Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức của pháp luật, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CỦA TRUNG QUỐC
(CÓ SO SÁNH VỚI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN THỊ VIỆT THANH
HÀ NỘI 2012
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Ý nghĩa của đề tài 5
2.1 Ý nghĩa lý luận 5
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Bố cục của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN 8
1.1 Văn bản 8
1.2 Văn bản quản lý nhà nước 9
1.3 Văn bản quy phạm pháp luật 13
1.4 VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc 25
1.5 Tiểu kết 30
CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC TỪ GÓC ĐỘ CẤU TRÚC TỔNG THỂ 32
2.1 Cấu trúc tổng thể 32
2.2 Đặc điểm chung của cấu trúc tổng thể VBQPPL 33
Trang 32.3 Cấu trúc thể thức của những kiểu loại VBQPPL chủ yếu trong lĩnh
vực kinh tế ở Trung Quốc 50
2.4 Tiểu kết 60
CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC TỪ GÓC ĐỘ CẤU TRÚC NỘI TẠI 62
3.1 Phong cách ngôn ngữ 62
3.2 Từ ngữ 69
3.3 Câu 80
3.4 Tiểu kết 89
CHƯƠNG 4: SO SÁNH SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TIẾNG TRUNG VÀ TIẾNG VIỆT TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ 91
4.1 Cấu trúc tổng thể 91
4.2 Từ ngữ 95
4.3 Liên kết 100
4.4 Một số ứng dụng trong biên dịch văn bản quy phạm pháp luật 105
4.5 Tiểu kết 109
PHẦN KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 119
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng một xã hội ổn định hài hoà và phát triển mạnh về kinh tế được đảm bảo dựa trên cơ sở pháp luật Để pháp luật đi vào cuộc sống, làm kim chỉ nam cho hành vi của con người đỏi hỏi ý thức pháp luật phải được nâng cao Với tinh thần chủ động, Nhà nước phải giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật nói chung, củng cố và hoàn thiện ngành Luật kinh tế nói riêng để có đủ khả năng thúc đẩy, định hướng cho sự phát triển kinh tế, tăng cường pháp chế trong các hoạt động kinh tế Các tổ chức, cá nhân cần hiểu biết pháp luật, tích cực sử dụng và sử dụng có hiệu quả pháp luật qua phương tiện văn bản quy phạm pháp luật vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng tinh thần sống, làm việc theo ngành Luật kinh tế
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức của pháp luật, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Đây là sự thể chế hoá thiết chế xã hội, nói cách khác đó là văn bản cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cầm quyền trong lãnh đạo và quản lý
Hiện nay, vai trò của văn bản quy phạm pháp luật ngày càng quan trọng trong cuộc sống, mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
xã hội từ lĩnh vực kinh tế đến lĩnh vực chính trị đều được điều hành thông qua các loại văn bản này Tuy nhiên, để có các văn bản quy phạm pháp luật thực
sự có chất lượng, đòi hỏi các nhà lập pháp trong việc soạn thảo văn bản không chỉ phải nắm được nội dung cụ thể của các bộ luật mà còn phải có kiến thức
Trang 5ngôn ngữ học, đặc biệt là kiến thức về ngôn ngữ học văn bản để tạo ra những văn bản không chỉ đúng về khuôn mẫu, cấu trúc mà còn đạt được hiệu quả giao tiếp cao Như vậy, chỉ khi nào nắm vững và dung hoà được sự hiểu biết
về hai lĩnh vực này thì mới có thể có những bộ luật chính xác về nội dung và phù hợp về hình thức, giúp cho người tiếp nhận văn bản có thể nắm bắt được thông tin nhanh chóng từ đó mà có cách thi hành hợp lý
Từ những lý do về mặt lý luận và thực tiễn ở trên, chúng tôi quyết
định lựa chọn đề tài “Khảo sát đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật trong
lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc (Có so sánh với văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam) ” với mục đích nghiên cứu, làm rõ
những đặc điểm của các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế từ góc độ ngôn ngữ học của Trung Quốc trong sự so sánh với các văn bản trong lĩnh vực tương ứng của Việt Nam, đồng thời góp phần vào việc hoàn thiện ngôn ngữ văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và nâng cao trình độ văn hoá pháp luật cho cả dân tộc nói chung
2 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn này sẽ góp phần cung cấp và làm rõ hơn cơ sở lý luận và dữ liệu cho việc nghiên cứu các loại hình văn bản, đặc biệt là loại hình văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, đồng thời làm rõ những nét tương đồng và khác biệt cơ bản so với ngôn ngữ trong thể loại văn bản này của Việt Nam
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật và đặc điểm văn bản quy phạm pháp
Trang 6luật sẽ đóng góp gián tiếp vào việc xây dựng luật pháp, nghiên cứu so sánh luật pháp, cung cấp những căn cứ khoa học và sự ủng hộ như phương pháp
và tiêu chuẩn kiểm nghiệm cho những kỹ thuật liên quan đến ngôn ngữ pháp luật Các kết quả của luận văn này cũng đóng góp trực tiếp vào việc dịch văn bản quy phạm pháp luật giữa hai tiếng Trung và tiếng Việt, đồng thời góp phần trong công tác giảng dạy ngôn ngữ chuyên ngành luật trong lĩnh vực kinh tế và các ứng dụng khác thuộc ngôn ngữ và pháp luật
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thể loại văn bản quy phạm pháp luật, trong đó luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật của lĩnh vực kinh tế
Văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế là một đề tài đang được chú ý, quan tâm và nghiên cứu bởi vai trò quan trọng đặc biệt của nó trong công việc điều hành, quản lý và quy phạm các hoạt động kinh tế thị trường Chủ yếu thông qua 350 văn bản của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc được ban hành từ năm 1992 đến năm 2011, luận văn tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề cơ bản như: phân loại, đặc điểm cấu trúc tổng thể và ngôn ngữ cấu trúc nội tại trong thể loại văn bản này
Cũng căn cứ một số công trình và tài liệu tham khảo nghiên cứu VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Việt Nam, luận văn cố gắng so sánh đối chiếu những nét tương đồng và khác biệt trong cấu tạo và đặc điểm ngôn ngữ của văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế Trung Quốc và Việt Nam làm cơ sở cho phần ứng dụng phiên dịch văn bản giữa hai ngôn ngữ Trung
và Việt
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình khảo sát, để thực hiện được các nhiệm vụ mà đề tài này
đặt ra, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, cụ thể là những phương pháp chính như sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, chú trọng các phương pháp phân tích văn bản, phân tích diễn ngôn
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh đối chiếu
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn này gồm bốn chương:
