Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, chúng tôi đặt ra một nhiệm vụ cho mình đó là phải phác họa cho được các dấu hiệu về đặc điểm cấu tạo, xác định được vị trí của chúng trong giao
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
- -
PHẠM THỊ THU BÌNH
NHỮNG TÍN HIỆU NGÔN NGỮ BÁO HIỆU
CHẤM DỨT CUỘC HỘI THOẠI TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
- -
PHẠM THỊ THU BÌNH NHỮNG TÍN HIỆU NGÔN NGỮ BÁO HIỆU CHẤM DỨT CUỘC HỘI THOẠI TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Đối tượng 6
3 Mục đích nhiệm vụ 6
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 7
5 Giới hạn của đề tài, tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
1.1 Lý thuyết hội thoại 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.2 Các quy tắc hội thoại 10
1.1.3 Nguyên tắc hội thoại 13
1.1.3.1 Nguyên tắc cộng tác hội thoại 13
1.1.3.2 Nguyên tắc lịch sự 14
1.1.4 Ngữ cảnh 15
1.1.5 Cấu trúc hội thoại 16
1.1.5.1 Cuộc thoại 16
1.1.5.2 Đoạn thoại 18
1.1.5.3 Lượt lời 19
1.2 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech act) 21
1.2.1 Hành vi tạo lời 21
1.2.2 Hành vi mượn lời 21
1.2.3 Hành vi tại lời (Illocutionary act) 22
Trang 41.2.3.1 Khái niệm 22
1.2.3.2 Tiêu chuẩn phân loại các hành vi tại lời 23
1.2.3.3 Các loại hành vi tại lời 24
CHƯƠNG 2: CÁC TỪ NGỮ BÁO HIỆU CHẤM DỨT CUỘC HỘI THOẠI TRONG TIẾNG VIỆT 26
2.1 Đặc điển của các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 26
2.2 Vị trí của các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 33
2.1.2.1 Xuất hiện ở đầu câu 34
2.1.2.2 Xuất hiện ở giữa câu 36
2.1.2.3 Xuất hiện ở cuối câu 38
2.1.2.4 Xuất hiện một mình 39
2.1.2.5 Xuất hiện tại vị trí đầu câu và cuối câu 42
2.1.2.6 Xuất hiện tại vị trí giữa câu và cuối câu 43
2.3 Tiểu kết 45
CHƯƠNG 3: CÁC HÀNH VI NGÔN NGỮ BÁO HIỆU CHẤM DỨT CUỘC HỘI THOẠI TRONG TIẾNG VIỆT 46
3.1 Đặc điểm của các hành vi ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 46
3.1.1 Hành vi xác tín báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 47
3.1.2 Hành vi điều khiển báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 49
3.1.3 Hành vi cam kết báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 52 3.1.4 Hành vi biểu cảm báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt 54
Trang 53.1.5 Hành vi cam kết và điều khiển kết hợp báo hiệu chấm dứt cuộc hội
thoại 57
3.1.6 Hành vi cam kết và biểu cảm kết hợp báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại 60
3.1.7 Hành vi xác tín và điều khiển tham gia chấm dứt cuộc hội thoại 62
3.1.8 Hành vi điều khiển và biểu cảm tham gia chấm dứt cuộc hội thoại 64
3.1.9 Hành vi xác tín và cam kết tham gia chấm dứt cuộc hội thoại 67
3.1.10 Hành vi cam kết, điều khiển và biểu cảm tham gia chấm dứt cuộc hội thoại 68
3.2 Thái độ của người nói khi cuộc hội thoại chấm dứt 71
3.2.1 Thái độ đồng tình chấm dứt cuộc hội thoại 71
3.2.2 Thái độ không đồng tình chấm dứt cuộc hội thoại 73
3.2.3 Thái độ nhún nhường 75
3.2.4 Thái độ bực tức, phẫn nộ 78
3.2.5 Thái độ thách thức 81
3.2.6 Thái độ đe dọa 82
3.2.7 Thái độ hối thúc, giục giã 85
3.2.8 Thái độ mỉa mai 87
3.2.9 Thái độ cáu giận 88
3.3 Tiểu kết 89
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
NGUỒN NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN 99
PHỤ LỤC 104
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ý định chọn đề tài này xuất phát từ thực tế nghiên cứu ngôn ngữ học trong những năm gần đây Trong lịch sử, ngôn ngữ nói ra đời sớm nhất, từ trước khi có chữ viết, cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người Ngôn ngữ nói trực tiếp phục vụ nhu cầu giao tiếp và trao đổi tư tưởng, tình cảm của con người Trong giao tiếp hội thoại, người nói và người nghe luôn tác động lẫn nhau Đối với người Việt, nếu đến một lúc nào đó một trong hai bên muốn chấm dứt cuộc thoại thì người Việt ít khi nói thẳng, đại ý là "Tôi muốn kết thúc cuộc nói chuyện tại đây", mà hay viện đến một lý do nào đó để kết thúc, và có những dấu hiệu cho biết cuộc thoại đang đi đến chỗ chấm dứt Tuy nhiên, các tín hiệu để nhận biết dấu hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt lại chưa được một công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách sâu sắc Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu
2 Đối tượng
Để thực hiện được đề tài luận văn này thì đối tượng mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu là các cuộc hội thoại giao tiếp trong tiếng Việt Các hội thoại này được thu thập qua các tác phẩm văn học, trong lời nói giao tiếp hàng ngày, phim truyện, tác phẩm nước ngoài được dịch sang tiếng Việt
3 Mục đích nhiệm vụ
Mục đích: Xác định, tìm hiểu, phân tích các tín hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Trang 7Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, chúng tôi đặt ra một nhiệm
vụ cho mình đó là phải phác họa cho được các dấu hiệu về đặc điểm cấu tạo, xác định được vị trí của chúng trong giao tiếp hội thoại, trong lời nói và trong sự phát triển chung của ngôn ngữ
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nói một cách khái quát, việc nghiên cứu các tín hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt góp phần nhất định vào việc nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng cũng như hình thức, mục đích
sử dụng ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày
Về mặt lý thuyết, việc xác định các từ ngữ và các hành vi ngôn ngữ tham gia báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, các hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp lời nói hàng ngày, cũng như cho thấy những đặc trưng văn hóa tâm lý dân tộc Việt Nam được thể hiện trong ngôn ngữ
Về thực tiễn, những kết quả khảo sát của luận văn sẽ bước đầu được ứng dụng trong một số lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học như góp phần nâng cao việc dạy học tiếng Việt; góp phần vào việc nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật, văn chương, sân khấu, chèo, kịch,… vốn là lĩnh vực nghệ thuật sử dụng lời nói
tự nhiên hàng ngày như một phương tiện biểu hiện không thể thiếu được
5 Giới hạn của đề tài, tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Giới hạn của đề tài: Có rất nhiều các tín hiệu ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt như tín hiệu về từ ngữ, về câu, về các hành vi ngôn ngữ, ngữ cảnh, cử chỉ, điệu bộ, Vì vậy, chúng tôi không có tham vọng sẽ tìm hiểu hết mọi khía cạnh của vấn đề mà chỉ tập trung chú ý nghiên cứu tìm
Trang 8hiểu về đặc điểm của các từ ngữ và các hành vi ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại mà thôi
