Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất lý luận nhằm tìm ra những đặc điểm, phạm trù, thông số của diễn ngôn so với một loại đơn vị mà cho tới nay vẫn còn không ít ý kiến cho rằng chúng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
VŨ THỊ OANH
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA DIỄN NGÔN CÓ MỤC ĐÍCH KÊU GỌI
(LỜI KÊU GỌI)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 : MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Khái niệm diễn ngôn 5
1.2 Phân tích diễn ngôn 8
1.3 Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn 11
1.3.1.Đặc tính của diễn ngôn 11
1.3.2 Phân loại diễn ngôn 12
1.4 Diễn ngôn chính luận 16
1.4.1 Phong cách chính luận 16
1.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách chính luận 16
1.4.3 Kết cấu của diễn ngôn chính luận 18
1.5 Khái niệm diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi 19
1.6 Một số nét sơ lược về diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch 22
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA DIỄN NGÔN LỜI KÊU GỌI 24
2.1 Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản 24
2.2 Một số đặc điểm về cấu trúc của văn bản thông thường 24
2.3 Cấu trúc tổng thể của diễn ngôn Lời kêu gọi 28
2.4 Đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc diễn ngôn Lời kêu gọi 30
2.4.1.Đặc điểm cấu trúc phần tiêu đề 30
2.4.2 Đặc điểm cấu trúc phần hô gọi 34
2.4.3 Đặc điểm cấu trúc phần kết 45
Trang 42.5 Một số kiểu loại cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi 49
2.5.1 Nhóm cấu trúc đơn 50
2.5.2 Nhóm cấu trúc thiếu 54
2.5.3 Nhóm cấu trúc kép 58
Tiểu kết Chương 2……… 64
Chương 3 : ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DIỄN NGÔN LỜI KÊU GỌI 67
3.1 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp 67
3.1.1 Sử dụng câu mệnh lệnh, yêu cầu, đề nghị 67
3.1.2 Sử dụng cấu trúc song hành, cấu trúc đối 73
3.1.3 Sử dụng cấu trúc Hỏi - Đáp 76
3.2 Mạch lạc trong diễn ngôn Lời kêu gọi 78
3.3 Lập luận trong diễn ngôn Lời kêu gọi 81
3.3.1 Lập luận và các bộ phận của lập luận 81
3.3.2 Các kiểu lập luận 82
3.3.3 Diễn dịch và quy nạp trong quan hệ lập luận 86
3.4 Liên kết trong diễn ngôn Lời kêu gọi 88
3.4.1 Đặc điểm về liên kết 88
3.4.2 Từ nối với tư cách là phương tiện của phép nối 89
3.5 Đặc điểm về sử dụng từ ngữ 90
3.5.1 Sử dụng thành ngữ, tục ngữ 90
3.5.2 Sử dụng từ xưng hô, các giới ngữ chỉ quan hệ sở thuộc 94
Tiểu kết Chương 3 96
KẾT LUẬN………98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Lược đồ các yếu tố trong quá trình giao tiếp của R.Jakobson 20
Hình 2.1 Cấu trúc của văn bản thông thường 27
Hình 2.2 Khung cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi 29
Hình 2.3 Bảng so sánh cấu trúc văn bản thông thường với Lời kêu gọi 29
Hình 2.4 Tỷ lệ các dạng của Tiêu đề 30
Hình 2.5 Bảng các ví dụ về các kiểu dạng Tiêu đề cụ thể 32
Hình 2.6 Mức độ xuất hiện của câu hô gọi trong phần Hô gọi 35
Hình 2.7 Cấu trúc tổng quát và ví dụ phần Hô gọi 37
Hình 2.8 Biểu đồ sử dụng từ hô gọi trong câu hô gọi 39
Hình 2.9 Khung cấu trúc và các dạng Kết có mục đích khẳng định 46
Hình 2.10 Khung cấu trúc và các dạng Kết có tính chất tung hô 47
Hình 2.11 Sơ đồ cầu trúc thiếu 58
Hình 3.1 Tỷ lệ sử dụng cấu trúc Hỏi - Đáp 78
Hình 3.2 Biểu hiện sự mạch lạc trong diễn ngôn 81
Hình 3.3 Tỷ lệ sử dụng thành ngữ phân theo nguồn gốc 92
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phân tích diễn ngôn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ học Những vấn đề cơ bản của nó đã và đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất lý luận nhằm tìm ra những đặc điểm, phạm trù, thông số của diễn ngôn so với một loại đơn vị mà cho tới nay vẫn còn không ít ý kiến cho rằng chúng đồng nhất, đó là văn bản, hoặc triển khai nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở các giai đoạn phát triển của nó, từ phân tích diễn ngôn đến phân tích diễn ngôn phê bình, phân tích diễn ngôn hội thoại…, việc áp dụng các lý thuyết của phân tích diễn ngôn vào phân tích các kiểu dạng diễn ngôn/văn bản
cụ thể cũng thu hút sự quan tâm của không ít nhà nghiên cứu Ở Việt Nam, có thể kể tới công trình nghiên cứu diễn ngôn Bản tin (tiếng Anh) của Nguyễn Hòa, diễn ngôn Phóng sự của Nguyễn Thị Thanh Hương… Ngoài ra còn rất nhiều tác giả chọn một kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn/văn bản quy phạm pháp luật, diễn ngôn/văn bản hành chính, diễn ngôn/văn bản xã luận… làm đối tượng nghiên cứu của các luận văn cao học Tuy vậy, có thể nói cho tới nay, diễn ngôn có mục đích kêu gọi (gọi tắt là Lời kêu gọi) vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, ngoài một vài bài viết tiếp cận đối tượng này chưa thực sự toàn diện
Diễn ngôn có mục đích kêu gọi là một dạng diễn ngôn rất điển hình thuộc loại văn phong chính luận Theo Diệp Quang Ban, nó thuộc dạng văn bản có chức năng “điều khiển”, khi người tạo văn bản nêu lên mong muốn, yêu cầu, đề nghị, mệnh lệnh để người nhận văn bản thực hiện một việc gì đó trong tương lai Bên cạnh những đặc thù riêng về cấu trúc, điều kiện ra đời, vị thế của người tạo văn bản, mối quan hệ giữa người tạo văn bản với người tiếp nhận, vai trò của chức năng liên nhân… là hàng loạt vấn đề cần phải có sự nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện Xuất phát từ nhu cầu này, chúng tôi
Trang 7đã chọn đề tài “Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi (Lời kêu gọi)” với mong muốn góp thêm tiếng nói vào nghiên cứu diễn ngôn/văn bản chính luận nói chung thông qua nghiên cứu một kiểu loại diễn ngôn cụ thể dưới góc độ phân tích diễn ngôn Bên cạnh đó, thông qua khảo sát, phân tích, chúng tôi cũng mong muốn làm rõ đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa của diễn ngôn Lời kêu gọi của một số tác giả trong giai đoạn
từ năm 1945 trở lại đây, trong đó, một trong những tác giả tiêu biểu là Hồ Chủ Tịch
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là áp dụng phương pháp phân tích diễn ngôn nhằm nghiên cứu những đặc điểm nổi bật, mang tính đặc trưng của các diễn ngôn Lời kêu gọi: từ những đặc điểm về cấu trúc tổng thể, đặc trưng ngữ nghĩa đến những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ mang tính đặc thù nhằm thể hiện các chức năng thông tin (liên giao) và chức năng liên nhân của kiểu loại văn bản này
Với mục đích này, chúng tôi đã tiến hành thu thập và khảo sát 67 diễn ngôn Lời kêu gọi, trong đó tập trung nghiên cứu 54 diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch được tập hợp chủ yếu trong tác phẩm “Hồ Chí Minh toàn tập” từ tập 4 đến tập 7 (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản lần thứ 3, năm 2000) và một số văn bản của các tác giả và tổ chức khác như Lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Thực tế, vẫn còn có một số văn bản có mục đích kêu gọi như Hịch hoặc Chiếu của các tác giả trước đây Tuy vậy, luận văn này chỉ hạn chế phạm vi nghiên cứu các Lời kêu gọi từ năm 1945 trở lại đây
Trang 83 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những nghiên cứu của một số tác giả đi trước, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cho việc vận dụng lý thuyết về phân tích diễn ngôn để khảo sát các Lời kêu gọi nhằm phát hiện và làm rõ:
