324 danh từ đa

nghĩa Nhƣ vậy, danh từ đa nghĩa chiếm 24,37% tổng số danh từ khảo sát Trong số 1324 danh từ đa nghĩa này, danh từ đa nghĩa có số nghĩa nhiều

nhất là 7 nghĩa Loại danh từ đa nghĩa này có 5 từ là: defence (sự phòng thủ),

element (yếu tố), end (cuối), fall (sự rơi), ground (mặt đất), chiếm 0,38% trong

tổng số danh từ đa nghĩa đƣợc khảo sát

Số lƣợng danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa là 11 từ, chiếm 0,83% danh từ đa

nghĩa khảo sát Đó là các từ: action (hoạt động), beauty (vẻ đẹp), break (khoảng trống), case (hộp) centre (trung tâm), course (tiến trình), cover (cái

form (hình dáng), girl (cô gái), glass (thuỷ tinh),

Trang 24

Số lượng danh từ đa nghĩa có 4 nghĩa còn cao hơn nữa Loại này có tới 89

từ, chiếm 6,72% danh từ đa nghĩa trong phạm vi khảo sát

Ví dụ: age (tuổi), answer (sự trả lời), base (đáy, chân), blade (lưỡi), boy (cậu bé), circle (hình tròn), class (gia cấp), condition (điều kiện), country (đất nước), deck (boong tàu), entrance (lối vào),

Tiếp theo là danh từ đa nghĩa có 3 nghĩa gồm 217 từ, chiếm 16,39% danh

từ đa nghĩa khảo sát

Ví dụ như: abuse (sự lạm dụng), accent (trọng âm), adult (thành niên),

back (lưng), background (nền), custom (phong tục), doctor (bác sỹ), dust (bụi), energy (năng lượng), fashion (thời trang), future (tương lai), gateway (cổng ra

vào), ground (mặt đất),

Chiếm một tỷ lệ áp đảo là danh từ đa nghĩa 2 nghĩa Danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa có số lượng từ nhiều nhất, lên đến 974 từ, chiếm 73,57% danh từ đa nghĩa khảo sát

Ví dụ: absence (sự vắng mặt), abyss (vực), author (tác giả), baby (trẻ con), boot (giày ống), beer (bia), businessman (nam thương nhân),

businesswoman (nữ thương nhân), cake (bánh ngọt), chest (ngực), decision (sự

quyết định), destiny (điểm đến), engine (động cơ), elevation (sự nâng lên), fan (cái quạt), fuse (kíp nổ),

Như vậy, trong khoảng 1/3 cuốn từ điển tiếng Anh Larousse Cobuild

English learner’s Dictionary này có 1324 danh từ đa nghĩa Dao động đa nghĩa

nằm ở giới hạn 7 nghĩa và số lượng đa nghĩa phân bố không đồng đều Số lượng nghĩa trong một từ danh từ đa nghĩa tỷ lệ nghịch với số lượng từ biểu thị

Từ có số lượng nghĩa càng nhiều thì số lượng từ loại ấy càng ít Từ có số lượng nghĩa càng nhỏ thì số lượng càng nhiều Chúng ta có thể hình dung sự phân bố

đa nghĩa của chúng như sau:

Trang 25

2.2.2 Sự phân bố đa nghĩa trong danh từ tiếng Việt

Kết quả khảo sát từ vần A đến vần G trong cuốn Từ điển tiếng Việt thu

đƣợc 5464 danh từ Trong 5464 danh từ tiếng Việt này có 713 danh từ đa nghĩa, chiếm 13,05% trong tổng số danh từ khảo sát Danh từ đa nghĩa có số

nghĩa nhiều nhất có đến 10 nghĩa và cũng chỉ có 1 từ là từ đời, chiếm 0,14%

tổng số danh từ đa nghĩa khảo sát Và đây cũng là danh từ có nhiều nghĩa nhất trong danh từ đa nghĩa tiếng Việt

Số lƣợng danh từ đa nghĩa có 9 nghĩa là 5 từ Đó là các từ: cánh, chữ, đất,

đầu, đường, chiếm 0,70% danh từ đa nghĩa khảo sát Số lƣợng danh từ đa nghĩa

có 8 nghĩa chỉ có 1 từ giống nhƣ danh từ đa nghĩa có 10 nghĩa, cũng chiếm

0,14% danh từ đa nghĩa khảo sát Đó là từ: giống

Hai con số xấp xỉ nhau là số lƣợng danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa và danh từ

đa nghĩa có 7 nghĩa

Danh từ đa nghĩa có 7 nghĩa có 5 từ, chiếm 0,07% danh từ đa nghĩa khảo

sát Đó là các danh từ: bóng, chú, công, điểm, giò

Danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa có 6 từ, chiếm 0,84% danh từ khảo sát Đó là

các danh từ: bầu, bố, cậu, chân, dòng, đầu mối

Số lƣợng danh từ đa nghĩa có 5 nghĩa có số lƣợng cao hơn hẳn những danh từ đa nghĩa có 6, 7 nghĩa Loại danh từ đa nghĩa này có 19 từ chiếm 2,66% danh từ đa nghĩa khảo sát