Về tư liệu: Luận văn lấy tư liệu là những câu cụ thể trong các hội thoại giao tiếp hàng ngày, hội thoại trong các tác phẩm kịch, các tác phẩm văn học, truyện ngắn, phim ảnh,… Đồng thời, luận văn còn sử dụng một số tư liệu mang tính chất khẩu ngữ thường được sử dụng trong đời sống hàng ngày Ngoài ra do yêu cầu của luận văn, chúng tôi còn sử dụng một số tư liệu dịch từ truyện của nước ngoài sang Việt Nam Số lượng tư liệu trước hết được thu thập chung sau
đó phân chia ra theo từng phương tiện biểu hiện
Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được đề tài này, phương pháp mà chúng tôi sử dụng đó là: Phương pháp phân tích cấu trúc, phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng với các thủ pháp quen thuộc trong ngôn ngữ học truyền thống như thống kê, miêu tả, phân tích, so sánh,… nhằm làm nổi bật những vấn
đề mà luận văn quan tâm Cách thức làm việc được xác định dựa trên phương pháp nghiên cứu và được chúng tôi thực hiện nhất quán trong từng phần cũng như trong toàn bộ luận văn
Để thực hiện một cách có chiều sâu các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này, luận văn thấm nhuần quan điểm ngữ pháp chức năng hiện đại về mối quan
hệ giữa hình thức và nội dung, theo tinh thần là chính nội dung quyết định hình thức, tức đi từ nội dung đến hình thức, từ mục đích đến phương tiện, từ ý nghĩa đến cấu trúc ngữ pháp (đi theo hướng từ trong ra ngoài rồi đi từ ngoài vào trong) Nói tóm lại, trong khi nghiên cứu chúng tôi cũng chú ý tới mối quan hệ tương tác qua lại giữa ba bình diện: Kết học - nghĩa học - dụng học
Trang 96 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tư liệu tham khảo, nguồn ngữ liệu trích dẫn, luận văn gồm ba chương được sắp xếp như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt Chương 3: Các hành vi ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết hội thoại
1.1.1 Khái niệm
Hội thoại là hành vi giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người
Đó là giao tiếp hai chiều gồm người nói, người nghe và phản hồi trở lại Hội thoại là một hoạt động xã hội, được nảy sinh nhờ vào sự tham gia của người phát lời và người thụ lời Trong cuộc thoại khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai người tham gia cuộc thoại đã thay đổi: Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe Hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham gia,
có thể có ba bên hoặc nhiều hơn thế Tuy nhiên, hội thoại gồm hai bên là quan trọng nhất Trong khuôn khổ luận văn của mình chúng tôi cũng chỉ đề cập đến hội thoại hai bên
Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như: Thời gian, không gian, nơi chốn,
số lượng người tham gia, về cương vị với tư cách người tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời,… Những yếu
tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối lượng thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định
1.1.2 Các quy tắc hội thoại
Theo tác giả C.K.Orecchioni, quy tắc hội thoại được chia thành 3 nhóm: Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại
Trang 11Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
(Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học, trang 225)
Luân phiên lượt lời (turn) là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hội thoại Trong cuộc thoại mỗi lúc có một người nói và không đồng thời Người nói luân phiên nhau và đó là lượt lời Sẽ không có lượt lời nếu nhiều người nói cùng một lúc Như vậy vai nói sẽ thường xuyên thay đổi, trật tự của những người nói không cố định mà luôn thay đổi Đồng thời lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Khi nói một điều, người ta dự đoán chờ một điều khác sẽ xảy ra Nghĩa là hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau, liên kết chặt chẽ với nhau Hội thoại là một hình thức hoạt động xã hội, nên theo G.Yule lượt lời hoạt động theo một “hệ thống điều hành cục bộ” (thuật ngữ của Diệp Quang Ban) được hiểu theo lối quy ước giữa thành viên trong một nhóm xã hội Đây thực chất là quy ước nắm giữ lượt lời, giữ hoặc trao lượt lời cho người đối thoại một cách uyển chuyển Kiểm soát được quyền được nói, chủ động nắm giữ đề tài
và lượt lời là một quyền lực đáng kể trong hội thoại, có thể chi phối cuộc thoại
Về quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại, theo Nguyễn Đức Dân, những phát ngôn trong một lượt lời là hành vi hội thoại Sự liên kết giữa hai lượt lời là
sự liên kết giữa hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp Trong hội thoại, hành vi ngôn ngữ kéo theo những dạng hành vi nhất định Rất nhiều loại phát ngôn trong hội thoại đòi hỏi phải có sự hồi đáp riêng biệt như: Hành vi chào yêu cầu một lời chào trở lại; hành vi hỏi yêu cầu có một câu trả lời; hành vi đề nghị cần một phản hồi; hành vi cảm ơn cần một yêu cầu đáp lời,… Wardhaugh gọi hành vi ngôn ngữ này là điều muốn nói Một hành vi ngôn ngữ xuất hiện có thể được tiếp nhận
Trang 12tích cực hoặc tiếp nhận tiêu cực, chấp nhận hoặc từ chối Tuy nhiên người tham gia hội thoại có thể lờ đi mà không có biểu hiện ngôn ngữ nào
Với những hành vi ngôn ngữ đòi hỏi thông tin phản hồi, Wardhaugh cho rằng, người tham thoại có quyền lựa chọn cách thức hồi đáp khác nhau: Hoặc tuân theo, hoặc từ chối, hoặc đơn giản là lờ đi những gì người ta nói với mình Nhưng dù tuân theo hành vi dẫn nhập từ chối hay lờ đi, người tham gia hội thoại vẫn phải có chiến lược giao tiếp và phương tiện biểu đạt trong hành vi hồi đáp của mình Một số khuôn mẫu về hình thức biểu hiện các hành vi này đã được định sẵn cho người tham gia hội thoại lựa chọn Nhưng trong hành vi hội thoại,
sự liên kết các hành vi tại lời chỉ có giá trị trên bề mặt phát ngôn Sự liên kết các hiệu lực tại lời của hành vi ngôn ngữ mới có giá trị đích thực Có nhiều hình thức biểu đạt ngôn ngữ cũng đem lại một hiệu lực tại lời là rất quan trọng Điều này quyết định hiệu quả giao tiếp Trong thực tế, mỗi chúng ta cần phải lựa chọn một cách nào đó đem lại hiệu quả giao tiếp cao nhất chứ không chỉ yêu cầu bằng một mệnh đề từ chối thẳng thừng Nghi thức, thói quen, phong tục, tập quán,… làm thành quy ước xã hội mà mỗi cá nhân đều phải tuân theo Những quy ước này giữ gìn và tạo độ cân bằng trong cuộc thoại Những quy ước mang tính nghi thức này được quy định theo một trình tự chặt chẽ với những hành vi cụ thể mà mỗi bên tham gia cuộc thoại cần tuân theo ở mỗi loại hội thoại xác định
