Đứng trước thực tế đó chúng tôi đã chọn đề tài: “Nhận xét về cơ sở ngữ âm học của các từ kị húy trong tiếng Việt” với mong muốn đi theo một hướng tiếp cận mới cho việc nghiên cứu các t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ώώώώ -
VŨ THỊ MAI HƯƠNG
Nhận xét về cơ sở ngữ âm học của các từ kỵ húy
trong tiếng Việt
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2008
Trang 2Học viên:Vũ Thị Hương Mai
4 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……… 3
CHƯƠNG I……… 7
Nhập môn ……… 7
I Giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Việt ……… 7
1 Cấu trúc âm tiết ……….8
2 Hệ thống âm vị tiếng Việt ………… 12
2.1 Các đơn vị chiết đoạn tính ……… .12
a Danh sách phụ âm đầu tiếng Việt ……… 13
b Danh sách phụ âm cuối tiếng Việt………14
c Danh sách âm chính tiếng Việt ………14
d Danh sách thanh điệu tiếng Việt……… 15
2.2 Biểu diễn âm vị học ……… 16
3 Tiểu kết……… 19
II Giới thiệu về các từ kị húy trong tiếng Việt………19
1 Về mặt từ ngữ……… 19
2 Về mặt tư liệu……… 20
3 Danh sách những từ kị húy……… 22
4 Tiểu kết……….29
CHƯƠNG II ……… 29
Các dạng kị húy trong tiếng Việt……… 30
I Nhận xét chung ……… 30
II Các dạng biến đổi từ kỵ húy trong tiếng Việt……….32
1 biến đổi về mặt ngữ âm………32
2 Biến đổi về mặt chữ viết……… 32
2.1 Bỏ trống ô chữ……… 33
Trang 3Học viên:Vũ Thị Hương Mai
5 2.2 Đổi dùng chữ khác……… 34
2.3 Viết Biến dạng……… 34
III Tiểu kết ……….35
CHƯƠNG III………36
Những tương ứng ngữ âm chính của các từ kỵ húy trong so sánh với từ toàn dân……… 36
I Nhận xét chung……….36
II Về mặt ngữ âm học……….36
1 Các kiểu tương ứng ngữ âm chính.……… 36
1.1 Tương ứng ở phụ âm đầu……… 36
1.2 Tương ứng ở nguyên âm……… 39
1.3 Tương ứng ở âm cuối………55
1.4 Tương ứng ở thanh điệu……… 63
2 Tiểu kết………68
II Về mặt ngữ nghĩa………69
III Một số trường hợp khác……….72
KẾT LUẬN …… ………74
PHỤ LỤC……… 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….116
Trang 4Học viên:Vũ Thị Hương Mai
6
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Kị húy hay húy kị có nghĩa là kiêng tránh một cách bắt buộc Đặc biệt là
trong các triều đại phong kiến thì hiện tượng này rất phổ biến và vẫn còn tồn tại
cho đến ngày nay ở một số địa phương Trên thực tế, từ kị húy có ý nghĩa văn
hóa, xã hội rất rộng lớn Đã không ít người quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này
theo hướng tiếp cận văn hóa hay lịch sử Song để đi sâu nghiên cứu các từ kị
húy về mặt ngôn ngữ học và nhất là từ phương diện ngữ âm học thì chưa được
chú ý nhiều Bởi đây cũng là cái khó vì nó liên quan đến nhiều vấn đề như: Ngữ
âm học lịch sử, từ nguyên học, phong tục học, Hán Nôm, nguồn tư liệu…
Nhưng nghiên cứu các từ kị húy cũng có nhiều điểm thú vị liên quan đến văn
hóa, tín ngưỡng, lịch sử của một cộng đồng người Đứng trước thực tế đó chúng
tôi đã chọn đề tài: “Nhận xét về cơ sở ngữ âm học của các từ kị húy trong
tiếng Việt” với mong muốn đi theo một hướng tiếp cận mới cho việc nghiên cứu
các từ kị húy nói chung
2 Mục đích và nội dung chính của luận văn
Mô ̣t trong những công viê ̣c chính của luâ ̣n văn là tiến hành lâ ̣p danh sách
các từ kị húy trong tiếng Việt Danh sách này được thống kê đô ̣c lâ ̣p theo những
nguồn tư liệu khác nhau Từ những nguồn tư liê ̣u thu được người viết phân tích,
sàng lọc để từ đó đưa ra mô ̣t danh sách từ ki ̣ húy chung , làm cứ liệu cho việc
nghiên cứu Sau đó luận văn tiến hành phân tích, giải thích con đường chuyển
biến của các từ này theo quan điểm của ngữ âm và âm vị học mở rộng
Qua viê ̣c l ập danh sách và phân tích các từ kị húy , luâ ̣n văn bước đầu
nhâ ̣n xét về sự tương ứng của những quy luật ngữ âm liên quan và các biến
thể của nó Sau cùng luận văn mong muốn đưa ra được hướng giải thích mới
cho sự biến đổi của các từ kị húy
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các từ kỵ húy thống kê
đươ ̣c chủ yếu dựa vào các văn bản : “Nghiên cứu chữ húy Viê ̣t Nam qua các
triều đa ̣i” của tác giả Ngô Đức Tho ̣ , “Truyê ̣n Kiều” của Nguyễn Du , “Ảnh
Trang 5Học viên:Vũ Thị Hương Mai
7
hưởng của Hán văn Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Nga ̣n”
của Nguyễn Tài Cẩn , và một số bài viết của Nguyễn Tài Cẩn trên trang web
của Khoa Ngôn ngữ học như : “Vết tích ki ̣ húy trong bản Hoa Tiên Nhuâ ̣n
chính 1875”, “Viê ̣c ki ̣ húy tên vua Lê Chiêu Thống và Chúa Tri ̣nh Bồng trong
Truyê ̣n Kiều” , “Về bản Kiều vừa phát hiê ̣n được ở Vinh” , “Bàn thêm về bản
Chinh Phụ Ngâm tìm được ở Huế năm 1972”, “Li ̣ch sử Truyê ̣n Kiều những gì
