1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố đóng vai trò thuyết tình thái trong câu tiếng Việt

127 425 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu ngữ pháp Tiếng Việt, trong khi nghiên cứu các thành phần câu đã chú ý đến những thành phần tình thái đứng tách riêng ra khỏi nội dung sự tình và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*****

ĐÀO THỊ THÖY NGÀ NHỮNG YẾU TỐ ĐÓNG VAI TRÕ THUYẾT TÌNH THÁI TRONG CÂU TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Hà nội 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*****

ĐÀO THỊ THÖY NGÀ

NHỮNG YẾU TỐ ĐÓNG VAI TRÕ THUYẾT TÌNH THÁI

TRONG CÂU TIẾNG VIỆT

Luận văn Tha ̣c sỹ chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Đông

Hà Nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Đối tượng nghiên cứu 6

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa của đề tài 9

5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục luận văn 9

NỘI DUNG 11

Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LÍ THUYẾT CHUNG 11

1.1 Cấu trúc Đề - Thuyết trong ngôn ngữ học hiện đại 11

1.2 Thuyết tình thái trong cấu trúc Đề - Thuyết 21

Chương 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA THUYẾT TÌNH THÁI (hay Thuyết giả theo cách gọi của Cao Xuân Hạo)……… 32

2.1.Đặc điểm chung về phương diện tổ chức cấu trúc của phát ngôn 37

2.2 Về xu hướng liên quan đến từ loại như là một nguồn phát triển của các yếu tố thuyết tình thái 42

2.3 Về phương diện ngữ nghĩa – ngữ dụng 46

2.4 Một số đặc điểm về nghĩa của thuyết tình thái 65

2.5 Tiểu kết 72

Chương 3 NHÌN LẠI CÁC GIẢ THUYẾT ĐÃ CÓ VỀ THUYẾT TÌNH THÁI TRÊN PHƯƠNG DIỆN THÀNH PHẦN CÂU 73

3.1 Về quan niệm coi thuyết tình thái là thuyết giả 73

3.2 Quan niệm xếp thuyết tình thái như một thành phần đặc biệt của câu: cùng loại với lớp từ biểu thị thành phần tình thái 79

KẾT LUẬN 85 Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ Lục

Trang 5

QUY ƢỚC VIÊT TẮT

P: Nội dung mê ̣nh đề

M: Ý nghĩa tình thái TTT: Thuyết tình thái YTTT: yếu tố tình thái VTHĐ: Vị từ hành động TĐTT: Tiêu điểm thông tin PN: phát ngôn

(+): Có khả năng (*): Không có khả năng

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử Việt ngữ hoc, khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp theo

quan điểm chức năng luận được đánh dấu bằng công trình”Sơ thảo ngữ pháp

chức năng” của Giáo sư Cao Xuân Hạo Sau khi công trình này được xuất bản,

đã xuất hiện những nghiên cứu, phân tích ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm

chức năng luận Từ đó mở ra một hướng nghiên cứu mới, gắn ngôn ngữ với thực

tế giao tiếp

Tiếp thu những kiến thức ngữ pháp từ góc độ chức năng luận, với mong muốn nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt gắn với chức năng trên phương diện cấu trúc Đề - thuyết, từ thực tế giao tiếp, chúng tôi tập trung nghiên cứu đến phần thuyết trong những phát ngôn có yếu tố tình thái (thành phần mà Cao Xuân Hạo gọi là”thuyết tình thái”) Từ đó, đưa ra một vài nhận định về thành phần này trong sự đối chiếu, so sánh với những quan điểm trước đây về”yếu tố tình thái” đóng vai trò thuyết trong câu, đặc biệt là quan điểm”thuyết tình thái” của Cao

Xuân Hạo Trên quan điểm đó, chúng tôi lựa chọn đề tài”Những yếu tố đóng vai

trò làm thuyết tình thái trong câu tiếng Việt” nhằm nghiên cứu thêm về một

trong những phương tiện biểu hiện của tình thái cũng như mối liên hệ của phạm trù này đối với cấu trúc của câu

2 Tình hình nghiên cứu

Như đã biết, vấn đề tình thái không chỉ đa dạng và phức tạp trong các kiểu ý nghĩa, các sắc thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên mà còn hết sức đa dạng xét ở phương diện mối liên hệ của chúng đối với nội dung sự tình, với cấu trúc ngữ pháp của phát ngôn

Các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu ngữ pháp Tiếng Việt, trong khi nghiên cứu các thành phần câu đã chú ý đến những thành phần tình thái đứng tách riêng ra khỏi nội dung sự tình và đi sau phần biểu thị nội dung sự tình (giữa

hai bộ phận đó có thể có những tác tử phân giới như thì, là, cũng, mới…đứng xen

vào) Chẳng hạn có các kiểu câu sau:

Trang 7

1 Nó về rồi là gay đấy mày ạ

2 Trời thế này mà lại mưa mới khiếp

chứ

3 Ông giúp cháu nó học cho tôi thì

tốt quá

4 Nó về rồi thì phải

5 Các ông ấy về kịp là may rồi

6 Mày đánh nó thì có

7 Họ về rồi cũng chưa biết chừng

8 Cái thằng ấy thi trượt thì đã hẳn

Cương vị ngữ pháp của thành phần tình thái kiểu này cho đến nay vẫn là

một điều chưa rõ ràng Cao Xuân Hạo gọi đó là thành phần thuyết giả Cũng có

giả thuyết cho rằng đó là thành phần tình thái, nghĩa là xét về phương diện hệ

hình thành phần câu, chúng cùng loại với các yếu tố như: à, ư, nhỉ, nhé…

Cùng với thành phần đang xét, trên quan điểm xét nghiên cứu cú pháp gắn với chức năng, coi trọng yếu tố tình thái của ngôn ngữ, gắn ngôn ngữ với thực tiễn giao tiếp, chúng tôi phân tích, đưa ra những luận cứ chứng minh phần thuyết chứa yếu tố tình thái trong cấu trúc câu có những tính chất của một thuyết chân chính, chứ không phải là”thuyết giả” như cách gọi của Cao Xuân Hạo

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích và đối tượng

Đối tượng chính của đề tài chính là tập trung vào những yếu tố”đóng vai trò làm thuyết tình thái trong câu” (phần thuyết tình thái) trong cấu trúc câu Đề -

Thuyết của tiếng Việt Trên cơ sở đó, khi nghiên cứu đề tài”Các yếu tố đóng vai

trò làm thuyết tình thái trong câu tiếng Việt” mục đích chính của luận văn là:

1 Trên cơ sở tư liệu thu thập được, tìm hiểu những đặc điểm chung, cơ bản, đáng lưu ý nhất của kiểu thành phần đang xét Trong đó, có những đặc trưng về ngữ nghĩa, về vị trí, về khả năng cải biến ngữ pháp, về xu hướng phổ biến trong khả năng kết hợp với từ loại và một số quá trình ngữ pháp trong phát ngôn cũng như tổ chức thông báo

2 Từ sự phân tích đó, thử góp phần trả lời câu hỏi: Có nên gọi kiểu thành

phần câu này như một thuyết giả hay thành phần tình thái hay không?

Trang 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để phục vụ cho viê ̣c nghiên cứu , tư liê ̣u chúng tôi lựa cho ̣n là những ấn phẩm văn ho ̣c bằng tiếng Việt đươ ̣c xuất bản từ 1930 đến nay Ngoài ra, chúng tôi còn sưu tầm những phát ngôn được sử dụng trong đời sống hàng ngày do

chúng tôi trực tiếp quan sát và ghi chép lại kết hợp với những tư liệu có được trong kinh nghiệm ngôn ngữ của bản thân cá nhân chúng tôi

Nguồn tư liê ̣u đươ ̣c lựa cho ̣n như thế sẽ phối hợp bổ sung cho nhau, cho phép chúng tôi xem xét đối tượng đã lựa chọn theo định hướng đã kể trên

Ngoài ra , trong những trường hợp cần đối chiếu , tìm hiểu sự chuyển đổi

nghĩa của một s ố hiện tượng , chúng tôi có sử dụng Từ điển tiếng Việt do Hoàng

Phê chủ biên, nhằm phát hiê ̣n ra những nét tương đồng và khác biê ̣t về nghĩa của các trường hợp này

4 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu, chúng tôi chấp nhận và tiếp thu những ý kiến của người hướng dẫn Theo ông:

1 Khía cạnh đang xem xét (là thuyết tình thái hay còn gọi là thuyết giả theo Cao Xuân Hạo) cần được phân tích trên một quan điểm đa bình diện - từ những khía cạnh trong tổ chức cấu trúc hình thức của phát ngôn; quá trình ngữ pháp có thể có, cho đến những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng

Trên bình diện tổ chức cấu trúc hình thức và những quá trình ngữ pháp đó là trật tự các thành phần, là ý nghĩa khái quát chung của những thành phần đó, là khả năng thực hiện những biến đổi ngữ pháp như đại từ hóa, khả năng chuyển đổi cấu trúc thành những cấu trúc có đại từ, là mối tương quan của các yếu tố đang xét với nguồn từ loại cơ bản của nó

Trên bình diện ngữ nghĩa ngữ dụng - là những đặc trưng về nghĩa, về khả năng mang tiêu điểm thông báo và phát triển diễn ngôn theo quan hệ lập luận và trong chừng mực nhất định là những tiềm năng tại lời của phát ngôn…

Trang 9

2 Xuất phát từ đó, cần phải phân tích nhân tố ngữ cảnh của hành động phát ngôn, kết hợp linh hoạt các thủ pháp thử nghiệm, so sánh, cải biến, khúc giải nghĩa, thống kê, mô tả…