Chẳng hạn nhƣ: bác, bậc, băng, bìa, cảnh, cây, chính trị, dưới, đám, điệu,

đơn vị, gốc,

Trang 26

Tiếp theo là số lƣợng danh từ đa nghĩa có 4 nghĩa có 62 từ chiếm 8,70% danh từ đa nghĩa khảo sát

Ví dụ: anh, áo, bạc, bài, bạn, bộ, cách mạng, cân, cần, chầu, chuỗi, chu

kỳ, chủ đề, đạo, điện, đức, em út, gai, gân,

Tình hình khác hẳn so với những danh từ đa nghĩa có 2, 3, 4 nghĩa nói trên, số lƣợng danh từ đa nghĩa có 3 nghĩa gần gấp đôi số lƣợng danh từ đa nghĩa có 4 nghĩa Có 103 danh từ chiếm 14,45% danh từ đa nghĩa khảo sát

Ví dụ: anh hùng, bà, bàn đạp, bạn hàng, cháu, danh, dân sự, đẳng cấp,

điểm tựa, ghế, giấc, giây,

Các danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa chiếm tỷ lệ áp đảo Số lƣợng danh từ loại này lên đến 511 từ chiếm 71,67% danh từ khảo sát

Ví dụ: ảnh, bà con, bạn đường, bao, bục, búa, bugi, cao trào, chổ, chổi,

chớp, căn bệnh, chân vịt, chủ nghĩa, địa chất, đạo đức, đạo giáo, đặc vụ, gác, gàu, gọng, gót, gara, gia tài, gia nghiệp, giặc, giấm, gió,

Nhƣ vậy, trong số 5464 danh từ đƣợc khảo sát có 713 danh từ đa nghĩa Dao động đa nghĩa trong danh từ đa nghĩa nằm trong giới hạn 10 nghĩa Số lƣợng danh từ đa nghĩa có 7 và 9 nghĩa là ngang nhau, số lƣợng danh từ đa nghĩa có 8 nghĩa và 10 nghĩa cũng nhƣ nhau Chúng ta có thể hình dung sự phân bố đa nghĩa danh từ tiếng Việt nhƣ sau:

SLTĐN

% 71,67 14,45 8,70 2,66 0,84 0,70 0,14 0,70 0,14 100 Ghi chú:

SLN: Số lƣợng nghĩa

SLTĐN: Số lƣợng từ đa nghĩa

TS: Tổng số

Trang 27

2.2.3 Nhận xét

Nhìn chung, danh từ là từ loại cơ bản, chiếm phần quan trọng trong hệ thống của một ngôn ngữ nói chung và của hai ngôn ngữ Anh - Việt nói riêng Hai ngôn ngữ này có số lượng danh từ hơn kém nhau không nhiều, có thể nói là tương đương nhau Theo thống kê của chúng tôi thì tiếng Việt hơn tiếng Anh

31 danh từ trong giới hạn khảo sát (vần A đến G) Tuy nhiên, tình hình đa nghĩa lại khác hẳn nhau Riêng chỉ nói về số lượng, tiếng Anh có đến 1324 danh từ đa nghĩa, chiếm 24,36% Trong khi đó tiếng Việt có con số danh từ đa nghĩa nhỏ hơn gần một nửa (713 danh từ, chiếm 13,05%) Sự khác nhau về lượng này sẽ có dẫn đến những điểm khác nhau về chất

Hơn nữa, cả hai ngôn ngữ đều có sự phân bố đa nghĩa không đồng đều về mặt lượng Số lượng từ đa nghĩa có nhiều nghĩa tỷ lệ nghịch với số lượng từ loại này Danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa chiếm số lượng nhiều nhất trong cả hai ngôn ngữ (73,72% trong tiếng Anh, 71,67% trong tiếng Việt), kế đến là danh từ

đa nghĩa có 3 nghĩa, 4 nghĩa, , số lượng danh từ có 6, 7 nghĩa trở lên ít hơn rất nhiều so với số lượng danh từ 2, 3, 4 nghĩa

Qua phân tích trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy giới hạn giao động đa nghĩa trong danh từ đa nghĩa tiếng Anh là 7 nghĩa; trong khi đó giới hạn giao động này ở tiếng Việt cao hơn, số nghĩa cao nhất lên đến 10 nghĩa Nói khác đi, danh từ đa nghĩa tiếng Anh có nhiều nghĩa nhất là 7 nghĩa; danh từ đa nghĩa tiếng Việt nhiều nghĩa nhất là 10 nghĩa Như vậy, xét về mặt này, số lượng nghĩa của danh từ nhiều nghĩa nhất của tiếng Anh ít hơn số lượng nghĩa của danh từ nhiều nghĩa nhất trong tiếng Việt Đây có lẽ là sự khác nhau lớn nhất trong dung lượng ngữ nghĩa của từ đa nghĩa của hai ngôn ngữ Có thể giải thích hiện tượng này theo hai lý do Thứ nhất, hai ngôn ngữ Anh, Việt có loại hình khác nhau cho nên đơn vị từ vựng trong hệ thống của mỗi ngôn ngữ được cấu tạo bằng những cách thức khác nhau Trong cấu tạo của mỗi ngôn ngữ lại có những quy tắc riêng bổ trợ lẫn nhau để có thể tạo lập nên một ngôn ngữ hoàn

