Tư liệu sử dụng trong luận án được trích từ các tác phẩm văn học Anh hiện đại các tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt, một số từ điển song ngữ Anh - Việt, Việt - Anh, một số công t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
–––––
TRẦN THỊ MAI ĐÀO
TRẠNG TỪ GIA NGỮ TIẾNG ANH
VÀ CÁCH BIỂU ĐẠT TƯƠNG ĐƯƠNG
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, 2009
Trang 2MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
12
MỞ ĐẦU 13
1 Giới thiệu đề tài luận án
2 Tính thời sự của đề tài luận án
3 Cái mới và ý nghĩa của luận án
4 Đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận án
5 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu của luận án
6 Phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của luận án
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến luận án 21
1.2 Trạng từ trong tiếng Anh 24
1.2.1 Trạng từ tiếng Anh trong hệ thống từ loại tiếng Anh 1.2.2 Đặc điểm của trạng từ tiếng Anh
1.2.2.1 Về mặt hình thái học 1.2.2.2 Về chức năng cú pháp 1.2.2.3 Về chức năng ngữ nghĩa
Trang 31.3 Vấn đề trạng từ trong tiếng Việt 45
1.3.1 Phó từ tiếng Việt trong hệ thống từ loại tiếng Việt 1.3.2 Đặc điểm của phó từ tiếng Việt
1.4 Cách hiểu về gia ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt 55
1.4.1 Gia ngữ tiếng Anh
1.4.1.1 Quan điểm về gia ngữ của R Quirk 1.4.1.2 Quan điểm về gia ngữ của M A K Halliday 1.4.1.3 Quan điểm về gia ngữ của tác giả luận án 1.4.2 Gia ngữ tiếng Việt
2.1.2.1 Chức năng của trạng từ gia ngữ địa điểm 2.1.2.2 Vị trí và trật tự của trạng từ gia ngữ địa điểm 2.1.3 Trạng từ gia ngữ thời gian
2.1.3.1 Chức năng của trạng từ gia ngữ thời gian
Trang 42.1.3.2 Vị trí và trật tự của trạng từ gia ngữ thời gian 2.2 Trạng từ gia ngữ tiếng Anh vừa bổ nghĩa cho vị tố vừa bổ nghĩa
cho những phần khác trong câu: chức năng 2 95
2.2.1 Trạng từ gia ngữ nhấn mạnh
2.2.1.1 Chức năng của trạng từ gia ngữ nhấn mạnh 2.2.1.2 Vị trí và trật tự của trạng từ gia ngữ nhấn mạnh 2.2.2 Trạng từ gia ngữ tiêu điểm
2.2.2.1 Chức năng của trạng từ gia ngữ tiêu điểm 2.2.2.2 Vị trí và trật tự của trạng từ gia ngữ tiêu điểm 2.3 Trạng từ gia ngữ tiếng Anh với khả năng diễn đạt nghĩa chu cảnh
3.1.2.1 Mô hình trật tự 3.1.2.2 Cách biểu đạt tương đương 3.1.3 Trạng từ gia ngữ phương thức ở đầu câu
Trang 53.1.3.1 Mô hình trật tự 3.1.3.2 Cách biểu đạt tương đương 3.1.4 Những trường hợp đặc biệt
3.2 Cách biểu đạt tương đương của trạng từ gia ngữ địa điểm
131
3.2.1 Trạng từ gia ngữ vị trí 3.2.2 Trạng từ gia ngữ phương hướng
3.2.2.1 Trạng từ gia ngữ nêu điểm đến hoặc đích đến 3.2.2.2 Trạng từ gia ngữ phương hướng nêu mối liên hệ
lẫn nhau 3.2.2.3 Trạng từ gia ngữ nêu chuyển động xa dần
3.2.2.4 Trạng từ gia ngữ nêu chuyển động theo một con đường
3.2.2.5 Trạng từ gia ngữ nêu chuyển động qua một vật 3.2.2.6 Trạng từ gia ngữ nêu chuyển động theo hướng
bất định
3.3 Cách biểu đạt tương đương của trạng từ gia ngữ thời gian 145
3.3.1 Trạng từ gia ngữ nêu thời điểm xác định 3.3.2 Trạng từ gia ngữ tần suất
3.3.3 Trạng từ gia ngữ nêu mối liên hệ thời gian 3.3.4 Những trường hợp đặc biệt
3.3.4.1 Trạng từ gia ngữ nêu thời điểm xác định: now 3.3.4.2 Trạng từ gia ngữ nêu tần suất bất định: never
Trang 63.3.4.3 Trạng từ gia ngữ nêu mối liên hệ thời gian: still
4.1.2.1 Yếu tố bổ nghĩa là yếu tố bậc 6 4.1.2.2 Yếu tố bổ nghĩa là yếu tố nhấn mạnh 4.1.2.3 Yếu tố bổ nghĩa là yếu tố giảm nhẹ 4.1.3 Những trường hợp đặc biệt
4.2 Cách biểu đạt tương đương của trạng từ gia ngữ tiêu điểm
185
4.2.1 Trạng từ gia ngữ tiêu điểm đứng trước vị tố 4.2.2 Trạng từ gia ngữ tiêu điểm đứng trước chủ ngữ 4.2.3 Trạng từ gia ngữ tiêu điểm đứng trước tân ngữ 4.2.4 Những trường hợp đặc biệt
4.3 Tiểu kết 190
Trang 7KẾT LUẬN 192
TÀI LIỆU THAM KHẢO 198
TƢ LIỆU TRÍCH DẪN 213
PHỤ LỤC 214
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
1 Biểu 1.1: Các chức năng của trạng từ tiếng Anh theo R Quirk
2 Biểu 1.2: Phân loại trạng từ tiếng Anh theo S Chalker
3 Biểu 1.3: Phân loại trạng từ tiếng Anh theo quan điểm ngữ pháp truyền thống của các tác giả tiêu biểu
4 Biểu 1.4: Các loại gia ngữ theo M A K Halliday
5 Biểu 2.1: Phân loại gia ngữ thời gian tiếng Anh
6 Biểu 2.2: Vị trí thường gặp của một số trạng từ gia ngữ mối liên hệ thời gian trong tiếng Anh
7 Biểu 2.3: Khả năng xuất hiện của trạng từ gia ngữ mối liên hệ thời gian tiếng Anh trong câu
8 Biểu 2.4: Phân loại gia ngữ nhấn mạnh tiếng Anh dựa vào ngữ nghĩa
9 Biểu 2.5: Vị trí và khả năng kết hợp của far và much
10 Biểu 2.6: Khả năng kết hợp của fairly, quite và rather
11 Biểu 2.7: Vị trí và khả năng kết hợp của fairly, quite và rather
12 Biểu 2.8:Các loại cảnh huống theo M A K Halliday
13 Biểu 3.1: Khung câu theo R Quirk
14 Biểu 3.2: Thành phần câu theo M A K Halliday
15 Biểu 3.3: Tỷ lệ biểu đạt tương đương mô hình E1: CN+ĐTBV//VT+GNpt
16 Biểu 3.4: Tỷ lệ biểu đạt tương đương mô hình E2: CN+ĐTBV//GNpt+VT
Trang 917 Biểu 3.5: Mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ phương thức tiếng Anh (mô hình E1, E2)
18 Biểu 3.6: Tỷ lệ biểu đạt tương đương mô hình E3: GNpt//CN+ĐTBV//VT
19 Biểu 3.7: Mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ phương thức tiếng Anh (mô hình E3)
20 Biểu 3.8: Mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ vị trí tiếng Anh
21 Biểu 3.9: Mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ phương hướng tiếng Anh