Quan hệ giữa những người tham thoại cũng đóng vai trò đặc biệt trong quá trình hội thoại Cần phải kể tới các nhân tố như: Quan hệ thân - sơ, quan hệ vị thế xã hội, tuổi tác, quyền lực,… được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng người Theo tác giả Nguyễn Đức Dân, quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ: Quan hệ ngang (hay còn gọi là quan hệ thân sơ), quan hệ dọc (hay còn gọi là quan hệ vị thế) (Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 122)
Trang 131.1.3 Nguyên tắc hội thoại
1.1.3.1 Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Theo P.Grice, nguyên tắc cộng tác hội thoại làm cho “cuộc hội thoại được xem xét đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc thoại đòi hỏi” Nguyên tắc này đúng với cả người nói và người nghe Khi nói, người tham gia hội thoại phải quan sát và thực hiện nguyên tắc cộng tác theo phương châm nhất định Nguyên tắc cộng tác hội thoại có vai trò trung tâm trong lý thuyết hội thoại Hai bên tham gia giao tiếp cùng cố gắng để đối tác của mình hưởng ứng, phát triển cuộc thoại Nguyên tắc này bao gồm các phương châm: Lượng, chất, quan hệ và cách thức
Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của mục đích cuộc thoại Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó đòi hỏi
Phương châm về chất: Đừng nói điều gì mà anh tin là sai, đừng nói điều gì
mà anh tin là thiếu bằng chứng
Phương châm về quan hệ: Hãy làm cho đóng góp của anh thích hợp với cuộc thoại, tức là hãy nói vào đề
Phương châm về cách thức: Tránh nói tối nghĩa, tránh nói mập mờ, ngắn gọn, có trật tự
(Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, trang 128) Tuy nhiên trong thực tế giao tiếp có không ít trường hợp vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại do sự khác biệt về trình độ, về văn hóa, về kinh nghiệm ngôn ngữ và vốn hiểu biết cuộc sống dù một bên tham gia cuộc thoại vẫn cố gắng tuân theo nguyên tắc cộng tác Chúng ta phải căn cứ vào những ngữ cảnh
Trang 14gắn phát ngôn với hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ liên nhân để nhận rõ những vi phạm nguyên tắc cộng tác
1.1.3.2 Nguyên tắc lịch sự
Không ít nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm tới vấn đề “lịch sự”, trong đó phải kể đến các tác giả như: P.Brown, S.Levinson, G.N.Leech, G.Kasper, R.Scollo,… Lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn từ thể hiện rõ nhất trong các cuộc hội thoại quy thức Muốn cuộc hội thoại thành công, mỗi bên tham gia phải tuân thủ không chỉ nguyên tắc cộng tác hội thoại mà phải tuân thủ nguyên tắc lịch sự Chúng ta có thể kể ra một số quan điểm về lịch sự và các nguyên tắc lịch sự như sau:
Quan điểm về lịch sự của R.Lakoff với ba quy tắc:
Quy tắc 1: Không áp đặt
Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn
Quy tắc 3: Tăng cường tình cảm bằng hữu
(Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học, trang 257)
Quan điểm về lịch sự của B.Rown và S.Levinson: Quan điểm về lịch sự được hai tác giả này phát triển, mở rộng nguyên tắc tôn trọng thể diện và phân biệt hai phương diện của thể diện: Tích cực và tiêu cực Trong diễn biến cuộc thoại, các hành vi ngôn ngữ tiềm ẩn sự đe dọa thể hiện ở cả người nói và người nghe được gọi là hành vi đe dọa (FTA) Hai tác giả này coi FTA thuộc dạng bi quan và trong xã hội con người cần phải điều chỉnh mối quan hệ bằng mô hình FFA (Face Flattering acts) có tính tích cực - các hành vi tôn vinh thể diện Như vậy, tập hợp các hành vi ngôn ngữ được chia thành hai nhóm lớn: Nhóm có hiệu quả tiêu cực và nhóm có hiệu quả tích cực Phép lịch sự tiêu cực về căn bản có
Trang 15tính chất né tránh hay bù đắp Phép lịch sự chủ yếu tạo ra những hành vi có tính chất giảm đe dọa đối với người nghe như biểu thị sự tán thưởng, cảm ơn, đề cao người cùng đối thoại,… trong lời từ chối
Trong quan điểm của mình, hai tác giả B.Rown và S.Levinson cho biết phép lịch sự tiêu cực có tính chất bù đắp hay né tránh các FTA hoặc giảm nhẹ một số biện pháp khi buộc lòng phải dùng một FTA nào đó để từ chối như:
Dùng từ xưng hô lịch sự (bác, ngài, ông, bà,… có ngôi thứ hai khi đối thoại trực tiếp)
- Sử dụng dạng giả định
- Dùng hành vi xin lỗi, thanh minh
- Yếu tố giảm nhẹ
- Yêu cầu thông cảm
Nhìn chung, mỗi người tham gia giao tiếp phải có trách nhiệm thực hiện nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc lịch sự Một bên vi phạm nguyên tắc hội thoại, hoặc giữa những người tham gia hội thoại không có sự đồng cảm,… đều có thể là nguyên nhân phá vỡ cuộc thoại
1.1.4 Ngữ cảnh
Mỗi cuộc thoại đều được diễn ra vào một lúc nào đó, ở đâu đó, trong hoàn cảnh nào đó Các nhân tố ngữ cảnh có vai trò to lớn trong việc tạo lập và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại Ngữ cảnh bao gồm tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tự nhiên xung quanh, đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng xử, các khía cạnh liên quan như quan hệ quyền lực hay hòa đồng, phục trang của những người tham gia hội thoại, địa điểm, thời gian diễn ra cuộc thoại,… Tất cả các yếu
tố làm thành ngữ cảnh, hiểu theo nghĩa rộng nhất Nó quy định cách thức tiến
Trang 16nhận diện hành vi ngôn ngữ nào đang được thực hiện Ngữ cảnh tạo nên khả năng giải thích nghĩa cho các phát ngôn khi chúng xuất hiện trong những cảnh huống riêng biệt
1.1.5 Cấu trúc hội thoại
Hội thoại được nảy sinh nhờ vào sự tham gia của người phát lời và người thụ lời Mục tiêu cơ bản của việc phân tích hội thoại là làm rõ người phát lời muốn biểu đạt cái gì và người thụ lời lý giải nghĩa như thế nào và phản ứng ra sao Trong khi phân tích hội thoại trước hết phải kể đến khái niệm cuộc thoại, sau đó là đoạn thoại và lượt lời
sở ngữ dụng học, tập một, trang 298)
Theo lý thuyết hội thoại Thụy Sỹ - Pháp thì có các tiêu chí sau để xác định một cuộc thoại: (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai
- Ngữ dụng học, trang 311-312)
Nhân vật hội thoại: Theo tiêu chí này, một cuộc thoại được xác định bởi
sự gặp mặt và sự chia tay của hai người hội thoại Khi số lượng hay tính chất của người hội thoại thay đổi thì chúng ta có cuộc thoại mới
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Đỗ Hữu Châu khi cho rằng: Tiêu chí này quá cứng rắn bởi vì một người nào đó có thể rút lui khỏi hoặc một người mới
Trang 17có thể gia nhập vào (trừ trường hợp lưỡng thoại) mà không nhất thiết phải chuyển qua một cuộc thoại khác (Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học, trang 312)
Tiêu chí thứ hai là tính thống nhất về thời gian và địa điểm Tiêu chí này cũng có chỗ hạn chế Một cuộc thoại giữa hai người có thể chuyển chỗ hoặc có thể được gác lại sang một ngày khác chừng nào mà họ thấy chưa thể kết thúc được