- Đặc điểm cấu trúc tổng thể và đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa các thành phần cấu thành nên diễn ngôn Lời kêu gọi;
- Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của các diễn ngôn Lời kêu gọi, trong đó chú ý đến việc sử dụng các yếu tố thực hiện chức năng liên nhân;
- Phân tích và so sánh để thấy được nét đặc trưng, sự khác biệt về mặt cấu trúc - ngữ nghĩa, đặc điểm trong sử dụng ngôn từ của các diễn ngôn Lời kêu gọi của các tác giả, chủ yếu là của Hồ Chủ Tịch so với các tác giả khác qua các thời kỳ, qua đó góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tập trung sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: Căn cứ vào nguồn tư liệu sưu tầm được, luận văn đi theo chiều hướng miêu tả cấu trúc - ngữ nghĩa chung của các diễn ngôn được lựa chọn khảo sát Từ đó, đi vào miêu tả chi tiết đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từng thành phần; đặc điểm sử dụng ngôn ngữ, đặc điểm về tính mạch lạc, liên kết, sử dụng lập luận… của diễn ngôn Lời kêu gọi
- Phương pháp phân tích diễn ngôn;
- Thủ pháp phân tích - tổng hợp: Luận văn trước hết đưa một
hệ thống những luận điểm về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, coi đó là cơ sở
lý thuyết để vận dụng trong việc khảo sát đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa của diễn ngôn Lời kêu gọi
- Thủ pháp thống kê: Tiếp sau bước miêu tả, luận văn sẽ thống kê để đưa ra bộ số liệu khách quan về tần suất sử dụng các khuôn cấu trúc, các loại và các dạng thể hiện
Trang 9Ngoài ta, luận văn còn vận dụng kết hợp một số thủ pháp nghiên cứu khác như: phân tích hội thoại, phân tích dụng học, so sánh đối chiếu, các lược
đồ, sơ đồ và bảng biểu có tính chất hỗ trợ
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1 Một số cở sở lí luận
1.1 Khái niệm diễn ngôn
1.2 Phân tích diễn ngôn
1.3 Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn
1.4 Diễn ngôn chính luận
1.5 Khái niệm diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi
1.6 Một vài nét sơ lược về diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch
Tiểu kết Chương 1
Chương 2 Đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi
2.1 Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản
2.2 Một số đặc điểm về cấu trúc của văn bản thông thường
2.3 Cấu trúc tổng thể của diễn ngôn Lời kêu gọi
2.4 Đặc điểm cấu trúc các thành phần trong cấu trúc diễn ngôn Lời kêu gọi 2.5 Một số kiểu loại cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi
Tiểu kết Chương 2
Chương 3 Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn Lời kêu gọi
3.1 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp
3.2 Mạch lạc trong diễn ngôn Lời kêu gọi
3.3 Lập luận trong diễn ngôn Lời kêu gọi
3.4 Liên kết trong diễn ngôn Lời kêu gọi
3.5 Sử dụng từ ngữ
Tiểu kết Chương 3
Trang 10Chương 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm diễn ngôn
Cho đến nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về diễn ngôn, song
vẫn chưa thực sự có một định nghĩa hoàn chỉnh nhất Có thể nói, người đầu tiên đề xướng khái niệm diễn ngôn là Z.Harris (1952) với bài báo có tên gọi
“Phân tích diễn ngôn” Tại đây, ông đã đưa ra khái niệm diễn ngôn với cách hiểu là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu Mặc dù quan niệm này vẫn còn được nhiều người tranh luận, trong đó không ít ý kiến chưa thật thống nhất, song với khái niệm này, Harris đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn, hướng nghiên cứu vào chức năng của ngôn ngữ
“Diễn ngôn” và “văn bản” là hai khái niệm không thể bỏ qua trong nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản nói chung và trong phân tích diễn ngôn nói riêng Tuy nhiên, trên thực tế, để phân định rạch ròi hai khái niệm này thật không đơn giản Chúng được coi là hai khái niệm có cấu trúc xác định tách biệt hoàn toàn, thuộc hai quá trình Có khi, khái niệm này là sự biểu hiện cụ thể, là bộ phận của khái niệm kia, cũng có khi chúng lại dùng thay thế cho nhau như hai khái niệm đồng nghĩa hoàn toàn
Hai tác giả Brown và Yule quan niệm rằng “văn bản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” hay “văn bản là sự biểu hiện của diễn ngôn” [5, tr.22] Còn khi xử lý diễn ngôn như
là “sản phẩm” hay “tiến trình”, thì tác giả khảng định “diễn ngôn như là một tiến trình”
Theo G Cook, “diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” (dẫn theo [1, tr.17]) Còn D Crystal lại định nghĩa “diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ
Trang 11(đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể
có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo có tính tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” (dẫn theo [1, tr.17])
Trong khi đó, David Nunan cho rằng diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan theo một cách nào đó Nói cách khác, diễn ngôn chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh và phân tích diễn ngôn là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng Trong khi đó, thuật ngữ văn bản được dùng để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp, sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (một cuộc hội thoại, một bài thuyết giáo) hoặc ngôn ngữ viết (một bài thơ, một mẩu truyện) (dẫn theo [1, tr.18])
Như vậy, có thể nói rằng, các tác giả nước ngoài không đồng nhất khái niệm diễn ngôn và văn bản nhưng cũng không có sự phận định rành mạch ranh giới giữa diễn ngôn và văn bản Văn bản trở thành sản phẩm của diễn ngôn và trong nhiều trường hợp có thể thay thế được cho nhau Xét về tên gọi thuật ngữ, trong trong tiếng Anh, văn bản được gọi là text; còn diễn ngôn gọi
là discourse
Ở Việt Nam, về vấn đề này cũng có nhiều quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau hoặc có khi là sự thay đổi về quan điểm của cùng một tác giả trong những giai đoạn khác nhau Tiêu biểu là Diệp Quang Ban Ông đã nhận định mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản như sau: (1) Văn bản được dùng để chỉ chung cho các sản phẩm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc
và liên kết; (2) Có sự đối lập giữa các diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản
để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói; (3) Diễn ngôn được dùng như văn bản có ý nghĩa
Vơi Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt ngữ” quan niệm: Thuật ngữ diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay
Trang 12ngắn, tạo ra một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn [16, tr.169]
Có thể thấy, tác giả một mặt đồng nhất hai khái niệm trên, mặt khác ngay sau
đó lại tỏ ra lúng túng khi nhấn mạnh đến sự phân biết tương đối giữa chúng
