Và cho dù ngôn ngữ của các phong cách khác có thể có chỗ đứng trong một tờ báo bởi lẽ báo chí hiện đại ngày nay có thể dung nạp rất nhiều thể loại khác nhau trong đó có cả những sáng tác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……….0O0………
NGUYỄN THỊ LAN ANH
ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC PHÉP LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN XÃ LUẬN BÁO HÀ NỘI MỚI
( TRÊN TƯ LIỆU TỪ NĂM 2004-2006 )
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ : 602201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỮU ĐẠT
HÀNỘI - 2007
Trang 32.3 Các phương thức liên kết trong tiếng Việt 29
Chương II Khảo sát các phép liên kết trong văn bản xã luận
báo Hà Nội Mới các năm 2004, 2005, 2006
5.2 Phép liên kết từ vựng trong văn bản xã luận báo Hà
Nội Mới các năm 2004 - 2006
73
Trang 4Chương III Vai trò của các phép liên kết trong việc tổ
chức văn bản xã luận báo Hà Nội Mới
80
1.2 Vai trò của phép nối trong việc tổ chức văn bản xã
luận báo Hà Nội Mới
85
2.2 Vai trò của phép liên kết từ vựng trong việc tổ chức
văn bản xã luận báo Hà Nội Mới
88
xã luận báo Hà Nội Mới
93
4.2 Vai trò của phép thế trong việc tổ chức văn bản xã
luận báo Hà Nội Mới
96
xã luận báo Hà Nội Mới
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, với những ứng dụng của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là cộng nghệ điện tử, loại hình báo chí đang ngày càng phát triển Bên cạnh các loại hình báo chí truyền thống, báo chí điện tử xuất hiện và mang đến nhiều tiện ích tuyệt vời mà không ai có thể phủ nhận Thế nhưng cho dù phát triển hiện đại như thế nào đi nữa thì những chức năng cơ bản của báo chí vẫn không hề thay đổi Và cho dù ngôn ngữ của các phong cách khác có thể có chỗ đứng trong một tờ báo (bởi lẽ báo chí hiện đại ngày nay có thể dung nạp rất nhiều thể loại khác nhau trong đó có cả những sáng tác văn học, kịch …) thì ngôn ngữ bao trùm lên toàn bộ tờ báo vẫn là thứ ngôn ngữ báo chí với những đặc điểm nổi bật của nó
Trong guồng phát triển chung của báo chí nước nhà, báo Hà Nội Mới đã và đang tạo được chỗ đứng trong lòng bạn đọc, là cơ quan phát ngôn của thành uỷ thành phố Hà Nội, là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ Đô Trong số các bài được coi là “đinh” của báo Hà Nội Mới, xã luận giữ một vị trí quan trọng Nó thể hiện quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước trong việc tuyên truyền, chỉ đạo và hướng dẫn
dư luận xã hội Chính vì thế một bài xã luận chuẩn mực, có tính thuyết phục là yêu cầu đặt ra với mỗi người cầm bút Xét về khía cạnh ngôn ngữ học, để đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng ấy, rất nhiều vấn đề được quan tâm chẳng hạn: cách sử dụng từ ngữ như thế nào, cấu trúc của câu ra sao và đặc biệt là mạng lưới liên kết giữa các câu được tổ chức kiểu loại gì? Đây chính là yếu tố quyết định đến nội dung và sự hấp dẫn của văn bản Không
có các phương tiện liên kết không thể hiểu văn bản chính xác, rõ ràng
Xung quanh vấn đề về liên kết và đặc điểm của phương thức liên kết trước nay đã có nhiều công trình nghiên cứu thế nhưng tìm hiểu về đặc điểm của các phương thức liên kết ở thể loại văn bản xã luận của báo Hà Nội Mới thì chưa hề được đề cập đến Theo hướng triển khai này, qua đề
Trang 6tài: “Đặc điểm sử dụng các phép liên kết trong văn bản xã luận báo Hà Nội Mới (trên tư liệu từ năm 2004 đến năm 2006)”, luận văn hy vọng sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện về cách thức tổ chức một văn bản xã luận và đặc điểm của thể loại văn bản này trong báo Hà Nội Mới những năm gần đây Thêm vào đó, luận văn cũng cho thấy được phần nào sự phát triển của tiếng Việt (mà cụ thể là hệ thống liên kết trong tiếng Việt) ở báo Hà Nội Mới nói riêng và loại hình báo chí hiện đại nói chung
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận: Liên kết câu là một phần không thể thiếu trong việc
xây dựng một văn bản Thế nhưng trong ngôn ngữ học quan niệm và cách phân chia các phép liên kết không phải lúc nào cũng như nhau Trên cơ sở các lý luận về thể loại báo chí, đặc thù của ngôn ngữ báo chí và đặc điểm của văn bản xã luận, các phép liên kết trong các văn bản xã luận báo Hà Nội Mới được tìm hiểu và phân tích theo quan điểm phi cấu trúc tính của hai tác giả Halliday và Hassan
- Về mặt thực tiễn: Trong sự phát triển của báo chí hiện đại, chất
lượng của mỗi tờ báo là động lực và cũng là mục tiêu hướng tới của các toà soạn và bản thân những nhà báo Đối với xã luận, một thể loại đặc thù của phong cách báo chí chính luận thì một văn bản chuẩn mực, có sự liên kết cả
về nội dung lẫn hình thức sẽ góp phần quan trọng vào hiệu quả tác động đến các độc giả
Xuất phát từ mục tiêu trên, qua việc thống nhất và miêu tả các dạng biểu hiện của các phép liên kết trong văn bản xã luận báo Hà Nội Mới, nhiệm vụ của luận văn là nhận diện được các phép liên kết được sử dụng chủ yếu: tần số xuất hiện, lý giải nguyên nhân và dụng ý của tác giả Từ đó, luận văn đưa ra những nhận xét về giá trị biểu đạt và vai trò của các phép liên kết trong việc tạo lập văn bản xã luận
3 Phạm vi nghiên cứu
Hà Nội Mới là một tờ báo ngày, chính vì thế số lượng báo phát hành hàng năm rất lớn Với thời gian và khả năng cho phép, luận văn chỉ quan tâm đến các số báo phát hành trong khoảng ba năm gần đây (2004,
Trang 72005, 2006) và giới hạn phạm vi khảo sát ở các văn bản xã luận mang tính chỉ đạo, tuyên truyền được đăng tải trong các dịp lễ lớn, những sự kiện trọng đại của dân tộc trong lịch sử và trong đời sống hàng ngày
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp miêu tả thống kê: Trên cơ sở là các văn bản xã luận
thu thập được chúng tôi tiến hành khảo sát phép liên kết được sử dụng ở từng văn bản: loại liên kết (cụ thể đến từng tiểu loại của chúng), cách thức thể hiện ra sao và số lần xuất hiện như thế nào?
- Phương pháp so sánh: Từ con số thống kê tổng hợp, chúng tôi
thực hiện thao tác miêu tả cụ thể các phép liên kết (dạng biểu hiện và dụng
ý của tác giả) Sau đó, chúng tôi đối chiếu, so sánh điểm giống, khác nhau
và rút ra vai trò của chúng đối với việc xây dựng, tổ chức các văn bản xã luận
- Phương pháp cải biến: Bằng việc thay thế, thêm bớt hay đổi vị trí
của các yếu tố làm nhiệm vụ liên kết trong từng phương thức liên kết cụ thể, luận văn chỉ ra sự khác biệt ngữ nghĩa giữa các cấu trúc, một lần nữa khẳng định vai trò của các phép liên kết trong văn bản xã luận
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận
- Chương II: Khảo sát các phép liên kết trong văn bản xã luận báo Hà Nội Mới các năm 2004, 2005, 2006
- Chương III: Vai trò của các phép liên kết trong tổ chức văn bản xã luận báo Hà Nội Mới
Trang 8Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I PHONG CÁCH BÁO CHÍ VÀ THỂ LOẠI BÁO CHÍ
1 Phong cách báo chí
1.1 Định nghĩa phong cách báo chí
Theo tác giả Hữu Đạt [8]: Phong cách báo chí là một phong cách chức năng được sử dụng hàng ngày trên các báo, tạp chí ấn hành từ trung ương xuống địa phương Phong cách báo chí là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai trò của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo Cụ thể hơn đó là vai trò của nhà báo, người đưa tin, người cổ động, người quảng cáo, bạn đọc… tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội Tác giả Đức Dũng trong cuốn “ Viết báo như thế nào” [7] đã định nghĩa: Báo chí là một hình thái ý thức xã hội lấy hiện thực khách quan là đối tượng để phản ánh Thông tin trong báo chí là một quá trình liên tục, xuyên suốt trong mối quan hệ trực tiếp giữa nhà báo – tác phẩm báo chí – công chúng báo chí Đứng trước một thế giới hiện thực chứa đầy thông tin, báo chí có những cách thức riêng với mục đích nhằm tới nhiều tầng lớp xã hội có những mối quan tâm, sở thích không giống nhau Hiện nay, báo chí là một hoạt động thông tin đại chúng nhất, năng động nhất Trên cơ sở những đặc trưng riêng, báo chí đã tạo ra những cách tiếp cận và phản ánh không giống với những hình thức phản ánh hiện thực của các phong cách chức năng khác
Cũng theo tác giả Hữu Đạt [8] ngôn ngữ được sử dụng trong phong cách báo tồn tại ở cả dạng nói và dạng viết Ở dạng nói có những bản tin hằng ngày, những mục thông tin quảng cáo trên đài phát thanh, truyền hình
Ở dạng viết là những văn bản những bài viết, những mẩu tin trên báo, tờ tin, ngay cả những mẩu quảng cáo hay rao vặt được viết trên giấy phát nơi đông người (mà chúng ta vẫn quen gọi là tờ rơi)…
Trang 9Ngày nay sự bùng nổ thông tin cùng với sự phát triển mau lẹ của công nghệ tin học đã có những tác động sâu sắc tới báo chí, tạo ra những điều kiện quan trọng để báo chí thể hiện sức mạnh của nó một cách sâu sắc, toàn diện và hiệu quả hơn Trước sự xuất hiện của internet và những tiện ích tuyệt vời mà nó mang lại, người ta có thể có lý do để lo ngại cho số phận của báo in, phát thanh và truyền hình Tuy nhiên, chính những nhu cầu đích thực của cuộc sống mới là nguyên nhân quyết định sự tồn tại của mỗi loại hình báo chí Chẳng hạn, đứng trước một sự kiện có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội vừa xảy ra, các cơ quan báo chí cùng phản ánh, nhưng mỗi nơi lại chọn cho mình một cách khai thác thông tin để thu hút độc giả: phát thanh có thể đưa tin, truyền hình diễn tả còn báo in thì bình luận Có nghĩa là trong đời sống báo chí hiện đại, các loại hình báo chí khác nhau vẫn tồn tại bên cạnh nhau bổ sung cho nhau để cùng phát triển Báo chí điện tử dù hiện đại và tiện dụng đến mức nào chăng nữa vấn không thể thay thế hoàn toàn cho những loại hình báo chí khác
1.2 Chức năng của báo chí
Là một hoạt động chính trị - xã hội ra đời do nhu cầu khách quan của
xã hội, đã phát triển đến một trình độ nhất định, báo chí mang trong mình những tiền năng to lớn đối với đời sống xã hội Bản thân sự ra đời và phát triển của báo chí đã khẳng định một cách khách quan vai trò, tác dụng và ý nghĩa của nó trong xã hội Tổng hợp những vai trò, tác dụng của báo chí cũng chính là một chức năng xã hội của nó
Theo các tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang trong cuốn “ Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” [30] thì chức năng của báo chí được phân thành các nhóm cơ bản sau: Nhóm chức năng tư tưởng, nhóm chức năng quản lý và nhóm chức năng phát triển văn hoá giải trí Nhiệm vụ của công tác tư tưởng là liên kết những thành viên riêng rẽ của xã hội thành một khối thống nhất trên cơ sở một lập trường chính trị chung, từ đó có thái độ tích cực để xây dựng và cải tạo xã hội Vì vậy chức năng có tính mục đích đầu tiên trong hoạt động tư tưởng của báo chí chính trị là nâng cao tính tự giác của quần chúng Bằng việc thông tin những sự
Trang 10kiện, hiện tượng một cách trung thực, khách quan báo chí định hướng dư luận xã hội thông qua các hoạt động tuyên truyền, cổ động và tổ chức Báo chí thực hiện chức năng quản lý xã hội bằng việc cung cấp và đảm bảo nguồn thông tin theo cả hai chiều: một mặt đăng tải, bình luận, phân tích các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước để các cấp, ngành và người dân nắm bắt, thực thi một cách có hiệu quả, hay phản ánh tình hình thực tế ở từng cơ sở; mặt khác báo chí cũng tham gia vào việc kiểm tra các thành phần xã hội trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách ấy và là công cụ đắc lực trong cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội
Bên cạnh chức năng tư tưởng và chức năng quản lý xã hội, báo chí thực hiện chức năng phát triển văn hoá và giải trí qua việc quan tâm thích đáng đến những giá trị văn hoá - nhân văn.[22]
Cùng bàn về vai trò của báo chí, tác giả Đinh Trọng Lạc nhấn mạnh hơn vào chức năng của ngôn ngữ trong phong cách báo chí Đó là chức năng giao tiếp lý trí và chức năng tác động của báo chí (định hướng các dư luận xã hội) Tác giả Hữu Đạt ngoài hai chức năng trên còn đề cập đến chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng Dưới đây xin được trình bày chi tiết hơn về các chức năng của báo chí theo quan điểm của tác giả Hữu Đạt [8]
1.2.1 Chức năng thông báo (thông tin)
Trong cuốn sách “Bước vào nghề báo” [dẫn theo1], hai tác giả
Lêônac Râytin và RônTaylơ đã cho rằng: Nếu như chỉ được nói một câu về báo chí, câu nói đó sẽ là “cái gì mới” Có lẽ đây là cách nói ngắn gọn nhất
về báo chí Điều đó cũng phần nào cho thấy chức năng của báo chí gắn liền với nhu cầu hiểu biết của con người về những cái mới Tác giả Đức Dũng
(Viết báo như thế nào) [7] cũng khẳng định đây là chức năng cơ bản có tầm
quan trọng hàng đầu của báo chí trong bối cảnh của thế giới hiện đại Cứ thử tưởng tượng chúng ta đang sống trong một thế giới mà ai cũng chỉ biết việc của mình, khu vực nào cũng chỉ biết khu vực đó Điều đó là không thể Thực tế là mặc dù báo chí định kỳ mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 17, nhưng
Trang 11những hình thức trao đổi thông tin thì đã từng xuất hiện trong buổi bình minh của nhân loại Sự phát triển của xã hội làm cho mọi thành viên của nó
có quan hệ mật thiết với nhau hơn, đồng thời xuất hiện nhu cầu cần phải trao đổi với nhau Lúc bấy giờ, mặc dù chưa thể nói đến sự tồn tại của báo chí theo cái nghĩa chính xác của từ này nhưng vẫn có những nhóm có tổ chức để phổ biến tin tức trong những bộ phận công chúng Chẳng hạn, thời các vương triều Ai Cập cổ đại đã xuất hiện loại báo chí thảo (viết lên lá cây, ván gỗ, vỏ cây…) Trong các nhà nước La Mã cổ đại (từ thế kỷ I trước công nguyên đến thế kỷ IV SCN) đã xuất bản những bản tin tổng hợp gọi là Actapublica và Actadiurna populiromami (Acta) Lúc đầu đó là những sắc lệnh, chỉ thị của Xêda Tin tức được viết lên một tấm bảng bằng thạch cao
và treo lên chỗ công cộng, dễ nhìn thấy “Acta” được sao ra nhiều bản rồi gửi đến các thành phố và các tỉnh trong đế quốc La Mã cho các quan chức đia phương, các thủ lĩnh quân sự và dân chúng biết để thi hành mệnh lệnh của chính quyền trung ương [30] Cùng với thời gian, những cơ quan thông tin đã phải trải qua một quá trình hình thành và phát triển trong những thời
kỳ khác nhau của xã hội có giai cấp Hiện nay, khái niệm thông tin ở dạng hoàn chỉnh đồng nghĩa với việc thông tin báo chí phải cung cấp đầy đủ về mọi mặt và dưới mọi hình thức Điều này trả lời cho câu hỏi báo chí thực hiện chức năng thông báo như thế nào: nội dung thông báo và cách thức thông báo?
Sự khác biệt giữa thông tin báo chí với các loại hình thông tin khác trước hết là ở chỗ thông tin báo chí đề cập đến những cái mới của đời sống một cách xác thực, và đặc biệt chú ý đến định hướng chính trị trong thông tin Bởi lẽ mặc dù chúng ta đều biết các vấn đề, sự kiện khách quan là đối tượng phản ánh của báo chí nhưng những sự thật đó khi từ đối tượng chuyển hoá thành nội dung thông tin của báo chí còn mang tính khách quan hay không còn phụ thuộc vào hàng loạt yếu tố khác, trong đó đặc biệt là quan điểm chính trị của nhà báo ( cách tiếp cận sự kiện, cách lựa chọn các chi tiết, cách thẩm định , lý giải, đánh giá sự kiện…)
1.2.2 Chức năng tác động
Trang 12Có thể nói, chức năng tác động luôn luôn đi kèm với chức năng thông báo Trong công trình của mình Rôrentơl cũng đã khẳng định:
“Trong phong cách báo chí, chức năng tác động luôn được hiện thực hoá cùng với chức năng thông báo thuần tuý” [ dẫn theo 30] Thực tế khi lĩnh hội thông tin bao giờ trong tâm lý người đọc cũng xảy ra “ phản ứng” hay
là sự phản hồi đối với thông tin Độc giả không thể chỉ đón nhận thông tin một cách đại khái rồi để đấy mà không nhận xét nó theo một quan điểm này hay một quan điểm khác Cho nên thông tin không chỉ “nhập vào” mà còn “hoạt động” trong nhận thức của con người Gần đây, báo Hà Nội Mới
có một chuyên mục nhỏ với tên gọi “ Chào ngày mới” thu hút được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc Chỉ chiếm một diện tích khá khiêm tốn trên trang nhất của báo nhưng “Chào ngày mới” cung cấp cho bạn đọc những vấn đề, sự kiện nổi bật trong ngày và trong thời gian sắp tới Chẳng
hạn như bài “Tràn ngập khí xuân” số 13607 ra ngày 3-1-2007, bài “ Nguy
hại không chỉ là lớn” số 13640 ra ngày 5-2-2007, (đề cập đến việc an toàn
thực phẩm ngày Tết), bài “Khoảng cách” số 13630 ngày 26-1-2007 (đề cập
đến mức lương và thưởng Tết của các doanh nghiệp)… và một loạt các bài viết khác đề cập đến những vấn đề nổi cộm trong dịp “năm hết Tết đến” Khi báo chí thuyết phục công chúng, hướng họ tới những ý nghĩ và hành động cụ thể, thiết thực thì báo chí tự nó đã mang những thông tin có tính chất hướng dẫn Hay nói cách khác, báo chí đã tạo nên dư luận xã hội
và định hướng dư luận xã hội Thông thường những thông tin được cập nhật trong sự “xô đẩy” với cái đã có sẵn từ trước tạo nên nhiều hướng tư duy và vận dụng, tuỳ thuộc vào quyền lợi, phẩm chất, năng lực của độc giả Trong những điều kiện khác nhau công chúng sẽ lĩnh hội và xử lý thông tin không giống nhau, có thể tích cực hoặc tiêu cực Thậm chí nhiều trường hợp một tác phẩm chỉ thuần tuý mang tính chất thông báo, phán ánh sự kiện nhưng trong sự “cọ sát” với những thông tin đã có trước đó, có thể sẽ
là nguyên nhân hình thành nên dư luận xã hội mới Chính vì thế ngôn ngữ báo chí luôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ to lớn là hướng dẫn dư luận và tác động đến dư luận làm cho người đọc hiểu được bản chất của sự thật để
Trang 13Ănghen trong tác phẩm của mình tin tưởng chắc chắn rằng báo chí cần phải
“ phản ánh sự kiện một cách đầy đủ, phản ánh được tình hình của xã hội văn minh hiện đại, nó sẽ phục vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền của chúng ta và bằng “ngôn ngữ” hùng hồn của sự kiện nó sẽ “truyền bá” sự cần thiết những biến đổi căn bản” [ 18]
1.2.3 Chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng
Khi thực hiện hướng dẫn và tác động dư luận, báo chí tự nó đã có sức quy tụ bạn đọc về phía mình Nói cách khác sự thu hút của ngôn ngữ báo chí đã tạo ra khả năng tập hợp và tổ chức quần chúng rất lớn Mặc dù đại diện cho công luận xã hội nhưng mỗi tờ báo thực chất lại đại diện cho mỗi nhóm người hay một tập đoàn người trong xã hội Vì thế “ các nhà tỷ phú, triệu phú không bao giờ dùng đài phát thanh, báo chí của chúng một cách
vô ích cả” (LêNin) [30]
Với báo chí Cách mạng của nước ta, Đảng ta cũng xác định báo chí
là một phương tiện quan trọng giúp thực hiện chức năng giáo dục chính trị
tư tưởng cho quần chúng Bằng việc thông tin những sự kiên, hiện tượng, quá trình của đời sống xã hội một cách trung thực, khách quan; phản ánh kịp thời, phong phú các sự kiện kết hợp với sự minh chứng chặt chẽ và khoa học là cơ sở tạo nên chất lượng mới trong nhận thức đến hành động Khi bàn về chức năng này tác giả Hữu Đạt [8] đã phân tích khá đầy đủ về vai trò tập hợp và tổ chức quần chúng qua thực tiễn của báo chí cách mạng thời kỳ bí mật trước khi cách mạng giành được chính quyền và vai trò của báo chí trong suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Hàng loạt những tờ báo cách mạng như: tờ Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo ra đời năm 1925, tờ Dân Chúng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, tờ Cờ Giải Phóng thời kỳ giành chính quyền, tờ Sự Thật thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Các tờ Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân sau này… Tác giả Hữu Đạt cũng phân biệt khá rõ sự khác nhau giữa chức năng tác động, hướng dẫn dư luận và chức năng tập hợp, tổ chức quẩn chúng, thể hiện qua ngôn ngữ của báo: “Khi thực hiện chức năng hướng dẫn dư luận
và tác đông dư luận, các bài báo thường sử dụng các câu hỏi tu từ kiểu như:
“Vì sao có thể làm ngơ trước hành động sai trái pháp luật” “Cần phải làm
Trang 14gì trước hiện tượng tiêu cực mới nảy sinh ở xí nghiệp Quyết Thắng?” “Tại sao vụ án phải xử đi xử lại?” “Phải chăng nên xử phạt công minh?” “Cần
có những biện pháp kịp thời để giải quyết vấn để nước thải của thành phố”… Khi thực hiện chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, ngôn ngữ báo thiên về cách dùng câu mệnh lệnh, kêu gọi Điều đó có thể nhận ra ngay trong tên gọi của các tờ báo Ví dụ: “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Công nông binh” Các câu hỏi mệnh lệnh thường dùng với các từ: hãy, không thể, phải đoàn kết lại, cần xiết chặt đội ngũ….[ 8]
Trong thực tế gần đây, chức năng tác động và tập hợp quần chúng của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng được phát huy (có thể nói) một cách sâu sắc và triệt để trong toàn xã hội khi các cơ quan truyền
thông này tuyên truyền vận động quần chúng ủng hộ cho quỹ vì người
nghèo Hàng loạt các bài báo, các chương trình truyền hình lớn như Lá lành đùm là rách, Quỹ tấm lòng vàng,Triệu trái tim một tấm lòng, Ngày vì người nghèo… đã có sức lay động lớn, quy tụ được sự đoàn kết của toàn dân,
đúng như lời dạy của Hồ Chủ Tịch: “Tờ báo chỉ là giấy trắng, mực đen mà thôi Nhưng với giấy trắng mực đen ấy người ta có thể viết những bức tối hậu thư, người ta có thể viết những bức thư yêu đương”
1.3 Tính chất, đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí
1.3.1 Tính chính xác
Theo tác giả Hoàng Anh [1] “Khi khảo sát các đặc điểm và tính chất của ngôn ngữ báo chí, xuất phát từ góc độ chức năng của nó, thì tính chính xác của ngôn ngữ báo chí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”
Như chúng ta đều biết chức năng cơ bản hàng đầu của báo chí là thông tin Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập đến các sự kiện Sự kiện chính là nhân tố để từ đó báo chí thực hiện các chức năng định hướng dư luận xã hội và tập hợp tổ chức quần chúng Xuất phát từ nhiệm vụ chính trị như vậy nên ngôn ngữ báo chí phải tuyệt đối chính xác
từ cách dùng từ, đặt câu Từ ngữ phải rõ nghĩa, cấu trúc câu đơn giản, dễ hiểu, tránh những kiểu câu trùng điệp, nhiều tầng bậc, nhiều ý, câu mơ hồ
kiểu như một người đó, một nơi nào đó… Thực tế báo chí cho thấy chỉ cần
Trang 15một sơ suất (dù rất nhỏ) về ngôn từ cũng có thể làm cho độc giả khó hiểu hay hiểu sai thông tin Mà hậu quả xã hội kéo theo sau đó thì không thể lường trước được
Tính chính xác của ngôn ngữ báo chí còn đòi hỏi phải cụ thể trong việc xác định, miêu tả đối tượng hoặc mảng hiện thực được đề cập đến Hay nói cách khác là phải tạo ra “ sự xác định” cho đối tượng được phản ánh Yêu cầu đầu tiên dễ thấy là mỗi sự kiện nhắc đến trong bài báo phải gắn liền với không gian, thời gian xác định, với những con người có tên tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, địa chỉ… cụ thể mà qua đó việc kiểm chứng thông tin là có thể thực hiện được Người ta vẫn thường nhắc đến một công thức chung, rất cổ điển (6W+ H), cho các nhà báo khi đặt bút viết là phải xác định trả lời cho các câu hỏi: What? (Cái gì?), Where? (Ở đâu?), When? (Khi nào?),Who?/Which? (Ai?/ Của ai?), Why? (Tại sao?), How? (Như thế nào?)[7] Điều này cho thấy yêu cầu về tính cụ thể, chính xác của ngôn ngữ báo chí luôn được đặt lên hàng đầu Và muốn có sự chính xác về thông tin,
sự kiện cần phải có cả phong cách trình bày rõ ràng, mạch lạc Về phương diện này thì cấu trúc không chỉ của cả bài viết mà cấu trúc của từng đoạn, từng câu phải logic, dễ hiểu; việc sử dụng từ ngữ phải chính xác và phù hợp
Để đảm bảo ngôn ngữ báo chí luôn có tính chính xác các nhà báo không chỉ nắm vững và không ngừng trau dồi vốn tiếng mẹ đẻ (như học hỏi, tìm hiểu để biết thêm về các sắc thái biểu cảm, về phong cách sử dụng,
mở rộng vốn tiếng, từ vựng, ngữ âm…) mà còn phải bám sát các sự kiện có thực và nguyên dạng để phản ánh như nó vốn có, không hư cấu, không thêm bớt
1.3.2 Tính đại chúng
Nếu như tính chính xác yêu cầu từ ngữ, câu cú diễn tả đúng như bản chất của sự kiện hay đối tượng thì tính đại chúng đặt ra cho người viết báo phải lựa chọn ngôn ngữ và dùng nó sao cho thích hợp với tất cả các tầng lớp trong xã hội Nói đơn giản thì đó là viết đúng và viết dễ hiểu
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng, điều đó có nghĩa là ngôn ngữ báo chí phải có tính phổ cập, phải dành cho đông đảo bạn đọc trong xã
Trang 16hội chứ không chỉ phục vụ riêng cho một tập đoàn nào[1].Vì vậy trong các tác phẩm báo chí từ ngữ phải đơn giản, dễ hiểu và phổ thông Người ta ít dùng các thụât ngữ chuyên ngành hẹp, các từ địa phương, tiếng lóng hay các từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài Nếu có sử dụng thì các từ ngữ đó
để phục vụ cho một dụng ý nghệ thuật nào đó, ví dụ ngôn từ trong các tác phẩm trào phúng, châm biếm, đả kích có thể ở rất nhiều dạng khác nhau… Thực tế có nhiều tờ báo ngành như báo Hải quan, báo Điện lực, báo Biên phòng….(tất nhiên những tờ báo này là cơ quan ngôn luận trực thuộc Bộ chủ quản) nhưng nó chỉ giới hạn và khoanh vùng về nội dung trong một ngành, một lĩnh vực cụ thể còn về mặt ngôn ngữ thì vẫn phải mang tính đại chúng Loại trừ trường hợp các bài có tính chất nghiên cứu chuyên sâu, những công bố, hay lý giải khoa học…
Thêm vào đó ngôn ngữ báo chí thường hay sử dụng các “khuôn mẫu” Đó là những mô hình ngôn từ có sẵn, được sử dụng lặp đi lặp lại, rất thích hợp với việc đưa tin cập nhật và tức thời Chẳng hạn một loại khuôn mẫu rất hay gặp trong các bản tin là các bài đưa tin về các chuyến viếng