22 Biểu 3.10: Mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ thời gian tiếng Anh
23 Biểu 3.11: Tỷ lệ khả năng xuất hiện trong câu của now
24 Biểu 3.12: Tỷ lệ khả năng xuất hiện trong câu của yếu tố thời gian tiếng
Việt trong các biểu đạt tương ứng với những vị trí xuất hiện của now
25 Biểu 3.13: Sự biểu đạt tương đương của now về mặt từ vựng
26 Biểu 4.1: Cách phân loại gia ngữ nhấn mạnh tiếng Anh
27 Biểu 4.2: Mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ nhấn mạnh tiếng Anh
28 Biểu 4.3: Mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ nhấn mạnh tiếng Anh trong cấu trúc của cụm tính từ và cụm trạng từ
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
1 Sơ đồ 1.1: Trạng ngữ tiếng Anh
2 Sơ đồ 1.2: Cụm trạng từ theo A Downing & P Locke
3 Sơ đồ 2.1: Cụm tính từ và cụm trạng từ tiếng Anh theo A Downing & P Locke
4 Sơ đồ 2.2: Vị trí các bổ tố trong cụm trạng từ tiếng Anh
5 Sơ đồ 3.1: Cụm động từ theo A Downing & P Locke
6 Sơ đồ 3.2: Mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
Trang 11CÁCH DỊCH THUẬT NGỮ
Thuật ngữ liên quan đến trạng từ tiếng Anh là một vấn đề đòi hỏi nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu thấu đáo Mục đích chính của chúng tôi khi tiến hành luận án này là tập trung phát hiện cách biểu đạt tương đương của trạng từ tiếng Anh trong chức năng gia ngữ Do đó, chúng tôi chấp nhận những cách dịch thuật ngữ mang tính phổ biến nhất Tuy nhiên, đối với một
số thuật ngữ chúng tôi cũng bổ sung phần lý giải của cá nhân nhưng không
quá sa đà vào việc tranh luận ngay trong luận án này
1 modify và modifier
Từ “modify” được giải thích như sau: “qualify the sense of (a word)” [139, tr 544] Trong đó “qualify” được xác định nghĩa là “limit the meaning of; name the qualities of” (hạn chế nghĩa của; xác định tính chất của) [139, tr 685] Từ điển Anh Việt giải thích từ “modify” là “giới hạn nghĩa của (một từ khác)” nhất là với một tính từ hoặc phó từ [92, tr 1117] và dịch thuật ngữ
“modify” là bổ nghĩa Diệp Quang Ban [3] đã sử dụng thuật ngữ modify với cách hiểu là điều chỉnh và biến đổi nghĩa và dịch thuật ngữ này là điều biến nghĩa Bên cạnh đó, “modify” cũng được Nguyễn Văn Độ gọi là giới định nghĩa theo nội dung của thuật ngữ này là giới hạn và xác định tính chất của một đối tượng nào đó Chúng tôi chấp nhận cách dịch từ “modify” là bổ nghĩa
và “modifier” là bổ tố
2 adverb
Trong một số từ điển hiện được sử dụng ở Việt Nam, thuật ngữ
“adverb” của tiếng Anh được dịch là phó từ [86], phó từ, trạng từ [92], [38] Chúng tôi chọn cách dịch thuật ngữ “adverb” là trạng từ vì những lý do sau:
Trang 12- Thuật ngữ trạng từ đã quen thuộc với người học và người sử dụng
tiếng Anh ở Việt Nam
- Trong tiếng Anh có hàng loạt thuật ngữ liên quan đến “adverb” như là adverbial, adverbial clause, adverbial phrase, … Các thuật ngữ này đã được dùng với cách dịch là trạng ngữ, tiểu cú trạng ngữ, ngữ đoạn trạng ngữ,
…[38, tr 23]
- Trạng từ được nghiên cứu trong luận án này có đặc điểm không hoàn toàn giống với từ loại phó từ trong tiếng Việt
3 adjunct, disjunct và conjunct
Ba loại trạng ngữ này được dịch là gia ngữ, biệt ngữ và liên ngữ trong
luận án này Cách dịch này đã được sử dụng trong luận án của Ngô Đình Phương [65] Tuy nhiên, trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt (2005), Diệp
Quang Ban đã gọi ba thành phần này là gia ngữ, biệt tố và liên tố vì những lý
do sau [tr 49]:
- Gia ngữ: là yếu tố gần gũi với nghĩa biểu biện tức sự thể được diễn đạt trong câu, là thành phần câu (thành phần phụ), đảm nhận chức năng cú pháp trong cấu trúc cú pháp của câu
- Biệt tố: (phần biệt lập), là yếu tố nằm ngoài cấu trúc cú pháp, không liên quan trực tiếp đến sự thể được diễn đạt trong câu
- Liên tố: là yếu tố có chức năng nối kết nghĩa của câu chứa nó với câu khác hoặc với ngữ cảnh bên ngoài văn bản
4 intensifier, emphasizer, amplifier và downtoner
Bốn thuật ngữ này được gọi tên trong luận án như sau:
intensifier: gia ngữ nhấn mạnh
emphasizer: gia ngữ cường điệu
amplifier: gia ngữ khuyếch đại
downtoner: gia ngữ giảm thiểu
Trang 13GNpt: Gia ngữ phương thức (Manner Adjunct)
GNđđ: Gia ngữ địa điểm (Place Adjunct)
GNvt: Gia ngữ vị trí (Position Adjunct)
GNph: Gia ngữ phương hướng (Direction Adjunct)
GNtg: Gia ngữ thời gian (Time Adjunct)
GNtđ: Gia ngữ tiêu điểm (Focus Adjunct)
GNnm: Gia ngữ nhấn mạnh (Intensifier Adjunct)
GNgt: Gia ngữ giảm thiểu (Downtoner Adjunct)
Trang 14MÔ HÌNH
E: Mô hình tiếng Anh
V: Mô hình tương đương trong tiếng Việt
Trang 15MỞ ĐẦU
1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Luận án “Trạng từ gia ngữ tiếng Anh và cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt” có đối tượng nghiên cứu là trạng từ tiếng Anh trong chức
năng gia ngữ/phụ ngữ (adjunct) Trạng từ tiếng Anh trong chức năng gia ngữ
hay gọi gọn là trạng từ gia ngữ được nghiên cứu trong quan hệ với những cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt
2 TÍNH THỜI SỰ CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO ngay trước thềm Hội nghị APEC lần thứ 14 họp tại Hà Nội thực sự là làn gió mát khiến vị thế của nước ta được nâng cao, đồng thời tạo ra động lực kép đẩy Việt Nam tiến những bước xa hơn về ngoại giao và thương mại Trong bối cảnh tiềm tàng cơ hội này, nhu cầu sử dụng tiếng Anh càng cần thiết hơn bao giờ hết
