Bên cạnh đó còn một số luận văn thạc sĩ khác cũng đã đề cập đến đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Nhật, nhưng về cơ bản những công trình nghiên cứu này chỉ mới
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TÔ CHUNG
ĐẶC ĐIỂM THÀNH NGỮ HÁN - NHẬT
TRONG TIẾNG NHẬT (có liên hệ với tiếng Việt)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TÔ CHUNG
ĐẶC ĐIỂM THÀNH NGỮ HÁN - NHẬT
TRONG TIẾNG NHẬT (có liên hệ với tiếng Việt)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62.22.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT THANH
2 PGS.TS NGUYỄN XUÂN HÒA
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
0.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
0.2 Lịch sử nghiên cứu 2
0.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
0.4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6
0.6 Cái mới của luận án 8
0.7 Ý nghĩa của luận án 8
0.8 Bố cục và nội dung của luận án 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tiếp xúc ngôn ngữ 10
1.2 Trật tự từ trong tiếng Nhật 17
1.3 Quan niệm về thành ngữ 19
1.3.1 Quan niệm chung về thành ngữ 19
1.3.2 Quan niệm của giới Nhật ngữ học về thành ngữ 21
1.3.3 Quan niệm của giới Việt ngữ học về thành ngữ 39
1.3.4 Nhận xét 48
1.4 Khái quát về thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật 49
1.4.1 Cơ sở hình thành thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật 49
1.4.2 Bức tranh chung thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật 52
1.4.3 Quan niệm về thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật được áp dụng trong luận án 61
Tiểu kết chương 1 63
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THÀNH NGỮ HÁN NHẬT 2.1 Các dạng cấu trúc cơ bản của thành ngữ Hán Nhật 65
2.1.1 Dẫn nhập 65
2.1.2 Thành ngữ Hán Nhật xét về nội bộ cấu trúc 65
Trang 42.2 Các dạng Nhật hóa về cấu trúc của thành ngữ Hán Nhật 72
2.2.1 Thành ngữ giữ nguyên cấu trúc 72
2.2.2 Thành ngữ thay đổi cấu trúc 76
2.2.3 Thành ngữ thay đổi theo cấu trúc tiếng Nhật 78
2.2.4 Thành ngữ do người Nhật tạo mới 82
Tiểu kết chương 2 85
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA THÀNH NGỮ HÁN NHẬT 3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Nhật 89
3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật và sự phân loại theo nhóm chủ đề……… 90
3.2.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật 90
3.2.2 Phân loại thành ngữ Hán Nhật theo nhóm chủ đề 94
3.3 Các kiểu ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật 106
3.3.1 Thành ngữ giữ nguyên nghĩa gốc Hán 106
3.3.2 Thành ngữ thay đổi nghĩa 113
3.3.3 Thành ngữ phát triển nghĩa 114
3.4 Đặc điểm ngữ nghĩa thành ngữ Hán Nhật do người Nhật tạo mới 116
3.4.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ do người Nhật tạo mới bằng yếu tố Hán 116
3.4.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ do người Nhật tạo mới bằng yếu tố Hán và yếu tố Nhật 122
Tiểu kết chương 3 124
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ HÁN NHẬT - HÁN VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐỐI CHIẾU NGÔN NGỮ 4.1 Dẫn nhập .127
4.2 Đối chiếu về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt 133
4.2.1 Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
Trang 5nghĩa giống nhau 133 4.2.2 Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa khác nhau 140 4.2.3 Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
bảo lưu nghĩa gốc, phát triển nghĩa 142 4.2.4 Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa giống nhau, yếu tố khác nhau 145 4.2.5 Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa khác nhau, yếu tố khác nhau 148 4.2.6.Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa gốc giống nhau, phát triển nghĩa, yếu tố khác nhau 149 4.2.7 Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc khác nhau,
nghĩa giống nhau 152 4.2.8 Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc khác nhau,
nghĩa giống nhau, yếu tố khác nhau 153 4.2.9 Thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt có cấu trúc khác nhau,
nghĩa khác nhau 158
Tiểu kết chương 4 162
KẾT LUẬN .164
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO .170 PHỤ LỤC (2.220 đơn vị thành ngữ)
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, BIỂU BẢNG
nghĩa giống nhau 138
Bảng 4.2: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa khác nhau 142
Bảng 4.3: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
bảo lưu nghĩa gốc, phát triển nghĩa 145
Bảng 4.4: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa giống nhau, có một yếu tố khác nhau ……… 147
Bảng 4.5: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa giống nhau, có hai/ ba yếu tố khác nhau 148
Bảng 4.6: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa khác nhau, yếu tố khác nhau .149
Trang 7Bảng 4.7: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc giống nhau,
nghĩa gốc giống nhau, phát triển nghĩa, yếu tố khác nhau 151
Bảng 4.8: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc khác nhau,
nghĩa giống nhau 152
Bảng 4.9: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc khác nhau,
nghĩa giống nhau, một yếu tố khác nhau ……… 153
Bảng 4.10: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc khác nhau,
nghĩa giống nhau, hai yếu tố khác nhau……… 154
Bảng 4.11: Thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt có cấu trúc khác nhau,
nghĩa giống nhau, ba yếu tố khác nhau ……… 155
Bảng Tổng hợp: Đối chiếu thành ngữ Hán Nhật – Hán Việt 160
Trang 8MỞ ĐẦU 0.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong mỗi ngôn ngữ, gắn liền với đời sống văn hoá, đặc biệt với cách tư duy của người bản ngữ đối với thế giới khách quan và với phong tục tập quán của mỗi dân tộc Để nắm được và sử dụng thành ngữ của một ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp, cần tìm hiểu đặc điểm cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ để sử dụng chúng
có hiệu quả trong giao tiếp Bên cạnh đó, thành ngữ là tài sản quý giá của mỗi ngôn ngữ, phản ánh đặc trưng tư duy dân tộc của người bản ngữ Do vậy, nghiên cứu thành ngữ có thể giúp tìm ra được những nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc và nếu việc nghiên cứu đó được tiến hành theo hướng đối chiếu thành ngữ của hai hay nhiều ngôn ngữ khác nhau có thể tìm ra được những nét tương đồng và khác biệt giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác Như vậy, ngoài việc là tấm gương phản ánh tâm tư tình cảm và cách tư duy của dân tộc bản ngữ, thành ngữ với nghĩa biểu trưng được tách riêng ra