Một trong số tác giả khác ở Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này là tác giả Nguyễn Hòa Quan niệm của Nguyễn Hòa được khái quát lại trong công trình “Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề về lý luận và phương pháp” Trong công trình nghiên cứu đó, tác giả chỉ ra sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản Theo tác giả, văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể, trong khi đó diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể Mặc dù đã đưa ra sự phân biệt hai khái niệm như trên, song tác giả cũng thừa nhận rằng trong thực tế sự phân biệt này cũng chỉ mang tính tương đối vì theo cách hiểu đó, trong văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trưng của diễn ngôn và ngược lại trong diễn ngôn cũng nhiều khi tồn tại các thuộc tính của văn bản Theo ông, thực chất đây không phải là hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp cụ thể Nói cách khác, tùy theo quan điểm của người nghiên cứu mà ngôn ngữ sẽ được coi là văn bản khi được xem xét từ góc độ hình thức và được coi là diễn ngôn khi xem xét ở góc độ hành chức
Từ cách điểm lại quan niệm của các tác giả trong và người nước về diễn ngôn và văn bản, về mối quan hệ giữa chúng, có thể nói rằng tùy theo mỗi quan điểm, mỗi cách tiếp cận và cách lý giải đều có những nhân tố hợp lý của các tác giả
Ở đây, chúng tôi không đi sâu vào trình bày quá trình phát triển theo thời gian về khái niệm diễn ngôn cũng như đi vào phân tích những góc độ
Trang 13nghiên cứu những khái niệm này, mà chúng tôi chỉ muốn trình bày một số khái niệm trên để có một cái nhìn tóm lược những quan điểm về diễn ngôn của các tác giả Tuy nhiên theo chúng tôi, quan điểm cho rằng diễn ngôn và văn bản là hai khái niệm đồng nhất là phù hợp với hướng nghiên cứu của chúng tôi về các diễn ngôn Lời kêu gọi Vì vậy, trong luận văn, chúng tôi chấp nhận quan điểm này và lấy quan điểm này làm căn cứ để tiến hành phân tích các diễn ngôn Lời kêu gọi Điều này không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận các quan điểm khác, vì ngay trong bản thân mỗi tác giả trong các luận điểm của mình đều có sự dung hòa tương đối với các quan điểm khác
1.2 Phân tích diễn ngôn
Khái niệm diễn ngôn gắn liền với một khái niệm khác hết sức quan trọng, đó là phân tích diễn ngôn Đến nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về bản thân thuật ngữ phân tích diễn ngôn bởi nhu cầu cần phân biệt thuật ngữ này với một thuật ngữ rất gần và cũng dễ bị lẫn lộn khác
là phân tích văn bản
Trước tiên, với việc xác định diễn ngôn như một tiến trình, Brown và Yule đã khẳng định quan điểm nhà phân tích diễn ngôn cần quan tâm đến chức năng hay mục đích của một mẩu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu được người phát cũng như người nhận xử lý Biện luận sâu hơn, hai tác giả cho rằng, nhà phân tích sẽ phải nghiên cứu từng từ, từng câu xuất hiện trong
dữ liệu thành văn của diễn ngôn để tìm cho được bằng chứng về sự nỗ lực của người phát (người nói/người viết) trong việc chuyển giao thông điệp đến người nhận (người nghe/người đọc) Đồng thời cũng cần tìm hiểu bằng cơ chế nào, lý do tại sao mà người nhận có thể hiểu được chính xác thông điệp chuyển giao tới trong một ngữ cảnh cụ thể; đồng thời các yêu cầu trở lại của người nhận trong một ngữ cảnh cụ thể bằng cách nào có thể chuyển giao lại người phát, để từ đó ảnh hưởng đến kết cấu của diễn ngôn tiếp theo của người phát Như vậy, có thể thấy rõ ràng là phương hướng nghiên cứu này chủ
Trang 14trương lấy chức năng giao tiếp của ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu chính
Vì thế nó mô tả các hình thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như các phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa [dẫn theo 5, tr.48]
Một các giả khác - David Nunan với việc xác định hai khái niệm diễn ngôn và văn bản như đã trình bày ở trên, cũng đồng thời xác nhận phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (ngôn ngữ hành chức), khác với phân tích văn bản là thiên về nghiên cứu các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ, bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng Tác giả cũng biện luận thêm rằng, cũng giống như các nhà ngữ âm học và ngữ pháp học thì nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu của ngôn ngữ Không chỉ vậy, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn
cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn Như vậy, ở đây, tác giả đã căn cứ vào đối tượng của nhà phân tích là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc hình thức thuần túy (phân tích văn bản) và ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái niệm trên
Với tác giả Đỗ Hữu Châu, một người nghiên cứu khá nhiều về dụng hoặc cũng quan tâm đến mối quan hệ văn bản - diễn ngôn thì cho rằng: Diễn ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp Tùy theo đường kênh, hay tùy theo dạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết Chúng tôi sẽ gọi diễn ngôn viết là các văn bản Tác giả cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng cả hai đều chịu tác động của ngữ cảnh Do đó, phân tích diễn ngôn là phân tích
cả các yếu tố hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn Các yếu tố kèm lời và phi lời theo tác giả cũng được xem là các yếu tố thuộc
Trang 15hình thức của phát ngôn Về nội dung, tác giả cho rằng diễn ngôn bao gồm cả nội dung thông tin và nội dung miêu tả Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương Như vậy, phân tích diễn ngôn một cách đầy đủ, toàn diện cần xem xét đến cả hai mặt hình thức và nội dung của diễn ngôn
Trong “Dụng học Việt ngữ”, Nguyễn Thiện Giáp cũng đã đưa ra quan niệm về phân tích diễn ngôn Tác giả cho rằng, phân tích diễn ngôn có nhiệm
vụ phân tích bằng một bộ phức hợp khái niệm và thuật ngữ ngữ pháp quen thuộc Tác giả cho rằng người nói và người viết được coi như đã sử dụng ngôn ngữ chẳng những trong chức năng liên nhân (interpersonal function) tức
là tham gia vào tương tác xã hội mà còn trong chức năng văn bản (textual funtion) tức là tạo ra một văn bản chuẩn tắc và thích hợp cả trong chức năng biểu ý (ideational function) - tức là thể hiện tư duy và kinh nghiệm một cách mạch lạc Nghiên cứu lĩnh vực rộng rãi ấy của hình thức và chức năng của câu được nói và viết được gọi là phân tích diễn ngôn (discourse analysis) [16,
tr 186]
Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích quan điểm của David Nunan, Nguyễn Hòa lại cho rằng, mối quan hệ giữa phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản cũng có sự tương đồng như mối quan hệ diễn ngôn và văn bản Bởi theo ông, không nên nhìn nhận đây là hai bộ môn tách biệt mà thực chất chỉ nên xem xét đó là hai mặt của quá trình phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp của xã hội Với việc xác định như vậy, tác giả chủ trương quy các yếu tố như liên kết, cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông tin, cấu trúc diễn ngôn… thuộc địa hạt phân tích văn bản, đồng thời những yếu tố như mạch lạc, các hành động ngôn từ, vận dụng tri thức nền, cách thức xử lý từ trên xuống hay từ dưới lên… sẽ thuộc địa hạt phân tích diễn ngôn [20, tr.35]
Trang 161.3 Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn
1.3.1.Đặc tính của diễn ngôn
Đặc tính cơ bản của diễn ngôn là tính mạch lạc, tính giao tiếp, ký hiệu
và tính quan yếu
a Tính mạch lạc
Mạch lạc được tác giả Nguyễn Thiện Giáp coi là cái quyết định để một tác phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn Như vậy, cơ sở của mạch lạc là những cái gì quen thuộc, kiến thức văn hoá chung, kiến thức nền
Có thể hiểu một cách ngắn gọn rằng mạch lạc là mạch nối diễn ngôn, cho phép hiểu diễn ngôn trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội Mạch lạc không phải là các phương tiện liên kết hình thức của văn bản mà nó là một phần nội dung thực của văn bản Nó được thể hiện qua những phương tiện ngôn ngữ và phương tiện ngoài ngôn ngữ (hình thức tổ chức văn bản, quan hệ nghĩa - lôgic giữa các từ ngữ trong văn bản, quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với cái được nói tới trong tình huống từ bên ngoài văn bản )
Mạch lạc còn thể hiện trong cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố quan yếu của diễn ngôn theo một cách thức hay trình tự nhất định, nhằm thể hiện những ý tứ tạo thành mục đích nói Như vậy, có thể thấy tính cấu trúc của diễn ngôn mang tính chủ quan của người viết
b Tính giao tiếp và tính ký hiệu
Xuất phát từ quan điểm cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được dùng làm công cụ giao tiếp, mà diễn ngôn trước hết là sự kiện giao tiếp, cho nên tính giao tiếp và tính ký hiệu là những đặc tính không thể thiếu của diễn ngôn Tuy nhiên, diễn ngôn là một đơn vị ngôn ngữ chứa hành động ngôn từ Chính vì thế, tính giao tiếp và tính ký hiệu của diễn ngôn còn có thêm phần ý nghĩa lời nói (ngữ nghĩa) và ý nghĩa dụng ngôn (ngữ dụng)
Ý nghĩa lời nói được hiểu là nội dung biểu hiện hay nội dung mệnh đề
Trang 17mệnh đề thay đổi khi có sự thay đổi của một trong những yếu tố này Xét về mặt nội dung biểu hiện, ý nghĩa của diễn ngôn bao gồm ý nghĩa của ký hiệu từ ngữ trong ngữ cảnh văn hoá và ngữ cảnh tình huống trong việc tạo và hiểu lời
Tính giao tiếp và tính ký hiệu của diễn ngôn còn thể hiện ở sự tham gia vào hai quan hệ chủ yếu trong ngôn ngữ học Đó là quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn Mối quan hệ này được phản ánh qua khả năng kết hợp và lựa chọn diễn ngôn tuỳ theo tình huống giao tiếp, chủ đề giao tiếp cũng như việc cấu tạo thành những đơn vị diễn ngôn lớn hơn
c Tính quan yếu
Xét về hình thức, diễn ngôn là một cấu trúc các yếu tố quan yếu tạo nên tính mạch lạc Theo Nguyễn Hoà, các yếu tố quan yếu là các đóng góp thể hiện tính giao tiếp của diễn ngôn Các yếu tố quan yếu có chức năng biểu hiện một sự thể bao gồm các tham thể, quá trình, mối quan hệ giữa các tham thể cũng như ý nghĩa dụng học kèm theo Các yếu tố quan yếu tham gia vào diễn ngôn với hình thức là những đơn vị từ ngữ Những đơn vị từ ngữ lại bị quy định bởi hoàn cảnh giao tiếp xã hội, mục đích phát ngôn và thể loại diễn ngôn
Với tư cách là một quá trình giao tiếp tương tác, nội dung của diễn ngôn được tổng hợp từ nhiều phương diện, trong đó mạch lạc là yếu tố quan trọng nhất Mạch lạc là sự hiện thực hoá của liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành động nói và tính quan yếu Bên cạnh đó, tính quan yếu của diễn ngôn cũng chịu sự quy định của yếu tố văn hoá và những thông tin ngữ cảnh
1.3.2 Phân loại diễn ngôn
Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh trong những hoàn cảnh
xã hội cụ thể Như vậy, trong mỗi hoàn cảnh, chúng ta lại có một kiểu loại diễn ngôn Điều này cho thấy, việc phân loại diễn ngôn không phải là việc làm dễ dàng, có tính thuyết phục
Trang 18Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại diễn ngôn Nếu dựa vào phương thức biểu đạt, có thể phân chia thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết
Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định đối với quan điểm sư phạm như việc dạy đọc, dạy viết, dạy nói Một hướng phân loại khái quát khác là phân biệt diễn ngôn đối thoại với diễn ngôn đơn thoại Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày và ngôn ngữ trong văn học Tuy nhiên, theo tác giả Hausenblas (dẫn theo [1, tr.75]) thì muốn có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc
miêu tả ngôn ngữ Đó là ngữ pháp và phong cách học Từ đó, tác giả đưa ra
các cách phân loại diễn ngôn như sau:
a.Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc
* Phân loại theo cấu trúc nội tại:
Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc văn bản của diễn ngôn, tính độc lập/ tính lệ thuộc của các diễn ngôn, tính liên tục/tính gián đoạn của các diễn ngôn, có các loại diễn ngôn sau:
- Diễn ngôn có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc;
- Diễn ngôn tự do và diễn ngôn lệ thuộc;
- Diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn
Cách phân loại này đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn đối với việc dạy học ở nhà trường Bởi cách phân loại này gợi ý về một số hướng dạy và rèn luyện học sinh tạo lập diễn ngôn, sự phân bố các bộ phận trong diễn ngôn, dạy học sinh cách đọc…
* Phân loại khuôn hình văn bản:
Do tính chất quá phức tạp của diễn ngôn và tính quá đa dạng của các diễn ngôn cụ thể, cho nên để khái quát được, chỉ có thể chia tất cả các diễn ngôn thành hai nhóm lớn:
Trang 19- Thuộc nhóm thứ nhất là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình cứng nhắc, đã được định sẵn: các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ và một số văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực khoa học -
+ Nhóm có khuôn hình tự do: các tác phẩm văn chương
b Phân loại diễn ngôn theo phong cách học
Một lĩnh vực chú ý nhiều đến sự khác biệt trong các kiểu loại diễn ngôn khác nhau là phong cách học, nhất là phong cách chức năng
Ngay từ năm 1984, tác giả Morohovski (dẫn theo [1, tr.86]) đã đưa ra bảng phân loại diễn ngôn với các tiêu chí riêng
Trước hết, tác giả phân định phong cách học thành ba bậc lớn xét theo mức độ từ trừu tượng đến cụ thể là: Phong cách học ngôn ngữ; Phong cách học hoạt động lời nói (tức là có quan hệ với các lĩnh vực hoạt động của ngôn ngữ trong đời sống xã hội); Phong cách học lời nói (tức là có quan hệ với các loại hình văn bản và các thể loại văn bản bên trong mỗi loại hình nếu có);
Từ đó, tác giả đưa ra các loại hình diễn ngôn tương ứng:
- Ở bậc phong cách học ngôn ngữ có 2 kiểu lớn:
+ Ngôn ngữ phi nghệ thuật;
Trang 20+ Chính thức - công vụ;
+ Khoa học;
+ Công luận;
+ Hội thoại văn học;
+ Hội thoại đời thường;
- Ở bậc phong các học lời nói: liên quan trực tiếp đến các văn bản
cụ thể, có sự phân định các lớp văn bản từ chung đến riêng theo trình tự sau:
+ Phong cách chính thức công vụ có các kiểu loại văn bản: chỉ đạo, pháp lý, quân sự, ngoại giao, thương mại, kinh tế
+ Phong cách khoa học: khoa học xã hội, khoa học kĩ thuật
+ Phong cách công luận: chính trị, kinh tế, luật, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo
Theo Nguyễn Hữu Đạt [12, tr.74], tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác nhau, đó là:
- Phong cách sinh hoạt hằng ngày;
- Phong cách hành chính công vụ;
- Phong cách khoa học;
- Phong cách chính luận;
- Phong cách báo chí và phong cách văn học nghệ thuật
Mỗi loại phong cách có các thể loại diễn ngôn khác nhau
Tuy nhiên, cách phân loại dựa vào trường diễn ngôn, tính chất diễn ngôn và cách thức diễn ngôn được quan tâm hơn cả vì tính hợp lý của nó Hay nói cách khác là dựa vào chủ đề được đề cập, nội dung mệnh đề, mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia (bao gồm cả ý nghĩa dụng học) và phương tiện thể hiện ngôn ngữ (nói hoặc viết), người ta phân chia thành các ngữ vực, tiếp đó trong các ngữ vực, có những thể loại diễn ngôn cụ thể Chẳng hạn, trong ngữ vực báo chí, có các thể loại diễn ngôn như: tin, bình luận, tin vắn, phóng sự, ký Trong ngữ vực văn chương, có các thể loại