Trang 28

thiện Chẳng hạn loại này khuyết đi thì loại khác sẽ dư ra để bù đắp vào Điều

đó minh chứng cho thực tế: số nghĩa lớn nhất của danh từ đa nghĩa tiếng Anh nhỏ hơn số nghĩa lớn nhất của danh từ đa nghĩa tiếng Việt nhưng bù lại số lượng từ đa nghĩa trong ngôn ngữ này lại cao hơn khá nhiều so với tiếng Việt Hơn nữa, sự khác nhau này còn do đặc trưng văn hoá, đặc điểm tư duy của mỗi dân tộc Mỗi dân tộc có một cách tri nhận, phân chiết thực tại khác nhau

Nếu dừng ở mức từ 2 đến 7 nghĩa thì số lượng danh từ đa nghĩa tiếng Anh nhiều hơn hẳn so với số lượng danh từ đa nghĩa tiếng Việt Song nếu tính ở mức 8 đến 10 nghĩa thì tình hình hoàn toàn khác Ở mức này, chỉ xuất hiện những danh từ đa nghĩa của tiếng Việt, cho dù số lượng không nhiều: có 1 từ 8 nghĩa, 5 từ 9 nghĩa và 1 từ 10 nghĩa

Như vậy, sau khi phân tích về dung lượng nghĩa của danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta thấy danh từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ này vừa có những điểm tương đồng vừa có những điểm khác biệt Sự tương đồng và khác biệt thể hiện ở đặc điểm về số lượng nghĩa, về sự phân bố

đa nghĩa của danh từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ như sau:

SỐ LƯỢNG

NGHĨA

TỪ ĐA NGHĨA T.ANH TỪ ĐA NGHĨA T.VIỆT

SỐ LƯỢNG TỪ ĐA NGHĨA TỶ LỆ (%)

SỐ LƯỢNG TỪ ĐA NGHĨA TỶ LỆ (%)

Trang 29

Có thể nói, danh từ là từ loại quan trọng bậc nhất và chiếm một số lượng lớn trong trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ Danh từ gắn liền với tên gọi về khái niệm, về sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, cách thức phản ánh sự vật, hiện tượng của con người ở mỗi dân tộc lại khác nhau, thậm chí ngay cả cách thức, quy luật cấu tạo trong cấu trúc nội tại của mỗi ngôn ngữ cũng khác nhau Song ngôn ngữ nào cũng có thành tố cấu tạo của nó Chúng ta cùng xem xét sự phân

bố đa nghĩa trên bình diện cấu tạo từ trong hai ngôn ngữ Anh, Việt

2.3 Sự phân bố danh từ đa nghĩa tiếng Anh, tiếng Việt xét trên phương

diện cấu tạo từ

Chúng ta biết rằng tiếng Anh và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình Cho nên về phương diện cấu tạo từ của hai ngôn ngữ sẽ có những điểm tương đồng và khác biệt Tuy nhiên, mục đích của luận văn ở đây không phải dừng ở so sánh hai phương thức cấu tạo từ của hai ngôn ngữ Ở phần này, luận văn tập trung vào đối chiếu định lượng của danh từ đa nghĩa Anh - Việt xét trên phương diện cấu tạo Để thực hiện đối chiếu đạt hiệu quả, trong phần này chúng tôi sẽ phải lựa chọn một cơ sở chung, cơ sở đồng nhất trong phương thức cấu tạo từ của hai ngôn ngữ Dựa trên cơ sở chung ấy ta mới có thể đối sánh và tìm ra những đặc điểm riêng biệt của danh từ đa nghĩa Anh và Việt trong phương thức cấu tạo của chúng

2.3.1 Sự phân bố danh từ đa nghĩa tiếng Anh trên phương diện cấu tạo từ

Trong tiếng Anh, danh từ được thành lập qua ba hình thức Thứ nhất là nhờ sự chuyển loại Đây là hình thức tạo danh từ mà không cần thêm phụ tố Chẳng hạn: một động từ tương ứng với một danh từ, một tính từ tương ứng với

một danh từ và ngược lại Ví dụ như từ catch, walk, love vừa là danh từ vừa

là động từ, hay từ daily, comic vừa là danh từ, vừa là tính từ Phương thức thứ hai là thêm phụ tố vào từ gốc tạo danh từ như happiness, freedom, depth,

production, reading Cũng cần phải nói thêm, những hình vị ness, dom, th, ion, ing, chính là những hình vị hạn chế (bound morphemes) chỉ có giá trị về