Một trong những khó khăn đối với người Việt sử dụng tiếng Anh (trong học tập và công tác) là sự mơ hồ trong cách hiểu và sự lúng túng khi sử dụng trạng từ tiếng Anh vì trong tiếng Việt không có phạm trù từ loại tương đương một cách rõ nét Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có công trình nào xem xét về sự giống và khác nhau của từ loại này một cách toàn diện, cũng như chưa có công trình nào đề cập đầy đủ về chức năng cú pháp của nó ở cả hai ngôn ngữ Anh và Việt Nói cách khác, việc khảo sát cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh chưa được nghiên cứu đến mức cần thiết
Luận án này, ngoài việc đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn của việc dạy và học tiếng Anh, hy vọng cũng góp được phần tích cực về mặt lý thuyết của ngôn ngữ học
Trang 163 CÁI MỚI VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
Đây là luận án đầu tiên cố gắng xác lập những cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh về nhiều phương diện
và có thể coi là khá đầy đủ Trong luận án này, trạng từ tiếng Anh được xem xét theo nhiều quan điểm, từ quan điểm truyền thống đến quan điểm ngữ pháp chức năng Trên cơ sở đó, trạng từ tiếng Anh được tiếp cận theo quan điểm hiện đại đồng thời có tính chất phổ biến Cụ thể là, trạng từ tiếng Anh được xem xét trong chức năng cú pháp gia ngữ, và cũng không bỏ qua vai trò bổ tố
(modifier) của lớp từ này
Sau đó, chúng tôi cố gắng vận dụng quan điểm về gia ngữ của M A K Halliday để phân tích các nét nghĩa kinh nghiệm và nghĩa liên nhân có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc giảng dạy và biên soạn các giáo trình tiếng Anh cho người Việt và tiếng Việt cho người nói tiếng Anh Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng vào công tác biên dịch và phiên dịch, góp phần vào việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc dịch Anh - Việt, Việt - Anh Bên cạnh đó, kết quả này cũng góp phần vào việc nghiên cứu trạng từ tiếng Anh nói chung và cung cấp cơ sở để nghiên cứu về hoạt
động của biệt ngữ (disjuncts) và liên ngữ (conjuncts) tiếng Anh trong mối
quan hệ với những biểu đạt tương đương của chúng trong tiếng Việt nói riêng
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN Trong tiếng Anh, trạng từ được công nhận là một trong bốn từ loại thuộc nhóm từ loại mở (nhóm này gồm trạng từ, danh từ, động từ và tính từ) hoạt động phổ biến trong câu Chúng là thực từ Hầu như câu nào cũng sử
Trang 17dụng trạng từ, thậm chí có câu còn sử dụng đến ba trạng từ như trong đoạn văn miêu tả sau đây:
It was about 1 forty yards to the gallows I watch the bare brown back
of the prisoner marching in front of me He walked clumsily 2 with his bound
arms but quite steadily 3 with that bobbing gait of the Indian who never 4 straightens his knees At each step, his muscles slid neatly 5 into place, the
lock of hair on his scalp danced up and down 6 , his feet printed themselves cleanly 7 on the wet gravel And once 8 , in spite of the men who gripped him by each shoulder, he stepped slightly 9 aside to avoid a puddle on the path [127,
tr 553]
(Cách khoảng 40 thước Anh (1 thước Anh = 0,914 mét) đến chỗ những
người lính Ireland Tôi quan sát tấm lưng trần màu nâu của tên tù đang đi qua
trước mặt tôi Hắn ta bước đi một cách vụng về với hai tay chồm về phía trước nhưng khá vững vàng với dáng đi nhanh nhẹn của người Ấn Độ người mà không bao giờ duỗi thẳng đầu gối Mỗi bước đi cơ bắp của hắn ta cử động gọn gàng, mớ tóc trên da đầu bồng lên xẹp xuống, đôi chân hắn in hằn ngay ngắn trên nền sỏi mịn ẩm ướt Và một lần, mặc dù những người đàn ông ép
hắn bằng vai, hắn ta bước nhẹ sang bên để tránh vũng nước nhỏ trên đường.)
Trạng từ không những được sử dụng trong các đoạn văn miêu tả như ví
dụ trên đây mà chúng còn được dùng rộng rãi trong những văn bản khoa học:
Trang 18Of the ninety or so 10 naturally 11 occurring elements, about 12 seventy are mentals Of these, over 13 half are put to practical use, although many of them only 14 in small amounts In every household there are dozens of metal implements – from water-tanks to tea-spoons Industrial machinery is made
almost entirely 15 of mentals If man had not learnt to use metals, we would
still 16 be living in the Stone Age Some metals are used in a relatively 17 pure state, for example aluminium, whose lightness and corrosion-resistance make
it especially 18 useful But metals are used mostly 19 with other elements to form alloys and so 20 in this way their properties can be improved and their range of uses widely 21 extended [127, tr 554]
(Trong chín mươi hoặc khoảng chừng ấy những yếu tố xuất hiện tự nhiên , khoảng bảy mươi là kim loại Trong số này trên một nửa được đưa
vào sử dụng trong thực tế, mặc dù phần nhiều trong số này chỉ được sử dụng
với số lượng nhỏ Trong mỗi hộ gia đình có hàng tá đồ dùng kim loại, từ những bồn chứa nước đến những chiếc thìa cà phê Máy móc công nghiệp
được chế tạo hầu như hoàn toàn bằng kim loại Nếu con người không học
cách dùng kim loại chúng ta chắc vẫn đang sống trong thời kỳ đồ đá Một số kim loại được sử dụng trong tình trạng tương đối nguyên chất, ví dụ như
nhôm mà độ sáng và tính chống bào mòn của kim loại này khiến cho nó có
ích một cách đặc biệt Nhưng những kim loại được sử dụng phần lớn với những yếu tố khác để tạo thành những hợp kim và vì thế bằng cách này những
Trang 19đặc tính của nó có thể được cải thiện và phạm vi sử dụng được mở ra một cách rộng rãi.)