- Chương 1: Các vấn đề lý luận có liên quan
- Chương 2: Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc từ góc độ cấu trúc tổng thể
- Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc từ góc độ cấu trúc nội tại
- Chương 4: So sánh sự tương đồng và khác biệt giữa văn bản quy phạm pháp luật của tiếng Trung và tiếng Việt trong lĩnh vực kinh tế
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN
Do phạm vi nghiên cứu là văn bản pháp luật nên trong phần cơ sở lí luận, trước hết chúng tôi sẽ đề cập đến các khái niệm như: văn bản, văn bản quản lý nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật Đồng thời chương này cũng giới thiệu một bức tranh chung về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung Quốc nói chung, và hệ thống thể loại văn bản này trong lĩnh vực kinh
tế nói riêng
1.1 Văn bản
Từ “văn bản (text, 文本)” được áp dụng nhiều trong ngôn ngữ học và
có ý nghĩa rất phong phú, có thể nói văn bản là hình thái ngôn ngữ được áp dụng trong thực tế Nhà nghiên cứu kí hiệu(Юрий Михайлович Лотман,1922-1993)cho rằng: Văn bản thuộc phạm trùm bề ngoài mà được biểu hiện bằng kí hiệu nhất định Giống như các đơn vị khác của ngôn ngữ, văn bản là một bộ phận của hệ thống kí hiệu ngôn ngữ, đồng thời văn bản có cấu trúc nội tại đặc thù
Có thể coi văn bản là chuỗi ký hiệu ngôn ngữ thuộc một hệ thống nào
đó, bao gồm ít nhất từ hai câu trở lên, tạo thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn và được cấu tạo tuân theo đặc trưng của một phong cách chức năng nhất định, tức hoàn chỉnh cả về hình thức lẫn nội dung
Hiện nay, tồn tại nhiều loại văn bản trong đời sống xã hội mà được sản sinh ra với nội dung và hình thức khác nhau Mỗi loại văn bản đều nhằm mục đích riêng của chủ thể tạo văn bản và đảm nhận chức năng nhất định Trong
đó chúng tôi sẽ khảo sát loại văn bản điển hình có chức năng như tính pháp lí, tính quản lý điều hành, cụ thể là văn bản quy phạm pháp luật thuộc văn bản
Trang 9quản lí nhà nước
1.2 Văn bản quản lý nhà nước
Là một thể loại văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật và các quan
hệ pháp luật tồn tại trong xã hội, trong việc vận dụng các quy phạm pháp luật vào đời sống thực tiễn cũng như việc giải quyết các nhiệm vụ có tính bắt buộc theo quy định của pháp luật Nội dung trong văn bản chính là những phát ngôn chính thức của cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội Vì thế, loại văn bản này là cơ sở pháp lý mang tính chuẩn mực cho hoạt động của mọi cá nhân, đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội Sau đây chúng tôi cần tìm hiểu những văn bản đã nói trên qua hình thức văn bản quản lý nhà nước
và chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1 Khái niệm
Xã hội càng văn minh, càng phát triển thì các mối quan hệ xã hội càng phong phú, phức tạp và đa dạng Ngoài mối quan hệ giữa các quốc gia, mối quan hệ trong nước cũng ngày càng nhiều tầng, nhiều lớp, đa phương, đa tuyến Ngay trong một doanh nghiệp hay cơ quan tổ chức kinh tế - xã hội thì các mối quan hệ cũng phức tạp hơn Mặt khác, cuộc sống hàng ngày cũng đòi hỏi con người gắn bó ngày càng mật thiết hơn trong nhiều mối quan hệ hợp tác, trao đổi, mua bán… Sự xuất hiện và phát triển của hệ thống văn bản quản
lý - kinh doanh - giao dịch là lẽ tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người
Có thể nói, hệ thống văn bản quản lý là thước đo sự phát triển của xã hội, là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội, là căn cứ, chuẩn mực cho mọi hoạt động của các cấp, các ngành, các đơn vị, cơ quan, tổ chức kinh
tế - xã hội Cho đến nay, hệ thống văn bản quản lý của Trung Quốc đã phát
Trang 10triển rất mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước cũng như của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị và xã hội
Các văn bản quản lý tồn tại ở tất cả mọi nơi, mọi lĩnh vực với mục đích quản lý xã hội, thể hiện tính pháp lý, tính mệnh lệnh, tính thông tin, chỉ huy điều hành và tính thống nhất về hình thức và nội dung của từng kiểu loại và phản ánh kết quả hoạt động trong các lĩnh vực quản lý Thực tiễn cho thấy, mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức đều dùng đến văn bản quản lý với khối lượng lớn Văn bản quản lý nhà nước được sử dụng trong các hoạt động quản lý nhà nước [32.23] Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý; là hình thức để cụ thể hoá pháp luật, thể hiện ý chí, mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước đối với cấp dưới; là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản
lý của nhà nước một cách thuận tiện và chính xác
Như vậy, có thể hiểu văn bản quản lý nhà nước là những quyết định, thông tin quản lý thành văn do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành thẩm quyền, trình tự thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản
lý nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân
1.2.2 Chức năng
a Chức năng thông tin
Để thực hiện việc điều hành, quản lý đất nước theo những chính sách
và mục tiêu đã định trước, các cấp, các ngành ít nhiều phải sử dụng đến các loại văn bản quản lý nhà nước Hệ thống văn bản đó chứa đựng những thông
Trang 11tin và truyền đạt cho cấp dưới Những cơ quan, tổ chức kinh tế - xã hội trao đổi thông tin lẫn nhau để cùng nhau giải quyết, để duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với các cơ quan Nhà nước, các quan hệ xã hội khác liên quan mật thiết với kinh doanh và thương mại, để cùng nhau tồn tại và phát triển
Trong quản lý, giao dịch và kinh doanh, văn bản quản lý nhà nước là phương tiện hết sức quan trọng để điều hành mọi hoạt động của cơ quan Trên thực tế, nghĩa là phải trao đổi thông tin, mà việc trao đổi đó chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống văn bản Qua văn bản, các chủ trương, chính sách, các quy định, thoả thuận…được chuyển đến dối tượng tác động
b Chức năng pháp lý
Chức năng pháp lý của văn bản quản lý nhà nước được thể hiện trong nội dung các văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp luật tồn tại trong xã hội, trong việc vận dụng các quy phạm pháp luật vào đời sống thực tiễn cũng như việc giải quyết các nhiệm vụ có tính bắt buộc theo quy định của pháp luật Nội dung trong văn bản quản lý nhà nước chính là những phát ngôn chính thức của cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội Vì thế, văn bản quản lý nhà nước là cơ sở pháp lý cho hoạt động của mọi
cá nhân, đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội Các mối quan hệ xã hội, các ràng buộc về mặt pháp lý giữa các ngành, các cấp, giữa các cơ quan cũng như trong nội bộ đều được thực hiện thông qua hệ thống văn bản quản lý nhà nước Văn bản quản lý nhà nước là cơ sở pháp lý mang tính chuẩn mực và cưỡng chế trong việc vận dụng, giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong xã hội, trong cuộc sống thực tế
Trang 12c Chức năng quản lý và điều hành
Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện chứa đựng và truyền đạt các quyết định quản lý có giá trị cao nhất Quản lý là hệ thống các biện pháp nhằm điều khiển hoạt động của một đối tượng nào đó theo những mục tiêu đã định trước, trên cơ sở tính toán đầy đủ những điều kiện, những nhân tố ảnh hưởng nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Hệ thống các biện pháp đó chủ yếu được chuyển tải và truyền đạt thông qua hệ thống văn bản quản lý Mọi chủ thể của xã hội, để thực hiện việc quản lý trong phạm vi đảm nhiệm của mình đều cần phải thông qua hệ thống văn bản quản lý Hệ thống văn bản đó thể chế hoá các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức, lề lối làm việc, quan hệ giữa các cấp, giữa các bộ phận trong đơn vị để tạo ra sự thống nhất trong mọi hoạt động chung
Vì văn bản quản lý nhà nước là phương tiện để truyền đạt các quyết định quản lý nên việc sử dụng phương tiện này như thế nào là tuỳ thuộc vào năng lực của người quản lý, người lãnh đạo Qua hệ thống văn bản quản lý nhà nước, người lãnh đạo hiểu rõ được yêu cầu, mệnh lệnh của cấp trên Từ
đó, người lãnh đạo tiến hành yêu cầu cấp dưới thực hiện các quyết định quản
lý đã ban hành, kiểm tra hiệu lực của các loại văn bản thông qua kết quả công tác vận dụng vào các công tác nghiệp vụ hay tổ chức sản xuất Như vậy, hệ thống văn bản quản lý nhà nước trong mỗi cơ quan phải quán triệt được việc giải quyết hài hoà các mối quan hệ trong nội bộ cơ quan, quan hệ trên dưới, cũng như các mối quan hệ khác của toàn xã hội; đồng thời thể hiện sự tác động qua lại giữa những người lãnh đạo và những người bị lãnh đạo, giữa các cấp, các ngành
Trang 131.3 Văn bản quy phạm pháp luật
Pháp luật được soạn thảo theo quy định tuyệt đại đa số tồn tại dưới dạng ngôn ngữ viết là chính Nguồn của pháp luật nói chung là tất cả các VBQPPL do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Nguồn của luật điều chỉnh các hoạt động cuộc sống - xã hội cũng là các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
1.3.1 Định nghĩa
Văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt: VBQPPL) là một bộ phận trong
hệ thống văn bản quản lý nhà nước Cũng như loại văn bản khác, VBQPPL mang đặc tính văn bản khác hẳn với “kể chuyện”, đồng thời nó lại có tính quy phạm và quyền uy được thể hiện trong: Là sản vật của chế độ lập pháp hoặc quá trình thao tác chứ không phải là tác phẩm cá nhân; Phải áp dụng ngôn ngữ lập pháp một cách quy phạm, tường thuật trực tiếp, nghiêm túc, trang trọng lịch sự và chính xác chuẩn mực; Bắt buộc được chứng thực theo đúng hình thức quy phạm, theo đúng mẫu nhất định v.v
VBQPPL là biểu hiện hoặc chứa đựng nội dung pháp luật bằng hình
thức văn bản, là văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước có quyền chế định quy phạm pháp luật (Cơ quan Nhà nước thẩm quyền-国家权力机关, Cơ quan hành chính Nhà nước-国家行政机关, Cơ quan tư pháp Nhà nước-国家司法机关) chế định, ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa [39.13] Đây là sự thể chế hoá thiết chế xã hội, nói cách khác đó là văn bản cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách, phát luật của Đảng và Nhà nước cầm quyền trong lãnh đạo và
Trang 14quản lý, có sức ràng buộc phổ biến và có thể được sử dụng nhiều lần đối với các đối tượng khác nhau Khác với VBQPPL, có một số văn bản pháp luật tuy mang hiệu lực pháp luật nhưng lại không được áp dụng nhiều lần thì chúng tôi gọi là văn bản mang tính phi quy phạm pháp luật (非规范性法律文件), chẳng hạn như: Văn bản phán quyết trọng tài dân sự (民事判决书), Văn bản phán quyết trọng tài hình sự (刑事判决书裁定书) v.v
Theo thống kê của website Chính phủ Nhân dân Trung Quốc (http://www.gov.cn/flfg/), từ năm 1949 cho đến nay, Trung Quốc khoảng có hơn 500.000 VBQPPL liên quan đến các lĩnh vực xã hội (Hiến pháp, Dân sự, Hình sự, Kinh tế, Hành chính, Xã hội, Quốc tế…), trong đó bao gồm cả những văn bản đã mất hiệu lực Sau đây là số liệu thống kê cụ thể:
Văn bản quy phạm pháp luật TQ
Chủ thể Trung ương Địa phương Quốc tế HongKong Macao
Trang 15thuộc thẩm quyền phải dựa vào các quy định trong VBQPPL làm cơ sở pháp
lý để giải quyết công việc
b VBQPPL do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
Đặc điểm này cho chúng tôi khẳng định rằng VBQPPL do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng không phải mọi cơ quan Nhà nước đều
có thẩm quyền ban hành VBQPPL Ở đây nhấn mạnh đến từ “thẩm quyền”, nghĩa là chỉ một số cơ quan trong hệ thống các cơ quan trong bộ máy Nhà nước mới có thẩm quyền ban hành VBQPPL Sở dĩ chỉ có một số cơ quan có
“thẩm quyền” trong bộ máy Nhà nước mới có thẩm quyền ban hành VBQPPL
là bởi VBQPPL là văn bản thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng và hơn nữa nó có phạm vi chủ thể tác động cũng như lĩnh vực mà nó điều chỉnh có quy mô rộng khắp và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội Cho nên, trong
hệ thống cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành VBQPPL là luôn chiếm thiểu số về số lượng so với cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật
c VBQPPL luôn chứa đựng các quy phạm pháp luật
VBQPPL luôn chứa đựng các quy phạm pháp luật, nghĩa là văn bản đó
có giá trị bắt buộc các chủ thể trong phạm vi chủ quyền quốc gia và được Nhà nước đảm bảo thực hiện Đặc điểm này cho thấy trong thực tiễn cơ quan Nhà nước không chỉ ban hành VBQPPL mà còn ban hành các văn bản khác như văn bản áp dụng pháp luật, nhưng trong các văn bản ấy không có tính bắt buộc chung, không chứa đựng quy phạm pháp luật
d VBQPPL có tên gọi, nội dung và trình tự ban hành theo luật định
Pháp luật là một hệ thống các quy tắc có tính thống nhất nội tại cao Để
Trang 16đảm bảo tính thống nhất của pháp luật nhằm phát huy vai trò của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thì yêu cầu tất yếu khách quan đặt ra là cũng cần một hệ thống các VBQPPL để chứa đựng hệ thống quy tắc ấy Xuất phát từ yêu cầu khách quan ấy mà mỗi loại VBQPPL trong hệ thống VBQPPL phải có tên gọi, nội dung và trình tự ban hành khác nhau, sự khác nhau ấy không chỉ là yếu tố cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ của
hệ thống pháp luật Ví dụ: cũng là VBQPPL nhưng Hiến pháp có nội dung và trình tự ban hành khác với các văn bản Luật, Điều lệ, Quyết định… Về tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các VBQPPL khác nhau xuất pháp từ cơ quan ban hành cũng như lĩnh vực, phạm vi mà văn bản ấy tác động tới
1.3.3 Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại VBQPPL, mỗi người phân loại văn bản
đứng từ các góc độ khác nhau sẽ đưa ra tiêu chí không giống nhau Vì thế mà các tiêu chí phân loại rất đa dạng, như dựa vào:
1 Chế độ và chủ thể áp dụng: pháp luật trong nước, pháp luật quốc tế; pháp luật nội địa, pháp luật đặc khu…
2 Tính chất, hiệu lực: luật căn bản – Hiến pháp, luật phổ thông (Pháp luật, Pháp quy hành chính, Pháp quy địa phương…)
3 Cơ quan ban hành: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Quốc Vụ Viện, Chính phủ nhân dân…
4 Địa điểm ban hành: tỉnh Quảng đông, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, thành phố Bắc kinh…
5 Thời gian ban hành: năm 1995, năm 2003, năm 2008…
6 Tên loại văn bản: Điều lệ, Biện pháp, Quy định…
7 Nội dung, chủ đề: Luật dân sự, Luật hình sự, Luật thương mại…
Trang 17Sau đây là sự phân loại cơ bản thường được sử dụng tại Trung Quốc
1.3.3.1 Căn cứ Hiến pháp năm 1982-《宪法》(đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004) và Luật lập pháp năm 2000-《立法法》, hệ thống VBQPPL hiện nay của Trung Quốc bao gồm:
+ Hiến pháp (宪法)
+ Pháp luật và giải thích pháp luật (法律及法律解释)
+ Pháp quy hành chính (行政法规)
+ Pháp quy địa phương (地方性法规)
+ Điều lệ tự trị và Điều lệ đơn hành (自治条例和单行条例)
+ Luật cơ bản của đặc khu hành chính (特别行政区基本法)
+ Quy chương (规章)
a Hiến pháp - 宪法 (bao gồm Hiến pháp và các đạo luật về bổ sung
hoặc sửa đổi Hiến pháp): Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
được thông qua và công bố thi hành do Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn Quốc Trung Quốc-全国人民代表大会, quy định chế độ cơ bản và nhiệm vụ cân bản của Nhà nước, là Luật cân bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp luật cao nhất, các nhân dân dân tộc toàn quốc, tất cả cơ quan Nhà nước và lực lượng
vũ trang, chính đảng và tập thể xã hội, tổ chức sự nghiệp và xí nghiệp đều nhất thiết phải lấy Hiến pháp làm chuẩn tắc hoạt động làm cân bản, bởi vì nó
là nguồn của tất cả pháp luật và quy định pháp luật Hiến pháp là cơ sở để hình thành hệ thống pháp luật, các văn bản dưới Hiến pháp suy cho cùng là sự
cụ thể hoá, chi tiết hoá các quy định của Hiến pháp Do đó, Hiến pháp cũng rất quan trọng đối với ngành luật kinh tế, ví dụ như: “Nhà nước tăng cường lập pháp kinh tế, hoàn thiện điều chỉnh vĩ mô Nhà nước theo luật cấm tất cả các tổ chức hoặc cá nhân rối loạn trật tự kinh tế xã hội.” (Điều 15, Hiến pháp nước
Trang 18Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) - “国家加强经济立法,完善宏观调控。国家依法禁止
b Pháp luật và giải thích pháp luật (bao gồm pháp luật cơ bản và
Theo quy định của Hiến pháp Trung Quốc, luật cơ bản và luật pháp là do Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc (全国人民代表大会和全国人民代表大会常务委员会) chế định, chủ tịch Nhà nước ký lệnh chủ tịch (主席令) để cho phép công bố
Về mặt hiệu lực, pháp luật thấp hơn Hiến pháp Pháp luật là sự tổng hợp có hệ thống theo chương, mục những quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội quan trọng của từng lĩnh vực đòi sống xã hội Giữa pháp luật với các luật chuyên ngành có mối quan hệ nhất định Ở đây pháp luật cơ bản là chỉ những VBQPPL về hình sự, dân sự, cơ quan Nhà nước và mặt khác do Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc chế định và sửa đổi; Pháp luật phi cơ bản là chỉ những VBQPPL do Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc chế định và sửa đổi
Giải thích pháp luật là có thể do Quốc Vụ Viện (国务院), Ủy ban quân sự trung ương (中央军事委员会), Tòa án nhân dân tối cao (最高人
民 法 院 ), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (最高人民检察院 ), Ủy ban Thường vụ của Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc (全国人民代表大会常务委员会) theo chức quyền pháp luật làm ra những giải thích có hiệu lực pháp luật phổ biến đối với pháp luật được ứng dụng cụ thể Giải thích pháp luật chỉ có thể áp dụng trong 4 hình thức VBQPPL: Giải thích (解释), Quy định (规定), Phê duyệt (批复), Quyết định (决定)
Trang 19c Pháp quy hành chính - 行政法规: Theo quy định của Hiến pháp
Trung Quốc, cơ quan chấp hành có quyền lực cao nhất là Quốc Vụ Viện Quốc Vụ Viện được Hiến pháp ủy quyền có thể chế định và ban hành các loại quy định pháp luật hành chính Xét về quy mô số lượng, những VBQPPL về pháp quy hành chính do Quốc Vụ Viện ban hành là nhiều nhất, mà hiệu lực chỉ thấp hơn Hiến pháp và Pháp luật, đặc biệt là những Quyết định và Tế tắc-
细则như: “Điều lệ tạm thời quản lý và giám sát tài sản quốc hữu của doanh nghiệp”-《企业国有资产监督管理暂行条例》, “Tế tắc thực hiện biện pháp tạm thời quản lý và giám sát sự đầu tư của doanh nghiệp Trung ương”-《中央企业投资监督管理暂行办法实施细则》
d Pháp quy địa phương - 地方性法规: Theo quy định của Hiến
pháp và Luật lập pháp, Đại hội Đại biểu Nhân dân và Ủy ban Thường vụ của các tỉnh, khu tự trị (自治区), thành phố trực thuộc trung ương (直辖市, 省、自) thành phố có Chính phủ nhân dân thuộc tỉnh hoặc khu tự trị tại chỗ (治区人民政府所在地的市), thành phố lớn do Quốc Vụ Viện phê chuẩn (经国务院批准的较大的市) có quyền ban hành pháp quy địa phương bằng hình thức quy định, mệnh lệnh v.v Pháp quy địa phương có hiệu lực trong phạm vi khu vực hành chính của nó và thấp hơn Hiến pháp, Pháp luật và Pháp quy hành chính
e Điều lệ tự trị và Điều lệ đơn hành -自治条例和单行条例: Điều lệ
tự trị và điều lệ đơn hành đều là do Đại hội Đại biểu Nhân dân của khu tự trị dân tộc ban hành Điều lệ tự trị được chế định theo những nội dung như tổ chức và nguyên tắc hoạt động thực hiện khu vực tự trị, cấu thành và chức quyền của cơ quan khu tự trị Điều lệ đơn hành được chế định theo đặc điểm
Trang 20chính trị, kinh tế và văn hóa của dân tộc trong khu tự trị đó Đa số điều lệ tự trị và điều lệ đơn hành đều được ban hành bằng hình thức điều lệ, tế tắc, cũng
có một bộ phận áp dụng thể loại văn bản như quyết định, quy định v.v
f Luật cơ bản của đặc khu hành chính - 特别行政区基本法: Hiện
nay, Luật cơ bản của khu vực hành chính đặc biệt cụ thể là chỉ “Luật cơ bản của đặc khu hành chính HONGKONG nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa” -
《中华人民共和国香港特别行政区基本法》và “Luật cơ bản của đặc vực hành chính MACAO nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa”-《中华人民共和国澳门特别行政区基本法》 Hai đặc khu hành chính này có quyền lập pháp riêng và có thể chế định, sữa chữa và hủy bỏ những VBQPPL kinh tế theo Luật cơ bản nhưng không được trái với Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
g Quy chương -规章 : Các Bộ, Ủy ban Quốc Vụ Viện (国务院各部、