còn xảy ra sau khi bản diễn nôm 1787 - 1979 đã cơ bản được hoàn thành ?”,
“Về bản Kiều vừa phát hiê ̣n được ở Phủ Diễn” Ngoài ra luận văn còn dựa vào
các cứ liệu và quan điểm của một số nhà nghiên cứu về văn hóa ở Sở Văn hóa
Thông tin Ninh Bình thông qua các cuộc tiếp xúc, trao đổi trực tiếp
Do ha ̣n chế về mă ̣t thời gian , trình độ nghiên cứu cũng như nguồn
tư liê ̣u nên viê ̣c lâ ̣p danh sách các từ ki ̣ húy cũng chỉ dừng la ̣i ở bước đầu
và với số lượng khi êm tốn Với đặc thù là kị húy nên bản thân những
“điều được coi là kị húy” cũng đã không nhiều và số lượng các từ được
sử dụng thay thế từ kị húy cũng sẽ hạn chế Tuy nhiên , với danh sách
thống kê được (nhất là được thống kê qua cuốn “Nghiên cứu chữ hú y Viê ̣t
Nam qua các triều đa ̣i” của tác giả Ngô Đức Tho ̣ - một công trình nghiên
cứu công phu, khoa học đã được đánh giá cao) chúng tôi nghĩ đây là danh
sách những từ kị húy cơ bản, tương đối đầy đủ và đáng tin cậy về mặt cứ
liệu để triển khai những nghiên cứu của mình
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình lập danh sách các từ kị húy, chúng tôi đã sử dụng hai
phương pháp diễn dịch và quy nạp với cách tiếp cận lịch đại và đồng đại Sau đó
luận văn tiến hành phân loại và miêu tả chúng theo những nhóm khác nhau
Ngoài ra, luâ ̣n văn còn sử dụng những thủ pháp phân tích âm vi ̣ ho ̣c để
phân tích các hiê ̣n tượng ngữ âm và so sánh về mặt ngữ nghĩa để tìm ra sự
tương đồng giữa các từ kị húy
5 Ý nghĩa của luận văn
Việc phân loại, miêu tả về mặt ngữ âm học các từ kị húy trong
tiếng Việt góp phần làm sáng tỏ hơn sự vận động và phát triển của tiếng
Trang 6Học viên:Vũ Thị Hương Mai
8
Việt nói chung và sự biến đổi ngữ âm tiếng Việt nói riêng Cũng có thể từ
sự phân tích, miêu tả này ở một hướng nghiên cứu khác sẽ làm sáng tỏ
thêm những nghi vấn lịch sử vốn tồn tại từ trước (về văn hóa học, phong
tục học, danh học…)
6 Cái mới của luận văn
Các phân tích ngữ âm học tiếng Việt chủ yếu được dựa trên các tư liệu
thống kê tiếng Việt hiện đại nói chung (đặc biệt là từ khi hình thành chữ quốc
ngữ) Ngoài ra còn một số tác giả đã nghiên cứu mặt ngữ âm tiếng Việt căn
cứ vào hệ thống từ nguyên như tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong “Nguồn gốc và
quá trình hình thành cách đọc Hán Việt” Các nghiên cứu trên đã đưa ra
những kết luận xác đáng về hệ thống ngữ âm, hệ thống âm vị, nguyên âm,
phụ âm và thanh điệu tiếng Việt
Từ một điểm xuất phát hẹp hơn - những từ kị húy - việc phân tích,
miêu tả sự biến đổi ngữ âm do những quy định của lịch sử sẽ đem lại những
kết luận mới góp phần làm sáng tỏ hơn những quy luật ngữ âm tiếng Việt
hiện đại, giúp chúng ta có cách nhìn đúng đắn hơn về các từ đồng nghĩa, các
từ cận âm (phát âm gần giống nhau)
Mặt khác, qua nghiên cứu các quy luật lựa chọn các từ thay thế từ kị
húy cũng giúp làm sáng tỏ những địa danh, tên gọi những nhân vật lịch sử
vốn bị cái gọi là kị húy che mờ đi
7 Bố cục của luận văn
Luâ ̣n văn đươ ̣c chia làm năm phần: mở đầu, nô ̣i dung, kết luâ ̣n, phần phụ
lục và tài liê ̣u tham khảo Trong đó phần nô ̣i dung chính bao gồm ba chương:
Chương I: Nhâ ̣p môn
Giới thiê ̣u về hê ̣ thống ngữ âm và các từ ki ̣ húy trong tiếng Viê ̣t
Chương II: Các dạng kị húy trong tiếng Việt
Qua viê ̣c lập danh sách các từ ki ̣ húy , luâ ̣n văn đưa ra những da ̣ng ki ̣
húy phổ biến
Trang 7Học viên:Vũ Thị Hương Mai
9
Chương III : Những tương ứng ngữ âm chính của từ ki ̣ húy trong so sánh với
các từ toàn dân
Đây là phần chính của luâ ̣n văn Dựa vào danh sách các từ kị húy đã
thống kê được , người viết phân loại , phân tích và so sánh với các từ toàn dân
để đưa ra những kiểu tương ứng mă ̣t ngữ âm và giải thích các hiện tượng kị
húy theo quan điểm của ngữ âm học
Phần phụ lục cung cấp bảng danh sách các từ ki ̣ húy mà luâ ̣n văn đã
thống kê đươ ̣c trong quá trình làm tư liê ̣u
Trang 8Học viên:Vũ Thị Hương Mai
10
CHƯƠNG I
NHẬP MÔN
I Giơ ́ i thiê ̣u về hê ̣ thống ngữ âm tiếng Viê ̣t
Ngôn ngữ là phương tiê ̣n giao tiếp quan tro ̣ng nhất của con người , ngôn
ngữ đồng thời cũng là phương tiê ̣n để biểu đa ̣t tư duy , truyền đa ̣t và lưu giữ
thông tin Mác và Ăngghen đã viết: “Ngay từ đầu, đã có mô ̣t rủi ro đè nă ̣ng lên
tinh thần, đó là sự rủi ro bi ̣ mô ̣t vâ ̣t chất làm hoen ố , và vật chất đó thể hiện ở
đây dưới hình thức những lớp không khí chuyển đô ̣ng , những âm thanh , tóm
lại là dưới hình thức ngôn ngữ Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vâ ̣y , ngôn
ngữ là ý thức thực ta ̣i , thực tiễn” Như vâ ̣y ngôn ngữ là vâ ̣t chất còn tư duy là
tinh thần Vâ ̣y cái vỏ vâ ̣t chất ấy dựa vào cái gì để biểu đa ̣t nô ̣i d ung tư tưởng,
tình cảm của con người ? Ngôn ngữ được cấu ta ̣o như thế nào ? Ngôn ngữ là
mô ̣t hê ̣ thống cấu trúc bao gồm: vỏ vật chất là ngữ âm, chất liê ̣u để làm thành ý
nghĩa là từ vựng, những quy luâ ̣t kết hợp chất liê ̣u thành hệ thống là ngữ pháp
Bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều hô ̣i tụ cả ba yếu tố này Vậy ngữ âm
học là gì ? Ngữ âm ho ̣c là mô ̣t ngành khoa ho ̣c nghiên cứu các đă ̣c điểm âm
thanh, nhờ vào bô ̣ máy cấu âm con người có thể phát ra các chuỗi âm thanh
khác nhau Ngữ âm ho ̣c chia các loa ̣i âm thanh này thành các pha ̣m trù ngữ
âm khác nhau : nguyên âm, phụ âm, tắc, xát, cao, thấp… Vì vâ ̣y, ngữ âm ho ̣c
có số lượng đơn vị là vô hạn thường được gọi dưới cái t ên là âm tố
Chuỗi lời nói được con người phát ra thành những ma ̣ch khác nhau ,
những khúc đoa ̣n khác nhau , từ lớn đến nhỏ khác nhau Đơn vi ̣ phát âm nhỏ
nhất là âm tiết Ví dụ một từ như “Hà Nội” khi phát âm được chia thàn h “hà”
và “nội” được coi là hai âm tiết Trong đó, mô ̣t âm tiết bao gồm nhiều yếu tố
ngữ âm cấu thành , nhưng dù phát âm châ ̣m đến đâu thì cũng không thể tách
rời từng yếu tố ra Khi phát âm , mỗi âm tiết bao giờ cũng được thể hiê ̣n rõ
ràng và được phát âm rời với các tiếng bên cạnh nó Khi viết thì mỗi âm tiết
đươ ̣c ghi thành mô ̣t chữ tách rời với các chữ khác
Ví dụ:
Ông sai cháu ra chợ mua bánh giò
Trang 9Học viên:Vũ Thị Hương Mai
11
Bất kỳ người nào biết tiếng Viê ̣t cũn g nhâ ̣n ra trong câu trên có tám
tiếng đươ ̣c phát âm và viết tách rời nhau “ông” , “sai”, “cháu”, “ra”, “chợ”,
“mua”, “bánh”, “giò”
1 Cấu tru ́ c âm tiết
Theo GS Đoàn Thiê ̣n Thuâ ̣t , âm tiết tiếng Viê ̣t có hai mức đô ̣ đối lâ ̣p
nhau, tùy thuộc vào khả năng đô ̣c lâ ̣p của các yếu tố , mức của thanh điê ̣u , âm
đầu, phần vần có thể tách rời về mă ̣t hình thái ho ̣c cũng như ngữ âm ho ̣c và
mức của các yếu tố ta ̣o nên phần vần , vốn gắn liền với nhau về mă ̣t ngữ âm
học và không thể tách rời nhau về mặt ngữ âm
Âm tiết là đơn vi ̣ phát âm nhỏ nhất và có thể phân cắt được trong chuỗi
lời nói con người phát ra Tuy nhiên nhờ vào thủ pháp phân xuất âm vi ̣ ho ̣c
và hình thái học thì mỗi âm t iết tiếng Viê ̣t còn được chia tách thành những
đơn vi ̣ nhỏ hơn âm tiết - đó là những thành phần âm tiết Hay nói cách khác
thì âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc : bâ ̣c thứ nhất bao gồm những thành
tố trực tiếp của nó, được phân đi ̣nh bằng những ranh giới có ý nghĩa hình thái
học, bâ ̣c thứ hai bao gồm những thành tố của phần vần , chỉ có chức năng khu
biê ̣t thuần túy
Âm tiết
Bâ ̣c 1 ………… Thanh điê ̣u Âm đầu Phần vần
Bâ ̣c 2 ………… Âm đê ̣m Âm chính Âm cuối
Lươ ̣c đồ âm tiết tiếng Viê ̣t Thanh điê ̣u
Âm đầu
Vần
Trang 10Học viên:Vũ Thị Hương Mai
12
Đây là mô hình chung của âm tiết tiếng Viê ̣t , được nhiều người chấp
nhâ ̣n, mô hình này hô ̣i tụ đầy đủ các thành phần của âm tiết tiếng Việt Tuy
nhiên trong thực tế sử dụng ngôn ngữ không phải lúc nào năm thành phần
này cũng xuất hiện đầy đủ trong một âm tiết
Ví dụ: “quán”
Âm tiết này hô ̣i tụ đầy đủ năm thành phần và được xếp thành hai bâ ̣c:
1 Thanh điệu: thanh sắc
2 Âm đầu: /-k-/
3 Âm đệm: /-w-/
4 Âm chính: /-a-/
5 Âm cuối: /-n/
Hay mô ̣t âm tiết như “em” , khi nhìn vào nhiều người nghĩ rằng khuyết
âm đầu, nhưng ho ̣ không biết rằng đó chỉ là sự vắng mă ̣t trên bình diê ̣n chữ
viết, còn trên bình diện phát âm âm đầu ở trường hợp này do một âm tắc
thanh hầu đảm nhiê ̣m Trong bất kỳ trường hợp nào thì âm chính không thể
vắng mă ̣t đươ ̣c cả khi viết lẫ n khi phát âm vì đó là thành phần ha ̣t nhân của
âm tiết Trong nhiều trường hợp thì âm đê ̣m , âm cuối có thể cùng vắng mă ̣t
trong mô ̣t âm tiết cả trên bình diê ̣n phát âm lẫn trên bình diê ̣n chữ viết
Ví dụ: “ba”
Âm đầu: /b-/
Âm đê ̣m: zero
Âm chính: /-a/
Âm cuối: zero Thanh điê ̣u: thanh không dấu Cấu trúc âm tiết tiếng Viê ̣t gồm năm thành phần , trong đó:
Thanh điê ̣u: khi viết thì có thể vắng mă ̣t thanh 1(thanh không dấu ) nhưng trên
bình diện phát âm kh ông thể thiếu bất kỳ mô ̣t thành phần nào và được ký
hiê ̣u như sau:
Trang 11Học viên:Vũ Thị Hương Mai
13
Thanh 1: thanh không dấu Thanh 2: thanh huyền Thanh 4: thanh hỏi Thanh 3: thanh ngã Thanh 5: thanh sắc Thanh 6: thanh nặng Thanh điê ̣u trong tiếng Viê ̣t có chức năng khu biê ̣t âm tiết về mă ̣t âm vực
Âm đầu: có chức năng mở đầu âm tiết và do các phụ âm đảm nhiệm
Âm đê ̣m: có chức năng biến đổi âm sắc của âm tiết sau khi mở đầu và
do âm vi ̣ bán nguyên âm đảm nhiê ̣m hoă ̣c do âm vi ̣ zero đảm nh iê ̣m
Âm chính : là thành phần hạt nhân của âm tiết , do các nguyên âm đảm
nhiê ̣m và có chức năng quyết đi ̣nh âm sắc chủ yếu trong âm tiết
Âm cuối : thành tố cuối cùng này do các âm vị phụ âm hoặc bán
nguyên âm hoă ̣c âm vi ̣ zero đảm nhiê ̣m Có chức năng kết thúc âm tiết , thay
đổi âm sắc, giúp chúng ta phân biệt được âm tiết này với âm tiết khác
Như vâ ̣y, âm tiết tiếng Viê ̣t có năm thành phần và được chia thành hai bâ ̣c:
Bâ ̣c I: gồm có thanh điê ̣u , âm đầu và phần vần
Bâ ̣c II: bao gồm âm đê ̣m, âm chính và âm cuối
Trong tiếng Việt, âm tiết được chia thành hai cấu trúc nhỏ đó là cấu
trúc chiết đoạn và cấu trúc siêu đoạn Nếu như cấu trúc chiết đoạn của hình
tiết mang tính tầng bậc thì cấu trúc siêu đoạn cũng mang tính tầng bậc những
cấu trúc tôn ti và tầng lớp này dẫn đến một kết quả bền chắc và phân tiết tính
của đặc điểm âm tiết tiếng Việt trong một loại hình ngôn ngữ đơn lập Toàn
bộ âm tiết tiếng Việt được thể hiện dưới dạng sơ đồ sau:
Trang 12Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trang 13Học viên:Vũ Thị Hương Mai
2 Hệ thống âm vị tiếng Việt
Âm thanh lời nói là một hiện tượng tự nhiên gồm những dao động của
thực thể vật lý mà âm học hiện đại biểu diễn ra bằng cao độ (độ rung của dây
thanh), cường độ (biên độ của một dao động âm thanh), trường độ (độ dài của
chu kỳ âm thanh được lặp lại) Ngôn ngữ từ khi hình thành cho đến nay
không còn giữ được dạng hoàn toàn tự nhiên nữa Nó tồn tại dưới hai dạng
chữ viết (văn tự) và lời nói (ghi âm) Đó là một sự chuyển dịch hay cải biến
từ âm thanh tự nhiên thành những kí hiệu được nhận biết bằng các cơ quan
cảm giác, thính giác, thị giác
Khác với âm vị học cổ điển, âm vị học mở rộng cho rằng một tiết vị là kết
quả của phát triển lịch sử của hệ âm thanh tiếng Việt trong đó có những cấu trúc
phổ niệm cho toàn bộ những ngôn ngữ trên thế giới (đó là chuỗi phổ niệm giữa
phụ âm và nguyên âm đơn tính và các yếu tố đặc hữu) Tiếng Việt không hoàn
toàn, hoặc theo tuyến tính, hoặc không theo tuyến tính để tạo nên một tiết tính
không phải chỉ có năm yếu tố như ngữ âm tiếng Việt mà có tới bảy yếu tố khác
nhau Trong đó ba yếu tố là tương tự như những ngôn ngữ trên thế giới, còn bốn
yếu tố kia nhằm vào tính hệ thống của âm thanh tiếng Việt
2.1 Các đơn vị chiết đoạn tính: Gồm C1VC2, trong đó các đơn vị chứa nét
phụ âm tính [+PAT] nằm ở đầu hoặc cuối âm tiết Nét [+PAT] là nét âm vị
học được thể hiện qua các đặc điểm sau:
/ηwat/
Trang 14Học viên:Vũ Thị Hương Mai
16
+ [+chặn] về mặt cấu âm + Chứa năng lượng ít + Trường độ ngắn
a Danh sách phụ âm đầu tiếng Việt
Tiếng Việt có 23 phụ âm đầu và chúng được phân bố như sau:
Các âm vị phụ âm đầu tiếng Việt khu biệt nhau theo những đặc trưng về âm
học và tiêu chí cấu âm Phụ âm đầu tiếng Việt chỉ cần 12 nét để khu biệt các
phụ âm về mặt âm học Các tiêu chí khu biệt đối lập nhau theo từng cặp
lưỡng phân Dưới đây là hệ thống những nét được sử dụng để khu biệt các
phụ âm đầu tiếng việt
Trang 15Học viên:Vũ Thị Hương Mai
b Danh sách phụ âm cuối tiếng Việt
Phụ âm cuối tiếng Việt gồm có 6 phụ âm, hai bán phụ âm và một âm vị
zêro Các âm tiết tiếng Việt đối lập nhau bằng những cách kết thúc khác
nhau Có âm tiết kết thúc bằng sự kéo dài và giữ nguyên, có những âm tiết lại
kết thúc bằng cách biến đổi âm sắc của âm tiết ở phần cuối do động tác khép
lại của bộ máy phát âm
Riêng âm cuối zêro đối lập với các âm vị khác theo tất cả các tiêu chí
trên Tuy nhiên, điều đặc biệt là ở mỗi thế đối lập có – không thì vế không
bao giờ cũng thuộc về nội dung của âm vị này
c Danh sách âm chính tiếng Việt
Trang 16Học viên:Vũ Thị Hương Mai
18
Trong tiếng Việt nguyên âm làm đỉnh của âm tiết và quyết định âm sắc
chủ yếu của âm tiết trừ trường hợp âm tiết bị trầm hóa bởi âm đệm
/-w-/ hoặc kết thúc bằng một nguyên âm, âm sắc của nguyên âm được thể
hiện từ đầu đến cuối âm tiết Chính vì thế mà trong tiếng Việt nguyên âm
d Danh sách thanh điệu tiếng Việt
Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính Nó được biểu hiện trong toàn
âm tiết Tiếng Việt có hệ thống thanh điệu khá phức tạp gồm sáu thanh, trừ
Trang 17Học viên:Vũ Thị Hương Mai
19
thanh không dấu còn năm thanh khác, mỗi thanh đều mang tên của dấu ghi
thanh ấy Chúng được khu biệt bởi các đặc điểm cao độ và đường nét cao độ,
khu biệt về gãy (uốn) – không gãy (không uốn), về bằng – trắc
Thanh điệu……… Không dấu Huyền Ngã Hỏi Sắc Nặng
Sơ đồ nhận diện thanh điệu tiếng Việt
Những nét khu biệt của thanh điệu tiếng Việt
1 [+ TĐ]
2 [± cao]
Trang 18Học viên:Vũ Thị Hương Mai
20
3 [± bằng]
4 [± uốn]
2.2 Biểu diễn âm vị học
Khi biểu diễn âm vị học chúng ta sử dụng các nét khu biệt để biểu diễn
thì sẽ liệt kê được một cách đầy đủ các đặc điểm trong khung biểu diễn của nó
Trong quá trình biểu diễn âm vị học, để tiện lợi hơn người ta có thể đi
luôn vào nội dung âm vị học những nét khu biệt của âm vị đó Khi biểu diễn,
các âm vị hòa quện một cách nhất quán với các luật âm vị học Như vậy
phẩm chất ngữ âm chung của các âm đầu là tính phụ âm tính Hay nói cách
khác là các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết tiếng Việt bao
- Xát
+ PAT + Bên
- Tắc
+ PAT + Quặt lưỡi
- Tắc
- Vô thanh
+ PAT
- Tặc + Quặt lưỡi
- Vô thanh
/m-/ =
+ PAT
- NAT + Mũi
Trang 19Học viên:Vũ Thị Hương Mai
21
/w-/ = /ŋ-/ =
Một biểu diễn âm vị học ngoài việc ghi tên các nét khu biệt, người ta
còn tận dụng các dấu (+), (-) ở các nét này sao cho khi biểu diễn âm vị học số
Về âm chính tiếng Việt các nguyên âm đối lập nhau theo hai bậc cao –
thấp Nếu chia nguyên âm ra hai nhóm: nguyên âm đơn và nguyên âm đôi thì
các nguyên âm đơn đối lập với nhau về mặt âm lượng (độ nâng của lưỡi) theo
ba bậc: cao, trung bình và thấp, còn các nguyên âm đôi thì đứng ngoài thế đối
lập cao, trung bình, thấp Về vị trí của lưỡi thì các nguyên âm đối lập nhau
theo ba tiêu chí: trước, giữa, sau Sự đối lập này là chung cho cả nguyên âm
đơn lẫn nguyên âm đôi
d Thanh điệu
ví dụ:
+ PAT + NAT
- Trước
+ PAT
- NAT + Mũi + Sau
/-Ɛ-/ =
+ NAT + Đơn + Cao
- Trước
- Sau
+ NAT + Đơn
- Trước
- Cao
+ NAT + Đơn
- Trước
- Cao
+ NAT
- Đơn + Đôi
/-Ɔ-/ =
Trang 20Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Về âm vực: thanh điệu tiếng Việt có các thanh thuộc âm vực cao như:
không dấu, ngã, sắc, các thanh thuộc âm vực thấp: huyền, hỏi, nặng
Về âm điệu các thanh có âm điệu bằng phẳng được gọi là các thanh
bằng gồm: không dấu, huyền Còn các thanh có âm điệu không bằng phẳng
gọi là thanh trắc có: thanh ngã, thanh hỏi, thanh sắc và thanh nặng
Trong đó, các thanh trắc lại được chi thành hai loại: uốn (gãy) và không uốn
(không gãy) có các thanh: nặng, sắc, ngã, hỏi
3 Tiểu kết
Trên đây luận văn đã giới thiệu một cách ngắn gọn về hệ thống ngữ âm
tiếng Việt, đó là những thành tố chính để cấu thành hệ thống âm thanh của
một ngôn ngữ Tuy nhiên khi đi vào các trường hợp cụ thể để phân tích thì
chúng ta có thể miêu tả các đơn vị từ vựng theo các quá trình khác nhau Có
nhiều quan điểm khác nhau về Ngữ âm học nhưng trên đây luận văn đã giới
thiệu một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ về hệ thống ngữ âm tiếng Việt Và
quan niệm này hiện được giới nghiên cứu chuyên môn, cũng như các độc giả
đồng tình nhất
II Giới thiệu về các từ kị húy trong tiếng Việt
Từ kị húy không phải ngẫu nhiên mà có, ngẫu nhiên người ta lại gán
cho nó một từ hoàn toàn khác cả về vỏ vật chất lẫn vỏ âm thanh, mà tất cả
+ TĐ + Cao
- Bằng + Bằng
+ TĐ + Cao
- Bằng
- Uốn
+ TĐ + Cao
- Bằng +Uốn
+ TĐ + Bằng
- Cao
+ TĐ
- Cao
- Bằng +Uốn
Trang 21Học viên:Vũ Thị Hương Mai
23
đều có nguyên nhân sâu xa của nó Từ xa xưa vấn đề kiêng kị đã trở thành
một bộ phận trong phong tục tập quán của con người, vì người ta tin rằng để
tránh những rủi ro, những việc không may mắn trong cuộc sống thì phải tránh
một điều gì đó Ở Việt Nam vào những ngày tết đầu xuân năm mới người ta
kiêng quét nhà vì sợ đổ hết lộc ra ngoài Chính vì thế ngày nay rất nhiều gia
đình vào dịp tết người ta quét nhà rồi để gọn vào một góc rồi sau mấy ngày
tết người ta mới hót đổ đi Hay kiêng gọi tên thật của em bé, kiêng những
việc xấu vào đầu năm, kiêng gọi tên củ của người già, để tránh gọi tên thành
hoàng làng (ở Hà Tây trước đây, có một làng do tên của thành hoàng là Xuân
nên trong làng tất cả những ai tên là Xuân thì đều phải đổi là Xoan)… Để
tìm ra lý do vì sao người ta lại thay từ này bằng một từ khác? (cả trên bình
diện ngữ âm cả trên bình diện chữ viết) Muốn trả lời được câu hỏi này thì
phải phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu muốn khai thác chúng ở khía cạnh
nào? Trong khuôn khổ của đề tài này, luận văn chỉ khai thác các từ kị húy ở
góc độ ngữ âm Từ việc thu thập tư liệu, phân tích từ kị húy đến việc rút ra
kết luận tất cả đều nhằm mục đích là xem chúng có những yếu tố nào chung?
những yếu tố nào khác biệt? chúng biến đổi như thế nào? Vì sao nó lại biến
đổi? đó là những câu hỏi luôn thường trực đối với chúng tôi - những người
nghiên cứu vấn đề này
1.Về mặt từ ngữ
Kị húy có nghĩa là kiêng tránh một cách bắt buộc
Ví dụ: Trong một đền thờ thành hoàng làng ở Ninh Bình, ngày nay
người ta thờ một đôi quang gánh Khi mới đặt chân đến thì ai cũng nghĩ rằng
điều đó quá bình thường nhưng tất cả đều có lai nguyên của nó Vị thành
hoàng của làng đó ngày xưa làm nghề bán muối và hàng ngày phải sử dụng
cái đôi quang gánh đó để quẩy hàng đi bán khắp nơi Nhưng do có công với
dân nên khi chết người trong làng đã lập đền thờ và lấy một đôi quang gánh
thờ cùng để tưởng nhớ đến người đã có công với dân Điều đặc biệt là tất cả
người trong làng cho đến ngày nay đều đổi chữ “gánh ” thành “ghính” để
tránh phạm húy thành hoàng (Truyện cổ dân gian Ninh Bình)
Trang 22Học viên:Vũ Thị Hương Mai
24
Do sự hạn chế về mặt tư liệu (các sách báo cũng như số lượng người
quan tâm đến nghiên cứu vấn đề này là không nhiều so với những lĩnh vực
khác) nên sau khi khảo sát luận văn thu thập được số lượng từ kị húy rất
khiêm tốn Phần lớn các từ kị húy đều có thể lí giải được về mặt ngữ âm học,
tuy nhiên cũng có một số trường hợp luận văn không giải thích được trên cơ
sở ngữ âm học mà phải dựa trên cơ sở ngữ nghĩa, từ vựng để giải thích
2 Về mặt tư liệu
Luận văn sử dụng cuốn “Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều
đại” của tác giả Ngô Đức Thọ làm cơ sở nghiên cứu chính Ngoài ra luận văn
còn tham khảo thêm một số tác phẩm văn học như: “Ảnh hưởng của Hán văn
Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn”, “Truyện Kiều”,
“Chinh Phụ Ngâm”, một số bài viết của cụ Nguyễn Tài Cẩn trên trang web
“ngonnguhoc.org” như: “Việc kị húy tên vua Lê Chiêu Thống và chúa Trịnh
Bồng trong Truyện Kiều”, “Văn bản Kiều vừa phát hiện được ở Phủ Diễn”,
“Bàn thêm về Chinh Phụ Ngâm tìm được ở Huế năm 1972”, “Các vết tích kị
húy trong bản Hoa Tiên Nhuận Chính 1875” và cuốn băng ghi âm những
cuộc trao đổi của chúng tôi với một số nhà nghiên cứu văn hóa của Sở Văn
hóa thông tin Ninh Bình về vấn đề kị húy trong một số làng hay một số dòng
họ từ trước đến nay ở địa phương Hoa Lư, Nho quan, tỉnh Ninh Bình
Theo tác giả Ngô Đức Thọ khảo sát trên những cứ liệu văn khắc
bia chuông đời Đinh - Lê và đời Lý thì chưa có định lệ viết kiêng kị
húy, mà vấn đề này bắt đầu từ đời Trần
Từ những cứ liệu trên chúng ta có thể thấy rằng vấn đề kị húy
trong xã hội cũ là vô cùng quan trọng cả trong đời sống hàng ngày và
trong các tác phẩm văn chương Có những triều đại lệnh kị húy được
ban bố khá rộng rãi và được thực hiện một cách nghiêm ngặt trong dân
chúng Còn trong các tác phẩm văn chương vấn đề kị húy cũng được thể
hiện rõ ràng, đặc biệt là trong các tác phẩm cổ nhưng nó lại phụ thuộc
nhiều vào suy nghĩ chủ quan của người viết Có nghĩa là có những từ do
vua ban bố phải đọc và viết bằng một từ khác (hầu hết là tên của vua,
Trang 23Học viên:Vũ Thị Hương Mai
25
tên của cha mẹ vua hay tên của những người trong hoàng tộc) thì toàn
dân phải thi hành
Ví dụ: “nguyệt” phải đọc thành “ngoạt” , “hoa” phải đổi thành
“huê”, “vũ” được thay bằng “võ”… còn trong văn chương thì tác giả
phải tìm một từ khác so với từ mà vua ra lệnh kị húy sao cho phù hợp
với ngữ cảnh mà người viết sử dụng Ngày nay để giải mã được những
tác phẩm văn chương cổ một cách chính xác thì rất nhiều tác giả đã phải
dùng đến vấn đề kị húy như một chìa khóa để mở ra được nhiều hướng
suy nghĩ và được các đồng nghiệp cũng như độc giả vô cùng tán thành
Vấn đề kị húy từ xưa đến nay đã đi vào tiềm thức của đông đảo
tầng lớp nhân dân trong xã hội Nó cũng góp phần tạo nên một nét đẹp
văn hóa cho người Việt và tồn tại khá lâu trong lịch sử đến bây giờ nó
vẫn còn tồn tại đâu đó quanh ta mà ít nhiều thì ai đó cũng đã từng gặp
trong cuộc sống
3 Danh sách những từ kị húy
Dưới đây là bảng danh sách các từ kị húy mà chúng tôi đã thu thập
được trong cuốn “Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại” của
Trang 24Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trang 25Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trang 26Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trang 27Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trang 28Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trang 29Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trang 30Học viên:Vũ Thị Hương Mai
Trên đây là danh sách những từ kị húy mà luận văn thống kê đƣợc
Mặc dù về số lƣợng còn khá khiêm tốn nhƣng chúng tôi thấy cũng có những
sở cứ để nghiên cứu vì tính chất đặc thù của việc kị húy và cũng mong muốn
góp một phần vào kho tƣ liệu cho những nghiên cứu về sau
Trang 31Học viên:Vũ Thị Hương Mai
33
4 Tiểu kết
Trong lịch sử nước ta, vấn đề kị húy cũng là một vấn đề lớn, nó được
quy định trong các văn bản như một pháp lệnh để các triều đại phong kiến thể
hiện quyền lực thống trị của mình Cũng có những triều đại lệnh kiêng húy đã
được bãi bỏ, song vẫn tồn tại trong dân gian, trong các tác phẩm văn học và
nó đã trở thành thói quen của mọi người, được người dân tin tưởng và bảo