Vài ví dụ trên đây cho thấy việc khảo sát cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh trong phạm vi rộng và sâu là cần thiết Chúng tôi đặt vấn đề khảo sát cách biểu đạt tương đương của trạng
từ gia ngữ tiếng Anh nhằm những mục đích sau:
(1) Xác định mức độ tương đương giữa trạng từ tiếng Anh với
phó từ tiếng Việt (2) Tìm hiểu những cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt
của từng tiểu loại trạng từ gia ngữ tiếng Anh
5 PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN Trong luận án này chúng tôi lần lượt sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Thống kê các tư liệu liên quan đến trạng từ tiếng Anh và những biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của chúng nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu của luận án Những tư liệu trích dẫn được liệt kê ở Phần Tư liệu trích dẫn ở cuối luận án
- Phương pháp miêu tả: Từ kết quả thống kê có được chúng tôi tiến hành phân loại nhằm xác định được những trường hợp điển hình để
từ đó miêu tả chúng, tổng hợp thành các kiểu loại; những trường hợp đặc biệt cũng được đề cập nhưng không được xem là mục đích nghiên cứu chính của luận án
- Phương pháp đối chiếu chuyển dịch: Đây là phương pháp chính của luận án Chúng tôi nhận xét cách chuyển dịch tương đương của những trạng từ gia ngữ tiếng Anh khi được chuyển sang tiếng Việt Sau khi xác định được cách biểu đạt tương đương của trạng từ gia
Trang 20ngữ chúng tôi tiến hành phân tích về mặt cú pháp, mặt ngữ nghĩa và mặt ngữ dụng
Tuy nhiên, trong luận án này chúng tôi không nhằm vào việc so sánh đối chiếu giữa trạng từ tiếng Anh và phó từ tiếng Việt Sở dĩ như vậy là vì, trạng từ của tiếng Anh và phó từ của tiếng Việt về cơ bản không tương đương với nhau và mục đích của chúng tôi là tìm kiếm cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh Do đó, chúng tôi tập trung khảo sát cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh theo từng loại, nhóm cụ thể
Tư liệu sử dụng trong luận án được trích từ các tác phẩm văn học Anh hiện đại (các tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt), một số từ điển song ngữ Anh - Việt, Việt - Anh, một số công trình nghiên cứu về trạng từ tiếng Anh, phó từ tiếng Việt, từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, từ điển tiếng Việt, …
Về cơ bản, luận án sử dụng những thuật ngữ với cách hiểu đã được các nhà ngôn ngữ học thống nhất
Trong các câu dịch, chúng tôi cố gắng chuyển tải nghĩa biểu hiện và tình thái của cả câu để phù hợp với mục đích nghiên cứu hơn là việc phỏng dịch các ví dụ đó theo lăng kính chủ quan của người dịch
Tuy đặt vấn đề khảo sát cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh nhưng chúng tôi chỉ tập trung vào một số nhóm trạng từ tiêu biểu đồng thời cũng chỉ tập trung vào những đặc điểm cơ bản nhất của các nhóm trạng từ này Sở dĩ như vậy là vì, bản thân từ loại trạng từ tiếng Anh là một tập hợp lớn về số lượng và đa dạng về chủng loại nên khó bao quát hết được
Trang 216 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Trạng từ gia ngữ tiếng Anh được lấy làm đối tượng khảo sát trong luận
án này là những trạng từ làm gia ngữ có hình thức đơn (là một từ độc lập) Trạng từ gia ngữ được khảo sát theo hai nhóm chức năng:
- Trạng từ gia ngữ tiếng Anh bổ nghĩa cho vị tố gồm trạng từ gia ngữ phương thức, trạng từ gia ngữ địa điểm và trạng từ gia ngữ thời gian
- Trạng từ tiếng Anh vừa bổ nghĩa cho vị tố vừa hạn định nghĩa cho những phần khác trong câu gồm trạng từ gia ngữ nhấn mạnh và trạng từ gia ngữ tiêu điểm
Ngoài các phần Mục lục, Tài liệu tham khảo, Tư liệu trích dẫn và Phụ lục, luận án gồm có phần Mở đầu, phần Kết luận và bốn chương
6.1 Mở đầu
Phần này là phần giới thiệu đề tài, tính thời sự của đề tài, cái mới và ý nghĩa, đối tượng và mục đích nghiên cứu, phương pháp và tư liệu nghiên cứu
và cuối cùng trình bày phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của luận án
6.2 Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến luận án
Trước hết, phần đầu chương giới thiệu những lý luận chung về từ loại Tiếp theo là phần trình bày những nét cơ bản về đối tượng nghiên cứu là trạng
từ tiếng Anh và phó từ tiếng Việt trong hệ thống từ loại Trạng từ tiếng Anh cũng lần lượt được mô tả những đặc điểm về hình thái học, về chức năng cú pháp, chức năng nghĩa, chức năng ngữ dụng Phần cuối của chương dành bàn
về đặc điểm của phó từ tiếng Việt và những cách hiểu, cách phân định từ loại này của giới Việt ngữ học
Trang 226.3 Chương 2: Trạng từ tiếng Anh trong chức năng gia ngữ
Chương này dành cho việc trình bày những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể, xác định định nghĩa mang tính làm việc của trạng
từ gia ngữ Những trạng từ gia ngữ tiếng Anh được đề cập gồm trạng từ gia ngữ phương thức, trạng từ gia ngữ địa điểm, trạng từ gia ngữ thời gian, trạng
từ gia ngữ nhấn mạnh và trạng từ gia ngữ tiêu điểm
6.4 Chương 3: Cách biểu đạt tương đương ở tiếng Việt của trạng
từ gia ngữ tiếng Anh trong chức năng 1
Nội dung của chương 3 là xác lập các mô hình biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh bổ nghĩa cho vị tố Đó là các trạng từ gia ngữ phương thức, trạng từ gia ngữ địa điểm và trạng từ gia ngữ thời gian Ngoài các mô hình phổ biến, những trường hợp ngoại lệ cũng được
đề cập Chúng tôi đề cập khả năng diễn đạt nghĩa chu cảnh của 3 trạng từ gia ngữ này
6.5 Chương 4: Cách biểu đạt tương đương ở tiếng Việt của trạng
từ gia ngữ tiếng Anh trong chức năng 2
Trình tự trình bày của chương này tương tự như chương 3 (trình bày những mô hình tương đương, những ngoại lệ) Trong chương này, chúng tôi
đề cập đến hai loại trạng từ gia ngữ là trạng từ gia ngữ nhấn mạnh và trạng từ gia ngữ tiêu điểm Ngoài ra, điểm khác biệt rõ nhất trong chương này so với chương 3 là ngoài việc đề cập đến chức năng gia ngữ (bổ nghĩa cho vị tố, làm thành phần câu) của hai trạng từ gia ngữ nhấn mạnh và trạng từ gia ngữ tiêu điểm, chương này còn bàn luận về chức năng bổ nghĩa cho những phần khác
Trang 23trong câu trong vai trò bổ tố của hai loại trạng từ gia ngữ này Khả năng diễn đạt nghĩa liên nhân của các trạng từ gia ngữ nhóm này cũng là nội dung được chúng tôi đề cập
6.6 Kết luận
Trong phần kết luận chúng tôi đề xuất một số gợi ý trong quá trình giảng dạy và dịch thuật trạng từ gia ngữ tiếng Anh từ các phân tích, lý giải và những mô hình của cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh
Trang 24CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 LÝ LUẬN VỀ TỪ LOẠI
Thuật ngữ “parts of speech”
Thuật ngữ “parts of speech” có nghĩa là các thành phần của lời nói chứ không có nghĩa là từ loại, như ta vẫn quen dùng ngày nay “Parts of speech” bị dịch nhầm từ cụm từ trong tiếng Hy Lạp meroi logou, và cụm từ trong tiếng
La - tinh partes orationis có nghĩa là các thành phần câu (parts of a sentence),
hay nói đúng hơn là phân tích các từ trong câu ra thành các lớp dựa vào chức năng hoặc đặc điểm hình thái của chúng [136, tr 28] Đúng ra từ loại phải
được gọi là word classes hoặc form classes [158, tr 55]
Việc phân chia các lớp từ trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ
Với xuất phát điểm là lời nói, từ loại là những bộ phận của lời nói, hai nhà triết học Protogorat (485-411) và Platon (439-347) là những người đầu tiên đã chia từ trong tiếng Hy Lạp ra làm hai loại là danh từ và động từ
Nhưng mãi đến thời của Aritat (thế kỷ I trước công lịch), ông và các học trò của ông mới chia từ của tiếng Hy - lạp thành tám loại là danh từ, động
từ, tính động từ, thành phần, đại danh từ, giới từ, trạng từ/phó từ và liên từ Vào thế kỷ thứ tư sau công nguyên, Donatus và Priseianus chia từ tiếng La - tinh lại thành tám loại: danh từ, đại từ, động từ, tính động từ, trạng từ/phó từ,
liên từ, giới từ và thán từ Do tiếng La - tinh là thứ tiếng thông dụng ở châu
Âu thời đó mà cách phân chia này về sau trở thành “bản mẫu cho các nhà ngữ pháp ở châu Âu” Về sau (vào thời Trung cổ), ở các nước Tây Âu người ta bắt đầu thêm từ loại adiectivus (gần giống với tính từ của tiếng Việt, theo giải
thích của Nguyễn Kim Thản [71])
Trang 25Có thể nhận thấy rằng việc phân định từ loại vào thời xa xưa thiếu một nguyên tắc nhất quán Mãi đến đầu thế kỷ 19, từ loại mới được nhà ngôn ngữ học người Đức là A F Bernhardi chủ trương phân định theo nguyên tắc lô -
gích Tác giả này phân từ loại thành nhiều bậc: thực từ (redeteile), hư từ (redeteilchen), đại từ là loại trung gian (redeteile und redeteilechen zugleigh)
Về sau khi ngôn ngữ học phát triển và nhu cầu so sánh các ngôn ngữ cũng phát triển vấn đề phân định các từ loại trong từng ngôn ngữ cũng được quan tâm hơn trước
Vấn đề phân định từ loại được rất nhiều nhà ngôn ngữ học ở Nga quan tâm thảo luận Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu trong giai đoạn cuối thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 như F Fortunatov [27], người chủ trương phân định các từ loại theo sự biến hoá hình thức của từ; L V Sherba [69] dựa vào sự tổng hợp của các đặc điểm về hình thức, cú pháp và ý nghĩa Tiếp tục tư tưởng của L V Sherba, V Vinogradov [94] chú trọng đến cả ba mặt ý nghĩa, chức năng cú pháp và hình thái của từ
Các ngôn ngữ Đông Á (tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Thái, …), có đặc điểm không biến hình, cũng được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu, và họ cho rằng các ngôn ngữ đó không có từ loại Đó là ý kiến của các tác giả như:
H Maspéro, B Karlgren, M Grammont, … M Grammont và Lê Quang Trinh [183] khi bàn về từ loại trong tiếng Việt đã nhận xét: “Trong tiếng Việt, không có quán từ, danh từ, cũng không có đại từ, động từ không có giống, không có số: chỉ có từ không thôi, những từ đó nhất loạt là đơn âm tiết, nói chung không biến hình và ý nghĩa cơ bản của chúng là do những từ đặt trước hay đặt sau, nghĩa là do tác dụng và vị trí của chúng ở trong câu làm cho biến đổi đi và rõ ra.” [71, tr 108]
Trang 26Tóm lại, vấn đề phân định từ loại là vấn đề đã được đặt ra từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa hết bàn cãi vì xuất phát điểm của các nhà nghiên cứu không giống nhau, phương pháp phân tích cũng khác nhau
Các khuynh hướng phân định từ loại
Với quan điểm cho rằng từ loại “là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu”, Đinh Văn Đức nhận xét: các nhà ngôn ngữ học giai đoạn trước thừa nhận từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, nhưng lại không thống nhất trong cách xác định đặc trưng nào là cơ bản của của các từ loại Theo Đinh Văn Đức [26], có ba khuynh hướng khác nhau trong lý thuyết về từ loại
Khuynh hướng 1: Từ loại được phân định dựa trên một tập hợp của các
đặc trương: đặc trưng ngữ nghĩa, đặc trưng hình thái và đặc trưng cú pháp Khuynh hướng này tập trung nhiều tác giả thuộc các trường phái khác nhau như: O Jespersen [190], S Balli [189] và V Vinogradov [94] Cả ba tác giả tiêu biểu này đều “coi từ loại như một phổ niệm của ngữ pháp” [26, tr 25]
Khuynh hướng 2: Từ loại được phân định theo đặc trưng ngữ pháp
thuần tuý (hay còn gọi là khuynh hướng ngữ pháp, khuynh hướng hình thức) Các tác giả đại diện cho khuynh hướng này đều cho rằng từ loại là những lớp
từ được phân chia dựa theo những đặc điểm hình thức ngữ pháp (trên cả bậc hình thái học và bậc cú pháp) Các tác giả đó là: L Hjelmsev [184], F Fortunatov [27] Theo khuynh hướng này thì “các ngôn ngữ không có hình thái khó có thể đặt vấn đề phân định từ loại”, và từ loại là “một vấn đề ngữ pháp có tính chất loại hình của một số ngôn ngữ chứ không phải là một phổ niệm cho hết thảy các ngôn ngữ” [26, tr 27]
Trang 27Khuynh hướng 3: Từ loại tương quan với lô - gích, với các phạm trù
của tư duy Khuynh hướng này không đối lập với hai khuynh hướng trên, mà còn có quan hệ chặt chẽ với khuynh hướng thứ nhất vì “cả hai đều quan tâm tới ý nghĩa của các từ loại” nhưng chỉ khác nhau ở điểm một số nhà ngôn ngữ học theo khuynh hướng này đã “rất quan tâm tới bản chất ý nghĩa của các từ loại, cũng như mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù của tư duy” [26, tr 27]
Trong ba khuynh hướng trên đây, khuynh hướng thứ nhất tập trung ý kiến của nhiều tác giả hơn cả Khuynh hướng này được áp dụng triệt để trong nghiên cứu các ngôn ngữ Ấn Âu, trong đó có tiếng Anh Vấn đề phân chia từ loại được tiến hành căn bản dựa trên khuynh hướng cho rằng từ loại là một phạm trù từ vựng - ngữ pháp, là một tập hợp đặc trưng bao gồm các mặt ý nghĩa, mặt hình thái và mặt cú pháp
Trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại”, Đinh Văn Đức giải thích “với ngôn ngữ, trong mọi trường hợp, phải đọc được cái nghĩa
(meaning) của nó vì ngôn ngữ tồn tại là để biểu nghĩa Với từ loại cũng vậy,
phải hiểu cho được bản chất nghĩa của chúng” [26, tr 36] Vấn đề phân định
từ loại tiếng Anh và tiếng Việt sẽ được chúng tôi lần lượt trình bày trong chương này
Trong luận án này chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề liên quan đến trạng từ ở hai ngôn ngữ Anh và Việt mà không xây dựng một cơ sở lý luận rộng hơn về trạng từ ở các ngôn ngữ khác nhau Chúng tôi cho rằng đối tượng nghiên cứu của luận án này là trạng từ gia ngữ tiếng Anh và cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt nên việc đề cập đến những vấn đề lý luận về trạng từ ở hai ngôn ngữ Anh và Việt là trọng tâm và phù hợp hơn cả
1.2 TRẠNG TỪ TRONG TIẾNG ANH
Trang 281.2.1 Trạng từ tiếng Anh trong hệ thống từ loại tiếng Anh
Trung thành với truyền thống ngôn ngữ học châu Âu, đại đa số các nhà nghiên cứu theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống cho rằng trong tiếng Anh có tám từ loại Đó là các từ loại (và các ví dụ điển hình) theo cách phân chia của F Palmer [158]:
danh từ (noun): howling, wolf, flock, terror
đại từ (pronoun): I, you, he, which
tính từ (adjective): this, the, fourth, each, untidy
động từ (verb): see, retire, laugh
giới từ (preposition): on, in, to
liên từ (conjunction): and, but, because
trạng từ/phó từ (adverb): much, deservedly, partly, merely
thán từ (interjection): alas
Vấn đề tại sao chỉ có tám từ loại là vấn đề còn nhiều tranh luận Một trong những đối tƣợng khiến cho nhiều nhà ngữ pháp học nghi ngờ về số lƣợng từ loại trong tiếng Anh đó chính là trạng từ F Palmer chứng minh điều
này bằng hai từ very và quickly Theo ngữ pháp truyền thống chúng đƣợc gọi
là trạng từ Trong những cặp ví dụ sau đây chúng không có điểm nào giống nhau Những câu không phù hợp theo tiêu chuẩn này đƣợc đánh dấu (*):
He ran away quickly
(Anh ta chạy đi nhanh.)