3 Việc cân nhắc một tổng thể các nhân tố như vậy, cho phép phát hiện các bản chất còn ẩn dấu của đối tượng, tìm đến cái giá trị quan yếu của các biểu hiện

cụ thể - tách nó khỏi những sự tương đồng thiên về hình thức hay bề mặt

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Nghiên cứu vấn đề thuyết tình thái , chúng tôi hy vọng rằng:

1 Luận văn sẽ góp thêm một phần, trên cơ sở ngữ liệu Việt vào việc nghiên cứu các ý nghĩa và các phương tiện biểu hiện tình thái - một vấn đề hết sức rộng lớn, phức tạp có những mối liên hệ đa dạng, nhiều chiều với tổ chức cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của phát ngôn, với các kiểu ý nghĩa mà ngôn ngữ học hiện đại gọi là ý nghĩa phái sinh từ câu

2 Từ sự phân tích đối tượng trên nhiều khía cạnh đồng thời, chúng tôi

hy vọng những kết luận, đánh giá của khóa luận sẽ góp thêm một phần bé nhỏ vào việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt - cung cấp và chỉ ra những khía cạnh cần được chỉ ra sâu hơn trên con đường tiến tới xác lập cương vị của thành phần đang xét Cũng từ chiều sâu đa nhân tố đó, rất có thể gợi ra cả những khía cạnh

xa hơn khi tiếp tục nghiên cứu sự thống nhất trong đa dạng giữa nhiều ngôn ngữ khác nhau trong tuyến phái sinh và hạ cấp cái vốn là câu và khả năng làm thuyết của các yếu tố tình thái

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luâ ̣n, luâ ̣n văn của chúng tôi gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí thuyết chung

Nhiệm vụ chính của chương này là trình bày và tổng kết lại những khái niệm mà chúng tôi chấp nhận như là cơ sở chính cho việc giải quyết vấn đề ở các chương sau Trong chương này chúng tôi nêu những vấn đề chính sau :

1.1 Cấu trú c Đề - Thuyết trong ngôn ngữ ho ̣c hiê ̣n đa ̣i

1.2 Thuyết tình thái trong cấu trúc Đề - Thuyết

Trang 10

Chương 2: Những đă ̣c trưng của thuyết tình thái

(Hay thuyết gia ̉ theo quan niê ̣m của Cao Xuân Hạo )

Trong chương 2, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những đặc trưng

chung, cơ bản nhất của thành phần thuyết tình thái (hay gọi là thuyết giả theo

cách quan niệm của Cao Xuân Hạo) Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới những khía cạnh chung nhất về ngữ pháp, về nghĩa và ngữ dụng Cụ thể nhiệm

vụ trên được chúng tôi trình bày qua các vấn đề sau:

1 Về phương diện tổ chức cấu trúc của phát ngôn

2 Về xu hướng liên quan đến từ loại như là nguồn liên quan đến thuyết tình thái

3 Những đă ̣c trưng về nghĩa và ngữ dụng

4 Một số nhóm ý nghĩa thường gặp trong phạm vi thuyết tình thái

5 Tiểu kết

Chương 3: Nhìn lại các giả thuyết thành phần câu đối với thuyết tình thái

Ở chương này, trên cơ sở những kết quả phân tích kiểu thành phần đang xét ở chương trước, chúng tôi sẽ tập trung nhìn lại một số giả thuyết đã có về cương vị

của thành phần câu của thành phần đang xét trong đó có các giả thuyết về:

1 Giả thuyết xem thành phần thuyết tình thái là thành phần thuyết giả theo quan điểm của Cao Xuân Hạo

2 Giả thuyết xếp thành phần tình thái như mô ̣t thành phần đặc biệt của câu là thành phần tình thái trong câu

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LÍ THUYẾT CHUNG

1.1 Cấu trúc Đề - Thuyết trong ngôn ngữ học hiện đại

Như đã biết, khái niệm cấu trúc Đề - Thuyết trong ngôn ngữ học có sự vận động và phát triển và cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau Ở đây, chúng tôi sẽ đề cập đến một số nét chính trong sự vận động và phát triển đó và nội dung khái niệm Đề - Thuyết theo tinh thần mà chúng tôi chấp nhận

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu đề thuyết trong ngôn ngữ học phương Tây

1 Năm 1936, Matheisius (V Mathesius; 1882 - 1945) nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc là người đầu tiên nêu ra lí thuyết”cấu trúc phân đoạn thực tại” Đó là một lí thuyết phân tích câu không phải trên bình diện cú pháp - hình thức, cũng không phải trên bình diện cú pháp - ngữ nghĩa, mà trên bình diện thông báo Lí thuyết này xét câu trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, chia câu ra làm hai bộ phận chính: đề ngữ và thuyết ngữ Phương tiện biểu thị đề ngữ và thuyết ngữ ở mỗi ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau, trong đó trật tự từ và ngữ điệu thường được nhiều ngôn ngữ sử dụng Ví dụ: tiếng Pháp:”Ce livre// je l’ai lu” (“cuốn sách này, tôi đã đọc rồi”), tiếng Việt:”Cuốn sách này// tôi đã đọc rồi” Trong các ví dụ trên đây, phần đầu là đề ngữ, phần sau là thuyết ngữ Theo Mathesius, Đề - Thuyết nằm trong bình diện dụng học

2 Ngữ pháp chức năng ra đời trên cơ sở xem xét lại Ngữ pháp tạo sinh của N Chomsky Xu hướng chính của ngữ pháp tạo sinh là ngữ pháp tự trị Tự trị tức là tự nó quyết định cấu trúc của nó độc lập với nghĩa Tinh thần của những người theo học thuyết này ít nhất là ở những giai đoạn vận động nhất định trong

tư tưởng của họ cho rằng có thể miêu tả các luật cấu trúc ngữ pháp mà không cần quan tâm đến nghĩa Trường phái ngữ pháp chức năng ra đời chống lại những quan niệm không hợp lý của ngữ pháp hình thức trước đó Họ cho rằng ngôn ngữ là công cụ truyền tải nghĩa trong giao tiếp để tương tác tức nhấn mạnh công dụng

của ngôn ngữ Từ công dụng của câu sẽ quyết định nghĩa Ví dụ như: khiến cho

Trang 12

người khác sợ ta phải nói gì, để an ủi người khác ta nên nói như thế nào?

Ngược lại, nghĩa sẽ quyết định trở lại hình thức Hình thức không độc lập Nó chỉ là công cụ truyền nghĩa thực hiện chức năng tương tác Bộ máy cấu trúc cuối cùng lả để phục vụ chức năng liên nhân Đây chính là cái hồn của chủ nghĩa chức năng Halliday là một trong ba đại diện tiêu biểu của trường phái ngữ pháp chức năng Cũng như các nhà ngữ pháp chức năng khác ông cụ thể tư tưởng của mình ở việc nghiên cứu câu nói ở ba phương diện kết học, nghĩa học, dụng học Trong đó, dụng học quyết định nghĩa học, kết học chứ không phải ngược lại như ngữ pháp hình thức quan niệm Đơn vị cơ sở mà Halliday chọn nghiên cứu là cú, Dick và Vanvalin là kết cấu vị tính Ở Việt Nam, Cao Xuân Hạo chọn cấu trúc

Đề - Thuyết Tất cả suy cho cùng là giống nhau chỉ khác nhau ở tên gọi Từ đơn

vị cơ sở có thể mô tả toàn bộ hệ thống câu

Theo Halliday siêu chức năng ngôn bản đề cập đến việc ngôn ngữ có cơ chế làm cho một bản thuyết trình ở dạng nói hoặc viết thành một văn bản mạch lạc và nhất quán, tạo ra một thông điệp sống động khác với một danh mục các câu văn tuỳ tiện

Cú được tổ chức như một thông điệp bằng cách giao cho một phần của nó một vị thế đặc biệt Một thành phần trong cú được xác định rõ là thành phần đề ngữ, thành phần này được kết hợp với thành phần còn lại của cú để chúng cùng nhau tạo ra một thông điệp Đề ngữ là một thành phần trong một cấu trúc hình thể nhất định, được coi là một tổng thể của tổ chức cú như một thông điệp Đó chính là cấu trúc Đề - Thuyết Trong hình thể này đề ngữ là xuất phát điểm của thông điệp Halliday cũng chỉ ra rằng cấu trúc đề ngữ có quan hệ mật thiết với cấu trúc thông tin Nếu tất cả mọi cái đều ngang nhau thì người nói sẽ chọn thông tin đã cho sẵn hay thông tin cũ làm đề ngữ và đặt tiêu điểm thông tin mới

ở một nơi nào đó trong thành phần thuyết ngữ Tuy nhiên, cần phân biệt thông tin Cũ + thông tin Mới và Đề ngữ + Thuyết ngữ Đề ngữ là cái mà người nói chọn làm xuất phát điểm Thông tin cũ là cái người nghe được cho là đã biết

Trang 13

hoặc có thể đoán được Đề ngữ + Thuyết ngữ hướng tới người nói còn thông tin

Cũ + thông tin Mới lại hướng tới người nghe

Đề - Thuyết không đơn thuần thuộc về dụng học Đề không chỉ là cái đã cho/ cái đã biết mà là thành tố để tổ chức nên thông điệp