Tiêu chí tính thống nhất về đề tài diễn ngôn Một cuộc thoại, nói theo Grice phải theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học, trang 312) Đối với những cuộc thoại chân thực, nghiêm chỉnh thì tiêu chí này là tiêu chí quyết định Nhưng thực ra không hiếm những cuộc thoại trong đó nhân vật đề nghị
“đổi đề tài đi”, nhưng cuộc “tán gẫu”, “đấu hót” đề tài diễn ra theo lối “cóc nhảy” Bởi vậy, tiêu chí “đề tài” nếu được hiểu là một vấn đề “nghị sự” nào đó thì không phải là tiêu chí cần và đủ Vấn đề có lẽ là mục đích tức là chủ đề hơn
là “đề tài” bề mặt
Tiêu chí cuối cùng là tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại Thông thường có những dấu hiệu mở đầu cuộc thoại (như ở cuộc họp người điều khiển có thể tuyên bố khai mạc và tuyên bố đề tài) và dấu hiệu kết thúc (lời tuyên bố bế mạc) Trong trò chuyện thông thường, giữa những người lạ, dấu hiệu
mở đầu có thể là những lời chào hỏi, dấu hiệu kết thúc có thể là những câu hỏi
kiểu như: Còn gì nữa không nhỉ? hoặc những lời như: Thế thôi nhé,… Tuy
nhiên, dấu hiệu này cũng không có gì là bắt buộc, đặc biệt trong những cuộc thoại giữa những người quá thân quen
Trang 18Nói chung cho đến nay, việc xác định ranh giới cuộc thoại chưa có gì là thực dứt khoát với những tiêu chí đủ tin cậy Tuy nhiên, các tiêu chí là có thật và yêu cầu nghiên cứu buộc người nghiên cứu phải có một sự phân chia nào đó ít nhiều võ đoán (Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học, trang 312) Đây cũng là tiêu chí được chúng tôi vận dụng trực tiếp trong việc nhận diện và phân tích các tín hiệu ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
1.1.5.2 Đoạn thoại
Mỗi cuộc thoại bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc, chúng làm nên ranh giới của một cuộc thoại Mỗi cuộc thoại lại chứa đựng nhiều chủ đề, mỗi chủ đề lại có nhiều vấn đề Tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề làm thành một đoạn thoại Chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu khi cho rằng: “Đoạn thoại là mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng.” Trong đoạn thoại những người tham gia hội thoại nói về cùng một chủ đề Có thể định hình đoạn thoại qua cấu trúc: Đoạn mở thoại, đoạn thân thoại và đoạn kết thoại
Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc phần lớn được nghi thức hóa và lệ thuộc vào rất nhiều yếu tố như các kiểu cuộc thoại (hội đàm, thương thuyết, giao dịch thương mại, trò chuyện, bàn bạc,…), vào hoàn cảnh giao tiếp, vào sự quen thuộc, vào sự hiểu biết về nhau,… Chúng cũng mang đậm dấu vết của từng nền văn hóa Đoạn mở thoại, người mở thoại thường tránh sự xúc phạm đến thể diện của người nghe, chuẩn bị một “hòa khí” cho cuộc thoại Tuy nhiên, trong nghệ thuật hội thoại, không phải không có những trường hợp người mở thoại cố tình xúc phạm đến người đối thoại nhằm gây những tác dụng nào đó
Trang 19Đoạn thoại kết thúc có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ và xác định cái cách mà người ta chia tay Để kết thúc người ta có thể đưa ra lời xin lỗi
về việc phải kết thúc và phải chia tay, tổng kết cuộc thoại, cảm ơn, hứa hẹn, lời chúc,… Vì phép lịch sự, chúng ta thường tránh sự kết thúc đột ngột, đơn phương, tuy nhiên trường hợp ngoại lệ không phải là không có (nhất là khi người
ta ở vị thế xã hội cao)
1.1.5.3 Lượt lời
Mỗi một lần hội thoại chí ít bao gồm một lượt lời của hai bên Đây là sự tương tác luân phiên qua lại trong hội thoại, trong cuộc thoại người nói sẽ luân phiên nhau Vai nói thường xuyên thay đổi và lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Hai lượt lời có quan hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại Lượt lời chứa các hành vi trong đó có hành vi hỏi và hành vi đáp Các lượt lời trong cuộc thoại phải đảm bảo tính thống nhất nội dung phục vụ cho sự phát triển vấn đề, hướng tới đích của cuộc thoại Sự hòa hợp giữa các lượt lời cùng tính thống nhất nội dung trong cuộc thoại là điều kiện cho cuộc thoại thành công Lượt lời là một hình thức xã hội nó bị chi phối bởi một hệ thống những quy ước đối với việc giành lời, giữ lời và nhường lời
Theo quan niệm của Nguyễn Đức Dân, cơ chế của sự luân phiên lượt lời
đó là có sự phân biệt giữa tranh lời với chuyển giao lượt lời, còn gọi là sự trao lời (Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 87)
Trao lời là sự chuyển lời tự nhiên, có ý thức chủ động của người đang giữ lượt lời Mỗi người có thể trực tiếp chuyển giao lượt lời cho một đối tượng xác định Tuy nhiên, trong hội thoại đặc biệt là trong song thoại, hiện tượng cướp lời, lời chồng chéo lên nhau là không bình thường, là không lịch sự (trừ phi tranh luận hoặc cãi nhau) Vì vậy, cũng thường xảy ra trường hợp một người đang nói
Trang 20dở chừng, sau khi bị cướp lời, sau khi bị một người khác nói chen ngang, lại
“Tôi xin trình bày tiếp vấn đề đang nói dở chừng” Như thế, về hình thức lượt lời
đã bị luân phiên, nhưng liên kết trực tiếp về nội dung vẫn được duy trì Điều này liên quan tới việc phân tích cấu trúc của đoạn thoại
Lối nói xen ngang liên quan tới văn hóa, tập tục và những quy ước của từng dân tộc, từng xã hội, chúng thường phản ánh những quan hệ tôn ti hay những cương vị nào đó
Trái với trao lời là tranh lời, còn gọi là ngắt lời Đây là những lời nói “xen ngang” vào lời của người khác Hoặc vì tưởng nhầm là họ đã nói xong, hoặc vì một phản ứng tức thời, tích cực hay tiêu cực Như vậy, lượt lời có thể bị động chuyển sang lượt lời của người khác một cách không tự nhiên
Khi nghiên cứu về sự luân phiên lượt lời, người ta còn chú ý tới những hiện tượng sau:
Khoảng cách thời gian tối thiểu và tối đa trong một lượt lời Điều này là một nguyên tắc trong sự luân phiên lượt lời và nó mang dấu ấn của từng nền văn hóa Theo Kerbrat - Orecchioni thì khoảng cách tối thiểu giữa hai lượt lời của người Mỹ là 5/10 giây, của người Pháp là 3/10 giây (Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 89)
Khoảng cách thời gian trong sự xen lời, tranh lời - hai người đồng thời nói
Thứ tự của các lượt lời
Độ dài của lượt lời
Những cơ chế thực hiện lượt lời
Những tín hiệu điều chỉnh lượt lời
Trang 211.2 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech act)
Người có công đầu tiên khởi xướng lý thuyết hành vi ngôn ngữ đó chính
là Austin (1962) trong công trình nghiên cứu của mình: “How to do things with words”, tác giả đã đưa ra khái niệm “hành vi nói năng” Nội dung chủ yếu của khái niệm này là khi con người nói năng là họ sử dụng ngôn ngữ để làm việc gì
đó, hoàn thành một hành vi nhất định nào đó Chẳng hạn như có thể dùng lời nói
để trần thuật, hỏi, cầu xin, đề xuất, hứa hẹn, dọa nạt,… (Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội, trang 170)
Lý thuyết này về sau được nhà triết học J.Searle phát triển Trong công trình nghiên cứu của mình, Austin đã đưa ra các tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời, hành vi tạo lời và hành vi mượn lời) Cụ thể như sau:
1.2.1 Hành vi tạo lời
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: Ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp thành câu,… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Theo Austin, có ba phương diện khác nhau của hành vi này Quan sát một phát ngôn, trước hết người ta có hành vi ngữ âm để tạo ra chuỗi âm thanh làm nên phát ngôn đó Tất cả mọi cách thức âm thanh để thực hiện một âm tố, một từ thuộc lớp từ vựng hay ngữ pháp nào đó với những kiểu nhấn giọng, ngữ điệu xác định được gọi là hành vi đưa giọng (Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 17)
1.2.2 Hành vi mượn lời
Hành vi mượn lời là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu lực ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người
Trang 22nói Khi thực hiện một hành vi tại lời, chúng ta có hai hiệu quả khác nhau Thứ nhất, đó là giá trị tự tại của hành vi tại lời Thứ hai, đó là hiệu quả mà người nói chủ định gây ra đối với người nghe Hành vi tại lời của một câu khuyên nhủ, nhưng người nói có thể mượn lời khuyên nhủ này để tạo ra sự xúc động ở người nghe qua thái độ ân cần, trìu mến khi nói, cũng một hành động và cũng có thể bày tỏ sự quan tâm của người nói,… (Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 19)
Trong số những hành vi ngôn ngữ được đề cập ở trên có lẽ hành vi tại lời được chú trọng, quan tâm hơn cả và đây cũng là phần lý thuyết quan trọng được chúng tôi sử dụng vào mục đích nghiên cứu của luận văn Chúng tôi xin nêu rõ hơn về loại hành vi ngôn ngữ này
1.2.3 Hành vi tại lời (Illocutionary act)
1.2.3.1 Khái niệm
Hành vi tại lời là những hành vi được người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận
Trong giao tiếp một phát ngôn được đưa ra bao giờ cũng nhằm một mục đích nhất định Sự thực hiện hành vi như vậy gọi là hành vi tại lời Nó cho người nghe biết ý định và mục đích mà người nói hướng tới Chính vì thế loại hành vi này thường có những động từ ngữ vi tương ứng để gọi tên như: Khẳng định, hỏi, mời, chào, chúc, khuyên, ra lệnh, yêu cầu,…
Khác với hành vi mượn lời, hành vi tại lời có những qui ước và có thể chế mặc dù điều này không bộc lộ rõ ràng Vì vậy, việc biết một ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở chỗ nắm được ngữ âm, từ ngữ, câu và cách kết hợp bởi đó chỉ là bề
Trang 23mặt… sâu hơn chúng ta cần phải nắm được những qui tắc điều khiển các hành vi tại lời của ngôn ngữ đó
1.2.3.2 Tiêu chuẩn phân loại các hành vi tại lời
Theo Nguyễn Đức Dân, từ những nghiên cứu nền tảng của Austin, Searle
đã nêu ra tới 12 phương diện mà các hành vi tại lời có thể khác nhau Trong số này ông chọn ra ba tiêu chí cơ bản để phân loại các hành vi tại lời đó là: Đích ở lời, hướng khớp ghép lời và trạng thái tâm lý được biểu hiện
Đích tại lời: Đích tại lời của một hành vi ngôn ngữ là mục đích của hành
vi ngôn ngữ đó Đích tại lời không trùng với hiệu lực tại lời, chỉ là bộ phận của hiệu lực tại lời Ví dụ: Đích tại lời của hành vi đề nghị là mong muốn người nghe giải quyết, xem xét ý kiến mình nêu ra; hay đích tại lời của hành vi xin là làm cho ai đó bị thuyết phục để cho mình cái gì; đích tại lời với hành vi hỏi là mong muốn nhận được thông tin từ phía người nghe…
Hướng khớp ghép lời: Tiêu chuẩn này quy định mối quan hệ giữa từ ngữ
và thực tại mà hành vi đề ra Hướng khớp ghép này có thể được xây dựng theo hai chiều, từ ngôn ngữ tới hiện thực và từ hiện thực tới ngôn ngữ Các hành vi đề nghị, yêu cầu, mệnh lệnh,… là các loại hành vi mà ngôn từ có xảy ra trước và hiện thực diễn ra như thế Các loại hành vi như trần thuật, miêu tả, khẳng định, hỏi,… là các loại hành vi mà hiện thực xảy ra trước, ngôn ngữ diễn ra sau và phản ánh đúng hiện thực ấy
Trạng thái tâm lý được thể hiện: Khi thực hiện một hành vi nào đó người
ta có thể biểu hiện lòng tin, mong muốn, điều đáng tiếc,… Tiêu chuẩn này cho phép ta nhìn nhận nhiều hành vi khác nhau về bề ngoài dưới cùng một góc độ
Trang 24Chúng ta có thể dựa vào ba tiêu chuẩn cơ bản này để xác định một hành vi
cụ thể nào đó Mặc dù khi đi vào thực tế chắc chắn chỉ với ba tiêu chí này chúng
ta có thể gặp khó khăn khi nhận diện một hành vi tại lời, song chúng vẫn là cơ sở khoa học cho ta cái nhìn đầu tiên cơ bản về hành vi được nói tới
1.2.3.3 Các loại hành vi tại lời
Việc phân loại hành vi ngôn ngữ căn cứ vào phản ứng qua lại của những người tham gia giao tiếp Đây cũng chính là căn cứ để nhận ra hành vi tại lời
Cách phân loại của Austin: Austin đã đưa ra một bảng phân loại hành vi tại lời bao gồm: Phán định (đánh giá trên cơ sở sự kiện và lý lẽ xác đáng), hành
xử (thể hiện quyền thế, luật lệ), cam kết (ràng buộc vào trách nhiệm), ứng xử (phản ứng lại), bày tỏ (trình bày, thể hiện)
Cách phân loại của Searle: Tác giả này đã liệt kê 12 điểm được dùng làm tiêu chí phân loại hành vi ngôn ngữ Từ đó phân lập được 5 loại hành vi ở lời: Lớp biểu hiện, lớp chi phối, lớp cam kết, lớp biểu cảm, lớp tuyên bố (Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 31)
Lớp biểu hiện (sau này Searle gọi là lớp khẳng định) Các hành vi tại lời của lớp này như: Khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tin, giải thích,…
Lớp chi phối gồm những hành vi tại lời như: Mệnh lệnh, thách thức, hỏi, yêu cầu, đề nghị, cho phép,…
Lớp cam kết gồm các hành vi tại lời như: Cam kết, thề, hứa, hứa hẹn, cho tặng, biếu,…
Lớp biểu cảm gồm những hành vi tại lời như: Xin lỗi, chúc mừng, tán thưởng, cảm ơn, mong muốn, ruồng rẫy, biểu lộ tình cảm (vui thích, khó chịu,…)
Trang 25Lớp tuyên bố gồm những hành vi tại lời như: Tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ,…
Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, hành vi tại lời có thể chia thành hành vi tại lời trực tiếp và hành vi tại lời gián tiếp Trong đó:
Hành vi tại lời trực tiếp: Là hành vi có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây ra
Hành vi tại lời gián tiếp: Là hành vi không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên Nói cách khác, hành vi tại lời gián tiếp là hành vi mà trên cấu trúc bề mặt là A nhưng gây một hiệu lực là B Tuy nhiên cũng tùy thuộc từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà xem đó là hành vi tại lời trực tiếp hay gián tiếp
Các hành vi tại lời gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính
mơ hồ về nghĩa trong lời nói Tuy nhiên, không phải tùy tiện muốn dùng hành vi tại lời trực tiếp nào để tạo ra hành vi tại lời gián tiếp nào cũng được Có thể nói hiệu lực tại lời là cái thêm vào cho hiệu lực tại lời gián tiếp Muốn nhận biết được hiệu lực ở lời gián tiếp thì người nghe trước hết phải nhận biết hiệu lực ở lời của hành vi trực tiếp Và bởi vì tất cả các hành vi tại lời nào cũng được dùng gián tiếp, cho nên muốn sử dụng và nhận biết được các hành vi tại lời gián tiếp thì phải biết tất cả biểu thức ngữ vi và hiệu lực ở lời của tất cả các hành vi ở lời
Trong luận văn này, theo tư liệu thu thập được, chúng tôi phân loại và xem xét bốn loại hành vi tại lời sau tham gia vào việc báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt đó là: Hành vi xác tín, hành vi điều khiển, hành vi cam kết,
và hành vi biểu lộ
Trang 26CHƯƠNG 2: CÁC TỪ NGỮ BÁO HIỆU CHẤM DỨT CUỘC HỘI THOẠI
TRONG TIẾNG VIỆT
Có rất nhiều tín hiệu cho biết dấu hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt như dựa vào các từ ngữ, các hành vi ngôn ngữ, hay những yếu tố phi lời trong ngôn ngữ như ngữ cảnh, điệu bộ, cử chỉ hay sự im lặng,… Trong khuôn khổ luận văn của mình chúng tôi không có tham vọng và cũng không thể đi sâu vào tìm hiểu hết những tín hiệu đó được Vì vậy, chúng tôi chỉ đi sâu vào xem xét tìm hiểu về hai dấu hiệu cho biết chấm dứt cuộc hội thoại đó là dấu hiệu từ ngữ và các hành vi ngôn ngữ Sự phân chia này thực ra chỉ là tương đối, chỉ phục
vụ cho việc trình bày, bởi lẽ các dấu hiệu từ ngữ được xét cũng chính là dấu hiệu ngôn hành tường minh cho các hành vi ngôn ngữ đó
2.1 Đặc điển của các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt không chỉ có chức năng ngữ pháp mà còn có chức năng ngữ nghĩa Ý nghĩa của chúng chủ yếu được xác định thông qua cấu tạo, mối quan hệ giữa các yếu tố trong kết cấu, quan hệ giữa các kết cấu với nhau, vị trí của chúng trong câu,…
Trên quan điểm nhìn nhận và khảo sát câu theo hướng chức năng tức là xem xét câu như một tổ chức hình thức trong mối quan hệ tương tác, thống nhất với cơ cấu nghĩa để thực hiện chức năng giao tiếp, chúng tôi nhận thấy phải xem xét các yếu tố cấu tạo câu trong mối liên hệ với tất cả các yếu tố trong cấu trúc
Sự tồn tại của mỗi yếu tố là sự tồn tại có lý do nên sự hiện diện của bất kỳ yếu tố nào đều đáp ứng sự đòi hỏi về mặt ý nghĩa và tổ chức cấu trúc
Trang 27Khi khảo sát trên 1000 cuộc hội thoại trong tiếng Việt, chúng tôi thấy rằng các từ ngữ tham gia vào việc báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại chủ yếu là các từ
ngữ như: Tạm biệt, chào nhé, chào, chúc may mắn, tóm lại, được được thế nhé, bye (bai), lượn, lượn đê, thôi, thôi nhé, về, im đi, nhé, bibica, papai, dập máy đây, cúp máy đây, out đây, goodby forever, cút, xéo, biến, tẩu, bước, biến đi,
Chúng đa phần là các lớp từ chỉ hành động của con người Trong hội thoại tiếng Việt, sự xuất hiện của các từ ngữ trên là một minh chứng khá rõ về việc người nói lồng vào phát ngôn các ý định, hàm ý của mình mà không muốn hoặc không cần nói trực tiếp ra cho người nghe biết
Về mặt cấu tạo, chúng có thể là các từ đơn như từ: Chào, thôi, tẩu, biến,
về, bai, Chúng có thể là các từ ghép như từ: Thôi nhé, im đi, ra ngay, tạm biệt, tóm lại, lượn đê,
Về mặt từ loại, chúng đa phần là lớp từ vựng chỉ hành động, trạng thái của con người Những từ ngữ này thường có giá trị biểu cảm mạnh, tạo cảm giác mạnh, hay xuất hiện trong các câu có chứa các hành vi tại lời Chính những đặc điểm này đã tạo nên màu sắc nghĩa chủ đạo của từ trong phát ngôn, đó cũng chính là những thông tin ngữ dụng của từ Chúng ta biết rằng thông tin ngữ dụng
là một trong những thông tin quan trọng mà người tiếp nhận phát ngôn không thể không chú ý đến Thậm chí trong những hoàn cảnh nhất định, thông tin ngữ dụng lại chính là thông tin quan trọng nhất trong phát ngôn mà người nói muốn bộc lộ Đây cũng chính là cơ sở để chúng tôi đi vào phân tích ở phần sau Dưới đây chúng tôi sẽ xem xét một cách sâu hơn về các từ ngữ này thông qua các ví dụ cụ thể
Các động từ chỉ cảm giác mạnh báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt như ở các ví dụ sau:
Trang 28Ví dụ 1:
Thiên Ân nói 1 hơi:
- Không đứa con gái nào không mơ tưởng 1 gia đình hạnh phúc Anh nghĩ
sẽ mang tới hạnh phúc cho em khi suốt đời gắn liền với chiếc xe lăn hay sao? Người em yêu là 1 Thạch Hãn oai phong, năng nổ tràn đầy sức sống chớ không phải 1 pho tượng đặt đâu ngồi đó
Hãn quát to:
- Im đi!
Anh rướn người định chụp Thiên Ân nhưng không thể Đôi chân vô dụng trì anh xuống Hãn đúng là 1 pho tượng đặt đâu ngồi đó 2 tay bấu chặt vào thành xe lăn, Hãn hét:
- Cút ngay! Tôi không muốn thấy mặt cô nữa
Thiên Ân đứng sựng 1 chỗ
- Em em xin lỗi Nhưng không thể thế này được Nếu em yêu anh, phải
cố gắng
Hãn bị khích động mạnh, anh gào lên trong phẫn nộ
Rời khỏi đây đi Tôi không cần 1 người vô tình vô nghĩa như cô
(Trần Thị Bảo Châu, Ai Bắc Nhịp Cầu, trang 2)
Ví dụ 2:
Dễ mà! Em đọc số, anh gọi cho
Thấy Cần lấy trong túi áo ra cái di động bé xíu, Phương Phi đành đọc số điện thoại của gia đình
Cần nhấn số xong, đưa máy cho Phi, cô áp vào tai chờ đợi giọng Thư Hoài lảnh lót
- Alô
Trang 29- Chị Hai hả? Xe bị xì, phải chờ vá ba bốn chiếc mới phiên em Chắc em
về trễ, nói nội đừng trông Thôi nha!
Nhận cái điện thoại từ tay Phi, Cần lại cười
- Ngắn gọn, tiết kiệm từng chữ còn hơn đánh điện tín Em làm anh ngại quá!
4, không gọi điện thoại
Phương Phi mỉa mai:
- Anh từng trải nhỉ! Chắc đã bị nhiều người yêu cầu như vậy
Cần xoa cằm:
- Đó là thủ tục, giống y như 1 người đi tìm việc phải qua phỏng vấn thôi Với anh, chả có gì anh không vượt qua được
Phương Phi cười nhạt:
- Thử đợi xem Chào!
Dứt lời, Phương Phi đứng dậy
(Trần Thị Bảo Châu, Ai Bắc Nhịp Cầu, trang 9)
Ví dụ 4:
Ông đang mê ngủ đấy ông thanh tra bộ ạ!
Trang 30- Thằng phản nghịch từ đâu bỗng nhiên hiện ra trước mắt tôi, ẩy sấn tôi
ra ngoài mặt đường
- Mẹ kiếp! Muốn ăn mày ăn nhặt thì quỳ xuống, thì mở miệng ra mà xin, may ra người ta còn thương hại Đằng này lại muốn ăn mày kiểu trí thức, kiểu tống tiền, kiểu tình thương yêu nọ kia à? Thế thì cút! Cút ngay, không tao xách
cổ đến đồn cảnh sát bây giờ Cút!
- Không! Kìa, tôi tôi
- Không tôi tớ gì hết Cút ngay!
(Chu Lai, Ăn Mày Dĩ Vãng, trang 1)
- Im hết đi! Hãy lo "chẩu" đã rồi thoát nạn hãy phê bình
Xe cảnh sát cách xe anh chừng một trăm thước Hạo giục:
- Nhấn thêm ga cho nó đuổi chơi, Thảo
(Duyên Anh, Ảo Vọng Tuổi Trẻ, trang 16)
Ví dụ 6:
Đoàn Dự nhăn nhó:
Trang 31- Mày nín cười trước mặt tao, sau đó, mày mở ga cười với bầy nghịch nữ độc ác
Hoàng Dung bị nghĩ oan, dơ tay lên:
- Em xin thề
Đoàn Dự át giọng:
- Thề cá trê chui lỗ Mày cút đi!