Trang 21diễn ngôn như: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ lục bát, thơ văn xuôi, cổ tích, truyền thuyết Trong hội thoại hàng ngày, có các thể loại diễn ngôn như: hội thoại, phiếm đàm, tâm sự, chào hỏi, phóng vấn
1.4 Diễn ngôn chính luận
1.4.1 Phong cách chính luận
Theo Nguyễn Hữu Đạt [13, tr.194], phong cách chính luận là phong cách được dùng để bày tỏ thái độ, quan điểm của người viết/người nói về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội nhằm lôi cuốn người đọc/người nghe về phía mình, hành động theo mình
Như vậy, mục đích của phong cách chính luận là tạo một loại văn bản
có tác dụng lôi kéo được người tham gia giao tiếp Mọi phương tiện ngôn ngữ phải đượng huy động, tập trung vào mục đích ấy
1.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách chính luận
a Ngôn ngữ giàu tính lý luận kết hợp với biểu cảm
Một văn bản chính luận bao giờ cũng thực hiện các chức năng cơ bản: Thông báo, chứng minh và tác động Để thực hiện được các chứng năng này, ngôn ngữ của văn bản chính luận phải đạt được tính lý luận cao và sức thuyết phục mạnh mẽ Người viết phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sắc bén, giàu tính lập luận, giúp người đọc/người nghe nhận biết được bản chất của vấn đề đang được đề cập Nói cách khác, ngôn ngữ trong trường hợp này “luận” phải có “lý” thì mới có sức thuyết phục
Nhưng nếu chỉ dùng lý luận để lý giải, chứng minh thuần túy thì diễn ngôn loại này lại có tính chất của một diễn ngôn thuộc phong cách khoa học Điều làm cho nó khác biệt chính là tính biểu cảm ở những lý luận được trình bày Cho nên, nói cách khác, ngôn ngữ trong phong cách chính luận tác động cùng một lúc tới cả hai mặt: lý trí và tình cảm Đó là sự thấu tình đạt lý ở diễn ngôn loại này
Trang 22b Tính khúc triết, giàu sức thuyết phục
Diễn ngôn chính luận không chỉ có mục đích đi tìm chân lý để trả lời câu hỏi đúng sai như các diễn ngôn phong cách khoa học Mục đích quan trọng là lôi kéo người đọc/người nghe đi theo tiếng gọi của lẽ phải, công bằng… Yêu cầu này đòi hỏi người tạo lập diễn ngôn phải có cái nhìn sắc sảo đối với vấn đề được nêu ra, có phương pháp phân tích khoa học với các sự kiện trên cơ sở của tư duy biện chứng Mặt khác, các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải hướng tới người đọc/người nghe nhằm lôi kéo sự ủng hộ đồng tình, sự nhất trí để tiến tới thống nhất hành động Muốn đạt được kết quả như mong muốn, người viết phải chọn lọc từ ngữ, diễn đạt ý tưởng của mình sao cho khúc triết, dễ hiểu Tính khúc triết thể hiện
ở việc khai tách những quan hệ chiều sâu giữa hình thức ngôn ngữ và nội dung cần biểu đạt Thực chất đó là những diễn ngôn có hàm ý sâu sắc, có sự chinh phục lòng người Một diễn ngôn chính luận hay thường tạo ra ở người đọc/người nghe những xúc động mạnh mẽ, sức cuốn hút mãnh liệt
c Tính trong sáng và tính thẩm mỹ cao
Ngôn ngữ trong phong cách chính luận dễ đi vào lòng người chính nhờ cách dùng từ và lối diễn đạt trong sáng, không gây khó hiểu Cụ thể là, nó hết sức tránh việc dùng từ ngữ tối nghĩa hoặc những cách diễn đạt mập mờ nước đôi Mọi vấn đề được nêu ra trong diễn ngôn chính luận bao giờ cũng mang tính luân lý công khai, có sức gợi mở giúp cho việc tiếp cận chân lý được dễ dàng Do đó, ngôn ngữ càng trong sáng, dễ hiểu càng phát huy được tác dụng
Tính thẩm mỹ về mặt sử dụng ngôn ngữ cũng là một vấn đề được chú trọng trong phong cách chính luận Thông thường, ở loại diễn ngôn này người đọc hay gặp các lối nói bóng bảy như kiểu ví von, so sánh và những từ có màu sắc tu từ cao gây ấn tượng sâu sức về sự độc đáo ở mặt âm thanh hay ý nghĩa Chính những từ ngữ kiểu này làm tăng thêm sắc thái trang trọng
Trang 23và vẻ đẹp thẩm mỹ của ngôn ngữ Nhờ đó, tác phẩm chính luận trở nên giàu chất văn học hơn Đây chính là lý do khiến người ta đã xếp một số tác phẩm chính luận xuất sắc vào nhóm các tác phẩm văn chương nghệ thuật như tác phẩm “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
d Tính trang trọng và đại chúng
Đó là hai mặt tưởng như đối lập nhau nhưng là hai mặt biện chứng thống nhất của việc sử dụng ngôn ngữ trong phong cách chính luận Màu sắc trang trọng của phong cách chính luận không phải là trang trọng theo kiểu hàn lâm Trái lại, trang trọng mà vẫn phải đảm bảo dễ hiểu và đại chúng để việc tiếp nhận thông tin được thuận tiện và trọn vẹn
e Đặc điểm về cách dùng từ ngữ
Phong cách chính luận trước hết phải sàng lọc vốn từ ngữ để loại ra ngoài các từ ngữ của phong cách khẩu ngữ sinh hoạt Các từ hay được sử dụng thuộc lớp từ chính trị, xã hội, các thuật ngữ khoa học đã trở thành thông dụng, nhất nhóm các từ có nguồn gốc Hán - Việt thông dụng
Về mặt ngữ pháp và cú pháp: diễn ngôn chính luận thiên về lối nói hình ảnh chứ không dùng lối nói hình tượng Nó ít dùng các kết cấu đảo vốn là một kiểu kết cấu có giá trị phong cách cao trong phong cách nghệ thuật Để nhấn mạnh ý tưởng, gây sự chú ý ở người đọc, phong cách chính luận sử dụng nhiều lối nói trùng điệp, phép điệp từ, điệp ngữ, cách so sánh giàu tính tương phản và liên tưởng để tăng cường độ tập trung thông tin và hiệu quả bình giá, phán xét
1.4.3 Kết cấu của diễn ngôn chính luận
Các diễn ngôn chính luận tuy đa dạng nhưng có thể khái quát thành kiểu kết cấu có các thành phần sau như sau:
- Lý do nêu vấn đề;
- Phân tích, lý giải làm sáng tỏ vấn đề;
Trang 24- Thái độ của tác giả (và bạn đọc);
- Kêu gọi hành động ủng hộ
1.4.4 Các dạng của diễn ngôn chính luận
Khi phân chia các diễn ngôn chính luận, có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau Khi đứng từ góc độ nội dung, người ta có thể xem xét tính chất hoạt động của các văn bản chính luận Khi đứng từ góc độ hình thức, người ta
có thể xem xét đến quy mô, tổ chức của văn bản cũng như các phạm vi văn bản chính luận đề cập Nhưng dù ở góc độ nào thì nó cũng phải bao hàm 4 nội dung được phản ánh trong kết cấu của văn bản chính luận như đã nói ở trên
Từ đó, diễn ngôn chính luận tồn tại dưới các dạng sau:
- Tuyên ngôn, Hịch, Chiếu, Cáo văn, Lời kêu gọi
Đại diện cho loại này là các văn bản như: Tuyên ngôn độc lập của
Hồ Chí Minh, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Chiếu dời Đô của Lý Công Uẩn, Chiếu Cần Vương của Phạm Thiện Duật, Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh
- Di chúc, Điếu văn (lời điếu)
- Các nghị quyết của Hội nghị Trung ương, các Báo cáo chính trị, Thông cáo chung
- Các bài xã luận, xã thuyết, nghị luận văn học
1.5 Khái niệm diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi
Theo cách phân loại phong cách nói trên, diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi là một dạng điển hình của phong cách chính luận hay diễn ngôn chính luận Để có thể hiểu rõ bản chất hoạt động của Lời kêu gọi, tạo cơ sở vững chắc cho những phân tích của luận văn, chúng tôi muốn bắt đầu từ mô hình giao tiếp của R.Jakobson, trên cơ sở đó xác định đặc điểm của kiểu lại diễn ngôn này
Theo mô hình của R.Jakobson, hoạt động giao tiếp bao gồm 6 yếu tố
Trang 25ba yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại của một hoạt động giao tiếp Bên cạnh đó, các yếu tố ngữ cảnh, tiếp xúc và mã cũng là những yếu tố không thể thiếu Áp dụng vào diễn ngôn Lời kêu gọi, có thể hình dung vai trò và đặc điểm của từng yếu tố
- Ngữ cảnh gắn với chức năng quy chiếu, là tình huống nằm ngoài văn bản, nhưng là cơ sở để tạo lập văn bản và cũng là cơ sở để hiểu văn bản Đối với Lời kêu gọi, ngữ cảnh giữ vai trò hết sức quan trọng cho sự xuất hiện của kiểu loại văn bản này Lời kêu gọi luôn được viết trong điều kiện hoặc hoàn cảnh hết sức đặc biệt, khi đất nước đứng trước sự đe dọa tồn vong, khi dân tộc hoặc một nhóm đối tượng nào đó phải cùng nhau lựa chọn một giải pháp duy nhất phù hợp nhằm một mục tiêu có tính tích cực cao Đây là ngữ cảnh cần thiết để xuất hiện và để người đọc hiểu nội dung được đề cập trong Lời kêu gọi
- Người viết trên cơ sở cấp thiết của “ngữ cảnh” tạo lập văn bản để thể hiện thái độ, cảm xúc của mình Tuy vậy, đối với Lời kêu gọi, người kêu gọi/người viết thường ở một vị thế rất cao về chính trị hoặc tinh thần, hoặc lãnh tụ của dân tộc, đất nước, thay mặt cho tổ chức lãnh đạo cao nhất, có thể
là Vua, Vương tước (trước đây), hoặc Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc
Trang 26hội, (ngày nay), hoặc là cơ quan quyền lực cao nhất của một tổ chức có vai trò lớn trong quần chúng Ở thời hiện đại, đại đa số Lời kêu gọi chủ yếu là của
Hồ Chủ Tịch, một số bản khác của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương
- Thông qua sản phẩm ngôn từ, thông điệp thực hiện chức năng thông tin và chức năng tác động tới người đọc Đối tượng của Lời kêu gọi không phải là một, hoặc một nhóm người đọc cụ thể mà là một tập hợp lớn quần chúng như thanh niên, phụ nữ, các vị phụ lão, hoặc cũng có thể là toàn thể dân chúng của một dân tộc với rất nhiều tầng lớp, địa vị, trình độ văn hóa khác nhau Mục tiêu tác động mạnh mẽ, khuyến khích, kêu gọi cả một tập hợp người rất đông cùng thực hiện một hành động để cùng hướng tới một mục đích to lớn nào đó sẽ ảnh hưởng lớn tới đặc điểm ngôn ngữ của Lời kêu gọi
- Chức năng đưa đẩy do yếu tố “tiếp xúc” và “mã” ngôn từ thích hợp đảm nhiệm Chức năng này tạo thành đường kênh giao tiếp nhằm thiết lập, duy trì sự giao tiếp giữa người viết và người đọc Trong Lời kêu gọi, đây cũng
là những yếu tố quan trọng giúp xác lập mối quan hệ gần gũi, thân thiết, tin tưởng, thiết lập quan hệ “cùng nhóm” giữa người viết và người nghe chứ không phải là quan hệ có sự cách biệt về tầng lớp hoặc địa vị xã hội Thông qua việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ thích hợp, chức năng này giúp tăng thêm hiệu quả của Lời kêu gọi
- Chức năng thi học là chức năng của thông điệp (văn bản) Văn bản phải được tổ chức về kết cấu và nội dung ngữ nghĩa phù hợp với đặc trưng thể loại, đồng thời phù hợp với mục tiêu Trong Lời kêu gọi, chức năng này được thể hiện thông qua cấu trúc và các yếu tố ngôn ngữ đặc thù, hoạt động như phần bổ trợ cho các chức năng trên
Như vậy có thể nói, diễn ngôn có mục đích kêu gọi (Lời kêu gọi) là diễn ngôn/văn bản có nội dung cần nói hoặc viết ra nhằm mục đích yêu cầu, động viên, cổ vũ ai đó làm việc gì đó Lời kêu gọi với tư cách là một thể loại
Trang 27diễn ngôn, một sản phẩm ngôn từ của một cá nhân (lãnh tụ hoặc người đứng đầu một cộng đồng, dân tộc, đất nước) hoặc một tổ chức (lãnh đạo, thống trị) hướng tới một cộng đồng người, một tập thể, một nhóm đối tượng… nhằm động viên, khuyến khích, cổ vũ hoặc lôi cuốn các đối tượng đó thực hiện hoặc một số hoạt động hành vi nhất định theo mong muốn của tác giả ngôn từ
1.6 Một số nét sơ lƣợc về diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch
Như đã nói ở trên, khi nghiên cứu diễn ngôn Lời kêu gọi, chủ yếu
tư liệu chúng tôi thu thập và sử dụng trong luận văn là Lời kêu gọi và một số văn bản dưới dạng “Thư” hoặc “Thư gửi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh Chúng tôi đã thu thập được 54 diễn ngôn Lời kêu gọi trích rút từ tác phẩm “Hồ Chí Minh toàn tập” từ tập 4 đến tập 7, bao gồm những bài nói và viết của Hồ Chủ tịch từ 2-9-1945 đến 31-6-1955 Các tác phẩm này phản ánh một thời kì vô cùng sôi động của lịch sử dân tộc, thời kỳ toàn thể nhân dân ta ra sức đấu tranh với Pháp, Nhật xây dựng, bảo vệ chế độ mới Các văn bản trên tập trung vào hai nội dung lớn:
Thứ nhất, kêu gọi nhân dân, đồng bào hoặc một nhóm đối tượng nào
đó đồng lòng, hăng hái tham gia thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định
vì sự nghiệp chung - bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc Đây là nội dung quan trọng nhất
Thứ hai, ngoài nội dung chủ đạo nói trên, những lời kêu gọi còn mang một số nội dung khác như:
- Phản ánh sâu sắc những quan điểm đúng đắn về chiến lược, sách lược
và thể hiện cụ thể sự chỉ đạo, tổ chức thực tiễn tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là những quan điểm của Người về việc xây dựng và bồi dưỡng các
tổ chức cách mạng và đoàn thể quần chúng Đó là sự sâu sắc, chính xác trong những nhận định về tình hình địch ta và tình hình phát triển của sự nghiệp kháng chiến cứu nước
Trang 28- Thể hiện lòng tin mạnh mẽ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các giới đồng bào Người tin chắc ở lòng yêu nước của họ, tin vào ý chí quyết kháng chiến đế thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta và sức mạnh vô địch của ý chí đó
- Nêu bật dã tâm quyết cướp nước ta và những hành vi ngang ngược, bạo tàn của thực dân Pháp Đồng thời, vạch trần được bộ mặt phản dân, hại nước của bọn Việt gian như Bảo Đại, Nguyễn Văn Xuân…
Tiểu kết Chương 1
Có thể nói, phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn có mục đích kêu gọi là một hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ, cần được quan tâm Trên cơ sở tổng hợp, phân tích các quan điểm, nghiên cứu của các tác giả, luận văn đã xây dựng được những cơ sở lý luận cần thiết nhằm áp dụng cho các nghiên cứu có tính triển khai ở các chương tiếp theo
Diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi là một loại đặc biệt thuộc nhóm phong cách chính luận với những đặc thù về hoàn cảnh ra đời, đối tượng người viết, đối tượng tiếp nhận, thông tin
Cùng một mục đích và nội dung kêu gọi ấy, qua các thời gian khác nhau ở các tác giả khác nhau, có thể có các thể loại khác nhau Về cơ bản, các văn bản có mục đích kêu gọi được thể hiện dưới dạng Hịch (trước đây) và Lời kêu gọi Tuy vậy, trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ hạn chế khảo sát các Lời kêu gọi hoặc diễn ngôn có mục đích kêu gọi xuất hiện trong thời
kỳ hiện đại từ năm 1945 trở lại đây
Trang 29Chương 2
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA DIỄN NGÔN LỜI KÊU GỌI
2.1 Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản
Trong giai đoạn đầu của ngôn ngữ học văn bản, giai đoạn thường được gọi tên là giai đoạn “ngữ pháp văn bản”, các nhà nghiên cứu đã cố gắng
áp dụng các quan niệm gần như ổn định về cấu trúc câu để xây dựng nên các khuôn hình văn bản Với phương pháp như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm một cấu trúc ổn định cho tất cả các văn bản Song do tính chất quá phức tạp ở bên trong của văn bản/diễn ngôn và tính quá đa dạng về hình thức của các diễn ngôn cụ thể nên không thể tìm ra một cấu trúc mang tính chất chung Tuy vậy, để khái quát được cách tổ chức chung các văn bản, một số nhà nghiên cứu đề xuất chia các văn bản thành hai nhóm:
- Nhóm các văn bản được xây dựng theo mô hình cứng nhắc, đã được định sẵn Thuộc nhóm này gồm các văn bản mang phong cách hành chính công cụ, một số văn bản thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ
- Nhóm các văn bản được xây dựng theo khuôn hình mềm dẻo Nhóm này bao gồm hai tiểu nhóm nhỏ: Nhóm có khuôn hình thông dụng (đa số các văn bản khoa học, chính luận, bình luận, phóng sự ) và nhóm có khuôn hình
tự do (các văn bản văn học nghệ thuật)
Trong các nhóm trên, nhóm có khuôn hình thông dụng là phổ biến nhất
và thường được gọi tên là dạng văn bản thông thường
2.2 Một số đặc điểm về cấu trúc của văn bản thông thường
Văn bản thông thường là loại văn bản hay gặp trong đời sống hàng ngày, được tồn tại dưới nhiều hình thức: một báo cáo tổng kết, quyết định, thông tư, bài báo cáo khoa học, luận văn…Về cấu tạo, văn bản này là một tập hợp các câu được sắp xếp theo một trật tự logic nhất định, để thể hiện chủ đề chung và nhằm vào một nhóm đối tượng giao tiếp nhất định Tùy theo
Trang 30mức độ cấu trúc khác nhau mà văn bản có thể là đơn giản hay phức tạp Văn bản đơn giản được cấu thành từ một câu hoặc một vài câu sắp xếp theo một cách nhất định, thể hiện một chủ đề văn bản Văn bản phức tạp thường bao gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn văn được cấu thành từ nhiều câu, mỗi đoạn văn mang một chủ đề bộ phận nằm trong chủ đề chung của toàn văn bản
Theo quan niệm của phần lớn các tác giả cũng như theo Diệp Quang Ban [3, tr.59-69], văn bản thông thường có cấu trúc gồm các phần chính:
- Tiêu đề hay còn gọi là đầu đề;
- Phần mở đầu;
- Phần triển khai hay còn gọi là phần thân;
- Phần kết;
a Tiêu đề/Đầu đề
Tiêu đề hay còn gọi là đầu đề có chức năng đánh dấu ở đầu văn bản và
có chức năng nêu đề tài hoặc chủ đề của văn bản Qua tiêu đề/đầu đề người đọc có thể nhận biết chủ đề văn bản hoặc nội dung văn bản sẽ đề cập đến Đầu đề của văn bản có thể phản ánh đề tài (sự việc được nói đến) hoặc cũng có thể phản ánh chủ đề (vấn đề chủ yếu) của văn bản, cho nên có thể gọi gộp là đề tài chủ đề
Về cơ bản có hai cách chính để lựa chọn cần được đặt ra trong mối quan hệ giữa đầu đề với phần văn bản:
- Đặt đầu đề theo hướng nêu đề tài, hay theo hướng nêu chủ đề hay theo cách kết hợp cả hai hướng trên
- Đặt đầu đề theo lối phản ánh trực tiếp hay theo lối phản ánh gián tiếp nội dung phần còn lại của văn bản Cách đặt đầu đề theo lối phản ánh trực tiếp giúp người đọc dễ dàng nhận ra nội dung của văn bản, cách đặt đầu đề theo lối gián tiếp (thường theo phép ẩn dụ) đòi hỏi phải đọc văn bản mới nhận
ra được nội dung của văn bản và cũng khó xác định là đặt theo kiểu nêu đề tài hay theo kiểu nêu chủ đề
Trang 31b Phần mở đầu
Phần mở đầu có chức năng làm rõ đầu đề của văn bản và định hướng cho sự phát triển nội dung ở phần thân Nhìn tổng quát, có thể ghi nhận ba yếu tố nội dung chung ở phần mở đầu như sau:
- Nêu đề tài - chủ đề được đề cập;
- Nêu khung cảnh chung của đề tài - chủ đề;
- Nêu hướng triển khai đề tài - chủ đề
Phần Mở đầu của văn bản thường chứa các yếu tố:
- Nêu đối tượng và đặc trưng được quan tâm của đối tượng nghiên cứu Các đặc trưng này là định hướng cho sự triển khai ở phần thân
- Giới hạn nội dung được đề cập như: phương diện xem xét, phương diện tiếp cận, nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu, khi cần có thể nêu thêm lịch sử nghiên cứu của đối tượng đó Những nội dung giới hạn này định hướng cho phạm vi, phương pháp, phương hướng của công trình nghiên cứu
c Phần triển khai/phần thân
Phần triển khai hay còn gọi là phần thân có chức năng mở rộng, cụ thể hóa hoặc chi tiết hóa tất cả các định hướng được nêu ở phần mở đầu theo tiêu chuẩn logic cần và đủ Phần thân không được trình bày nhiều hơn những gì đã được định hướng ở phần mở đầu Nhiệm vụ trung tâm của phần thân là triển khai đầy đủ các chi tiết cần thiết của đề tài - chủ đề theo hướng đã được xác định ở phần mở đầu
Trong văn bản, phần thân là phần thể hiện rõ nhất hai thao tác cơ bản trong việc sử dụng ngôn ngữ: lựa chọn và kết hợp Lựa chọn và kết hợp ở đây không chỉ đơn giản là làm việc với các từ mà quan trọng hơn là làm việc với các ý Việc chọn ý và kết hợp các ý bao gồm ba bước kế tiếp nhau:
- Chọn ý (chuẩn bị cho cấu trúc nội dung);
- Phân cấp các ý và xếp đặt các ý (lập dàn ý: cấu trúc nội dung và
bố cục);
Trang 32- Trình bày các ý bằng câu chữ (làm việc trực tiếp với câu chữ, cũng theo hai thao tác lựa chọn và kết hợp nhưng với từ ngữ: cấu tạo hình thức cho văn bản)
d Phần kết
Phần kết có chức năng đánh dấu đầu ra của văn bản, tạo cho văn bản có tính chất kết thúc, tính chất “đóng” về cả phương diện nội dung lẫn phương diện hình thức Phần kết mang tính chất một kết luận thường gặp nhiều hơn trong những văn bản thuộc thể loại nghị luận mang tính chất lập luận
Phần kết có thể được thực hiện theo các hướng chung sau đây, sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau (cách thể hiện cụ thể có thể rất linh hoạt):
- Điểm lại khái quát toàn bộ nội dung của phần thân một cách có
Có thể sơ đồ hóa cấu trúc của văn bản thông thường như sau:
Hình 2.1 Cấu trúc của văn bản thông thường
CẤU TRÚC VĂN BẢN
Tiêu đề/Đầu đề Phần mở đầu Phần triển khai Phần kết
Trang 332.3 Cấu trúc tổng thể của diễn ngôn Lời kêu gọi
Như đã trình bày ở trên, diễn ngôn Lời kêu gọi trước hết thuộc nhóm văn bản theo phong cách chính luận Do vậy về cơ bản, cấu trúc của nó tuân thủ các nguyên tắc của loại văn bản có cấu trúc thông thường Tuy nhiên, Lời kêu gọi lại là một kiểu loại đặc biệt thuộc nhóm theo phong cách chính luận nên bên cạnh những đặc điểm chung, cấu trúc của nó có những điểm khác biệt nhất định so với cấu trúc văn bản thông thường Thực tế khảo sát cho thấy rằng, mặc dù các diễn ngôn Lời kêu gọi có cấu trúc khá đa dạng, song chúng đều được cấu tạo gồm một số phần cơ bản sau:
Lời kêu gọi nhường cơm sẻ áo
Hỡi đồng bào yêu quý
Từ tháng giêng đến tháng bả năm nay, ở Bắc bộ ta đã có hai trieuj người chết đói
Kế đó lại là nạn lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ Lúc chúng ta nâng bát côm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng
Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước:
Cứ 10 ngày nhịn ăm một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo
Như vậy thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói
Trang 34Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn sằng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị nói trên
Tôi xin thay mặt người nghèo mà cảm ơn các đồng bào
(Báo Cứu quốc, số 53 Ngày 28 tháng 9 năm 1945 - Hồ Chí Minh) Đây là một diễn ngôn có cấu trúc đầy đủ của Lời kêu gọi mà chúng tôi tạm gọi là dạng cấu trúc khung Có thể mô hình hóa các thành phần của cấu trúc khung bằng sơ đồ sau:
Hình 2.2 Khung cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi
Như vậy, so với cấu trúc của văn bản thông thường, có thể thấy những