* He ran away very
He is very good
Trang 29(Anh ấy rất tốt.)
* He is quickly good
He has a very fast car
(Anh ấy có một chiếc xe rất nhanh.)
* He has a quickly fast car [158, tr 55]
Đến đây vấn đề có thể hiện rõ nếu hai trạng từ trên (very và quickly) được phân chia thành hai nhóm: một là trạng từ cùng nhóm với beautifully; nhóm kia là trạng từ nhấn mạnh cùng nhóm với quite, fairly Nhưng tác giả lại nêu một hiện tượng khác đó là từ usually có cùng từ loại với quickly không:
* He ran away usually (Nhưng có thể nói: He usually ran away)
He is usually good
(Anh ấy thường tốt bụng.)
* He is quickly good
* He has a usually fast car
* He has a quickly fast car [158, tr 55]
Cuối cùng, cách phân chia tám từ loại tiếng Anh theo ngữ pháp truyền thống vẫn chưa làm thoả mãn những người quan tâm đến vấn đề này Về sau
có nhiều nhà nghiên cứu đề xuất bổ sung một số từ loại khác hoặc phân chia lại vốn từ trong tiếng Anh
Tiêu biểu có thể kể đến R Quirk [164, tr 44-45] với cách chia kho từ thành hai nhóm:
Nhóm (a) danh từ: John, room, answer, play
tính từ: happy, steady, new, large, round
Trang 30trạng từ: steadily, completely, really, very, then động từ: search, grow, play, be, have, do
Nhóm (b) mạo từ: the, a(n)
chỉ định từ (demonstrative): that, this đại từ: he, they, anybody, one, which giới từ: of, at, in, without, in spite of liên từ: and, that, when, although thán từ: oh, ah, ugh, phew
Nhóm (a), là nhóm những từ loại mở (open-class items), gồm có bốn từ loại Nhóm (b), nhóm những từ loại đóng (closed-system items), có sáu từ
loại
S Chalker [113, tr 20] chia kho từ thành hai nhóm như sau:
(a) Nhóm trưởng/chính hoặc nhóm mở (major or open word classes)
động từ thực nghĩa/từ vựng tính (lexical verbs): know, decide, want danh từ: knowledge, difficulty, window
tính từ: difficult, interesting, pretty trạng từ: here, very, interestingly, prettily
(b) Nhóm thứ/phụ hoặc nhóm đóng (minor or closed word classes)
động từ phụ trợ (auxiliary verbs): be, have, must đại từ: he, it, us, this
xác định từ (determiners): the, this giới từ: to, by
Trang 31liên từ: and, although thán từ: ah, alas, ouch
S Chalker [113] gọi nhóm (a) là nhóm trưởng/chính bởi vì theo tác giả những từ loại thuộc nhóm này thể hiện hầu hết nội dung hoặc nghĩa của một câu; và gọi là nhóm mở nghĩa là có thể bổ sung vào nhóm này những từ mới khác Nhóm này còn được gọi là nhóm những từ có nội dung, hoặc nhóm từ
vựng tính (content or lexical words)
Những từ thuộc nhóm thứ hai thường có vai trò cấu trúc quan trọng hơn nghĩa của nó, hay nói cách khác nghĩa của những từ thuộc nhóm thứ hai chỉ đóng vai trò phụ so với những từ loại thuộc nhóm trưởng/chính Gọi là nhóm đóng vì thông thường không thể thêm từ mới nào vào nhóm này và tổng số các từ của nhóm này đã được liệt kê thành danh sách với số lượng cố định
Tuy nhiên, cũng theo S Chalker [113, tr 21], sự phân loại theo hai nhóm như thế cũng chỉ có tính tương đối Lấy trạng từ làm ví dụ Trạng từ được xếp vào nhóm từ loại trưởng/chính, nhóm mở Điều này hoàn toàn đúng
với những trạng từ chỉ phương thức tận cùng bằng hậu tố -ly Trong khi đó,
những loại trạng từ khác lại có tính “đóng” như những từ loại thuộc nhóm thứ/phụ (nhóm trạng từ chỉ thời gian, địa điểm, …)
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, M A K Halliday [136] đã nhìn nhận các từ loại khi chúng thực hiện chức năng trong các tổ chức lớn hơn là
ngữ (phrase) Từ loại được tác giả phân chia thành ba nhóm theo chức năng
như sau [136, tr 214]:
(a) Nhóm danh ngữ (nominals) - danh từ
- tính từ
- số từ
Trang 32tố/đầu tố của cụm trạng ngữ (the adverbial head) Đây chính là đặc điểm khác
biệt của ngữ pháp chức năng so với ngữ pháp truyền thống
Luận án tập trung tìm hiểu về từ loại trạng từ theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng, và từ đó xác định cách hiểu thuận tiện cho phương hướng nghiên cứu được chọn
Sau khi trình bày cách phân loại của các tác giả tiêu biểu đại diện cho ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng chúng tôi nhận thấy:
+ Theo quan điểm truyền thống, dù vốn từ tiếng Anh được một số nhà nghiên cứu phân chia thành tám từ loại như giai đoạn đầu [158], thành mười
từ loại như giai đoạn hiện nay [164], [113] thì trạng từ vẫn được xếp vào lớp
từ loại mở, lớp các từ có nội dung hoặc từ vựng tính, cùng nhóm với danh từ, động từ và tính từ
+ Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, trạng từ được xem xét dựa theo chức năng mà chúng đảm nhận trong các tổ chức lớn hơn (ngữ hoặc cụm từ),
cụ thể đó là cấu trúc trạng ngữ (adverbials), trong đó trạng từ đóng vai trò là chủ tố/đầu tố (head), sau đó trạng từ được xem xét về mặt chức năng của cụm
Trang 33trạng từ trong cấu trúc bậc cụm từ/cấu trúc dạng nhóm (in group structures)
và trong cấu trúc bậc cú (in clause structures) [136], [127]
+ Trạng từ, theo quan điểm truyền thống, đƣợc đa số các nhà nghiên cứu nhận xét là không thể thoả mãn cách định nghĩa của ngữ pháp truyền thống nhƣ các từ loại khác F Palmer [158, tr 56] cho rằng trạng từ là từ loại
kỳ lạ nhất, R Quirk [164, tr 267] cho rằng trạng từ đƣợc miêu tả là loại ít thoả mãn nhất trong số các từ loại theo cách phân chia của ngữ pháp truyền
thống (“the least satisfactory of the traditional parts of speech”) S Chalker