- Em giúp anh chinh phục con Chu Chỉ Nhược
- Tao cóc cần cái con xí xọn, vô duyên đó Tao đã có thơ siêu hình Rồi mày chống mắt mà coi, con gái sẽ bu quanh đời tao Cút, cút, cút!
(Duyên Anh, Cám Ơn Em Đã Yêu Anh, trang 7)
Các từ ngữ như: “Cút, cút đi, im hết đi, cút ngay, chào, thôi nha, rời khỏi đây đi” đã báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong các ví dụ trên Chúng có thể
là các từ đơn, từ ghép Khi xuất hiện trong câu, chúng thường kết hợp với một
động từ khác chỉ hướng đi kèm như từ “đi” (cút đi, im hết đi), để đảm nhiệm
chức năng chấm dứt cuộc hội thoại Các từ ngữ này xuất hiện trong phát ngôn của người nói đã làm đe dọa tới thể diện của người nghe ở mức cao nhất, cuộc thoại sẽ kết thúc một cách căng thẳng, theo chiều hướng tiêu cực, nguyên tắc hội thoại cũng bị phá vỡ, và thái độ của người nói ở đây cũng thiếu lịch sự
Các từ mượn từ tiếng nước ngoài: Bye, outside, out, goodby forever, báo
hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Ví dụ 1:
- Outside rồi hả?
Tôi đập chân xuống một cái “rầm”:
- Outside cái con khỉ! Mày cút giùm đi cho tao nhờ!
Thấy tôi nổi đóa, Hải gầy vội vã lui ra, miệng lẩm bẩm:
Trang 32- Tiệu là vậy
(Nguyễn Nhật Ánh, Cô Gái Đến Từ Hôm Qua, trang 54)
Ví dụ 2:
Thôi, Goodby forever, anh ráng đẻ thêm đề nghị mới Còn tôi, thú thật chỉ
có một đề nghị, anh đừng bao giờ gặp tôi hay đến nhà chị Nga nữa
(Minh Thùy, Chat Room, trang 54)
Các từ mượn từ tiếng nước ngoài nhưng được phiên âm sang tiếng Việt:
Bai (bye), bai bai, bái bai, báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Ví dụ 1: Thôi bai bai nha, tao out cái đã, mệt quá rồi, đi tắm đây
Ừ đi đi
(Giao tiếp chat trên mạng)
Ví dụ 2:
Tôi lại sờ tay vào túi định làm một cú puộc
- Bao trống rỗng như hồi nãy nhưng kịp nhớ ra nên đành tặc lưỡi Vào đi! Nhìn thấy tôi, gã phó huyện trưởng vươn vai đứng dậy, xương kêu răng rắc, rút từ ca-táp ra một xấp bạc xanh lè quẳng xuống bàn:
- Thiếu chịu Thừa, boa luôn cho mấy em Bảy trăm nghìn Được chưa? Thôi, mình bai đi anh Hai! Thị xã về đêm còn nhiều cái lạ, không nên nấn ná mãi một chỗ, phí hoài
(Chu Lai, Ăn Mày Dĩ Vãng, trang 1)
Trang 33- Khỏi sợ quên, anh ngồi quán cà phê chờ luôn chịu chưa? Chịu Bái bai nhé!
Cô vừa quay đi thì thấy Triệu Nguyên dắt xe vào Cô hơi cười, chào Triệu Nguyên cũng mỉm cười với cô Rồi mạnh ai nấy đi
(Hoàng Thu Dung, Đêm Dạ Vũ, trang 2) Các từ ngữ mượn từ tiếng nước ngoài này xuất hiện trong câu cũng đã báo hiệu cho chúng ta biết cuộc thoại này đã chấm dứt, và cuộc thoại cũng kết thúc một cách êm đẹp như ở những ví dụ trên, thể diện của các bên giao tiếp đều không bị đe dọa
Ngoài ra, các tín hiệu ngôn ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong
tiếng Việt còn là các từ ngữ pha tạp như pipica, bibica, bibi, pai pai,… Chúng
đều mang nghĩa là tạm biệt, nhưng đã được giới trẻ hiện nay Việt hóa, và trở thành các từ ngữ thông dụng, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt Đặc biệt là giao tiếp qua các mạng xã hội như facebook, blog, hay qua yahoo
Ví dụ: Thôi bibi cưng nhá, lượn ra ngoài tí đã
(Giao tiếp chát trên mạng)
2.2 Vị trí của các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt
Qua việc phân tích tư liệu, chúng tôi thấy rằng các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại trong tiếng Việt được sắp xếp một cách tự nhiên Vị trí của chúng rất linh động như đứng đầu câu, đứng giữa câu, đứng cuối câu, có khi lại đứng một mình đảm nhận chức năng chấm dứt cuộc hội thoại Mỗi vị trí ấy sẽ tạo ra những cấu trúc khác nhau Vị trí này phụ thuộc vào tính cấp bách mà nhân vật giao tiếp muốn phản ánh thái độ đánh giá của mình
Trang 34Các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại thường xuất hiện với tư cách
là chỉ báo cho các hành vi tại lời Chức năng của chúng trong câu là để đưa ra các mệnh lệnh, các yêu cầu, đề nghị, đòi hỏi kèm theo thái độ đánh giá, hồi đáp của người nói và người nghe
2.1.2.1 Xuất hiện ở đầu câu
Khi xuất hiện ở đầu câu thì sau nó có thể là một mệnh đề bao gồm đầy đủ
cả chủ ngữ và vị ngữ (cấu trúc C-V), hoặc sau nó có thể là một động ngữ (câu có động từ làm trung tâm, xung quanh nó là các thành tố phụ đi kèm) Cấu trúc ĐN (động ngữ) = ĐT + C-V Ở trường hợp này, các từ ngữ báo hiệu dấu hiệu chấm dứt cuộc hội thoại là động từ chính trong câu và do vậy chúng không thể thay thế được Ta hãy xem xét các ví dụ sau:
Trang 35Cô Thịnh gật đầu:
- Ừ, trông ghê quá!
Tôi nói:
- Ngạn cũng thấy ghê nhưng Ngạn không sợ Ngạn đứng coi nữa!
Cô Thịnh kéo tay tôi:
- Thôi về đi, khuya rồi! Bộ Ngạn không sợ bị đòn hả?
(Nguyễn Nhật Ánh, Mắt Biếc, trang 17)
Ở Ví dụ 1 và ví dụ 2, theo sau các từ ngữ “về thôi” báo hiệu chấm dứt
cuộc hội thoại là một mệnh đề bao gồm một kết cấu chủ - vị Kết cấu này có thể cung cấp, đưa thêm thông tin mới cho người nghe hay biểu hiện một thái độ đánh giá nào đó của người nói và người nghe Như ở ví dụ 1, để lý giải cho việc phải về nhà của mình, người nói đã đưa thêm thông tin mới là mình còn có nhiều việc phải làm và không thể ở đây thêm được nữa Nhưng ở ví dụ 2, người nói lại biểu lộ một thái độ đánh giá của mình về sự việc được đưa ra
Trang 36Tao không nghĩ vậy Con Se Sẻ này đúng là chẳng ra làm sao!
Văn Châu vỗ vai bạn:
Thôi, đi làm việc đi! Khách vô rồi kìa!