Trang 30

hình thái Cuối cùng, danh từ ghép được tạo thành việc kết hợp hai hoặc nhiều

hơn hai hình vị tự do (free morphemes) với nhau như classroom, blackboard,

dining room, income

Như vậy, đa số các danh từ tiếng Anh được thành lập bằng cách thêm phụ

tố hoặc ghép các hình vị với nhau Tuy nhiên, để thuận lợi cho nghiên cứu, khi xét đến cấu tạo từ chúng tôi chỉ quan tâm tới thành tố gốc và lấy thành tố gốc làm cơ sở Vì thế, những danh từ phái sinh (danh từ có cấu tạo là một gốc từ và phụ tố) được xếp vào cùng loại với danh từ được thành lập do chuyển đổi

Ngữ pháp tiếng Anh chia danh từ thành nhiều loại, song xét trên phương diện cấu tạo có thể chia thành hai loại là từ đơn (one word nouns) và từ ghép (compound nouns) [54]

Sau khi khảo sát 1324 danh từ đa nghĩa tiếng Anh chúng tôi tổng hợp được kết quả sự phân bố danh từ đa nghĩa tiếng Anh trên phương diện cấu tạo

là từ ghép Về mặt chất lượng, sự phân bố đa nghĩa ở từ đơn cũng đều đặn hơn

ở từ ghép cụ thể như sau:

Trong số 974 danh từ đa nghĩa có hai nghĩa thì đa số là từ đơn, con số lên đến 865 từ và từ ghép có 109 từ Như vậy, từ đơn chiếm 88,8% và chỉ nhường 11,2% còn lại cho từ ghép

Trang 31

Ví dụ danh từ đa nghĩa là từ đơn: agency (đại lý), aid (sự giúp đỡ), angel (thiên thần), basket (cái rổ)

Ví dụ danh từ đa nghĩa là từ ghép: backbone (cột trụ), baseline (vạch biên ngang), big business (kinh doanh lớn), bithplace (nơi sinh), cloakroom (phòng

giữ mũ áo)

Số lượng từ đơn còn chiếm vị trí khá độc tôn ở loại danh từ đa nghĩa có 3 nghĩa

Ví dụ: bank (ngân hàng), ball (quả bóng), bed (cái giường), belt (dây lưng), book (quyển sách), brother (anh em trai), calf (con bê), cause (nguyên nhân), cell (phòng nhỏ), clock (đồng hồ), coat (áo chàng), colony (thuộc địa)

Trong 217 danh từ đa nghĩa 3 nghĩa có đến 211 từ đơn, chiếm 97,2% và chỉ có 6 từ ghép với 2,8%

Sáu từ đó là: backgound (nền), chest nut (cây hạt dẻ), featherweight (võ

sỹ hạng lông), foothold (chỗ đặt chân), gateway (cổng ra vào), golfclub (hội

chơi gôn)

Các danh từ có 4 nghĩa trở lên chỉ phân bố ở danh từ đa nghĩa là từ đơn chứ không phân bố ở từ ghép Cụ thể là ở loại danh từ đa nghĩa có 4 nghĩa có tất cả 89 từ đơn, chiếm 100% tổng số danh từ loại này

Ví dụ: air (không khí), bar (thỏi), bag (cái túi), benefit (lợi nhuận), brain (bộ não), board (tấm ván), bridge (cái cầu),

Tình trạng tương tự xảy ra ở loại danh từ đa nghĩa có 5 nghĩa Danh từ loại này có 28 từ thì tất cả đều là từ đơn, cũng chiếm 100%

Ví dụ: affair (vấn đề), art (nghệ thuật), circulation (sự tuần hoàn),

chip (mảnh vụn), entry (lối vào), exercise (sự tập luyện), fault (lỗi lầm), grain (ngũ cốc),

Trong tổng số 11 danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa thì từ đơn cũng chiếm 100% (11 từ)

Ví dụ: field (cánh đồng), finger (ngón tay), flight (sự tháo chạy)…

Trang 32

Và sau cùng loại danh từ đa nghĩa có nhiều nghĩa nhất, nhưng lại ít từ nhất, loại danh từ đa nghĩa có 7 nghĩa này chỉ có 5 từ thì cả 5 từ đó cũng đều là

từ đơn và cũng chiếm 100%

Ví dụ: defence (sự phòng thủ), element (yếu tố), end (cuối)

Cơ sở tồn tại hiện tượng này chính là các từ có nhiều nghĩa (4 nghĩa trở lên) hầu hết đều thuộc vốn từ vựng cơ bản Đây là vốn từ xuất hiện sớm, có khả năng phái sinh nghĩa cao Còn các danh từ ghép thường là những danh xuất hiện sau, thường được cấu tạo dựa trên những thành tố đã có, dùng để gọi tên, dẫn xuất các khái niệm mới xuất hiện

Như vậy, trong tổng số 1324 danh từ đa nghĩa tiếng Anh mà chúng tôi

khảo sát thì tuyệt đại bộ phận là từ đơn Từ đơn có đến 1209 từ chiếm 91% Trong khi đó chỉ có 9% con số danh từ khảo sát là từ ghép (115 từ) Con số này

chưa phải là tất cả song phần nào cũng phản ánh được tình hình chung của danh

từ đa nghĩa trong tiếng Anh - một ngôn ngữ ra đời từ rất sớm và có thời gian tồn khá lâu dài và là ngôn ngữ đã, đang có vị trí quan trọng trên thế giới