1.1.2 Quan niệm Đề - Thuyết ở Việt Nam

1.1.2.1 Cấu trúc đề thuyết trong câu Tiếng Việt

Trong lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, người có công lớn trong việc vận dụng ngữ pháp chức năng để phân tích câu tiếng Việt theo cấu trúc Đề - Thuyết là Giáo sư Cao Xuân Hạo Khi đưa ra ý kiến của mình, ông đã chỉ ra những hạn chế của việc áp dụng ngữ pháp hình thức (ngữ pháp theo ngôn ngữ học hình thức), đã một thời rất thịnh hành ở Việt Nam Đó là những ý kiến cho

rằng: Tiếng Việt là một ngôn ngữ Chủ - Vị Liên quan đến vấn đề này, Cao Xuân

Hạo bác bỏ ý kiến phổ biến nhất của các nhà Việt ngữ cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ chủ - vị Ông khẳng định một cách dứt khoát rằng cấu trúc cơ bản của câu trong tiếng Việt là cấu trúc Đề - Thuyết

Cấu trúc Đề - Thuyết là một trong những trọng tâm được khảo sát và thảo luận sâu rộng trong các đường hướng chức năng Đi theo cách đặt vấn đề của Halliday, Cao Xuân Hạo (1991) tiếp cận vấn đề này bằng việc chỉ ra sự nhầm lẫn

của chủ nghĩa hình thức trong việc phân biệt chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject), chủ ngữ lôgic (logical subject), và chủ ngữ tâm lí (psychological

subject) Ông gợi ý rằng cặp lưỡng phân đề/ thuyết không nên được xem như là một bức tranh tĩnh tại của thực tế mà cần phải được đối xử như là một thao tác của tư duy Theo ông, trong khi tổ chức lại thực tế được phản ánh, tư duy chia nó

ra thành hai phần bằng việc chọn một điểm xuất phát để thiết lập mối liên hệ giữa hai thành phần này Ông cho rằng phần được chọn để làm xuất phát điểm đóng chức năng sở đề còn phần còn lại là sở thuyết Trong quan điểm của ông, cấu trúc Đề - Thuyết trong câu là một hiện tượng thuộc bình diện”lôgic - ngôn từ” (logical - discorsive).”Lôgic” ở chỗ nó được tuyến tính hoá trong ngôn từ và”ngôn từ” ở chỗ nó phản ánh cấu trúc của mệnh đề

Trang 14

Trong tiếng Việt, cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tương ứng với mệnh đề (MĐ) Nghĩa là câu thường nêu lên một thông báo, một nhận định Nội dung của nhận định có thể là một phẩm chất (tốt, xấu), hoặc số lượng (có nhiều, có ít, một cái, hai cái ); một vị trí trong không gian (ngoài vườn, trong nhà, ở phía đông, ở Hà Nội…) hay thời gian (ngày mai, tuần trước, năm ngoái…)… và để nhận định đó có giá trị chân lí (tính đúng sai) thì những nội dung nhận định phải có một phạm vi ứng dụng và phải có một hình thức thể hiện

Nội dung của nhận định được gọi là Sở thuyết (preadicatum), phạm vi ứng dụng của nhận định gọi là Sở đề (Subjectum) Sở đề và Sở thuyết là hai thành phần tất yếu của một nhận định, của một mệnh đề Hai thành phần này phản ánh trong câu bằng hai thành phần Đề (Đề ngữ) và Thuyết (Thuyết ngữ)

Cấu trúc Đề - Thuyết là cấu trúc đặc trưng ngôn ngữ nhân loại Ngôn ngữ khác nhau có thể khác nhau về cách ngữ pháp hóa hình thức cấu trúc Đề - Thuyết của câu

Tiếng Việt theo Giáo sư Cao Xuân Hạo, cũng như các ngôn ngữ khác, cấu trúc của câu gồm hai phần: Đề và Thuyết, ứng với Sở đề và Sở thuyết của mệnh

đề Tính hoàn chỉnh của câu có được là do câu đã thể hiện được cấu trúc của

mệnh đề, khiến cho câu tự mình có thể làm thành một giá trị chân lí, có tác dụng ngôn trung và được người nghe tiếp thu như một lời nói trọn vẹn

Ví dụ:

b Năm nay mưa ít quá

c Bức này màu không đẹp

d Trời mà mưa thì ở lại

Cấu trúc MĐ: Sở đề Sở thuyết

Cấu trúc câu: Đề Thuyết

(Ví dụ của Cao Xuân Hạo)

Đối với trật tự của phần đề và thuyết trong câu, Cao Xuân Hạo cho rằng trong câu tiếng Việt, trật tự bình thường là phần đề đứng trước và phần thuyết

Trang 15

đứng sau Tuy nhiên, có một số trường hợp trong đó trật tự này bị đảo ngược Ông đưa ra một số ví dụ để minh hoạ cho điểm này

Vui làm sao! Tin thắng trận

Ví dụ:

a An vào Huế hôm thứ tư

b Hôm thứ tư An vào Huế

c Huế (là nơi) mà An vào hôm thứ tư

Ở ví dụ trên, cùng một sự tình là An vào Huế vào ngày thứ tư nhưng ở mỗi câu lại thể hiện một nhận định khác nhau Ở câu a, nhận định là về An, lấy An làm Đề, câu b nêu nhận định về thời điểm (thời gian) của sự tình nên Hôm thứ tư là Đề của câu, còn trong câu c lại lấy địa điểm làm nhận định nên Đề là Huế

Theo ông, cấu trúc Đề - Thuyết của câu tiếng Việt có thể nhận ra nhờ hai

công cụ là thì và là: “Ranh giới Đề - Thuyết của một câu là chỗ nào có thì (hay là) hoặc có thể thêm thì (hay là) mà nghĩa nguyên văn của câu vẫn được giữ nguyên”

Theo Giáo sư Cao Xuân Hạo, cú có một cấu trúc Đề - Thuyết, đây là cấu trúc cơ bản của câu trong đó, Đề có vị trí tương đương với cách hiểu truyền thống về chủ ngữ Đề - Thuyết thuộc về bình diện kết học

Vấn đề phân tích câu theo cấu trúc Đề - Thuyết thực ra là một trong những hướng phân tích cú pháp có thể có, hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét, giải quyết Tuy nhiên, đó là những vấn đề nằm ngoài khuôn khổ của luận văn này Ở đây, của chúng tôi tự giới hạn theo quan niệm của Giáo sư Cao Xuân Hạo

Trang 16

để làm cơ sở nhìn nhận lại một giải pháp do chính ông đề xuất đối với vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm, qua đó chúng tôi quan niệm cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc Đề - Thuyết, theo đó:

Đề ngữ (gọi tắt là Đề) là một khái niệm thu hút sự quan tâm của các học

giả bởi lẽ sự ra đời của nó đã giải quyết được những vấn đề còn bất cập của nhà ngữ pháp vốn lấy cấu trúc Chủ - Vị làm tiêu chí đánh giá và phân loại câu Thống nhất ở cách nhìn về vị trí của Đề ngữ, các học giả như M.A.K Halliday, R

Quirck, D Nunan cùng chia sẻ một quan niệm rằng: Đề “là thành phần được dùng

làm điểm xuất phát của thông điệp; nó là cơ sở để cú tham gia vào thông điệp”

Tuy nhiên, Đề không đơn thuần là thành tố đứng đầu của cú mà hơn nữa, xét một cách toàn cục, Đề là một thành tố trong một cấu trúc đặc biệt có chức năng, tổ chức như một thông điệp Hay nói như D Nunan: “Đề là thành tố mà xung quanh nó câu được tạo dựng nên, và là thành tố mà người viết/nói muốn làm cho nổi bật”

Dựa vào cương vị và khả năng của Đề trong câu, Giáo sư Cao Xuân Hạo định nghĩa: “Đề là thành phần trực tiếp của câu nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành phần trực tiếp thứ hai: Phần thuyết.”

Từ định nghĩa trên có thể nhận thấy:

Cương vị của Đề: là một trong hai thành phần trực tiếp cấu tạo câu Chức năng của Đề: nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói

bằng phần Thuyết- thành phần trực tiếp thứ hai

Vị trí của Đề: Đề được đặt trước phần Thuyết Đó là vị trí phân bố

thông thường và phổ biến Và nếu câu, cú không mở đầu bằng những loại thành phần phụ, thì đề là thành phần xuất hiện ở đầu câu, cú

Cũng tương tự cách định nghĩa phần Đề như trên, trong công trình “Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt - Cú pháp học” (2012), tác giả Chim Văn Bé định

nghĩa “Đề là thành phần trực tiếp thứ nhất của câu, nêu lên phạm vi hiệu lực của

nội dung được triển khai trong thành phần trực tiếp thứ hai: phần thuyết”

Trang 17

Thuyết ngữ: là thành tố của lí thuyết phân đoạn thực tại câu, là cái khẳng

định hoặc thuyết minh cho phần xuất phát của thông báo, tức là phần đề (theme)

và tạo nên tính vị ngữ, biểu thị một ý đã kết thúc, còn gọi là phần báo, phần

thuyết Đó là yếu tố chứa đựng nội dung thông báo, cái mà người nói truyền đạt

cho người nghe xuất phát từ phần đề Thuyết có thể là một thành (những thành phần) bất kì nào của câu [Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý]

1.1.2.2 Các yếu tố phân giới và đánh dấu sự phân chia Đề - Thuyết

Trong cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt, có ba yếu tố chuyên dùng để phân chia biên giới và đánh dấu Đề - Thuyết, được gọi là tác tử cú pháp

(syntactic operators), đó là thì, là, mà Đây là ba yếu tố mà Trương Văn Chình,

Nguyễn Hiến Lê là những người đầu tiên phát hiện ra chức năng đặc biệt của

chúng: chức năng “phân cách” một số thành phần câu Để xem xét, xác định cấu

trúc Đề - Thuyết thuộc các bậc, trước hết cần phải có một số hiểu biết chung về chức năng phân giới và đánh dấu Đề - Thuyết của các yếu tố chuyên dùng này