lưu như một nét đẹp văn hóa tinh thần Từ kị húy cũng có một ý nghĩa xã hội
rất lớn, vì có thể sử dụng nó để giải mã những văn bản ở nhiều lĩnh vực khác
nhau, để chúng ta hiểu đúng hơn về ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm vào đó
Đặc biệt là thu hút được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu về Hán
Nôm, Văn học, Lịch sử, Ngôn ngữ ……
Trang 32Học viên:Vũ Thị Hương Mai
34
CHƯƠNG II CÁC DẠNG KỴ HÚY TRONG TIẾNG VIỆT
I Nhận xét chung
Theo tác giả Ngô Đức Thọ, định lệ kiêng húy từ đời Trần đã được tuân
thủ rộng khắp cả ở những nơi xa kinh kỳ như: quán Thông Thánh ở Bạch
Hạc, chùa Phúc Hưng ở Gia Viễn, Chùa Thanh Mai ở Chí Linh… Hiện
tượng kiêng húy ở Việt Nam chủ yếu là kiêng quốc húy, đó là một điều bắt
buộc, mang tính pháp lệnh và tác động đến toàn xã hội Từ đời Trần đến đời
Nguyễn trong quốc sử ghi có đến 40 lần ban bố lệnh kiêng húy, và kiêng cả
âm lẫn chữ
Về ngữ âm thì cũng có những cách đọc chệch chính âm để kiêng húy,
một số trường hợp biến âm để kiêng húy và vẫn còn giữ lại đến ngày nay Ví
dụ: nguyệt đổi thành ngoạt, nam đổi thành nôm, kiền đổi thành càn… Về
mặt chữ viết thì tùy theo từng đời đã lựa chọn ra những cách viết riêng,
những kí hiệu riêng Vì thế khi nhìn vào chữ viết người ta có thể nhận ra nó
thuộc vào triều đại nào (năm nào)
Đời Lê sơ, trải qua 10 đời vua với 10 lần ban bố lệnh kiêng húy thì
việc ban bố lệnh kiêng húy được coi như một biện pháp để củng cố và
khẳng định quyền lực của triều đình nên nó được thực hiện một cách
nghiêm ngặt Sang triều Mạc mặc dù lệnh kiêng húy không được triều
đình ban bố nhưng trong dân gian vẫn có lệ kiêng húy như những địa
danh trùng với tên húy của vua và những người trong hoàng tộc đều phải
đổi Ví dụ: Phù Dung là một huyện có từ đời Trần nhưng sang đến đầu
nhà Mạc thì được đổi thành Phù Hoa, Bình Nguyên thì được đổi thành
Bình Tuyền, Thất Nguyên đổi là Thất Tuyền…
Đến Triều Lê Trung Hưng, trong các văn bản phần nhiều không viết
kiêng húy Một số người không biết rõ việc Triều đình qui định về việc kiêng
húy như thế nào nên đã chủ động viết kiêng tên húy của các vua Sang Triều
Tây Sơn việc kiêng âm húy đổi địa danh được thực hiện khá phổ biến
Trang 33Học viên:Vũ Thị Hương Mai
35
Chuyển sang Triều Nguyễn thì việc kiêng âm húy của các chúa Nguyễn khá
rộng rãi và phổ biến, là một hiện tượng rất nổi bật Các vua Triều Nguyễn rất
coi trọng việc khôi phục các định lệ kiêng húy từ các đời vua trước, và nó đã
trở thành một đặc điểm trong thể chế của nhà Nguyễn Dưới đây là bảng quan
hệ kị húy qua các đời ở Việt Nam
Quan hệ
Triều đại 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Đối tượng đặc biệt Chúa Trịnh Chúa Nguyễn
Trang 34Học viên:Vũ Thị Hương Mai
36
(trừ Kiến Phúc)
Kiến Phúc + +
2 Ông nội vua 7 Hoàng hậu
3 Bà nội vua 8 Hoàng Thái hậu
4 Cha Vua 9 Hoàng thái tử
5 Mẹ vua 10 Cha mẹ hoàng hậu
II Các dạng biến đổi từ kỵ húy trong tiếng Việt
Trong quá trình nghiên cứu và làm tư liệu chúng tôi phân loại và đưa
ra một số dạng biến đổi từ kị húy sau:
1 Biến đổi về mặt ngữ âm
Hầu hết các từ kỵ húy đều phải đọc kiêng âm Việc kiêng âm được quy
định ở từng trường hợp cụ thể khác nhau Quy tắc lựa chọn âm để đọc chệch
thường là: giữ lại phụ âm đầu và biến âm ở phần vần hoặc biến âm ở phụ âm
đầu và giữ lại phần vần… Riêng trường hợp biến âm ở phần vần và giữ lại
phụ âm đầu thì phần vần được biến âm lại có những quy tắc riêng Thứ nhất,
dùng sự chuyển hóa từ âm Hán Việt thành âm Hán Việt - Việt hóa hay
chuyển từ Hán Việt sang thuần Việt Thứ hai, lợi dụng sự đa âm của tiếng
Việt, tức là một từ có nhiều cách đọc khác nhau nhưng nghĩa giống nhau thì
chọn lấy một cách để đọc chệch đi
Ví dụ: nguyệt chuyển thành ngoạt, kiểu đọc là liễu, nhân được đọc là
nhơn, hoàng đọc là huỳnh, chủng đọc là trọng……
2 Biến đổi về mặt chữ viết
Tùy từng trường hợp cụ thể các triều đại ban bố quy định khác nhau,
nhưng phổ biến sử dụng các trường hợp như: đồng âm, cận âm (chữ có âm
gần giống với âm húy), và dùng chữ thiên bàng (có nghĩa là sử dụng một kí
hiệu riêng đặt bên cạnh, bên trên hay bên dưới của chữ ban đầu)
Trang 35Học viên:Vũ Thị Hương Mai
37
Triều đại
Chữ chính húy
Cận
âm
Thiên bàng nguyên dạng
Thiên bàng bán dạng
Bảng phạm vi kiêng húy chữ viết qua các đời[]
Theo Ngô Đức Thọ có 11 cách viết kiêng húy và có ba phương pháp
viết khác nhau: bỏ trống, đổi dùng chữ khác và viết biến dạng
2.1 Bỏ trống ô chữ
Trường hợp này được sử dụng rất ít, chủ yếu còn sót lại trên các văn
bia Ví dụ, Đế tính Lê húy Tư, hiệu Thiên Nam động chủ/Vua họ Lê, tên húy
là Tư, hiệu Thiên Nam động chủ Ở vị trí của những ô trống có khi là ghi chú
ngự danh của vua
Trang 36Học viên:Vũ Thị Hương Mai
38
2.2 Đổi dùng chữ khác
Các triều đại thường cấm dùng những chữ trùng với tên vua hay trùng
với tên của họ hàng vua Trong các văn bản nếu gặp những trường hợp đó
đều phải đổi hoặc dùng một chữ khác phù hợp với nội dung để diễn giải ý
nghĩa Ví dụ: Tây đổi thành dậu, thị được viết là mộc, thuần thì viết là mộc…
2.3 Viết biến dạng
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất và có 4 kiểu viết: đảo
bộ, thêm nét, bớt nét và dùng chữ dị thể Theo tác giả Ngô Đức Thọ cách
viết chữ húy qua các đời được thể hiện đầy đủ qua các đời vua theo bảng
dưới đây
Cách viết chữ húy
Bỏ trống
(1)
Cải dạng
bộ
(3)
Viết bằng chữ
Viết bằng kí tự
(7) (8)
Bớt nét
(9)
Thêm vòng tròn (10)
Bảng cách viết chữ húy Việt Nam qua các đời
Trong tổng số sáu triều đại thì việc kiêng húy về mặt chữ viết đời Lê
Sơ sử dụng nhiều kiểu nhất (tất cả có 8 kiểu viết): Cả bỏ trống ô chữ, cải
Trang 37Học viên:Vũ Thị Hương Mai
39
dạng đến viết biến dạng, dùng dị thể Sau đó đến đời Trần và đời Nguyễn đều
có 4 kiểu viết: Đời Trần có cách viết bỏ trống ô chữ, viết cải dạng, viết bớt
nét và thêm vòng tròn nhỏ cạnh Triều Nguyễn viết bỏ trống ô chữ, viết cải
dạng, thêm nét và bớt nét Triều Tây Sơn Và Triều Mạc chỉ có một trường
hợp duy nhất là viết bằng kí tự
III Tiểu kết
Trong dân gian việc kiêng húy có từ bao giờ thì không ai biết chính xác
Chỉ biết rằng, từ đời ông cha chúng ta đã lưu truyền lại là nếu tránh một điều
gì đó cần tránh thì sẽ gặp điều tốt đẹp và may mắn hơn Nếu không tránh thì
sẽ gặp những điều xấu, điều không may mắn Cứ như thế từ đời trước truyền
lại cho đời sau và được thực hiện một cách tự nguyện trong cuộc sống Việc
kiêng kị đó đã trở thành một điều thiêng liêng trong nét đẹp văn hóa tinh thần
của người Việt Nó không chỉ tồn tại ở một nơi, một thời gian mà nó tồn tại
rộng khắp, dường như trường tồn theo thời gian
Trong các văn bản Lịch sử, Hán Nôm, Văn học, ngôn ngữ… thì
hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng lệ kiêng húy ở nước ta được khởi
nguyên từ triều Trần Đã trải qua rất nhiều thế kỉ được hiện diện trên các
thư tịch, bi kí của Việt Nam đã tạo ra những đặc trưng riêng trong hệ văn
tự chữ Hán được sử dụng qua các triều đại Trong thực tế việc một ai đó vi
phạm định lệ kiêng húy không phải chịu những hình phạt quá nghiêm khắc
(nặng nhất là đánh hỏng bài thi), nhưng những định lệ kiêng húy vẫn có
tính chất gò ép và vẫn gây không ít khó khăn cho việc đọc, việc hiểu và
việc viết các văn bản
Trải qua nhiều triều đại trong lịch sử, đã có những triều đại nhận thấy việc
ban lệnh kị húy đã có nhiều cản trở trong mọi hoạt động văn hóa, xã hội nên
đã ban lệnh bãi bỏ hoặc đơn giản hóa việc kiêng húy (rút gọn việc kiêng húy)
như: Vua Lê Thánh Tông (bãi bỏ lệnh kiêng húy), triều Mạc, triều Lê Trung
Hưng và triều Tây Sơn (chỉ kiêng âm không kiêng chữ)…… Đến triều
Nguyễn thì lệnh kiêng húy lại được ban bố nhiều lần và rất phức tạp
Trang 38Học viên:Vũ Thị Hương Mai
40
CHƯƠNG III
NHỮNG TƯƠNG ỨNG NGỮ ÂM CHÍNH CỦA TỪ KỴ HÚY TRONG
SO SÁNH VỚI CÁC TỪ TOÀN DÂN
I Nhận xét chung
Về vấn đề từ kị húy đã được trình bầy khá rõ ràng và đầy đủ ở chương
II Về mặt từ ngữ thì tất cả những từ mang tên của vua và những người trong
hoàng tộc đều được chọn một từ khác để thay thế Từ được lựa chọn để thay
thế theo chúng tôi đều có một nét liên quan đến từ húy; có thể về mặt ngữ
âm, ngữ nghĩa, một từ Hán Việt, cổ Hán Việt hay Hán Việt Việt hóa… Tuy
nhiên hầu hết những từ này đều có một mối liên hệ với nhau
Từ toàn dân là từ thường dùng và được dùng một cách phổ biến, được
nhiều người lựa chọn để sử dụng trong một cộng đồng, và từ đó khi nói ra thì
mọi người đều có thể hiểu được
Hầu hết từ kị húy đều có nét nghĩa và cách đọc tương đương với từ
toàn dân, mặc dù có những từ tồn tại qua nhiều thế kỉ nhưng đến bây giờ mọi
người vẫn có thể hiểu được
Ngoài giải thích các từ kị húy trong tiếng Việt dựa trên cơ sở của ngữ
âm học, những trường hợp còn lại luận văn sẽ giải thích dựa vào nghĩa, từ
vừng…để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các từ kị húy
II Về mặt ngữ âm học
1.Các kiểu tương ứng ngữ âm chính
1.1 Tương ứng ở phụ âm đầu
Theo quan điểm của GS Nguyễn Tài Cẩn thì « Trong thời gian từ
Việt sơ kì đến Việt cận đại đã có cả thảy 15 sự diễn biến về mặt phụ âm
đầu Tính theo thứ tự trước sau, có lẽ hai điểm cách tân đầu tiên là « b > m
và d > n ; kế đó là sự hữu thanh hóa * p > B và * t > Đ Chậm hơn một
thời gian nữa là những sự cách tân * s > T, * s’ > TH, c’h
> X Và cuối cùng là quá trình xát hóa thành các âm V, D, GI, G, R và quá trình đơn
Trang 39Học viên:Vũ Thị Hương Mai
41
giản hóa ba tổ hợp phụ âm đầu còn lại cuối cùng : kl, tl > TR~
CH ; pl, bl >
TR~ GI ; ml>L~ NH » [2,285]
Trong quá trình biến đổi và hoàn thiện hệ thống phụ âm đầu trong
tiếng Việt như ngày nay thì có những thay đổi sau:
1) Quá trình hữu thanh hóa 2) Quá trình xát hóa các phụ âm tắc 3) Quá trình mũi hóa
4) Quá trình đơn giản hóa âm vị học các tổ hợp phụ âm kl – tl, pl – bl và ml
Trong suốt lịch sử phát triển của tiếng Việt tùy từng thời điểm, từng
giai đoạn mà các quá trình này diễn ra để phù hợp với tình hình chung của
thời điểm đó Và các quá trình này cũng phát triển đến các vùng phương ngữ
khác Chính sự diễn biến không đồng đều đó đã làm cho các phương ngữ
trong tiếng Việt có sự khác nhau nhất định
viên
4
d/z
Trang 40Học viên:Vũ Thị Hương Mai
b Biểu diễn âm vị học
Trường hợp 1: Bái/vái
Yếu tố từ vựng Biểu diễn âm vị học
[ baj5]
- Trước
- Sau
+ TĐ + Cao
- Bằng
- Uốn + Tắc
- Trước
- Sau
+ TĐ + Cao
- Bằng
- Uốn
- Tắc