thăm và làm việc của các nguyên thủ quốc gia Ví dụ như: “ Thông cáo báo chí về cuộc hội kiến giữa Thủ tướng Nguyến Tấn Dũng và Toà Thánh Va-ti-căng” (Hà Nội Mới số 13630 ra ngày 26-1-2007):
“ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Cộng hoà I-ta-li-a
Theo đặc phái viên TTXVN, ngày 25-1, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Rôma, bắt đầu chuyến thăm chính thức… theo lời mời của…
Ngay sau lễ đón, Thủ tướng đã hội đàm với…
Tại hội đàm, hai bên đã thông báo cho nhau tình hình của mỗi nước, trao đổi ý kiến sâu rộng về hợp tác song phương và một số vấn đề khu vực
và quốc tế mà hai bên cùng nhau quan tâm
Thủ tướng cũng bày tỏ vui mừng…
Cùng ngày, Thủ tướng đã tiếp…”
Nhờ có những khuôn mẫu như vậy mà cả nhà báo lẫn độc
Trang 17nhận thông tin Tuy nhiên, thường thì sự việc nào cũng có tính chất hai mặt, nếu quá “lạm dụng” khuôn mẫu sẽ gây “sáo và nhàm”
Bên cạnh đó, tính đại chúng của báo chí không có nghĩa là chung chung, trừu tượng Bất cứ một ý tưởng nào, không phụ thuộc vào chúng đơn giản hay phức tạp, cũng sẽ được độc giả hiểu dễ dàng hơn nhiều nếu
nó được phản ánh không phải qua các suy luận trìu tượng mà bằng cách viết, cách suy luận đơn giản, gần gũi với cuộc sống
1.3.3 Tính ngắn gọn và biểu cảm
Trong cuốn Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí [1], tác
giả Hoàng Anh cho rằng: “Một biểu hiện dễ nhận thấy của tính ngắn gọn là các bài báo hiện nay thường bị giới hạn trong một khoảng thời gian hay một diện tích nhất định”
Thông thường mỗi bài viết đều bị qui định trong một khuôn khổ với một lượng chữ cụ thể Đối với nhũng bài “không đặt trước” biên tập viên buộc phải chỉnh lý, cắt xén cho thích ứng khi lên trang báo Thậm chí hiện nay không ít toà soạn thi tuyển đòi hỏi đối tượng dự thi phải viết một hay một số văn bản với độ dài cho sẵn Đó là biểu hiện về hình thức khuôn khổ của bài báo, nhưng chính nó cũng là một trong những nguyên nhân quy định tính ngắn gọn của các từ ngữ và cấu trúc câu được lựa chọn để biểu đạt, nó thôi thúc nhà báo phải lựa chọn từ ngữ, cách viết sao cho phù hợp nhất, đạt được hiệu quả cao nhất Việc biết cách lựa chọn những từ, tập hợp
từ rồi kiểu nói thành công hơn cả để diễn tả các ý tưởng của mình một cách chính xác và rõ nét cũng như để có một phong cách trình bày rành mạch và
dễ hiểu đối với nhà báo có ý nghĩa rất quan trọng
Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn, chính xác Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, người nghe Đó là chưa kể đến việc không ai dám chắc viết dài lại không dễ mắc phải nhiều dạng lỗi khác như các lỗi về liên kết câu, câu thiếu thành phần, câu trùng điệp nhiều tầng lớp hay các lỗi lặp từ, ngữ…
Trang 18Tuy nhiên, tính ngắn gọn của ngôn ngữ trong phong cách báo chí không đồng nghĩa với khô khan, cứng nhắc Ở đây ngắn gọn mà vấn đủ ý, ngắn gọn nhưng lại biểu cảm Đây chính là điểm khác biệt của ngôn ngữ phong cách này với một số phong cách khác như phong cách khoa học, phong cách hành chính – công vụ Nhờ có tính chất này mà ngôn ngữ báo chí không chỉ tác động vào lý trí của độc giả mà còn tác động mạnh mẽ tới tình cảm của họ Tác giả Hoàng Anh trong cuốn “ Một số vấn đề sử dụng ngôn ngữ trên báo chí” [1] đã phân tích khá đầy đủ một số thủ pháp nhằm tăng cường tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí để nhờ đó thông tin trở nên sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và dễ tiếp thu hơn đối với độc giả Có những thủ pháp tưởng chừng rất đơn giản nhưng hiệu quả đem đến lại không ngờ như việc dùng dấu câu, dùng từ ngữ hội thoại, nói dựa, trích dẫn, sử dụng chất liệu văn học… Bên cạnh đó có những thủ pháp đã trở nên khá quen thuộc như: chơi chữ; dùng ẩn dụ; sử dụng thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn cùng các biến thể của chúng
1.3.4 Tính hấp dẫn và thuyết phục
Hấp dẫn và thuyết phục là tiêu chí hướng tới của bất cứ một
tờ báo nào, nhất là trong thời đại mà báo chí đang rất phát triển và cuộc cạnh tranh bạn đọc đang diễn ra ngày càng quyết liệt Trong tổng thể chung đó đòi hỏi mỗi thể loại, mỗi bài viết phải tạo nên được sức lôi cuốn cho riêng mình Tất nhiên mỗi loại hình đều có đặc thù riêng về phương thức biểu hiện hay nói cách khác là có khuôn mẫu quy định về phong cách diễn đạt Thế nhưng về cơ bản sức lôi cuốn và thuyết phục của một bài viết phải là sự kết hợp của hai phương diện nội dung và hình thức:
- Về phương diện nội dung:
Muốn bạn đọc không cảm thấy nhàm chán thì nội dung thông tin trong báo chí phải xác thực và được cập nhật thường xuyên Có khi cùng một nội dung với nhiều tờ báo khác nhưng nó phải được
Trang 19độc giả quan tâm Nếu bài báo cung cấp được cả sự phản hồi theo nhiều chiều của dư luận xã hội về vấn đề đó thì sức lôi cuốn của
tờ báo càng lớn
- Về phương diện hình thức:
Điều đầu tiên tác động trực quan tới lý trí bạn đọc đó là tít bài Một tít bài phù hợp với nội dung chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ, muốn thu hút độc giả hướng vào mình thì bài viết phải có một tít bài lôi cuốn Tác giả Hoàng Anh có lưu ý tới một số thủ pháp và một số cách thường dùng để xây dựng tít bài như: đối lập tiêu đề và nội dung, tiêu đề dạng câu hỏi, dạng bình luận,…(Ở đây tác giả sử dụng tên gọi tiêu đề thay cho tít bài) Ví dụ các tiêu đề giật gân dùng để khêu gợi sự chú ý của tác giả, chúng rất hiệu quả trong việc tạo ra những cảm hứng ban đầu khiến cho độc giả phải đọc toàn
bộ bài báo nhằm thoả mãn tính hiếu kỳ của mình… các tiêu đề nêu đích
danh sự việc giật gân, như: Thi hành án tử hình bằng phạt cười, Cụ già 92
tuổi mọc… răng khôn (An ninh thế giới, 25/9/1998), Các nam ca sỹ ngày càng đẹp… gái (Thể thao và văn hoá, 17/6/2001) [1]
Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng tít bài mới chỉ là “những cảm hứng ban đầu” còn cái độc giả quan tâm vẫn là phần nội dung được trình bày sau đó “Do đó, sự hấp dẫn về mặt hình thức của báo phải bao gồm một tổng thể hình thức: từ cách trình bày đến các hình ảnh phụ hoạ (kênh hình) Cuối cùng là các biện pháp sử dụng ngôn ngữ, trong đó có việc lựa chọn từ, ngữ Đặc biệt là cách tạo ra những kiểu kết hợp bất ngờ, gây
ấn tượng mạnh về ngữ nghĩa sẽ có tác dụng rất lớn với sự cảm nhận và tri giác của người đọc”[8]
Để tạo nên tính hấp dẫn thì ngoài việc ngôn ngữ báo chí phải đảm bảo các tính chất như đã phân tích ở các phần trước: tính chính xác, tính đại chúng, tính ngắn gọn biểu cảm thì còn phải vận dụng một số biện pháp tăng thêm sức lôi cuốn như:
- “Sử dụng từ độc đáo
- Kiến tạo những kết hợp từ độc đáo, bất ngờ
Trang 20- Sầu riêng với nỗi buồn chung (Phụ nữ Việt Nam, 25/6/1999) [1]…
Các biện pháp trên dù có khả năng hấp dẫn thì vẫn phải đảm bảo được các nguyên tắc của nền báo chí cách mạng lành mạnh như sự phù hợp giữa nội dung và các logic ngữ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu về giáo dục thẩm mỹ và bản sắc văn hoá dân tộc, nói cách khác là hấp dẫn mà vẫn có định hướng
1.3.5 Tính chiến đấu mạnh mẽ
Trong suốt những năm 30 của thế kỷ XX, báo chí đã đóng một vai trò quan trọng, là công cụ đấu tranh sắc bén của cách mạng Việt Nam trên mặt trận văn hoá tư tưởng Nền báo chí Cách mạng của chúng ta lúc công khai khi bí mật, không chỉ phát huy tác dụng vạch trần tội ác và bản chất xấu xa của đế quốc, thực dân xâm lược mà còn có sức lôi cuốn, quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân Không chặng đường lịch sử nào của dân tộc lại thiếu vắng vai trò của báo chí Xuyên suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, báo chí cách mạng Việt Nam trưởng thành, không chỉ tập hợp được lực lượng của toàn dân, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù mà
Trang 21còn kêu gọi và giành được sự ủng hộ của bạn bè và các lực lượng tiến bộ trên thế giới đứng cùng trận tuyến với dân tộc Việt Nam Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, báo chí phát huy tác dụng trong việc điều tra, phát hiện, đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, những tệ nạn xã hội…Nó là tiếng nói cổ vũ cho sự phát triển của cái mới, cái tiến bộ trước rào cản của cái lạc hậu, bảo thủ Chính vì thế trong giai đoạn nào của lịch sử dân tộc, báo chí cũng mang tính chiến đấu mạnh mẽ, có khác chăng chỉ là nội dung biểu hiện của nó
Xuất phát từ chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng của mình mà ngôn ngữ của báo chí phải có sức lay động, sức quy tụ