委员会), Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (中国人民银行), Sở kiểm toán Nhà nước (国家审计署) và các cơ quan trực thuộc có chức năng quản lý hành chính có thể chế định quy chương theo pháp quy hành chính, quyết định, mệnh lệnh của pháp luật và Quốc Vụ Viện Ví du: “Quy định quản lí đăng ký vốn đăng ký công ty” -《公司注册资本登记管理规定》do Tổng cục quản lí hành chính công thương nhà nước nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (中华人民共和国国家工商行政管理总局) chế định
Theo Điều 78, 79 Chương 5 của Luật lập pháp, Hiến pháp có giá trị pháp lí cao nhất trong hệ thống VBQPPL Hiệu lực của Pháp luật cao hơn Pháp quy hành chính, Pháp quy địa phương, Quy chương, đồng thời hiệu lực
Trang 21của Pháp quy hành chính lại cao hơn so với Pháp quy địa phương và Quy chương Mối quan hệ giữa các VBQPPL có thể được mô hình hóa theo sơ đồ sau:
1.3.3.2 Theo loại hình văn bản
Trong phạm vi nghiên cứu 350 văn bản trong luận văn này, để tiện cho việc khảo sát, mô tả và tìm hiểu rõ những nét chung và riêng biệt của từng kiểu loại văn bản trong hệ thống VBQPPL, chúng tôi cũng đưa ra phân loại theo loại hình văn bản
Bởi vì trong phần phân loại trước đã giới thiệu về Hiến pháp và Pháp luật rồi, cho nên ở đây chúng tôi không nói lại, nhưng phải nhấn mạnh hai
行政法规 Pháp quy hành chính
地方性法规 Pháp quy địa phương
自治条例和单行条例 Điều lệ tự trị và Điều lệ đơn hành
特别行政区基本法 Luật cơ bản của đặc khu hành chính
规章 Quy chương
宪法 Hiến pháp
Trang 22loại hình văn bản này là có giá trị pháp lí cao nhất và có vị trí rất quan trọng nhất trong hệ thống VBQPPL Đồng thời, các VBQPPL khác bằng thể loại cụ thể như Điều lệ, Biện pháp, Tế tắc, Quyết định, Thông tư… sẽ làm cho các quy phạm pháp luật cụ thể hơn, chi tiết hơn, linh hoạt hơn nhằm tăng tính năng động, sáng tạo trong quản lý, điều hành của Chính phú, các cơ quan thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế
Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu một số kiểu loại VBQPPL cơ bản thường được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế:
a Điều lệ - 条例: Điều lệ là hình thức cơ bản và quy chương chế độ
pháp luật cao nhất để bổ sung những khoảng trống khi lập pháp Các sự vật và vấn đề trong điều lệ đều mang tính chất quan trọng, phạm vi về thời gian và không gian có hiệu lực rất rộng rãi và ổn định, nội dung có tính khái quát cao,
có hạn chế nghiêm ngặt đối với cơ quan chế định và ban hành Nói cụ thể, điều lệ là loại VBQPPL do những tổ chức Trung ương và Đảng chế định và ban hành nhằm mục đích quy định một nguyên tắc cuộc sống nhà nước nào
đó mà được thực hiện dài hạn hoặc tổ chức và chức quyền của cơ quan nhà nước nào đó hoặc nhiệm vụ và quyền hạn của chuyên gia cấp nhà nước Ví dụ:
“Điều lệ xử phạt hành vi vi phạm pháp luật tài chính” -《财政违法行为处罚处分条例》, “Điều lệ thực hiện Luật tiêu chuẩn hóa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” -《中华人民共和国标准化法实施条例》
b Biện pháp - 办法: Biện pháp là loại VBQPPL được chế định để cho
cơ quan hành chính nhà nước và xí nghiệp nhà nước quán triệt một pháp lệnh nào đó hoặc làm tốt công việc chính trị, kinh tế, phát triển xã hội Nó là phương tiện thực hiện một cách khả thi và cụ thể đối với những pháp lệnh,
điều lệ và quy chương chế độ có liên quan
Trang 23Biện pháp thường ban hành qua hình thức “mệnh lệnh” hoặc “thông tư”,
thủ pháp này được áp dụng trong lĩnh vực quản lý hành chính hết sức phổ biến Thể loại biện pháp giống như điều lệ và quy định Nội dung biện pháp
cụ thể hơn so với nội dung điều lệ là toàn diện hơn, hệ thống hơn, nhưng khác biệt này không tuyệt đối mà không có giới hạn rõ ràng Ví dụ: Những quy định về vấn đề xử lý công văn, văn phòng trung ương Đảng (党中央办公室)
sử dụng “Điều lệ”, nhưng văn phòng Quốc Vụ Viện (国务院办公室) lại sử dụng “Biện pháp”
c Quy định - 规定: Quy định là những yêu cầu nguyên tắc do Đảng và
cơ quan hành chính đề xuất nhằm mục đích quán triệt chính sách hoặc tiến hành hoạt động quản lý nào đó Quy định là thể loại văn bản được sử dụng nhiều nhất và phạm vi rộng rãi nhất trong VBQPPL Khác với điều lệ, một quy định chỉ thực hiện cho một quy phạm pháp luật, nó được chế định chỉ vì tăng cường một công việc quản lý nào đó, vậy nội dung nó rất kỹ càng và cụ thể, có sức ràng buộc và tính thao tác rất cao Ví dụ: “Quy định kiểm soát giá
cả của Uỷ ban phát triển và cải cách nhà nước” -《国家发展和改革委员会价格监测规定》, “Quy định quản lý tư cách đảm nhiệm người phụ trách tài
d Tế tắc (Quy định chi tiết) - 细则: Tế tắc được chế định và ban
hành nhằm mục đích bổ sung hoặc cụ thể hóa những “Điều lệ”, “Quy định”,
“Biện pháp”, có vai trò thuyết minh và chỉ đạo việc quán triệt phương châm
và chính sách, thường thường được áp dụng vào mặt bổ sung những quy định
về các tế tắc thực hiện của sự lập pháp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, quá trình thao tác tinh thần văn bản của các Bộ, Ủy thuộc Quốc Vụ Viện, quá
Trang 24trình thao tác của sự lập pháp địa phương và những văn bản quản lý mang tính tổng quát trong nội bộ cơ quan xí nghiệp, ví dụ: “Tế tắc thực hiện Luật thống kê nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” -《中华人民共和国统计法实施细则》, “Tế tắc thực hiện Điều lệ quản lý công ty bảo hiểm vốn nước ngoài nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”-《中华人民共和国外资保险公司管理条例实施细则》
e Quyết định - 决定: Quyết định là thể loại văn bản do cơ quan thuộc
Đảng và Chính phủ đối với một số vấn đề hoặc sự kiện quan trọng, sau khi nghiên cứu, thảo luận và biểu quyết thông qua mà có yếu cầu quán triệt và thực hiện Quyết định được dùng phổ biến trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ trong xã hội, điều chỉnh các quan hệ trong nội bộ các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội hoặc trong phạm vi toàn xã hội Đây là phương tiện năng động, sáng tạo để chuyển từ tình huống thực tế sang tình huống mục tiêu đồng thời
là phương tiện thể hiện tài năng của người lãnh đạo đối với đối tượng bị quản
lý Hiệu lực của quyết định được giới hạn trong thời gian, không gian nhất định phù hợp với thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân ban hành quyết định để thực hiện chức năng quản lý của mình theo luật định Ví dụ: “Quyết định về hạn chế phạm vi kinh doanh của công ty hữu hạn cổ phần chứng khoán” -《关于限制证券股份有限公司经营范围的决定》, “Quyết định của
Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc về tăng cường giám sát công việc thẩm tra dự toán ngân sách trung ương” -《全国人大常委会关于加强中央预算审查监督的决定》
f 通知 - Thông tư: Thông tư là văn bản được ban hành để hướng dẫn
Trang 25thực hiện các chủ trương, chính sách do Chủ tịch nước, Chính phủ hay Thủ tướng ban hành cho các ngành, các lĩnh vực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ hay
cơ quan thuộc Chính phủ phụ trách Ngoài ra, thông tư còn là VBQPPL dùng
để chi tiết hoá văn bản của chính Thủ trưởng các Bộ ban hành Vì là văn bản giải thích, hướng dẫn nên tính lập quy của thông tư không phụ thuộc vào tinh thần của VBQPPL ban hành trước đó
Thông tư được áp dung trong những trường hợp ban hành, công bố quy chương chế độ; đảm nhiệm, bỏ miễn hoặc tuyển dụng cán bộ; thường là cơ quan cấp trên truyền đạt yêu cầu hoặc sự kiện cần thực hiện cho cấp dưới biết
Ví dụ: “Thông tư về văn phòng Quốc Vụ Viện thanh lý dự án đầu tư tư sản cố định” -《国务院办公厅关于清理固定资产投资项目的通知》, “Thông tư về
Bộ tài chính, Bộ giáo dục in phát „Biện pháp quản lý học bổng Nhà nước‟”
-《财政部、教育部关于印发〈国家助学奖学金管理办法〉的通知》
1.4 VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc
Cũng như luật pháp của các nước khác, luật pháp Trung Quốc ra đời nhằm mục đích ổn định trật tự xã hội, để thực hiện chế độ quản lý, điều hành Nhà nước bằng pháp luật Ngày nay, “kinh tế” thường được dùng để chỉ hoạt động sản xuất của cải vật chất của con người, có ảnh hưởng và tác động rất lớn đối với cuộc sống và toàn xã hội Quản lý kinh tế là một trong những nội dung quản lý thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước [45.3] Trong đó, ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các VBQPPL có liên quan đến kinh tế là nội dung chủ yếu quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế
VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế là văn bản viết do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền soạn thảo và ban bố theo trình tự luật định để giải thích, điều
Trang 26chỉnh các vấn đề kinh tế, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, nó có hiệu lực pháp luật hoặc tuy không có hiệu lực pháp luật nhưng có ý nghĩa pháp luật Các văn bản này đại diện cho ý chí nhà nước, thể hiện tinh thần pháp luật nhà nước một cách trung thành và có thể tạo ra hậu quả pháp luật nhất định
+ Phân loại
Phạm trùm nội dung của VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc
rất rộng rãi Dựa vào các tiêu chí khác nhau, sự phân loại cũng tương ướng khác nhau:
a Theo quy luật khách quan của kinh tế được phản ánh
Căn cứ Cục thống kê Nhà nước ban hành “Thông tư về in phát „Quy định phân loại ba sản nghiệp lớn‟”(Ngày 14 tháng 5 năm 2003) -国家统计局颁布
《关于印发<三大产业划分规定>的通知》(2003 年 5 月 14 日) , VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc có thể chia thành ba sản nghiệp lớn, khoảng 13 lĩnh vực
+ Sản nghiệp thứ nhất bao gồm: Nông, Lâm, Nuôi, Ngư cùng trong một lĩnh vực (农、林、牧、渔);
+ Sản nghiệp thứ hai bao gồm: khai thác khoáng sản, chế tạo, sản xuất và cung cấp điện lực dầu khí và nước, ngành xây dựng, thuộc bốn lĩnh vực (采
+ Sản nghiệp thứ ba bao gồm: vận tải và kho bãi, dịch vụ viễn thông máy tính
và phần mềm, bán buôn và bán lẻ, nghỉ ngơi và ăn uống, tài chính, bất động sản, thương mại và dịch vụ cho thuê, văn hóa giáo dục và thể dục thể thao,
Trang 27giải trí, tất cả thuộc tám lĩnh vực (交通运输仓储业、信息传输计算机服务和软件 业、批发和零售、住宿和餐饮、金融、房地产、租赁和商务服务业、文教体育、娱乐
an toàn, chất lượng, kiểm nghiệm, giao dịch, đóng gói, vận tải, kho bãi, lắp ráp, sử dụng, dịch vụ, sửa chữa v.v
b Theo yếu tố của quan hệ pháp luật
Giáo sư Hình Tinh (刑星) [49] cho rằng: VBQPPL trong lĩnh vực kinh
tế ở Trung Quốc có thể được chia thành 9 loại theo yếu tố của quan hệ pháp luật
+ Về điều kiện và cơ cấu tổ chức của chủ thể thương mại (关于商事主体的条件和组织机构) Chủ thể thương mại nên áp dụng nguyên tắc chủ nghĩa và được quy định theo luật pháp, ví dụ như “Luật công ty” -《公司法》
+ Về quyền lợi nghĩa vụ dịch vụ sản xuất và kinh doanh của chủ thể thương mại (关于商事主体的生产经营服务权利义务) Trong quá trình chủ thể thương mại thực hiện quyền dịch vụ sản xuất và kinh doanh, nên tuân thủ những yêu cầu liên quan của Nhà nước hoặc ngành nghề Nội dung này chiếm tỷ lệ hơi cao trong VBQPPL, đó là minh xác hóa quyền lợi nghĩa vụ của chủ thể
Trang 28thương mại và hướng dẫn cụ thể của hành vi quyền lợi nghĩa vụ, ví dụ: “Luật chất lượng sản phẩm” -《产品质量法》
+ Về quan hệ giao dịch giữa chủ thể thương mại và người tiêu dùng (关于商事 主体与消费者的交易关系) Đối với mối quan hệ giao dịch giữa chủ thể thương mại và người tiêu dùng, đã có ban hành “Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” -《消费者权益保护法》
+ Về quan hệ cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể thương mại (关于商事主 体之间的公平竞争关系) Đối với mối quan hệ cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể thương mại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ,
đã có ban hành “Luật phản đối cạnh tranh bất chính đắng” -《反不正当竞争法》
+ Về quản lí trật tự cơ bản thị trường (关于市场基本秩序管理) Đối với sự quy phạm, chỉ đạo, quản lý, xử phạt các chủ thể thương mại và thị trường, nhà nước đã ban hành những VBQPPL như: “Luật quảng cáo” -《广告法》, “Luật giá cả” -《价格法》, “Luật chứng khoán” -《证券法》, “Luật quản lý bất động sản thành phố” -《城市房地产管理法》v.v
+ Về điều hành kinh tế vĩ mô nhà nước (关于国家宏观经济调控) Đây chủ yếu thể hiện tại những mặt tài chính, thuế và bằng hình thức quy hoạch nhà nước, chính sách sản nghiệp, hướng dẫn đầu tư, khống chế tổng lượng v.v
+ Về chủ thể thương mại hợp tác với chủ thể khác qua hợp đồng (关于商事主 体基于合同与其他主体的业务往来) Đối với nội dung hợp tác giữa chủ thể thương mại và chủ thể khác, có ban hành “Luật hợp đồng” -《合同法》
+ Về chủ thể quản lý trật tự thị trường (关于主体管理市场秩序) Có bao gồm những VBQPPL được ban hành do Bộ công thương (工商管理局), Cục kiểm
Trang 29nghiệm kiểm dịch giám sát chất lượng (质量监督检验检疫局), Cục quản lý giám sát sản xuất an toàn (安全生产监督管理局), Bộ y tế (卫生局) v.v
+ Về quan hệ giữa chủ thể thương mại với nhân viên (关于商事主体与职工,工 人和工会的关系), công nhân và công đoàn Hiện này đã có ban hành “Luật lao động”《劳动法》-,“Luật công đoàn” -《工会法》v.v
c Theo giai đoạn phát triển kinh tế
Mặc dù ở Trung Quốc đã có Luật kinh tế từ rất lâu, nhưng mãi sau năm
1978, Luật kinh tế mới được ra đời và phát triển với chức năng chính thức với là: điều chỉnh toàn bộ quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động kinh tế và các quy phạm pháp luật [35.17,18] Những VBQPPL trong lĩnh vực tương ứng được xuất hiện lần lượt vào các giai đoạn như sau:
+ Năm 1978 – 1984
Giai đoạn này thuộc thể chế kinh tế kế hoạch rất tập trung, tức “kinh tế
kế hoạch là chính, điều tiết thị trường là phụ”, các hoạt động kinh tế đều do
cơ quan hành chính nhà nước tổ chức, cho nên Nhà nước ban hành những VBQPPL của lĩnh vực kinh tế có như: “Luật thuế thu nhập cá nhân” (1980)-
Trang 30《民法通则》 Lập pháp kinh tế được tăng cường và phản ánh qua những VBQPPL như: “Điều lệ kho bạc Nhà nước” (1985) -《国家金库条例》, “Tế tắc thực hiện Luật thống kê” (1987) -《统计法实施细则》, “Thông tư về tăng cường sự quản lý cổ phiếu và trái phiếu” (1987) -《关于加强股票、债券管理的通知》, “Luật xí nghiệp công nghiệp sở hữu toàn dân” (1988) -《全民所有制工业企业法》, “Quyết định về điểm quan trọng của chính sách đối với sản nghiệp hiện nay” (1991) -《当前产业政策要点的决定》v.v.
lệ cấm bán đa cấp” (2005) -《禁止传销条例》v.v
Để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách và mục tiêu kinh tế, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, chậm phát triển thì phải đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, nhất là các VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế
1.5 Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày một cách hệ thống một số văn
đề then chốt nhất về lí luận có liên quan, từ văn bản nói chung, cho đến văn bản quản lí nhà nước và VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế - đối tượng chính của luận văn này nói riêng, làm cơ sở cho sự phân tích đặc điểm đối tượng nghiên
Trang 31cứu của luận văn này ở các phần sau
Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội, là căn cứ, chuẩn mực cho mọi hoạt động của các cấp, các ngành, các đơn
vị, cơ quan, tổ chức kinh tế - xã hội Dựa trên ba chức năng cơ bản của văn bản quản lý nhà nước: chức năng thông tin, chức năng pháp lý, chức năng quản lý và điều hành, trong đó VBQPPL là một thể loại văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp luật nhằm mục đích quản lý và quy phạm các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, do cơ quan Nhà nước thẩm quyền đặt tên gọi, chế định nội dung và trình tự ban hành theo luật đinh, mang tính chỉ huy, cưỡng chế, có sức ràng buộc phổ biến và có thể được sử dụng nhiều lần đối với các đối tượng khác nhau
Hiện nay, kinh tế là lĩnh vực được theo dõi và quan tâm nhiều nhất trong đời sống xã hội, vì vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu các VBQPPL của lĩnh vực này nhằm mục đích làm rõ đặc điểm cấu tạo cũng như đặc điểm hoạt động của chúng trong sự tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ tiếng Trung và tiếng Việt
Theo phạm vi chủ thể, hiệu lực quản lý, thể loại, quan hệ pháp luật, giai đoạn, hệ thống văn bản quy phạm phát luật Trung Quốc nói chung, trong lĩnh vực kinh tế nói riêng có thể được chia thành những loại khác nhau Bên cạnh,
đi vào phân tích từng kiểu loại cụ thể thì sự khác biệt rõ ràng hơn
Trang 32CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC TỪ
rõ nội dung của từng đoạn văn Dùng số, hoặc chữ để phân biệt các đoạn văn, các phần nhỏ trực thuộc thì ghi lùi sâu vào trong để làm nổi bật các thông tin chính của văn bản
Cấu trúc là bình diện hình thức của văn bản nhằm thể hiện bình diện nội dung văn bản Vì vậy, cấu trúc của VBQPPL được hiểu là các loại hình thức cụ thể đối với sự tổ chức và sắp xếp yếu tố cấu thành, tài liệu, nội dung của VBQPPL Trước tiên, chúng tôi thấy cần phải làm rõ một khái niệm quan trọng liên quan đến cấu trúc, đó là khái niệm thể thức
Thể thức của văn bản là những yếu tố về cấu trúc nội dung và hình thức
đã được thể chế hóa Các yếu tố thể thức, tùy theo tính chất của mỗi loại văn bản mà có thể được bố trí theo những mô hình kết cấu khác nhau tạo thành cấu trúc của văn bản Thể thức văn bản là những thành phần cần thiết phải có cũng như cách thức trình bày các thành phần đó trong một văn bản để đảm bảo tính thống nhất, tính pháp lý, nội dung và hiệu lực thi hành [17.23] Thể thức là toàn bộ phận cấu thành văn bản, chỉ được áp dụng trong những văn bản ít nhiều mang tính pháp lý, hay là cơ sở đảm bảo tính pháp lý của các đơn
Trang 33vị, cơ quan, tổ chức kinh tế, xã hội trong quá trình hoạt động Các thành phần
và cách trình bày, sắp xếp trong thể thức văn bản, cho đến nay vẫn tuân thủ theo những quy định của Nhà nước có thẩm quyền tại các văn bản chủ yếu Ngoài ra, văn bản còn phải được đảm bảo những yêu cầu nhất định về thẩm
mỹ Thể thức của VBQPPL được quy định thành luật và bắt buộc phải thực hiện đúng
2.2 Đặc điểm chung của cấu trúc tổng thể VBQPPL
Do nhu cầu của thực tế và tính chuyên môn, cấu trúc tổng thể của VBQPPL có đặc điểm nổi bật so với các thể loại văn bản khác, chủ yếu được thể hiện tập trung vào những đặc điểm đặc trưng sau đây:
2.2.1 Cấu trúc nội dung
Ở Trung Quốc, quy phạm pháp luật là hành vi tiêu chuẩn cao nhất xã hội, có hiệu lực pháp luật không được nghi ngờ Vì thế, các tầng lớp thống trị
từ xưa đến nay đều hết sức coi trọng sự áp dụng VBQPPL Từ quá trình soạn thảo, sửa chữa đến xác lập cuối cùng, đều phải gọt giũa từng câu từng chữ, cân nhắc nhiều lần
Xuất phát từ nội dung của quy phạm pháp luật, nhà nước có quy định rõ ràng đối với việc cho phép hoặc không cho phép công dân làm cái gì, hoặc là quy định nếu công dân làm ra hành vi gì mà nhà nước cho phép hoặc không cho phép thì sẽ có khen thưởng hoặc trừng phạt như thế nào Quan hệ logic này được tồn tại trong nội dung quy phạm pháp luật đã quyết định rằng phải bắt buộc sử dụng hình thức “điều khoản” để biểu thị cấu trúc VBQPPL Đây cũng là tinh hoa của VBQPPL mà thực hiện được các đặc tính của quy phạm phát luật
Trang 342.2.1.1 Đặc điểm nội dung
VBQPPL mang tính quyền lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và thường có phạm vi ảnh hưởng rộng Vì vậy, nội dung VBQPPL phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
a Tính mục đích
Thể hiện mục đích hành chính là phần cơ bản của mọi VBQPPL Muốn VBQPPL phát huy hiệu lực thì phải đáp ứng được mục tiêu và giới hạn của nó, tức là phải trả lời được các câu hỏi: Ban hành để làm gì? Giải quyết mối quan
hệ nào? Giải quyết đến đâu? Tính mục đích của VBQPPL còn phải thể hiện trong khả năng phản ánh trung thực mục tiêu của chủ trương, đường lối chính sách Đảng và Nhà nước cũng như chủ trương của các cấp lãnh đạo và các cấp quản lý Nó phải là sự cụ thể hoá các văn bản VBQPPL của cấp trên để giải quyết những vấn đề quản lý cụ thể của cơ quan một cách sáng tạo và kịp thời
b Tính khoa học
VBQPPL có tính khoa học là văn bản có đủ lượng thông tin quy phạm
và thông tin thực tế cần thiết, không sa vào các chi tiết vụn vặt, đồng thời tập trung vào các trọng điểm của vấn đề cần giải quyết Các sự kiện, biến cố, hay nói cách khác nội dung của VBQPPL phải đúng đắn, không dùng những thông tin, sự kiện sai lầm, quá cũ và lạc hậu Nội dung các mệnh lệnh, ý tưởng phải rõ ràng, mạch lạc, không bị người thực hiện pháp luật nhầm
c Tính khả thi
VBQPPL có tính khả thi là văn bản phải đáp ứng các vấn đề như: Phải đưa ra được những vấn đề xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tiễn gắn với những điều kiện cụ thể nhất định như tình hình của đối tượng pháp luật,
Trang 35khả năng mọi mặt của đối tượng thực hiện văn bản; yêu cầu về trách nhiệm thi hành hợp lý, nghĩa là phù hợp với trình độ, năng lực, khả năng mọi mặt của đối tượng thi hành pháp luật, phù hợp với yêu cầu của quy luật khách quan Mọi quy định trong VBQPPL phải gắn giữa quyền và nghĩa vụ đó, kết hợp tính dân chủ theo phương châm “lấy dân làm gốc” (“以民为本”) Nói như vậy có nghĩa là VBQPPL mới có khả năng thực hiện được
d Tính quy phạm
VBQPPL nhìn chung là truyền đạt ý chí của các cơ quan Nhà nước và
để chúng có hiệu lực, nội dung của nó cần phải có hàm chứa những vấn đề có tính quy phạm Tính quy phạm thường được thể hiện dưới hình thức những mệnh lệnh, những yếu cầu, những cấm đoán và cả những hướng dẫn hành vi, cách xử sự đối tượng tiếp nhận văn bản Đồng thời còn phải có chứa 3 yếu tố: Những giả định (những điều kiện, hoàn cảnh và chủ thể cần tác động), những quy định (trong trường hợp đó chủ thể phải xử sự ra sao?) và chế tài (nếu không thực hiện sẽ bị xử lý như thế nào?)