2.3.2 Sự phân bố danh từ đa nghĩa tiếng Việt trên phương diện cấu tạo từ

Không giống như tiếng Anh, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập Trong tiếng Việt, khái niệm từ đơn trùng với âm tiết trùng với hình vị Do đặc điểm

đó, trong phần này luận văn có dùng thuật ngữ từ đơn tiết và từ đa tiết thay vì

từ đơn và từ ghép

Do đặc điểm của một ngôn ngữ đơn lập, tiếng Việt có phương thức cấu tạo

từ chủ yếu bằng phương thức ghép từ Theo ngữ pháp truyền thống, từ được chia thành từ đơn (từ đơn tiết) và từ ghép (từ đa tiết) [2]

Sau khi khảo sát 713 danh từ đa nghĩa tiếng Việt chúng tôi nhận thấy cũng giống như tiếng Anh, sự phân bố đa nghĩa danh từ trong từ đơn và từ ghép là không đồng đều trên cả hai mặt số lượng cũng như chất lượng Số lượng từ ghép nhiều hơn số lượng từ đơn Mặc dù vậy, con số chênh lệch thực sự không quá lớn như trong tiếng Anh

Trang 33

Ở tiếng Việt, sự phân bố đa nghĩa ở từ đơn tiết (từ đơn) lại đều đặn hơn sự phân bố đa nghĩa ở từ đa tiết (từ ghép) Từ đơn (từ đơn tiết) có mặt ở các loại

danh từ đa nghĩa (từ danh từ có đa nghĩa ít nhất - 2 nghĩa đến danh từ đa nghĩa nhiều nghĩa nhất - 10 nghĩa) Trong khi đó từ ghép (từ đa tiết) lại không có được tần số xuất hiện cao như vậy Từ ghép chỉ có mặt trong những danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa trở xuống, và nghĩa càng nhiều thì số lượng từ càng ít Còn với những danh từ đa nghĩa có 7 nghĩa trở lên từ ghép hoàn toàn vắng bóng Chúng ta có thể hình dung sự phân bố danh từ đa nghĩa tiếng Việt trên phương diện cấu tạo từ cụ thể như sau:

511 71,67%

74,76%

26 25,24%

103 14,45%

79,03%

13 20,97%

62 8,70%

89,47%

2 10,53%

19 2,66%

83,33%

1 16,67%

6 0,84%

100%

0 0%

5 0,70%

100%

0 0%

1 0,14%

100%

0 0%

5 0,70%

100%

0 0%

1 0,14%

49, 23%

362 50,77%

713 100%

Qua bảng tổng hợp trên chúng ta dễ dàng nhận thấy sự phân bố số lượng giữa từ đa nghĩa và từ đơn nghĩa là không đều ngay trong bản thân mỗi loại danh từ đa nghĩa

Trang 34

Trong số 511 danh từ đa nghĩa có hai nghĩa thì hai phần ba là từ ghép, với

số lượng là 320 từ và từ đơn có 191 từ Như vậy, từ ghép chiếm 62,62% và 37,38% còn lại cho từ đơn

Ngược lại với danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa, ở danh từ đa nghĩa có 3 nghĩa thì từ đơn chiếm hai phần ba số lượng Cụ thể là: loại này có tất cả 103 từ thì

có đến 77 từ là từ đơn, chiếm 74,76% và 26 từ ghép, chiếm 25,24%

Các trường hợp danh từ đa nghĩa có 4 nghĩa, 5 nghĩa và 6 nghĩa thì số lượng từ đơn cũng chiếm ưu thế hơn nhiều so với từ ghép Trong 62 danh từ đa nghĩa có 4 nghĩa thì có 49 từ đơn, chiếm 79,03% và 13 từ ghép, chiếm 20,97% Con số từ đơn: 17 (chiếm 89,47%), với 2 từ ghép (10,53%) là tỷ lệ từ đơn từ ghép của danh từ đa nghĩa có 5 nghĩa Loại từ đa nghĩa có 6 nghĩa chỉ có 1 từ duy nhất là từ ghép (16,67%), 5 từ còn lại là từ đơn (83,33%)

Đặc biệt, các danh từ đa nghĩa có 7 nghĩa trở lên chỉ phân bố ở từ đơn âm tiết chứ không phân bố ở từ đa âm tiết Trong tiếng Việt có hiện tượng này là vì các danh từ đa nghĩa nhiều (từ 6 nghĩa trở lên) hầu hết đều thuộc vốn từ vựng

cơ bản Đó là vốn từ vựng thuần Việt, xuất hiện sớm nhất Theo dòng thời gian, những danh từ này đã có một quá trình tồn tại và phát triển khá lâu dài Lịch sử phát triển nghĩa lâu dài của chúng đã tạo cho chúng có khả năng sản sinh nghĩa tương đối cao