1.1.2.2.1 Đối với “thì”

Với tư cách là tác tử phân giới và đánh dấu Đề - Thuyết, thì có thể được

dùng để đánh dấu đề hoặc thuyết

* Thì đánh dấu phần Đề

Thì đánh dấu phần đề và phân giới Đề - Thuyết, khi đề mang tính chất đối

sánh với một hay một vài đề khác, được nêu ra hay mang tính chất tiền giả định

Trong cách dùng này, thì gắn với phần đề và được nói có trọng âm

Ví dụ:

- Người phu nữ đi đầu có vẻ cao lớn, còn người đi sau thì thấp bé hơn

(Anh Đức)

- (Bắt đầu từ hôm đấy, lão chế tạo được món gì ăn món ấy.) Hôm thì lão

ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má (Nam Cao)

Trang 18

* Thì đánh dấu phần Thuyết

Thì đánh dấu phần thuyết và phân giới Đề - Thuyết, khi đề của câu, cú

hay tiểu cú là đề khung (là loại đề nêu lên một cái khung về thời gian, không gian, cảnh huống, điều kiện hay số lượng mà nội dung được triển khai tiếp theo trong phần thuyết có hiệu lực) và không mang tính chất đối sánh Trong cách

dùng này, thì gắn với phần thuyết và không mang trọng âm

Ví dụ:

- Người ta còn trẻ thì người ta còn mơ mộng (Vũ Bằng)

- Hắn sinh ra thì thằng Thiên Lôi đã chết từ bao giờ (Nam Cao)

- Nếu ngài lại tiệm Âu hóa của tôi thì tôi sẽ mách dùm cho (Vũ Trọng Phụng)

Đây chính là chức năng của thì “về mặt cấu trúc trong việc đánh dấu sự

mở đầu của một thuyết ngữ/vị ngữ” mà Helge J.J.Dyvik đã nêu ra Trong cách

dùng này, thì đánh dấu phần thuyết, vì về mặt cấu trúc ngữ pháp và ngữ âm, nó

gắn với phần thuyết Trong kiểu câu có đề khung nêu điều kiện, thuyết biểu đạt

nội dung tình thái đi với thì đƣợc thành ngữ hóa, thì bắt buộc phải đƣợc dùng và gắn chat với từ ngữ biểu đạt tình thái: thì phải, thì chết, thì được, thì thôi…Điều này càng chứng minh rõ chức năng đánh dấu phần thuyết của thì

Trong tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo đã giải thích chức năng của thì:

“Thì là một từ chuyên biệt chỉ dùng vào chức năng phân giới đề - thuyết

Nó có thể được định nghĩa là tác tử đánh dấu đề (cả chủ đề lẫn khung đề), tuy

xu hướng chung của tiếng Việt thường đặt các chuyển tố (“giới từ”,”liên từ phụ

thuôc”) vào trước đối tượng tác động về phương diện cấu trúc và về ngữ âm, nó

làm thành một yếu tố tiền đính (proclitique) của ngữ đoạn tiếp theo.”

Nội dung luận giải chức năng của thì mà Cao Xuân Hạo đã nêu ra rõ ràng là mâu thuẫn Bởi lẽ, một mặt ông khẳng định thì đánh dấu phần đề nhƣng mặt

khác, ông lại cho rằng “nó làm thành một yếu tố tiền đính của ngữ đoạn tiếp theo” Sở dĩ nhƣ vậy là vì Cao Xuân Hạo đã không phân biệt đƣợc hai chức năng

khác nhau của thì nhƣ trên vừa trình bày

Trang 19

Với hai chức năng vừa trình bày, khi thì xuất hiện trong câu, cú, ngữ đoạn trước thì là đề, ngữ đoạn sau thì là thuyết

1.1.2.2.2 Đối với “mà”

Với tư cách là tác tử phân giới Đề - Thuyết, mà có thể đươc dùng để đánh

dấu Đề hay Thuyết

*Mà đánh dấu phần Đề

Khi được dùng để đánh dấu phần đề, mà có hai chức năng chính:

Thứ nhất, mà đánh dấu phần đề và phân giới Đề - Thuyết, khi Đề - Thuyết

có quan hệ bất thường về mặt logic theo nhìn nhận chủ quan của người nói, kèm

theo thái độ mỉa mai, phê phán:

Ví dụ:

- Đũa mốc mà chòi mâm son!

- Con trai gì mà viết thư như yếu đuối như con gái!

Thứ hai, mà được dùng để đánh dấu đề tiểu cú và phân giới Đề - Thuyết

tiểu cú làm thuyết của câu:

- Chị nói thách cao quá thì ai mà dám trả giá!

- Loại máy tính này cửa hàng nào mà chả bán

* Mà đánh dấu phần thuyết

Khi được dùng để đánh dấu phần thuyết, mà có hai chức năng chính:

Thứ nhất, mà đánh dấu phần thuyết và phân giới Đề - Thuyết khi đề là đề

khung nêu lên điều kiện, còn thuyết nêu lên hệ quả nghịch thường về mặt logic theo sự nhìn nhận chủ quan của người nói Quan hệ điều kiện - hệ quả nghịch thường này có thể được người nói khẳng định dứt khoát hay là điều người nói nghi ngờ, phóng đoán, tra vấn để làm sáng tỏ

Ví dụ:

- Chúng tôi không làm gì nên tội mà phải đánh chửi như thế! (Vũ Trọng Phụng)

- Chị bán nhà mà chị không nói qua với tôi một lời (Nguyễn Lân)

- Nó không nói gì với mày mà mày lại khóc (Vũ Trọng Phụng)

Trang 20

Trong những câu trên, thay vì thì, người ta dùng mà để đánh dấu phần thuyết Điều đó chứng minh rằng, trong cách dùng này, mà đánh dấu phần thuyết, và mà ở đây có chức năng tương tự như chức năng thứ hai của thì, nhưng

đối lập với thì về quan hệ logic giữa đề và thuyết

Thứ hai, mà đánh dấu thuyết tiểu cú và phân giới Đề - Thuyết tiểu cú làm

đề khung nêu điều kiện thuộc nhiều cấp độ:

Ví dụ:

- Ông mà dạy học thì ông chết mau lắm đấy (Nam Cao)

- Tao mà bắt được đứa nào thì tao đuổi (Nguyễn Công Hoan)

Trong cách dùng này, mà đánh dấu phần thuyết, vì về mặt ngữ âm và ngữ pháp, mà gắn với phần thuyết, là yếu tố đính vào trước phần thuyết

Với hai chức năng vừa nêu, khi mà được dùng trong câu, cú, tiểu cú, thì ngữ đoạn trước mà là đề, ngữ đoạn sau mà là thuyết

1.1.2.2.3 Đối với “là”

* Tác tử chuyên dùng là

Là là tác tử chuyên dùng phân giới Đề - Thuyết, khi nó có tác dụng thuyết

hóa những ngữ đoạn phi tuyến tính Trong trường hợp này, là đánh dấu phần

thuyết và phân giới Đề - Thuyết: ngữ đoạn trước là là đề, ngữ đoạn sau là là thuyết Về phương diện ngữ âm, tác tử là được phát âm có trọng âm Khi là là tác tử chuyên dùng, thì không thể tình thái hóa là bằng cách đặt trước nó các phó

từ chỉ thời gian hay chỉ sư tiếp diễn như: đã, đang, sẽ, mới, vừa, sắp, còn, vẫn…

Ví dụ:

- Con chó là của cháu nó mua đấy chứ (Nam Cao)

- Tôi đã nhẫn nhục như vậy là vì anh (Chu Lai)

* Vị từ quan hệ là

Là là vị từ quan hệ khi trước là có thẻ dùng tác tử thì, mà, hay có thể tình

thái hóa là bằng cách đặt trước nó tất cả các loại yếu tố tình thái Về phương diện ngữ âm, vị từ là không mang trong âm

Trang 21

Ví dụ:

… Thưa ông, lúc nãy ông bảo cái thẹo là chữ U

- Im đi, đồ ngu! Cái thẹo lộn xuôi mới là chữ U, còn cái thẹo chổng ngược thì chính là chữ A (Vũ Trọng Phụng)

Khi được dùng với tư cách là vị từ, là là chính tố của phần thuyết trong các kiểu câu định luận Vì thế, vị từ quan hệ là không có tác dụng phân giới đề

thuyết, mà nó thuộc về phần thuyết và có chức năng đánh dấu phần thuyết: ngữ

đoạn trước là hay trước các yếu tố tình thái, các tác tử phủ định là đề, ngữ đoạn

còn lại là thuyết

Vị từ quan hệ là trong trường hợp này tương đương với động từ “to be”

trong tiếng Anh

Khi bàn về “Tác tử phân giới đề - thuyết”, theo Cao Xuân Hạo, Là là một

từ có nhiều công dụng khác nhau nhưng công dụng chủ yếu và thông thường

nhất chính là công dụng phân giới đề thuyết Nhưng nếu thì là một tác tử đánh dấu đề thì là lại là tác tử đánh dấu thuyết Tác dụng quan trọng nhất của là là báo

hiệu tư cách thuyết của những ngữ đoạn mà thành phần và tính chất vốn không tiêu biểu cho một phần thuyết: danh ngữ, giới ngữ, tên riêng, đại từ nhân xưng,

đại từ trực chỉ… có thể nói rằng là là một tác tử chuyên biệt thuyết hóa

(Cao Xuân Hạo, 1991)