và khi hành chức nó có khả năng phản ánh thực tế khách quan một cách khái quát Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đồng thời là một thành tố văn hóa nên nó mang trong mình những đặc trưng văn hóa dân tộc, những biểu tượng dân tộc Cũng như mọi ngôn ngữ, thành ngữ chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong tiếng Nhật Tuy nhiên do những hoàn cảnh lịch sử trong quá trình phát triển của mình, thành ngữ trong tiếng Nhật phân thành hai nhóm chính: nhóm thành ngữ thuần Nhật 慣用句Kanyouku và thành ngữ Hán Nhật 漢字熟
語Kanjijukugo
Cho đến nay việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Nhật tại Việt Nam bước đầu đã có một số công trình khảo sát trên các bình diện hình thức và ngữ nghĩa Có thể kể đến một công trình nghiên cứu về thành ngữ Nhật trong tiếng
Nhật như Luận án tiến sĩ Đặc điểm thành ngữ tiếng Nhật (Trong sự liên hệ
Trang 9với thành ngữ tiếng Việt) của Ngô Minh Thủy (2006), chủ yếu khảo sát những thành ngữ được cấu tạo theo đặc trưng ngữ pháp tiếng Nhật, trong đó chỉ giới hạn khảo sát những thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người (1019 đơn vị thành ngữ) Bên cạnh đó còn một số luận văn thạc sĩ khác cũng đã đề cập đến đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Nhật, nhưng về cơ bản những công trình nghiên cứu này chỉ mới đề cập tới mảng thành ngữ gốc Nhật mà thôi
Có thể nói rằng những nghiên cứu trên đã đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu tiếng Nhật nói chung và thành ngữ gốc Nhật nói riêng Tuy nhiên, mảng thành ngữ Hán Nhật - một bộ phận rất quan trọng của thành ngữ trong tiếng Nhật - hầu như chưa được quan tâm khảo sát một cách hệ thống trên các phương diện cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm sử dụng; chưa phân tích
về những đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Nhật thể hiện qua thành ngữ Đây chính là lí do khiến chúng tôi chọn thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật làm đề tài nghiên cứu của luận án
0 2 Lịch sử nghiên cứu
Ở Nhật Bản:
Có thể nói công trình nghiên cứu 熟語の研究 - 特に身体の部分的名称 を応用したものについて (Nghiên cứu thành ngữ, đặc biệt là về việc ứng dụng thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người) được in trong『博士功績記念 言 語学論文集』(Tuyển tập Luận văn Ngôn ngữ học - Kỷ niệm thành tích tiến sĩ) của Yokoyama Tatsuji 横山辰次 (1935)là công trình đầu tiên nghiên cứu
về thành ngữ tiếng Nhật Tuy nhiên công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến những thành ngữ mà thành tố của chúng là những từ chỉ bộ phận cơ thể người, còn các thành ngữ mà thành tố của chúng biểu thị các sự vật và đối tượng khác hầu như chưa được nghiên cứu Vào những năm 50 của thế kỷ XX việc nghiên cứu thành ngữ ở Nhật Bản bắt đầu được phát triển Một số công
Trang 10trình nghiên cứu về thành ngữ có tiếng vang lớn như công trình 日本語のイデ ィオム (Thµnh ng÷ tiÕng NhËt) của tác giả Shiraishi Daiji 白石大二 (1950), sau đó là công trình 国 語 の 慣 用 語 (Thµnh ng÷ quèc ng÷) của tác giả
Yokoyama Tatsuji 横山辰次(1953), công trình 慣用語句とその教育上の問題
(Thành ngữ và những vấn đề trong giảng dạy thành ngữ) và gần đây các công
trình nghiên cứu như 慣用句解説、(慣用句の意味と用法) của Miyaji Yutaka 宮
地 裕 (1977), 慣用句論 (Thành ngữ) của tác giả Kunihiro Tetsuya 国広 哲弥(1985) và một loạt các công trình nghiên cứu khác Có thể thấy rằng nội dung của hầu hết các công trình nghiên cứu này chỉ quan tâm đến việc xem xét các thành ngữ gốc Nhật hoặc có cấu trúc Nhật Muộn hơn có xuất hiện một số công trình khảo sát thành ngữ Hán Nhật nhưng chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu ứng dụng như của Wada Takeshi 和田 武司 và Okudaira Takashi 奥平 卓 (1987) – đồng tác giả của công trình 四字熟語 (Thành ngữ Hán Nhật bốn chữ
Hán) Trong công trình này các tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu về mặt ngữ
nghĩa thành ngữ Hán Nhật Ngoài hai tác giả này còn có tác giả Tanzawa Kouichi (2004) với công trình 四字熟語の形態を探る (Tìm hiểu hình thái thành
ngữ Hán Nhật bốn chữ) và khá nhiều các từ điển cỡ lớn biên soạn về thành
ngữ Nhật như ことわざの泉 (Tôc ng÷, thµnh ng÷ NhËt) của Taiji Takashima
高嶋泰二 (1993), 成語大辞苑 (§¹i tõ ®iÓn thµnh ng÷) của nhà xuất bản Shufu
To Seikatsu (1995), v.v
Ở Việt Nam:
Các công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp có đối chiếu với tiếng Việt, cho đến nay tương đối nhiều, nhưng những công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Nhật và thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật của giới Việt ngữ học ở Việt Nam còn rất khiêm tốn Những công
trình đầu tiên trong lĩnh vực này phải kể đến là công trình Tục ngữ Nhật - Việt
của Nguyễn Hồng Thu (2001) được xuất bản dưới dạng từ điển, Luận án tiến
Trang 11sĩ Đặc điểm của thành ngữ tiếng Nhật (Trong sự liên hệ với thành ngữ tiếng
Việt) của Ngô Minh Thủy (2006) và một số công trình nghiên cứu khác ở cấp
độ luận văn thạc sĩ Trong số đó Luận án tiến sĩ của Ngô Minh Thủy là công trình nghiên cứu một cách đầy đủ hơn cả về thành ngữ tiếng Nhật Tác giả này đã khảo sát một cách nghiêm túc các đặc trưng về cấu trúc và đặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Nhật, đặc biệt là nhóm thành ngữ có thành tố
là từ chỉ bộ phận cơ thể người trong sự liên hệ với tiếng Việt, tuy nhiên chỉ giới hạn khảo sát nhóm thành ngữ gốc Nhật, có cấu trúc Nhật, còn nhóm thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật thì hầu như chưa đề cập đến Như vậy ở Việt Nam các tác giả của các công trình trên chủ yếu chỉ nghiên cứu 慣用句
Kanyouku (1) còn 漢字熟語Kanjijukugo (2) - là thành ngữ Hán Nhật trong
tiếng Nhật thì hầu như chưa được đề cập đến Trong sơ đồ dưới đây có thể thấy vị trí của nhóm thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật đã được khẳng định:
Nguồn: Sơ đồ này được lập theo theo ý tưởng phân loại
các nhóm thành ngữ trong tiếng Nhật của Từ điển 成語大辞苑 (§¹i tõ ®iÓn thµnh ng÷) [110; 1-3]
(1) 慣用句 Kanyouku (2) 漢字熟語 Kanjijukugo
成語 Seigo, イディオム
Thành ngữ
Trang 120.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi gọi là “thành ngữ Hán Nhật” trong luận án này là những thành ngữ có nguồn gốc Hán được du nhập vào tiếng Nhật, trong đó có một bộ phận được người Nhật tạo mới dựa trên yếu tố Hán hoặc kết hợp yếu tố Nhật với yếu tố Hán Cho đến nay quan niệm về thành ngữ trong mỗi ngôn ngữ còn khác nhau và quan niệm về thành ngữ tiếng Nhật
và về thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật của chính các nhà Nhật ngữ học vẫn còn có nhiều điểm chưa hoàn toàn thống nhất Tuy nhiên hầu hết các quan niệm đều có một điểm chung là thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật được coi là một cụm từ cố định tương đương với một từ hoặc một cụm từ, có chức năng định danh và có nghĩa biểu trưng Đối tượng nghiên cứu của luận
án là những thành ngữ có cách đọc On (Onyomi), một số được đọc theo cả
âm On (Onyomi) và Kun (Kunyomi); là những cụm từ hay ngữ cố định có sẵn, phần lớn có bốn âm tiết; có nghĩa biểu trưng
0.4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài "Đặc điểm thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật" (có liên hệ với
tiếng Việt) được thực hiện nhằm nghiên cứu các đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật và làm rõ thành ngữ Nhật nói chung và thành ngữ Hán Nhật nói riêng vốn là một trong những đơn vị ngôn ngữ phản ánh đậm nét nhất các đặc điểm văn hóa của một dân tộc, phản ánh
và lưu giữ những dấu ấn và những giá trị văn hóa dân tộc của người bản ngữ
Đó là “một kho báu lưu giữ những trầm tích văn hóa đặc sắc và phong phú của dân tộc” [Hoàng Văn Hành, 34; 142] Do vậy, khi nghiên cứu đối chiếu thành ngữ giữa hai hay nhiều ngôn ngữ có thể tìm ra những nét tương đồng và
dị biệt về văn hóa giữa các dân tộc và ngược lại cũng có thể sử dụng các đặc trưng văn hóa để giải thích những tương đồng và dị biệt trong thành ngữ của
Trang 13cả hai hay nhiều ngôn ngữ Do đó việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ gắn với văn hóa là điều cần yếu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án đề ra các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Khảo sát các thành ngữ Hán Nhật từ các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa để chỉ ra các mô hình cấu trúc và những đặc trưng cơ bản về ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật
- Dựa trên kết quả khảo sát, luận án tiến hành đối chiếu thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật với thành ngữ Hán Việt trong tiếng Việt trên bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa và các biến thể của chúng
- Phân tích đặc trưng tư duy dân tộc của người Nhật thông qua sự hành chức của thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt về văn hoá được thể hiện trong thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật có liên hệ với tiếng Việt, giúp cho người Việt khi học tập và sử dụng tiếng Nhật, đặc biệt là thành ngữ Hán Nhật có thể nhanh chóng nắm bắt
và sử dụng đúng các đơn vị này trong giao tiếp, qua đó có thể ứng dụng hiệu quả trong dịch thuật và giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt
0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận án sử dụng phương pháp mô tả, phương pháp phân tích ngữ nghĩa để tìm ra những đặc trưng của thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật và sử dụng thủ pháp thống kê
Ngoài ra luận án còn sử dụng phương pháp đối chiếu Phương pháp này
sử dụng trong quá trình tiến hành luận án trên cơ sở những ngữ liệu đã thu thập được (2.220 đơn vị thành ngữ Hán Nhật), chủ yếu là đối chiếu lớp thành ngữ Hán Nhật với lớp thành ngữ Hán Việt, từ đó tìm ra những đặc trưng về cấu trúc, đặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật phản ánh đặc trưng tư duy và văn hóa dân tộc của người Nhật Thông qua việc đối chiếu thành ngữ
Trang 14Hán Nhật với thành ngữ Hán Việt cũng có thể làm sáng tỏ mối quan hệ đồng văn của hai dân tộc Nhật Bản - Việt Nam
Để thực hiện đề tài này chúng tôi thống kê và thu thập trực tiếp các đơn
vị thành ngữ từ các từ điển thành ngữ tiếng Nhật của các tác giả người Nhật,
và từ các từ điển thành ngữ tiếng Việt
Về tiếng Nhật:
Để đảm bảo độ tin cậy, luận án thống kê và thu thập tư liệu trực tiếp như nguồn tư liệu chính của luận án từ cuốn 成語大辞苑 (§¹i tõ ®iÓn thµnh ng÷) của Shufu To Seikatsu và các từ điển khác: 日本語のイディオム (Thành ngữ tiếng Nhật) của白石大Shiraishi Daiji (1950), 国語の慣用語 (Thành ngữ quốc ngữ) của横山辰次 Yokoyama Tatsuji (1953), 慣用句の誤り『言葉の研究室』của 浅野 信 Asano Shin (1955), 慣用語句とその教育上の問題 của 山本寛大 Yamamoto Kanta (1964), 四字熟語 (Thành ngữ bốn chữ Hán) của 和田 武司 Wada Takeshi, 奥平 卓Okudaira Takashi (1987, 1991), 四字熟語・四字漢字 の形態を探る(Tìm hiểu hình thái cấu trúc của thành ngữ Hán Nhật 4 chữ Hán, cụm từ Hán Nhật 4 chữ Hán) của 丹澤光一 (2004), スピーチ・手紙に役だつ四 字熟語 (Thành ngữ Hán Nhật trong phát ngôn, thư từ) của日本語表現研究会(Hội Nghiên cứu biểu hiện tiếng Nhật) (2005) ), 四字熟語問題集 (Tuyển tập những vấn đề về Yojijukugo của 国語問題研究会 (Hội Nghiên cứu những vấn
đề Quốc ngữ (1995), 現代ニッポンの四字熟語 (Yojijukugo Nhật Bản hiện đại) của nhà xuất bản三修社 (2001)
Về tiếng Việt:
Sách chuyên luận “Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán
Việt” của Nguyễn Tài Cẩn (1979), sách “Thành ngữ học tiếng Việt” của
Hoàng Văn Hành (2004), “Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt” (Chủ biên Nguyễn Như Ý, 1998), “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (Vũ Dung,
Trang 15Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào, 1997), “Thành ngữ - cách ngôn gốc Hán” (Nguyễn Văn Bảo, 1999), sách tra cứu “5000 thµnh ng÷ H¸n ViÖt th-êng
dïng” của Bïi H¹nh CÈn (1993)…
Ngoài ra luận án cũng tham khảo các luận án tiến sĩ về đối chiếu thành ngữ tiếng nước ngoài với thành ngữ tiếng Việt, luận án tiến sĩ về thành ngữ, tục ngữ Nhật, những công trình và sách chuyên luận của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ và đối chiếu thành ngữ
0.6 Cái mới của luận án
- Lần đầu tiên khảo sát lớp thành ngữ Hán Nhật (漢字熟語Kanjijukugo)
trong tiếng Nhật trên bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa
- Lần đầu tiên nghiên cứu thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật trong sự đối chiếu với thành ngữ Hán Việt trong tiếng Việt nhằm tìm ra những nét tương đồng, dị biệt, đặc biệt là những khác biệt do sự chi phối của đặc trưng
tư duy, văn hóa dân tộc của người bản ngữ
0.7 Ý nghĩa của luận án
Về mặt lý luận:
- Luận án cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật từ phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa, trên cơ sở đó luận án làm rõ những đặc điểm của lớp thành ngữ Hán Nhật trong sự đối chiếu với lớp thành ngữ Hán Việt, từ đó chỉ ra những đặc điểm tư duy, văn hóa dân tộc của người bản ngữ tiếng Nhật thông qua việc vay mượn, tạo mới loại thành ngữ này
- Những kết quả của luận án sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Nhật với tiếng Hán - hệ quả của sự đồng hoá các đơn vị từ vựng nước ngoài dưới áp lực của đặc thù tiếng Nhật
Trang 16- Việc đối chiếu thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật với thành ngữ Hán Việt của luận án góp phần vào việc nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung
và đối chiếu thành ngữ của hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình nói riêng
Về mặt thực tiễn:
- Việc nghiên cứu thành ngữ Hán Nhật góp phần vào việc sử dụng cũng như giảng dạy và học tập thành ngữ Hán Nhật nói riêng và thành ngữ Nhật nói chung giúp cho người Việt học tiếng Nhật nhận ra được những điểm tương đồng và khác biệt để sử dụng những đơn vị này một cách chính xác hơn, đồng thời giúp cho người Việt Nam hiểu rõ hơn đặc trưng tư duy dân tộc, bản sắc của nền văn hóa Nhật Bản
- Kết quả nghiên cứu luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản - Việt Nam
0.8 Bố cục và nội dung của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm bốn chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận
- Chương II: Đặc điểm cấu trúc thành ngữ Hán Nhật
- Chương III: Đặc điểm ngữ nghĩa thành ngữ Hán Nhật
- Chương IV: Nghiên cứu thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt nhìn từ góc độ đối chiếu ngôn ngữ
Luận án có một Phụ lục thu thập 2.220 thành ngữ Hán Nhật trong tiếng
Nhật
Trang 17Mặc dù vậy người Nhật luôn có một niềm tin mãnh liệt rằng tiếng Nhật
là thứ ngôn ngữ độc đáo
Liệu tiếng Nhật có phải là một ngôn ngữ độc đáo hay không? Để có lời giải đáp thích đáng cho câu hỏi này, chúng ta còn phải bàn luận nhiều về nguồn gốc ngôn ngữ của nó Xét về mối quan hệ các từ nguyên, so với các ngôn ngữ khác, tiếng Nhật đặc biệt ở chỗ lớp từ nguyên của nó không có nguồn gốc rõ ràng Nó có thể được sinh ra từ sự pha trộn, kết hợp giữa hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ, điều này đối lập với các ngôn ngữ chính khác trên thế giới bởi lớp từ nguyên của nó lại được phát triển bằng cách tách ra từ ngôn ngữ mẹ Từ góc nhìn bao quát hơn, tính độc đáo của tiếng Nhật có thể
Trang 18được thể hiện qua vô số mã ngôn ngữ Thứ nhất, hệ thống chữ viết trong tiếng Nhật cho phép sử dụng bốn loại chữ khác nhau để cùng miêu tả một khái niệm, đó là 漢字Kanji/ Hán tự, ひらがなHiragana, カタカナKatakana, và chữ Romaji/ chữ La Mã Trong phạm trù từ vựng học, những xu hướng vay mượn
từ liên tiếp đã dẫn đến sự ra đời một số lượng lớn các từ sinh đôi, sinh ba cùng gốc được hợp thành bởi một từ bản địa, từ Hán - Nhật, và từ thuộc ngôn ngữ châu Âu Thành tựu chính của tiếng Nhật trong thời kỳ Nara 奈良 (710 ~ 794) và đầu thời kỳ Heian 平安 (794~1185) là sự tiếp nhận hệ thống chữ viết mới Dựa trên những ứng dụng của chữ Hán, hệ thống chữ viết tiếng Nhật đã
có sự phát triển trên cả hai phương diện ngữ âm và ngữ nghĩa Hệ thống chữ viết ngày nay chính là kết quả của việc đơn giản hóa các nét chữ Hán nguyên bản
Ngoài việc sử dụng chữ Hán nguyên bản, tiếng Nhật còn phát triển thêm hai hệ vần Dạng viết tắt của chữ Hán chính là chữ viết thảo Chữ viết thảo là cơ sở phát triển hệ vần ひらがなHiragana Hệ vần カタカナKatakana được tạo ra từ những bộ phận của 漢字Kanji/ chữ Hán Gần đây, bản thân chữ Hán cũng được đơn giản hóa, tạo nên nét khác biệt so với chữ Hán ban đầu Hơn nữa, việc sử dụng dạng chữ Hán viết tắt ở Trung Quốc cũng hình thành nên những bộ chữ Hán khác nhau
Nói đến giao thoa văn hóa là nói đến quá trình trao đổi, vay mượn các yếu tố văn hóa và ngôn ngữ Tiếng Nhật cũng không nằm ngoài quy luật này, bởi nó vay mượn một số lượng lớn từ vựng của tiếng Hán Sự vay mượn có
hệ thống này diễn ra theo ba khuynh hướng mặc dù những sự vay mượn rời rạc trước đó đã để lại những từ thâm căn cố đế trong tiếng Nhật như うまuma
(ngựa), うめume (mận) Làn sóng vay mượn thứ nhất xảy ra trước thời kỳ
Nara khi Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản năm 538 Cách phát âm theo
âm 呉音 Goon/ Ngô âm đã góp phần vào sự hình thành cho làn sóng vay
Trang 19mượn giai đoạn này Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng âm 呉音Goon/
Ngô âm được mô phỏng theo ngôn ngữ thuộc miền nam Trung Quốc thời cổ
đại [189; 926] Vì vậy âm 呉音 Goon/ Ngô âm chính là sự phản ánh, mô
phỏng cho tiếng địa phương ở miền này
Làn sóng vay mượn từ Hán thứ hai diễn ra suốt thời kỳ Nara khi nhiều sinh viên và quan chức tòa án đến học tập ở Lạc Dương và Trường An - hai thành phố lớn của triều đại nhà Đường 漢音Kanon/ Hán âm là cách phát âm
mới được du nhập vào tiếng Nhật trong suốt thời kỳ này và được đánh giá là
âm chuẩn của thời nhà Đường thế kỷ thứ VIII Sau đó, tiếp đến thế kỷ XIV, tiếng Nhật được tiếp xúc với một loạt từ vựng mới và cách phát âm do các tín
đồ phái Thiền của Phật giáo mang lại Sự phát âm mới này có xuất xứ từ Hàng Châu, với tên gọi 唐音 Touon/ Đường âm - 宋音Souon/ Tống âm
Trong khi một số chữ có ba cách đọc phản ánh ba phương thức vay mượn thì hầu hết các từ còn lại được phát âm theo lối 呉音 Goon hoặc/và 唐音
Touon - 宋音Souon Hơn nữa, mỗi một kiểu phát âm lại mang nét khác biệt là
do chúng được sinh ra từ các phái học giả khác nhau Phát âm Goon thuộc
dòng Phật giáo, 漢音Kanon thuộc đạo Khổng và các học giả bình dân, còn
phát âm 唐音 Touon - 宋音Souon lại do phái Thiền đạo Phật tạo ra [190; 121]
Tuy nhiên đây chỉ là các yếu tố mang tính chất lịch sử, nói chung người Nhật không quan tâm lắm tới nguồn gốc của các cách phát âm này
Tiếng Nhật vay mượn tiếng Hán một cách chủ động, làm thành vốn từ
漢語 Kango/ Hán Nhật và đọc theo cách đọc riêng - gọi là cách đọc 音読み
Onyomi
Trong thời gian dài hàng thế kỷ, Nhật Bản có quan hệ với Trung Quốc nên đã tiếp thu những ảnh hưởng rất lớn về văn hóa của Trung Quốc Một trong những dấu ấn của ảnh hưởng này là sự tồn tại của lớp từ gốc Hán 漢語Kango (hay còn gọi là từ Hán Nhật) chiếm hơn 60% vốn từ tiếng Nhật Rồi từ
Trang 20cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với việc mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại, kỹ thuật với các nước châu Âu, từ ngữ nước ngoài (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan…) cũng nhanh chóng du nhập vào tiếng Nhật, tạo nên một lớp từ đặc biệt gọi là từ ngoại lai外来語Gairaigo Do vậy, hiện nay
về cơ bản, vốn từ tiếng Nhật gồm có 3 lớp từ: từ thuần Nhật和語Wago chiếm
khoảng 27%, từ Hán Nhật 漢語Kango chiếm khoảng 60% và từ ngoại lai 外来
語Gairaigo chiếm khoảng 13%
a) Lớp từ thuần Nhật 和語wago
Đây là lớp từ tạo nên vốn từ cơ bản của tiếng Nhật Các từ gốc Nhật được chia làm 2 tiểu nhóm: tiểu nhóm thực từ (mang nghĩa từ vựng) và tiểu nhóm hư từ (thực hiện các chức năng ngữ pháp) Trong tiểu nhóm thực từ có các từ thuộc loại danh từ, chủ yếu là các từ biểu thị khái niệm cụ thể như やま
yama núi, かわkawa sông, うみumi biển…, các động từ như 考える
kangaeru suy nghĩ, 食べるtaberu ăn, 習うnarau học …, các tính từ như
ちかいchikai gần, とおいtooi xa, たかい takai cao, ひくいhikui thấp,
おいしいoishii ngon… Tất cả các từ biểu thị các kiểu ý nghĩa ngữ pháp như
trợ từ, từ nối, trợ động từ… đều là từ gốc Nhật
b) Lớp từ Hán Nhật 漢語kango
Đây là những từ có nguồn gốc Hán, được gọi là 漢語kango hoặc từ Hán Nhật Ngày nay, vai trò của lớp từ này vẫn cực kỳ quan trọng, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong tiếng Nhật hiện đại Có thể hình dung vai trò của lớp từ Hán Nhật trong tiếng Nhật gần giống như vai trò của lớp từ Hán Việt trong tiếng Việt Phần lớn các từ Hán Nhật đều bao gồm 2 hoặc hơn 2 hình vị (được biểu thị bằng từ 2 chữ Hán trở lên) Ví dụ: 平等 byodou bình
đẳng, 自由 jiyuu tự do, 独立 dokuritsu độc lập, 研究 kenkyuu nghiên
cứu, 飛行機hikouki phi hành cơ/ máy bay… Về mặt từ loại, đa số các từ Hán
Trang 21Nhật là danh từ, trong đó chủ yếu là các danh từ biểu thị khái niệm trừu tượng như: 援助enjo viện trợ, 観念kannen quan niệm, 知識chishiki tri thức, 法
律houritsu pháp luật, 欠点ketten khuyết điểm… Khi các danh từ có nghĩa
hành động muốn hoạt động với tư cách là động từ thì buộc phải kết hợp với một từ thuần Nhật có chức năng chuyên biệt là するsuru, tạo thành các động
từ như 研究するkenkyusuru nghiên cứu, 練習する renshuusuru luyện tập… Ngoài ra có một số ít từ gốc Hán được sử dụng trong tiếng Nhật với tư cách
là tính từ như 綺麗 kirei đẹp/ sạch sẽ, 便利 benri tiện lợi, 有命 yumei nổi
tiếng…
Như đã trình bày ở trên, do các từ Hán vào tiếng Nhật trong các giai đoạn khác nhau nên ngoài sự phức tạp về âm đọc, ngay cả nguồn gốc của các
từ này không phải bao giờ cũng được người Nhật ý thức như nhau Có nhiều
từ vào tiếng Nhật từ xa xưa nên người Nhật quên mất nguồn gốc Hán của chúng như từ きく(菊)kiku hoa cúc, もちろん(勿論)mochiron tất nhiên, ま く(幕)maku màn sân khấu… Có những từ vốn có nguồn gốc từ tiếng Ấn Độ
cổ, sau đó đi theo con đường truyền giáo, qua Trung Quốc rồi vào Nhật, do đó cũng được viết bằng chữ Hán và được chấp nhận như từ Hán Ví dụ như 寺
tera chùa, 仏hotoke phật… Ngoài ra cũng có rất nhiều các từ Hán Nhật do
người Nhật tạo mới trên cơ sở mượn những yếu tố Hán như: 電話denwa điện
thoại, 野球yakyu dã cầu/ bóng chày, 汚職 oshoku tham ô, tham nhũng, 経済
keizai kinh tế…
Bên cạnh các từ gốc Hán biểu thị các khái niệm trừu tượng vốn không
có trong tiếng Nhật, buộc phải vay mượn, người Nhật còn chủ động du nhập
cả các từ Hán biểu thị sự vật hay khái niệm cụ thể vốn đã có trong tiếng Nhật gốc Do vậy cùng một sự vật hay khái niệm nhiều khi sử dụng đồng thời cả hai từ: một từ thuần Nhật, một từ Hán Nhật
Trang 22疲れるtsukareru (mệt mỏi) 疲労hirou
Tuy nhiên, các từ này có sự khác biệt về phạm vi sử dụng Từ thuần Nhật hay được dùng trong ngôn ngữ nói thân mật hàng ngày Còn từ Hán Nhật thường được dùng trong ngôn ngữ viết hay các tình huống lịch sự, trang trọng
c) Lớp từ ngoại lai 外来語gairaigo
Cho đến cuối thời Edo, trong vốn từ tiếng Nhật chỉ có từ thuần Nhật và
từ Hán Nhật Những từ nước ngoài xuất hiện ở Nhật vào khoảng giữa thế kỷ XVI Nhưng phải đến nửa cuối thế kỷ XIX, sau hơn 200 năm trong tình trạng
bế quan tỏa cảng, cùng với việc nối lại và mở rộng quan hệ với nước ngoài, các từ có nguồn gốc châu Âu như Anh, Đức, Hà Lan… mới thực sự du nhập
vào Nhật Bản Những từ này được gọi là từ ngoại lai (外来語 Gairaigo) và tăng lên rất nhanh Theo [104] , vào cuối thế kỷ XIX, số lượng từ 外来語Gairaigo chiếm 1,4 % vốn từ, nhưng đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã tăng lên đến khoảng 13 % Vị trí của từ 外来語 gairaigo thực sự được xác định trong đời sống ngôn ngữ của người Nhật Bản Trong một số lĩnh vực, đặc biệt các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, 外来語 gairaigo xuất hiện với tần số rất lớn Trong vốn từ chính trị, từ sinh hoạt hàng ngày, từ ngoại lai cũng
Trang 23chiếm một vị trí đáng kể khi biểu đạt những khái niệm hay những sự vật mới đƣợc du nhập từ bên ngoài vào
Biểu đồ 1.1: Vốn từ trong tiếng Nhật
Trang 24Cô ấy sinh viên là
(Cô ấy là sinh viên)
Song, trật tự từ trong câu tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh là: chủ ngữ + vị ngữ + bổ ngữ (S - V - O )
Tôi học tiếng Nhật (tiếng Việt)
I learn Japanese (tiếng Anh)
我 学 日語 (tiếng Trung)
So sánh với một số ngôn ngữ trên thế giới về trật tự các thành phần trong câu, ta có thể thấy một số ngôn ngữ có trật tự từ giống nhƣ trong tiếng Nhật là tiếng Triều Tiên, tiếng Ainu – tiếng của một dân tộc thiểu số Nhật Bản,
Trang 25tiếng Mông Cổ, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, v.v…
Một đặc trưng khác là trong tiếng Nhật có trợ từ như “に ni”, “を wo”,
… để biểu hiện quan hệ giữa hai từ trong câu Trợ từ が ga, はwa là “mác” đánh dấu chủ ngữ
1.2.2 Trật tự từ trong danh ngữ
Trật tự từ của danh ngữ khá ổn định Danh ngữ làm trung tâm luôn đứng ở vị trí cuối Các thành phần phụ tố của danh ngữ lần lượt được sắp xếp theo vị trí sau:
- Đại từ chỉ định + danh từ: その人 sonohito người đó
- Số từ + danh từ: その三人の人 sonosanninnohito ba người đó
- Danh từ (sở hữu) + danh từ: 私の友達 watashinotomodachi Bạn của tôi
- Tính từ + danh từ: よい友達yoitomodachi người bạn tốt
青い 葉 aoi ha
xanh lá (lá xanh)
おいしい 料理 oishii ryouri
ngon món ăn (món ăn ngon)
Trong danh ngữ tiếng Việt tính ngữ luôn đứng sau danh từ: lá xanh,
món ăn ngon
- Danh từ (sở hữu) + tính từ + danh từ: わ た し の よ い 友 達
watashinoyoitomodachi người bạn tốt của tôi
Động từ trung tâm luôn đứng ở vị trí cuối của động ngữ Còn các thành
tố phụ được bố trí ở phía trước Khi các thành tố phụ là danh từ thì chúng có
Trang 26cấu tạo danh từ + trợ từ
- Bổ ngữ trực tiếp + động từ: 漢字を書く kanjiwokaku viết chữ Hán
- Bổ ngữ gián tiếp (+ bổ ngữ trực tiếp) + động từ: 友達にお土産をおくる
tomodachini omyagewo okuru tặng quà cho bạn
kazokuto umihe iku đi biển cùng gia đình
Ngoài ra, tất cả các yếu tố biểu thị thời, thể… của động từ đều được biểu thị bằng việc kết hợp với các trợ từ hay trợ động từ ở phía sau động từ
1.2.4 Trật tự từ trong tính ngữ
Tính từ trung tâm luôn đứng ở cuối tính ngữ Các thành tố phụ lần lượt phân bố ở phía trước theo trật tự sau:
とてもおいしいtotemo oishii rất ngon
一番おいしい ichiban oishi ngon nhất…
1.3 Quan niệm về thành ngữ
1.3.1 Quan niệm chung về thành ngữ
Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ đặc biệt phản ánh đầy đủ đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của mỗi dân tộc, tồn tại trong mọi ngôn ngữ Cho đến nay, mặc
dù chưa thống kê được số lượng chính xác thành ngữ ở trong mỗi ngôn ngữ là bao nhiêu, nhưng các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất một điều rằng số lượng thành ngữ trong các ngôn ngữ là rất lớn Ví dụ như cuốn 成語大辞苑
(§¹i tõ ®iÓn thµnh ng÷) [103] , thu thập được khoảng 30.000 thành ngữ do
gần 80 giáo sư, nhà biên dịch tại các trường đại học, các viện nghiên cứu khác
Trang 27nhau biên soạn; cuốn Từ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông [88] do các tác
giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nguyễn Văn Khang và Phan Xuân Thành biên soạn đã thu thập và giải nghĩa gần 8.000 thành ngữ tiếng Việt và thành ngữ gốc Hán được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trong sách giáo khoa, tài liệu
học tập cũng như trong đời sống giao tiếp hàng ngày; cuốn Từ điển thành ngữ
tiếng Việt [55] của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang đã thu thập hơn 5.000
thành ngữ tiếng Việt; cuốn 5000 thµnh ng÷ H¸n ViÖt th-êng dïng [6] của Bùi
Hạnh Cẩn
Tác giả Shiraishi Daiji (白石大二) (1950) cho rằng thành ngữ (イディ
オム) là đơn vị ngôn ngữ có những đặc điểm cơ bản: Về hình thức, thành ngữ giống như cụm từ nhưng là cụm từ đặc biệt Là cụm từ bởi thành ngữ bao gồm ít nhất từ hai từ trở lên Là cụm từ đặc biệt bởi thành ngữ có tổ chức cấu trúc nghiêm ngặt, thường không thể thêm bớt từ hay thay đổi một cách tự do trật tự của chúng; có nghĩa biểu trưng, bóng bẩy, ẩn dụ [112]
Hầu hết các tác giả Weinreich (1969), Makkai (1972), Fernando và Flavell (1981) cho rằng thành ngữ là một biểu ngữ đa từ với những đặc điểm ngữ pháp khác hẳn với các cụm từ tự do khác đó là tính thành ngữ, hay còn gọi là tính thống nhất về nghĩa và tính cố định của các từ cấu thành Nói cách khác, một tập hợp từ càng có ít khả năng thay đổi một trong các từ cấu thành bao nhiêu, tập hợp đó càng có nhiều khả năng là thành ngữ bấy nhiêu
Trong khi Makkai (1972) dùng một loạt các tiêu chí như tổ hợp hình thái, tính nhạy cảm của một thành ngữ để lý giải theo nghĩa đen, tính mơ hồ, tính không thể dự đoán nghĩa và cấu thành thành ngữ, thì Fernando và Flavell (1981) lại sử dụng phương pháp phân tích nghĩa và cấu trúc để phân biệt thành ngữ, nói cách khác, nghĩa thành ngữ giống như một kết hợp hóa học, ví
dụ như có nguyên tử oxi và nguyên tử hydro (thể khí) kết hợp với nhau tạo thành một chất khác hẳn nước (thể lỏng) [Dẫn theo: 53; tr.42]
Trang 28Từ những ý kiến của các nhà nghiên cứu, có thể tóm tắt những quan điểm chung nhất về thành ngữ như sau:
1) Thành ngữ là cụm từ cố định, có cấu tạo từ hai từ trở lên, tồn tại trong mọi ngôn ngữ, mang những đặc trưng riêng của ngôn ngữ và văn hóa dân tộc
sử dụng ngôn ngữ đó
2) Thành ngữ có nghĩa tổng thể hoặc gần như tổng thể hoặc biểu trưng, bóng bảy, tức là các từ cấu thành, các yếu tố cấu tạo có mối liên hệ gần như hòa quyện vào nhau làm mất đi những nét nghĩa riêng của từng từ - từng yếu
tố nếu chúng đứng độc lập trong bối cảnh khác
3) Về cấu trúc, thành ngữ tương đương với cụm từ hoặc câu Về chức năng định danh, thành ngữ tương đương với một từ hoặc một cụm từ
4) Thành ngữ không dễ dàng chấp nhận việc tự do thêm bớt vào cấu trúc của mình
Như vậy, có thể chấp nhận một thành ngữ là một biểu thức phức hợp có nghĩa tổng thể thống nhất, có hình thức cố định và có sắc thái nghĩa cụ thể phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp
1.3.2 Quan niệm của giới Nhật ngữ học về thành ngữ
1.3.2.1 Các quan niệm về thành ngữ tiếng Nhật
Trước hết, thành ngữ là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ dân tộc
Nó được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày, trong trao đổi thư từ, trong sách báo với cách biểu đạt phong phú, giàu hình ảnh, hàm súc, mang ý nghĩa khái quát cao Có thể hiểu được cách đối nhân xử thế, cách tri nhận về thiên nhiên, về cách nuôi dạy con cái, cách chăm lo gia đình của người Nhật qua sự nhận xét, bình giá bằng thành ngữ
Ở Nhật Bản, việc nghiên cứu thành ngữ được bắt đầu khá sớm Đối với thành ngữ gốc ngoại nói chung và thành ngữ Hán Nhật nói riêng tình hình lại càng trở nên phức tạp hơn nhiều Sự tồn tại và hoạt động của chúng chịu ảnh
Trang 29hưởng của nhiều nhân tố như bối cảnh xã hội - ngôn ngữ của việc vay mượn, con đường vay mượn, thời kỳ vay mượn, quá trình đồng hóa, những quan niệm khác nhau về thành ngữ của giới ngôn ngữ ở mỗi quốc gia cũng như đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của mỗi dân tộc… Vì thế, nói đến thành ngữ là nói đến hàng loạt vấn đề lý thuyết liên quan như quan niệm về thành ngữ Ngoài
ra khi nói đến thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật là nói đến tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa Hán - Nhật, cách đọc Hán Nhật, nguồn gốc Hán, vấn đề Nhật hóa… Trước những nội dung rộng lớn như vậy, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ xin nêu một số nội dung trực tiếp có liên quan để từ đó xác định một khái niệm “thành ngữ Hán Nhật” mang tính tác nghiệp
Có thể nói công trình nghiên cứu đầu tiên về thành ngữ là của Yokoyama Tatsuji (横山 辰次) (1935), với nhan đề 『熟語の研究 - 特に、 身体の部分的名称を応用したものについて』 (Nghiên cứu thành ngữ, ứng dụng
đối với những thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người ) [111], công trình đã
nghiên cứu và tập hợp những thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người như:
目 me/ mắt, 顔 kao/ mặt được in trong 『博士功績記念 言語学論文集』
(Tuyển tập Luận án ngôn ngữ học - Kỷ niệm những công trình Tiến sĩ) Đến
những năm 50 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu về thành ngữ ở Nhật Bản bắt đầu phát triển Tiêu biểu như công trình『日本語のイディオム』(Thành ngữ
tiếng Nhật) của Shiraishi Daiji (白石 大二) (1950) Đây là một công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ và có tiếng vang lớn, tiếp đó là công trình của Yokoyama Tatsuji 横山 辰次 (1953), với nhan đề 『国語の慣用語』 (Quán
dụng ngữ quốc ngữ), công trình 慣 用 句 の 誤 り 『 言 葉 の 研 究 室 』, NXB Kodansha của Asano Shin (浅野 信) (1955), 慣用語句とその教育上の問題、NXB Meijizusho của Yamamoto Kanta (山本寛大)(1964)và gần đây là một loạt các công trình như: 実例実用四字熟語 800、講談社 của 野末陳平
Trang 30(1996), すぐに役立つ四字熟語辞典、日本文芸社 (1997), すぐわかる四字熟語、
研究会 - 家の光協会 (2005)…
Mặc dù được nghiên cứu khá sớm, nhưng hầu hết các công trình đã có
đề cập đến các vấn đề cơ bản như định nghĩa, xác định ranh giới giữa thành ngữ với những đơn vị ngôn ngữ khác, phân loại thành ngữ về mặt cấu trúc, vấn đề cấu tạo, ngữ nghĩa của thành ngữ Tuy nhiên, cho tới nay quan niệm
về thành ngữ, việc phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác như cụm từ tự do, từ ghép, tục ngữ vẫn chưa có ý kiến thống nhất Trong tiếng Việt “thành ngữ” vốn là thuật ngữ phổ dụng lâu nay, nhưng trong tiếng Nhật
để biểu thị khái niệm “thành ngữ’ lại có nhiều thuật ngữ khác nhau như: 慣用
句 kanyoku/ quán dụng cú, 成語 seigo/ thành ngữ, 漢字熟語 kanjijukugo/ Hán tự thục ngữ, イディオムidiom/ thành ngữ Vì vậy để làm rõ khái niệm
“thành ngữ” trong tiếng Nhật, luận án xin điểm qua một số khái niệm về
“thành ngữ” trong tiếng Nhật như sau:
1) Trước hết thuật ngữ 成語seigo/ 成句seiku trong tiếng Nhật đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật Bản nghiên cứu từ lâu và có hệ thống với nhiều cách tiếp cận khác nhau 成語seigo/ 成句seiku được định nghĩa như
sau: “Là những “ngữ cú”/ từ ngữ do người xưa tạo ra, được sử dụng lâu ngày
đã thành quen” (日本語大辞典/ Đại từ điển tiếng Nhật) [102]; hoặc “成語seigo/ 成句seiku là một trong những di sản văn hoá quý trọng được người
xưa để lại, trong đó chứa đựng những nội dung cực kì sâu sắc từ nhân sinh quan, thế giới quan đến những tri thức trong cuộc sống, được truyền đạt bằng hình thức có thể hiểu một cách đơn giản” (成語大辞苑/ Đại từ điển thành ngữ) [103] Như vậy có thể hiểu 成語seigo/ 成句seiku trong tiếng Nhật bao hàm một nghĩa rất rộng, khác hẳn với khái niệm “thành ngữ” trong tiếng Việt 2) Khái niệm 慣用句 kanyouku quán dụng cú được hiểu là tổ hợp từ có
Trang 31cấu trúc chặt chẽ, biểu thị ý nghĩa đặc biệt (いつもかたくむしびついてつくわれ て特別の意味を表す卖語のくみあわせ)[語彙教育・その内容と方法]) [104]…; hoặc 慣用句 kanyouku là một tổ hợp gồm hai từ/ ngữ trở lên, có tính cố định
về mặt hình thức và trật tự; về tổng thể hoạt động như một đơn vị ngôn ngữ, biểu thị ý nghĩa đặc biệt (二つ以上の語の結合が、語形や語順の固定性が強く、
nghĩa như vậy có thể hiểu 慣用句 kanyouku/ quán dụng cú trong tiếng Nhật
tương tự với “thành ngữ” trong tiếng Việt Tuy nhiên khi xem xét thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật cần lưu ý rằng thành ngữ Hán Nhật không thuộc 慣
用句 kanyouku/ quán dụng cú
Các nhà nghiên cứu khác cũng thống nhất với các quan điểm trên Miyaji Yutaka cho rằng 慣用句 kanyouku là những kết hợp gồm hai từ trở lên, cố định về mặt hình thức và có ý nghĩa chỉnh thể cố định; các tác giả Sakamoto Eiko 坂 本 英 子 、 鈴 木 重 幸 、 鈴 木 、 高 木 一 、 宮 島 達 夫 cho rằng 慣 用 句 kanyouku là tập hợp từ kết hợp với nhau chặt chẽ, biểu hiện một ý nghĩa đặc
biệt Các tác giả này đã xây dựng một số tiêu chí nhận diện kanyouku như sau:
Trang 32Ngoài kanyouku, trong tiếng Nhật còn có một bộ phận quan trọng đó là 漢字熟語 kanjijukugo [104] được định nghĩa như sau: Là những cụm từ về mặt văn tự được viết bằng chữ Hán, có kết cấu từ hai chữ Hán trở lên, còn về mặt ngữ âm thì phát âm theo âm Hán - Nhật (Onyomi), một số ít trường hợp được đọc theo cả âm Hán - Nhật (Onyomi) lẫn âm thuần Nhật (Kunyomi) Do khái
niệm 熟語 kanjijukugo rất rộng, nên trong phạm vi nghiên cứu của luận án
chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát những đơn vị được coi là “thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật”, tức là những cụm từ cố định tương đương với một từ hoặc một cụm từ, có chức năng định danh, có nghĩa biểu trưng, còn thục ngữ không được đưa vào đối tượng xem xét trong luận án này, ví dụ: 六腑五臓
roppugozou/ lục phủ ngũ tạng “bộ phận cơ thể người” 都道府県todoufuken /
đô đạo phủ huyện “những đơn vị hành chính ở Nhật Bản”…
Thuật ngữイディオム(idiom) được các từ điển cỡ lớn như [102], cho rằng: イディオム(idiom) gồm có: 慣用句 kanyouku 漢字熟語 kanjijukugo Như vậy イディオム(idiom) là từ ngoại lai mượn tiếng Anh, tương đương với các khái niệm 慣用句kanyouku, 漢字熟語kanjijukugo, 成句seiku/ 成語seigo
Như đã biết, trong tiếng Nhật tồn tại ba lớp từ vựng: 和語 wago (từ thuần Nhật) , 外来語gairaigo (từ ngoại lai) và 漢語 kango (từ Hán Nhật)
Về mặt chữ viết: 和語wago/ Từ thuần Nhật chủ yếu viết bằng chữ ひ
らがな hiragana và viết bằng chữ Hán nhưng đọc theo âm Kunyomi (âm thuần Nhật), 外来語 gairaigo/ Từ ngoại lai (lớp từ Ấn - Âu du nhập tiếng
Nhật) được viết bằng chữ カタカナKatakana, 漢語kango/ Từ Hán Nhật được
viết bằng chữ 漢字kanji, phát âm theo âm Onyomi (âm Hán Nhật) Điều này rất thuận lợi đối với người đọc văn bản Chỉ cần nhìn vào chữ viết là có thể nhận biết được đâu là từ thuần Nhật đâu là từ ngoại lai, từ Hán Nhật
Trang 33Trong thành ngữ cũng vậy, để dễ phân biệt, người Nhật dùng khái niệm 慣用句kanyouku để chỉ những thành ngữ gốc Nhật, thường được đọc theo âm
Nhật; khái niệm 漢字熟語kanjijukugo là để chỉ những thành ngữ Hán Nhật
trong tiếng Nhật, còn 成句 Seiku/ 成語 Seigo hay イディオム Idiom bao
hàm khái niệm rộng hơn gồm có 慣用句Kanyouku và 漢字熟語Kanjijukugo
Sơ đồ: 1.1
成語 Seigo イディオム Idiom
慣用句
Kanyouku
漢字熟語 Kanjijukugo
Trang 34Hầu hết các học giả Nhật Bản như Yokoyama Tatsuji (横山辰次) (1953),
Asano Shin (浅野 信) (1955), Yamamoto Kanta (山本寛大) (1964), Taiji
Takashima (高嶋泰二) (1993) đều cho rằng thuộc tính cơ bản của “thành ngữ”
(成語seigo/ 慣用句kanyouku/ イディオムidiom) là tính cố định, nhưng được
hiểu với nghĩa rất rộng với những nét đặc trưng sau: 1/ Cố định trong cách
dùng, 2/ Cố định toàn bộ hay bộ phận nghĩa, 3/ Cố định về từ vựng, 4/ Cố
định cấu trúc - ngữ nghĩa Ngoài ra họ cũng cho rằng chỉ dựa vào một thuộc
tính của thành ngữ thì không thể đủ cơ sở để phân xuất chúng thành đơn vị
ngôn ngữ được
Tóm lại các học giả Nhật Bản đều thống nhất cho rằng:
- Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, ngữ nghĩa của chúng nằm trong
cấu trúc cố định, vững chắc
- Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, ngữ nghĩa của chúng nằm
trong cấu trúc không đơn giản, có sắc thái riêng, có tính hình ảnh và ẩn dụ cao Các tác giả Sakamo Eiko (坂本 英子) và Suzuki (鈴木重幸) [104] đã
phân loại 慣用句 kanyouku thành hai tiểu loại: 慣用句 kanyouku nhìn từ góc
độ ngữ nghĩa và 慣用句 kanyouku nhìn từ góc độ cấu trúc
(1) 慣用句 kanyouku nhìn từ góc độ ngữ nghĩa được chia thành hai tiểu
loại:
- Kanyouku không có quan hệ trực tiếp với các nghĩa vốn có của các từ,
như:
はら を たてる/ dựng bụng → nổi giận/ tức giận
- Kanyouku có liên quan tới nghĩa gốc vốn có đồng thời biểu hiện nghĩa
trừu tượng, ví von:
はら が くろい/ bụng đen → xấu bụng
Tuy nhiên cũng có những trường hợp kanyouku được dùng với nghĩa cụ
thể vốn có của nó Ví dụ có thể phân biệt cụm từ với kanyouku trên cơ sở ngữ