Nhìn một cách tổng quát, đa nghĩa trong danh từ đa tiết nhỉnh hơn đa nghĩa trong danh từ đơn tiết không nhiều (chỉ có 1,54%) Trong 713 danh từ đa nghĩa khảo sát thì 50,77% là danh từ đa tiết (từ ghép) và 49,23% là danh từ đơn tiết (từ đơn) Điều này, tất nhiên, cũng có nguyên căn của nó Trong quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội, các sự vật, khái niệm mới xuất hiện và con người

có nhu cầu gọi tên chúng Thực tế, để gọi tên chúng, với mục đích loại biệt chúng với các sự vật cùng loại gần gũi, đồng thời xếp chúng vào một phạm trù

Trang 35

đồng loại lớn hơn hoặc khái quát hoá, trừu tượng hoá các đơn vị ngôn ngữ cùng loại, hay dị biệt về nghĩa, hoặc sắc thái hoá thì người ta có thể ghép hoặc láy lại, lặp lại các đơn vị ngôn ngữ đơn tiết Bằng cách này, các đơn vị định danh trong danh từ nói riêng và ngôn ngữ nói chung đã được đa tiết hoá Hơn nữa, khái niệm “sự vật tính” trong thực tại là vô cùng lớn cho nên các đơn vị ngôn ngữ danh từ mới được cấu tạo đa tiết đa nghĩa cũng rất lớn

2.3.3.Nhận xét

Như vậy, xét trên phương diện cấu tạo từ, sự phân bố danh từ đa nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt có những nét tương đồng Đó là sự phân bố đa nghĩa không đều ở cả hai mặt số lượng và chất lượng giữa từ đơn và từ ghép

Trong cả hai ngôn ngữ sự phân bố đa nghĩa ở từ đơn khá đều đặn Tuy nhiên, trong tiếng Anh sự phân bố đa nghĩa danh từ chỉ giới hạn trong phạm vi những danh từ đa nghĩa có từ 2 đến 7 nghĩa, tức là trong 7 thứ bậc số lượng nghĩa của từ Danh từ đa nghĩa tiếng Việt được phân bố trong 9 thứ bậc (danh

từ đa nghĩa có 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 nghĩa) Số lượng từ đa nghĩa có nhiều nghĩa tỷ lệ nghịch với số lượng nghĩa của nó Nói cách khác, những danh từ đa nghĩa có nghĩa càng nhiều thì số lượng từ càng ít Tuy nhiên, mật độ phân bố dày hay mỏng, ít hay nhiều đã được trình bày cụ thể trong từng ngôn ngữ Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt danh từ đa nghĩa được phân bố ở từ ghép một cách khá cục bộ Nhìn chung, những danh từ đa nghĩa nhiều toàn là những

từ đơn, hầu như từ ghép vắng bóng Trong tiếng Anh danh từ đa nghĩa là từ ghép chỉ phân bố ở 2 thứ bậc: danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa và danh từ đa nghĩa

có 3 nghĩa Hơn nữa, con số cũng không lớn lắm, 9% trong tổng số danh từ đa nghĩa Trong tiếng Việt, thoạt nhìn có vẻ sự phân bố rộng hơn vì dao động đa nghĩa của tiếng Việt rộng hơn tiếng Anh Danh từ đa nghĩa tiếng Việt được

Trang 36

phân bố ở 5 thứ bậc: danh từ đa nghĩa có 2, 3, 4, 5, và 6 nghĩa (bậc này chỉ có một trường hợp)

Mặt khác, hai ngôn ngữ với hai loại hình khác biệt này có nhiều nét dị biệt hơn là tương đồng Chúng ta sẽ thấy sự khác biệt khi đi sâu vào tìm hiểu chi tiết Trước hết chúng ta thấy tỷ lệ đa nghĩa phân bố trên từ đơn và từ ghép trong hai ngôn ngữ là khác nhau Tỷ lệ danh từ đa nghĩa là từ đơn chiếm đa số trong tiếng Anh (91%) nhưng tỷ lệ này lại chỉ chiếm khoảng gần một nửa trong tiếng Việt (49,23%) Danh từ đa nghĩa trong tiếng Việt phân bố nhiều hơn ở từ ghép

và trong tiếng Anh lại phân bố nhiều hơn ở từ đơn

Theo chúng tôi có hiện tượng này là do đặc điểm loại hình của mỗi ngôn ngữ quyết định Không phải đâu khác mà chính ở đây đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện Hình thái bên trong với tư cách là phương thức, là đặc điểm dân tộc, nhờ đó mà một dân tộc biểu hiện được tư tưởng tình cảm trong ngôn ngữ Chính hình thái bên trong cho phép gọi tên phân biệt ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác Nó là cách nhìn đặc thù tiêu biểu của mỗi dân tộc về các sự vật hiện tượng và để lại dấu ấn trong ngôn ngữ dân tộc đó Đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ, đặc biệt là loại hình ngôn ngữ, có ảnh hưởng quan trọng đến đặc tính của các thủ pháp định danh (phái sinh, ghép từ, ) Chính các thủ pháp này làm nên đặc trưng hành vi ngôn ngữ

Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình nên phương thức cấu tạo từ chủ yếu là qua con đường thêm phụ tố Đặc biệt với danh từ, hình thức thêm phụ tố chiếm

ưu thế khá cao Đây là phương thức cơ bản cấu tạo danh từ tiếng Anh Còn tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, số lượng hạn chế về kiểu âm tiết đã hạn chế rất nhiều khả năng phân biệt của ngôn ngữ thậm chí ngay cả khi nó có cả hệ thống thanh điệu Để bù đắp lại sự thiệt thòi như vậy về mặt ngôn ngữ, trong tiếng Việt đã có sự tăng cường cấu tạo từ Điều đó làm cho tiếng Việt ngày

Trang 37

càng xuất hiện nhiều từ đa tiết Phương thức ghép các yếu tố có sẵn là phương thức chủ yếu để cấu tạo các đơn vị từ vựng Phương thức cấu tạo danh từ tiếng Việt cũng không nằm ngoài quy luật này Và cũng nhờ đó từ những đơn vị từ vựng đơn tiết sẵn có qua phương thức ghép mà vốn từ vựng tiếng Việt trở nên phong phú, đa dạng

Sự khác nhau về mặt lượng trong phân bố danh từ đa nghĩa Anh, Việt có

thể trình bày cụ thể hơn như sau:

Với loại danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa, sự phân bố đa nghĩa của danh từ đa nghĩa Anh, Việt giữa từ đơn và từ ghép là không tương xứng Trong khi ở tiếng Anh danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa đa số là từ đơn (88,8%), chỉ còn 11,2% cho từ ghép thì ở tiếng Việt danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa phần lớn là từ ghép (622,62%), và 37,38% cho từ đơn

Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt thì từ đơn chiếm ưu thế ở hơn từ ghép ở loại danh từ đa nghĩa có 3 nghĩa Mặc dù vậy, ở tiếng Anh từ đơn vẫn chiếm ưu thế hơn (97,2%), còn lại 2,8% dành cho từ ghép Ở tiếng Việt, con số 74,76% dành cho từ đơn và 25,24% dành cho từ ghép

Hai loại danh từ đa nghĩa có 4 và 5 nghĩa tiếng Anh có con số tuyệt đối 100% dành cho từ đơn Trong khi đó, ở tiếng Việt con số tròn chĩnh 100% lại được chia cho cả từ đơn và từ ghép Từ đơn vẫn chiếm ưu thế hơn: 79,03% dành cho từ đơn loại danh từ có 4 nghĩa; 98,47% dành cho loại danh từ 5 nghĩa

Loại danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa trong tiếng Anh không phân bố ở từ ghép, chỉ có ở từ đơn (100%) thì loại này ở tiếng Việt lại chiếm 16,67% cho từ ghép, và 83,33% cho từ đơn

Loại danh từ có nhiều nghĩa nhất trong tiếng Anh (7 nghĩa) và danh từ đa nghĩa có 7 đến 10 nghĩa trong tiếng Việt đều không phân bố ở từ ghép, 100% dành cho từ đơn

Trang 38

Chúng ta có thể hình dung đặc điểm phân bố đa nghĩa danh từ Anh, Việt qua bảng tổng hợp sau:

TỪ ĐƠN TỪ GHÉP TỔNG TỪ ĐƠN TỪ GHÉP TỔNG

88,8%

109 11,2%

974 73,56%

191 37,38%

320 62,62%

511 71,67%

97,2%

6 2,8%

217 16,39%

77 74,76%

26 25,24%

103 14,45%

100%

0 0%

89 6,72%

49 79,03%

13 20,97%

62 8,70%

100%

0 0%

28 2,12%

17 89,47%

2 10,53%

19 2,66%

100%

0 0%

11 0,83%

5 83,33%

1 16,67%

6 0,84%

100%

0 0%

5 0,38%

5 100%

0 0%

5 0,70%

0%

0 0%

0 0%

1 100%

0 0%

1 0,14%

0%

0 0%

0 0%

5 100%

0 0%

5 0,70%

0%

0 0%

0 0%

1 100%

0 0%

1 0,14% TỔNG 1209

91%

115 9%

1.324 100%

351 49,23%

362 50,77%

713 100%

Qua phân tích về dung lượng nghĩa của danh từ đa nghĩa trong tiếng Anh

và tiếng Việt chúng ta thấy một đặc điểm nổi bật nữa Đó là mối quan hệ giữa cấu tạo hình thức và nội dung của nó Kết quả khảo sát cho thấy các danh từ nhiều nghĩa thường là những từ có cấu trúc khá đơn giản Trong tiếng Việt, các danh từ đa nghĩa có nhiều nghĩa là những từ đơn (từ một âm tiết/hình vị) Những danh từ đa nghĩa hai ba âm tiết (hình vị) là rất ít Trong tiếng Anh, điều này thể hiện rõ nét hơn Các danh từ đa nghĩa thường được cấu tạo ít hình vị hơn, có cấu trúc hình thái đơn giản hơn Các danh từ ghép thường ít đa nghĩa Điều đó cho chúng ta đi đến kết luận là các đơn vị mà mối quan hệ giữa hình