1.2 Thuyết tình thái trong cấu trúc Đề - Thuyết

1.2.1 Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ

Trong ngôn ngữ học, khái niệm tình thái thường được các tác giả khác nhau dùng để chỉ cả một phạm trù những hiện tượng ngữ nghĩa - chức năng rộng lớn, đa dạng và phức tạp mà đặc trưng của chúng là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế, cũng như quan điểm, thái độ đánh giá và định tính khác nhau của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp Nói tóm lại, các đặc trưng của tình thái xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế

Trang 22

Những đặc trưng cơ bản của tình thái được thể hiện qua nhiều cách định

nghĩa của các tác giả khác nhau, tuy rằng cách thức diễn đạt cụ thể hay mức độ

chi tiết tường minh hay hàm ẩn có thể ít nhiều khác nhau:

1 Ch Bally, là người đầu tiên đề cập vấn đề tình thái một cách

hệ thống Ông phân biệt cấu trúc nghĩa của phát ngôn thành hai phần là modus và

dictum Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình ở dạng tiềm năng

nào đó, nên, dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn

ngữ Modus (tức bộ phận tình thái) gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân

tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều

được nói ra, xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh

giao tiếp Modus chỉ ra sự tình nêu trong phát ngôn là khả năng hiện thực, khẳng

định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy của thông

tin đến đâu, đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, ý đồ của người nói khi phát

ngôn là thế nào…

Sự đối lập hai thành phần trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn của

Ch Bally là một trong những đối lập cơ bản làm cơ sở cho thuyết tình thái và

được thừa nhận rộng rãi trong ngôn ngữ học

2 Trong cách quan niệm của Vingradov, tình thái là “những

mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế” trong đó cái được thông báo

có thể được hiểu là hiện thực (là cái có trong quá khứ hay hiện tại, là điều được

thực hiện trong tương lai, là điều mong muốn hay đòi hỏi một ai đó….)

3 Theo Gak, phạm trù tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế

trong tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của

phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói

Trang 23

Ông đưa ra sơ đồ:

bị gạt bỏ

Đạo nghĩa bắt buộc phải, cho phép cấm đoán

4 Benveniste nhận xét: tình thái là một phạm trù rộng lớn, khó

có thể có phạm trù hóa được…nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá,

thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn, với người đối thoại, với những

kiểu mục đích phát ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật, vv và có thể được thể hiện

bằng những phương tiện đủ loại: thức của động từ, quán ngữ,

Quả thật đây là một phạm trù mà mức độ phức tạp của nó đã được khẳng

định là “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần của các

ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù

tình thái” (Panfilov - Trích theo Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết, Thành

phần câu Tiếng Việt); hoặc “nghiên cứu tình thái cũng như là cố di chuyển trong

một căn phòng quá chật chội mà dẫm lên bước chân người khác” (Perkins)

Ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tình thái Đề

cập đến vấn đề này, có thể dẫn ra một số ý kiến tiêu biểu như:

Hoàng Trọng Phiến khẳng định: “Tình thái là phạm trù ngữ pháp của câu

ở dạng tiềm tàng, nó có mặt ở tất cả các kiểu câu Điều này thể hiện rõ ở chỗ các

câu có giá trị thời sự, nó có tác dụng thông báo một điều mới mẻ Qua đó, người

nghe hiểu rằng người nói có thái độ như thế nào đối với hiện thực” (Hoàng Trọng Phiến, 1978)

Từ góc độ dụng học, Hoàng Tuệ nhận định “Tình thái là một khái niệm

trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hành động

Trang 24

phát ngôn, tức là cũng tìm đến hoạt động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tác động đến người nghe trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ” (Hoàng Tuệ, 1998)

Vấn đề tình thái cũng được nhà nghiên cứu Hồ Lê quan tâm nghiên cứu hàng đầu trong công trình “Cú pháp Tiếng Việt” Tác giả cho rằng: “Phát ngôn là công việc của mỗi người vì phát ngôn không đơn thuần là phản ánh sự kiện mà phản ánh nhận thức, tình cảm, thái độ của người phát ngôn” Tình thái như vậy mang tính chủ quan, tuy nhiên tác giả cũng lưu ý: tình thái chủ quan không phải

vì thế mà thoát khỏi yêu cầu nghiêm khắc của diễn đạt giao tế, yêu cầu được giải

mã thống nhất

Nhìn chung có thể nhận thấy phạm trù tình thái là một phạm trù phức tạp và có nhiều cách tiếp cận, tuy nhiên có thể khái quát phạm trù tình thái ở những đặc trưng cơ bản sau đây:

1 Nghĩa tình thái được xác định bằng quá trình ngữ pháp hóa, là cách người nói biểu thị thái độ (attitude) trong phát ngôn Khái niệm “thái độ”, theo Givon có hai nội dung chính: Một là, đánh giá nhận thức (psistemics) về tính chân thực, tính khả năng, tính chắc chắn, tính có căn cứ; Hai là, đánh giá giá trị (evaluatives) về ước muốn, sự ưa thích, ý định, năng lực, trách nhiệm hay sự điều khiển

2 Cách đánh giá của người nói có tính chủ quan, cá nhân, nhưng chịu chế định chung của xã hội

3 Tình thái trong câu nói phản ánh thái độ của người nói về điều mình nói ra Là cách người đó đánh giá hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng hay tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc của điều mình được nói ra

1.2.2 Phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái của câu tiếng Việt

Phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái là những hình thức biểu hiện cụ thể của một nội dung tình thái nào đó bằng các đơn vị ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

Trang 25

Cùng với sự phong phú của các kiểu ý nghĩa tình thái, các phương tiện biểu hiện tình thái cũng rất phong phú và đa dạng Hoàng Trọng Phiến khẳng

định: “Trong các ngôn ngữ khác nhau, tính tình thái được biểu hiện khác nhau.”

Cùng chung quan điểm này tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “Nếu hiểu

tình thái theo nghĩa rộng, xem như là tất cả những gì mà người nói thể hiện cùng

với toàn bộ nội dung mệnh đề thì trong thực tế các nội dung tình thái được biểu

thị xuyên thấm qua nhiều cấp độ ngôn ngữ khác nhau, từ ngữ điệu, trật tự từ, các

thành tố cấu trúc thuộc bậc câu, trên câu và dưới câu”

(Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Thành phần câu Tiếng Việt)

Có nhiều quan niệm khác nhau về các phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Việt, tuy nhiên, có thể tổng kết các phương tiện biểu thị tình thái qua các ý kiến sau:

- Hoàng Trọng Phiến trong “Ngữ pháp tiếng Việt - câu” đưa ra các phương tiện biểu thị tình thái như sau: ngữ điệu, danh xưng của động từ, trật tự

từ, các tiểu từ tình thái kiểu: à, ư, nhỉ, nhé, chăng, chớ…

- Cao Xuân Hạo trong “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” cho rằng nội dung

tình thái ở các phương tiện sau:

Những khởi ngữ (ngữ đoạn mở đầu câu): có lẽ, tất nhiên…

 Cấu trúc Chủ - Vị (Đề - Thuyết), có tôi làm chủ thể của một vị từ có nghĩa nhận thức

 Những hình thái của vị từ

 Những vị từ tình thái (mà bổ ngữ là cấu trúc vị ngữ hạt nhân)

 Trợ từ tình thái trong ngữ đoạn vị từ hay ở ngoài ngữ đoạn này, chẳng hạn cuối câu

Trong các phương tiện biểu hiện tình thái như trên, phương tiện biểu hiện

bằng hình thái của vị từ chỉ có trong ngôn ngữ biến hình, không có trong tiếng

Việt

Từ các quan điểm khác nhau về phương tiện biểu thị tình thái chúng tôi đưa ra những những phương tiện chính trên các bình diện: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng

Trang 26

Ngữ âm: là cách sử dụng ngữ điệu hay trọng âm để thể hiện thái độ tình

cảm hoặc để nhấn mạnh vào một điểm nào đó mà người nói cần chú ý Người Việt thường nhấn mạnh hoặc kéo dài giọng để bày tỏ thái độ trong giao tiếp

Ngữ pháp: đối với các ngôn ngữ biến hình, thời (tense) và thức (mood)

của danh từ có vai trò tích cực trong việc diễn đạt các ý nghĩa tình thái Còn đối với ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, phương tiện ngữ pháp là cách đảo trật tự từ hoặc thay đổi cấu trúc theo mục đích phát ngôn

Từ vựng: là phương thức phổ biến nhất trong các ngôn ngữ biến hình

Trong tiếng Việt, phương tiện này rất đa dạng, gồm có:

Phó từ hoặc tính từ tình thái: sẽ, chắc chắn…

Động từ chỉ thái độ mệnh lệnh: biết, nghĩ, e, sợ…

Động từ ngôn hành: khuyên, cám ơn, xin lỗi…

Quán ngữ tình thái: nghe nói, nghe đâu, gì thì gì…

Động từ tình thái: muốn, toan, định, dám…

Tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé, sao, chăng, chớ…

Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi tập trung tìm hiểu một phương tiện biểu thị tình thái của tiếng Việt trên phương diện ngữ pháp: thuyết tình thái trong cấu trúc Đề - Thuyết của câu

1.2.3 Đề tình thái, thuyết tình thái

1.2.3.1 Đề tình thái và thuyết tình thái theo quan điểm của Cao Xuân Hạo

Khi xét tình thái là một yếu tố thuộc thành phần câu, (lấy yếu tố thì, là làm ranh giới Đề - Thuyết), Cao Xuân Hạo đã phân biệt những thành phần Đề tình thái và Thuyết tình thái (mà ông gọi là thuyết giả) Quan niệm về thành phần được gọi là thuyết giả sẽ được chúng tôi đề cập tới trong một chương khác, ở đây chúng tôi chỉ xin được nhắc qua nội dung quan điểm của ông về những yếu tố tình thái làm thành Đề tình thái của câu (đứng trước thì hoặc là) và những yếu tố tình thái làm thành phần Thuyết của câu (những yếu tố đứng sau thì hoặc là)