ĐN
(Nguyễn Nhật Ánh, Quán Kem, trang 67 )
Hai ví dụ 3 và 4, theo sau từ “thôi” lại là một kết cấu động ngữ (ĐN) có động từ “vào” (ví dụ 1) và từ “đi” (ví dụ 2) làm động từ trung tâm, xung quanh
nó có rất nhiều các thành tố phụ đi kèm Từ “thôi” xuất hiện ở đầu câu cho ta
thấy mức độ mệnh lệnh, ra lệnh của câu đã được giảm nhẹ đi rất nhiều Theo sau
nó là một kết cấu động ngữ như ở ví dụ 4 có động từ “đi” đảm nhiệm vai trò là động từ trung tâm Trong trường hợp này, từ “thôi” sẽ đảm nhiệm vai trò làm
thành phần phụ, đứng trước động từ trung tâm của câu, vì vậy có thể lược bỏ đi
mà không ảnh hưởng đến chức năng cú pháp cũng như chức năng ngữ nghĩa của câu
2.1.2.2 Xuất hiện ở giữa câu
Khi xuất hiện ở vị trí giữa câu, ta thấy rằng các từ ngữ báo hiệu dấu hiệu chấm dứt cuộc hội thoại thường nằm trong kết cấu chủ vị Chúng xuất hiện tại vị trí vị ngữ (VN) của câu, đảm nhiệm vai trò là động từ (ĐT) chính trong câu Cấu trúc có dạng CN - VN (ĐT) Do chúng giữ vai trò là động từ chính trong câu nên nếu thiếu nó thì câu không có đủ nghĩa và chức năng cú pháp của câu cũng bị phá vỡ Ta hãy xem xét các ví dụ sau:
Ví dụ 1:
- Outside rồi hả?
Tôi đập chân xuống một cái “rầm”:
- Outside cái con khỉ! Mày / cút giùm đi cho tao nhờ!
Trang 37Mỹ chơi, anh sẽ trải thảm đỏ đón tiếp đó
Phượng lặng im offline, tắt computer
(Minh Thùy, Chat Room, trang 166)
Ví dụ 3:
Cả Triệu Bạch Nhãn và mấy lão kia cũng mắng om sòm:
- Ông / bảo mày cút đi, mày không nghe hay sao?
C V (ĐT)
AQ đem hai bàn tay lên che đầu rồi không kịp suy nghĩ, chuồn thẳng May
mà "ông Tây" không đuổi theo AQ chạy rất nhanh khoảng độ năm sáu mươi bước, mới đi chầm chậm lại
(Lỗ Tấn, AQ Chính Truyện, trang 124)
Ví dụ 4:
- Anh chờ một tiếng rồi! Sao về muộn thế?
Chờ làm gì? Anh về đi Tối nay đến đây tôi có chuyện muốn nói Còn bây giờ tôi đang mệt
Linh cắm cúi bước Được vài bậc cầu thang ngoảnh lại thấy Văn lẽo đẽo theo, cô rên lên:
- Anh / về đi cho tôi thở với Mười hai giờ trưa rồi, cả phòng còn phải ăn,
Trang 38C V (ĐT)
ngủ, anh hiểu không?
(Nguyễn Thị Việt Nga, Bạn Bè Ơi, trang 85)
Ví dụ 5:
- Nó coi mày không bằng cái ngón chân út nó!
- Kệ nó
Biền tỉnh rụi khiến tôi điên tiết:
- Nó coi mày như thằng ngu!
Lần này, Biền không kiên nhẫn "kệ nó" nữa Nó nhảy dựng lên:
- Mày / câm cái mồm của mày lại cho tao nhờ coi!
C V (ĐT)
Vẻ hung hãn của Biền khiến tôi bất giác xích tuốt ra xa Nhưng Biền không thèm chồm tới bóp cổ tôi Nó chỉ nhếch mép, giọng kẻ cả:
- Có mày ngu thì có!
Tao? - Tôi trỏ tay vào ngực mình
(Nguyễn Nhật Ánh, Những Chàng Trai Xấu Tính, trang 38)
2.1.2.3 Xuất hiện ở cuối câu
Khi ở vị trí cuối câu thì nó có thể xuất hiện trong phần vị ngữ của kết cấu chủ - vị, hoặc xuất hiện trong kết cấu động ngữ (ĐN) Phía trước nó cũng có thể
là một kết cấu chủ vị hoặc một đoản ngữ (câu có danh từ, động từ hoặc tính từ làm trung tâm xung quanh nó là các thành tố phụ đi kèm)
Ví dụ 1:
- Ồ! thật tuyệt diệu Thế giới này sẽ trở thành thiên đàng ngay
Cô bé kéo ghế đứng dậy
- Thôi chào ông, em / về
Trang 39ĐN C V
Tôi chưng hửng nói:
- Gấp vậy Còn sớm mà
- Em không muốn ở trong thiên đàng của ông nữa Ngột ngạt quá
(Truyện Ngắn Đoàn Thạch Biền, trang 24)
(Khái Hưng - Nhất Linh, Anh Phải Sống, trang 43)
Từ “về” xuất hiện tại vị trí cuối câu ở hai ví dụ trên đã báo hiệu cuộc hội thoại đã chấm dứt và chúng xuất hiện ở hai kết cấu khác nhau Ở ví dụ 1, từ “về”
đảm nhiệm vai trò là động từ chính trong câu có kết cấu chủ - vị; ở ví dụ 2, từ
“về” lại đảm nhiệm vai trò là động từ chỉ hướng trong đoản ngữ động từ Khi
xuất hiện tại vị trí cuối câu, chúng ta cũng không thể bỏ chúng đi được; vì nếu bỏ
đi thì chức năng ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu sẽ không còn
2.1.2.4 Xuất hiện một mình
Khi đứng một mình thì phía trước và phía sau các từ ngữ báo hiệu chấm
Trang 40kèm để giải thích thêm hoặc cung cấp bổ sung thêm thông tin mới cho người nghe Các thông tin đi kèm có thể đứng ở phía trước nó hay phía sau nó tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp Khi xuất hiện một mình, chúng thường là các động từ chỉ mệnh lệnh, ra lệnh, yêu cầu của người nói hay lời chào tạm biệt như:
bye, chào, chào nhé, bước, cút, xéo,
Ví dụ 1:
- Sáng nay tôi có gọi đến đây, lúc 8 giờ 15, nhưng anh chưa đến
- Xin lỗi, sáng nay tôi đưa Phượng ghé qua chợ nên đến hơi trễ
Phượng rút lui, đi ra cửa:
- Anh Thảnh ở lại làm, em đi bộ về nhà Bye
- Hê, biết đường đâu mà về, chờ anh chút đi Phượng
Cô xăm xăm đi ra khỏi sân
(Minh Thùy, Chat Room, trang 46)
Ở ví dụ này, các thông tin đi kèm ở phía trước nó Hành vi chào tạm biệt
“bye” rõ ràng cho ta thấy là cuộc thoại này đã kết thúc Người nói đã tự mình kết
thúc cuộc thoại bằng cách chào tạm biệt để đi bộ về nhà Một tín hiệu ngôn ngữ nữa cho ta biết cuộc thoại kết thúc đó là hành vi gọi tên nhiều lần người nghe mà
không có tín hiệu hồi đáp lại được thể hiện bởi dấu ba chấm (Phượng ) Điều
này rõ nhất là khi chúng ta quan sát cuộc nói chuyện qua điện thoại Khi người
nói gọi tên người nghe nhiều lần hoặc phát ngôn mãi từ “alo” thì chắc chắn rằng
cuộc thoại này đã kết thúc vì đầu dây bên kia đã không trả lời hoặc có tiếng báo hiệu tút tút Mặc dù không trực tiếp tham gia vào cuộc thoại đó, đứng ngoài quan sát nhưng chúng ta cũng biết chắc một điều rằng, dấu hiệu như vậy là cuộc thoại
đã kết thúc Khi các từ ngữ báo hiệu chấm dứt cuộc hội thoại ở vị trí này thì ta thấy rằng thể diện của người nghe cũng bị đe dọa Ở ví dụ trên, thể diện của cả