và định hướng cho công chúng Tuy nhiên, không phải bất cứ loại bài nào trong thể loại báo chí cũng thể hiện rõ tính chiến đấu Có thể nói, thể hiện rõ nhất cho đặc trưng này của báo chí là ở các bài
xã luận và bình luận “ Tính chiến đấu của báo chí được hình thành từ những cách lập luận đanh thép, từ các phương pháp sử dụng từ ngữ nhằm châm biếm, công kích, tiến tới phủ định đối phương Trong đó việc xây dựng các hình ảnh tương phản, các mệnh đề khẳng định và phủ định chiếm một vị trí quan trọng…Tính chiến đấu thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau: Phủ định hoàn toàn…Châm biếm đả kích nhằm hạ uy thế đối phương…”[8]
Có khi tính chiến đấu bộc lộ ngay ở tít bài của báo Xem qua một vài tít bài của xã luận báo Hà Nội Mới chúng tôi thấy dạng câu khẳng định, câu phủ định được sử dụng khá thường xuyên Bên cạnh đó là những cấu trúc câu kiểu kêu gọi, thúc giục hành động…
Ví dụ:
Trang 22- Nêu cao giá trị văn hoá Hồ Chí Minh (6/6/2006)
- Xây dựng nền tư pháp phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc (2/3/2006)
2 Thể loại báo chí
2.1 Quan niệm về thể loại báo chí
2.1.1 Định nghĩa thể loại báo chí
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô “thể loại là khái quát hoá nhũng đặc điểm của một nhóm lớn các tác phẩm có cùng thuộc tính về nội dung, hình thức, cách biểu hiện tác phẩm của một thời đại, một giai đoạn, một dân tộc hay một nền nghệ thuật thế giới” (dẫn theo
Trần Quang, Các thể loại báo chí chính luận) Có thể nói thể loại là
một khái niệm phổ biến của nhiều ngành khoa học xã hội Riêng trong lĩnh vực báo chí, việc nhận diện chính xác thể loại báo chí rất có ý nghĩa Nó sẽ giúp cho người biên tập và ban biên tập rất nhiều trong việc tổ chức trang báo Thực tế cũng cho thấy những trang báo có sự sắp xếp hợp lý các thể loại sẽ có sức hấp dẫn, giúp người đọc tiếp nhận thông tin dễ dàng và nhanh chóng hơn Chẳng hạn khi người đọc muốn cập nhật những sự kiện mới trong nước và quốc tế hàng ngày, họ tìm đọc trang tin tức hay thời sự, khi muốn biết quan điểm của giới báo chí
về một sự kiện nào đó họ tìm mục bình luận hay khi muốn thư giãn có thể tìm đến trang văn hoá - xã hội …
Trang 23Quan niệm về thể loại báo chí, tác giả Đinh Hường [29] định nghĩa: “ thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của các bài báo, được phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung mang tính chính trị, tư tưởng nhất định” Tác giả Tạ Ngọc Tấn cũng quan niệm thể loại báo chí là một khái niệm để chỉ tính quy luật loại hình của một tác phẩm báo chí “Thể loại là sự thống nhất có tính quy luật - lặp lại của các yếu tố trong một loạt tác phẩm báo chí.”[24] Tác giả Đức Dũng lại nhấn mạnh đến “ cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống hiện thực…, một phạm vi xác định ứng với một hình thức tương đối ổn định…”[6] Tuy các tác giả trên đã có những quan niệm rất gần nhau về thể loại báo chí nhưng lại thiếu sự thống nhất về những yếu tố chủ đạo trong từng nhóm thể loại cho nên các tác giả đã thể hiện sự không thống nhất khi xem xét các vấn đề cụ thể
2.1.2 Các nhóm thể loại
Do nền báo chí ở các quốc gia khác nhau có những đặc điểm đặc thù nên hệ thống thể loại báo chí ở mỗi nước cũng không hoàn toàn giống nhau Bởi lẽ đó là lý thuyết về hệ thống thể loại thường chỉ phản ánh được thực tế của một nền báo chí cụ thể
Như phần trên đã trình bày, các tác giả đều có những quan điểm của mình và đề xuất cách phân chia thể loại báo chí Chẳng hạn, tác giả Tạ Ngọc Tấn [24] chia báo chí thành ba thể loại lớn sau: “ Trong loại tác phẩm thông tấn có các thể loại: tin, tường thuật, phỏng vấn, ghi nhanh, điều tra, phóng sự Loại tác phẩm chính luận bao gồm các thể loại bình luận, xã luận, chuyên luận Loại tác phẩm thông tấn văn nghệ bao gồm các thể loại bút ký, ký sự, nhật ký phóng viên, tiểu phẩm” Trong cuốn “ các thể loại báo chí” tác giả Đức Dũng [6] cũng trình bày quan niệm của mình về thể loại báo chí như sau: “ hệ thống các thể loại báo chí nước ta được hình thành trên cơ sở của ba loại thể: loại thể thông tấn báo chí, loại thể chính luận báo chí, loại thể ký báo chí”
Trang 24Tất nhiên khi phân chia các thể loại các tác giả cũng phải căn cứ vào những cơ sở nhất định mà tác giả Trần Quang gọi là “ những dấu hiệu của các thể loại” Có thể hiểu đó là những đặc điểm riêng nổi bật nhất của các thể loại, trong đó chứa đựng những dấu hiệu tương đối ổn định và mang tính trội Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ của một tác phẩm báo chí Tuy cùng viết về một đề tài nhưng trong mỗi trường hợp hay tuỳ theo yêu cầu của cơ quan báo chí mà người viết bài lựa chọn hình thức và phương pháp thể hiện cho hợp lý Tổng kết
từ thực tiễn báo chí thì khi cần thông báo, phổ biến các sự kiện đơn lẻ thì dùng tin ngắn; khi viết về các gương người tốt, việt tốt thì có thể viết ký chân dung; nếu muốn điều tra, sáng tỏ một sự kiện nào đó mà công chúng đang quan tâm thì dùng thể loại điều tra… Bên cạnh đó để phân biệt loại người ta còn xuất phát từ đặc thù của đối tượng được miêu tả hay căn cứ vào phạm vi của sự tổng kết Các thể loại báo chí còn phân biệt nhau ở các phương tiện tái hiện hình ảnh và mức độ truyền cảm
Nhìn chung, gần đây lý thuyết báo chí nước ta đã chú ý tới vấn đề thể loại Tuy vẫn còn những khác biệt trong cách dùng thuật ngữ, trong việc xác định vị trí, đặc điểm của một vài thể loại nhưng về cơ bản các tác giả đều nhất trí cho rằng hệ thống thể loại báo chí nước ta đã được hình thành với ba thể loại:
- Nhóm các thể loại thông tấn báo chí: tập hợp một số thể loại thông tin như: tin, bài thông tấn, điều tra, tường thuật, phóng sự cùng với một số biến thể khác… Đặc điểm nổi bật nhất của các thể loại thuộc nhóm này là chúng gắn liền với việc phản ánh các sự kiện, thông tin thời sự
- Nhóm các thể loại chính luận báo chí: gồm ba thể loại chủ yếu
là bình luận, xã luận và một số dạng biến thể khác như phiếm luận, nhàn đàm….Các thể loại thuộc nhóm này có nhiệm vụ định hướng dư luận, giúp công chúng hiểu biết về các vấn đề và sự kiện theo một quan điểm nhất định
- Nhóm các thể ký báo chí: “Ký” là ghi chép, nhưng là ghi chép tuân thủ theo những tiêu chí của thể loại So với hai nhóm thể loại nêu trên ký
Trang 25thông tin lý lẽ như hai nhóm trên các thể ký báo chí còn ít nhiều có khả năng thông tin thẩm mỹ Các thể loại chủ yếu trong nhóm ký báo chí gồm: phóng sự, ghi nhanh, ký chân dung, thư phóng viên, sổ tay phóng viên…
2.2 Xã luận
2.2.1 Khái niệm
Theo Trường Chinh: “ Xã luận là một bài báo quan trọng nhất trong một số báo, nêu lập trường, quan điểm của một tờ báo (tức là của chính đảng hay đoàn thể mà tờ báo đó là cơ quan ngôn luận) về một vấn đề quan trọng nào đó Riêng đối với báo hàng ngày, xã luận có khi là một bài tóm tắt những việc lớn trong 24 tiếng đồng hồ hoặc một tuần có bình luận”
(Dẫn theo Các thể loại báo chí chính luận - Trần Quang)
Là một trong những văn bản thuộc nhóm thể loại báo chí chính luận, nhiệm vụ của xã luận là phản ánh đường lối chính trị của cơ quan báo chí, trình bày chính kiến của nó về những vẫn đề quan trọng nhất trong thời điểm hiện tại Ví dụ trong thời gian diễn ra Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X (tháng 4-2006) có các bài xã luận hướng đến sự kiện chính trị trọng đại này như: “ Cần đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng (số 13353 ngày 21-4-2006); bài “ Đảng ta muôn vạn tấm lòng, niểm tin” (số 13358 ngày 26-4-2006)…
Chức năng của xã luận là kịp thời phản ứng trước vấn đề thời sự, giúp độc giả định hướng đúng Vì vậy cũng có người quan niệm xã luận là một bài bình luận tập thể của ban biên tập báo về một vấn đề đang được quan tâm Nó thể hiện quan điểm và thường trực tiếp dựa trên cơ sở những nghị quyết của các cơ quan chủ quản Tuyên truyền những nghị quyết của
cơ quan chủ quản, bài xã luận tích cực kêu gọi độc giả tham gia thực hiện chúng trên thực tế Với ý nghĩa đặc biệt như vậy, bài xã luận được xây dựng trên những sự kiện và chứng cứ rõ ràng Sơ đồ của nó không thể thiếu vắng sự phân tích sự kiện, những khái quát sâu sắc, sự phê bình đúng thực chất và những hướng dẫn thực tế… Trong bài xã luận phải vạch ra đường lối hành động Tuy nhiên văn phong của xã luận không giống như trong các