Trang 35cảnh sử dụng: 鼻が 高い vừa có nghĩa gốc là mũi cao (*) vừa có nghĩa thành ngữ là phổng mũi/ kiêu căng (**)
Người châu Âu mũi cao hơn người Nhật Bản
(**) 彼は試験に合格して、鼻が 高い。
Vì thi đỗ nên anh ấy kiêu căng
(2) 慣用句 kanyouku nhìn từ góc độ cấu trúc được chia thành các tiểu loại
đi tốt → thuận lợi
b) Kanyouku có tính từ làm trung tâm
Trang 36cổ nguy hiểm → gặp nguy hiểm “ngàn cân treo sợi tóc”
c) Kanyouku có danh từ làm trung tâm
あとのまつりatonomatsuri sau (của) lễ hội (chậm/ muộn màng)
孔子の腹黒 koushinoharakuro bụng đen của Khổng Tử (ai cũng có
khuyết điểm; nhân vô thập toàn)
口約束 kuchiyakusoku lời hứa miệng (lời hứa suông/ hứa đầu lƣỡi)
d) Những loại khác
手を替え 品を替え tewokae shinawokae thay tay thay sản phẩm
(thử bằng nhiều cách), ピンから キリまで pinkarakirimade từ đầu đến cuối
のどから手が出るnodokara tega deru tay đưa ra từ cổ họng → thực sự
muốn, rất cần
顎で はえを 追う agode haewo ou đuổi ruồi bằng cằm → yếu ớt
- Mô hình thứ hai là thành ngữ gián tiếp, ý nghĩa của thành ngữ đƣợc
đúc rút ra từ tổng hợp cả nghĩa đen và nội dung minh họa, ít nhiều có mối liên
hệ ẩn dụ với ý nghĩa của thành ngữ Ví dụ:
目が 回る mega mawaru
mắt quay → hoa mắt
首を 切る kubiwo kiru
cắt cổ → bị đuổi việc, bị cách chức
Trang 37Shiraishi Daiji (白石大二)(1950)[112] căn cứ vào mức độ phân tích nghĩa tổng hợp của thành ngữ dựa vào các yếu tố cấu thành, chia thành
ngữ tiếng Nhật thành ba loại chính:
- Thành ngữ có thể phân tích nghĩa nhưng mờ nhạt: Là những thành ngữ có vẻ như không có một mối liên hệ rõ ràng giữa thành ngữ và những yếu
tố cấu thành nhưng người ta vẫn có thể suy ra được nghĩa chung của thành ngữ và cách sử dụng Ví dụ:
馬の耳に念仏umanomomoni nenbutsu
niệm phật tai ngựa → đàn gẩy tai trâu
馬の耳に風umanomimini kaze
gió thổi tai ngựa → đàn gẩy tai trâu
- Thành ngữ có cơ cấu nghĩa có thể phân tích một cách rõ ràng dựa trên ngữ nghĩa của thành tố có vai trò quy định nghĩa Ví dụ:
猿知恵saruchie/ trí tuệ khỉ → khôn vặt, láu cá
大同小異daidoushoui/ đại đồng tiểu dị
知小謀大chishouboudai/ tri tiểu mưu đại
- Thành ngữ ẩn dụ: là thành ngữ mà hình ảnh của các yếu tố cấu thành
cùng tạo nên nghĩa chung của thành ngữ Ví dụ:
猿も木から落ちるsarumo kikara ochiru
khỉ cũng rơi từ cây xuống (thánh cũng có lúc nhầm/ nhân vô thập toàn)
Kunihiro Tetsuya (国広てつや)(1985)[187], phân thành ngữ thành hai loại: 解釈型慣用句kaishakugatakanyouku/ thành ngữ dạng ẩn (thông qua giải thích) và 表現型慣用句hyougengatakanyouku/ thành ngữ dạng hiện (nhận diện thông qua các yếu tố cấu thành)
1) 解 釈 型 慣 用 句 kaishakugatakanyouku/ thành ngữ dạng ẩn là những
thành ngữ mà người ta không thể hiểu được ý nghĩa của chúng nếu không có sự giải thích của từ điển hay của ai đó Ví dụ:
Trang 38làm cho chân nghỉ ngơi → nghỉ chân
1.3.2.2 Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác
1) Phân biệt thành ngữ với từ
Trong tiếng Việt việc phân biệt thành ngữ với từ là không cần thiết vì
sự khác biệt giữa thành ngữ với từ là quá rõ ràng Tuy nhiên trong tiếng Nhật
về mặt cấu trúc thì ranh giới giữa từ và thành ngữ cần được xác định rõ ràng
vì trong nhiều trường hợp một từ trong tiếng Nhật có thể có dạng tổ hợp gồm hai từ, ví dụ: 値上がりneagari/ tăng giá, 工場見学 koujoukengaku/ tham quan
nhà máy, được coi như là những từ ghép, chứ không phải là thành ngữ
Theo Sakamoto Eiko (坂本 英子) (1993)[104; 142], căn cứ vào cấu trúc nội tại, 卖語tango/ đơn ngữ (từ đơn) trong tiếng Nhật có thể chia thành 卖純語tanjungo/ đơn thuần ngữ (từ đơn) và 合成語goseigo hợp thành ngữ (từ ghép), trong đó 合成語goseigo/ hợp thành ngữ (từ ghép) lại chia thành ba tiểu loại là: 複合語fukugougo/ phức hợp ngữ (từ phức) , 派生語haseigo/ phái
Trang 39sinh ngữ (từ phái sinh) và 畳語jougo/ điệp ngữ (từ láy) theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Cấu tạo từ tiếng Nhật
卖語 (từ)
卖純語 (từ đơn) 合成語 (từ ghép)
複合語 派生語 畳語 (từ phức) (từ phái sinh) (từ láy)
a) 卖純語 (từ đơn) là từ không thể chia cắt đƣợc thành những bộ phận nhỏ hơn có nghĩa Ví dụ: 秋aki/ mùa thu, 風kaze/ gió, 道michi/ đường, 食べ
るtaberu/ ăn, 川kawa/ sông, 山yama/ núi…
b) 合成語 (từ ghép) là những từ có thể chia cắt thành những bộ phận nhỏ hơn có nghĩa Ví dụ: 青葉aoba/ lá xanh, 草取りkusatori/ cắt cỏ, 朝晩
asaban/ sáng tối, 浮き沈みukishizumi/ chìm nổi, 波立つnamidatsu/ nổi sóng,
勉強するbenkyousuru/ học tập… 合成語 (từ ghép) lại có thể chia thành ba tiểu loại sau:
b1) 複合語fukugougo/ phức hợp ngữ (từ phức) là một loại từ 合成語Gouseigo (từ ghép) đƣợc cấu tạo bằng các căn tố là các từ đơn khác nhau Ví dụ: 花 見 hanami/ ngắm hoa, 人 波 hitonami/ biển người, 豊 作 貧 乏
housakubinbou/ nghèo vì được mùa…
b2) 派生語haseigo/ phái sinh ngữ (từ phái sinh) là một loại từ 合成語Gouseigo (từ ghép) đƣợc cấu tạo bằng cách thêm các tiếp vĩ ngữ hoặc tiếp
Trang 40đầu ngữ - là những đơn vị khi tách ra không hoạt động được độc lập vào một căn tố để bổ sung thêm nét nghĩa cho căn tố đó Ví dụ:
派生語Haseigo/ phái sinh ngữ (từ phái sinh) tiếp đầu ngữ như 大~/ đại,
lớn, 新~ mới, 現~ hiện (đương kim), 重~ trọng (nặng), 全~ toàn : 大
地 震 oojishin/ động đất lớn, 新 家 庭 shinkatei/ gia đình mới, 新 方 法
shinhouhou/ phương pháp mới, 現 大 統 領 gendaitouryou/ đương kim tổng
thống, 重工業juukougyou/ công nghiệp nặng, 全世界zensekai/ toàn thế giới…
派生語haseigo/ phái sinh ngữ (từ phái sinh) tiếp vĩ ngữ như ~さま
sama/ ngài, vị, ~さんsan/ ông, bà, anh chị, ~手te/ tay (chỉ người), …: 神さ
まkamisama/ vị thần, お医者さまoishasama/ ngài bác sĩ, 買い手kaite/ người
mua, 読み手yomite/ người đọc, …
b3) 畳語jougo/ điệp ngữ là loại từ ghép được cấu tạo bằng cách lặp lại cùng một căn tố Ví dụ: 国国 kuniguni/ nước nước (nhiều nước), 人人hitobito/
người người, 山山yamayama/ núi núi (nhiều núi, núi non trùng điệp)…
Theo Sakamoto Eiko (坂本 英子), việc phân biệt giữa thành ngữ với từ đơn và từ phái sinh thuộc từ ghép không có gì phức tạp vì ranh giới của những đơn vị này rất rõ ràng Tuy nhiên sự khó khăn ở đây là phân biệt giữa thành ngữ với những đơn vị khác như: từ phức và từ láy đều thuộc loại từ ghép Do cả từ phức, từ láy và thành ngữ, xét về mặt cấu trúc đều là dạng kết hợp của hai từ trở lên, nên trong tiếng Nhật những đơn vị này rất khó phân biệt, vì vậy cần nhấn mạnh đến cấp độ của các đơn vị này trong hệ thống ngôn ngữ khi phân biệt chúng với nhau (từ phức thuộc cấp độ từ, còn thành ngữ thuộc cấp độ cụm từ) Có một tiêu chí đưa ra để phân biệt thành ngữ với
từ phức là ở chỗ từ phức không xuất hiện trợ từ cách để biểu hiện chức năng ngữ pháp, còn thành ngữ có nhiều trường hợp xuất hiện trợ từ cách trong cấu trúc của nó Ví dụ, các đơn vị sau gọi là từ phức: にがわらいnigawarai/ cười
cay đắng, 聞きにくい kikinikui/ khó nghe, 近づきがたい chikadukigatai/ khó