Trang 39

thức và ý nghĩa có tính võ đoán cao thường dễ phát triển đa nghĩa và mối quan

hệ về tính phức tạp giữa cấu tạo nội dung và hình thức các đơn vị từ vựng như

là một mối quan hệ tỷ lệ nghịch Đơn vị cấu tạo nội dung phức tạp, đa nghĩa thường có cấu tạo hình thức đơn giản và ngược lại, các đơn vị có cấu tạo hình thức phức tạp thì cấu tạo nội dung đơn giản hơn (thường đa nghĩa với số lượng không nhiều) Ở đây tính đối xứng của hai mặt tín hiệu bộc lộ rõ hơn, cụ thể hơn và càng thấy rõ là con người sử dụng ngôn ngữ tự nhiên một cách tối ưu, tiết kiệm, khai thác các hình thức hữu hạn để biểu đạt nội dung phong phú, đa dạng vô hạn

2.4 Tiểu kết

Trong chương này chúng tôi tiến hành phân tích đối chiếu về mặt định lượng của danh từ đa nghĩa tiếng Anh với danh từ đa nghĩa tiếng Việt và qua đó chúng ta thấy được những đặc điểm của danh từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ Trước hết, chúng tôi tiến hành khảo sát 5433 danh từ tiếng Anh và 5464 tiếng Việt Kết quả thu đựơc 1324 danh từ đa nghĩa tiếng Anh và 713 danh từ

đa nghĩa tiếng Việt Sau đó chúng tôi tiến hành phân tích, đối chiếu về mặt định lượng của chúng trên hai bình diện

Thứ nhất, luận văn tập trung vào phân tích sự phân bố từ đa nghĩa trong danh từ Anh - Việt Luận văn đã chỉ rõ số lượng từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ chênh nhau đáng kể (số lượng từ đa nghĩa của tiếng Anh gấp đôi của tiếng Việt) Trong 1324 danh từ đa nghĩa tiếng Anh phân bố không đồng đều ở các danh từ đa nghĩa có 2, 3, 4, 5, 6 và 7 nghĩa Trong đó số lượng từ đa nghĩa có 2 nghĩa nhiều nhất (974 từ, chiếm 73,72%); số lượng từ đa nghĩa có nhiều nghĩa nhất 7 nghĩa là ít nhất (5 từ, chiếm 6,38%) Trong 713 danh từ đa nghĩa tiếng Việt phân bố rải rác ở các danh từ đa nghĩa có từ 2 đến 10 nghĩa Số lượng cao

Trang 40

nhất tập trung ở danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa (551 từ, 71,67% ) Số lượng từ đa nghĩa có nhiều nghĩa nhất (10 nghĩa) rất ít 0,14% (1 từ)

Thứ hai, luận văn phân tích sự phân bố danh từ đa nghĩa Anh - Việt trên phương diện cấu tạo từ Phần này chúng tôi lấy cơ sở chung cho việc phân định cấu tạo là từ đơn và từ ghép cho cả hai ngôn ngữ

Trong tiếng Anh tuyệt đại đa số danh từ đa nghĩa được phân bố ở từ đơn (91%) Số lượng này đựơc phân bố rải rác không đều ở nhóm danh từ đa nghĩa

có từ 2 đến 7 nghĩa Trong đó, nhiều nhất là số lượng danh từ đa nghĩa có 2 nghĩa; ít nhất là danh từ đa nghĩa có 7 nghĩa Trong 115 danh từ đa nghĩa là từ ghép chỉ phân bố ở danh từ đa nghĩa có 2 và 3 nghĩa Các danh từ có từ 3 nghĩa trở lên không có mặt từ ghép

Trong tiếng Việt danh từ đa nghĩa phân bố ở từ ghép nhiều hơn từ đơn Trong 362 từ ghép lại chỉ được phân bố cho các danh từ đa nghĩa có 2 đến 6 nghĩa, từ 7 nghĩa trở lên không có mặt từ ghép

Dựa vào những số liệu đa phân tích và những đặc điểm đa nghĩa danh từ Anh - Việt, chúng tôi tiếp tục tiến hành phân tích đặc điểm nội dung các nhóm danh từ đa nghĩa và tìm cách chuyển dịch danh từ đa nghĩa Anh - Việt trong chương cuối

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái. Cuối cùng, danh từ ghép đƣợc tạo thành việc kết hợp hai hoặc nhiều  hơn hai hình vị tự do (free morphemes) với nhau nhƣ  classroom, blackboard,  dining room, income .. - Phân tích đối chiếu chuyển dịch ngữ nghĩa của một số nhóm danh từ đa nghĩa tiếng Anh sang tiếng Việt
Hình th ái. Cuối cùng, danh từ ghép đƣợc tạo thành việc kết hợp hai hoặc nhiều hơn hai hình vị tự do (free morphemes) với nhau nhƣ classroom, blackboard, dining room, income (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w