1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát định ngữ tỉnh thái trong câu Tiếng Việt trên ba bình diện Kết học, Nghĩa học, Dung học

163 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các cách nhìn nhận này mới chỉ tập trung vào phần tình thái- phần ngữ nghĩa biểu đạt của các yếu tố này, mà chưa thực sự đi sâu vào vị trí, cấu tạo, vai trò của thành phần này

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi Những tư liệu trong luận văn chưa hề được sử dụng trong bất cứ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Trần Hoàng Hương

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

3 Mục tiêu của luận văn 8

4 Nguồn tư liệu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa của luận văn 10

7 Bố cục của luận văn 11

Trang 4

1.1 Vấn đề tình thái trong tiếng Việt 12

1.1.1 Khái niệm chung 12

1.1.2 Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về tình thái 14

1.1.3 Phân loại ý nghĩa tình thái 15

1.1.4 Các phương tiện biểu thị tình thái 19

1.2.2 Phân biệt định ngữ câu với các thành tố khác trong câu 24

1.2.2.1 Phân biệt định ngữ câu với các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản 24

1.2.2.2 Phân biệt định ngữ câu với định ngữ của vị từ làm vị ngữ 26

1.2.2.3 Phân biệt định ngữ câu với trạng ngữ 26

1.2.3 Phân loại định ngữ câu 27

1.3 Lý thuyết phân đoạn thực tại câu theo quan điểm của Ngữ pháp chức năng 28

1.4 Tiểu kết 32

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT ĐỊNH NGỮ TÌNH THÁI 34

2.1 Dẫn nhập 34

2.2 Đặc điểm cấu tạo của định ngữ tình thái 34

2.3 Vị trí của định ngữ tình thái trong câu 37

2.3.1 Định ngữ tình thái đứng đầu câu 37

2.3.2 Định ngữ tình thái đứng sau liên từ 40

2.3.3 Định ngữ tình thái đứng giữa Đề- Thuyết 41

2.4 Tiểu kết: 43

CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT ĐỊNH NGỮ TÌNH THÁI 44

TRÊN BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC 44

3.1 Dẫn nhập 44

3.2 Định ngữ câu biểu thị tình thái nhận thức 47

3.2.1 Định ngữ câu biểu thị tình thái thực hữu 47

3.2.1.1 Định ngữ câu khẳng định một lần nữa giá trị chân lí, tính chính xác của một sự tình đã được nêu ra từ trước đó 47

3.2.1.2 Định ngữ câu khẳng định tính chất đương nhiên của sự tình 50

3.2.1.3 Nhóm định ngữ câu xác nhận một sự tình trên cơ sở mối quan hệ tương phản 52

3.2.1.4 Định ngữ câu xác nhận một sự tình trên cơ sở giải thích 54 3.2.1.5 Nhóm định ngữ câu xác nhận sự tình trên mối quan hệ nhấn mạnh, tương hợp 56

Trang 5

3.2.1.6 Nhóm định ngữ câu xác nhận một sự tình có tính chất tổng kết, đúc rút

thành nhận định 57

3.2.2 Tình thái không thực hữu 57

3.2.2.1 Nhóm định ngữ câu dựa trên sự suy lý 59

3.2.2.2 Nhóm định ngữ câu dựa trên cơ sở bằng chứng của các giác quan 68

3.2.2.3 Nhóm định ngữ câu dựa trên cơ sở các tin đồn hay tường thuật 69

3.2.3 Định ngữ câu biểu thị tình thái phản thực hữu 71

3.2.3.1 Nhóm các định ngữ tình thái phản thực hữu gồm Suýt nữa P, Tí nữa P, Tí nữa thì P, Chút nữa thì P 71

3.2.3.2 Nhóm các định ngữ tình thái phản thực hữu gồm: Làm gì có P, Làm như P, Nào P, Làm gì P… 72

3.2.3.3 Trường hợp Những tưởng + P 73

3.2.3.4.Nhóm các định ngữ tình thái gồm Họa là P, Họa chăng P, Dễ tưởng P, Dễ thường P 73

3.3 Định ngữ câu biểu thị tình thái đạo nghĩa 74

3.4 Một số trường hợp mơ hồ về tình thái 76

3.5 Tiểu kết: 78

3.5.1 Định ngữ biểu thị tình thái nhận thức chiếm đa số 78

3.5.2 Định ngữ biểu thị tình thái nhận thức đa dạng về mặt nội dung biểu đạt 79

3.5.2.1 Định ngữ câu biểu thị tình thái thực hữu 79

3.5.2.2 Định ngữ câu biểu thị tình thái không thực hữu 80

3.5.2.3 Nhóm định ngữ câu biểu thị tình thái phản thực hữu 83

3.5.3 Định ngữ biểu thị tình thái đạo nghĩa 84

3.5.4 Ranh giới giữa các nhóm định ngữ tình thái rất mong manh 84

CHƯƠNG 4: KHẢO SÁT ĐỊNH NGỮ TÌNH THÁI 86

4.1 Dẫn nhập 86

4.2 Chức năng dụng học của định ngữ tình thái trong phạm vi văn bản 88

4.2.1 Định ngữ tình thái tác động đến toàn bộ phần nội dung còn lại của câu 88

4.2.2 Định ngữ tình thái với vai trò là chỉ tổ chỉ dẫn quan hệ lập luận 92

4.2.3 Định ngữ tình thái với vai trò đảm bảo liên kết và mạch lạc văn bản 94

4.3 Chức năng dụng học của định ngữ tình thái trong mối quan hệ với chủ ngôn 97

Trang 6

KẾT LUẬN 102

TƯ LIỆU THAM KHẢO 109

CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐƯỢC CHỌN LÀM TƯ LIỆU KHẢO SÁT 113

PHỤ LỤC 114

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngữ pháp là một bộ phận của ngôn ngữ học, hình thành từ lâu đời và phát triển với nhiều dòng lớn như: ngữ pháp điền chế (ngữ pháp truyền thống nhà trường), ngữ pháp miêu tả, ngữ pháp chức năng, ngữ pháp tạo sinh, ngữ pháp giải thích….Ngữ pháp chức năng là một trong những trường phái nghiên cứu có nhiều điểm tiến bộ so với ngữ pháp tạo sinh trước đó và để lại nhiều ảnh hưởng cho sự phát triển của ngữ pháp sau này Ngữ pháp chức năng chống lại quan điểm cho rằng có một thứ ngữ pháp độc lập với nghĩa Các nhà ngôn ngữ theo trường phái này cho rằng nghĩa và công dụng quyết định đến cấu trúc hình thức Hình thức không tồn tại độc lập, nó là công dụng để truyền nghĩa và giao tiếp

Trong giao tiếp hàng ngày có những kiểu câu mà với sự xuất hiện của một thành tố khác, tình thái của câu đã thay đổi, dẫn đến kết quả là mục đích cũng như hiệu quả giao tiếp thay đổi Xét các ví dụ sau:

Huy đã ăn quả chuối trên bàn (1)

Huy chắc chắn đã ăn quả chuối trên bàn (2)

Có lẽ là Huy đã ăn quả chuối trên bàn (3)

Quả nhiên là Huy đã ăn quả chuối trên bàn (4)

→ Nội dung sự tình ở đây là: Huy ăn quả chuối trên bàn

Tuy nhiên, trong 4 phát ngôn trên thì tình thái lại khác nhau Ở phát ngôn thứ nhất (1): người nói cho biết một sự tình đã xảy ra rồi Ở phát ngôn (2), ngoài việc thông báo sự tình người nói còn khẳng định mức độ chắc chắn

về sự tình đó, phương tiện ngôn ngữ biểu thị tình thái ở đây là từ “chắc chắn

Ở phát ngôn (3) là giả định của người nói, phương tiện biểu đạt là từ “Có lẽ”

Ở phát ngôn (4) người nói khẳng định sự tình xảy ra theo như dự đoán,

Trang 8

thành tố này là quán ngữ tình thái, chức năng của chúng vừa tham gia biểu thị nội dung tình thái vừa tham gia liên kết văn bản, thường nằm ở đầu văn bản Cũng có một số nhà nghiên cứu gọi đây là Đề tình thái, coi các thành tố này như một loại đề với chức năng biểu thị tình thái Tuy nhiên, các cách nhìn nhận này mới chỉ tập trung vào phần tình thái- phần ngữ nghĩa biểu đạt của các yếu tố này, mà chưa thực sự đi sâu vào vị trí, cấu tạo, vai trò của thành phần này như một bộ phận thực thụ trong câu Đề tài đã dựa trên quan điểm của Nguyễn Văn Hiệp, xử lý các yếu tố trên như một thành phần câu có chức năng biểu thị tình thái của câu Chúng tôi gọi đây là Định ngữ tình thái

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của luận văn là những câu có định ngữ tình thái đứng đầu câu Quá trình khảo sát cho thấy định ngữ tình thái trong câu rất phong phú và

đa dạng, do vậy chúng tôi chỉ khoanh vùng khảo sát những trường hợp định ngữ tình thái phổ biến, được sử dụng thường xuyên Cơ sở lý thuyết của luận văn

là những quan điểm của trường phái Ngữ pháp chức năng Chúng tôi chủ trương nghiên cứu kiểu câu này trên 3 bình diện: Kết học, Nghĩa học và Dụng học

3 Mục tiêu của luận văn

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy có khá nhiều nhà Việt ngữ học tìm hiểu, đi sâu vào các định ngữ tình thái Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung vào khía cạnh nội dung tình thái mà thành tố này biểu đạt, chưa thực sự làm rõ vai trò, vị trí của thành tố này trên bình diện kết học cũng như bình diện dụng học Nói cách khác, họ chưa thực sự coi đây là một thành phần của câu Chính vì thế, mục tiêu của luận văn là đi sâu phân tích

và làm rõ những đặc điểm của thành tố này với tư cách là một thành phần câu

4 Nguồn tư liệu

Tư liệu của chúng tôi được lấy từ hai nguồn: Tư liệu thực tế và các tác phẩm văn học

Trang 9

- Đây là một thành phần thường gặp trong ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, cho nên nguồn tư liệu đầu tiên mà chúng tôi hướng đến chính là những cuộc giao tiếp trong thực tế Nguồn tư liệu này cũng được thu thập từ nhiều môi trường giao tiếp khác nhau (gia đình, xã hội, trường học, công sở…), bao quát nhiều mối quan hệ khác nhau giữa những người tham gia giao tiếp (bố mẹ- con cái, bạn bè, đồng nghiệp, thầy- trò, thủ trưởng- nhân viên…)

để cho thấy toàn cảnh hoạt động của kiểu câu có định ngữ tình thái Những tư liệu này được chúng tôi thu thập và ghi lại dưới dạng phiếu

- Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành thu thập kiểu câu này trong các tác phẩm văn học của 4 tác giả: Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,

và Chu Lai Mục đích của chúng tôi là muốn đặt kiểu câu này trong nhiều môi trường hoạt động khác nhau (trong một văn bản, một cuộc thoại….) nhằm khám phá những biểu hiện đa dạng về cấu trúc, ngữ nghĩa cũng như hiệu quả giao tiếp mà định ngữ tình thái mang đến cho câu Tổng số câu mà chúng tôi thu thập được trong nguồn tư liệu này là 865 câu

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thực nghiệm: tư liệu được thu thập để xử lí lấy từ các nguồn trong thực tế, từ những môi trường khác nhau, thể hiện mối quan hệ của các bên tham gia giao tiếp khác nhau

- Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả: Các tư liệu thu thập được

từ nhiều nguồn được thống kê đầy đủ trong các bảng biểu, đồng thời được phân loại theo từng tiêu chí cụ thể

- Phương pháp phân tích dựa vào ngữ cảnh: Tìm hiểu hoạt động của kiểu câu trong nhiều kiểu ngữ cảnh giao tiếp khác nhau để thấy được đặc điểm hoạt động của chúng

Trang 10

Trong quá trình nghiên cứu, một số các thủ pháp khác như cải biến, thay thế, bổ sung…cũng được sử dụng linh hoạt nhằm làm rõ đặc điểm của định ngữ tình thái trong câu

6 Ý nghĩa của luận văn

- Về mặt lí luận: Luận văn này đi theo hướng ngữ pháp chức năng- một trong những trường phái ngữ pháp ưu tiên, quan tâm đến ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó, hiện đang là một trong những trào lưu ngữ pháp trung tâm của ngôn ngữ học thế giới Kết quả của luận văn sẽ góp phần củng cố tính đúng đắn và năng lực giải thích, miêu tả của trường phái ngữ pháp này

Bằng việc áp dụng lý thuyết ngữ pháp hiện đại để soi vào những ví dụ

cụ thể trong hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ, luận văn cũng sẽ góp phần củng cố lí thuyết ngữ pháp hoặc phát hiện ra những nét mới, khác biệt trong quy luật hoạt động của lời nói so với quy luật hoạt động của ngôn ngữ Như vậy, đây là bước đi đầu tiên, khởi đầu cho việc nghiên cứu của ngữ pháp lời nói của chúng tôi sau này

- Về mặt thực tiễn: Việc nghiên cứu Định ngữ tình thái không phải là một điểm mới mẻ trong Việt ngữ học Các nhà ngôn ngữ học đã gọi thành tố này với các tên gọi khác nhau như: Quán ngữ tình thái, Đề tình thái, Phụ ngữ tình thái…Tuy nhiên, điểm mới của luận văn là sẽ tập trung làm rõ thành tố này ở đầy đủ 3 bình diện: kết cấu, ngữ nghĩa và dụng học Cũng trong quá trình khảo sát và phân tích chúng tôi thấy một số trường hợp có chung một nội dung tình thái nhưng lại khác nhau về cấp độ Việc làm rõ những nét khác biệt này cũng góp phần làm sáng rõ hơn nguyên tắc hoạt động của thành phần này trong câu và trong giao tiếp Đồng thời giúp cho các nhà nghiên cứu có một cái nhìn toàn diện hơn về thành tố này với tư cách là một thành phần câu Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ giúp ích cho việc biên soạn của giáo

Trang 11

trình dạy ngữ pháp cho người Việt Nam và cho người nước ngoài theo quan điểm giao tiếp

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày những vấn đề có liên quan để làm cơ sở cho các phân tích trong những chương tiếp theo Đối với

đề tài của chúng tôi, phần cơ sở lý thuyết quan trọng là vấn đề định ngữ trong câu khi được nhìn nhận với tư cách là một thành phần câu thực thụ và vấn đề tình thái, bởi đây là một khái niệm có nhiều cách quan niệm khác nhau, cần

có một quan điểm làm cơ sở

Chương 2: Khảo sát kiểu câu có Định ngữ tình thái trên bình diện Kết học Chương này phân tích câu có chứa định ngữ tình thái trên bình diện kết học thông qua việc phân chia chúng thành các tiểu loại khác nhau

Chương 3: Khảo sát kiểu câu có Định ngữ tình thái trên bình diện Nghĩa học Mục đích của chương này là tìm hiểu những ý nghĩa tình thái khác nhau của định ngữ tình thái trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập và các trường hợp cụ thể

Chương 4: Khảo sát kiểu câu có Định ngữ tình thái trên bình diện dụng học Chương này phân tích tầm tác động của định ngữ tình thái trên các bình diện: trong câu, liên kết văn bản và hiệu quả giao tiếp

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Vấn đề tình thái trong tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm chung

Tình thái là một trong những khái niệm được thừa nhận là phức tạp nhất, gây nhiều tranh cãi nhất của ngôn ngữ học hiện đại Để biểu thị tình thái ngôn ngữ có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, từ phương tiện ngữ

âm đến phương tiện từ vựng và phương tiện ngữ pháp

Trong giới ngôn ngữ, Ch.Bally được xem là một trong những người đầu tiên có công mở đường cho việc nghiên cứu về tình thái ngôn ngữ học một cách có hệ thống Ông cho rằng trong một câu nói bao giờ cũng gồm hai thành phần chính: Nội dung thông tin miêu tả sự tình của thế giới hiện thực và Thái độ tức cách nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với nội dung thông tin

sự kiện đó, với hiện thực và đối với người đối thoại Thành phần thứ nhất được Ch.Bally gọi là Dictum (nội dung mệnh đề), thành phần thứ hai được gọi là Modus (tình thái) thể hiện thái độ, đánh giá của người nói Hai thành phần này luôn gắn kết, không tách rời nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau trong các phát ngôn, cụ thể: thành phần Dictum gắn với chức năng thông tin mệnh

đề, chức năng miêu tả của ngôn ngữ, còn thành phần Modus gắn với bình diện tâm lý; thể hiện tình cảm, cảm xúc của người nói Ch.Bally cho rằng tình thái

là linh hồn của câu, tức tình thái là nhân tố quan trọng để thực tại hóa câu, biến nội dung sự tình trong phát ngôn là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định, thể hiện mức độ cam kết của người nói đối với độ chân thực của thông tin cùng những đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, mục đích…của người nói

Phân tích ví dụ sau:

Huy đã ăn quả chuối trên bàn (1)

Huy chắc chắn đã ăn quả chuối trên bàn (2)

Trang 13

Huy đã ăn quả chuối trên bàn à? (3)

Có lẽ là Huy đã ăn quả chuối trên bàn (4)

→ Nội dung sự tình ở đây là: Huy ăn quả chuối trên bàn

Tuy nhiên, tình thái trong 4 phát ngôn trên khác nhau Ở phát ngôn thứ nhất (1): người nói kể lại một sự tình, không bày tỏ thái độ gì Ở phát ngôn (2), người nói thể hiện sự khẳng định chắc chắn về sự tình, phương tiện ngôn ngữ biểu thị tình thái ở đây là từ “chắc chắn” Ở phát ngôn (3) với tiểu từ tình thái “à” ở cuối câu, người nói chưa thực sự tin vào sự tình được nói đến Ở phát ngôn (4) là giả định của người nói Sự khác nhau về tình thái trong các trường hợp trên là do việc sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái khác nhau Phần sau của luận văn sẽ tiếp tục nói rõ hơn về vấn đề này

Thực tế, tình thái cũng là một vấn đề được đặt ra trong logic học Tuy nhiên, trong logic học, vấn đề tình thái chỉ được quan tâm dưới góc độ ảnh hưởng như thế nào đến giá trị chân ngụy của mệnh đề Nói cách khác, tình thái trong logic học chỉ quan tâm đến mối quan hệ giữa cái được thông báo với thực tế ở bình diện hiện thực tính và phi hiện thực tính chứ hoàn toàn không xét đến những nhân tố thuộc mục đích, nhu cầu, ý chí, thái độ, tình cảm, đánh giá của con người nói chung và của chủ thể cụ thể nói riêng Chính

vì thế tình thái trong logic được gọi là tình thái khách quan Trong khi tình thái logic (hay tình thái khách quan) loại trừ vai trò của người nói thì tình thái trong ngôn ngữ học lại chú trọng trước tiên đến vai trò của người nói vì không

có một nội dung nhận thức và giao tiếp hiện thực nào lại có thể tách khỏi những nhân tố như mục đích, nhu cầu, thái độ, đánh giá của người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với hiện thực, đối tượng giao tiếp và các nhân tố khác của ngữ cảnh giao tiếp Như đã nói trên đây, chính Ch.Bally là nhà nghiên cứu đã chỉ ra tính tình thái là linh hồn của phát ngôn, mà nói rộng

Trang 14

cách rõ ràng và xem xét chúng như là hai thành phần có vị trí trung tâm của ngôn ngữ học Nhờ thế, vấn đề tình thái của ngôn ngữ mới được nhìn nhận đúng với vị thế của nó Tiếp sau Ch.Bally, đã có nhiều nhà ngôn ngữ học khác quan tâm đến vấn đề tình thái của ngôn ngữ, có thể kể đến Fillmore, Chomsky, Palmer, Austin…

1.1.2 Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về tình thái

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề tình thái cũng được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm

Theo GS Hoàng Trọng Phiến: Tình thái là phạm trù ngữ pháp của câu

ở dạng tiềm tàng, nó có mặt trong tất cả các kiểu câu Điều này thể hiện ở chỗ câu có giá trị thời sự, có tác dụng thông báo một điều mới mẻ

Theo GS Đỗ Hữu Châu: Tình thái bao gồm toàn bộ những ý nghĩa thuộc phạm vi dụng học và sẽ tập hợp lại thành thông điệp bộc lộ kèm với lõi của câu

Theo Hoàng Tuệ: Tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn, tức cũng

là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ

Còn theo Nguyễn Văn Hiệp và Lê Đông, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học được hiểu theo nghĩa rộng và bao gồm các kiểu ý nghĩa khác nhau như:

+ Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói hay nói theo

lý thuyết hành vi ngôn ngữ, kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi,

ra lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên, mời…) gắn trực tiếp với chiều tương tác liên nhân của giao tiếp, với kiểu tác động của người nói đối với người đối thoại

+ Các kiểu ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc của người nói đối với nội dung thông báo, về mức độ quan

Trang 15

trọng, về độ tin cậy, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực, bất ngờ, ngoài chờ đợi, về tính khả năng, tính hiện thực…

+ Ý nghĩa thuộc đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình

+ Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn với ngữ cảnh, theo quan điểm, đánh giá của người nói Ví dụ: đặc tính siêu ngôn ngữ, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe; thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác…

Những quan điểm trên cho thấy, tình thái cũng là một trong những phạm trù được các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam quan tâm Cũng từ đây sự

đa dạng, phức tạp trong cách nhìn nhận về vấn đề này được bộc lộ Tuy nhiên các nhà ngôn ngữ học vẫn có một điểm chung khi nhất trí cho rằng tình thái là một bộ phận quan trọng của câu; một phạm trù ngữ nghĩa phức tạp, phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế; cũng như những quan điểm, thái độ đánh giá và những thông tin định tính khác nhau của người nói đối với nội dung hiện thực được đề cập đến trong câu, với đối tượng giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp Do vậy, việc nghiên cứu tính tình thái của phát ngôn phải tính đến sự tương tác phức tạp, khúc xạ qua nhiều tầng bậc, trong mối liên hệ của các yếu tố liên quan trong quá trình giao tiếp

1.1.3 Phân loại ý nghĩa tình thái

Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến những quan điểm phân loại ý nghĩa tình thái có liên quan trực tiếp đến đề tài Cao Xuân Hạo đã phân biệt hai loại tình thái là tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời nói phát ngôn Tình thái của hành động phát ngôn thuộc về lĩnh vực dụng pháp, phân

Trang 16

sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến vốn được ngữ pháp hóa cho nên đã được ngữ pháp truyền thống miêu tả; những câu có giá trị ngôn trung được đánh dấu như: câu xác nhận, câu phản bác và câu ngôn hành Tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt trong câu trần thuật hay câu hỏi, nó có liên quan đến thái

độ của người nói với điều mình nói ra, hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Đó là một phần quan trọng của bình diện nghĩa học

Một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã dành khá nhiều tâm sức cho việc nghiên cứu về tình thái là Nguyễn Văn Hiệp Ông đã dựa trên sự đối lập

cơ bản giữa tình thái với nội dung mệnh đề để xác lập, phân loại các kiểu ý nghĩa tình thái Lý do là thông tin miêu tả nằm ở dạng tiềm năng còn tình thái

là phần định tính cho thông tin miêu tả ấy Tinh thần chung của Nguyễn Văn Hiệp khi nói về tình thái là cùng quan điểm với nhà ngôn ngữ học J.Lyons, nghĩa là quan niệm “tình thái biểu thị quan điểm hoặc thái độ của người nói đối với mệnh đề mà câu nói biểu thị hoặc cái tình huống mà mệnh đề miêu tả” Đây sẽ là phần cơ sở lý thuyết chính của bài, nên chúng tôi đi vào phân tích khá chi tiết quan điểm của Nguyễn Văn Hiệp về sự phân chia này Ông xác lập một số kiểu tình thái dựa trên các đối lập như sau:

+ Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình thái đạo nghĩa (Deontic Modality)

Tình thái nhận thức: Thể hiện sự đánh giá (hay mức độ cam kết) của cá nhân người nói đối với tính chân thực của điều được nói đến trong câu, dựa trên những bằng chứng hoặc cơ sở suy luận nào đó mà người nói có được

Tình thái đạo nghĩa: Nếu tình thái nhận thức chỉ ra vị thế hiểu biết của người nói, thể hiện sự xác nhận cũng như những đảm bảo cá nhân của người nói đối với điều được nói ra thì tình thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay những ràng buộc xã hội khác đối với hành động do một

Trang 17

người nào đó hay chính người nói thực hiện Trong khuôn khổ tình thái đạo nghĩa, người nói cho rằng hành động là bắt buộc, bị cấm đoán, được phép hay được miễn trừ Qua đó, người nói có thể biểu hiện ý chí, mong ước của mình, muốn người nghe thực hiện hành động (thể hiện ở các hành động ngôn từ thuộc nhóm khuyến lệnh) hay tự mình cam kết hành động (thể hiện ở các hành động ngôn từ thuộc nhóm kết ước)

+ Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình thái căn bản (Root Modality)

Cơ sở của sự phân biệt này dựa trên quan hệ của chủ thể (được nói đến trong câu) đối với hành động, tính chất, trạng thái do vị ngữ hạt nhân biểu thị cũng như các mức độ của tính chất, trạng thái mà chủ thể mang trong bản thân, xét ở một tình huống cụ thể nào đó

Tình thái căn bản: Là tình thái của hành động, được chia thành 2 loại là tình thái đạo nghĩa và tình thái trạng huống Nếu tình thái đạo nghĩa thuộc phương diện đạo đức, thể hiện ý chí, ý muốn chủ quan của người nói đối với việc thực hiện hành động, thì tình thái trạng huống lại mang tính khách quan,

ở chỗ nó có liên quan đến các yếu tố cảnh huống có tính vật lí bên ngoài, không có sự can thiệp của nhân tố ý chí hay mong muốn của người nói đối với việc thực hiện hành động

+ Đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói Tình thái hướng tác thể: Biểu thị những nhân tố có tính điều kiện bên trong và bên ngoài của tác thể có liên quan đến việc thực hiện hành động Loại tình thái này có thể được xem thành các nội dung như sự bắt buộc- sự cần thiết- năng lực- mong muốn

Tình thái hướng người nói: Là loại tình thái đặc biệt thường được thấy trong những phát ngôn thuộc nhóm khuyến lệnh Loại tình thái này thường

Trang 18

thực hiện hành động Những loại thuật ngữ thường được dùng để nghiên cứu loại tình thái hướng người nói là cầu khiến, cấm đoán, mong muốn, cổ súy, cảnh báo, cho phép

+ Tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Tình thái của mục đích phát ngôn: Loại tình thái này bản chất thuộc phạm vi dụng học, vốn chỉ bộc lộ đầy đủ khi ta xem xét đến tình huống sử dụng Nó phản ánh mục đích của người nói khi phát ngôn ra câu nói như: người nói thông báo, ra lệnh, yêu cầu, hỏi hay xin lỗi …Loại tình thái này còn gọi là tình thái kiểu câu hay ngôn trung của câu

Tình thái của lời phát ngôn: thuộc về bình diện nghĩa học, gồm tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân Tình thái của câu cho biết mức độ cam kết và thái độ của người nói đối với điều được nói ra Đó là cam kết về tính xác thực hay không xác thực; giới hạn của tính xác thực, mức độ của tính xác thực (khả năng hay tất yếu) xét về khía cạnh nhận thức (dựa trên bằng chứng và suy luận) hay khía cạnh đạo nghĩa (dựa trên những ràng buộc

về quyền, nghĩa vụ và đạo lí….), tính chất tích cực đáng mong muốn hay tính chất tiêu cực, không đáng mong muốn của điều được nói đến trong câu

+ Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân phản ánh những dạng thức tồn tại của quá trình, hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ…mà vị ngữ của câu biểu đạt Đó là những đặc trưng thường được ngữ pháp truyền thống gọi

là thể như kéo dài/ không kéo dài, bắt đầu/ kết thúc, điểm tính/ không điểm tính… Nó cũng phản ánh quan hệ của chủ thể được nói đến trong câu với tính hiện thực, tính khả năng, tính tất yếu của hành động, trạng thái hay tính chất được nêu ở vị ngữ; chẳng hạn chủ thể có ý định hay mong muốn thực hiện hành động, mức độ của trạng thái hay tính chất thể hiện ở chủ thể…

+ Những đối lập tình thái mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói

Trang 19

Phạm trù tình thái còn bao gồm những đánh giá chủ quan của người nói đối với điều được nói ra trong câu, xét theo khía cạnh tích cực hay tiêu cực, đánh giá về lượng, thời điểm…Những nội dung đánh giá này có thể coi chung

là lập trường của người nói

1.1.4 Các phương tiện biểu thị tình thái

Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên cũng rất đa dạng, có thể chia thành 3 nhóm lớn là: phương tiện ngữ âm, phương tiện ngữ pháp và phương tiện từ vựng

- Các phương tiện ngữ âm:

Các phương tiện ngữ âm của tình thái là phương thức dùng ngữ điệu và trọng âm của từ, của câu để thể hiện thái độ, tình cảm, cách đánh giá vào những thông tin mà người nói cho là cần nhấn mạnh hoặc biểu thị những mục đích phát ngôn nào đó

- Các phương tiện ngữ pháp

Đối với các ngôn ngữ biến hình thì thức (mood) và thời (tense) của động từ có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái Còn đối với các ngôn ngữ không biến hình hay ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt thì các phương tiện ngữ pháp thường gặp là: đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc của câu để thực hiện mục đích của người nói muốn nhấn mạnh vào điểm nào trong phát ngôn

- Các phương tiện từ vựng:

Việc sử dụng các phương tiện từ vựng để thể hiện tình thái là một trong những phương thức phổ biến và có vai trò tích cực trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái Có thể kể đến một số các phương tiện từ vựng hay sử dụng là: động từ tình thái; tính từ và trạng từ tình thái; tiểu từ tình thái

Trong tiếng Việt, các phương tiện dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái, đa

Trang 20

+ Tiểu từ tình thái là những từ chuyên dùng để biểu thị thái độ của

người nói, thường có vị trí ở cuối câu (đối với câu đơn) và ở cuối mỗi vế câu

(đối với câu phức) VD: à, ư, nhỉ, nhé, cơ à, chăng, sao…

+ Quán ngữ tình thái là những tổ hợp từ, những lối nói đã tạo thành

những đơn vị khối hay khuôn cấu trúc tương đối ổn định được người nói dùng

như một công cụ chức năng của những tác tử tình thái tác động vào nội dung

mệnh đề theo một kiểu nào đó Khái niệm quán ngữ là một khái niệm mà các

nhà từ vựng học chưa thống nhất với nhau về nội dung, tuy nhiên, đặc trưng

nổi bật của chúng là tổ hợp mang tính chất khối ổn định và quen dùng VD:

nghe nói, nghe đâu, theo ý tôi, gì thì gì, thế nào cũng…

+ Các tổ hợp có nghĩa nhận định hay đặt vấn đề về tính chân xác của sự

tình: có lẽ, có thể, huống chi, huống hồ…

Nhận xét chung:

Trên đây là những nội dung cơ bản về vấn đề tình thái Đây là một vấn

đề nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Chúng tôi đã

dành một số lượng trang khá dài để trình bày và làm rõ vấn đề này ở tất cả các

mặt: nội dung khái niệm, các kiểu loại tình thái, các phương tiện biểu đạt

Đây là vấn đề trọng tâm liên quan trực tiếp đến đề tài là tìm hiểu về định ngữ

tình thái- loại định ngữ hoạt động với tư cách là một thành phần phụ của câu

1.2 Định ngữ câu với tư cách là thành phần biểu thị tình thái

trong câu

1.2.1 Định ngữ và các quan điểm về định ngữ

Trong Việt ngữ học, khái niệm định ngữ với tư cách là thành phần câu

từng một thời được phổ biến trong các sách ngữ pháp nhà trường, dùng để chỉ

yếu tố hạn định của danh từ trong một cấu trúc hạn định Cương vị của nó

trong mô hình cấu trúc câu được đặt ngang hàng với các thành phần phụ khác

là bổ ngữ và trạng ngữ, đối lập với các thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ

Trang 21

Quan niệm này là sự ứng dụng rập khuôn ngữ pháp nhà trường của các ngôn ngữ châu Âu vào phân tích câu tiếng Việt Về sau do chịu ảnh hưởng của lý thuyết từ tổ, nhận thức được sự khác biệt giữa thành phần của từ tổ và thành phần của câu, các nhà nghiên cứu đã từ bỏ quan niệm này Theo đó, những định ngữ được hiểu theo định nghĩa trên thì chỉ được coi là thành phần của từ tổ danh từ chứ không phải thành phần câu Khái niệm định ngữ được nêu trong đề tài sẽ được hiểu theo hướng mà nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Thuyết nêu ra: “Định ngữ câu là thành tố có quan hệ với cả câu nói chung, như các thành phần phụ khác nhưng không có những đặc trưng hình thức của chúng” [Luận án Chủ ngữ trong tiếng Việt- Nguyễn Minh Thuyết] Tác giả Panfilov lại quan tâm đến phương diện khả năng tham gia vào cấu trúc phân đoạn thực tại và vị trí trong mô hình câu Theo tác giả này “ Định ngữ câu không thể làm phần chủ đề hoặc phần thuật đề, tức là bao giờ cũng đứng ngoài sự phân đoạn thực tại câu…Định ngữ câu hoặc đứng ở vị trí đầu câu hoặc đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ, và về mặt ngữ âm thì gắn liền với vị ngữ”

Một số nhà nghiên cứu khác trong giới Việt ngữ học cũng chú ý đến thành phần này là Diệp Quang Ban và Cao Xuân Hạo Diệp Quang Ban gọi thành phần này là “phụ ngữ của câu”, dùng để biểu thị các ý nghĩa về quan hệ

có liên quan với nội dung phần câu còn lại Các mối quan hệ này được Diệp Quang Ban chia ra thành 3 loại chính: quan hệ của hiện thực khách quan với nội dung câu nói (gọi tắt là quan hệ khách quan); quan hệ của người nói đối với nội dung câu nói (gọi tắt là ý nghĩa tình thái chủ quan) và quan hệ của người nói đối với người nghe Theo 3 mối quan hệ này, Diệp Quang Ban chia

ra 3 loại phụ ngữ là:

+ Phụ ngữ câu có ý nghĩa khách quan: gồm hai tiểu loại là phụ ngữ câu chỉ quan hệ khẳng định (dùng để xác định sự có mặt của toàn bộ điều được

Trang 22

trước nòng cốt câu hoặc có khi cuối câu) và phụ ngữ câu chỉ quan hệ phủ định (dùng để xác định sự vắng mặt của toàn bộ điều được nêu lên trong phần câu còn lại với tư cách là phần cốt lõi của câu Phụ ngữ câu phủ định thường đứng trước nòng cốt câu; chỉ đứng cuối câu khi phần câu trước nó được nêu lên như một điều nghi vấn)

+ Phụ ngữ câu có ý nghĩa tình thái chủ quan: thể hiện thái độ của người nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu

+ Phụ ngữ câu nêu lời gọi đáp- đưa đẩy: Kiểu phụ ngữ này tách riêng ra thì thành câu đặc biệt, có thể đứng trước hoặc sau nòng cốt câu

Theo nhiều học giả khác thì cách phân chia này của Diệp Quang Ban không được rõ ràng khi ông gộp quá nhiều sự thể khác nhau về ý nghĩa vào một tên gọi Cũng bàn về thành phần này, Cao Xuân Hạo lại gọi thành phần này là “Siêu Đề” Ông đã đứng trên lập trường ngôn ngữ học chức năng và khảo sát một số yếu tố tình thái làm thành Đề của câu Theo ông, các yếu tố này “hoàn toàn đáp ứng với định nghĩa của một phần đề: đó là cái phạm vi ứng dụng của phần Thuyết tức phần còn lại của câu Do tính chất siêu ngôn ngữ của tình thái câu, có thể gọi thứ Đề này là siêu Đề” [Cao Xuân Hạo,

1991, tr176] Ông dùng “thì- là” như hai tác tử phân giới những yếu tố tình thái này Ví dụ:

Nói chung (thì) kết quả cũng khả quan

Xét cho cùng (thì) lỗi cũng là do mình chủ quan

Quả nhiên (là) nó đã ăn cắp tiền của tôi

Dường như (là) ai nấy đều không dự kiến được chuyện này

Dù được gọi với các tên khác nhau, nhưng có thể thấy 3 đặc điểm chính của định ngữ với tư cách là thành phần câu là: i) thường đứng ở vị trí đầu câu; ii) biểu thị các ý nghĩa hạn định về tình thái và cách thức diễn biến của sự tình, và iii) hoạt động với tư cách là một thành tố trong mô hình cấu trúc câu

Trang 23

Vậy Định ngữ khi được nhìn nhận như một thành phần câu có những đặc điểm gì?

- Về vị trí: Định ngữ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ Mặc dù vị trí của định ngữ có thể được thay đổi linh hoạt mà không làm ảnh hưởng đến cấu trúc ngữ nghĩa của câu nhưng nó cũng

sẽ liên quan đến sự thay đổi thông tin phân đoạn câu Theo Nguyễn Văn Hiệp,

“định ngữ câu không tham gia cấu tạo phần chủ đề hay phần thuật đề nhưng nó

có thể có tác dụng đánh dấu, báo hiệu ranh giới của sự phân đoạn này” [Thành phần câu tiếng Việt, tr 306] Khi đứng trước nòng cốt câu, định ngữ câu là chỉ tố cho biết câu có thông báo gộp (còn gọi là thông tin sự kiện) tức là câu chỉ có phần thuật đề Còn khi đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ, định ngữ câu có thể báo hiệu ranh giới giữa phần chủ đề và phần thuật đề Xét ví dụ sau:

Thật u mày quáng nắng nên trông gà hóa cuốc

Thuật đề

→ Định ngữ đứng trước thuật đề

Nếu thay đổi vị trí, ta có phát ngôn sau:

Trong trường hợp này GS Nguyễn Văn Hiệp so sánh định ngữ câu với tác tử phân giới “thì- là” Điểm giống nhau là định ngữ câu cũng có chức năng của một phương tiện chuyên đánh dấu ranh giới phân đoạn thực tại câu như “thì- là” Tuy nhiên, nó khác với các thành tố khác ở chỗ định ngữ câu là một thành phần câu thực thụ, có hình thức có cấu trúc và có nghĩa Chức năng đánh dấu phân đoạn thực tại chỉ là chức năng thứ yếu

- Về mặt nội dung: Định ngữ câu biểu thị 2 loại ý nghĩa là ý nghĩa hạn định về cách thức và ý nghĩa hạn định về tình thái cho sự tình được biểu đạt

Trang 24

trung làm rõ trong suốt luận văn Còn ý nghĩa hạn định về cách thức diễn ra

sự tình là thông tin cho biết sự tình được diễn ra như thế nào (nhanh hay chậm, đột ngột hay không, bất ngờ hay có tiên liệu từ trước Các định ngữ câu hạn định cách thức diễn ra sự tình này đều có hàm ý tình thái thực hữu Vì thế không thể thêm vào câu những chỉ tố đánh dấu tình thái không thực hữu Ý nghĩa hạn định về tình thái là thông tin cho biết sự tình được nêu có tính chân

lý tương đối hay tuyệt đối, là đương nhiên hay không đương nhiên, chắc chắn hay chỉ là phỏng đoán, là bình thường hay cùng cực, hiện thực hay phi hiện thực, đáng mong muốn hay không….Các định ngữ hạn định tình thái này là phương tiện hữu hiệu để người nói tác động vào nội dung mệnh đề, nhằm thực hiện chiến lược giao tiếp nhất định

Ví dụ, xét phát ngôn sau:

-“Thật tình thì tôi không biết”

Trong câu này, người nói ngoài việc khẳng định một sự tình thực hữu (Tôi không biết) thì còn đánh tan nhận định đối lập của người nghe, từ đó tạo

ra hiệu quả mượn lời khiến người nghe tin vào điều khẳng định của mình

1.2.2 Phân biệt định ngữ câu với các thành tố khác trong câu

1.2.2.1 Phân biệt định ngữ câu với các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản

Xét các ví dụ sau:

Thế mà nó đã làm được gì để đền đáp công ơn bố mẹ?

Rồi bà Nghị nhổ toẹt miếng bã trầu xuống đất

Những yếu tố này cũng như định ngữ câu có thể bị lược bỏ mà không làm ảnh hưởng đến tính trọn vẹn của câu Nhưng các thành tố này lại khác với các định ngữ câu vì quan hệ của nó với nòng cốt là quan hệ “cận cú pháp” [theo V.S Panfilov] Những yếu tố này có chức năng liên kết câu chứa chúng với các câu khác trong văn bản và ở phương diện nào đó, có thể làm chính

Trang 25

xác thêm quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu (các phát ngôn) cụ thể với ngữ cảnh

và với những câu đi trước Cũng đồng quan điểm với Panfilov, nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo làm rõ hơn vấn đề này: “tất cả các quan hệ ngữ pháp có thể có được đều chỉ có trong phạm vi câu Trong những ngôn từ hay văn bản gồm hai câu trở lên, giữa câu này với câu kia có thể có mối quan hệ về đề tài,

về ý tứ nhưng không thể có những mối quan hệ ngữ pháp” [Cao Xuân Hạo

1991, tr12] Những yếu tố liên kết thuộc cấu trúc bậc trên câu không bổ sung ý nghĩa cho nòng cốt câu mà chỉ biểu thị những quan hệ về đề tài và ý tứ giữa các câu với nhau Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định chúng có thể

có hàm ý tình thái

Ví dụ: Tôi đã hy sinh tất cả vì anh Thế mà anh lại phụ bạc tôi

Ở đây “Thế mà” có tác dụng nối kết, biểu thị ý tương phản giữa hai câu Nhưng do câu đi trước biểu thị một sự tình thực hữu nên trong trường hợp này “thế mà” do biểu thị quan hệ tương phản và có hàm ý tình thái, cho biết sự tình trong câu chứa nó là một sự tình thực hữu, tương phản với sự tình của câu đi trước Cao Xuân Hạo đã chỉ ra điểm quan trọng cần phải phân biệt định ngữ câu và chỉ tố liên kết văn bản là trong một số trường hợp đặc biệt, định ngữ câu cũng có tác dụng liên kết văn bản nhờ vào những tiền giả định ngữ nghĩa của mình

Ví dụ:

“Nhìn rõ những cái hèn, cái yếu của lòng mình, y sinh dễ dãi trong việc xét người và hơi bi quan về người Ờ, nghĩ cho cùng, thì Oanh có quả thật là người đáng chê trách đến thế không Oanh nhỏ nhen, ích kỷ, tham lam vì những cái đó âu cũng là bản tính của loài người Ít ra đó là những tật chung của loài người như ta đang hiện thấy quanh ta” (Sống mòn- Nam Cao)

Trang 26

Như vậy, cũng giống như các thành phần câu khác như chủ ngữ, khởi ngữ, trạng ngữ và tình thái ngữ; định ngữ câu ngoài chức năng và vai trò riêng của mình trong mô hình tổ chức câu còn có thêm chức năng liên kết văn bản

1.2.2.2 Phân biệt định ngữ câu với định ngữ của vị từ làm vị ngữ

Định ngữ của vị từ làm vị ngữ (gọi tắt là vị ngữ) là những yếu tố chỉ có quan hệ với vị ngữ chứ không có quan hệ trực tiếp với nòng cốt câu Như vậy, chúng thuộc vào những yếu tố của cấu trúc bậc dưới câu Có thể nói đến ở đây một cách phân biệt mà tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã sử dụng Ông cho rằng “Định ngữ câu là thành tố có quan hệ với cả câu nói chung, như các thành phần phụ khác nhưng không có những đặc trưng hình thức của chúng…Cần phân biệt định ngữ câu với định ngữ của vị ngữ được đưa lên phía trước Định ngữ của vị ngữ, khi đưa về vị trí cạnh vị ngữ, bao giờ cũng nằm trong nhóm vị ngữ, trong khi đối với định ngữ câu thì điều đó hoặc là không thể có được hoặc là không nhất thiết” Ông đã dùng phép chêm từ “lại” (vốn là một từ có quan hệ trực tiếp với vị từ vị ngữ) vào câu

Ví dụ: Một hôm Thứ đột nhiên lại nghe nói San đã đi Hà Nội (+)

→ Một hôm Thứ lại đột nhiên nghe nói San đã đi Hà Nội (-)

Chị Dậu lại sẽ sàng nhắc nó ra cạnh vại nước (+)

→ Chị Dậu sẽ sàng lại nhắc nó ra cạnh vại nước (-)

1.2.2.3 Phân biệt định ngữ câu với trạng ngữ

Có 2 loại trạng ngữ câu dễ nhầm với định ngữ là trạng ngữ chỉ cách thức và trạng ngữ là vị ngữ phụ1

Hoàng Trọng Phiến đã nêu ra khái niệm định ngữ cho cả câu để chỉ một thành tố thuộc trạng ngữ: “Sở dĩ gọi định ngữ cho cả câu vì định ngữ này chủ yếu ở trong nội bộ thành phần của trạng ngữ Về ý nghĩa định ngữ này bổ

1

Khái niệm vị ngữ phụ là khái niệm gây tranh cãi Nhiều tác giả cho rằng vị ngữ phụ là một loại trạng ngữ Chẳng hạn, trong công trình gần đây, Nguyễn Văn Hiệp đã biện luận để nhất loạt xem vị ngữ phụ là trạng

Trang 27

sung ý nghĩa cho toàn câu, về quan hệ cú pháp thì nó lại liên đới trực tiếp các yếu tố trong nội bộ trạng ngữ [ Hoàng Trọng Phiến, tr142-143]

vị ngữ phụ có thể cùng với chủ ngữ tạo nên một câu độc lập, nhưng định ngữ câu lại không có khả năng này

1.2.3 Phân loại định ngữ câu

Theo Nguyễn Văn Hiệp, có thể phân loại định ngữ câu theo những nội dung thuộc tình thái của câu mà chúng biểu thị Tác giả chia ra làm 2 phạm

Trang 28

đạo nghĩa; ii) phân biệt giữa sự đánh giá mang tính tích cực và sự đánh giá mang tính tiêu cực Phần này sẽ là trọng tâm của luận văn và sẽ được chúng tôi nói rõ hơn ở phần nội dung tiếp theo Đây là sự phân chia các loại định ngữ câu dựa theo tiêu chí ngữ nghĩa

Đối với sự phân biệt dựa theo tiêu chí cấu tạo, Nguyễn Văn Hiệp cho rằng sự phân chia các loại định ngữ câu theo tiêu chí này là không rõ ràng và không có ranh giới cụ thể Ông đưa ra một cách phân chia như sau: Thứ nhất

là loại định ngữ câu có cấu tạo là những từ, ngữ bình thường như “có thể, có

lẽ, chắc chắn, ắt, thật, tất nhiên ” Thứ hai là loại được cấu tạo bởi các tổ hợp

có tính “đặc ngữ” (từ dùng của Nguyễn Văn Hiệp) như: nói của đáng tội, mới biết, phải chi, số là, đằng thẳng ra, tội gì, nói khí không phải…

1.3 Lý thuyết phân đoạn thực tại câu theo quan điểm của Ngữ pháp chức năng

Cùng với sự phân đoạn cấu trúc cú pháp, những năm gần đây các nhà nghiên cứu còn chú ý đến sự phân đoạn thực tại câu theo quan điểm thông tin thực tại hay quan điểm thông báo Sự phân đoạn câu về mặt ngữ pháp là phân tích câu theo chức năng cấu trúc của các thành phần câu (Chủ ngữ, Trạng ngữ, Vị ngữ, Bổ ngữ….) Phân đoạn thực tại câu (thuật ngữ tiếng Anh là

“actual division of the sentence”) là phân tích câu thành các bộ phận theo chức năng thông tin cũ- mới, phân tích cách tổ chức nội dung thông báo của

nó nhằm đáp ứng nhiệm vụ giao tiếp trong những văn cảnh và tình huống giao tiếp cụ thể Đây là cách phân tích câu theo quan điểm của Ngữ pháp chức năng bắt đầu bởi Mathesius của trường phái chức năng Praha Có thể nói, sự phân đoạn thực tại là một “đặc sản” của Ngữ pháp chức năng với các phiên bản khác nhau

Simon C.Dik đã khẳng định nền tảng cho Ngữ pháp chức năng bằng cách giới thiệu về hệ hình chức năng thông qua việc so sánh nó và ngữ pháp

Trang 29

hình thức về vai trò của ngôn ngữ tự nhiên Theo Ngữ pháp hình thức, ngôn ngữ được xem là một đối tượng trừu tượng và ngữ pháp trước hết được hiểu như là “một nỗ lực đặc trưng hóa đối tượng này dưới dạng các quy tắc về hình thức của cú pháp được áp dụng độc lập với nghĩa và với cách sử dụng của cấu trúc được miêu tả” (Simon Dik, 2005, trang 13) Theo quan điểm này, cú pháp được ưu tiên về mặt phương pháp luận so với nghĩa học và dụng học (trong đó, dụng học được định nghĩa như là hệ thống quy tắc chi phối cách sử dụng các biểu thức ngôn ngữ học) Đại diện tiêu biểu cho hệ quan điểm này là N.Chomsky Trái với xu hướng hình thức, những người theo quan điểm Ngữ pháp chức năng cho rằng, ngôn ngữ trước hết được hiểu là một công cụ tương tác xã hội giữa người với người, được dùng với mục đích chủ yếu là thiết lập quan hệ giao tiếp giữa người nói và người nghe Với quan điểm này, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận ngôn ngữ từ góc độ là một công cụ giao tiếp của con người Chức năng giao tiếp vốn là một chức năng quan trọng của ngôn ngữ Giao tiếp có thể được xem như là một mô hình tương tác qua đó người sử dụng ngôn ngữ tác động đến, tạo nên một sự thay đổi nào đó trong thông tin dụng học của người cùng giao tiếp Mối tương liên tâm lý của ngôn ngữ tự nhiên là “năng lực giao tiếp” của người sử dụng ngôn ngữ (bao gồm không chỉ khả năng tạo lập và giải thích của biểu thức ngôn ngữ mà còn là khả năng

sử dụng những biểu thức này một cách thích hợp và hiệu quả theo các quy tắc giao tiếp bằng lời của một cộng đồng ngôn ngữ) Theo Ngữ pháp chức năng, dụng học được coi là một bộ khung bao trùm toàn bộ trong đó có kết học và nghĩa học Nghĩa học được xem là một công cụ đối với dụng học Kết học được xem là một công cụ đối với nghĩa học Đồng thời Dik cũng đưa ra quan điểm về vai trò của ngữ pháp chức năng Lý thuyết của Ngữ pháp chức năng nhằm cung cấp các phương tiện và nguyên tắc có thể giúp trình bày ngữ pháp

Trang 30

ngôn ngữ cụ thể phải chỉ ra tất cả các biểu thức ngôn ngữ học của nó bằng một hệ thống quy tắc kết hợp chặt chẽ với những khái quát hóa có ý nghĩa nhất về ngôn ngữ

Ở Việt Nam, Cao Xuân Hạo là một trong những nhà nghiên cứu đưa ra cách nhìn nhận khá tổng quát và đầy đủ về Ngữ pháp chức năng Ông cho rằng “Ngữ pháp chức năng tự đặt cho mình cái nhiệm vụ nghiên cứu miêu tả

và giải thích các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và mặt nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng thông qua việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao tiếp hiện thực không phải chỉ để lập những danh sách đơn vị và xác định những hệ thống và tiểu hệ thống đơn vị ngôn ngữ, mà còn để theo dõi cách hành chức của ngôn ngữ qua những biểu hiện sinh động của nó khi sử dụng” (Cao Xuân Hạo, 2006, trang 15) Từ hai quan điểm trên có thể thấy ngữ pháp chức năng xem ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp, hình thức của ngôn ngữ không tồn tại một cách võ đoán mà là tồn tại dưới sự chi phối của quá trình giao tiếp liên nhân Ngữ pháp chức năng liên hệ khả năng sử dụng ngôn ngữ đúng, chính xác, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp của người sử dụng ngôn ngữ Ngữ pháp chức năng cũng cho rằng người tiếp nhận ngôn ngữ chỉ có thể hiểu đúng được một biểu thức ngôn ngữ nhất định trong một bối cảnh nhất định Như vậy Ngữ pháp chức năng đề cao tầm quan trọng của dụng học khi nó nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ, người sử dụng ngôn ngữ (bao gồm người nói và người nghe) và bối cảnh giao tiếp

Cùng với việc đưa ra cách hiểu về Ngữ pháp chức năng, các nhà nghiên cứu cũng nêu ra vai trò của Ngữ pháp chức năng, là làm rõ 3 bình diện của lý thuyết ký hiệu học của Morris, bao gồm: Kết học (Syntatics), Nghĩa học (Semantics) và Dụng học (Pragmatics) Cao Xuân Hạo đã chỉ rõ: bình diện Nghĩa học là bình diện của sự tình được biểu thị và những “vai trò” tham gia

Trang 31

cái sự tình ấy, bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy và bình diện Dụng học là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, vào những mục đích cụ thể Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ mà trong đó cả 3 bình diện này đều được thể hiện, có mối quan hệ khăng khít với nhau, do đó, không thể nghiên cứu một bình diện nào đó mà tách rời hai bình diện còn lại Một trong những nhiệm vụ của Ngữ pháp chức năng là xác minh mối quan hệ giữa ba bình diện này, theo đó, người nghiên cứu phải thấy được sự “thống hợp” của chúng (chữ dùng theo Đỗ Hữu Châu) nhưng không được lẫn lộn các sự kiện của bình diện này và bình diện khác

Từ đây có thể nêu ra những nhận định khái quát về ngữ pháp chức năng như sau Nếu Ngữ pháp cấu trúc nghiên cứu ngôn ngữ đi từ phương tiện (hình thức) đến mục đích (nghĩa) thì Ngữ pháp chức năng lại đi từ mục đích đến phương tiện Theo Ngữ pháp chức năng, con người có thể sử dụng một cách linh hoạt các phương tiện sẵn có của ngôn ngữ để phục vụ cho những mục đích giao tiếp nhất định Hai biểu thức ngôn ngữ khác nhau cho dù cùng diễn đạt một nội dung thông tin nội dung mệnh đề vẫn phục vụ hai mục đích khác nhau Ý nghĩa khác nhau không chỉ thuộc phạm vi nghĩa học mà nằm trong tầm phạm vi của giao tiếp, tầm phạm vi của dụng học Dik đã chỉ ra 3 thành tố chính của thông tin dụng học Thông tin chung bao gồm thông tin dài hạn về thế giới, những đặc trưng văn hóa, tự nhiên của nó và những thông tin về bất

kỳ một thế giới nào khác, dù thực hay tưởng tượng Thứ hai là thông tin tình huống bao gồm những thông tin xuất phát từ người tham gia giao tiếp hay tình huống giao tiếp Thứ ba là thông tin ngữ cảnh- thông tin từ các biểu thức ngôn ngữ đi trước và sau thời điểm giao tiếp được xét đến Những quan điểm

Trang 32

cơ sở cho việc phân tích cấu trúc hình thức của câu (bình diện kết học) trong mối liên hệ với hai bình diện nghĩa học và dụng học Mối liên hệ chức năng giữa 3 bình diện làm nên mối liên hệ của phương tiện biểu đạt với mục đích biểu đạt

1.4 Tiểu kết

Trên đây là cơ sở lý thuyết cho những khảo sát và phân tích trong luận văn Chúng tôi đã tìm hiểu thế nào là tình thái, định ngữ và định ngữ tình thái trong câu Đây là những nội dung vốn được các nhà ngôn ngữ học quan tâm và chưa có sự thống nhất giữa các quan điểm này Tuy nhiên, chúng tôi đã chọn ra một quan điểm thống nhất để làm kim chỉ nam cho toàn bộ nghiên cứu

Về vấn đề tình thái, chúng tôi chọn quan điểm của Nguyễn Văn Hiệp làm cơ sở Nguyễn Văn Hiệp cho rằng tình thái biểu thị quan điểm hoặc thái

độ của người nói đối với mệnh đề mà câu nói biểu thị hoặc cái tình huống mà mệnh đề miêu tả Chúng tôi cũng đã dựa trên sự đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa để phân loại và phân tích các định ngữ biểu thị tình thái Trong đó, tình thái nhận thức thể hiện sự đánh giá của cá nhân người nói đối với tính chân thực của điều được nói đến trong câu, dựa trên những bằng chứng hoặc cơ sở suy luận nào đó mà người nói có được Trong khi đó, tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay những ràng buộc

xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện Trong khuôn khổ tình thái đạo nghĩa, người nói cho rằng hành động là bắt buộc, bị cấm đoán, được phép hay được miễn trừ Qua đó, người nói biểu hiện ý chí, mong ước của mình, muốn người nghe thực hiện hành động (thể hiện ở các hành động ngôn từ thuộc nhóm khuyến lệnh) hay tự mình cam kết hành động (thể hiện ở các hành động ngôn từ thuộc nhóm kết ước)

Về định ngữ câu: Đây cũng là một khái niệm được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Chúng tôi cho rằng định ngữ không phải là thành phần của từ

Trang 33

tổ mà là thành phần câu Về vị trí, định ngữ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ Về mặt nội dung: Định ngữ câu biểu thị 2 loại ý nghĩa là ý nghĩa hạn định về cách thức và ý nghĩa hạn định về tình thái cho sự tình được biểu đạt trong câu Trong đó, loại ý nghĩa hạn định về tình thái được luận văn tập trung làm rõ trong suốt luận văn Ý nghĩa hạn định

về tình thái là thông tin cho biết sự tình được nêu có tính chân lý tương đối hay tuyệt đối, là đương nhiên hay không đương nhiên, chắc chắn hay chỉ là phỏng đoán, bình thường hay cùng cực, hiện thực hay phi hiện thực, đáng mong muốn hay không….Các định ngữ hạn định tình thái này là phương tiện hữu hiệu để người nói tác động vào nội dung mệnh đề, nhằm thực hiện chiến lược giao tiếp nhất định Và các trường hợp định ngữ này được chúng tôi gọi

là định ngữ tình thái

Trang 34

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT ĐỊNH NGỮ TÌNH THÁI

TRÊN BÌNH DIỆN KẾT HỌC 2.1 Dẫn nhập

Theo Ngữ pháp chức năng, với tư cách là một hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ có thể được nghiên cứu ở 3 bình diện là Kết học, Nghĩa học và Dụng học, trong đó chức năng của bình diện kết học là nghiên cứu ngôn ngữ từ phương diện hình thức Trên bình diện kết học, luận văn tập trung phân tích định ngữ tình thái câu ở 2 khía cạnh:

- Đặc điểm cấu tạo của định ngữ tình thái

- Vị trí của định ngữ tình thái trong câu

2.2 Đặc điểm cấu tạo của định ngữ tình thái

Ở khía cạnh này, chúng tôi khảo sát định ngữ tình thái trên tiêu chí số lượng thành tố cấu tạo Về mặt cấu tạo, chúng tôi chia định ngữ tình thái trong câu thành 3 nhóm:

- Định ngữ tình thái gồm 1 thành tố đơn nhất cấu thành

Liệu Minh có được tha về ngày mai không hay là người ta sẽ giảm hạn

Hay ông lại nghi Phú bịa ra chuyện đấy để lấy lòng cho dễ chuyện vay

Trang 35

Nhận xét:

Đối với các định ngữ tình thái do một thành tố cấu tạo thành, phổ biến

là các trường hợp “Thật”, “Liệu”, “Hay”… Trong quá trình khảo sát thì đây là những trường hợp định ngữ tình thái mà chúng tôi hay gặp nhất

- Định ngữ tình thái do 2 thành tố cấu thành

Xét các ví dụ sau:

Thú thật rằng: tôi có hơi ích kỷ, xét theo một vài phương diện

(1, 195)

Chẳng lẽ chỗ tôi với bác, mà bác có việc, tôi lại đợi bác cho uống rượu

Thật ra thì chẳng có anh xe nào bắt bí tôi đâu, bởi vì tôi đã định ngay ở

Chả nhẽ Phú lại đáp lại rằng xưa nay mình vẫn chỉ đứng trung lập

(4, 159)

Biết đâu sau khi nhà này có sân quần thì cuộc đời của dì lại không bắt

Nhận xét:

Có thể thấy rằng các tổ hợp trước đây ngữ pháp truyền thống vẫn gọi là phó từ (phụ từ), liên từ, trợ từ (xét ở góc độ từ loại) hay đó là các thành phần phụ của câu (xét ở góc độ cấu trúc câu) đều là các tổ hợp biểu thị tình thái, và khi đứng ở vị trí của định ngữ câu thì đó là các định ngữ tình thái do 2 thành

tố tạo thành Các định ngữ tình thái thuộc nhóm này rất đa dạng phong phú về

Trang 36

- Định ngữ tình thái do 3 thành tố trở lên cấu thành

Xét một số ví dụ sau:

Ấy thế mà anh cu Thiêm gọi tôi đi nếu không phải để đánh nhau ắt là

Chẳng nói giấu gì chú cả, lúc nãy tôi đi vác khung cửi cho người ta,

Không có lý gì người phu xe phải kéo một cái xe với một tôi mà còn có thể chạy một mạch từ Phú Ninh đến đây mà tôi chỉ có tay không mà lại không

Nói của đáng tội thì con bé cũng mũm mĩm, hay hay mà lẳng lắm

(3, 167) Không phải nói phét chứ từ thưở trời đất sinh ra làm người, đây bị bắt

- Khi bàn về vấn đề cấu tạo của định ngữ tình thái, chúng tôi muốn đề cập đến khả năng cải biến, chêm xen, thay thế các thành tố của định ngữ tình thái Như trên đã phân tích, số lượng các định ngữ có hai thành tố trở lên chiếm một số lượng lớn Nhưng cũng có nhiều định ngữ 3 thành tố trở lên là kết quả của sự chêm xen một thành tố khác trong mô hình các thành tố Ví dụ:

“Lẽ ra” thì có thể cải biến thành “Lẽ ra là”, “Lẽ ra thì”, “Đáng lẽ ra”…; “Như thể” có thể cải biến thành “Cứ làm như thể”, “Làm như thể“, “Như thể

Trang 37

là”…….Sau khi cải biến chêm xen từ 2 thành tố thành 3 thành tố thì đặc điểm ngữ nghĩa của các định ngữ này không có gì thay đổi Số lượng các định ngữ

2 thành tố có thể chêm xen, cải biến thành 3 thành tố không phải nhiều nhưng cũng chứng minh đặc điểm về ngữ nghĩa của định ngữ tình thái là khá ổn định, và việc chêm xen các yếu tố dù ít nhiều có làm thay đổi cấu tạo thì vẫn không làm ảnh hưởng đến tính ổn định về ngữ nghĩa của định ngữ tình thái

Việc phân loại các định ngữ tình thái trong câu dựa vào đặc điểm số lượng thành tố cấu tạo không phải là một cách phân loại hay, tuy nhiên cũng phục vụ cho việc phân biệt các định ngữ cụ thể Về nguyên tắc, đây cũng là một đặc điểm kết học có thể được xem xét của định ngữ tình thái

2.3 Vị trí của định ngữ tình thái trong câu

Tìm hiểu về đặc điểm vị trí của định ngữ tình thái trong câu mới là nội dung trọng tâm của đề tài khi nghiên cứu định ngữ tình thái trên bình diện kết học Kết quả khảo sát cho thấy vị trí xuất hiện của định ngữ tình thái là khá đa dạng, phong phú, được chúng tôi chia thành 3 nhóm chính:

+ Định ngữ tình thái đứng đầu câu

+ Định ngữ tình thái đứng sau đề ngữ, đóng vai trò của một tác tử phân giới đề thuyết

+ Định ngữ tình thái đứng sau liên từ

2.3.1 Định ngữ tình thái đứng đầu câu

Xét những ví dụ sau:

Không có lý gì người phu xe phải kéo một cái xe với một tôi mà còn có thể chạy một mạch từ Phú Ninh đến đây mà tôi chỉ có tay không mà lại không

Trang 38

Cố nhiên không phải chỉ vì muốn bận tâm với hai cậu mà thôi

(3, 96)

Có lẽ y biết y sắp rời hẳn nơi này Có lẽ y tò mò… (3, 265) Thế nào cũng chết, mà chết mau chứ không lâu Có khi chỉ ngày mai, ngày kia hoặc vài ba hôm nữa Biết đâu mà tin vào mộng mị (3, 267)

Ít ra, y đã hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ (3, 269) Nhận xét:

Có thể khái quát những phát ngôn có định ngữ tình thái đầu câu vào mô hình sau: Định ngữ tình thái + Sự tình (P) Có 2 đặc điểm mà chúng tôi đã rút

ra được sau khi khảo sát các phát ngôn có định ngữ tình thái đứng ở đầu câu:

- Theo sau định ngữ tình thái là một mệnh đề hoàn chỉnh, tức mệnh đề này có đầy đủ các bộ phận của một cấu trúc câu và truyền đạt hoàn chỉnh một

sự tình Ví như trong ví dụ đầu tiên “Không có lý gì” là định ngữ tình thái ở đầu câu, theo sau nó là một câu hoàn chỉnh với một nội dung ngữ nghĩa hoàn chỉnh (người phu xe kéo khách từ Phú Ninh đến đây…) Nếu như không có định ngữ tình thái đứng ở đầu câu thì người nghe vẫn hiểu được đầy đủ thông tin sự tình Định ngữ tình thái trong trường hợp này chỉ có vai trò làm rõ thêm đánh giá của người nói về tính chân thực, chính xác, mong muốn hay không mong muốn

sự tình Trong số 10 ví dụ phía trên thì có 6 ví dụ là có đặc điểm này

Ví dụ 1: Hẳn là San đã có điều gì bất mãn về vợ y đấy (3, 93)

Trong câu này, “hẳn là” đứng ở đầu câu với vai trò định ngữ tình thái Nếu bỏ “hẳn là”, mệnh đề phía sau còn lại sẽ là “San đã có điều gì bất mãn về

vợ y đấy” Đây là một mệnh đề có cấu trúc câu hoàn chỉnh, đầy đủ hai phần Đề- Thuyết truyền đạt một thông tin trọn vẹn (San có điều gì bất mãn với vợ)

Trang 39

Sự xuất hiện của định ngữ tình thái chỉ làm rõ thêm ý kiến, lập trường của người nói về sự tình này (chỉ là một suy đoán của người phát ngôn mà thôi)

Ví dụ 2: Ít ra, y đã hăm hở, y đã náo nức y đã mong chờ (3, 269) Tương tự trong trường hợp này, bản thân mệnh đề đứng sau định ngữ tình thái đã là một mệnh đề hoàn chỉnh về cấu trúc và trọn vẹn về thông tin

“Ít ra” thể hiện ý kiến của người phát ngôn (khẳng định về tính chân thực của

sự tình đó)

- 4 phát ngôn còn lại, theo sau định ngữ tình thái không phải là một mệnh đề hoàn chỉnh, tức là chỉ có phần thuyết Nếu bỏ định ngữ tình thái đi câu sẽ không có sự liên kết, tương tác kết nối với câu trước, dẫn đến sự mơ hồ

về nghĩa của phát ngôn

Ví dụ: Cố nhiên không phải chỉ vì muốn bận tâm với hai cậu mà thôi (3, 96)

Vốn dĩ câu đã không có sự rõ ràng về nghĩa, vì thiếu phần đề ngữ mà chỉ có thông tin phần thuyết Thậm chí thông tin phần thuyết này cũng không

có sự rõ ràng Với đặc điểm ngữ nghĩa của “cố nhiên” là khẳng định một sự tình nào đó là có thật và đúng như dự đoán của người phát ngôn thì sự xuất hiện của định ngữ này nhằm: thể hiện lập trường của người nói và tạo sự liên kết giữa phát ngôn này với phát ngôn đi trước nó Đặt trong toàn văn bản của câu này như sau: “Thứ và San cho việc ép Mô xếp chỗ ăn, chỗ ở cho họ chỉ là chuyện đùa Không ngờ Mô lại để ý nhiều Cố nhiên không phải chỉ vì muốn bận tâm với hai cậu mà thôi” (3, 96)

Theo Nguyễn Văn Hiệp, những phát ngôn có định ngữ tình thái đứng đầu câu là những phát ngôn có thông báo gộp Ông cho rằng: “Khi đứng trước nòng cốt câu, định ngữ câu là chỉ tố cho biết câu có thông báo gộp (còn gọi là thông tin sự kiện) tức là câu chỉ có phần báo” (Cú pháp tiếng Việt, tr250) Ví dụ:

Hẳn là San có điều gì bất mãn về vợ y đấy (3, 93)

Trang 40

2.3.2 Định ngữ tình thái đứng sau liên từ

Khảo sát tư liệu cho thấy trường hợp định ngữ tình thái đứng sau liên từ cũng khá phổ biến Ở vị trí này, định ngữ tình thái không chỉ nhấn mạnh đến tính chất nội dung sự tình mà còn tạo ra 2 mối liên kết: thứ nhất là tạo sự liên kết có tính nội tại giữa liên từ với nội dung mệnh đề, thứ 2 là mối liên kết giữa phát ngôn chứa nó với câu đi trước Riêng về loại liên kết này, qua ví dụ

ta thấy, chức năng liên kết giữa câu có định ngữ tình thái với câu đi trước là rất phổ biến và thể hiện rõ đặc điểm ý nghĩa của định ngữ tình thái

Thì ít ra chàng cũng phải để cho người ta về thăm nhà người ta trước

đã, còn việc về nhà chàng sẽ nghĩ đến sau Vả lại, ít ra cũng phải có câu cảm

ơn người em và cả người anh nữa, cho phải phép (4, 118)

Phân tích:

Có thể khái quát mô hình phát ngôn có định ngữ tình thái đứng sau liên

từ như sau:

Liên từ + Định ngữ tình thái+ Mệnh đề (Mệnh đề đứng sau tình thái có thể là một cấu trúc Đề- Thuyết hoàn chỉnh hoặc cũng có thể là phần Thuyết)

Các định ngữ tình thái xuất hiện ở vị trí này tạo sự liên kết giữa các phát ngôn theo nội dung quan hệ rất phong phú đa dạng Đặc điểm tính chất tình thái của từng định ngữ sẽ tiền giả định về nội dung của sự tình đi trước

Trong phát ngôn đầu tiên, “có thể” cho biết người nói không chắc chắn

về sự tình được nói trước đó Thông thường, “có thể” thường được sử dụng

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w