Trang 27

1 Đề tình thái (Siêu Đề) là những yếu tố mang ý nghĩa tình thái nằm ở

phần Đề của câu hoặc phần tiểu Đề của Thuyết Đây không phải là những thành phần phản ánh Sở đề trong nhận định mà chỉ là thành phần “phản ánh cái thái độ,

sự đánh giá của người nói đối với sự tình được nói sau đó”

Một số yếu tố thể hiện ý nghĩa tình thái trong Đề có thể kể đến như: Theo

ý tôi thì, … Cứ như tôi nghĩ thì,…, Nếu tôi không nhầm thì…., Thật ra thì,…., Đằng nào thì…., Quả là… Thật là…, Có thể (là)…., Đáng tiếc, tất nhiên, rốt cuộc, may lắm…

Ví dụ:

- Quả thật là tôi không biết

- Nếu tôi không nhầm thì hôm nay là thứ 4

- Thật ra thì tôi nên đến thì đúng hơn

2 Thuyết tình thái: là những ý nghĩa tình thái được đặt ở cuối câu sau thì

(hoặc là) và được xử lí về mặt hình thức như là phần Thuyết của câu

Một số phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái làm thuyết của câu là: thì

phải, thì có, thì lạ thật, thì thôi, thì khốn, thì chết, thỉ hơn, là cái chắc, là đằng khác, là cùng, là nhiều, là thường, là may, là đủ, là xong, là mới phải, mới tuyệt, mới chán, cũng nên, cũng đành, cũng chưa biết chừng

Những phần Thuyết tình thái thường rất ngắn và được dùng kết hợp với Siêu Đề, cả hai gói câu vào “Khung tình thái”

Khung tình thái

C

Hình như anh sốt ruột lắm thì phải

(Đề tình thái) (Thuyết tình thái)

Trang 28

3 Xuất phát từ quan điểm đó, Cao Xuân Hạo chia và miêu tả các yếu tố mà ông gọi là thuyết giả theo một số nhóm chủ yếu là dựa vào thuộc tính hình thức của chúng, cụ thể như sau:

- Những phần Thuyết tình thái đặt sau thì (thì phải, thì chớ, thì có, thì thôi…)

- Những yếu tố tình thái đặt sau là (là ít, là nhiều, là phải, là hết sức…)

- Những yếu tố tình thái đặt sau các tiểu tố: cũng, mới (mới phải, mới chết,

mới tuyệt, cũng đành, cũng chưa biết chừng…)

1.2.3.2 Một số kiểu Đề tình thái và Thuyết tình thái

Đề tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú, tiểu cú Tùy vị trí xuất hiện,

đề tình thái có hiệu lực đối với phần còn lại của câu, của cú, hay tiểu cú

Trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu, đề tình thái có các bậc có thể được

phân giới với phần còn lại của câu, cú, tiểu cú bằng ba tác tử thì, mà, là, tùy từng

trường hợp cụ thể Khi các yếu tố này vắng mặt, chúng ta đưa chúng vào để nhận diện đề tình thái

* Đề tình thái được phân giới bằng thì

Đề tình thái được phân giới với thành phần còn lại của câu, cú, tiểu cú

bằng thì thường được nêu lên một số nội dung tình thái với các dạng thức biểu

đạt sau đây:

a Giới hạn tính chân thực của sự tình được nêu tiếp theo vào một góc nhìn nào đó, có thể là người nói hay người khác Nếu gọi x là góc nhìn, nội dung tình

thái này được biểu đạt bằng các dạng thức: theo x, theo suy nghĩ của x, theo tin x,

như ý x, đối với x, với x, trước mắt x…

Ví dụ:

- Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không? (Đôi Mắt - Nam Cao)

Trang 29

- Cậu con bà Phó, theo bọn giai nhân kém giáo dục thì “đã

đủ tư cách” lắm rồi (Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)

b Cải chính điều đươc nêu tiếp theo mới là chân thực, chính xác so với nhận định, sự tình nào đó được nêu ra, hay được xem như tiền giả định

Các dạng thức biểu đạt: sự thật, thật ra, thật sự, kể ra, xem ra, đúng hơn

ra, nói đúng ra, nói thật ra, nói cho đúng, nói cho phải…

Ví dụ:

- Còn lai lịch bà Phó Đoan kể ra cũng hay hay (Số Đỏ - Vũ Trọng Phụng)

- (Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng) Thât ra thì bà tức bụng, không đi được (Một bữa no - Nam Cao)

c Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo mới hợp lý, hợp lẽ

thường, nhưng đã không xảy ra trong thực tế Dạng thức biểu đạt: lẽ ra, lý ra,

đáng ra, đáng lý ra, đáng lẽ, đáng lẽ ra, đúng ra, đúng lý ra…

Ví dụ:

- Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như nào cơ, mới xứng đáng (Nam Cao)

- Đúng lí, tôi đã mời cô xuống (Nguyễn Minh Châu)

d Nhìn nhận sự tình được nêu tiếp theo là điều tất nhiên, không thể khác

đi Nội dung tình thái này có dạng thức biểu đạt khá đa dạng: Thế nào

(thì)… cũng; bất luận thế nào (thì)… cũng…; dẫu sao (thì)… cũng/vẫn…

Trong các dạng thức biểu đạt trên, cũng là yếu tố phụ trợ đánh dấu thêm

phần thuyết như đã nêu

Ví dụ:

Thế nào chúng ta cũng gặp nhau nữa (Nguyễn Minh Châu)

e Nhìn nhận sự tình được nêu tiếp theo là kết quả hay khả năng tột cùng

có thể đạt được Các dạng thức biểu đạt: may ra, may lắm, quá lắm, giỏi

lắm, cao lắm, cùng lắm, bất quá thì…

Trang 30

Ví dụ:

- (Bố ăn thì con chết đói) Cùng lắm thì bồng bế nhau đi ăn mày (Nam Cao)

- Cùng lắm (là) nó giở quẻ, (thì) hắn cũng chỉ đến ở tù (Nam Cao)

f Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là kết quả hay khả

năng tối thiểu có thể đạt được Các dạng thức biểu đạt chả gì, hèn ra, ít

nhất, kém lắm, tệ nhất thì…

Ví dụ:

- Chả gì thì tôi cũng hai đứa rồi (Vũ Trọng Phụng)

- Ít ra thì y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ (Nam Cao)

g Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là có cơ may hay nguy cơ xảy ra, nhưng đã không xảy ra, và nó được xem là điều như ý muốn hoăc không

như ý muốn Dạng thức biểu đat: suýt nữa, chút nữa, tí nữa, một tí nữa,

thiếu chút nữa thì…

Ví dụ:

- Suýt nữa thì phải ngồi tù (Nam Cao)

- Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ

(Nguyễn Tuân)

h Nhìn nhận sự tình được nêu tiếp theo là tích cực hay tiêu cực với sự tình giả định nào đó đã không xảy ra trong thực tế và đã được nêu trong câu, cú

trước Dạng thức biểu đạt: đằng này, đằng này (thì)…

Ví dụ: Thí dụ một người như anh mà hỏi tôi thì còn gì! Đằng này, hắn lại

nhà quê, không biết yêu vợ như những người văn minh (Vũ Trọng Phụng)

l Biểu thị thái độ chấp nhận sự tình được nêu tiếp theo một cách miễn

cưỡng, ngoài ý muốn Dạng thức biểu đạt: thôi, cực chẳng đã thì…

Ví dụ:

- Thôi thì con bà, tôi xin trả lại bà, chứ chẳng dám giữ (Thạch Lam)

- Thôi thì mẹ con ta đành liều với trời vậy! (Vũ Trọng Phụng)

Trang 31

m Nêu lên cách nhìn nhận, đánh giá sự tình được nêu tiếp theo Các dạng

thức biểu đạt: nhìn chung, nói chung, nói nôm na là, suy cho cùng, xét cho cùng,

về cơ bản thì,…

Ví du:

- Nói nôm na thì yêu đây nghĩa là có ý muốn người ta hỏi mình

làm vợ (Vũ Trọng Phụng)

*Đề tình thái được phân giới bằng mà

Đề tình thái được phân giới bằng mà thường nêu lên các nội dung tình thái

với các dạng thức biểu đạt sau:

a Nhận thức sự tình được nêu tiếp theo là có khả năng xảy ra và đánh giá đó là điều tiêu cực hay tích cực xét trong mối quan hê với tình

huống các dạng thức biểu đạt: may ra, chẳng may, chẳng may ra, ngộ

nhỡ, khéo không, khéo không (mà)…

b Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều tích

cực, xét trong mối quan hệ với tình huống Các dạng thức tiêu biểu: may,

cũng may, may sao (mà)…

c Nêu lên sự hoài nghi về tính hợp lý của sự tình hay sở thuyết

được biểu đạt tiếp theo Các dạng biểu đạt: lẽ nào, có lẽ nào, có lí

nào (mà)…

d Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều không

hợp lí Nội dung tình thái này được biểu đạt bằng nhiều dạng thức: can

chi, cớ chi, cớ làm sao, có chi, hơi đâu, tội gì, dại gì, việc gì, tội tình gì, không dại gì (mà)…

e Nhận định sự tình, sở thuyết được nêu tiếp theo mới là chân thực

hay là khả năng, hệ quả cùng cực Dạng thức biểu đạt: có mà đã được thành ngữ hóa (Ví dụ: Họ mà tóm được thì có mà chạy lên trời)

f Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều không

chân thực Các dạng thức biểu đạt: dễ gì, làm sao, không đời nào, không

khi nào, chả mấy khi, không bao giờ, khó lòng (mà)…

Trang 32

g Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là một phát hiện tình cờ,

nhờ biết được nguyên nhân của nó Các dạng thức biểu đạt: hèn chi, hèn

gì, thảo nào (mà)…

h Giả định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là hiện thực với

thái độ tiếc rẻ: Phải chi (mà)…

l Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là tùy nghi,

tùy thích thực hiện, không bị hạn chế Các dạng thức biểu đạt: tha hồ, mặc

sức (mà)…

Một số ví dụ:

- Không hiểu sao cứ đến lúc ấy ông Hai lại thấy buồn (Kim Lân)

- Hèn nào mà em thấy người thu tiền nhà sáng nay đã đến (Nam Cao)

- Cha mẹ ăn ở có đức thì con cái mặc sức mà hưởng

*Đề tình thái được phân giới bằng là

Đề tình thái được phân giới bằng là có thể nêu lên những nội dung tình thái

được biểu đạt bằng các dạng thức:

a Khẳng định tính chân thực của một nhận định được tiền giả định, hay

nhấn mạnh tính chân thực của sự tình, sở thuyết được nêu tiếp theo: quả thật, quả

nhiên, sự thật, kỳ thực…

b Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là nguyên

nhân hay ý nghĩa đích thực của sự tình nào đó đã được nêu ra: chả là, chẳng

là, chẳng qua (là)…

c Phỏng đoán về tính chân thực của sự tình hoặc sở thuyết được nêu

với nhiều mức độ khác nhau: đâu như, không những như, họa chăng, phải chăng,

không khéo…

d Nêu lên sự hoài nghi về tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được

nêu: chẳng biết, chả biết, không biết, chẳng rõ, chưa biết chừng…

e Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều tất yếu hay

hợp lẽ thường: đã đành, dĩ nhiên, đương nhiên, cố nhiên, lẽ tất nhiên, hẳn nhiên,

chắc chắn (là)…

Trang 33

Một số ví dụ:

- Cái đầu lợn đã đành phần ông tiên chỉ (Nam Cao)

- Ngót trăm bạc một cái sân, chả biết thế là rẻ hay đắt!

được thành ngữ hóa: các tác tử thì, là, mà đánh dấu Thuyết tình thái bắt buộc

phải có mặt, kết hợp sóng đôi với từ ngữ biểu đạt nội dung tình thái, tạo thành tổ

hợp cố định Giữa ba tác tử này, thì, là được dùng phổ biến hơn; mà chỉ được

dùng để phân giới một vài dạng thức thuyết tình thái Thuyết tình thái còn có thể

được đánh dấu thêm bằng các yếu tố phụ trợ: cũng, mới, có

* Thuyết tình thái được đánh dấu thì

Thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì thường gặp là một số tổ hợp biểu đạt

các nội dung tình thái sau đây:

Thì phải: phỏng đoán sư tình đã được nêu ra là chân thực

Thì có: Khẳng định sự tình đã được nêu ra mới là chân thực, đồng thời phản

bác nhận định mà người tiếp chuyện đã đưa ra

Thì đã đành, thì đã hẳn: Khẳng định sự tình đã được nêu ra là điều tất nhiên Thì thôi, thì chịu, thì đành chịu: Chấp nhận hay chấp nhận miễn cưỡng sự tình

đã được nêu ra

Thì hay quá, thì hơn, thì còn hơn, thì tốt, thì càng tốt: Nhìn nhận sư tình đã

được nêu ra là ưu điểm

Thì lạ thật, thì mới lạ: Nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là điều bất thường Thì đúng hơn: Cải chính sự tình đã được nêu ra mới là chính xác

Trang 34

Thì chết, thì khốn, thì nguy, thì hỏng bét, thì bỏ bố, thì bỏ mẹ: Nhìn nhận sự

tình đã được nêu ra là điều đáng lo ngại

Thì tuyệt, thì còn gì, thì phải biết, thì khỏi phải nói, thì khỏi chê: Nhìn nhận sự

tình đã được nêu ra là điều mong muốn, chờ đợi

Một số ví dụ:

- Mợ tôi biết thì chết! (Thạch Lam)

- Nghe đâu anh sắp cho con Tuyết học đánh quần thì phải

(Vũ Trọng Phụng)

- Mát trời thế này mà uống rượu thì tuyệt quá

- Mịch nên xin về hôm nay thì hơn (Vũ Trọng Phụng)

- Má nó khéo lo thì thôi

*Thuyết tình thái được đánh dấu bằng là:

Thuyết tình thái được đánh dấu bằng là thường được gặp ở một số tổ hợp đã

thành ngữ hóa, biểu đạt các nội dung tình thái sau:

Là chắc, là cái chắc, là điều chắc chắn: Khẳng định sự tình được đưa ra là

điều sẽ diễn ra trong tương lai

Là khác, là đằng khác: Nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là có khả năng xảy

ra, nhưng đã không xảy ra trong thực tế

Là cùng, là hết mức, là hết nước, là hết đất, là hết sức: Nhìn nhận sự tình đã

được nêu ra là kết quả hay khả năng tột cùng

Là được: Nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là điều chấp nhận được

Là hơn, là tốt: Nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là ưu điểm

Là đúng, là phải: Nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là chính xác, hợp lý hay

hợp đạo lý

Là may, là phúc, là hết ý: Nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là tích cực hay

như ý muốn

Là thường: Nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là có khả năng xảy ra cao

Là gì: Khẳng định sự tình đã được nêu ra là điều đã từng xảy ra trong quá khứ

Trang 35

Ngoài ra, thuyết tình thái được đánh dấu bằng là còn có một số tổ hợp được dùng với nghĩa nguyên văn: là đủ, là ít, là nhiều, là quý

Một số ví dụ:

- Đức băn khoăn lắm Mà tức mình nữa là khác (Nam Cao)

- Cô nên vui vẻ là hơn

- Cô không kinh tôi là phúc (Vũ Trọng Phụng)

- Ăn bẩn, nó chửi cho là phải (Nam Cao)

* Thuyết tình thái được đánh dấu bằng mà

Thuyết tình thái được đánh dấu bằng mà chỉ có vài dạng thức biểu đạt: mà chi,

mà làm chi, mà làm gì, trong đó, mà chi có xu hướng thành ngữ hóa Các dạng thức

thuyết tình thái này biểu đạt nội dung nhìn nhận sự tình đã được nêu ra là điều không

cần thiết phải thực hiện

Ví dụ:

- Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy mà làm gì (Kim Lân)

- Thưa thày, con lừa dối thày mà làm gì (Vũ Trọng Phụng)

*Thuyết tình thái được đánh dấu bằng mới

Mới ở đây là phó từ biểu thị tình thái chủ quan, được phát âm nhược hóa,

kết hợp sóng đôi với một số vị từ, tạo thành tổ hợp thành ngữ hóa, làm thuyết

tình thái thuộc nhiều cấp độ, tiêu biểu là một số tổ hợp: mới phải, mới chết, mới

lạ, mới đã, mới tuyệt, mới ngoan, mới chán, mới đau, mới gay, mới phiền (chứ), mới vừa…

Ví dụ:

- Tôi cần mang tiếng hư hỏng mới được (Vũ Trọng Phụng)

- Không chồng mà chửa mới ngoan

Có chồng mà chửa thế gian sự thường (Ca dao)

*Thuyết tình thái được đánh dấu bằng cũng

Cũng ở đây là phó từ chỉ tình thái chủ quan, được phát âm nhược hóa, kết

hợp sóng đôi với một số vị từ, tạo thành tổ hợp thành ngữ hóa, làm thuyết tình

thái thuốc nhiều cấp độ Thuyết tình thái được được dấu bằng cũng được dùng

Trang 36

phổ biến nhất là những tổ hợp: cũng phải, cũng được, cũng đành, cũng đành

chịu, cũng chả sao, cũng chưa biết chừng, cũng nên, cũng chả làm sao…

Ví dụ:

- Việc Âu hóa không có tôi môt ngày cũng không được (Vũ Trọng Phụng)

- Kể ra bây giờ mà sống được như nó cũng hay

- Có khi nào mày trúng số độc đắc cũng nên

*Thuyết tình thái được đánh dấu bằng có

Thuyết tình thái đƣợc đánh dấu bằng có chỉ có hai dạng thức biểu đat: có

khác, có hơn không đã đƣợc thành ngữ hóa

Trang 37

Chương 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA THUYẾT TÌNH THÁI

(Hay Thuyết giả theo cách gọi của Cao Xuân Hạo)

Như đã nói ở trên, nhiệm vụ chúng tôi đặt ra cho chương này là tìm hiểu một số đặc trưng về thành phần đang xem xét Những đặc điểm như vậy theo chúng tôi là rất quan trọng mà thông thường trong các phân tích hiện có không được đề cập tới hoặc rất ít được quan tâm

Quan sát các yếu tố tình thái mà Cao Xuân Hạo gọi là thuyết giả, chúng tôi nhận thấy có mốt số đặc trưng nổi bật sau đây:

2.1 Đặc điểm chung về phương diện tổ chức cấu trúc của phát ngôn

2.1.1 Thuyết tình thái có những đặc trưng cơ bản của phần thuyết

Cũng như các thành phần đóng vai trò làm thuyết - các yếu tố tình thái đang xét cũng có đầy đủ những đặc trưng của phần thuyết Điều đó thể hiện qua

những đặc điểm sau:

2.1.1.1.Về vị trí

Về vị trí trong phát ngôn, là vị trí của thuyết điển hình trong phát ngôn, đứng

ở sau phần Đề, tức là thành phần tương ứng, biểu hiện cái phạm vi luận bàn mà

về nó người ta sẽ nói một điều gì đó - và, cũng như những phần thuyết bình thường giữa chúng (phần đề và thuyết), có thể chấp nhận những phương tiện

phân giới và liên kết (tác tử phân giới thì, là; phương tiện liên kết: cũng, mới,

có… Quan sát các ví dụ:

1 Mày học hành như thế thì thì chết con ạ

2 Nó lại chửi người ta mới phiền chứ ông!

3 Nó về rồi thì phải

4 Cái ngữ nó mà thi đậu đại học thì buồn cười thật

5 Mày làm như thế nó biết thì chết

6 Ấy ăn tiêu rộng như thế mới chết (Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)

2.1.1.2 Các phát ngôn nói trên đều có thể phân biệt được hai phần chính

Ở bậc phân tích bậc 1 của câu: Ở đó giữa hai thành phần này có chứa những tác

tử phân giới quen thuộc vốn có thể có ở các cấu trúc Đề - Thuyết Tiếng Việt (thì,

Trang 38

mới) Ở đây, cũng dễ dàng nhận thấy thành phần đứng ở đầu như là một phạm vi

được đề cập, còn yếu tố tình thái đứng sau là nội dung mà người ta nói về phạm

vi đề cập ấy

Trong ví dụ (1) - cái phạm vi được đề cập là cái sự tình “mày học hành như thế”, và về cái phạm vi được quan tâm đề cập ấy, người nói thể hiện một nội dung luận bàn về nó Đó là thái độ đánh giá áp dụng cho cái phạm vi được nêu, được giới hạn Người nói bộc lộ một trạng thái tâm lí cảm xúc tiêu cực trước cái điều được cho là không hay, ngoài mong muốn

Ở ví dụ (2), sự tình được nói đến ở đây là “nó lại chửi người ta”, và về cái

sự tình ấy, người nói thể hiện trạng thái tâm lí, cảm xúc liên quan đến cái sự tình Đó là trạng thái tâm lí tiêu cực, trước một điều gì đó được cho là đáng lo lắng, do tính phức tạp, khó khăn của nó

Có thể tiếp tục phân tích theo hướng đó đối với các ví dụ (3),(4),(5),(6)

2.1.2 Cái tương ứng với với phần thuyết đóng vai trò là phần đề ở đây là những sự tình, những nội dung mệnh đề, những cấu trúc vốn tự nó có thể làm thành một phát ngôn

Như vậy, ở đây là phần thuyết liên hệ với một phần đề, thông qua một quá trình ngữ pháp hóa hay thao tác ngữ pháp mà theo Lê Đông, trong ngôn ngữ học người ta thường gọi đó là “quá trình hạ cấp” các câu, biến câu thành những thực thể đóng vai trò thành thành phần cấu tạo nên cấu trúc ngữ pháp Cũng theo Lê Đông, ngôn ngữ học và logic học hiện đại - bắt đầu từ những nghiên cứu về quan

hệ nhân quả - đã nhận thấy những câu, những mệnh đề được hạ cấp như vậy là

những thực thể đặc biệt, một trong những kiểu ý nghĩa phái sinh từ câu

Về phương diện này, chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở các chương sau, ở đây chúng tôi chỉ xin giới thiệu những nét cơ bản của thành phần này như là một đặc trưng của phần thuyết tình thái trong mối tương quan với phần đề

Thành phần này có đặc tính thuyết hóa nội dung mệnh đề, phần thuyết đứng trước là một thực thể nghĩa đặc biệt - trong cách gọi của ngôn ngữ học và trong logic triết học hiện đại, người ta gọi thành phần này là thành phần tạo

Trang 39

facte Nó - theo quan niệm của Xtepalov, “nằm đâu đó ở cấp độ trung gian giữa câu và từ hoặc tổ hợp từ” nghĩa là nó chưa mất hết đặc tính của câu đồng thời có

những đặc tính của phần danh Nó nằm ở vị trí trung gian giữa câu và từ

Có thể nhận thấy những đặc trưng này qua sự so sánh giữa những câu có chứa thuyết tình thái và những câu chứa yếu tố phân giới nhưng không phải nội dung tình thái như sau:

Ví dụ:

Câu chứa thuyết tình thái Câu có tác tử phân giới

(thuyết chính danh)

a Nên im lặng là hơn a’ Im lặng là hơn hẳn so với cách

hành động của anh

b Anh làm ẩu thì có b’ Chuyện ấy thì có (nhưng tôi

không tin)

c Nó còn khóc nữa mới chết chứ c’ Uống quá liều mới chết chứ

d Tội ấy bảy năm tù là ít d’ Ăn hai bát cơm thì hơi ít (ăn nhiều

vào cho nó khỏe)

e Anh sợ không dám nói thì đúng hơn e’ Giải bài toán như Minh thì mới

đúng (giải như cậu sai be bét rồi)

Qua sự so sánh ở trên, có thể nhận thấy một đặc điểm cơ bản của thuyết tình thái trong phát ngôn đó là những từ ngữ được xử lí như phần thuyết trên đây chỉ có tính chất tình thái trong những câu mà phần đi trước (phần Đề) có nội dung ý nghĩa tương đối trọn vẹn, mang một nội dung mệnh đề tương đối độc lập Song cùng những từ ngữ ấy, khi được dùng cuối câu, sau tác tử phân giới mà phần đề đi trước xét về nội dung chưa thành một nhận định, nghĩa là nội dung mệnh đề không có tính độc lập mà chỉ là một sở đề đơn thuần, thì những từ ngữ đó trở thành những phần thuyết chính danh bên trong phần cốt lõi mệnh đề được biểu thị

Trang 40

Có thể tham khảo ý kiến trên qua ví dụ a, ta thấy thì có là một nhận định thể hiện sự đánh giá của người nói đối với sự tình là anh làm ẩu, nghĩa là

người nói bác bỏ hành động của người nghe, đồng thời khẳng định với người

nghe hành động mà anh làm đó là không đúng, không phù hợp Trong khi đó ở

ví dụ a’, thì có không còn là nhận định đánh giá của người nói mà là sự miêu tả,

diễn giải của sự tình được nêu trong phần đề, đó là một câu khẳng định, thông

báo chuyện ấy (việc đã xảy ra) là có thật Nó có nhiệm vụ cung cấp, xác nhận

thông tin cho phần đề được nêu Nghĩa là nó tham gia vào cấu trúc mệnh đề, làm nên ý nghĩa trọn vẹn của mệnh đề Nó là một thuyết chính danh Tình hình cũng tương tự khi khảo sát những ví dụ nêu trên

Những điều tương tự như trên cũng xảy ra đối với các ví dụ còn lại

2.1.3 Phần thuyết biểu hiện nội dung tình thái ứng cho một phần đề, các phát ngôn dạng này cho phép thực hiện một số quá trình cải biến

Quá trình cải biến của phần thuyết tùy thuộc vào nhiều nhân tố cụ thể, tuy nhiên có thể nhận thấy một số hướng chính như sau:

a Phần đề, trong nhiều trường hợp có thể đại từ hóa bằng yếu tố hồi

2 Mẹ đánh con thì làm sao í Mẹ đánh con thì nó làm sao í

3 Ba tuổi đọc được sách thì lạ thật Ba tuổi đọc được sách thì nó mới lạ

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học, Tc ngôn ngữ số 7.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
Tác giả: Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Tc ngôn ngữ
Năm: 2003
10. Nguyễn Văn Hiệp, Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong Tiếng Việt, Tc ngôn ngữ số 8.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Tc ngôn ngữ
Năm: 2007
12. Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết, Thành phần câu Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần câu Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
13. Nguyễn Văn Hiệp, Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp Tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ, số 5.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 2003
12. Thế Lữ, Gói thuốc lá, (tiểu thuyết), Nxb Văn nghệ thành phố HCM,1999 13. Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn học, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gói thuốc lá
Tác giả: Thế Lữ
Nhà XB: Nxb Văn nghệ thành phố HCM
Năm: 1999
14. Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai, Nxb Hội Nhà văn, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương nhớ mười hai
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2009
1. Cao Xuân Hạo, Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1, Nxb Khoa học xã hội, 1991 Khác
2. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm - ngữ pháp - ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, 1999 Khác
3. Hoàng Phê, Logic - ngôn ngữ học, NXB Khoa học Xã hội, 1989 Khác
4. Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt: câu, NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, 1980 Khác
5. Lê Đông, Ngƣ ̃ nghĩa, ngƣ̃ dụng của hƣ tƣ̀ Tiếng Việt : Ý nghĩa đánh giá của hƣ từ, TCNN số 2. 1991 Khác
7. M.A.K Halliday, Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Hoàng Văn Vân dịch), Nxb Giáo dục, 2002 Khác
8. Nguyễn Thi ̣ Minh , Mô ̣t số phương tiê ̣n biểu thi ̣ ý nghĩa tình thái trong câu ghép,, Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ, 2001 Khác
9. Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2009 Khác
11. Nguyễn Văn Hiệp, Nghĩa chủ đề và cách tiếp cận nghĩa chủ đề, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11.2006 Khác
14. Phạm Hùng Việt, Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học xã hội, 2003 Khác
2. Chu Lai, Ba lần và một lần, Nxb Hội Nhà Văn, 2006 3. Chu Lai, Phố (tiểu thuyết), Nxb Hội Nhà Văn,2004 Khác
4. Chu Lai, Vòng tròn bội bạc (tiểu thuyết), Nxb Hội Nhà Văn,2004 Khác
5. Khái Hƣng, Nửa chừng xuân, (tiểu thuyết), Nxb Văn nghệ thành phố HCM, 1999 Khác
6. Nam Cao, Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, Nxb Văn học, 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm