1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét sách giáo khoa ngữ văn các lớp 6,7,8,9 năm học 2008 - 2009 ( Phần văn xuôi

107 957 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Sau khi bộ sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 mới cải cách ra đời, đã có nhiều ý kiến giáo khoa các lớp 6, 7, 8, 9 nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn cấp 2 nói làm 3 phần học Vă

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ TÀI 3

1.1 Đặc điểm của học sinh Trung học cơ sở (lớp 6, 7, 8, 9) 3

1.1.1 Đặt vấn đề tâm sinh lý của học sinh Trung học cơ sở 3

1.1.2 Đặt vấn đề về quá trình nhận thức 4

1.1.3 Đặt vấn đề về nhân cách 6

1.1.4 Đặt vấn đề về năng khiếu 6

1.1.5 Đặt vấn đề về sự lĩnh hội, hình thành kỹ năng, kỹ xảo ở học sinh Trung học cơ sở 7

1.2 Giáo dục và Dạy học 8

1.2.1 Giáo dục 8

1.2.2 Dạy học 8

1.2.3 Bản chất và đặc điểm của hành động dạy học ở Trung học cơ sở 10

1.3 Về chủ trương của Bộ Giáo Dục đào tạo 10

CHƯƠNG 2: 12

SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 6, 7, 8, 9 NĂM HỌC 2008-2009 12

2.1 Sách giáo khoa 12

2.1.1 Sách giáo khoa lớp 6 12

2.1.2 Sách giáo khoa lớp 7 27

2.1.3 Sách giáo khoa lớp 8 34

2.1.4 Sách giáo khoa lớp 9 38

2.2 Nhận xét về chủ điểm và nội dung các bài học 41

2.2.1 Nhận xét về cách đặt tiêu đề và phân đoạn bài học 41

2.2.2 Nhận xét về cách dùng từ ngữ 47

2.2.3 Nhận xét về câu 61

2.2.4 Nhận xét về cách chú thích giải nghĩa 64

Trang 3

2.2.5 Nhận xét cách đặt câu hỏi 67

2.3 Tiểu kết 68

CHƯƠNG 3: CÁC THAY ĐỔI CỦA SÁCH GIÁO KHOA 6, 7, 8, 9 NĂM HỌC 2008-2009 SO VỚI NĂM HỌC 2000-2001 70

3.1 Thay đổi cấu trúc bài học 70

3.2 Thay đổi dấu câu 71

3.2.1 Thay đổi hợp lý 72

3.2.2 Thay đổi không hợp lý 74

Không có trường hợp nào 74

3.3 Thay đổi về từ, về câu 75

3.3.1 Thay đổi hợp lý 75

3.3.2 Thay đổi không hợp lý 76

Không có trường hợp nào 76

3.4 Thay đổi về đoạn văn 76

3.4.1 Thay đổi hợp lý 76

3.4.2 Thay đổi không hợp lý 78

3.5 Thay bài trong cùng chủ điểm 80

3.5.1 Thay đổi hợp lý 80

3.5.2 Thay đổi không hợp lý 81

3.6 Tiểu kết 81

CHƯƠNG 4: 83

CÂU HỎI PHỎNG VẤN VỀ SÁCH GIÁO KHOA 6, 7, 8, 9 NĂM HỌC 2008-2009 83

4.1 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên 84

4.1.1 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 6 84

4.1.2 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 7 85

4.1.3 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 8 87

4.1.4 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với giáo viên lớp 9 88

4.2 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với học sinh 90

Trang 4

4.2.1 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với học sinh lớp 6 90

4.2.2 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với học sinh lớp 7 92

4.2.3 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với học sinh lớp 8 93

4.2.4 Kết quả phỏng vấn về câu hỏi đối với học sinh lớp 9 95

4.3 Tiểu kết 97

KẾT LUẬN 98

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau khi bộ sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 mới cải cách ra đời, đã có nhiều ý kiến

giáo khoa các lớp 6, 7, 8, 9 nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn cấp 2 nói

làm 3 phần học (Văn, Tiếng Việt, và Tập làm văn) với 3 bộ sách tách biệt hẳn là Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn, nhưng hiện nay theo chủ trương của Bộ Giáo dục thì cả 3 phần học này được gộp lại thành một bộ sách chung và được gọi là bài Ngữ Văn, như tên gọi: Ngữ văn lớp 6, Ngữ văn lớp 7… Đã có rất nhiều những bài viết nhận xét, đánh giá, góp ý về các phần của bộ sách hiện nay cũng như bộ sách cũ, nhưng hầu như chỉ là những bài báo, đóng góp nhỏ chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện về bộ sách này

Vì lí do trên, chúng tôi chọn đề tài này để xem xét một cách tương đối toàn diện về các sách giáo khoa Ngữ văn cấp 2 nói chung và phần văn xuôi ngữ văn cấp 2 của năm học 2008-2009 nói riêng (Trong thực tế, chúng tôi đã khảo sát các bộ sách của những năm sau cải cách có tên “Ngữ văn” và trước cải cách có tên “Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn” (xem các phần chương trình)) – Vấn đề trọng tâm ở đây là chúng tôi muốn xem bộ sách này đã thực hiện được mục tiêu của chương trình dạy Ngữ Văn cho học sinh bậc Trung học cơ sở như thế nào Đồng thời chúng tôi cũng có đối chiếu, so sánh với sách cũ để xem sách mới có điều gì cần nói thêm không

2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu:

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những bài văn xuôi trong sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 năm học 2008-2009 của Nhà xuất bản Giáo dục, sau cải cách và sách Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn, trước cải cách năm 2002 (Trong thực tế, chúng tôi

đã khảo sát các bộ sách của những năm sau cải cách có tên “Ngữ văn” và trước cải cách

có tên “Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn”) (xem các phần chương trình)

- Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả những bài văn xuôi trong sách giáo khoa Ngữ văn 6, 7, 8, 9 năm học

2008-2009 (có so sánh, đối chiếu với sách Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn sách năm

Trang 6

2000-2001) Ngoài ra chúng tôi có phỏng vấn giáo viên, học sinh của trường Trung học cơ sở

Vũ Lễ - xã Vũ Lễ - huyện Kiến Xương - Tỉnh Thái Bình

3 Phương pháp nghiên cứu

Để Luận văn được hoàn thành một cách xuất sắc chúng tôi đã sử dụng kết hợp một số thủ pháp, phương pháp trong nghiên cứu ngôn ngữ học như: Thủ pháp Thống kê; Thủ pháp Phân tích; Phương pháp so sánh; Phương pháp miêu tả; và Phương pháp điều tra xã hội học

4 Mục đích và ý nghĩa khoa học của luận văn

- Mục đích: Luận văn sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá về các bài văn xuôi của sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 năm học 2008-2009 một cách khách quan nhất Dựa vào

đó chúng tôi cũng muốn đối chiếu, so sánh thêm với sách cũ để tìm hiểu những ưu điểm, những hạn chế của sách năm học 2008-2009 Đồng thời, chúng tôi cũng mong đưa ra được một số ý kiến đóng góp, kiến nghị để giúp một phần cho người soạn sách hoàn thiện bộ sách hơn

- Ý nghĩa khoa học của luận văn: Từ những kết quả nghiên cứu khách quan của luận văn, chúng tôi chỉ mong muốn đóng góp phần nhỏ ý kiến của mình có thể giúp ích cho người biên soạn sách Và cũng là cứ liệu xác đáng nhất cho những người nghiên cứu sau này đi sâu hơn nữa về việc tìm hiểu, đóng góp ý kiến cho việc xây dựng bộ sách giáo khoa Ngữ Văn Trung học cơ sở được hoàn thiện và phù hợp nhất cho học sinh

5 Cấu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tôi gồm có các phần sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lí luận xung quanh đề tài

Chương 2: Sách giáo khoa Ngữ văn 6, 7, 8, 9 năm học 2008-2009

Chương 3: Câu hỏi trắc nghiệm về sách giáo khoa 6, 7, 8, 9 năm học 2008-2009 Chương 4: Các thay đổi của sách giáo khoa 6, 7, 8, 9 năm học 2008-2009 so với năm học 2004 -2005

Kết luận

Phụ lục

Trang 7

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ TÀI 1.1 Đặc điểm của học sinh Trung học cơ sở (lớp 6, 7, 8, 9)

1.1.1 Đặt vấn đề tâm sinh lý của học sinh Trung học cơ sở

Học sinh Trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như:

“tuổi khó bảo“,“tuổi bất trị”, “tuổi khủng hoảng” Hiện nay do được ăn uống đầy đủ nên tuổi dậy thì của các em đã “kéo xuống” ở đầu bậc Trung học cơ sở

Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Các em không còn trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn người lớn, tâm trạng tồn tại song song kiểu “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn” Các em đòi hỏi mình cần được tôn trọng nhân cách, cần được phát huy tính độc lập nhưng cũng rất cần đến

sự chăm sóc chu đáo và đối xử tế nhị Thiếu niên dễ có phản ứng mãnh liệt trước sự đánh giá, nhất là sự đánh giá thiếu công bằng của người lớn Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính chất bồng bột, hăng say, sôi nổi dễ bị kích động và dễ thay đổi Tuy nhiên các em học sinh Trung học cơ sở cần phát triển mọi mặt từ tình cảm, thể chất,… hơn các em học sinh tiểu học

Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện Những đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng ở lứa tuổi thiếu niên được mô tả ở trên cho thấy, lứa tuổi này là lứa tuổi khó dạy, đặc biệt với các em nam Với tư cách là nơi giáo dục chính thống cho trẻ - nhà trường, mà cụ thể là các thầy cô giáo cần biết

về sự phát triển của học sinh, để có cách cư xử đúng đắn nhất với các em cũng như trong giải quyết các vấn đề liên quan đến các sản phẩm giáo dục của mình Có như

Trang 8

vậy, quan hệ thầy – trò mới trở thành nền tảng vững chắc, và các trò sau này cũng trở thành những người tri thức góp phần xây dựng xã hội ngày càng giàu đẹp hơn sánh ngang với các cường quốc năm châu

1.1.2 Đặt vấn đề về quá trình nhận thức

Quá trình nhận thức của các em Học sinh Trung học cơ sở cao hơn các em ở bậc tiểu học rất nhiều cả về sách vở lẫn kiến thức ngoài cuộc sống Về sách vở, những kiến thức trong nhà trường các em có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ, khái niệm Các em có những kỹ năng tổ chức hoạt động tư duy, biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tài liệu Kỹ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ của thiếu niên được phát triển ở mức độ cao, các em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn Các em thường phản đối các yêu cầu của giáo viên bắt học thuộc lòng từng câu, từng chữ có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình Về nhận thức ngoài xã hội các em nhận thức được vị trí của mình trong xã hội và luôn muốn tìm hiểu khám phá thế giới rộng lớn hơn trường lớp Chính vì vậy các em ở

độ tuổi mới lớn này rất dễ mắc sai lầm nếu không kịp thời gần gũi tìm hiểu các em, sát cánh cùng các em

Về trí tuệ, các em học sinh Trung học cơ sở có trí nhớ phát triển tăng dần theo từng lớp và được thay đổi về chất, đặc biệt trí nhớ ý nghĩa, chú ý có chủ định,

tư duy lôgic và trừu tượng cũng phát triển mạnh Đặc điểm cơ bản của trí nhớ ở lứa tuổi này là sự tăng cường tính chất chủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao Các em hoàn toàn có khả năng tiếp thu các khái niệm Toán học, Vật lý học và Triết học trừu tượng…

Về tri giác, các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiện tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn

Trang 9

Về tư duy, hoạt động tư duy của học sinh Trung học cơ sở có những biến đổi

cơ bản: Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên Những thành phần của tư duy hình tượng - cụ thể vẫn được tiếp tục phát triển, nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy; Các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp Khi nắm khái niệm các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức; Ở tuổi thiếu niên, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức

Từ những đặc điểm trên, cả gia đình và nhà trường nhất là các thầy cô giáo là những người gần gũi trực tiếp dạy dỗ các em nên chú ý tới các em hơn, cần phải biết nên dạy các em cái gì, điều gì, ví dụ: Phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh Trung học cơ sở để làm cơ sở cho việc lĩnh hội khái niệm khoa học trong chương trình học tập Dạy cho học sinh phương pháp ghi nhớ lôgic nhưng phải chính xác những định nghĩa, những qui luật, nếu ghi nhớ thiếu một từ nào đó thì ý nghĩa của

nó không còn chính xác nữa Ngoài ra cần chỉ dẫn cho các em những biện pháp để rèn luyện kỹ năng suy nghĩ có phê phán và độc lập Và cần chỉ cho các em thiết lập các mối liên tưởng ngày càng phức tạp hơn, gắn tài liệu mới với tài liệu cũ, giúp cho việc lĩnh hội tri thức có hệ thống hơn, đưa tài liệu cũ vào hệ thống tri thức…

Bài Ngữ Văn có nhiều lợi thế để hình thành tư duy hình tượng cho học sinh

vì chữ viết được xem là một biểu tượng Học chữ là một trong những con đường để hình thành biểu tượng Việc tích hợp dạy Ngữ Văn được xem là biện pháp để hình thành và phát triển tư duy hình tượng văn học cho các em Các em được rèn luyện các em sẽ biết cách xử lý mọi tình huống và độc lập trong suy nghĩ, tự phát triển mình cả trong nhà trường và ngoài xã hội

Trang 10

1.1.3 Đặt vấn đề về nhân cách

Một trong những đặc điểm quan trọng của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi Trung học cơ sở là sự hình thành tự ý thức Mức độ tự ý thức của các em cũng có sự khác nhau về nội dung và về cách thức

Về nội dung, không phải tất cả những phẩm chất của nhân cách các em đều ý thức được hết Ban đầu các em chỉ nhận thức hành vi của mình, sau đó là nhận thức những phẩm chất đạo đức, tính cách và năng lực của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối cùng các em mới nhận thức những phẩm chất phức tạp thể hiện nhiều mặt của nhân cách (tình cảm, trách nhiệm, lòng tự trọng…)

Về cách thức, ban đầu các em còn dựa vào đánh giá của những người gần gũi

và có uy tín với mình Dần dần các em hình thành khuynh hướng độc lập phân tích

và đánh giá bản thân Nhưng khả năng tự đánh giá của thiếu niên còn hạn chế, chưa

đủ khách quan… Do đó, nảy sinh những xung đột, mâu thuẫn giữa mức độ kì vọng của các em với địa vị thực tế của chúng trong tập thể; mâu thuẫn giữa thái độ của các em đối với bản thân, đối với những phẩm chất nhân cách của mình và thái độ của các em đối với người lớn, đối với bạn bè cùng lứa tuổi

Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc Vì lí do đó mà môi trường giáo dục, cách thức giáo dục trẻ rất quan trọng nhất là giai đoạn trẻ ở độ tuổi bướng bỉnh này Cần có phương pháp hay định hướng cho các em để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội

1.1.4 Đặt vấn đề về năng khiếu

Năng khiếu được hiểu theo rất nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên): năng khiếu là tập hợp những tư chất bẩm sinh, nét đặc trưng và tính chất đặc thù làm tiền đề bẩm sinh cho năng lực

Tâm lý học nhân cách (Nguyễn Ngọc Bích): Năng khiếu là những tiền đề bẩm sinh, những khuynh hướng đầu tiên tạo điều kiện cho năng lực và tài năng phát sinh Nó bao gồm những đặc điểm tâm sinh lý giải phẫu của hệ thống thần kinh và khuynh hướng tâm lý đầu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một năng lực nào đó

Trang 11

Trẻ có năng khiếu thường có ý chí, tình cảm đặc biệt với hoạt động đặc biệt nào đó Năng khiếu tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành năng lực và tài năng Nghĩa là không phải trẻ nào có năng khiếu cũng là thiên tài Một em có năng khiếu đối với hoạt động nào đó không nhất thiết sẽ trở thành tài năng trong lĩnh vực ấy và ngược lại

Trẻ có năng khiếu không nhất thiết là chỉ có năng khiếu về âm nhạc, hội họa

mà ngoài ra các em còn có năng khiếu về toán học, văn học, sử học… những năng khiếu này phải đến cấp Trung học cơ sở các em mới được bộc lộ rõ ràng Nếu trẻ có năng khiếu về lĩnh vực nào thì giáo dục theo hướng phát triển về lĩnh vực đó đúng phương pháp, đúng sở trường của các em chỉ khi đó năng khiếu của các em mới được phát triển tối đa

Khi phát hiện ra trẻ có năng khiếu cả nhà trường và gia đình nên tạo điều kiện cho các em được phát triển theo đúng sở trường của mình, để lớn lên các em sẽ trở thành người tài giỏi giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội

1.1.5 Đặt vấn đề về sự lĩnh hội, hình thành kỹ năng, kỹ xảo ở học sinh Trung học cơ sở

Những kiến thức học sinh Trung học cơ sở học càng ngày càng khó và những kiến thức này có ảnh hưởng quan trọng trong các cấp sau này nên học sinh càng phải nhớ nhiều và lâu hơn Để có thể giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách hiệu quả nhất, người giáo viên cần truyền thụ những tri thức về phương pháp để học sinh biết cách học, biết cách suy luận, biết cách tìm lại những điều đã quên, và biết cách tìm tòi phát hiện kiến thức mới

Kỹ năng, kỹ xảo lĩnh hội tri thức được hình thành từ nội dung giáo dục quy định trong chương trình học như kĩ năng đọc, viết, tính toán,… Mỗi môn học đều tiềm ẩn một kĩ năng riêng, giáo viên phải hướng dẫn các em hiểu và khám phá được hướng đi đúng cho riêng mình Các kĩ năng, kĩ xảo được học sinh vận dụng tri thức trong quá trình học tập lấy kiến thức bài hôm trước vận dụng bài hôm sau hoặc kiến thức trong sách vở được học sinh vận dụng vào trong cuộc sống đem lại kết quả tốt

Trang 12

1.2 Giáo dục và Dạy học

1.2.1 Giáo dục

Giáo dục hiểu theo Wikipedia.org là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại

Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh

"Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra" Có thể hiểu "giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục"

Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ

sự hiểu biết Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần, cách ứng xử trong xã hội

Còn theo “Đề cương bài giảng Giáo dục học, Trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội”: “Quá trình giáo dục là một quá trình có tính chất xã hội hình thành con người, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, căn cứ vào những mục đích và những điều kiện do xã hội quy định, được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục và học tập và được tiến hành trong các mối quan hệ xã hội giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người”

1.2.2 Dạy học

Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh

Trang 13

Sách giáo khoa cụ thể hóa về yêu cầu nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các bài học ở mỗi lớp Tuy nhiên đối với bài Ngữ Văn cần phải đạt ba tiêu chuẩn sau cho học sinh: Trí dục, Đức dục và Mỹ dục

(1) Trí dục: Có nhiệm vụ làm cho học sinh nắm được một cách vững chắc hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản, những tri thức khoa học kĩ thuật thực tiễn, hiện đại; nắm được các kĩ năng vận dụng, có thói quen thực hành các tri thức để giải quyết những nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn; hình thành được những cơ sở của thế giới quan khoa học và phương pháp tư duy biện chứng duy vật; phát triển những năng lực nhận thức và hình thành các phẩm chất tư duy tích cực; hình thành nhu cầu

và hứng thú nhận thức, học tập tiếp tục, suốt đời, phương pháp tự học và những cơ

sở của văn hóa lao động trí óc

(2) Đức dục: Có nhiệm vụ làm học sinh tiếp thu được những cơ sở của thế giới quan khoa học; nắm được những vấn đề chủ yếu trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; giác ngộ và thấm nhuần các chuẩn mực và quy tắc đạo đức, các phẩm chất tốt đẹp của truyền thống dân tộc; tham gia tích cực, tự giác và có hiệu quả các hoạt động chính trị, xã hội, có bản lĩnh để đấu tranh chống các tư tưởng thù địch, phản động, chống lối sống lạc hậu, bài trừ hủ tục, mê tính dị đoan

(3) Mĩ dục: Có nhiệm vụ làm cho học sinh phát triển cảm xúc thẩm mĩ, năng lực cảm thụ cái đẹp; hình thành thị hiếu thẩm mĩ, năng lực đánh giá thẩm mĩ; có thái độ thẩm mĩ tích cực, có nhu cầu và năng lực biểu hiện và sáng tạo cái đẹp

Chức năng hoạt động của người giáo viên là chức năng giáo dục và chức năng dạy học

(1) Chức năng giáo dục: Thông qua hoạt động giảng dạy, giáo viên có trách nhiệm truyền thụ cho học sinh lí tưởng và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng những phẩm chất cao quý, năng lực, trí tuệ và năng lực hành động của con người trong xã hội mới

(2) Chức năng dạy học: Thông qua hoạt động giảng dạy, người giáo viên trực tiếp truyền thụ các tri thức chuyên bài và rèn luyện các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh

Trang 14

Trong thực tế giảng dạy, mỗi bài trong hệ thống bài học của mỗi bài hay mỗi

đề mục có mục đích giảng dạy, nội dung và phương pháp tiến hành riêng Những nhân tố này quyết định cấu trúc của bài học, đặc tính làm việc của giáo viên và học sinh Bài học rất đa dạng nhưng các bài giảng đều phải thỏa mãn một số yêu cầu chung để tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả của bài giảng:

(Đề cương bài giảng Lý luận dạy học, Trương Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục

Hà Nội)

1.2.3 Bản chất và đặc điểm của hành động dạy học ở Trung học cơ sở

Hoạt động dạy học ở Trung học cơ sở là theo từng môn học được chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của giáo viên bộ môn tương ứng Điều này khác với hoạt động dạy học ở tiểu học, mỗi môn học được hướng dẫn bởi một giáo viên có phong cách, phương pháp, trình độ, … dạy học riêng nên tạo ra sự đa dạng trong dạy học Vấn

đề này cũng ảnh hưởng đến nhân cách của học sinh Giáo viên cần cải tiến phương pháp cho phù hợp với đặc điểm môn mình đảm nhiệm cũng như đặc điểm từng học sinh

Trong quá trình dạy học giáo viên nên tìm hiểu tâm lý của học sinh, cảm giác, tri giác, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, hứng thú, chú ý, trạng thái tâm lý Đây là đặc điểm cơ bản của hoạt động dạy học ở trường Trung học cơ sở

1.3 Về chủ trương của Bộ Giáo Dục đào tạo

Bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học cơ sở (THCS) được biên soạn theo chương trình Trung học cơ sở ban hành kèm theo Quyết Định số 03/2002/QĐ – BGD & ĐT, ngày 44 tháng 1 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo, cụ thể theo hương “tích hợp” ba phân bài Văn, Tập làm văn và Tiếng Việt gộp làm một

Theo “Chương trình Trung học phổ thông bài Ngữ văn - Bộ GD&ĐT, năm

2002” về quan điểm “Tích hợp”: “Quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và

Trang 15

phải được quán triệt trong toàn bộ bài học: từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của học sinh, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em mới tự tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và như vậy đào tạo mới có kết quả”

Trang 16

từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 (2 tiết); Phần ba: Văn học nước ngoài, gồm 06 văn bản thơ và truyện dạy trong 06 bài; Phần đọc thêm (03 truyện)

+ Nội dung chương trình ở Văn học 6 tập II như sau: “Phần một: Văn học dân gian, gồm: “truyện cổ tích (06 truyện); Truyện ngụ ngôn (04 truyện); Đọc thêm (06 truyện); Ôn tập về truyện cổ tích – truyện ngụ ngôn Tất cả các nội dung ở phần một này đã được soạn trong 03 bài Phần hai: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 (08 văn bản thơ và truyện trong 08 bài); Đọc thêm (03 văn bản);

và “Ôn tập về Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 (Bài 9) Nội dung phần hai được soạn trong 09 bài học; Phần ba: Văn học nước ngoài, gồm 02 văn bản trong 02 bài học; 01 bài học “Ôn tập về Văn học nước ngoài; và Đọc thêm, gồm 03 văn bản thơ và truyện”

- Khung chương trình Văn học ở Ngữ Văn 6 (sau cải cách) cũng được bố trí dạy trong 02 học kỳ, ở Ngữ Văn 6 tập I và Ngữ Văn 6 tập hai (Ngữ Văn 6 tập I) và (Ngữ Văn 6 tập II)

Trang 17

Tuy nhiên, khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 6 tập I và Ngữ Văn 6 tập II đều được soạn thảo rất khác so với khung chương trình Văn học của Văn học

6 tập I và Văn học 6 tập II

+ Nhìn chung, khung chương trình Văn học 6 (trước cải cách) như trên đã nói được soạn thảo dạy cho học sinh ở cả 02 học kỳ, và mỗi học kỳ đều có đủ 03 phần: Phần một: Văn học dân gian; Phần hai: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945; Phần ba: Văn học nước ngoài

Văn học dân gian ở Văn học 6 tập I có 06 bài học, gồm 11 truyện, chia theo:

“Thần thoại (02); Những truyền thuyết về thời các vua Hùng (03 truyện); Những truyền thuyết sau thời các vua Hùng (02 truyện); 04 truyện đọc thêm; 01 bài mở đầu; 01 bài Văn học dân gian là gì? Và 01 bài Ôn tập về thần thoại, truyền thuyết

Văn học dân gian ở Văn học 6 tập II, có 03 bài học, gồm 16 truyện chia theo:

“truyện cổ tích (06 truyện); và 01 bài “Ôn tập về truyện cổ tích – truyện ngụ ngôn”

Qua đây, có thể nói, chương trình về Văn học dân gian ở Văn học 6 (trước cải cách) có tính sư phạm và khoa học, phân chia tương đối rành mạch, cụ thể và phong phú về nội dung nên học sinh chắc dễ tiếp thu và học tập được nhiều, nhất là đối với việc phân loại và phân kỳ về Văn học dân gian theo tiến trình lịch sử của vấn đề

+ Ở khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 6, sách sau cải cách thì khác Chương trình về Văn học dân gian chỉ dạy ở học kỳ I trong Ngữ Văn 6, tập I (Ngữ Văn 6 tập I), gồm có 20 truyện cả thảy, được soạn thảo trong 16 bài, và cũng hoàn toàn không phân loại và phân kỳ theo lịch sử của vấn đề như trong sách giáo khoa Văn học 6, trước cải cách

Về Văn học dân gian trong tổng số 47 truyện chỉ có khoảng 10 truyện giống nhau giữa 2 khung chương trình của sách giáo khoa trước và sau cải cách (Văn học

6 và Ngữ Văn 6) – Đó là các truyện: “Con rồng cháu tiên; Sơn tinh Thủy tinh; Thánh Gióng; Sự tích Hồ Gươm; Bánh chưng, bánh giày; Sọ Dừa; Em bé thông minh; Thày bói xem voi; Đeo nhạc cho mèo; Chân, tay, tai, mũi, miệng”

Trang 18

+ Tuy nhiên, cái khác ở đây lại có “Chương trình địa phương (phần Văn và Tập làm văn)”, gồm 02 phần: “I Tìm hiểu ở nhà: Có nội dung vắn tắt như: - Hãy tìm hiểu, quê hương nơi mình đang sinh sống có các thể loại truyện như đã học mà thể hiện rõ màu sắc địa phương…, Những truyện dân gian địa phương ấy giống và khác gì với những truyện dân gian đã học; Ở địa phương còn có các sinh hoạt Văn học dân gian nào khác (chọi gà, chọi trâu, chơi đu, đấu vật, hát quan họ, v.v…) Cuối cùng, mỗi học sinh sẽ phải tập kể lại 01 truyện hoặc tập giới thiệu một trò chơi địa phương trước lớp II Hoạt động trên lớp: Trao đổi nhóm; Lựa chọn nội dung sẽ trình bày trước lớp: Kể miệng; đọc truyện đã sưu tầm được; giới thiệu hoặc biểu diễn trò chơi dân gian địa phương mà mình yêu thích, v.v… Đây là một dạng trình bày có chọn lọc rất hữu ích với học sinh Trung học cơ sở vì tính giáo dục qua thực tiễn, nhưng thực sự phải được thực hiện một cách nghiêm túc và phải được tổng kết đúng đắn, rút ra được những ưu khuyết điểm nhất định để hoàn thiện và tiếp tục chương trình…

b) So sánh phần Tiếng Việt lớp 6 trước cải cách và phần Tiếng Việt trong sách Ngữ văn lớp 6 sau cải cách (xem phần Phụ lục):

Trang 19

+ “Từ mượn”, sách giáo khoa trước cải cách, xếp ở tiết 8, còn ở sách giáo khoa sau cải cách lại ở Bài 2, tiết thứ 2

- Sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I) không có đến 08 bài học so với sách trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I) Đó là: Từ đồng nghĩa; - Từ trái nghĩa; -

Từ đồng âm; - Cấu tạo từ ghép; - Nghĩa của từ ghép; - Cấu tạo của từ ghép Hán Việt; - Nghĩa của yếu tố Hán Việt; - Mở rộng vốn yếu tố Hán Việt

- Sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I) không có đến 09 bài học

so với sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I) Đó là: - Chữa lỗi dùng từ; - Danh từ; - Cụm danh từ; - Số từ và lượng từ; - Chỉ từ; - Động từ, Cụm động từ; - Tính từ và Cụm tính từ; - Chương trình địa phương; - Rèn luyện chính tả; - Ôn tập tiếng Việt; - Kiểm tra tiếng Việt

- Các bài học được sắp xếp theo trình tự từng tiết một như: Tiết 1, 2, 3, 5, 6,

7, 8, 9, 10, 11, 14, 16 ở sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I) Còn ở sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I) lại được bố trí theo từng bài như: Bài

1, Bài 2, Bài 3, Bài 5, Bài 6, 7, Bài 8,10, Bài 11, Bài 12, Bài 13, Bài 14, Bài 15, Bài

16, Bài 17, mà phần tiếng Việt chỉ là những tiết học xen kẽ trong từng bài

- Về cấu tạo nội dung bài học của Ngữ Văn 6 tập I so với Tiếng Việt 6 tập I

- Ở sách Ngữ Văn 6 tập I sau cải cách, mục “Từ và cấu tạo từ” được xếp ở Bài 1, tiết thứ 3, sau 02 văn bản có tên là “Con rồng cháu tiên” và “Bánh chưng bánh dày” Tiết cuối của Bài 1 là “Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt” Mục “Từ và cấu tạo từ” gồm 04 nội dung được đánh số như sau: “I Từ là gì”; “II

Từ đơn và từ phức”; “III Luyện tập; Đọc thêm Và tất cả các nội dung trên chỉ được trình bày từ trang 13 đến nửa trang 15, trong đó có 02 phần “ghi nhớ” Ghi nhớ thứ nhất (trang 13) là: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu” Ghi nhớ thứ hai (trang 14) là: “Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ Từ gồm một tiếng là từ đơn Từ gồm hai tiếng hoặc nhiều tiếng là từ phức Những từ phức ghép các tiếng có quan

hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép Còn những tiếng có quan hệ láy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy”

Trang 20

Các ví dụ được dùng cho mục “Từ là gì” và cho mục “Từ đơn và từ phức” (Trang 13) đều được trích ở văn bản “Con rồng cháu Tiên” và “Bánh chưng bánh dày” cùng ở Bài 1 Cụ thể như sau: “1 Lập danh sách các tiếng và danh sách các từ trong câu sau, biết rằng mỗi từ đã được phân cách với từ khác bằng dấu gạch chéo: Thần / dạy / dân / cách / trồng trọt / chăn nuôi / và / cách / ăn ở/ (Con rồng cháu tiên) “2 Dựa vào những kiến thức đã học ở bậc tiểu học, hãy điền các từ trong câu dưới đây vào bảng phân loại: Từ / đấy / nước / ta / chăm / nghề / trồng trọt / chăn nuôi / và / có / tục / ngày / tết / làm / bánh chưng / bánh giầy / (Bánh chưng bánh giầy)

Ở phần luyện tập trang 14 cũng vậy, đa phần những tư liệu được trích làm bài tập đều lấy ngay trong Bài 1, từ các văn bản “Con Rồng cháu Tiên” và “Bánh chưng bành giầy”

Trong khi đó, bài “Từ, từ đơn và từ phức” ở tiếng Việt 6, tập I (trước cải cách) lại để ở phần Từ ngữ, tiết 1 Cái khác khá cơ bản so với Ngữ Văn 6 tập I sau cải cách, là trong mục Bài học ở sách này (trang 04) có nêu một “định nghĩa” về từ như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa biểu thị sự vật, hoạt động, tính chất, số lượng, quan hệ biểu thị sự nghi vấn, sự xúc cảm,v.v” Có thể nói, định nghĩa từ là một việc làm vô cùng khó Trong ngôn ngữ học đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về từ Cách định nghĩa tốt nhất, phù hợp nhất cho học sinh Trung học cơ sở là chỉ ra cụ thể các hiện tượng ngôn ngữ được coi là từ Sách Tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) đã dùng cách định nghĩa này, tức là sách đã chỉ ra được các loại thực từ (danh từ, động từ, tính từ), số từ, hư từ (các từ biểu thị các quan hệ ngữ pháp), các

từ chỉ sự nghi vấn, xúc cảm,v.v Tuy vậy, còn với các từ loại khác như đại từ (này, kia, đó, nọ, ấy…), cảm thán từ (ôi, ái, ối…) thì sao? Thêm nữa, những thực từ có nghĩa trừu tượng thì cũng sẽ không lọt được vào định nghĩa này của sách?

Còn cái khác nữa ở đây so với Ngữ Văn 6 tập I (sau cải cách) là bên cạnh việc sách này Tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) đã nói đến từ, từ đơn thì cũng chỉ nói đến khái niệm của từ phức nói chung: “… Từ gồm có hai hay nhiều tiếng gọi là

từ phức” (trang 04), chứ chưa cho biết khi nào được gọi là từ ghép và khi nào là từ

Trang 21

láy Phần được gọi là “ghi nhớ” cho toàn bài của sách được ký hiệu bằng 02 gạch dọc song song, có nội dung như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa, dùng để đặt câu Từ chỉ có một tiếng là từ đơn Từ có hai hoặc nhiều tiếng là từ phức” (trang 04)

- Mục “Từ mượn” ở Ngữ Văn 6, tập I (sau cải cách), được xếp ở Bài 2, tiết 2 (từ trang 24 đến trang 27), gồm: “I Từ thuần Việt và tự mượn”, có phần “ghi nhớ” khá cơ bản, tóm tắt như sau: “Ngoài từ Thuần Việt… chúng ta còn vay mượn nhiều từ… mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị Đó là từ mượn Bộ phận từ mượn quan trọng nhất… là từ mượn tiếng Hán (từ gốc Hán và từ Hán – Việt), bên cạnh đó còn mượn từ của tiếng Pháp, Anh, Nga… Các từ mượn đã được Việt hóa thì viết như thuần Việt Với những từ mượn chưa Việt hóa hoàn toàn… những từ gồm trên hai tiếng nên dùng gạch nối…” (trang 25) Ở “Nguyên tắc mượn từ”, có một đoạn trích bài viết của Hồ Chủ tịch về việc dùng từ mượn và phần “ghi nhớ” ngắn, gọn: “Mượn từ là một cách làm giàu tiếng Việt Tuy nhiên, để bảo vệ sự trong sánh của ngôn ngữ dân tộc, không nên mượn từ nước ngoài một cách tùy tiện” (trang 25) Phần luyện tập của sách này chú trọng đến mục đích cần đạt với học sinh Trung học cơ sở là “hiểu được thế nào là từ mượn (đặc biệt là từ Hán Việt) và bước đầu biết cách sử dụng từ mượn” (trang 26) Ngoài ra, còn bài “Bác Hồ nói về việc dùng từ mượn” làm bài đọc thêm (trang 27)

Trong khi đó, “Từ mượn” ở sách Tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) lại được

bố trí mãi ở tiết thứ 8 (từ trang 17 đến trang 19), gồm 03 phần: “Tìm hiểu bài”, “Bài học”, với phần ghi nhớ: “Về mặt nguồn gốc, từ tiếng Việt chia thành 02 lớp: Từ thuần Việt và từ mượn Trong từ mượn, từ Hán Việt (mượn của tiếng Hán) ? là một

bộ phận khá quan trọng Ngoài ra, còn có những từ mượn của các ngôn ngữ khác, như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga (trang 18) Phần “bài tập” bố trí ở trang 18, trang 19

- Mục “Nghĩa của từ” ở Ngữ Văn 6 tập I (sau cải cách), được xếp ở Bài 3, tiết 2 (từ trang 35 đến trang 37), gồm 03 nội dung: “Nghĩa của từ là gì?” Để trả lời, soạn giả dẫn ra 03 chú thích trong những bài văn đã học Đó là: “- Tập quán thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc, v.v,) được hình thành từ lâu trong

Trang 22

đời sống, được mọi người làm theo; - lẫm liệt: hùng dũng, oai nghiêm; - nao núng: lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa” Rồi, sách đặt ra cho học sinh 03 câu hỏi: “1 Mỗi chú thích trên gồm mấy bộ phận? 2 Bộ phận nào trong chú thích nêu lên nghĩa của từ? 3 Nghĩa của từ ứng với phần nào trong mô hình: Hình thức/nội dung? “Kèm theo phần ghi nhớ: “Nghĩa của từ là nội dung/ sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ…) mà từ biểu thị” Trong “cách giải thích nghĩa của từ” có 02 câu hỏi được nêu thêm: 1 Đọc lại các chú thích đã dẫn ở phần trên; 2 Trong mỗi chú thích trên, nghĩa của từ đã được giải thích bằng cách nào? “Phần ghi nhớ”: “Có thể giải thích nghĩa của từ băng 2 cách chính như sau: - Trình bày khái niệm của từ biểu thị; - Đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích”

Trong khi đó, “Nghĩa của từ” ở tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) được giới thiệu ở tiết 2 (trang 05, trang 06, trang 07) Trong phần “Bài học” sách nêu: “Nghĩa của từ là cái sự vật, hoạt động, tính chất, số lượng,v.v mà từ biểu thị (trang 05) Theo định nghĩa này, sách mới chỉ nêu được phần sự vật trong nghĩa của từ Điều này mới đúng với nghĩa của những từ cụ thể, tức là những từ chỉ các sự vật, các hiện tượng tồn tại trong thực tế Còn với những từ trừu tượng, tuy cũng là những thực từ, nhưng nghĩa của chúng lại thiên về biểu hiện khái niệm thì hình như định nghĩa này của sách sẽ là không phù hợp Do đó, theo chúng tôi, khi dạy về “nghĩa của từ”, cần phải nêu cả khái niệm mà từ biểu thị nữa

Ở trang 06 sách tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) đã dạy học sinh rằng muốn hiểu nghĩa của từ cần phải trực tiếp tiếp xúc với sự vật, hoạt động, tính chất, v.v mà

từ đó biểu thị, hoặc có thể xem hình ảnh trên sách báo, trên truyền hình, hoặc nghe lời giải thích của những người lớn, hiểu biết Đặc biệt là nên tra từ điển (từ điển học sinh)… Như vậy, sách đã quan tâm khá chu đáo, thiết thực trong hướng dẫn chỉ bảo cho học sinh bậc Trung học cơ sở Tuy vậy, ở phần “bài tập”, sách lại yêu cầu học sinh giải thích nghĩa của từ được dùng trong một số đoạn văn được trích từ tác phẩm của Tô Hoài (trang 07) Xin tóm lược vài câu làm ví dụ: “Mưa đã ngớt Trời rạng dần Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran Mưa tạnh…” Rồi bài tập yêu cầu các em phải giải thích nghĩa của những từ có gạch

Trang 23

chân Nhiệm vụ này, theo chúng tôi quả là hết sức khó, đối với học sinh, thậm chí còn khá khó và khá phức tạp ngay cả đối với các nhà biên soạn từ điển chuyên nghiệp! Quả thật, trong thực tế, có lẽ ai cũng hiểu được nghĩa của các từ như: nhà, cửa, mây, núi, chạy, đứng, ngồi, xanh, đen, đỏ, v.v…, nhưng giải thích chúng thành lời… thì quả thực đâu phải dễ Hình như, từ càng có nghĩa dễ hiểu thì lại càng khó định nghĩa! Vì vậy, phải chăng việc học sinh không giải thích được, không định nghĩa được một từ nào đó thì chưa hẳn điều này đã chứng tỏ rằng các em đã không hiểu nghĩa của từ ấy?

- Mục “Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ” ở Ngữ Văn 6, tập

I (sau cải cách), được xếp trong Bài 5, tiết thứ 2 (trang 55, trang 56, trang 57, trang 58) Mở bài, soạn giả giới thiệu ngay một bài thơ ngắn của Vũ Quần Phương, nói về

“Những cái chân nhằm dạy cho học sinh về từ nhiều nghĩa”:

Tiếp đó, soạn giả dạy các em tra từ điển về từ “chân” (trong bài thơ) cũng như cho một số từ chỉ gồm có 01 định nghĩa (com pa, kiềng) Ở cuối mục, có “ghi nhớ”: “Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa” (trang 56)

Còn ở sách tiếng Việt 6, tập I (trước cải cách) thì sao? Mục “Từ nhiều nghĩa”, được xếp ở tiết 3 (trang 07, trang 08) Trong phần “Tìm hiểu bài” (trang 07), ngay đầu tiên soạn giả đã ra 02 câu mẫu dùng làm ví dụ và đã yêu cầu học sinh

“nói rõ nghĩa của từ “reo”… trong đó: a) “Thấy mẹ đi chợ về, em bé reo lên…” và câu ví dụ thứ hai là một đoạn thơ ngắn của tác giả Lê Anh Xuân: b) “Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ/ Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ/ Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió/ Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ…” Ta lại bắt gặp một yêu cầu quá sức nữa với học sinh Trung học cơ sở!

Câu hỏi tiếp đó, ở ngay dưới bài thơ, lại cũng rất khó trả lời ngay cả với chúng ta, chứ đừng nói với các em học sinh Trung học cơ sở! “Dựa vào đâu để chúng ta nói nghĩa của từ reo ở (a) và (b) khác nhau?”

Tiết 4 sau đó là phần “Luyện tập” (trang 09, trang 10, trang 11) Câu 2 (trang 10), ở đây nêu lên những ví dụ cho việc yêu cầu “giải thích nghĩa của các từ được in đậm (gạch chân) trong các câu sau đây: (xin trích một số làm dẫn chứng: “Một hôm

Trang 24

thần vươn vai đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên Thần đào đất khuân đá, đắp thành một cái cột vừa to để chống trời”.; - “Ngoài trời, mưa mỗi lúc một mau hơn” ; - “… Phải làm như thế để các con biết kiếm ăn một mình cho quen đi…”, v.v (trang 10, trang 11)

Ở Ngữ Văn 6 tập I (sau cải cách), ngược lại, trong phần “Luyện tập”, còn có những bài học rất tốt dành cho việc rèn luyện cho học sinh về hiện tượng “từ nhiều nghĩa” và hiện tượng “chuyển nghĩa của từ” Xem bài “Nghĩa của từ “bụng” của tác giả Hoàng Dĩ Đình (trang 57) và bài “Về từ ngọt của tác giả Đào Thân (trang 57, trang 58)

Tóm tắt khung chương trình tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách) và Ngữ Văn

6 tập II (sau cải cách):

Nhận xét

- Trong chương trình của tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách) có chia thành 02 phần: “Từ ngữ” và “Ngữ pháp” Ở sách Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) không thấy chia như vậy

- Trong chương trình của Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) chỉ có duy nhất 02 bài học giống về tên gọi so với Tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách) Đó là các bài học: “So sánh” và “ Nhân hóa” Tất cả các bài học khác đều khác nhau hoàn toàn (xem bảng so sánh tên các bài học của sách giáo khoa trước và sau cải cách, trang 01)

- Bài học “So sánh” ở Tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách)được xếp ở tiết 23, trong phần “Từ ngữ” (các trang 13, 14, 15, 16) Phần “Bài học” ở sách này, có đoạn giải nghĩa: “So sánh gồm có hai vế Vế A là vế được so sánh, vế B là về dùng để so sánh Giữa A và B có từ so sánh: như, giống, giống như, dường như, như thể, là, v.v… Có khi lồng: bao nhiêu, bấy nhiêu,v…v… vào A và B để diễn tả so sánh” Sau đó, sách nêu các ví dụ (a), (b), và (c) (trang 14,15) Cuối phần “Bài học”, có đoạn, được ký hiệu bằng hai đường dọc song song: “So sánh là đối chiếu hai hay nhiều sự vật, sự việc cùng có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả một cách hình ảnh (?), đặc điểm của một sự vật, sự việc”

Trang 25

Trong khi đó, “So sánh” ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách)), được dạy ở hai bài: bài 19 và bài 21 Ở bài 19 (trang 24, 25, 26), cuối phần “So sánh là gì?”, có ghi nhớ: “So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt” Tiếp đến, ở cuối phần

“Cấu tạo của phép so sánh”, lại có đoạn “ghi nhớ” khá hoàn chỉnh:

+ Mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

Vế A (nếu tên sự vật, sự việc được so sánh)

Vế B (nếu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A);

Từ ngữ chỉ phương diện so sánh; Từ ngữ chỉ ý so sánh (gọi tắt là từ so sánh)

+ Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể biến đổi ít nhiều:

Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt

Vế B có thể được đảo lên trước vế A cùng với từ so sánh (trang 25) Sau phần “Luyện tập” (trang 25, 26), sang phần “Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả”, tuy soạn giả muốn dùng các trang này (trang 27, 28, 29

và 30) để dạy học sinh về việc viết văn miêu tả, nhưng hầu như tất thảy các đoạn văn được trích dẫn, kèm theo các câu hỏi đều được kết hợp khá nhuần nhuyễn với những kiến thức ngôn ngữ trong phép tu từ (phép so sánh) được dùng để giảng giải thêm

Bài “So sánh” ở trang 41, 42, 43 là bài 21, gồm có các phần: “Các kiểu so sánh” (trang 41, 42), kèm “ghi nhớ”: “Có hai kiểu so sánh” ở phần “tác dụng của so sánh” cũng có “ghi nhớ”: “So sánh vừa có tác dụng gợi hình , giúp cho việc miêu tả

sự vật, sự việc được cụ thể, sinh động vừa có tác dụng biểu hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc” Cuối cùng là phần “Luyện tập” (trang 43)

- Bài học “Nhân hóa” ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) được dạy ở bài 22 (trang 56, 57, 58, và 59) Mở bài “Nhân hóa là gì?”, soạn giả giới thiệu một khổ thơ

“Ông trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Ông trời, mặc áo giáp đen, ra trận Muôn nghìn cây mía, múa gươm…” Tiếp đó là phần “ghi nhớ”: “Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật… trở nên gần gũi với con người,

Trang 26

biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người” Ở phần “Các kiểu nhân hóa”, sách nêu ra ba câu nhằm hỏi học sinh những sự vật nào được nhân hóa và được nhân hóa bằng cách nào, đại thể như sau:

a) “Từ đó, lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cô Chân, cậu Tay lại thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả”

b) “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù Tre xung phong vào

xe tăng, đại bác Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

c) “Trâu ơi, ta bảo trâu này, trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta” Phần “ghi nhớ” viết: “Có ba kiểu nhân hóa thường gặp là:

+ Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật

+ Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật: trò chuyện, xưng hô, với vật như đối với người “Cuối bài, là phần

Rõ ràng, khách quan mà nói, ta thấy phần “Bài học” ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) được soạn một cách sư phạm hơn, diễn đạt rõ ràng, trong sáng hơn nên cũng dễ hiểu hơn nhiều đối với học sinh Trung học cơ sở (xem trên)

Ở các trang 167, 168, sách Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) có bài “tổng kết phần tiếng Việt…” (bài 34), gồm các nội dung tổng kết như sau: “1- Các từ loại đã học; Danh từ, động từ, Tính từ, Số từ, Lượng từ, Chỉ từ, Phó từ; 2 - Các phép tu từ

đã học: Phép so sánh, Phép nhân hóa, Phép ẩn dụ, Phép hoán dụ (trang 167); 3 - Các kiểu cấu tạo câu đã học: Câu đơn: câu có từ là; câu không có từ là; Câu ghép; 4 – Các dấu câu đã học: Dấu kết thúc câu: Dấu chấm, Dấu chấm hỏi, Dấu chấm than; Dấu phân cách các bộ phận câu: Dấu phảy” (trang 168) Cuối bài có phần “Viết bài kiểm tra tổng hợp cuối năm” Yêu cầu với học sinh cần đạt là: “Củng cố và hệ

Trang 27

thống hóa được kiến thức về tiếng Việt đã học trong năm; Vận dụng được các kiến thức đã học ở ba phân bài để viết bài kiểm tra cuối năm”

Còn với Tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách), có 02 tiết “Ôn tập học kỳ II” (tiết 32 và tiết 33) dành cho phần “từ ngữ” (trang 33 – 34) Nội dung ôn tập của tiết

32 như sau:

+ Từ láy… một kiểu từ phức có sự hòa phối âm thanh để tạo nghĩa

+ So sánh… cách đối chiếu một sự vật này với một sự vật khác

+ Nhân hóa… cách biến những sự vật không phải là người thành những nhân vật mang tính chất như con người (?) chú ý với cách giải thích này

+ Điệp ngữ… là từ ngữ được nhắc đi nhắc lại để nhấn mạnh ý

Tiếp đó là phần “Luyện tập” (trang 33-34), gồm bài thơ “Dòng sông mặc áo” của tác giả “Nguyễn Trọng Tạo và ba câu hỏi cực kỳ khó đối với học sinh Trung học cơ sở (trang 33-34):

+ Tìm các từ láy trong bài thơ Các từ láy đó có nghĩa như thế nào?

+ … Hãy nêu các dẫn chứng cụ thể để chứng minh tác giả đã sử dụng các phép so sánh, nhân hóa như thế nào? (vì tác giả bài thơ đã tưởng tượng về sự thay đổi màu sắc của dòng sông… như dòng sông mặc nhiều áo khác nhau)

+ Trong bài thơ này, tác giả dùng điệp ngữ bằng cách nhắc đi nhắc lại từ ngữ gì?

Tiết 33 (từ trang 33 – 39) cũng thuộc phần từ ngữ của sách Tiếng Việt 6 tiếng II (trước cải cách), chủ yếu nhằm giúp học sinh ôn tập về các yếu tố Hán – Việt, kèm bảng yếu tố Hán – Việt, được liệt kê từ trang 36 đến trang 39 Nhìn chung, đã có đến 07 tiết, sách này dạy từ Hán – Việt trên 13 tiết học bài mới trong chương tình của Tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách), trong phần từ ngữ Sang phần

“Ngữ pháp”, Tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách) cũng có một tiết “Ôn tập học kỳ II”, gồm nội dung như sau: “1 Từ loại: Danh từ, Động từ, Tính từ, Số từ; 2 Hoạt động kết hợp của ba từ loại lớn: “Danh từ và định ngữ Cụm danh từ; Động từ và bổ ngữ Cụm động từ; Tính từ và bổ ngữ Cụm tính từ; 3 Ba phần biệt lập của câu: Phần hỏi - đáp; Phần phụ chú và phần chuyển tiếp (từ trang 91-94)

Trang 28

Ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) cũng có “Bảng tra cứu yếu tố Hán – Việt,

để trong phần “Phụ lục” (trang 169-175 cuối sách) Nói chung, ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) các văn bản đều được bố trí theo kiểu hệ thống thể loại và phần nào theo tiến trình Văn học sử Các yếu tố Hán – Việt đều được giải thích riêng (in nghiêng) trong phần “chú thích” của mỗi văn bản và đều đã được tập hợp lại một cách có hệ thống trong “Bảng tra cứu…” này, để ở cuối sách giáo khoa tập II mối lớp

Ở bài 21, sau phần “So sánh- tiếp theo”, Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) còn

có “chương trình địa phương (phần tiếng Việt), rèn luyện chính tả (trang 43-44 Nội dung luyện tập gồm: “1 Đối với các tỉnh miền Bắc: Viết đúng các cặp phụ âm đầu: tr/ch; s/x; r/d/gi; l/n 2 Đối với các tỉnh miền Trung, niềm Nam: a) Viết đúng một

số cặp phụ âm cuối: c/t; n/ng b) Viết đúng tiếng có thanh hỏi/ thanh ngã C) Viết đúng một số các nguyên âm: -i/iê; -o/ô d) Viết đúng một số phụ âm đầu: v/d”

Đây là một trong những bài học hoàn toàn không được đề cập đến trong chương trình của Tiếng Việt 6 tập II (trước cải cách) tập trung vào các vấn đề như:

Từ mượn, Nghĩa của từ và hiện tượng chuyển nghĩa của từ; Danh từ và cụm danh từ; tính từ và cụm tính từ; Động từ và cụm động từ; Số từ; Lượng từ; Chỉ từ

Ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) ngoài tiết học về Phó từ, phần Tiếng Việt tập trung chủ yếu vào các vấn đề về câu và các biện pháp tu từ Cụ thể:

a) Các vấn đề về câu:

+ Các thành phần chính của câu

+ Câu trần thuật đơn và các kiểu câu trần thuật đơn

+ Chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ

b) Các biện pháp tu từ : + So sánh; + Nhân hóa; + Ẩn dụ; + Hoán dụ

Hướng tích hợp giữa ba phân bài: Văn, tiếng Việt, Tập làm văn thể hiện khá

rõ, đặc biệt trong cả Ngữ Văn 6 tập I (sau cải cách) cũng như Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách) Học sinh cần có ý thức vận dụng các đơn vị kiến thức về tiếng Việt vào việc đọc hiểu các văn bản chung ở phần Văn vào tạo lập các kiểu văn bản ở phần Tập làm văn

Trang 29

Có thể nói, ở Ngữ Văn 6 tập II (sau cải cách), trọng tâm xuyên suốt (Đọc – hiểu văn bản (chưa khai thác gì) có từ bài đầu sách – bài thứ 18 cho đến tận bài 31 Học kỳ I, tập trung đọc hiểu các tác phẩm truyện dân gian và truyện trung đại Học

kỳ II, đọc hiểu truyện, kí hiệu đại và những bài thơ có yếu tố tự sự, miêu tả dưới các hình thức thể loại khác nhau…

Vì vậy, nếu học sinh học tốt các bài Ngữ Văn theo tinh thần mới, nếu thầy cô coi sách giáo khoa là công cụ tổ chức hoạt động học tập của học sinh trên lớp cũng như ở nhà… mà cụ thể là sự quán triệt mục tiêu, yêu cầu của từng bài học, của từng bài học cụ thể cũng như quyết tâm thực hiện các yêu cầu đó của cả thầy cô và học sinh, chắc chắn sẽ có kết quả mỹ mãn trong dạy và học ở nhà trường Trung học cơ

Chương II: Miêu tả

Chương III: Tập phát biểu cảm nghĩ

Chương IV: Viết thư

- Trong khi đó chương trình Tập làm văn ở Ngữ văn 6 (sau cải cách) được dạy trong 02 học kỳ, ở 02 sách giáo khoa: Ngữ Văn 6 tập I và Ngữ Văn 6 tập II

Ở Ngữ Văn 6 tập I, phần Tập làm văn tập trung vào văn tự sự (văn kể chuyện):

+ Nội dung chi tiết được bố trí dạy cho học sinh ở 17 bài, chừng 22 tiết, trong đó chỉ có khoảng 09 bài có tính lý thuyết như: “Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt; Tìm hiểu chung về văn tự sự (Bài 1); Sự việc và nhân vật trong văn tự

sự (Bài 3); Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự; Tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự

sự (Bài 4); Lời văn, đoạn văn tự sự (Bài 5); Ngôi kể và lời kể trong văn tự sự (Bài 8); Thứ tự kể trong văn tự sự (Bài 9); Kể chuyện tưởng tượng (Bài 12)…” Các tiết

Trang 30

học còn lại đều là thực hành và viết bài Tập làm văn tại lớp hoặc ở nhà, ví dự như:

“Luyện nói kể chuyện (Bài 7 và Bài 10); Luyện tập xây dựng bài tự sự - Kể chuyện đời thường (Bài 11); Luyện tập kể chuyện tưởng tượng (Bài 13)…” Có đến 03 lần, học sinh được viết bài Tập làm văn ở lớp và ở nhà (Bài 4, Bài 9, Bài 12) và cũng 03 lần thầy cô giáo trả bài Tập làm văn cho học sinh (Bài 6, Bài 11, Bài 14)!” Ngoài

ra, ở Ngữ Văn 6 tập I còn có “Hoạt động Ngữ Văn: Thi kể chuyện (Bài 16 tiết 3, trang 168) Yêu cầu tất cả học sinh trong lớp đều phải tham gia Mỗi học sinh phải chuẩn bị kể lại một truyện mà mình tâm đắc nhất, bất cứ truyện đó thuộc thể loại nào (truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện trung đại, truyện đời thường, truyện tưởng tượng) Học sinh phải kể chứ không phải đọc thuộc lòng Lời kể phải rõ ràng, mạch lạc, biết ngừng đúng chỗ, biết kể diễn cảm, có ngữ điệu Khi kể phải phát âm đúng Tư thế kể đàng hoàng, tự tin… tiếng nói đủ nghe, không lí nhí… và cũng không cần gào thét Phải biết mở đầu trước khi kể và cảm

ơn người nghe khi đã kể xong truyện…

+ Ở Ngữ Văn 6 tập II, Phần tập làm văn tập trung vào văn bản miêu tả (văn

tả cảnh, tả người…) Nội dung chi tết được bố trí dạy cho học sinh ở 18 bài, ước chừng 18-19 tiết, trong đó chỉ có khoảng 04 bài học: “Tìm hiểu chung về văn miêu

tả (Bài 18); Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả (Bài 19); Phương pháp tả người (Bài 22)” Những bài còn lại đều là thực hành và tập viết bài Tập làm văn, ví dụ như: “ Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả (Bài 20); Luyện nói về văn miêu tả (Bài 23); Ôn tập truyện và kí (Bài 28); Ôn tập văn miêu tả (Bài 28)” Cũng có đến 03 lần, học sinh được thực tập viết bài Tập làm văn tả cảnh, tả người viết văn miêu tả sáng tạo tại lớp và ở nhà; và cũng có 03 lần thầy cô giáo trả bài Tập làm văn cho học sinh Ở Bài 24 có 01 tiết, tập làm thơ 04 chữ, và ở Bài 26 có thi làm thơ 05 chữ trong “Hoạt động Ngữ Văn” tại lớp Ngoài ra, còn có 02 tiết học sinh được học về “viết đơn” (Bài 29) và “Luyện tập cách viết đơn và sửa lỗi” (Bài 30)

Trang 31

2.1.2 Sách giáo khoa lớp 7

a) So sánh phần Văn học lớp 6 trước cải cách và phần Văn học trong

sách Ngữ văn lớp 6 sau cải cách (xem phần Phụ lục):

Nhận xét: - Khung chương trình Văn học 7 (trước cải cách) được bố trí dạy trong 02 học kỳ phân bổ ở Văn học 7 tập I và Văn học 7 tập hai (Văn học 7 tập I và Văn học 7 tập II)

+ Nội dung chương trình ở Văn học 7 tập I như sau: Trong Văn học 7 (trước cải cách) được chia làm 03 phần rất rõ ràng: “Phần một: Văn học dân gian Việt Nam; Phần hai: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tam 1945 và phần ba: Văn học nước ngoài”

Phần một: Văn học dân gian, gồm: Truyện cười có 04 bài; Tục ngữ có 02 bài; Vè có 02 bài; Đọc thêm có 06 bài (được chia đều cho 02 bài truyện cười, 02 bài tục ngữ, 02 bài vè) và 01 bài Ôn tập

Phần hai: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945: Có 02 bài thơ; 01 truyện và sau cùng là “Ôn tập về Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945

Phần ba: Văn học nước ngoài, gồm 05 truyện dạy và Phần đọc thêm có 03 truyện (xem chương trình)

+ Nội dung chương trình ở Văn học 7 tập II (trước cải cách) như sau:

Phần một: Văn học dân gian Việt Nam, gồm: Có 02 bài ca dao; 01 bài Ôn tập

và 01 bài tổng kết về văn học dân gian Việt Nam (xem chương trình)

Phần hai: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 (02 văn bản thơ và 01 văn bản truyện và 01 bài Ôn tập về Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 (xem chương trình)

Phần ba: Văn học nước ngoài, gồm 03 truyện và 01 bài thơ và 01 bài học Ôn tập về Văn học nước ngoài (xem chương trình)

- Khung chương trình Văn học ở Ngữ Văn 7 (sau cải cách) cũng được bố trí dạy trong 02 học kỳ, ở Ngữ Văn7 tập I (Ngữ Văn 7 tập I) và Ngữ Văn 7 tập II (Ngữ Văn 7 tập hai)

Trang 32

Tuy nhiên, khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 7 tập I và Ngữ Văn 7 tập II đều được soạn thảo rất khác so với khung chương trình Văn học của Văn học

7 tập I và Văn học 7 tập II (xem chương trình)

+ Ở khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 7, sách sau cải cách thì khác

Ở học kỳ I trong Ngữ Văn 7 tập I (Ngữ Văn 7 tập I), gồm có 06 truyện; 01 bài ca dao; 04 bài tục ngữ; 15 bài thơ (12 bài thơ Việt Nam và 03 bài của nước ngoài) và tất cả đều đặt chung trong một chương trình Ngữ văn chứ không phân loại và phân

kỳ theo lịch sử của vấn đề như trong Văn học 7, trước cải cách (xem chương trình)

+ Khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 7 tập II, sách sau cải cách thì khác Ở học kỳ II trong Ngữ Văn 7 tập II (Ngữ Văn 7 tập II), gồm 02 bài về Tục ngữ; 08 bài về truyện (7 truyện Việt Nam và 01 truyện nức ngoài) (xem chương trình0

+ Tuy nhiên, cái khác ở đây lại có “Chương trình địa phương (phần Tiếng Việt – Rèn luyện chính tả)”, gồm 02 phần: “I Nội dung luyện tập: Có nội dung vắn tắt như: Tiếp tục làm các dạng bài tập khắc phục những lỗi chính tả do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương như ở lớp 6 (1 Đối với các tỉnh miền Bắc; 2 Đối với các tỉnh miền nam) II Một số hình thức luyện tập: 1 Viết những đoạn, bài chứa các âm, dấu thanh dễ mắc lỗi (có nghe viết và nhớ viết); 2 Làm các bài tập chính tả;

3 Lập sổ tay chính Qua đây cho thấy sách cải cách có nhiều cái mới cái hay phù hợp với học sinh Trung học cơ sở qua cách dạy thực tế, theo từng vùng, miền

Ngoài Chương trình địa phương còn có Bảng tra yếu tố Hán Việt rất rõ ràng

và cụ thể (Xem phần Yếu tố Hán Việt)

Nhìn chung, khung chương trình Văn học 7 (trước cải cách) như trên phần nào đã nói được soạn thảo dạy cho học sinh ở cả 02 học kỳ, và mỗi học kỳ đều có

đủ 03 phần: Phần một: Văn học dân gian; Phần hai: Văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945; Phần ba: Văn học nước ngoài Qua đây, có thể nói, chương trình về Văn học dân gian ở Văn học 7 (trước cải cách) có tính sư phạm và khoa học, phân chia tương đối rành mạch, cụ thể và phong phú về nội dung nên học sinh chắc dễ tiếp thu và học tập được nhiều, nhất là đối với việc phân loại và phân

Trang 33

kỳ về Văn học dân gian theo tiến trình lịch sử của vấn đề Đó là mặt ưu điểm so với sách sau cải cách, còn sách Ngữ văn 7 (sau cải cách) cũng có mặt mạnh riêng, đó là sách có thể bỏ những bài cũ không hợp với xã hội hiện đại với tính giáo dục hiện nay, đặc biệt sách có thêm hai chương trình rất hữu ích đó là “1 Chương trình tiếng địa phương; 2 Bảng tra yếu tố Hán Việt” Ngoài ra sách cải cách cũng có ưu điểm nữa là sách dạy theo hướng “tích hợp” học sinh không phải dùng nhiều sách một lúc

và các bài tập làm văn, tiếng Việt đều liên quan đến phần Văn học giúp các em dễ nhớ, dễ hiểu

b) So sánh phần Tiếng Việt lớp 7 trước cải cách và phần Tiếng Việt

trong sách Ngữ văn lớp 7 sau cải cách (xem phần Phụ lục):

Nhận xét: Điểm khác rất rõ trong sách trước và sau cải cách, đó là:

- Cách đặt tên bài: Ở sách Ngữ văn 7 (sau cải cách) được đặt theo từng bài như: Bài 1, bài 2, bài 3, bài 4… mà phần tiếng Việt chỉ là những tiết học xen kẽ trong từng bài Còn sách tiếng Việt 7 (trước cải cách) lại được sắp xếp theo từng tiết như: Tiết 1, tiết 2, tiết 3, tiết 4… và dạy hoàn toàn độc lập với sách Văn học, và Tập làm văn

- Trong sách tiếng Việt 7 (trước cải cách) chia làm 02 phần và dạy cũng theo từng phần rất rõ ràng là phần: Từ ngữ và Ngữ pháp, tuy nhiên trong sách Ngữ văn 7 (sau cải cách) thì lại khác hoàn toàn, cả 02 phần này được gộp chung để dạy

- Sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 7 tập I) không có các bài học sau so với sách trước cải cách (Tiếng Việt 7 tập I) Đó là: - Tính biểu cảm của từ; - Mở rộng vốn từ Chủ đề: Học tập; - Từ địa phương; - Mở rộng vốn từ Chủ đề Lao động; - Ẩn dụ; - Hoán dụ; - Mở rộng vốn từ Chủ đề: Đạo đức; - Nói quá; - Nói giảm, nói tránh; - Mở rộng vốn từ Chủ đề: Rừng núi; - Luyện tập; - Ôn tập học kì I (gồm 2 tiết) ; - Ngữ pháp: Phụ từ (gồm 2 tiết); - Định từ; - Trợ từ, thán từ; - Đề ngữ;

- Trạng ngữ của câu (gồm 3 tiết) ; - Luyện tập; - Phần phụ tình thái trong câu; - Dấu phẩy, dấu chấm phẩy; - Dấu ngang cách, dấu ngang nối; - Ôn tập học kì I

- Sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 7 tập I) không có đến 08 bài học

so với sách sau cải cách (Ngữ Văn 7 tập I) Đó là: Từ ghép; - Từ láy; - Đại từ; - Từ

Trang 34

Hán Việt (gồm 2 tiết); - Chữa lỗi về quan hệ từ; - Từ đồng nghĩa; - Từ trái nghĩa; -

Từ đồng âm; - Thành ngữ; - Điệp ngữ; - Chơi chữ và Chuẩn mực sử dụng từ; - Luyện tập sử dụng từ; - Ôn tập Tiếng Việt

- Sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn7 tập II) không có các bài học sau so với sách trước cải cách (Tiếng Việt 7 tập II) Đó là: Từ ngữ: Tương phản, chơi chữ;

- Thành ngữ; - Mở rộng vốn từ Chủ đề: Biển; - Thành ngữ Hán Việt; - Luyện tập (gồm 4 tiết); - Mở rộng vốn từ Chủ đề: Nông thôn; - Sử dụng từ ngữ Hán Việt (gồm 2 tiết) ; - Mở rộng vốn từ Chủ đề: Thành thị; - Ôn tập; - Phân biệt câu đơn, câu phức, câu phức thành phần, câu ghép; - Câu phức thành phần chủ ngữ, câu phức thành phần vị ngữ; - Câu phức thành phần định ngữ; - Câu phức thành phần bổ ngữ;

- Câu phức thành phần trạng ngữ cách thức; - Câu ghép chính phụ (gồm 2 tiết); - Câu ghép đẳng lập; - Câu ghép qua lại; - Câu ghép chuỗi; - Về việc dùng quan hệ từ nối các vế trong câu ghép chính phụ; - Về việc dùng quan hệ từ nối các vế trong câu ghép đẳng lập; - Ôn tập về câu ghép (2 tiết)

- Sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 7 tập II) không có đến 08 bài học

so với sách sau cải cách (Ngữ Văn 7 tập II) Đó là: Chương trình địa phương (Phần Văn và Tập làm văn; - Rút gọn câu; - Câu đặc biệt; - Thêm trạng ngữ cho câu (gồm

2 tiết); - Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (gồm 2 tiết); - Dùng cụm chủ -

vị để mở rộng câu; - Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu : Luyện tập; - Liệt kê và Tìm hiểu chung về văn bản hành chính; - Dấu chấm lửng và dấu chấm phẩy và; - Dấu gạch ngang và Ôn tập phần tiếng Việt; - Chương trình địa phương (phần tiếng Việt) Rèn luyện chính tả; - Bảng tra yếu tố Hán Việt

- Xét cả hai tập I và tập II của sách giáo khoa lớp 7 thì có duy nhất 02 bài giống nhau hoàn toàn, đó là: “Đại từ” (Bài 4, Ngữ văn 7 tập I – Tiết 1 (phần ngữ pháp), Tiếng Việt 7 tập I) và “Quan hệ từ (Bài 7, Ngữ văn 7 tập I) – Tiết 5 (phần ngữ pháp), Tiếng Việt 7 tập I), và có 01 bài giống nhau một phần, đó là: “Chơi chữ

và Chuẩn mực sử dụng từ” (Bài 14, Ngữ văn 7 tập I) và “Tương phản, chơi chữ” (Tiết 17, Tiếng Việt 7 tập II (trước cải cách))

Trang 35

- Có 03 bài giống nhau giữa sách Ngữ văn 7 tập I (sau cải cách) và Tiếng Việt 7 tập I (trước cải cách): “Đại từ; Quan hệ từ; và Chơi chữ” Do khuôn khổ không cho phép nên chúng tôi chỉ nghiên cứu bài “Đại từ”

+ Đại từ: Điểm khác nhau rất rõ trong tiếng Việt của Ngữ văn 7 tập I (sau cải cách) và Tiếng Việt 7 tập I (trước cải cách) là cách đặt tên từng phần của cấu trúc bài học

- Khác nhau về: Cấu trúc bài học “Đại từ” phần tiếng Việt của Ngữ văn 7 tập

I (sau cải cách) như sau: Đại từ: I Thế nào là Đại từ?; II Các loại đại từ; III Luyện tập Còn cấu trúc bài học “Đại từ” trong Tiếng Việt 7 tập I (trước cải cách) như sau: Đại từ: I Tìm hiểu bài; II Bài học; III Bài tập

- Khác nhau về nội dung: Trong sách Ngữ văn 7 tập I (sau cải cách) các phần I và phần II đều có “ghi nhớ”, còn Tiếng Việt 7 tập I (trước cải cách) thì chỉ có duy nhất một “ghi nhớ” cho toàn bài Điều đặc biệt là các ghi nhớ này cũng không giống nhau Theo chúng tôi phần “ghi nhớ” trong Ngữ văn 7 tập I (sau cải cách) chi tiết, đầy đủ và cụ thể hơn so với “ghi nhớ” trong Tiếng Việt 7 tập I (trước cải cách)

Ví dụ: Trong phần I (Bài 4, Ngữ Văn 7 tập I) Thế nào là Đại từ? có “ghi nhớ” như sau:

“- Đại từ dùng để trỏ người, sự vật, hoạt động, tính chất… được nói đến trong một ngữ cảnh nhất định của lời nói hoặc dùng để hỏi

- Đại từ có thể đảm nhiệm các vai trò ngữ pháp như chủ ngữ, vị ngữ trong câu hay phụ ngữ của danh từ, của động từ, của tính từ,…”

Trong phần II Các loại đại từ có hai mục nhỏ thì cả hai mục nhỏ đều có ghi nhớ

- Đại từ để trỏ phần “ghi nhớ”: Đại từ để trỏ dùng để: Trỏ người, sự vật (gọi

là đại từ xưng hô); Trỏ số lượng; Trỏ hoạt động, tính chất, sự việc

- Đại từ để hỏi phần “ghi nhớ” : Đại từ để hỏi dùng để: Hỏi về người, sự vật; Hỏi về số lượng; Hỏi về hoạt động, tính chất, sự việc

Trang 36

Ở sách trước cải cách Tiết 1 (phần ngữ pháp), Tiếng Việt 7 tập I thì lại chỉ có duy nhất một ghi nhớ như sau: “Đại từ dùng để xưng hô hoặc thay thế Đại từ gồm

có các loại: Đại từ nhân xưng; đại từ thay thế; đại từ phiểm chỉ; đại từ chỉ định”

- Khác nhau về câu hỏi trong bài tập: Trong Ngữ văn 7 tập I, trong mỗi phần

I, II tuy là phần học lý thuyết nhưng vẫn có câu hỏi dành riêng cho nó

Ví dụ : Trong phần II: Đại từ để hỏi, có 3 câu hỏi được đánh dấu là a, b, c

a, Các đại từ ai, gì… hỏi về gì?

b, Các đại từ bao nhiêu, mấy hỏi về gì?

c, Các đại từ sao, thế nào hỏi về gì?

Nhận xét: - Theo kế hoạch của bộ đã đưa ra Bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học cơ sở được biên soạn theo chương trình Trung học cơ sở ban hành kèm theo QĐ số 03/2002/ QĐ-BGD&ĐT, thì tất nhiên trong đó có cả phần tiếng Việt Tuy nhiên theo sự nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, phần tiếng Việt chưa được biên soạn theo quan điểm “Tích hợp”, vì các câu hỏi hay ví dụ đều không được lấy

ở phần văn học (là bài học Văn bản của Văn học trước đó) Ví dụ dưới đây sẽ chứng minh:

Bài học là văn bản “Những câu hát châm biếm”, còn ví dụ trong phần dạy tiếng Việt không nằm trong phần văn bản này: “Gia đình tôi khá giả Anh em tôi rất thương nhau Phải nói em tôi rất ngoan Nó lại khéo tay nữa” của (Khánh Hoài)

Như vậy câu hỏi đặt ra là “Sách đã biên soạn đúng với định hướng của bộ cũng như theo quan điểm “Tích hợp” hay chưa?

- Tuy nhiên trong phần “II Bài học” của Tiếng Việt 7 tập I, thì không có dạng câu hỏi như vậy mà chỉ có ví dụ để chứng minh Điều này cho thấy Ngữ văn

đã có sự đi sâu sát hơn, đã có sự mới mẻ là bắt học sinh phải suy nghĩ, tư duy trong quá trình học, như vậy học sinh dễ nhớ hơn qua ví dụ Có thể nói đây là một ưu điểm của sách cải cách

c) So sánh phần Tập làm văn lớp 7 trước cải cách và phần Tập làm

văn trong sách Ngữ văn lớp 7 sau cải cách (xem phần Phụ lục):

Trang 37

Nhận xét: - Sách giáo khoa (SGK) trước cải cách lớp 7 Trung học cơ sở cũng vậy, chỉ có một bộ khung chương trình về Tập làm văn – Tập làm văn 7, gồm các nội dung:

Chương I: Tường thuật; Chương II: Kể chuyện; Chương III: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật văn học; Chương IV: Đơn từ

+ Trong khi đó, chương trình Tập làm văn ở Ngữ Văn 7 sau cải cách được dạy trong hai học kỳ ở hai SGK: Ngữ Văn 7 tập I và Ngữ Văn 7 tập II

+ Ở Ngữ Văn 7 tập I, chương trình Tập làm Văn là văn bản biểu cảm Nội dung chi tiết được bố trí ở 22 tiết học, trong đó có khoảng 08 tiết dành cho phần bài học mới Cụ thể như sau: “Liên kết trong văn bản (Bài 1); Mạch lạc trong văn bản (Bài 2); Quá trình tạo lập văn bản (Bài 3); Tìm hiểu chung về văn bản (Bài 5); Đặc điểm của văn bản biểu cảm (Bài 6); Cách lập ý của bài văn biểu cảm (Bài 9); Các yếu tố tự sự, miêu tả trong văn biểu cảm (Bài 11); Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học (Bài 12)”

Còn lại các tiết học khác đều là thực hành và làm bài Tập làm văn (Viết bài Tập làm văn số 1; Văn tự sự miêu tả (Bài 3); Luyện tập tạo lập văn bản (Bài 4); Luyện tập cách làm văn bản biểu cảm (Bài 7); Viết bài Tập làm văn số 2 – Văn biểu cảm (Bài 8); Luyện nói: Văn biểu cảm về sự vật, con người (Bài 10); Viết bài Tập làm văn số 3 – Văn biểu cảm (Bài 12); Luyện nói: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học (Bài 13); Ôn tập văn bản biểu cảm (Bài 14)) Ngoài ra, còn 01 tiết học dành cho (Làm thơ lục bát” (Bài 13)

+ Ở Ngữ Văn 7 tập II: Trong phần Tập làm văn học kỳ II, lớp 7 là văn bản nghị luận (Lập luận) Nội dung chi tiết được bố trí ở 23 tiết học, trong đó có khoảng

13 tiết dành cho phần bài học mới: “Tìm hiểu chung về văn nghị luận (Bài 18); Đặc điểm của văn bản nghị luận (Bài 19); Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận (Bài 20); Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh (Bài 21); Cách làm bài văn lập luận chứng minh (Bài 22); Tìm hiểu chung về phép luận luận giải thích (Bài 25); Cách làm bài văn lập luận giải thích (Bài 26); Tìm hiểu chung về văn bản hành chính (Bài 28); Văn bản đề nghị (Bài 29); Văn bản báo cáo (Bài 30)

Trang 38

Các tiết học dành cho thực hành và làm bài Tập làm văn, đại thể sau: “Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận (Bài 20); Luyện tập lập luận chứng minh (Bài 22); Viết bài Tập làm văn số 5 – Văn lập luận chứng minh (Bài 23); Luyện tập viết đoạn văn chứng minh (Bài 24); Trả bài Tập làm văn số 5 (Bài 25); Luyện tập lập luận giải thích (Bài 26); Viết bài Tập làm văn số 6 – Văn lập luận giải thích (Bài 26); Luyện nói: Bài văn giải thích một vấn đề (Bài 27); Trả bài Tập làm văn số 6 (Bài 28); Luyện tập làm văn bản đề nghị và báo cáo (Bài 31) Trong sách Tập làm văn 7 (trước cải cách) và Ngữ Văn 7 (sau cải cách), đều có bài dành cho phần học cuối năm nhưng trước cải cách thì là “Ôn tập cuối năm” còn sau cải cách ngoài ôn tập còn có bài “Kiểm tra tổng hợp cuối năm”

