1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét về các bài tập đọc (văn xuôi) trong sách tiếng Việt lớp 1, 2, 3, 4, 5,

287 6,3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 287
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này để xem xét một cách tương đối toàn diện về các bài tập đọc – một vấn đề trọng tâm của bộ sách để xem bộ sách này đã thực hiện được mục tiêu của ch

Trang 1

- † ♣ † -

Nguyễn Thị Hải Yến

NHẬN XÉT VỀ CÁC BÀI TẬP ĐỌC (VĂN XUÔI) TRONG SÁCH TIẾNG VIỆT LỚP 1, 2, 3, 4, 5

(NXB GIÁO DỤC, 2005)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2008 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

- † ♣ † -

Trang 2

Nguyễn Thị Hải Yến

NHẬN XÉT VỀ CÁC BÀI TẬP ĐỌC (VĂN XUÔI) TRONG SÁCH TIẾNG VIỆT LỚP 1, 2, 3, 4, 5

(NXB GIÁO DỤC, 2005)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ

MÃ SỐ: 60 22 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN GS.TS NGUYỄN CAO ĐÀM

HÀ NỘI, 2008

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ TÀI

1.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học

1.1.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học

1.1.2 Đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh tiểu học

1.1.3 Đặc điểm nhân cách

1.1.4 Năng khiếu của học sinh tiểu học

1.1.5 Sự lĩnh hội khái niệm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ở học sinh

tiểu học

1.2 Giáo dục và Dạy học

1.2.1 Giáo dục

1.2.2 Dạy học

1.2.3 Bản chất và đặc điểm của hoạt động dạy học ở tiểuhọc

1.3 Sách giáo khoa và sách Tiếng Việt

1.3.1 Sách giáo khoa

1.3.2 Sách Tiếng Việt

1.3.3 Phân môn Tập đọc

CHƯƠNG 2: NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÁC BÀI TẬP ĐỌC

(VĂN XUÔI) TRONG SÁCH TIẾNG VIỆT 1, 2, 3, 4, 5 (2005)

2.1 Nhận xét chung về chủ điểm và nội dung các bài đọc

2.1.1 Tiếng Việt 1 tập 1

2.1.2 Tiếng Việt 1 tập 2

2.1.3 Tiếng Việt 2 tập 1

Trang 4

2.3.1 Độ dài trung bình (tính bằng câu) của các bài tập đọc

2.3.2 Tỉ lệ câu đơn, câu ghép trong các bài tập đọc

Trang 5

3.2 Điều tra về câu hỏi trắc nghiệm trong sách Tiếng Việt lớp 3 3.3 Điều tra về câu hỏi trắc nghiệm trong sách Tiếng Việt lớp 4

4.1.2 Những thay đổi không phù hợp

4.2 Thay đổi thêm / bớt từ

4.2.1 Những thay đổi hợp lí

4.2.2 Những thay đổi không phù hợp

4.3 Thêm / bớt đoạn văn

4.3.1 Những thay đổi hợp lí

4.3.2 Những thay đổi không phù hợp

4.4 Thay bài có nội dung tương tự cho phần chủ điểm giống nhau

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sau khi bộ sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 mới cải cách ra đời, đã có rất nhiều

ý kiến tranh luận cả khen, cả chê về bộ sách này Ai cũng quan tâm đến việc giáo dục con em mình, nhất là với những học sinh tiểu học, mới bắt đầu học chữ Chương trình cấp I là nền móng căn bản trong việc tích lũy tri thức của các em,

có ý nghĩa quyết định đến tương lai của các em sau này nên nó được đặc biệt quan tâm Bộ giáo dục đã tiến hành thử nghiệm cải cách sách Tiếng Việt tiểu học

từ năm 2000, nhưng phải đến năm 2004 mới hoàn thành Đã có rất nhiều những bài viết nhận xét, đánh giá, góp ý về các phần của bộ sách, nhưng hầu như chỉ là những bài báo nhỏ chứ chưa có một công trình đánh giá toàn diện về bộ sách này Riêng Tiến sĩ Nguyễn Thế Lịch đã có rất nhiều những bài viết dài, đăng trên tạp chí ngôn ngữ, nhận xét về bộ sách, nhưng lại chủ yếu nhận xét về sách lớp 1, phần Học vần chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này để xem xét một cách tương đối toàn diện về các bài tập đọc – một vấn đề trọng tâm của bộ sách để xem bộ sách này đã thực hiện được mục tiêu của chương trình dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học hay chưa Đồng thời chúng tôi cũng có đối chiếu, so sánh với sách cũ,

để xem sách mới có điều gì mới, hay hoặc còn điều gì chưa bằng sách cũ

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những bài tập đọc văn xuôi trong sách Tiếng Việt tiểu học mới cải cách Những bài đó có thể thuộc thể loại truyện kể, văn miêu tả, những bài thuộc phong cách hành chính – công

vụ, những bài báo, bài tin tức…

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Mục đích của luận văn là nhận xét, đánh giá một cách tương đối toàn diện

về các bài tập đọc (văn xuôi) trong sách Tiếng Việt tiểu học mới cải cách Từ đó, người viết muốn đối chiếu, so sánh thêm với sách cũ để tìm hiểu những ưu điểm

và hạn chế của sách mới Chúng tôi cũng mong đưa ra được một số ý kiến đóng góp, kiến nghị để giúp một phần cho người soạn sách hoàn thiện bộ sách hơn

4 Tư liệu nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên tất cả các bài tập đọc (văn xuôi) của bộ sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 của Nhà xuất bản Giáo dục in năm 2005, nghĩa là khi bộ sách đã được cải cách xong hoàn toàn

Từ bộ sách trên, chúng tôi đã thu thập được 250 bài Chúng tôi không khảo sát những bài không phải văn xuôi như thơ, bảng biểu (chỉ có số liệu, từ

ngữ chứ không có câu)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi có sử dụng một số thủ pháp và phương pháp sau:

Thủ pháp thống kê: Sau khi đã chọn ra các bài đọc nghiên cứu, chúng tôi dùng thủ pháp thống kê để biết tổng số chủ điểm trong mỗi quyển sách, các câu trong mỗi bài đọc, tổng số câu đơn, câu ghép, tổng số các từ Hán Việt, từ Ấn Âu trong mỗi bài, mỗi lớp

Thủ pháp phân tích: Sau khi thống kê, chúng tôi dùng phương pháp phân tích, đánh giá để nhận xét về nội dung bài, cách sử dụng từ ngữ, xây dựng câu, đặt câu hỏi, giải nghĩa từ… trong sách

Phương pháp miêu tả: Chúng tôi tiến hành miêu tả các tình hình trên qua các ví dụ, bảng biểu, số liệu

Trang 10

Phương pháp so sánh: Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu sách mới với sách cũ, cách giải nghĩa từ của sách và từ điển, từ đó nhận xét, đánh giá những

ưu điểm đưa ra một số kiến nghị về bộ sách

Phương pháp điều tra trắc nghiệm: Chúng tôi tiến hành xây dựng các mẫu phiếu điều tra trắc nghiệm cho các học sinh tiểu học rồi thống kê kết quả, từ đó nhận xét và phân tích mức độ khó của các câu hỏi trắc nghiệm của các bài tập đọc trong sách Tiếng Việt tiểu học

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

Ý nghĩa lí luận: Những cơ sở đã trích và những kết quả rút ra được của luận văn có thể sẽ đóng góp được một phần vào lí thuyết để biên soạn, biên tập sách giáo khoa

Ý nghĩa thực tiễn: Từ những bảng biểu, số liệu, nhận xét của mình, chúng tôi muốn góp một ý kiến đánh giá những mặt tích cực và kiến nghị một số mặt còn hạn chế của bộ sách Tiếng Việt tiểu học, giúp được phần nào cho công việc biên soạn và biên tập sách Tiếng Việt, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục Chúng tôi không có tham vọng sửa được những sai sót của bộ sách mà chỉ mong những kết quả nghiên cứu của mình có thể phần nào giúp ích cho những người soạn sách Đồng thời chúng tôi cũng muốn lưu ý các thầy, cô giáo sửa chữa một số điều không chính xác trong sách khi giảng dạy để giúp học sinh học tốt hơn

Ngoài ra, những kết luận của chúng tôi cũng chỉ ra những thành công mà những người soạn sách đã làm được Không thể cực đoan phủ nhận những đóng góp rất giá trị của người soạn sách để làm cho bộ sách mới, phong phú và phù hợp với thời đại hiện nay như vậy

Những kết quả đạt được từ luận văn của chúng tôi cũng là một trong những cứ liệu để những người nghiên cứu sau đi sâu hơn về việc tìm hiểu, đóng góp ý kiến cho việc xây dựng bộ sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học

Trang 11

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tôi gồm có các phần sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lí luận xung quanh đề tài

Chương 2: Nhận xét chung về các bài tập đọc (văn xuôi) trong sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 (2005)

Chương 3: Nhận xét câu hỏi trắc nghiệm của các bài tập đọc văn xuôi trong sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5

Chương 4: Một số thay đổi của bài tập đọc (văn xuôi) trong sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5

Kết luận

Phụ lục

Trang 12

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ TÀI

- † ♣ † -

1.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học

1.1.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học

Cấp tiểu học có 5 lớp, từ lớp 1 đến lớp 5, dành cho trẻ em từ 6 đến 11 tuổi (một số trẻ không thể đi học đúng tuổi có thể học muộn hơn 1 - 2 năm, tức là đến

13, 14 tuổi) Các em là những thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển Bản tính của trẻ em rất hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, luôn thể hiện ra bên ngoài, không biết che giấu, nên người xưa mới có câu “đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ” Trong nhiều hoàn cảnh, do tác động xấu từ bên ngoài nên trẻ có thể nhiễm những tật xấu như nói dối Hiện nay, nhiều nền giáo dục văn minh tiên tiến đang hướng tới việc giữ gìn và tôn trọng bản tính hồn nhiên của trẻ

Lứa tuổi học sinh tiểu học là thời kì đầu của tuổi học (thường từ 6 đến 11 tuổi, còn gọi là tuổi nhi đồng) Trong thời kì này, trẻ phát triển mạnh về nhận thức, tình cảm, ý chí, ý thức, nhân cách và hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của các em Hoạt động học lần đầu tiên xuất hiện ở học sinh tiểu học với tư cách là hoạt động học đích thực khi các em bắt đầu học lớp 1 Trước đó, các em cũng đã thực hiện các hoạt động “chơi mà học”, nhưng bản chất các hoạt động

đó vẫn là hoạt động vui chơi chứ chưa phải học tập đúng nghĩa

Học sinh tiểu học cũng tiềm tàng khả năng phát triển, kể cả những trẻ em khuyết tật vẫn có thể học tập để đạt được những trình độ nhất định, lao động để nuôi sống bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội Tuy vậy, chương trình học

Trang 13

cho học sinh cũng không nên quá tải, không phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của các em Trong Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em có quy định các quốc gia cam kết dành cho trẻ em nền giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của mình

Trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học là thực thể đang lớn lên, đang hoàn thiện về cơ thể (sinh lí) và đang phát triển về tâm hồn (tâm lí) Lúc này, các em chưa phải là một cá nhân trưởng thành như một công dân thực thụ Học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, phẩm chất và năng lực để tồn tại như một công dân trong xã hội, mà vẫn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của nhà trường, gia đình và

xã hội

Học sinh tiểu học chưa phải suy nghĩ, ghi nhớ nhiều như người lớn nên các em dễ thích nghi, dễ tiếp nhận cái mới Có thể phân ra hai cấp độ phát triển của học sinh tiểu học như sau:

(1) Cấp độ thứ nhất: gồm các lớp 1, 2 và lớp 3 Lớp 1 là đầu vào của

bậc Tiểu học, là bước khởi đầu nên cũng khá khó khăn: “Vạn sự khởi đầu nan”

(2) Cấp độ thứ hai: gồm lớp 4 và lớp 5 Lớp 5 được coi là đầu ra của

cấp Tiểu học

Khi các em bắt đầu vào lớp 1, cha mẹ cần chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻ Trẻ cần vốn tiếng Việt đủ để chào hỏi người thân, nghe và trả lời được những câu hỏi đơn giản, gần gũi với cuộc sống Thứ hai là chuẩn bị cho trẻ tâm lí sẵn sàng đi học Thứ ba là trẻ phải biết thực hiện một số thao tác, hình thành một số phẩm chất tâm lí như biết chú ý lắng nghe, biết nghe và làm theo sự chỉ dẫn của người lớn… Hoạt động học sẽ tạo ra cho trẻ em những nét tâm lí mới như chú ý

có chủ định, ghi nhớ có chủ định, bước đầu tư duy khoa học

Trang 14

Khi trẻ em học thì đó cũng chính là lúc các em chiếm lĩnh (lĩnh hội) tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới và trở thành chủ thể chiếm lĩnh nội dung học tập mới

và các chức năng tâm lí của học sinh được vận hành tích cực Nhờ hoạt động học, mỗi học sinh lĩnh hội được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới và được phát triển

về nhận thức lí tính và các phẩm chất hình thành nhân cách, làm tâm hồn phong phú hơn Có thể nói hoạt động học tạo ra sự biến đổi, hình thành nhân cách học sinh

Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học, diễn ra theo phương thức đặc trưng là nhận thức Mẫu và Luyện tập theo mẫu để có kĩ năng theo cách học và tập gắn với nhau Phương thức đặc trưng của bậc tiểu học chính

là phương thức Học - Tập Hoạt động học đích thực hướng học sinh lĩnh hội nội dung học tập (tri thức, kĩ năng, kĩ xảo) và cách ứng xử (thái độ) tương ứng Nhờ vậy mà học sinh học không phải mò mẫm, không phải học lỏm như khi chưa hình thành được hoạt động học, đồng thời phát triển được tâm lí của chính mình

Hoạt động học của học sinh tiểu học được hình thành bằng phương pháp nhà trường Hoạt động này có các thành tố chính là nội dung học tập và cấu trúc của hoạt động học tập Cấu trúc của hoạt động học tập gồm có động cơ học tập, nhiệm vụ học tập và các hành động học tập Nội dung học tập của học sinh tiểu học là những chuẩn mực tối thiểu và cần thiết về khoa học tự nhiên, xã hội và con người cho cuộc sống của trẻ em ở lứa tuổi nhi đồng Nội dung giáo dục được thiết kế thành mục tiêu giáo dục và được cụ thể hóa thành chương trình, tài liệu từng môn học và các hoạt động giáo dục của mỗi lớp học (kèm theo chương trình chuẩn về kiến thức và kĩ năng, tiêu chí về hành vi và thái độ, gọi chung là trình độ chuẩn) Động cơ học tập của trẻ là cái nuôi dưỡng nhu cầu và thôi thúc trẻ học tập Khi dạy học, giáo viên cần hình thành cho học sinh động cơ học để lĩnh hội nội dung, phương pháp học tập, vì vậy tiêu chí cơ bản để đánh giá việc

Trang 15

học của học sinh tiểu học là thái độ - động cơ học tập Biểu hiện của động cơ đó

là học sinh thích học, tự giác tham gia vào hoạt động học Giáo viên cần biết tổ chức cho các em học tập, thu hút sự chú ý của học sinh để việc dạy và học đạt kết quả tốt Với sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh học tập để tạo ra sản phẩm học tập, tức là tạo ra cái mới trong tâm lí, tạo ra năng lực mới chứ không đơn thuần là tích lũy thêm, góp vào vốn kinh nghiệm đã có Ở bậc tiểu học, học sinh không dừng ở cấp độ nắm được kiến thức mà phải chuyển thành kĩ năng và kĩ xảo Vì vậy, một số nhà chuyên môn cho rằng bậc tiểu học là “bậc học của kĩ năng” Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập bằng các hành động chuyên biệt như hành động phân tích, mô hình hóa, cụ thể hóa, hành động kiểm tra và đánh giá

1.1.2 Đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh tiểu học

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, không chủ định, ít đi vào chi tiết nên các em chưa phân biệt được chính xác các đối tượng, dễ sai và nhầm lẫn Học sinh các lớp đầu cấp tiểu học tri giác còn yếu nên thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri giác Khi tri giác, các em thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn của bản thân Các em chỉ tri giác những gì phù hợp với nhu cầu, những gì thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của bản thân Những gì được giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác

Khi học sinh tri giác, cảm xúc của các em thể hiện rất rõ Điều mà các em tri giác đầu tiên là những dấu hiệu, những đặc điểm trực tiếp gây cho các em xúc cảm Những cái rực rỡ, sinh động thường dễ gây ấn tượng tích cực, khiến các em tri giác tốt hơn Vì vậy, sách giáo khoa cũng không nên có quá nhiều tranh sặc sỡ

vì sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến việc học của các em, như làm chậm tốc độ đọc của học sinh

Tri giác của học sinh tiểu học không tự nó phát triển Giáo viên tiểu học

có vai trò rất lớn trong sự phát triển tri giác của học sinh Giáo viên cần chỉ dạy

Trang 16

cách nhìn, hình thành kĩ năng nhìn cho học sinh, chú ý hướng dẫn các em biết cách quan sát và lắng nghe Cần chú ý tổ chức một cách đặc biệt các hoạt động của học sinh để tri giác một đối tượng nào đó nhằm phát hiện những dấu hiệu bản chất của sự vật và hiện tượng

Khả năng chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu Các em chưa biết điều chỉnh chú ý một cách có ý thức mà thường chỉ chú ý khi có động cơ gần (như được điểm cao, được thầy cô giáo khen) Đến cuối bậc tiểu học, các em

có thể duy trì chú ý chủ định ngay cả khi có động cơ xa (biết chờ đợi kết quả trong tương lai) Chú ý không chủ định của học sinh tiểu học phát triển nhờ những thứ mới mẻ, rực rỡ, khác lạ, dễ lôi cuốn Những đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ của giáo viên dễ gợi cho các em cảm xúc tích cực nên tranh ảnh, hình vẽ,

mô hình… là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý của học sinh Nhưng các em cũng rất mẫn cảm, những ấn tượng quá mạnh cũng có thể kìm hãm khả năng phân tích, khái quát tài liệu học tập của các em Giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để tạo hứng thú, lôi cuốn sự chú ý của học sinh

Quá trình ức chế ở não học sinh lớp 1, lớp 2 còn yếu nên sự tập trung chú

ý của các em thường thiếu bền vững, dễ bị phân tán Các em thường bỏ sót những chữ cái trong từ, từ trong câu Sự chú ý này còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập Nhịp độ quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý Chú ý có chủ định được rèn luyện, phát triển trong quá trình học tập Quá trình học tập đòi hỏi học sinh phải thường xuyên rèn luyện chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí

Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ

từ ngữ - lôgic, vì lúc này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của các em chiếm ưu thế hơn Các em có thể nhớ chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn, tốt hơn những định nghĩa, những câu giải thích Học sinh lớp 1, lớp 2

Trang 17

có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần nên thường học thuộc lòng tài liệu theo từng câu, từng chữ mà không sắp xếp, sửa đổi lại hay diễn giải lại bằng lời của mình

Khi học sinh hiểu được mục đích của ghi nhớ và có được tâm thế thích hợp thì việc ghi nhớ tài liệu học tập sẽ tốt hơn Vì vậy, giáo viên tiểu học cần hình thành cho học sinh tâm thế học tập, ghi nhớ, hướng dẫn các em các thủ thuật ghi nhớ, chỉ cho các em biết đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học để tránh việc các em phải nhớ quá nhiều, ghi nhớ máy móc, học vẹt

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh tiểu học Khi học sinh không phát huy được trí tưởng tượng thì sẽ gặp khó khăn trong hành động, trong học tập Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em, tuy nhiên nó còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững Với những học học sinh lớp 4, 5, tưởng tượng của các em đã gần với hiện thực hơn vì đã có kinh nghiệm phong phú hơn, lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học từ quá trình học tập Các em đã có khả năng nhào nặn, gọt rũa những hình tượng cũ để sáng tạo ra những hình tượng mới, biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng khái quát và trừu tượng hơn Giáo viên cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ

và những phương tiện trực quan trong dạy học

Tư duy của lứa tuổi này là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Quá trình học tập theo phương pháp nhà trường tạo cho học sinh tiểu học có sự phát triển về tư duy, từng bước chuyển từ cấp độ nhận thức các sự vật và hiện tượng bên ngoài, các biểu hiện dễ nhận biết bằng cảm tính đến nhận thức được những dấu hiệu bản chất bên trong

Trang 18

chúng Điều này sẽ hình thành ở các em khả năng tiến hành thao tác khái quát hóa, thao tác so sánh đầu tiên, tiến tới khả năng suy luận sơ đẳng

Học sinh tiểu học chưa có được kĩ năng phân biệt các dấu hiệu bản chất và tách các dấu hiệu đó ra khỏi các sự vật và hiện tượng ẩn tàng phẩm chất tư duy Với các em, tri giác phát triển sớm hơn nên thường các em mới chỉ nhận biết được những dấu hiệu bên ngoài của sự vật, hiện tượng Điều đó là nguyên nhân của những khó khăn, khiếm khuyết trong quá trình lĩnh hội khái niệm của các

em

Hoạt động phân tích – tổng hợp của học sinh tiểu học còn ở mức sơ đẳng Học sinh các lớp 1, 2, 3 chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Đến cuối bậc học, các em có thể phân tích đối tượng mà không cần tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Việc học tiếng Việt có tác dụng tích cực hình thành và phát triển thao tác phân tích, tổng hợp cho học sinh tiểu học Đặc điểm này của các em chỉ có ý nghĩa tương đối, tùy thuộc vào nội dung, phương pháp và phương thức tổ chức hoạt động học của nhà trường mà tư duy của các em phát triển, thay đổi cũng khác Khi nội dung, phương pháp dạy học, phương thức tổ chức dạy học thay đổi phù hợp thì học sinh tiểu học có thể đạt được trình độ phát triển tư duy cao hơn, có được một số tiền đề tư duy khoa học

1.1.3 Đặc điểm nhân cách

Tính cách của trẻ em được hình thành rất sớm Mỗi trẻ có một tính cách,

em thì sôi nổi, em nhút nhát, em thì mạnh dạn… Những nét tính cách của các em chỉ mới hình thành, chưa ổn định nên có thể thay đổi dưới tác động giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn – Phần nhiều do giáo dục mà nên” (Hồ Chí Minh)

Trang 19

Học sinh tiểu học thường hành động tự phát, dễ vi phạm nội quy của nhà trường và thường bị xem là “vô kỉ luật”, do sự điều chỉnh của ý chí đối với hành

vi của trẻ lứa tuổi này còn yếu Các em chưa biết đề ra mục đích hoạt động và theo đuổi mục đích đó đến cùng Các em cũng có nhược điểm là thường bướng bỉnh, bất thường, hay phản ứng lại những yêu cầu của người lớn để bảo vệ cái mình “muốn” thay cho cái mình “cần làm”

Học sinh tuổi này rất hồn nhiên, ham hiểu biết, vị tha, thương người Các

em cũng rất cả tin, tin tưởng thầy cô, tin vào những điều sách nói, tin vào người lớn và tin vào khả năng của bản thân Niềm tin của các em còn cảm tính, chưa được soi rọi bởi lí trí Giáo viên cần định hướng cho các em những điều đúng vì khi trẻ đã có niềm tin vào một điều gì thì niềm tin đó sẽ được định hình, rất khó thay đổi dù điều đó là sai trái

Ở lứa tuổi này, các em thường thích bắt chước Các em thường bắt chước những hành động, cử chỉ của giáo viên, của những người được các em coi như

“thần tượng” như những nhân vật trong truyện, trong phim ảnh Tính “bắt chước” đó vừa có lợi, vừa có hại Giáo viên cần hiểu biết thấu đáo, tận dụng tính bắt chước của trẻ để giáo dục các em có hiệu quả, hướng dẫn các em biết lao động, tự phục vụ và giúp đỡ người lớn những việc phù hợp với sức mình Lao động sẽ hình thành cho các em những phẩm chất tốt đẹp như tính kỉ luật, cần cù, tính tiết kiệm, óc sáng tạo và biết trân trọng người lao động, những thành quả lao động Để giáo dục học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm, chú trọng xây dựng ba môi trường giáo dục lành mạnh: nhà trường, gia đình và xã hội

Khi trẻ vào lớp 1, nhu cầu nhận thức của trẻ phát triển và thể hiện rõ nét, đặc biệt là nhu cầu, khát vọng tìm hiểu thế giới xung quanh mình Ban đầu, các

em muốn tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ Tiếp đến, ở những lớp lớn

Trang 20

hơn, các em có nhu cầu gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, tính quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng Học sinh lớp 1 có nhu cầu tìm hiểu “cái này là cái gì” còn học sinh lớp 4, 5 lại có nhu cầu trả lời các câu hỏi “tại sao”, “như thế nào” Nhu cầu tham quan, đọc sách cũng tăng lên với

sự phát triển của kĩ năng quan sát, kĩ năng đọc Lúc này, các em thường yêu thích những truyện cổ tích, truyện viễn tưởng có nhiều tình tiết li kì

Nhu cầu nhận thức là nhu cầu tinh thần có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của học sinh tiểu học Nhu cầu nhận thức khiến cho trẻ có tính tích cực trí tuệ Nhu cầu này có thể bị ức chế nếu nội dung và phương pháp giáo dục không phù hợp với tâm sinh lí của các em, việc học nặng nề, quá tải làm cho các em cảm thấy mệt mỏi, chán nản Học sinh cũng dễ chán nản, mất đi nhu cầu nhận thức nếu không nhận được sự quan tâm của giáo viên hay đặc biệt là khi bị điểm kém, bị chê bai, cảm thấy thua kém bạn bè Điều kiện học tập quá thiếu thốn khiến cho việc dạy và học kém hiệu quả cũng không nuôi dưỡng được nhu cầu học tập của học sinh, đồng thời dẫn đến tình trạng học sinh không còn tin vào khả năng học tập của mình

Tình cảm của học sinh tiểu học có vị trí quan trọng, gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức, thúc đẩy trẻ hoạt động, đặc biệt là hoạt động chủ đạo: học Đồng thời, hoạt động học và các hoạt động khác cũng hình thành và phát triển tình cảm và những nét tâm lí nhiều mặt, những phẩm chất tâm lí của nhân cách đang hình thành Giáo dục toàn diện sẽ đảm bảo điều kiện để học sinh tiểu học được học, được thực hiện các hoạt động để có sự phát triển hài hòa tối ưu trong điều kiện cụ thể Do vậy, các thầy, cô giáo cần tìm hiểu về trẻ em và có biện pháp thích hợp để hình thành

và từng bước phát triển tình cảm cho học sinh tiểu học

Trang 21

Tình cảm, xúc cảm của học sinh tiểu học thường nảy sinh từ tác động của những người xung quanh, từ các sự vật, hiện tượng sinh động, cụ thể Các em dễ

bị kích thích từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (sự vật, hiện tượng với các thuộc tính của nó) hơn là hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết) Các em cũng dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm cảm xúc của mình Học sinh tiểu học thường rất vui khi làm được bài, được điểm cao, được cô giáo khen, nhưng cũng dễ chán nản khi bị điểm kém, bị phạt, bị phê bình… Nhìn chung, các quá trình nhận thức, hoạt động của học sinh tiểu học đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc và đều đượm màu sắc cảm xúc Dễ xúc động nên trẻ em yêu mến một cách chân thực những cây cối, chim muông, vật nuôi trong nhà Về mặt tâm lí thì ý thức, các phẩm chất ý chí của các em còn chưa có khả năng điều khiển, điều chỉnh cảm xúc của mình

Tình cảm của học sinh tiểu học thường chưa sâu sắc, không bền vững Các

em dễ bị hấp dẫn bởi những đối tượng khác nhau, dễ bị lôi cuốn bởi những đối tượng mới và lãng quên đối tượng cũ Các em rất dễ kết bạn, dễ “bất hòa” và cũng dễ “làm lành” Ở lứa tuổi này, nếu xúc cảm về một sự kiện, hiện tượng, nhân vật nào đó được củng cố thường xuyên trong cuộc sống và thông qua các môn học, qua các hoạt động thì sẽ hình thành được tình cảm sâu đậm, bền vững trong các em Đó là lòng yêu nước, yêu kính Bác Hồ, yêu quý cha mẹ, thầy cô giáo…

1.1.4 Năng khiếu của học sinh tiểu học

Học sinh có năng khiếu là những trẻ em dễ dàng thành công và có thành tích khác thường về một loại hình hoạt động cụ thể nào đó Thường thì mỗi học sinh có khả năng ở một mức độ nhất định, nhưng học sinh có năng khiếu về một lĩnh vực nào đó như thơ ca, hội họa, thể thao… thì không nhiều Năng khiếu có trở thành tài năng hay không là tùy thuộc vào việc phát hiện và bồi dưỡng năng

Trang 22

khiếu Trẻ dù có năng khiếu hay không cũng cần được thụ hưởng nền giáo dục toàn diện lành mạnh, được tạo điều kiện để phát triển tự nhiên

1.1.5 Sự lĩnh hội khái niệm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ở học sinh tiểu

học

Khái niệm là một trong những hình thức phản ánh thế giới vào tư duy con người, nhờ đó mà người ta nhận thức được bản chất của các sự vật, hiện tượng, các quá trình; đó là sự nhận thức khái quát về những mặt, những dấu hiệu cơ bản của sự vật, hiện tượng và quá trình mà con người phản ánh nó Đó chính là khái niệm khoa học

Trong đời thường còn tồn tại một loại “khái niệm” để biểu thị sự hiểu biết đơn giản, sơ lược của con người về sự vật, hiện tượng Đó là sự phản ánh của con người ở cấp độ thấp và thường được gọi là “khái niệm kinh nghiệm” hay

“khái niệm thông tục” để phân biệt với khái niệm khoa học

Khái niệm là sản phẩm của nhận thức đang phát triển trong lịch sử Nó phát triển từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao, ngày càng sâu hơn, hoàn thiện hơn

và liên tục nảy sinh những khái niệm mới Càng nghiên cứu, học tập thì con người càng tiếp cận được khái niệm và tích lũy được nhiều khái niệm

Khái niệm được ghi lại dưới hình thức ngôn ngữ này hoặc ngôn ngữ khác Nhờ khái niệm, con người có thể nhận thức hiện thực sâu hơn bằng cách tách ra

và nghiên cứu những mặt cơ bản của hiện thực Đồng thời, cái cụ thể được phản ánh không đầy đủ trong những khái niệm riêng rẽ có thể tái tạo được với mức độ đầy đủ khác nhau nhờ những khái niệm phản ánh toàn bộ những mặt khác nhau của nó

Khái niệm là mục đích học tập (cái cần lĩnh hội) của học sinh, nhưng khi học sinh đã lĩnh hội được khái niệm nào đó thì nó lại trở thành phương tiện học tập của các em Khái niệm vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của việc học

Trang 23

Dạy học giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, tổ chức quá trình phát triển cho học sinh

Học sinh tiểu học chưa đủ trình độ để ý thức về khái niệm khoa học, nên mọi khái niệm khoa học trong chương trình tiểu học đều tồn tại trong hiện thực khách quan và trong nhân cách của giáo viên, được phần nào chuyển vào trong nhân cách đang hình thành của học sinh, nhưng chưa đầy đủ nghĩa đích thực của

nó mà còn ở dạng những kiến thức và kĩ năng chưa khái niệm, những khái niệm còn ở dạng thô

Các kĩ năng, kĩ xảo học sinh tiểu học cần có là kĩ năng, kĩ xảo lĩnh hội tri thức và vận dụng tri thức Kĩ năng, kĩ xảo lĩnh hội tri thức được hình thành từ nội dung giáo dục quy định trong chương trình học như kĩ năng đọc, viết, tính toán Những kĩ năng này được đọng lại trong mỗi học sinh như một bộ phận góp phần tạo nên năng lực của học sinh

Kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức làm cho những kĩ năng, kĩ xảo tiềm ẩn trong học sinh sống lại trong quá trình thực hiện hoạt động học, góp phần tích cực vào quá trình thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập mới của học sinh hoặc nhiệm vụ cụ thể nào đó trong cuộc sống hàng ngày Kĩ năng thực hiện các thao tác học tập như thao tác phân tích, thao tác tổng hợp…

Việc hình thành hoạt động học cho học sinh tiểu học cũng chính là quá trình hình thành kĩ năng, kĩ xảo học tập cho các em

1.2 Giáo dục và Dạy học

1.2.1 Giáo dục

Quá trình giáo dục là một quá trình có tính chất xã hội hình thành con người, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, căn cứ vào những mục đích và những điều kiện do xã hội quy định, được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục và học tập và được tiến hành trong các mối quan hệ xã hội

Trang 24

giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh những kinh

nghiệm xã hội của loài người (Đề cương bài giảng Giáo dục học, Trường bồi

dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội)

1.2.2 Dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kĩ năng và kĩ xảo hoạt động nhận thức

và thực tiễn, để trên cơ sở đó, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất nhân cách người học sinh theo mục đích giáo dục

Sách giáo khoa, trong đó có sách Tiếng Việt cần đảm bảo được Trí dục, Đức dục và Mỹ dục cho học sinh

(1) Trí dục có nhiệm vụ làm cho học sinh nắm được một cách vững

chắc hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản, những tri thức khoa học kĩ thuật thực tiễn, hiện đại; nắm được các kĩ năng vận dụng, có thói quen thực hành các tri thức để giải quyết những nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn; hình thành được những cơ sở của thế giới quan khoa học và phương pháp tư duy biện chứng duy vật; phát triển những năng lực nhận thức và hình thành các phẩm chất tư duy tích cực; hình thành nhu cầu và hứng thú nhận thức, học tập tiếp tục, suốt đời, phương pháp tự học và những cơ

sở của văn hóa lao động trí óc

(2) Đức dục có nhiệm vụ làm cho học sinh tiếp thu được những cơ

sở của thế giới quan khoa học; nắm được những vấn đề chủ yếu trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; giác ngộ và thấm nhuần

Trang 25

các chuẩn mực và quy tắc đạo đức, các phẩm chất tốt đẹp của truyền thống dân tộc; tham gia tích cực, tự giác và có hiệu quả các hoạt động chính trị, xã hội, có bản lĩnh để đấu tranh chống các tư tưởng thù địch, phản động, chống lối sống lạc hậu, bài trừ

hủ tục, mê tín dị đoan

(3) Mĩ dục có nhiệm vụ làm cho học sinh phát triển cảm xúc thẩm

mĩ, năng lực cảm thụ cái đẹp; hình thành thị hiếu thẩm mĩ, năng lực đánh giá thẩm mĩ; có thái độ thẩm mĩ tích cực, có nhu cầu

và năng lực biểu hiện và sáng tạo cái đẹp

Nội dung dạy học bao gồm toàn bộ khối lượng kiến thức, kĩ năng và hệ thống thái độ cần được trang bị cho người học nhằm đạt được mục tiêu đào tạo của một ngành nghề hay của một môn học xác định

Nội dung dạy học do mục đích dạy học và cao hơn nữa là do mục đích giáo dục của xã hội quy định Nội dung dạy học phải luôn luôn vận động và phát triển theo từng thời kì phát triển kinh tế xã hội

Cơ sở xác định nội dung dạy học là yêu cầu khách quan của xã hội; mục tiêu đào tạo và nhiệm vụ của nhà trường; đặc điểm của môn học; đảm bảo yêu cầu của lí luận dạy học

Yêu cầu đối với nội dung dạy học là phải đảm bảo tính cân đối toàn diện giữa lí thuyết và thực hành; đảm bảo tính cơ bản – hiện đại – thực tiễn; phù hợp với đối tượng dạy học (người học) và điều kiện đào tạo cho phép; đảm bảo tính giáo dục

Các văn bản của nội dung dạy học là kế hoạch giảng dạy; chương trình

môn học; giáo trình, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo

(1) Kế hoạch giảng dạy là văn bản quy định mục đích, nhiệm vụ

đào tạo; biểu thời gian danh mục các môn học; thứ tự giảng dạy

Trang 26

từng môn qua từng học kì, năm học; số giờ dành cho từng môn học trong một năm, một tháng, một tuần; việc tổ chức năm học (số tuần thực học, số tuần lao động, chế độ học tập hàng tuần, nghỉ hè…)

(2) Chương trình môn học do Nhà nước ban hành, quy định vị trí,

mục đích, nhiệm vụ môn học, nội dung môn học (các phần, các mục và tiêu đề mục); phân chia thời gian cho từng phần, từng chương, từng bài (ở đây cũng quy định số tiết kiểm tra, ôn tập); giải thích chương trình và hướng dẫn thực hiện chương trình (3) Giáo trình, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: những thông

tin khoa học cần thiết về môn học được trình bày theo lôgic nhất định giúp người đọc lĩnh hội dễ dàng, mở rộng hiểu biết của mình

Nội dung dạy học tồn tại với tư cách là một nhân tố hữu cơ của quá trình giáo dục, nó luôn vận động và phát triển, được cụ thể hóa trong kế hoạch giảng dạy, chương trình môn học và sách giáo khoa

Các thầy, cô giáo là người tổ chức và định hướng tính tích cực, tự lực của học sinh để học sinh tự nắm vững bài, nắm vững phương pháp nhận thức có hiệu quả những kiến thức sâu rộng, làm cho việc học tập trở thành một hoạt động thúc đẩy sự phát triển nhân cách của học sinh Cơ sở của việc cải tiến công tác giảng dạy là lựa chọn nội dung bài học thích hợp, rồi nghiên cứu áp dụng những phương pháp và phương tiện tương xứng với nội dung đó để giảng dạy

Chức năng hoạt động của người giáo viên là chức năng giáo dục và chức năng dạy học:

(1) Chức năng giáo dục: Thông qua hoạt động giảng dạy, giáo viên

có trách nhiệm truyền thụ cho học sinh lí tưởng và đạo đức cách

Trang 27

mạng, bồi dưỡng những phẩm chất cao quý, năng lực, trí tuệ và năng lực hành động của con người trong xã hội mới

(2) Chức năng dạy học: Thông qua hoạt động giảng dạy, người giáo

viên trực tiếp truyền thụ các tri thức chuyên môn và rèn luyện các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh

Trong thực tế giảng dạy, mỗi bài trong hệ thống bài học của mỗi môn hay mỗi đề mục có mục đích giảng dạy, nội dung và phương pháp tiến hành riêng Những nhân tố này quyết định cấu trúc của bài, đặc tính làm việc của giáo viên

và học sinh Bài học rất đa dạng nhưng các bài giảng đều phải thỏa mãn một số yêu cầu chung để tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả của bài giảng:

(1) Bài giảng phải thể hiện tính tư tưởng, bồi dưỡng cho học sinh

thế giới quan khoa học; đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; những phẩm chất của người lao động mới: những quy tắc đạo đức, những hành vi, thói quen tốt; uốn nắn những lệch lạc như thiếu trách nhiệm trong học tập, kỉ luật không nghiêm; chống mê tín dị đoan; biết yêu lao động và quý trọng sản phẩm của lao động do mình và người khác làm ra

(2) Người giáo viên cần xây dựng, sắp xếp nội dung kiến thức kĩ

năng, kĩ xảo thành một hệ thống các bài học phù hợp với mục đích giáo dục, giáo dưỡng đã đặt ra cho môn học, cũng như từng học sinh đó phải thực hiện một cách nghiêm túc

(3) Giáo viên cần có tâm trạng vui vẻ, nhiệt tình để tạo ra bầu

không khí tốt giữa thầy và trò, giữ thái độ nghiêm túc và cởi

mở, chan hòa để làm cho tiết học bớt căng thẳng Cần nắm được đặc điểm tâm lí chung của lớp, từng cá nhân để ứng xử thích hợp; điều khiển được các phẩm chất chú ý của học sinh; bồi

Trang 28

dưỡng và kích thích hứng thú cho học sinh; khơi dậy được tính tích cực, tự giác, độc lập trong lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

ở người học sinh

(Đề cương bài giảng Lý luận dạy học, Trường Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục Hà

Nội)

1.2.3 Bản chất và đặc điểm của hoạt động dạy học ở tiểu học

Hoạt động dạy của giáo viên tiểu học có đối tượng là học sinh với hoạt động của các em Dạy học ở tiểu học là tổ chức cho học sinh thực hiện hoạt động học Ngày nay, trong công cuộc đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới dạy học ở Tiểu học nói riêng, phương pháp dạy học ở Tiểu học được xác định là phương pháp Thầy tổ chức – Trò hoạt động Ở Tiểu học, giáo viên là người có vị trí đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng giáo dục, tổ chức quá trình phát triển của học sinh Vì vậy các bậc cha mẹ thường rất quan tâm chọn trường, chọn giáo viên để gửi gắm con em mình

Khi xây dựng chương trình tổng thể và chương trình cụ thể của từng môn học, từng hoạt động giáo dục, người soạn sách cần căn cứ vào lôgic phát triển của các nội dung cụ thể đó và căn cứ vào khoa học tâm lí – giáo dục trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học Nội dung của sách giáo khoa cần chuẩn mực, tuân theo quy định trong mục tiêu giáo dục của từng lớp, bậc học và quy luật phát triển tâm sinh lí của học sinh Lượng kiến thức đưa vào sách giáo khoa phải vừa đủ để hình thành chất liệu học tập của học sinh, để môn học không bị quá tải hoặc ngược lại

1.3 Sách giáo khoa và sách Tiếng Việt

1.3.1 Sách giáo khoa

Sách giáo khoa là sách soạn theo chương trình giảng dạy ở trường học (Từ

điển Tiếng Việt - Hoàng Phê (chủ biên))

Trang 29

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa sách giáo khoa là loại sách

cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học Thuật ngữ sách giáo khoa còn được hiểu là một loại sách chuẩn cho một ngành học Sách giáo khoa được phân loại dựa theo đối tượng sử dụng hoặc chủ đề của sách

Việc xuất bản sách giáo khoa thường dành cho các nhà xuất bản chuyên ngành Biên soạn một sách giáo khoa có giá trị là cả một kì công Ngày nay, bên cạnh các dạng sách in, nhiều sách giáo khoa có thể tham khảo trực tuyến

Các kiến thức trong sách giáo khoa là một hệ thống kiến thức khoa học, chính xác, theo một trình tự lôgic chặt chẽ, được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với trình độ học sinh và thời gian học tập Ngoài phần kiến thức, sách giáo khoa còn có một phần về rèn luyện các kĩ năng và các phương pháp giảng dạy môn học

Trên thế giới, có nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau được biên soạn cho cùng một môn học nhưng tại Việt Nam hiện nay thì chỉ tồn tại một bộ sách giáo khoa duy nhất cho một môn học

1.3.2 Sách Tiếng Việt

Như vậy, sách giáo khoa Tiếng Việt là bộ sách chuẩn cho bộ môn Tiếng Việt, cung cấp các kiến thức về tiếng Việt nhằm mục đích dạy và học Tiếng Việt Bộ sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 (cho học sinh tiểu học hiện nay) vẫn do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản

Mục tiêu của sách Tiếng Việt cấp tiểu học và quan điểm biên soạn:

Theo quyết định số 43/ 2001/ QĐ - BGD & ĐT ngày 9 tháng 11 năm

2001, chương trình tiểu học mới đã được ban hành Về môn Tiếng Việt, Chương

trình xác định:

Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:

Trang 30

(1) Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác của tư duy

(2) Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài

(3) Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Theo tinh thần này, việc dạy tiếng Việt ở trường tiểu học được xác định là việc dạy tiếng cho người bản ngữ Trẻ em đến trường đã sẵn có một vốn ngôn ngữ nhất định Nhà trường cần xây dựng tiếp cái cầu hiện thực nhằm bắc được từ ngôn ngữ làng xóm thân yêu tới môi trường giao tiếp rộng lớn của đất nước Để hoàn thành nhiệm vụ này, ngay từ những năm đầu của tiểu học, bên cạnh việc củng cố vốn ngôn ngữ đã sẵn có của học sinh, cần phải giới thiệu ngôn ngữ văn hóa và những môi trường sử dụng ngôn ngữ của người Việt hiện đại

(Dẫn theo Hoàng Cao Cương, Chuẩn bị hành trang ngôn ngữ cho trẻ vào

lớp Một chương trình mới, Ngôn ngữ 6/2003, tr.42)

Thứ tiếng Việt được dạy ngay từ lớp Một là ngôn ngữ văn hóa nhưng lại phải tự nhiên và phù hợp cao nhất với vốn ngôn ngữ mà các em đã được cha mẹ, xóm làng trang bị cho trước khi đến trường Nói cách khác, môi trường giáo dục ngôn ngữ ở trường học phải tạo điều kiện thuận lợi cho các em làm quen một cách không khó khăn với ngôn ngữ quốc gia (văn tự, vốn từ chuẩn mực, những mẫu câu tự nhiên…) và giúp các em bước đầu tạo lập được các thói quen tự

Trang 31

nhiên trong sử dụng ngôn ngữ ở một môi trường giao tiếp hiện đại và rộng lớn hơn nhiều so với trước khi đi học

Sách Tiếng Việt mới được biên soạn theo quan điểm dạy giao tiếp, chú trọng rèn luyện cho học sinh những kĩ năng giao tiếp như:

(1) Các nghi thức lời nói như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, đồng ý, từ chối… (2) Các kĩ năng làm việc và giao tiếp cộng đồng như lập danh sách lớp, tìm mục lục sách, đọc thời khóa biểu, lập thời gian biểu, viết thư, gọi điện, làm đơn, khai lí lịch, điền vào những giấy tờ cần thiết, phát biểu

và điều khiển cuộc họp…

Các kĩ năng trên được dạy theo hướng phát triển từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ giao tiếp thông thường đến giao tiếp chính thức… thông qua nhiều bài tập tình huống phù hợp với giao tiếp tự nhiên

Việc đặt học sinh vào tình huống giao tiếp sẽ làm nảy sinh nhu cầu tìm hiểu, phân tích sự kiện và bộc lộ ý kiến cá nhân của các em, tạo nên nét mới trong phương pháp dạy học

Một quan điểm nữa của các nhà biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt mới

là quan điểm tích hợp (theo chiều dọc và theo chiều ngang) Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn hóa, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy

Một trong những mục tiêu của sách Tiếng Việt bậc tiểu học là: “Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa và văn học, để:

- Bồi dưỡng ở các em tình yêu cái đẹp, cái thiện, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội, tình yêu tiếng Việt, ý thức nói đúng tiếng Việt

- Góp phần hình thành ở các em nhân cách con người Việt Nam hiện đại:

có tri thức, thấm nhuần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ưa chuộng lối sống lành

Trang 32

mạnh, ham thích làm việc và biết rèn luyện khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này” (Dự thảo chương trình Tiểu học năm 2000)

Sách Tiếng Việt tiểu học thể hiện mục tiêu tích hợp trên thông qua hệ thống các chủ điểm học tập để dẫn dắt học sinh đi vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng dần vốn từ, khả năng diễn đạt của các em về nhà trường, gia đình và

xã hội, thế giới xung quanh và cả thế giới tâm hồn của chính mình

Do quan điểm tích hợp nên các “phân môn” trước kia vốn ít gắn bó, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm các bài đọc, gắn bó chặt chẽ với nhau

và có nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng

Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm, cụ thể là: kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới

Trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học, chủ điểm được chọn làm khung cho cả cuốn sách, mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học Ở lớp 1, thời gian cho mỗi đơn vị học là 1 tuần, có chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc, mỗi lần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn Từ lớp 2, mỗi chủ điểm được dạy trong 2 tuần, vòng đồng tâm xoáy trôn ốc ở đây thưa hơn, phải sau một năm, học sinh mới trở lại với chủ điểm đã học Ở cả 3 lớp, toàn bộ

các bài học đều được xây dựng theo các chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Xã hội

và Tự nhiên Tuy vậy, đến lớp 3, các chủ điểm từ tuần 7 đến tuần 32 thể hiện

những nội dung hoàn toàn mới so với lớp 2 Các chủ điểm từ tuần 1 đến tuần 6

(Măng non, Mái ấm, Tới trường) đã quen thuộc nhưng cũng được mở rộng và

nâng cao một bậc so với lớp 2

Trang 33

Các kĩ năng giao tiếp cũng được đòi hỏi cao dần về mức độ, chẳng hạn từ yêu cầu đọc trơn nâng lên đọc thầm, rồi đọc lướt nắm ý, từ yêu cầu giao tiếp đơn giản nâng lên yêu cầu giao tiếp chính thức

Sách mới còn chú trọng đến việc tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình sách giáo khoa lần này là đổi mới phương pháp dạy và học Sách giáo khoa cần thể hiện sáng tạo điều kiện để thầy cô giáo và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó thầy, cô đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh: mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc

lộ mình và phát triển Hoạt động của học sinh được hiểu là hoạt động giao tiếp (đặc thù của bộ môn Tiếng Việt) và hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết (như các môn học khác)

Môn Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông vừa là môn học đối tượng, vừa là môn học công

ST

T

trong cả cấp học

So với tổng số (%)

Trang 34

Tập đọc là một trong 6 phân môn của bộ môn Tiếng Việt cấp tiểu học:

(1) Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc, nghe, nói (2) Phân môn Từ ngữ - ngữ pháp (Tên mới là Luyện từ và câu) cung

cấp các kiến thức về Tiếng Việt, cả 4 kĩ năng đọc, nghe, nói, viết

(3) Phân môn Chính tả rèn cho học sinh các kĩ năng viết, nghe

(4) Phân môn Tập viết chủ yếu rèn kĩ năng viết

(5) Phân môn Kể chuyện rèn cho học sinh các kĩ năng nghe và nói (6) Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, viết

Nội dung rèn luyện kĩ năng đƣợc lấy làm khung cho từng tuần, từng đơn

vị học, cũng giống nhƣ cách tổ chức học tập thể hiện ở sách giáo khoa hiện hành

Trang 35

CHƯƠNG 2:

NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÁC BÀI TẬP ĐỌC (VĂN XUÔI) TRONG

SÁCH TIẾNG VIỆT 1, 2, 3, 4, 5 (2005)

- † ♣ † -

2.1 Nhận xét chung về chủ điểm và nội dung các bài đọc

Sách Tiếng Việt lớp 1, 2, 3, 4, 5 hiện nay (sách mới) sắp xếp các bài đọc

theo các chủ điểm Chủ điểm là nội dung chủ yếu của từng phần trong chương

trình một môn học ở bậc phổ thông (Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê (chủ

biên)) Đó chính là khung của cuốn sách Chủ điểm của sách mới rất phong phú

và hiện đại

2.1.1 Tiếng Việt 1 tập 1

Đây là cuốn sách Học vần, chưa chia thành các chủ điểm, mỗi đơn vị học

là một bài Đến bài 7 mới bắt đầu có phần bài tập đọc, từ bài 1 đến bài 6 mới chỉ làm quen với chữ e, b và các dấu (thanh không, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng)

Các bài đọc từ bài 7 đến bài 27 đều gồm phần từ và một câu

Từ bài 7 đến bài 27, các bài đọc có nội dung cho học sinh làm quen với các từ có 1, 2 tiếng và các câu ngắn Các câu ở đây chưa có hình thức câu hoàn chỉnh vì không có dấu chấm kết thúc câu (.) mặc dù đã có đủ các thành phần câu

và diễn đạt được nội dung thông báo trọn vẹn Danh từ riêng trong câu chưa

Trang 36

được viết hoa Tuy nhiên, trong câu đã sử dụng dấu (,) Các câu trong bài đọc trong có thể là những câu đơn hoặc câu ghép đẳng lập

Đến bài 28: Sách đã giới thiệu cho học sinh về chữ thường và chữ hoa Từ đây, các câu trong bài đọc đã có hình thức hoàn chỉnh: có dấu chấm câu, danh từ riêng được viết hoa Các bài đọc gồm các từ có hai tiếng

và một câu hoặc một đoạn thơ, đoạn văn ngắn Riêng bài tập đọc trong bài

81 có cụm từ “cây bạch đàn” có tới 3 tiếng

Phần này đã bắt đầu sử dụng câu hỏi (cả loại câu hỏi trong bài đọc và câu hỏi do người soạn sách đưa ra để gợi ý tìm hiểu bài)

Chủ điểm thiên nhiên - đất nước

Ôn tập – kiểm tra

Các bài luyện tập

(ở kì II của lớp 1, thời gian cho mỗi đơn vị học là một tuần Các chủ điểm

Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên - Đất nước được lặp đi lặp lại theo kiểu đồng

tâm xoáy trôn ốc, mỗi lần lặp lại là một lần được khai thác sâu hơn)

Trong chương trình lớp 2, mỗi chủ điểm được dạy trong 2 tuần Các chủ điểm của lớp 2 được mở rộng hơn:

2.1.3 Tiếng Việt 2 tập 1

Trang 37

Gồm các chủ điểm:

Tuần 1, 2: Em là học sinh

Tuần 3, 4: Bạn bè

Tuần 5, 6: Trường học

Tuần 7, 8: Thầy cô

Tuần 9: Ôn tập giữa học kì I

Tuần 10, 11: Ông bà

Tuần 12, 13: Cha mẹ

Tuần 14, 15: Anh em

Tuần 16, 17: Bạn trong nhà

Tuần 18: Ôn tập cuối học kì I

Chương trình lớp 2 học kì I đề cập đến chính bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và những vật nuôi trong nhà Đó là những điều hết sức thân thuộc, gần gũi với các em

Trang 38

Tuần 25, 26: Sông biển

Tuần 27: Ôn tập giữa học kì II

Tuần 28, 29: Cây cối

Tuần 30, 31: Bác Hồ

Tuần 32, 33, 34: Nhân dân

Tuần 35: Ôn tập cuối học kì II

Tiếng Việt 2 tập 2 xoay quanh các vấn đề về Thiên nhiên - Đất nước nhưng được khai thác sâu Các vấn đề này được chia thành những chủ điểm nhỏ,

Tuần 9: Ôn tập giữa học kì I

Tuần 10, 11: Quê hương

Tuần 12, 13: Bắc – Trung – Nam

Tuần 14, 15: Anh em một nhà

Trang 39

Tuần 16, 17: Thành thị và nông thôn

Tuần 18: Ôn tập cuối học kì I

Tuần 30, 31, 32: Ngôi nhà chung

Tuần 33, 34: Bầu trời và mặt đất

Tuần 35: Ôn tập cuối học kì II

ở lớp 3, nội dung của các bài đọc vẫn đề cập đến vấn đề Nhà trường, Gia

đình, Thiên nhiên - Đất nước Tuy nhiên, các vấn đề này đƣợc xây dựng từ

những chủ điểm hoàn toàn mới so với lớp 2 Chỉ có các chủ điểm từ tuần 1 đến

tuần 6 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) là quen thuộc nhƣng cũng đã đƣợc mở

rộng và nâng cao hơn so với lớp 2

2.1.7 Tiếng Việt 4 tập 1

Gồm các chủ điểm:

Trang 40

Tuần 1, 2, 3: Thương người như thể thương thân

Tuần 4, 5, 6: Măng mọc thẳng

Tuần 7, 8, 9: Trên đôi cánh ước mơ

Tuần 10: Ôn tập giữa học kì I

Tuần 11, 12, 13: Có chí thì nên

Tuần 14, 15, 16, 17: Tiếng sáo diều

Tuần 18: Ôn tập cuối học kì I

2.1.8 Tiếng Việt 4 tập 2

Gồm các chủ điểm:

Tuần 19, 20, 21: Người ta là hoa đất

Tuần 22, 23, 24: Vẻ đẹp muôn màu

Tuần 25, 26, 27: Những người quả cảm

Tuần 28: Ôn tập giữa học kì II

Tuần 29, 30, 31: Khám phá thế giới

Tuần 32, 33, 34: Tình yêu cuộc sống

Tuần 35: Ôn tập cuối học kì II

2.1.9 Tiếng Việt 5 tập 1

Gồm các chủ điểm:

Tuần 1, 2, 3: Việt Nam – Tổ quốc em

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê độ dài trung bình  của các bài tập đọc (văn xuôi) sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 - Nhận xét về các bài tập đọc (văn xuôi) trong sách tiếng Việt lớp 1, 2, 3, 4, 5,
Bảng th ống kê độ dài trung bình của các bài tập đọc (văn xuôi) sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 (Trang 54)
Bảng tỉ lệ câu đơn, câu ghép  trong các bài tập đọc (văn xuôi) sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 - Nhận xét về các bài tập đọc (văn xuôi) trong sách tiếng Việt lớp 1, 2, 3, 4, 5,
Bảng t ỉ lệ câu đơn, câu ghép trong các bài tập đọc (văn xuôi) sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 (Trang 58)
Bảng thống kê từ Hán Việt và từ ấn Âu  trong các bài tập đọc (văn xuôi) của sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 - Nhận xét về các bài tập đọc (văn xuôi) trong sách tiếng Việt lớp 1, 2, 3, 4, 5,
Bảng th ống kê từ Hán Việt và từ ấn Âu trong các bài tập đọc (văn xuôi) của sách Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w