[113, tr 189] cũng đã nhận xét rằng từ loại này là tập hợp của những từ không thể xếp đƣợc vào từ loại nào A Downing & P Locke [127, tr 29] nhận thấy
rằng trạng từ là từ loại đa thành phần (heterogeneous), … Những ý kiến trên
cho thấy trạng từ là loại gây nhiều tranh cãi nhất về cách phân loại vì bản thân
từ loại này là một hỗn hợp của những từ khó định loại
1.2.2 Đặc điểm của trạng từ tiếng Anh
1.2.2.1 Về mặt hình thái học
Nhận xét về đặc điểm hình thái học của trạng từ, R Quirk [164, tr 267]
cho rằng phần lớn trạng từ có dạng gốc từ kết hợp với hậu tố -ly Cả hậu tố -ly
và hậu tố ít phổ biến hơn là -wise (ví dụ: clockwise, moneywise) là cách thức
tạo ra những trạng từ mới từ tính từ và cả danh từ Tuy nhiên, một số tính từ
cũng tận cùng bằng hậu tố -ly và một loạt trạng từ truyền thống (ví dụ: often,
here, well, now ) không có cách cấu tạo nhƣ vừa nêu
Cũng để xác định một trạng từ về mặt hình thức, L.G Alexander [97,
tr 122] cho rằng trạng từ có thể là:
a Trạng từ đơn (one-word adverb) tận cùng bằng hậu tố -ly
Trang 34Phần lớn trạng từ, đặc biệt là những trạng từ chỉ phương thức có dạng
tính từ kết hợp với hậu tố -ly (ví dụ: patient patiently) Một số trạng từ chỉ tần suất cũng được cấu tạo theo cách này (ví dụ: usual usually) và một vài trạng từ chỉ cấp độ (ví dụ: near nearly) Nhiều trạng từ chỉ quan điểm cũng tận cùng bằng -ly (ví dụ: fortunately)
b Trạng từ đơn không tận cùng bằng hậu tố -ly
Trạng từ loại này gồm có trạng từ chỉ phương thức có hình thức giống
như tính từ (ví dụ: fast), trạng từ chỉ địa điểm (ví dụ: there), trạng từ chỉ thời gian (ví dụ: then), trạng từ chỉ tần suất (ví dụ: often), trạng từ chỉ quan điểm (ví dụ: perhaps) và trạng từ liên kết (connectives) (ví dụ: however)
c Ngữ trạng từ/Trạng ngữ (adverbial phrases)
Những ngữ trạng từ chỉ phương thức, địa điểm và thời gian thường
được cấu tạo gồm một giới từ + danh từ (ví dụ: in a hurry, in the garden, at the station) Ngoài ra, còn một số ví dụ khác như ngữ trạng từ chỉ tần suất (ví dụ: again and again), trạng từ chỉ mức độ (ví dụ: hardly at all), trạng từ chỉ
sự nhấn mạnh (intensifying) (ví dụ: very much indeed), trạng từ chỉ quan điểm (ví dụ: as a matter of fact), trạng từ liên kết (ví dụ: in that case)
d Tiểu trạng từ/Tiểu từ trạng từ tính (adverb particles)
Những từ như in, off, up là những giới từ hoặc những tiểu trạng từ Khi
theo sau chúng là một tân ngữ thì chúng giữ vai trò là những giới từ; khi theo sau chúng không có tân ngữ thì chúng là những tiểu trạng từ:
- giới từ: The children are in the house
- tiểu trạng từ: The children have just gone in [100, tr 123]
A Downing & P Locke [127] giải thích cụ thể hơn:
a Những trạng từ dạng đơn (simple forms)
Trang 35Trạng từ dạng đơn có thể có một hoặc hai âm tiết, gồm có: down, up, out, over, in, below, above, often, always, ever, never, once, twice, also, back, away, off, soon, else, now, then, here, far, where, when, why, how
b Những trạng từ dạng phái sinh (derived forms)
Những trạng từ dạng phái sinh được tạo thành từ tính từ bằng cách
thêm hậu tố -ly: happily, freely, slowly, proudly, honestly,
Những trạng từ phái sinh khác được tạo thành từ những danh từ bằng
cách thêm hậu tố -wise, -ways, -wards: clockwise, moneywise, profitwise, businesswise; sideways, lengthways, crossways; seawards, backwards, frontwards, homewards, inwards
Một nhóm nhỏ trạng từ được bắt đầu bằng tiền tố a- chủ yếu chỉ vị trí
và phương hướng: aback, aboard, about, above, abreast, abroad, across, adrift, again, aground, ahead, along, alongside, aloof, aloud, amiss, apart, apiece, around, ashore, aside, askance, askew, astern, astride, away
Một nhóm nhỏ hơn là những trạng từ bắt đầu bằng tiền tố be- như là âm tiết thứ nhất (first syllable) cũng chỉ vị trí và phương hướng: before, behind, below, beneath, besides, between, beyond
c Trạng từ dạng kép (compound forms)
Một số trạng từ dạng này là dạng rút gọn của những giới từ dạng
nhóm/cụm giới từ (prepositional groups): downhill, downstairs, downstream, downtown, downwind, downriver; indoors, inland, inshore, inside, instead; offside, off-limits, off-centre; up-country, up-state, up-river; overboard, overhead, overseas, overnight, over-all, overland, overleaf, overmuch
Trang 36Những trạng từ sau là sự kết hợp của các từ loại khác: however, moreover, nevertheless, somewhere, anywhere, nowhere, everywhere, anyway, anyhow, elsewhere, herewith, thereof, whereabouts, hereby
d Trạng từ dạng tương liên (correlative forms)
Những trạng từ ở dạng so sánh hơn kém (comparative degree adverbs) gồm có: the more … the more, the less … the less, the more … the less, the less … the more
Có thể nhận thấy rằng chi tiết nhất, đặc biệt cần thiết cho người dạy và học tiếng Anh như ngoại ngữ, là cách miêu tả về mặt hình thức trạng từ của S Chalker [113] Trạng từ mà tác giả miêu tả chỉ là những trạng từ có dạng đơn
(single-word adverbs)
Với hình thức phổ biến nhất của trạng từ, tận cùng là hậu tố -ly, tác giả cho rằng quy tắc chung là thêm hậu tố -ly vào tính từ (ví dụ: cold/coldly, quick/quickly) Ngoài ra, tác giả còn liệt kê một số quy luật cấu tạo trạng từ:
phụ âm + -e nice/nicely wise/wisely
nguyên âm + -le sole/solely pale/palely, nhưng whole/wholly
nguyên âm + -l oral/orally careful/carefully, nhưng full/fully