2.2.1.2 Phong cách hành chính
Phong cách hành chính là phong cách chức năng được sử dụng để trao đổi những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành chính đoàn thể các cấp từ trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ phận xã hội có liên quan Phong cách hành chính có khuôn khổ nhất định để xây dựng các văn bản trong việc thể hiện vai trò của mối quan hệ giao tiếp trong lĩnh vực pháp luật, nó mang lại cho văn bản một màu sắc phong cách đặc biệt: Yêu cầu phải thực hiện, bắt buộc phải thi hành điều đã được thông báo
Trang 36VBQPPL Trung Quốc có nhiều loại: Luật, Điều lệ, Biện pháp, Quy định,
Tế tắc, Quyết định… Nhưng bất cứ loại VBQPPL nào cũng có tính chất quan trọng chung là thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và cuộc sống nhằm mục đích đảm bảo ổn định chính trị, tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, an ninh đất nước, đáp ứng yêu cầu cho mọi tầng lớp nhân dân
Tóm lại, VBQPPL mang tính quyền lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền và thường có phạm vi ảnh hưởng rộng Vì vậy, nghiên cứu phong cách hành chính được thể hiện trong VBQPPL có thể xuất phát từ những đặc điểm chủ yếu sau đây:
a Tính chính xác
Trong VBQPPL, tính chính xác của câu, từ phải đi đôi với tính minh bạch của cấu trúc đoạn văn nhằm đảm bảo tính đơn nghĩa của văn bản Bởi vì, thể loại văn bản này luôn đòi hỏi chỉ cho phép một cách hiểu, không được gây hiểu lầm, đặc biệt là đối với các diễn đạt pháp luật Sự thống nhất trong cách hiểu và giải thích các văn bản luật pháp phải đảm bảo tính chính xác
b Tính nghiêm túc
Đây cũng là một dấu hiệu đặc biệt để nhận diện văn bản, diễn đạt tính chất xác nhận, khẳng định của văn bản hành chính Về nguyên tắc, văn bản hành chính không có danh nghĩa của cá nhân, không cho phép sự thay đổi về hình thức theo cá tính của tác giả Tính nghiêm túc đòi hỏi phù hợp sự thật khách quan, nó là chuẩn mực chung, gắn liền với chuẩn mực pháp luật nhấn mạnh tính chất xác thực – khẳng định, chỉ thị - mệnh lệnh cần tuân theo
Trang 37c Tính khuôn mẫu
Tính khuôn mẫu là văn bản được viết theo những khuôn mẫu xác định Việc sử dụng theo mẫu những phương tiện quy định, quy phạm là dấu hiệu để nhận biết, phân biệt văn bản hành chính với các loại hình văn bản khác Một văn bản hành chính khi thảo ra phải đảm bảo và được chứng thực theo đúng hình thức quy định, đúng mẫu
Bên cạnh đó, ngôn ngữ của VBQPPL cũng được thể hiện các đặc tính phong cách hành chính có những yêu cầu cụ thể về cách sử dụng từ ngữ và xây dựng câu (Xem phân tích cụ thể ở Chương 3, Phong cách ngữ thể)
Suy cho cùng, chính vì các quy phạm pháp luật và quá trình thực hiện mang tính phổ biến và tính ổn định, cho nên các điều khoản được bao gồm trong mọi bộ phận cấu thành của VBQPPL, tương ứng với nó đều là một cách thống nhất và ổn định Cố định hoá các điều khoản, yêu cầu nội dung phải chính xác, minh bạch, xúc tích, chủ đề nổi bật Ví dụ trong nội dung của các VBQPPL thường phải liệt kê các điều kiện, hình thức phương pháp, trường hợp hoặc kết quả có khả năng áp dụng và phát sinh
2.2.2 Liên Kết
2.2.2.1 Khái niệm và phương thức liên kết văn bản
Theo Trần Ngọc Thêm [21.22,24], liên kết (viết tắt: LK) là một thuộc tính tất yếu của văn bản với khái niệm biểu hiện những mối quan hệ, liên hệ
cả về hình thức và nội dung giữa các câu trong văn bản Về hình thức, tham gia vào LK văn bản là những từ, cụm từ, câu Về nội dung, tham gia vào LK văn bản là những hành động, sự việc, sự kiện đã, đang, sẽ diễn ra trong thế giới khách quan LK hình thức biểu hiện LK nội dung và LK nội dung được thể hiện thông qua LK hình thức Trong đó, LK nội dung lại được xem xét
Trang 38dưới hai bình diện là: LK chủ đề (Hai phát ngôn có LK chủ đề khi chúng nói đến những đối tượng chung hoặc những đối có quan hệ mật thiết với nhau.)
và LK logic (LK logic là sự kết hợp giữa hai phát ngôn theo quan hệ ngữ nghĩa nhất định) Nói chung, LK hình thức và LK nội dung được thể hiện bằng hệ thống các phương tiện LK cụ thể như sau:
Từ vựng Lặp Ngữ pháp
Đối Ngữ âm
Thế đồng nghĩa Liên tưởng
LK Tuyến tính hình Thế đại từ thức Tỉnh lược yếu Nối lỏng
(trong câu)
LK logic Cấp độ câu
(giữa các câu)
2.2.2.2 Liên kết trong VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc
Tìm hiểu VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc cho thấy, có khá
nhiều phương tiện liên kết được sử dụng như: phép lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, phép tỉnh lược mạnh, phép nối, phép tuyến tính, phép thế đại từ Song do bị quy định bởi yêu cầu tạo ra tính chất đặc biệt đó là tính chặt chẽ, minh xác… nên một số phương tiên LK được sử dụng nổi trội hơn hẳn
Trang 39Phần này chúng tôi khảo sát hai phương tiện LK đặc trưng được sử dụng chủ yếu trong VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc là phép lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, phép thế đại từ với vai trò LK chủ đề của văn bản và phép tuyến tính với vai trò tạo trật tự logic chặt chẽ về nội dung trong văn bản
a Phép lặp
Phép lặp là phương tiện LK thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn những yếu tố đã có ở chủ ngôn Phương tiện này có 3 dạng thức, đó là lặp từ vựng, lặp ngữ pháp và lặp ngữ âm [2.123]
Chúng tôi qua khảo sát 10 VBQPPL của lĩnh vực kinh tế thu được những kết quả sau đây:
Phép lặp Từ Cụm từ Câu Ngữ pháp Ngữ âm
Số lƣợng (328) 67 163 0 98 0
Tỷ lệ (%) 20.43 49.7 0 29.88 0
VBQPPL của lĩnh vực kinh tế Trung Quốc sử dụng phép lặp như là một
phương tiện quan trọng để tạo nên tính LK cho các điều khoản chi tiết Lặp từ vựng được sử dụng nhiều nhất, sau đó là lặp ngữ pháp, lặp ngữ âm không có
xuất hiện trong đó
+ Lặp từ vựng
VBQPPL sử dụng phép LK lặp từ vựng với đặc điểm là sự hiện diện, lặp lại nhiều các từ nhiều khi gây nên cảm giác đơn điệu, nhàm chán nhưng lại được góp phần tạo lập tính chất cơ bản do mục đích giao tiếp của nó đặt ra
là chính xác, rõ ràng, chặt chẽ với sự thống nhất về nội dụng, tránh sự quy chiếu nhầm đối tượng dẫn đến cách hiểu mập mờ - một yêu cầu đặc biết quan trọng đối với một VBQPPL Ví dụ:
Nhân viên kiểm toán xử lý công việc kiểm toán, nếu có quan hệ lợi hại với đơn vị bị kiểm
Trang 40toán hoặc công việc kiểm toán, phải tránh mặt
Nhân viên kiểm toán có nghĩa vụ giữ gìn bí mật Nhà nước hoặc bí mật thương nghiệp của
đơn vị bị kiểm toán trong quá trình chấp hành chức vụ
Nhân viên kiểm toán chấp hành chức vụ theo luật, phải được pháp luật bảo vệ
(Điều 13,14,15, Luật kiểm toán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
审计人员办理审计事项,与被审计单位或者审计事项有利害关系的,应当回避。 审计人员对其在执行职务中知悉的国家秘密和被审计单位的商业秘密,负有保密义 务。
Ngân sách dự toán địa phương đƣợc cấu thành do tổng ngân sách của các tỉnh, khu tự trị
và thành phố trực thuộc trung ương