+ Nội dung chương trình Văn học 8 tập I như sau: Tập I chia làm hai phần chính: Phần I: Văn học Việt Nam (Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng tám 1945) Phần II: Văn học nước ngoài Cụ thể: Phần I: gồm có 4 bài văn xuôi, 7 bài thơ và 7 bài đọc thêm (cả thơ và văn xuôi) Phần II: có 3 bài văn xuôi và 2 bài thơ phần đọc thêm

+ Nội dung chương trình Văn học 8 tập II như sau: Tập hai chia làm hai phần chính: Phần I: Văn học Việt Nam: Bài 1 là bài khái quát, trong đó có 4 bài văn xuôi,

8 bài thơ và 4 bài thơ phần đọc thêm, 1 bài ôn tập Phần II: Có tất cả 8 bài thơ, 4 bài văn xuôi Việt Nam, 2 bài văn xuôi nước ngoài và 3 bài Tổng kết phần Văn

Kết luận: Chương trình gần như có sự đổi mới trong các bài học Trong cả tập I và tập II chương trình lớp 8 chỉ có các bài như sau là giống nhau: Tôi đi học; Trong lòng mẹ (trích tiểu thuyết tự thuật: Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng); Tức

Trang 39

nước vỡ bờ (Trích tiểu thuyết “Tắt đèn – Ngô Tất Tố”); Lão Hạc (trích) – Nam Cao; Chiếc lá cuối cùng (trích) – O hem (Ngô Vĩnh Viên dịch) Các bài còn lại là khác giữa Ngữ Văn 8 (sau cải cách) và Văn học 8 (trước cải cách) Dưới đây là một số điều khác cơ bản mà chúng tôi đã nghiên cứu được:

- Trong Văn học 8 (trước cải cách) phân thành 02 phần (Văn học nước ngoài

và văn học Việt Nam), còn trong Ngữ văn 8 thì lại gộp cả 02 phần (Văn học nước ngoài và văn học Việt Nam) dạy xem kẽ

- Trong Văn học 8 (trước cải cách) có bài dạy về “Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng tám 1945” trong cả hai tập Tuy nhiên trong Ngữ văn 8 thì lại không có

- Trong Ngữ văn 8 (sau cải cách) đã thay rất nhiều bài trong Văn học 8 (sau cải cách) ví dụ: Lấy bài đọc thêm trong chương trình Văn học 8 (trước cải cách) để làm bài chính như bài “Tôi đi học – Thanh Tịnh” là bài đọc thêm của bài 11 tập I Văn học 8 thì trong Ngữ văn 8 tập I đã lấy làm bài chính trong chương trình dạy học Hoặc có sự thay đổi một số bài khác hẳn với sách Văn học 8 (trước cải cách) như: Bài 12: Ôn dịch, thuốc lá (Văn bản nhật dạng) – Nguyễn Khắc Viện; Bài 13: Bài toán dân số (Văn bản nhật dạng) – Theo Thái An hay có thêm bài “Chương trình tiếng địa phương” hoặc “Phụ lục: Bảng tra yếu tố Hán Việt”

b) So sánh phần Tiếng Việt lớp 8 trước cải cách và phần Tiếng Việt

trong sách Ngữ văn lớp 8 sau cải cách (xem phần Phụ lục):

Nhận xét: - Về nội dung cấu tạo bài học của Ngữ Văn 8 (sau cải cách - phần Tiếng Việt) so với tiếng Việt 8 (trước cải cách)

- Về cách chia tập, khác với sách tiếng Việt lớp 6, lớp 7 có hai tập, thì sách tiếng Việt lớp 8 chỉ có một tập duy nhất Tuy nhiên sách Ngữ Văn 8 chia làm 02 tập (Ngữ Văn 8 tập I và Ngữ Văn 8 tập II) và đương nhiên phần tiếng Việt cũng có trong Ngữ Văn 8 tập I và Ngữ Văn 8 tập II

- Cách đặt tên bài: Ở sách Ngữ văn 8 (sau cải cách), phần tiếng Việt được đặt theo từng bài như: Bài 1, bài 2, bài 3, bài 4… mà phần tiếng Việt chỉ là những tiết học xen kẽ trong từng bài Còn sách tiếng Việt 8 (trước cải cách) lại được sắp xếp

Trang 40

theo từng tiết như: Tiết 1, tiết 2, tiết 3, tiết 4… và dạy hoàn toàn độc lập với sách Văn học, và Tập làm văn

- Phần tiếng Việt (Ngữ Văn 8 tập I, tập II) và tiếng Việt 8 chỉ có 02 phần nhỏ

là giống nhau:

- Tiếng Việt 8

Tiết 3: Câu phủ định và câu khẳng định

Tiết 7: Dấu câu: Dấu ngoặc kép, dấu hai chấm, dấu chấm lửng

- Ngữ văn 8

Tập I Bài 13: Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm; - Bài 14: Dấu ngoặc kép Tập II: Bài 22: Câu phủ định

Như vậy chỉ có phần “Câu phủ định” trong tiết 3 (Tiếng Việt 8) là giống tiết

22 (Ngữ văn 8 tập II) “Dấu hai chấm” trong tiết 7 của tiếng Việt 8 giống phần “Dấu hai chấm” của bài 13 (Ngữ văn 8 học kỳ I) Phần “Dấu ngoặc kép” trong tiết 14 (Tiếng Việt 8) giống bài 14 (Ngữ văn 8 tập I)

- Ngoài 3 phần nhỏ giống nhau thì các phần còn lại là khác nhau

- Do khuân khổ của luận văn chúng tôi chỉ so sánh một phần nhỏ giống nhau

để làm ví dụ minh họa

Ví dụ: “Dấu ngoặc kép” trong tiết 14 (Tiếng Việt 8) giống một phần “Dấu ngoặc kép” của bài 14 (Ngữ văn 8 tập I)

Sách Ngữ văn 8 tập I, phần tiếng Việt:

“Dấu ngoặc kép” trong bài 14 được chia làm 02 phần lớn: I Công dụng (có phần ghi nhớ); II Luyện tập

Sách tiếng Việt 8 (trước cải cách):

Dấu ngoặc kép trong tiết 14 được chia làm 03 phần lớn: I Tìm hiểu bài; II Bài học (có ghi nhớ); III Luyện tập

Nhận xét:

- Sách Ngữ văn 8 tập I (sau cải cách), phần tiếng Việt được tách làm bài riêng để học Như vậy học sinh đã được học và tìm hiểu sau hơn Còn sách tiếng Việt 8 thì chỉ được học xen kẽ với phần “dấu hai chấm và dấu chấm lửng”

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến,Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Nguyễn Cao Đàm, Ngữ pháp Tiếng Việt dưới ánh sáng của Loại hình học, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt dưới ánh sáng của Loại hình học
3. Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Đoàn Thiện Thuật, Dẫn luận ngôn ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. GS. Nguyễn Minh Thuyết – PTS Nguyễn Văn Hiệp, Thành phần câu Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần câu Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Hoàng Phê (Chủ biên) (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
6. Bộ giáo dục – trung tâm biên soạn sách cải cách giáo dục (1998), Những vấn đề ngôn ngữ sách giáo khoa (tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề ngôn ngữ sách giáo khoa
Tác giả: Bộ giáo dục – trung tâm biên soạn sách cải cách giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
7. Đỗ Hữu Châu, Xã hội Việt Nam hiện nay, tiếng Việt hiện nay và sự nghiệp giữ gìn sự trong sang của tiếng Việt, Ngôn ngữ (1/2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội Việt Nam hiện nay, tiếng Việt hiện nay và sự nghiệp giữ gìn sự trong sang của tiếng Việt
8. Đoàn Thị Mỹ Dung, Từ Hán Việt trong Sách giáo khoa Ngữ văn 10, vominhhai.vnweblogs.com, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Hán Việt trong Sách giáo khoa Ngữ văn 10, vominhhai.vnweblogs.com
9. Hoàng Tuệ - Hà Nhị, Giới thiệu về chuẩn mực và chuẩn mực ngôn ngữ, Ngôn ngữ (2/1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu về chuẩn mực và chuẩn mực ngôn ngữ
10. Lê Xuân Mậu, Môn Văn ở nhà trường – Dạy nói, dạy viết, Dạy và học ngày nay (11/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môn Văn ở nhà trường – Dạy nói, dạy viết, Dạy và học ngày nay
11. Nguyễn Minh Thuyết, Mấy quan điểm cơ bản trong việc biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở, Ngôn ngữ (4/2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy quan điểm cơ bản trong việc biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở
12. Nguyễn Thị Ly Kha, Dạy từ Hán Việt ở trường phổ thông, Ngữ học trẻ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy từ Hán Việt ở trường phổ thông
13. PGS.TS Đức Nguyễn, Về hệ phương pháp dạy nghĩa của từ cho học sinh trung học cơ sở, Ngôn ngữ (1/2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hệ phương pháp dạy nghĩa của từ cho học sinh trung học cơ sở
14. PGS.TS Nguyễn Đức Tồn, Vấn đề dạy và học từ ngữ trong sách giáo khoa tiếng Việt trung học cơ sở, Ngôn ngữ (11/2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dạy và học từ ngữ trong sách giáo khoa tiếng Việt trung học cơ sở
15. Phạm Trọng Tân, Những bổ sung cơ bản khi dạy – học bài so sánh ở Tiếng Việt 6 (tập 2) và Ngữ văn 6 (tập 2) Sách giáo khoa thí điểm, Ngữ học trẻ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bổ sung cơ bản khi dạy – học bài so sánh ở Tiếng Việt 6 (tập 2) và Ngữ văn 6 (tập 2) Sách giáo khoa thí điểm
16. Thái Kim Thành, Hướng giao tiếp trong dạy học phần Tiếng Việt ở sách Ngữ văn 6, Ngữ học trẻ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng giao tiếp trong dạy học phần Tiếng Việt ở sách Ngữ văn 6
17. Đoàn Thị Kim Nhung, Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp và tích cực, NXB Đại học quốc gia TPHCM, H, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp và tích cực
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TPHCM
18. Lê Quán Tần, Tài liệu Phân phối chương trình THCS môn Ngữ văn (dùng cho các cơ quan quản lí giáo dục và giáo viên, áp dụng từ năm 2007- 2008), NXB Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Phân phối chương trình THCS môn Ngữ văn
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội, Đề cương bài giảng Giáo dục học, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Giáo dục học
20. Trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội, Đề cương bài giảng Lí luận dạy học, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Lí luận dạy học

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tra cứu yếu tố Hán - Việt soạn giả ở sách lớp 6 và sách lớp 7 đã không  có sự trao đổi tham khảo lẫn nhau - Nhận xét sách giáo khoa ngữ văn các lớp 6,7,8,9 năm học 2008 - 2009 ( Phần văn xuôi
Bảng tra cứu yếu tố Hán - Việt soạn giả ở sách lớp 6 và sách lớp 7 đã không có sự trao đổi tham khảo lẫn nhau (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w