Hoặc những từ khác tận cùng bằng -e (phụ âm + -le, nguyên âm + -e) thì chỉ thêm -y: able/ably, regrettable/regrettably, single/singly hay thêm -ly: due/duly, true/truly
Hoặc những từ tận cùng bằng -ly thì chuyển -y thành -i và thêm -ly: happy/happily, lazy/lazily , pretty/prettily, dry/drily, gay/gaily nhưng không thể biến đổi tương tự với shy/shyly, sly/slyly
Hoặc những từ tận cùng bằng -ic thì thêm -ally: cryptic/cryptically, ethnic/ethenically nhưng không thể biến đổi tương tự với public/publicly
Trang 37Ngoài hình thức phổ biến (tận cùng là hậu tố -ly), một số trạng từ không có hình thức này: dead, far, long, straight, still
Và một số trạng từ bắt đầu bằng a-: aboard, abreast, abroad, ahead, aloud, apart, ashore, aside, astride; những từ vừa là trạng từ, vừa là tính từ: afloat, afoot, aloof, alone, amiss, astray
Tóm lại, mỗi tác giả đều có cách miêu tả hình thức trạng từ một cách khác nhau Các cách miêu tả như vừa trình bày đã bổ sung cho nhau, cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về hình thức cấu tạo của từ loại này Tất nhiên, đặc điểm chung nhất về mặt hình thức của trạng từ vẫn là những từ tận cùng
bằng hậu tố -ly Như đã trình bày, đây là từ loại có nhiều thành phần tham gia nên bên cạnh hình thức cấu tạo từ là tận cùng bằng hậu tố -ly còn có nhiều
hình thức cấu tạo khác nữa
1.2.2.2 Về chức năng cú pháp
Trong công trình nghiên cứu của học giả người Mỹ G O Curme, trạng
từ được định nghĩa ngắn gọn là một từ bổ nghĩa cho một động từ, một tính từ
hoặc một trạng từ khác (“An adverb is a word that modifies a verb, an adjective or another adverb”) [dẫn theo 140, tr 99]
Các nhà ngữ pháp giai đoạn sau này đã định nghĩa trạng từ khác hơn so với cách định nghĩa truyền thống Có thể xếp các tác giả này thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất cho rằng, về mặt chức năng, trạng từ bổ nghĩa cho động
từ và cũng hạn định nghĩa cho tính từ (ví dụ: extremely kind) và những trạng
từ khác (ví dụ: extremely badly) Bên cạnh đó, chúng còn có thể bổ nghĩa cho
cả câu (ví dụ: Obviously, I don’t know everything) và nhiều từ loại khác, ví dụ như những danh từ (ví dụ: rather a muddle, the river below); những đại từ (ví dụ: nearly everybody, almost nothing)
Trang 38Đại diện tiêu biểu của nhóm thứ nhất là các tác giả như S Chalker
[113], các tác giả từ điển Oxford Advanced Learner’s Encyclopedia [157, tr 13], các tác giả từ điển Webster’s New World College, từ điển Longman Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics, J Lyons [56, tr
515], L G Alexander [100, tr 122],
Nhóm thứ hai, nhóm các tác giả theo quan điểm của R Quirk [164]
Tuy vẫn trung thành về căn bản với cách xác định đặc điểm về chức năng của trạng từ tiếng Anh theo quan điểm trên đây của nhóm thứ nhất, R Quirk đã quan tâm nhiều hơn đến việc xem xét cách ngôn ngữ thực tế được sử dụng như thế nào Tác giả đề nghị rằng để miêu tả trạng từ theo ngữ pháp truyền thống chỉ cần một trong hai đặc điểm về chức năng sau:
- Làm trạng ngữ (thành phần của cú)
- Làm bổ tố của tính từ và trạng từ
Theo tác giả này, trong cú, trạng từ có chức năng là một trạng ngữ, một thành phần cùng tồn tại cùng với chủ ngữ, động từ, tân ngữ và bổ ngữ Thành phần này thường được xem là yếu tố tự do và vì thế nó ngoại vi với cấu trúc
cú (peripheral in clause structure)
Ví dụ:
Pershaps my suggestion will be accepted [164, tr 268]
(Có lẽ đề nghị của tôi sẽ được chấp nhận.)
I quite forgot about it [164, tr 268]
(Tôi hoàn toàn quên nó.)
Trạng ngữ có thể được chia thành hai nhóm, được phân biệt bởi tiêu chí ngoại vi hay không ngoại vi trong chừng mực nào đó với cấu trúc cú Trạng
ngữ hoà nhập với cấu trúc cú trong chừng mực nào đó (intergrated in clause
Trang 39structure) đƣợc gọi là gia ngữ Trạng ngữ, ngoại vi với cấu trúc cú, đƣợc chia
thành hai nhóm là biệt ngữ và liên ngữ, trong đó liên ngữ đƣợc phân biệt với
biệt ngữ ở chức năng liên kết (a connective function)
(ADVERBIALS)
nội vi (hoà nhập) với cấu trúc cú ngoại vi với cấu trúc cú
(integrated in clause structure) (peripheral in clause structure)
chức năng liên kết chức năng liên kết
(primarily non-connective) (primarily connective)
GIA NGỮ BIỆT NGỮ LIÊN NGỮ
(ADJUNCTS) (DISJUNCTS) (CONJUNCTS)
Sơ đồ 1.1: Trạng ngữ tiếng Anh [164, tr 421]
Chức năng khác của trạng từ là bổ tố của tính từ:
Trang 40Ngoài chức năng hạn định nghĩa cho trạng từ và tính từ phổ biến như đã nói trên đây, trạng từ còn có chức năng:
a Bổ nghĩa cho giới ngữ
Một vài trạng từ tăng cường có khả năng bổ nghĩa cho tiểu từ trong các cụm động từ, cũng có thể tiền bổ nghĩa cho giới từ hoặc có thể bổ nghĩa cho ngữ giới từ
Ví dụ:
The nail went right through the wall [164, tr 278]
(Cái đinh đâm thẳng vào tường.)
b Hạn định nghĩa cho xác định từ (determiner)
Những trạng từ nhấn mạnh (gồm cả trạng từ giảm thiểu), có thể tiền bổ nghĩa cho những đại từ bất định
Ví dụ:
Nearly everybody came to our party [164, tr 278]
(Gần như mọi người đến dự tiệc của chúng tôi.)
tiền xác định từ (predeterminer)
Ví dụ:
He received about double the amount he expeced [164, tr 278]
(Anh ta nhận khoảng gấp đôi số lượng mà anh ta mong đợi)
và những số đếm
Ví dụ:
Over two hundred deaths were reported [164, tr 278]
(Hơn hai trăm người chết được thông báo.)