Trang 26thông tư, công văn, giới thiệu các đường lối, chủ trương, chính sách của cơ quan chủ quản hay các mệnh lệnh hành chính khô khan mà nó phải có khả năng thuyết phục, khả năng lập luận chặt chẽ Nói cách khác sự cổ động chính trị phải dựa trên những thông tin linh hoạt và chính xác Thực tế có những bài xã luận của một số tờ báo lớn đã đạt đến tầm cao lý luận và có giá trị trong việc hướng dẫn thực tiễn
Là cơ quan phát ngôn của thành uỷ thành phố Hà Nội, là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô, báo Hà Nội Mới phát hành đều đặn hàng ngày, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Mỗi bài xã luận được đăng tải trên các số báo đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng bộ thành phố
2.2.2 Phân loại
Việc phân chia dạng thức của bất kỳ một loại hình nào (không chỉ riêng trong ngôn ngữ học) đều phải dựa trên một hoặc một vài tiêu chí tương đối ổn định Với xã luận từ trước tới nay việc phân chia thành các loại bài được các tác giả để cập đến về cơ bản thường dựa vào nội dung mà các tác phẩm triển khai
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào nội dung cụ thể để vạch ra ranh giới giữa các loại bài thì khó có thể bao quát và phân định một cách rạch ròi Chúng
ta vẫn biết báo chí là một hoạt động thông tin đại chúng đa dạng bởi thế mọi lĩnh vực của đời sống đều có thể được đề cập đến, vì vậy không thể đưa ra một giới hạn cứng nhắc để phân biệt theo tiêu chí nội dung
Về việc phân loại xã luận, tác giả Trần Quang [22] căn cứ vào nhiệm
vụ và mục tiêu của tác phẩm rồi dựa vào thực tiễn báo chí Việt Nam đương đại chia thành bốn loại bài với những đặc trưng riêng của nó Có lẽ đây là
sự phân chia khá hợp lý, tuy rằng bản thân tác giả nhận xét là sự phân loại của mình “cũng mang tính ước lệ” Đó là các dạng:
- Xã luận chính trị chung: được đăng nhân dịp những ngày trọng đại, những sự kiện nổi bật của đời sống trong nước và trên thế giới
Trang 27- Xã luận tuyên truyền: mục đích chính của nó là tuyên truyền lí luận, có thể là những vấn đề lí luận của một học thuyết chính trị, khoa học
xã hội nhân văn, kinh tế học…
- Xã luận chỉ đạo hay xã luận nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề mới phát sinh trong cuộc sống
- Xã luận nghiệp vụ được sử dụng để đề cập đến những ngành, nghề chuyên môn nào đó, trong đó tính chất nghiệp vụ của bài báo được thể hiện đặc trưng
II LIÊN KẾT VĂN BẢN
1 Khái niệm về văn bản
Theo W.Dressler (1970): “Trong thời đại chúng ta mọi người thừa nhận rằng đơn vị ngôn ngữ cao nhất, ít lệ thuộc nhất không phải là câu mà
là văn bản” (dẫn theo [2]) Nghiên cứu về văn bản, vị trí của nó được các nhà ngôn ngữ học khẳng định như sau:
M.A.K.Halliday (1960) nhấn mạnh:” Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ không phải là từ hay câu mà là văn bản” Đến năm 1965, H.Harman cụ thể hơn ý tưởng của Halliday, tác giả cho rằng “các ký hiệu ngôn ngữ chỉ bộc lộ mình chừng nào chúng là những cái gắn bó với nhau trong văn bản…Mọi người dùng ngôn ngữ chỉ nói bằng các từ và bằng các câu, ít ra cũng bằng các câu làm thành từ, các từ nằm trong văn bản” Năm
1966, H.Weinrick lại bổ sung một nhân tố mới khác quan trọng trong khái niệm văn bản, đó là nhân tố tình huống: “Bình thường chúng ta nói không phải bằng các từ rời rạc mà bằng các câu và các văn bản, và lời nói của chúng ta xây dựng trên tình huống”
Cũng chính từ vị trí quan trọng của văn bản mà nó trở thành đối tượng của ngôn ngữ học và là cơ sở thúc đẩy hình thành một môn học mới trong ngôn ngữ học: ngôn ngữ học văn bản
Vậy “văn bản” đối tượng được coi là tối quan trọng của ngôn ngữ đó thực chất là gì ? và có những cách kiểu khác nhau nào về văn bản ?
Tác giả Diệp Quang Ban trong nghiên cứu của mình [2] đã khẳng định: “Đồng thời với quá trình đưa văn bản vào vị trí đối tượng của ngôn
Trang 28ngữ học và tiếp sau đó, một loạt định nghĩa về văn bản đã xuất hiện Số lượng các định nghĩa đã nhanh chóng lớn lên đến mức không dễ dàng kiểm điểm được Đằng sau các định nghĩa là những quan niệm những cách hiểu khác nhau về đối tượng ngôn ngữ học mới mẻ này ” Đồng thời ở đây tác giả cũng tổng hợp một cách ngắn gọn những khá đầy đủ các quan niệm khác nhau về văn bản được đề cập trong ngôn ngữ học, bắt đầu từ L.Hjelmslev vào năm 1953, tác giả phân tích và cho thấy các định nghĩa đó được xây dựng dựa trên những góc độ nào Chẳng hạn người ta sẽ sử dụng định nghĩa của L.Hjelmslev: “Văn bản được xét như một lớp phân chia được hình thành các khúc đoạn” khi không cần thiết phải phân biệt văn bản hay diễn ngôn Cũng như vậy, nếu quy ước xác định một đối tượng để làm việc không đi vào bản thể của đối tượng thì G.Brown và G.Jule (1983) cho rằng “Chúng ta sẽ sử dụng văn bản như một thuật ngữ chuyên môn để nói đến việc ghi lại bằng ngôn từ của một hành động giao tiếp”
Cuối cùng tác giả giới thiệu định nghĩa trích ra trong một bách khoa thư gần đây nhất, nó được cho là có tính khái quát cao, bao gồm được nhiều quan niệm về văn bản cho đến nay, riêng trong ngôn ngữ học văn bản Theo định nghĩa này thì: “Văn bản: (1) Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc , đề tài – chủ đề v vv của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường v.v (2)Văn học; trước hết được coi như một tài liệu viết, thường
đồng nghĩa với sách ,….(3) trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh
đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn dùng bao gồm cả văn bản” [2]
Ở đây cũng cần lưu ý đến sự phân biệt giữa hai cách gọi: văn bản và diễn ngôn Thường thì những sản phẩm ngôn ngữ viết và sản phẩm ngôn ngữ nói có mạch lạc nếu ở giai đoạn đầu, (giai đoạn của “các ngữ pháp văn bản”) được gọi chung là văn bản Còn ở giai đoạn thứ hai ( sau ngữ pháp văn bản ) ứng với những năm 80, 90 của thế kỷ XX thì xu hướng dùng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ
Trang 29nói Hiện nay diễn ngôn có xu hướng được dùng như tên gọi chung cho các sản phẩm ngôn ngữ nói và viết
Tuy nhiên trong thực tế, sự phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn không hề đơn giản , thậm chí để rõ ràng, còn có những cách nhìn khác nhau nữa như coi văn bản là sản phẩm, diễn ngôn là quá trình (Brown và Jule -1983; Haliiday -1985)
Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi thống nhất dùng tên gọi văn bản cho tất cả các tài liệu được sưu tầm, thống kê
2 Liên kết văn bản
2.1 Khái niệm liên kết văn bản
Yếu tố cơ bản và dễ nhận thấy nhất giúp chúng ta phân biệt một văn bản với một chuỗi các câu sắp xếp ngẫu nhiên hỗn độn đó chính là giữa các câu trong văn bản có một mối ràng buộc quy định lẫn nhau Nói chính xác hơn là giữa chúng có liên kết “Văn bản không phải là phép cộng đơn thuần của các câu”[27]
Ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các yếu tố và các quan hệ giữa các yếu tố đó Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị của ngôn ngữ Và ngay chính bản thân các đơn vị ngôn ngữ ấy không phải là khái niệm trừu tượng mà cũng là những tiểu hệ thống phức tạp Mỗi yếu tố của hệ thống lại có nhiều mặt, nhiều thuộc tính và mối liện hệ chặt chẽ với nhau Văn bản cũng không ngoài quy luật này Các phần tử của văn bản là các câu và nằm trong một cấu trúc nhất định Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu với những câu xung quanh và với toàn văn bản Tính thống nhất xét về mặt cấu trúc của văn bản được thể hiện ở kết cấu của văn bản,
đó chính là tổng thể các mối quan hệ và liên hệ giữa các yếu tố trong văn bản tương ứng hai xu hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản Đó là nghiên cứu các kết cấu vĩ mô và vi mô của văn bản Nghiên cứu ở tầm vĩ
mô coi việc nghiên cứu văn bản với tư cách là một chính thể Nó dành cho nghiên cứu kết cấu một văn bản hoàn chỉnh Tiêu chí này áp dụng cho những văn bản có kích thước nhỏ vì ở đây có thể thấy rõ sự khác nhau của một văn bản hoàn chỉnh với những chuỗi câu tự nhiên Nghiên cứu kết cấu vi mô đối
Trang 30tượng là những văn bản cỡ vừa hay lớn Người ta sẽ chia tách thành các phần của văn bản Chẳng hạn với văn bản nghệ thuật có sự phân đoạn lớn thành: Chương, mục, tiểu mục rồi đến sự phân chia thành các đoạn
Tuy nhiên, dù nghiên cứu vĩ mô hay vi mô thì một tiêu chí không thể thiếu đó là mối liên hệ của những thành phần với nhau Mạng lưới của mỗi quan hệ, liên hệ ấy chính là “liên kết”
Có thể thấy tuy liên kết là một hiện tượng dễ nhận biết nhưng quan niệm về liên kết ở các nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng hoàn toàn như nhau Tương ứng với hai giai đoạn phát triển của ngôn ngữ học văn bản, cách hiểu liên kết cũng có một vài điểm khác biệt Chẳng hạn ở giai đoạn ngữ pháp văn bản, liên kết chính là yếu tố quyết định, là đặc trưng quan trọng của văn bản Liên kết được xét đến ở các phương tiện hình thức lẫn nội dung ý nghĩa Ở đây liên kết được coi là mặt cấu trúc của một hệ thống ngôn ngữ và nó được coi là yếu tố quyết định của sự hình thành văn bản Đến những năm 70 của thế kỷ XX thì liên kết được nghiên cứu với tư cách là một khái niệm chuyên môn, không thuộc về cấu trúc ngôn ngữ mà thuộc về ý nghĩa Theo quan niệm này thì chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ thực hiện chức năng nghĩa mới thuộc liên kết Với cách hiểu này, liên kết không giữ vai trò yếu tố quyết định cái là “văn bản” của sản phẩm ngôn ngữ mà cái đó là “mạch lạc”
O.I.Moskalskaja trong cuốn Ngữ pháp văn bản [19] khẳng định:
“Tính liên kết của văn bản không phải là hiện tượng thuần túy ý nghĩa Nó đồng thời được thể hiện dưới dạng tính hoàn chỉnh về cấu trúc, nghĩa và giao tiếp, những yếu tố này tương ứng với nhau như hình thức, nội dung
và chức năng”
Cùng bàn về thuộc tính của liên kết, tác giả Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh: “Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản Không phải vô cớ mà thuật ngữ “văn bản” trong các ngôn ngữ Ấn-Âu lại bắt nguồn từ chữ Latinh textum có nghĩa là
“sự liên kết” [27] Dưới đây xin trích dẫn lại ví dụ mà Trần Ngọc Thêm đã phân tích để thấy được khả năng rất lớn của tính liên kết:
Trang 31“ Chẳng hạn, hai câu sau không liên quan gì tới nhau:
Nhưng khi thêm vào một câu thứ ba, nó đã liên kết xâu chuỗi cả 2 câu rời rạc kia , khiến chuỗi câu không kiên quan gì với nhau trở thành một bộ phận của văn bản:
Ông Huyến có sức hấp dẫn thực đặc biệt Đường làng không dài nhưng nhiều ngóc ngách Ông có thể đột ngột rẽ vào bất kỳ đâu cũng tìm ra được những sự việc cụ thể và khêu gợi lên những câu chuyện lí
thú”[27]
2.1 Mạch lạc và liên kết trong văn bản
Liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) đều có quan hệ từ nguyên với một động từ đó là “kết dính” (cohere) và chức năng của chúng trong văn bản cũng không ngoài mục đích đảm bảo sự liên tục, sự thống nhất và trọn vẹn về cấu trúc và nội dung của văn bản.[2] Mạch lạc và liên kết là khái niệm không hoàn toàn đồng nhất với nhau, thế nhưng sự phân biệt giữa mạch lạc và liêt kết không phải lúc nào cũng rạch ròi
Ở mục trrên chúng ta đã khẳng định khả năng to lớn của liên kết trong việc biến một chuỗi câu thành văn bản, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều ý kiến quan ngại về khả năng này Người ta cho rằng nếu riêng liên kết thôi thì chưa đủ điều kiện cần cho một văn bản Có những chuỗi câu nối tiếp có liên kết vẫn không làm thành một văn bản và ngược lại thì không
có nó (liên kết) một văn bản vẫn có thể là một văn bản
Để chứng minh cho điều hoài nghi này, xin được trích dẫn lại hai ví
dụ được coi là rất điển hình của tác giả Trần Ngọc Thêm và tác giả Diệp Quang Ban:
Ví dụ 1: (Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Giáo dục 1999, tr 20)
Cắm bơi một mình trong đêm Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt đường
Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm Khung cửa xe phía cô gái
Trang 32ngồi lồng đầy bóng trăng Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy PứHồng Dãy núi này có ảnh hưởng quyết định đến gió mùa đông bắc ở miền Bắc nước
ta Nước ta bây giờ của ta rồi, trời bắt đầu bừng sáng
Đây là một văn bản giả trong đó các câu được rút ra từ những bài viết khác nhau xếp lại thành một dãy liên tục và giữa chúng có thể nhìn thấy ngay sự liên kết Đó là việc lặp lại từ vựng
và cứ hai câu một lại hình thành một chủ đề chung nào đấy
Chẳng hạn: giữa câu thứ nhất và câu thứ hai là “đêm”
câu thứ hai và thứ ba là “đường”
câu thứ ba và thứ tư là “xe”…
Mối liên hệ giữa hai câu với nhau từng đôi một xem ra rất chặt chẽ nhưng cả chuỗi câu lại không có một chủ đề - đề tài thống nhất Kết luận là chuỗi câu trên không thể trở thành một văn bản được
Ví dụ 2: (Diệp Quang Ban, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB
A: Yêu cầu
B: Xin lỗi (nêu lí do tự chối)
C: Chấp nhận việc xin lỗi
Và khi các chức năng được nhận biết, mạch lạc được thiết lập giữa các câu Ở đây yếu tố tình huống giữ một vị trí quan trọng
Trang 33Tác giả I.R.Galperin trong cuốn “ Văn bản với tư cách đối tượng
nghiên cứu ngôn ngữ học” [10] đã gọi mạch lạc – đó là hình thức liên kết
bên trong Tác giả cho rẳng “ mạch lạc – đó là hình thức liên kết riêng biệt, đảm bảo thể liên tục, nghĩa là sự liên tục logic ( về thời gian và/ hoặc không gian), sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể Tác giả phân tích rồi xét các hình thức và dạng mạch lạc qua những ví dụ về văn bản thuộc phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau như trong văn vản báo chí, trong văn chương nghệ thuật… Từ đó, tác giả đi đến kết luận: “mạch lạc là những hình thức liên kết ngữ pháp, ngữ nghĩa, từ vựng - giữa những phần cụ thể của văn bản định ra bước chuyển tiếp từ cách phân chia biến thể ngữ cảnh này sang cách phân chia khác Liên kết là thống nhất tất cả các phần của văn bản nhằm đạt được tính hoàn chỉnh của nó” [10]
Có thể thấy mạch lạc là một khái niệm phức tạp và bao gồm nhiều yếu tố trừu tượng Tuy nhiên để cụ thể hoá mạch lạc, theo tác giả Diệp Quang Ban, người ta có thể nhận biết một văn bản có mạch lạc hay không thông quan sự thể hiện của nó ở các phương diện như:
- Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài chủ đề
- Mạch lạc thể hiện trong tính hợp logíc của sự triển khai mệnh đề
- Mạch lạc thể hiện trong trình tự logic giữa các câu
- Mạch lạc thể thiện trong khả năng dung hợp nhau giữa các hành động ngôn ngữ.[2]
Mạch lạc giữa các câu giữ vai trò quyết định để tạo ra một văn bản đích thực và chuỗi câu không có mạch lạc không phải là một văn bản Trong những trường hợp này thì nếu chỉ có liên kết không thì liên kết (cần nhấn mạnh hơn là liên kết hình thức) chỉ là phương tiện để hiển ngôn hoá mạch lạc Thực tế là mọi văn bản có mạch lạc dù ở dạng dễ nhận biết hay tiểm ẩn đều sử dụng phương tiện liên kết ở hình thức này hay hình thức khác Tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi không đề cập sâu tới vấn đề mạch lạc văn bản Sự phân biệt giữa mạch lạc và liên kết như trên là cơ sở
để chúng tôi tìm hiểu kĩ hơn về bản chất của liên kết Nếu chỉ có liên kết
Trang 34không thì chưa chắc một chuỗi câu đã trở thành văn bản, thế nhưng như ví
dụ 1 trích dẫn của tác giả Trần Ngọc Thêm đó chỉ là liên kết hình thức Thiết nghĩ một chuỗi câu có đầy đủ cả liên kết nội dung và liên kết hình thức thì chuỗi câu đó sẽ là một văn bản có mạch lạc
2.3 Các phương thức liên kết trong tiếng Việt
Từ trước đến nay, trong ngôn ngữ học có nhiều cách phân chia các phương thức liên kết trong tiếng Việt Dưới đây là sự phân chia các phương thức liên kết theo hai quan điểm: thứ nhất là của GS.Trần Ngọc Thêm; thứ hai là của GS.Halliday và Hassan Chỗ khác nhau quan trọng giữa hệ thống liên kết của các tác giả là ở quan niệm chiến lược lấy làm xuất phát điểm Tác giả Trần Ngọc Thêm xuất phát từ quan niệm về hệ thống của nhà ngôn ngữ học V.M.Solncev thuộc trường phái cấu trúc luận ngôn ngữ học Lêningrad Theo đó: Hệ thống = Yếu tố + Quan hệ Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ liên hệ với nhau qua hai loại quan hệ cơ bản là quan hệ ngang và quan hệ dọc Quan hệ ngang hay còn gọi là quan hệ tuyến tính: khi ngôn ngữ được hiện thực hoá thì những yếu tố của nó hiện ra lần lượt cái này tiếp theo cái kia làm thành một chuỗi Khi biểu hiện bằng chữ viết,
sự kế tiếp trong thời gian của các yếu tố ngôn ngữ được thay thế bằng tuyến không gian của các chữ Quan hệ dọc của ngôn ngữ (quan hệ liên tưởng) được biểu hiện là cùng một chỗ hay một vị trí trong chuỗi lời nói có thể thay thế bằng cả một loạt các yếu tố đồng loại Tương đương với hai mối quan hệ này các phương thức liên kết trong tiếng Việt được tác giả phân thành liên kết hình thức và liên kết nội dung với các phương thức cụ thể cho mỗi loại như sau:
- Phép tỉnh lược (tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh)
- Phép nối (nôi lỏng, nối chặt)
Trang 35- Liên kết chủ đề gồm:
+ Duy trì chủ đề + Triển khai chủ đề
- Liên kết logic ở:
+ Cấp độ từ + Cấp độ câu Tuy nhiên, theo tác giả phương diện liên quan trực tiếp đến liên kết hình thức giữa câu với câu là phương diện nghĩa và việc phân loại các câu trong văn bản là một việc làm cần thiết vì nó có liên quan đến nhiệm vụ
mô tả liên kết hình thức Theo đó các câu được phân loại thành câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc Các phép liên kết hình thức cũng được chia thành ba loại ứng với khả năng hoạt động của chúng trong ba loại câu trên:
- Các phương thức liên kết chung: dùng chung được cho cả ba loại câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc
- Các phương thức liên kết hợp nghĩa: dùng cho loại câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc
- Các phương thức liên kết trực thuộc: chỉ dùng được cho loại ngữ trực thuộc
Liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung
Khác với quan niệm về liên kết này, tác giả Halliday cùng với những nhà nghiên cứu khác theo quan điểm phi cấu trúc tính coi các yếu tố nằm trong quan hệ dọc là thuộc hệ thống còn các yếu tố nằm trong quan hệ ngang có tính chất phụ thuộc, đồng hiện trong văn bản là thuộc về cấu trúc
và bản thân cấu trúc đã mang tính liên kết rồi (dẫn theo Diệp Quang Ban [2]) Vì vậy, nét riêng của quan điểm này là chỉ tính đến các phương tiện hình thức tạo liên kết, trên cơ sở đó mà phân chia các phương tiện liên kết Những hiện tượng thuộc về liên kết nội dung không được đặt ra thành đối tượng xem xét trực tiếp bởi lẽ chúng không có các yếu tố ngôn ngữ đánh dấu làm thành những hệ thống có tính chất xác định Hơn nữa, cách liên kết
Trang 36không dùng từ ngữ đánh dấu cũng gặp giữa các hành động nói khác nhau cho nên việc xếp chung trường hợp này vào trong mạch lạc là điều thoả đáng Trong nghiên cứu dưới đây, chúng tôi giới thiệu cơ bản về các phương thức liên kết trong tiếng Việt theo quan điểm phi cấu trúc tính của Halliday và Hassan.[ dẫn theo 2]
Theo quan niệm này thì trong tiếng Việt cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác việc liên kết câu này với câu kia trong văn bản được thực hiện bằng các phương thức liên kết sau đây:
- Phương thức quy chiếu
Phương thức liên kết còn được gọi gọn hơn là phép liên kết Trong từng phép liên kết các phương tiện cụ thể có thể khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau
2 Liên kết văn bản: Xuất phát từ hai cơ sở khác nhau, hai quan niệm tiêu biểu về liên kết được đề cập đến ở chương này dẫn đến các kết quả phân chia khác nhau Theo quan niệm liên kết nội dung và hình thức thì
Trang 37liên kết văn bản tiếng việt có 10 phép liên kết, được phân loại dựa trên các kiểu câu được sử dụng để liên kết Theo quan niệm liên kết là thành tố phi cấu trúc tính thì có 5 phép liên kết, được phân loại dựa trên các phương tiện hình thức tạo liên kết "Ưu điểm lớn nhất của cách phân loại này là tách những hiện tượng thuộc cấu trúc ra khỏi hệ thống Vì bản thân cấu trúc bao giờ cũng có liên kết" [21]
Trang 38Chương II KHẢO SÁT CÁC PHÉP LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN XÃ LUẬN
BÁO HÀ NỘI MỚI CÁC NĂM 2004 - 2006
1.Phép quy chiếu
1.1 Định nghĩa
Quy chiếu là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu ngôn ngữ Đó là việc thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa từ ngữ chỉ vật với vật được định danh bằng từ ngữ đó Tất nhiên sự định danh này không phải lúc nào cũng được diễn đạt bằng một danh từ mà có nhiều trường hợp
nó được gọi tên bằng đại từ hay bằng cả cụm từ Trong thực tế người ta có thể quy chiếu những cái được thể hiện trong câu, trong văn bản đến với những cái nằm ngoài câu, ngoài văn bản, hay nói cách khác là quy chiếu đến những đối tượng nằm trong tình huống ngoài ngôn ngữ Thế nhưng trong phạm vi nghiên cứu về liên kết văn bản chúng tôi chỉ quan tâm đến việc thiết lập mối quan hệ về nghĩa giữa yếu tố ngôn ngữ này với yếu tố ngôn ngữ kia cùng nằm trong một văn bản, để cho thấy những câu chứa chúng là có liên kết với nhau
Phép quy chiếu trong việc liên kết câu với câu, theo tác giả Diệp Quang Ban [2], là thuộc về cấp độ nghĩa, tức là chưa quan tâm đến vai trò ngữ pháp của các yếu tố có quan hệ quy chiếu với nhau Phép quy chiếu xuất phát từ yếu tố ngôn ngữ có nghĩa chưa cụ thể ở một câu nào đó cần được giải thích bằng yếu tố ngôn ngữ cụ thể ở câu khác, trên cơ sở đó hai câu liên kết với nhau Trong hai thứ yếu tố đó, yếu tố có nghĩa chưa cụ thể được gọi là yếu tố được giải thích (hay yếu tố chứa tiền giả định, tức là yếu
tố có chứa phần nghĩa tiền giả định), yếu tố có nghĩa cụ thể là yếu tố giải thích, tức là có tác dụng giải thích (hay yếu tố được tiền giả định, tức là phần nghĩa cụ thể của nó được dùng làm thành phần nghĩa tiền giả định trong yếu tố có nghĩa chưa cụ thể kia)
Ví dụ:
Trang 39Cả nước đang vui mừng kỷ niệm 116 năm Ngày sinh Chủ tịch
Hồ Chí Minh- Bác Hồ kính yêu, vị Cha già dân tộc, lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam Niềm vui ấy được nhân lên gấp bội, khi toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta đang phấn khởi chào mừng Đại hội X của Đảng vừa thành công rực rỡ
(Nhớ mãi lời dạy của Bác, Hà Nội Mới, 19/5/2006)
Trong ví dụ này, Niềm vui ấy là yếu tố có nghĩa chưa cụ thể, cần phải tìm biết xem là niềm vui nào hay niềm vui như thế nào? Còn vui mừng kỷ niệm 116 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là yếu tố có nghĩa cụ thể,
cũng gọi là yếu tố giải thích
Căn cứ vào các phương tiện ngôn ngữ được dùng ở vị trí yếu tố có nghĩa chưa cụ thể, phép quy chiếu được chia làm ba trường hợp sau:
- Quy chiếu chỉ ngôi
“Quy chiếu chỉ ngôi là trường hợp sử dụng các yếu tố chỉ ngôi (ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba), với tư cách là những yếu tố
có nghĩa chưa cụ thể ở câu này xét trong mối quan hệ với yếu tố có nghĩa cụ thể tương ứng ở câu khác, trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết với nhau.”[2]
Trong tiếng Việt, cần lưu ý rằng các từ chỉ ngôi thuộc cả ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba Bên cạnh đó, danh từ chỉ quan hệ thân tộc và danh từ chức vị sử dụng như cương vị từ chỉ ngôi có thể thể
hiện tương ứng bằng các từ chỉ ngôi tiêu biểu như tôi, mày, nó Nhìn chung
trong tiếng Việt, số các từ chỉ ngôi đích thực không nhiều, trong khi đó số các danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng với cương vị từ chỉ ngôi lại khá phong phú Theo tác giả Diệp Quang Ban, “các từ chỉ ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, cũng như các danh từ thân tộc và danh từ chức vị dùng cho hai ngôi này, chủ yếu có tác dụng quy chiếu lời nói với tình huống bên ngoài: chỉ ra ai là người nói/ người viết, ai là người nghe/ người đọc Còn các từ chỉ ngôi thứ ba và các danh từ thân tộc, danh từ chức vị dùng như từ chỉ ngôi thứ ba, có tác dụng nhiều hơn đối với việc liên kết câu với câu (hoặc các tổ chức ngôn ngữ lớn hơn), chúng được dùng để quy chiếu đến các danh từ riêng, các tổ hợp có chứa danh từ riêng” [2]
Trang 40Cũng theo tác giả, các từ chỉ ngôi thường dùng trong tiếng Việt có thể tập hợp lại thành bảng sau:
Bảng 1: Các yếu tố chỉ ngôi thường dùng
Thứ nhất (người
nói)
Tôi, tao, tớ, mình, ta
Chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, chúng mình, chúng ta
Mình, ta có thể dùng cho cả số ít
và số nhiều, tuỳ tình huống
Thứ hai (người
nghe)
Mày, mi Chúng mày, bay,
bọn mày, bọn bay bọn mi
Mi - miền Trung Bay - Trung và Nam
Nó - có thể chỉ người, con vật,
đồ vật
Tuy nhiên, trên thực tế còn có một trường hợp nữa được sử dụng khá phổ
biến Đó là trường hợp các từ đó, đấy, đây được dùng như từ chỉ ngôi thứ
ba, và trong nhiều tình huống nó có thể thay thế cho nó
- Quy chiếu chỉ định
“Quy chiếu chỉ định là trường hợp sử dụng các tổ hợp gồm danh
từ có nghĩa cụ thể cũng như danh từ chỉ loại cùng với các chỉ định từ này, kia, nọ, ấy…để tạo ra những tổ hợp có tính chất xác định (hiểu trong thế
đối lập với phạm trù phiếm định của danh từ) và đặt chúng trong mối quan
hệ nghĩa với những yếu tố có nghĩa cụ thể trong câu khác; trên cơ sở đó tạo được tính liên kết giữa hai câu chứa chúng”.[2]
Sự kết hợp của danh từ có nghĩa cụ thể cũng như danh từ chỉ loại
cùng với các chỉ định từ này, kia, nọ, ấy…thành các tổ hợp như: chị ấy, ông kia, người công nhân đó, em bé này, cái cây kia, chiếc bàn đó, việc này…
- Quy chiếu so sánh