bộ phận trùng và bộ phận có những khác biệt nhất định Song ngay cả phần được coi là giống nhau, thực tế cũng không tương thích hoàn toàn, như giữa phần mở đầu trong văn bản thông thường và phần hô trong Lời kêu gọi Đặc biệt phần thân của văn bản thông thường được chi tiết hóa, cụ thể hóa bằng phần mô tả hiện trạng và phần kêu gọi rất đặc thù, mang nội dung chính của Lời kêu gọi
Trang 35Hình 2.4 Tỷ lệ các dạng của tiêu đề
2.4 Đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc diễn ngôn Lời kêu gọi
2.4.1.Đặc điểm cấu trúc phần tiêu đề
Nói chung, với một tác phẩm bất kỳ thì phần tiêu đề hay còn có cách gọi khác là phần đầu đề hay là phần tít có vai trò quan trọng trong cấu trúc tổng thể Phần tiêu đề có tính chất gợi mở vấn đề mà diễn ngôn cần bàn,
đề cập đến Đôi khi, tiêu đề còn gây sự chú ý tò mò, lôi kéo người đọc Trong tổng số 67 diễn ngôn được chọn làm tư liệu khảo sát trong luận văn, phần tiêu
đề xuất hiện với 3 dạng sau:
- Lời kêu gọi + ( )
Trang 36Số lượng cũng như tuần suất xuất hiện của các loại diễn ngôn có các dạng tiêu đề như trên là không giống nhau, trong đó các diễn ngôn có dạng tiêu đề là “Lời kêu gọi…” và “Thư gửi…” xuất hiện chiếm ưu thế hơn hẳn, tổng tỷ lệ đạt 77,61 % Đó chính là đặc trưng dễ nhận thấy của các diễn ngôn lời kêu gọi Có thể thấy, các diễn ngôn Lời kêu gọi của các tác giả đều xác định rõ mục đích để kêu gọi, đối tượng để kêu gọi và hoàn cảnh để xuất hiện lời kêu gọi Vậy nên, trong phần tiêu đề thường tác giả đặt sự xuất hiện đồng thời cả ba yếu tố trên Các yếu tố này thường xuất hiện theo một thứ tự nhất định:
Lời kêu gọi/Thư gửi/Gửi (1) + đối tượng được kêu gọi (2) + (hành động cần vận động) (3) hoặc (hoàn cảnh đưa ra lời kêu gọi) (4)
Theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong phần tiêu đề, ngoài yếu tố mang tính xác định thể loại diễn ngôn (Lời kêu gọi/thư gửi), yếu tố đối tượng được kêu gọi thường xuất hiện với tần số rất lớn (83%) Ngoài ra, nội dung biểu thị hành động cần vận động (3) và hoàn cảnh đưa ra trong Lời kêu gọi (4) thường phân bố theo thế bổ sung, vì thế chỉ xuất hiện một trong hai nội dung, hầu như không thấy xuất hiện cùng một lúc hai yếu tố
Có thể nhận rõ hơn cấu trúc của tiêu đề qua bảng các ví dụ sau:
Dạng/thể loại Đối tƣợng Hành động Nhân dịp
“Lời kêu gọi” đồng bào Nam Bộ
đồng bào nông dân thành lập nghĩa
thương quốc dân đi bỏ phiếu toàn quốc kháng chiến
đầu năm mới (1947)
nhân ngày Tết Nguyên Đán năm 1947
“Thư gửi” anh chị em giáo viên bình dân
Trang 37Dạng/thể loại Đối tƣợng Hành động Nhân dịp
anh em Hoa Kiều đồng bào Nam Bộ đồng bào toàn quốc nhân dịp “tuần lễ vàng” đồng bào toàn quốc nhân dịp đầu năm mới Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới quân đội quốc gia Việt Nam nhân dịp kỷ niệm Quốc
khánh lần thứ hai
“Gửi” các chiến sĩ Nam bộ và Nam
phần Trung bộ đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới
thanh niên và nhi đồng toàn quốc
nhân dịp Tết sắp đến
Hình 2.5 Bảng các ví dụ về các kiểu dạng Tiêu đề cụ thể
Như đã phân tích ở trên, trong các diễn ngôn Lời kêu gọi mà luận văn lựa khảo sát nhận thấy số lượng diễn ngôn có kết cấu phần tiêu đề bắt đầu bằng “Lời kêu gọi” và “ Thư gửi” có tần suất xuất hiện nhiều hơn hẳn so với các cấu trúc còn lại Có thể nói, đây cũng là cấu trúc điển hình và đặc trưng Chính vì vậy, luận văn tập trung đi sâu vào khảo sát và phân tích đặc điểm cấu trúc thành phần cấu thành nên phần tiêu đề của diễn ngôn Lời kêu gọi có cấu trúc bắt đầu bằng “Lời kêu gọi” và “Thư gửi”
Có thể nói, xét cụ thể về mặt kết cấu thì các diễn ngôn có mục đích kêu gọi bắt đầu bằng “Lời kêu gọi” có cấu trúc đa dạng và phức tạp nhất, cụ thể là các loại sau (sắp xếp theo mức giảm độ phức tạp của các thành phần cấu thành):
- Loại 1: Lời kêu gọi + Danh từ chỉ đối tượng + Động từ hành động
Ví dụ:
Lời kêu gọi đồng bào nông dân thành lập nghĩa thương
Trang 38Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng bản hiệp định sơ bộ Việt - Pháp Lời kêu gọi toàn dân tham gia “đền ơn đáp nghĩa”
- Loại 2: Lời kêu gọi + Danh từ chỉ đối tượng + Động từ hành động + trạng ngữ chỉ mục đích
Ví dụ:
Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến
- Loại 3: Lời kêu gọi + Danh từ chỉ đối tượng
Ví dụ:
Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ
Lời kêu gọi kiều bào Việt Nam ở Pháp
Lời kêu gọi đồng bào
- Loại 4: Lời kêu gọi + nhân dịp/Trạng ngữ chỉ thời gian
Ví dụ:
Lời kêu gọi nhân ngày Tết Nguyên Đán năm 1947
Lời kêu gọi đầu năm mới (1947)
Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định sơ bộ
Ngoài các diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, trong tư liệu của chúng tôi còn có Lời kêu gọi của một số cá nhân hoặc tổ chức khác Với các diễn ngôn này, kết cấu của tiêu đề mang đặc thù riêng, thường bao gồm thông tin người gửi Ví dụ:
Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lời kêu gọi của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Khác với tiêu đề có dạng “Lời kêu gọi”, các diễn ngôn có dạng
“Thư gửi” có cấu trúc đơn giản hơn, tập trung chủ yếu vào 2 loại sau:
- Loại 1: Thư gửi + Đối tượng + Nhân dịp/Kỷ niệm/Dịp
Ví dụ:
Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp “tuần lễ vàng”
Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp đầu năm mới
Trang 39Thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp Xuân Bính Tuất (1946)
- Loại 2: Thư gửi + Đối tượng (Danh từ/Danh ngữ)
Ví dụ:
Thư gửi anh em Hoa Kiều
Thư gửi các giới công thương Việt Nam
Thư gửi các vị phụ lão…
Trong các diễn ngôn ở hai dạng bắt đầu bằng “Lời kêu gọi” và
“Thư gửi” có thể thấy một điều chung rằng đối tượng mà diễn ngôn hướng tới chủ yếu là: đồng bào, nông dân, thiếu nhi, nhi đồng, thanh niên, giáo viên, phụ nữ, toàn dân… Đó là danh từ chỉ số nhiều, chỉ những người mà đại diện cho rất nhiều người, cho cả một tầng lớp… Đây là những thành phần, tầng lớp trong xã hội lúc bấy giờ mà tác giả đưa ra lời kêu gọi nhằm hướng tới, nhằm kêu gọi, lôi cuốn và mong muốn thực hiện theo hành động Thông thường, tác giả có lời kêu gọi nhân dịp sự kiện quan trọng nào đó như: Tết sắp đến, ngày 1-5, Xuân Bính Tuất (1947), đầu năm mới, Lễ Noen 1947, Quốc khánh lần thứ 2,… Đây là những thời điểm có ý nghĩa, gắn bó mật thiết với dân tộc tại thời điểm Lời kêu gọi được xuất hiện, tạo thành tình huống/ngữ cảnh ngoài văn bản giúp người nghe/người đọc có thể hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa và những giá trị tư tưởng mà người viết muốn truyền đạt
Dù sử dụng cấu trúc phần tiêu đề ở dạng nào đi chăng nữa nhưng người đọc cũng thấy được cách chung trong lối xây dựng phần tiêu đề đa số là ngắn gọn, xúc tích, hàm chứa đối tượng, nội dung cần kêu gọi một cách
rõ ràng, chứa đựng được một lượng thông tin tối đa
2.4.2 Đặc điểm cấu trúc phần hô gọi
Trang 40Tiến hành khảo sát trên các diễn ngôn Lời kêu gọi, luận văn đã thống
kê được có 65 câu hô gọi Có 14 diễn ngôn không dùng câu hô gọi (chiếm 20,89%); 30 diễn ngôn sử dụng 1 câu hô gọi (chiếm 47.50%); còn lại là 21 diễn ngôn dùng từ 2 câu hô gọi trở lên (chiếm 31.61%)
Hình 2.6 Mức độ xuất hiện của câu hô gọi trong phần Hô gọi
Kết quả trên cho thấy, có tới gần 80% diễn ngôn lời kêu gọi được các tác giả dùng câu hô gọi (bao gồm những văn bản dùng một câu hô gọi và những văn bản dùng hai hay nhiều hơn hai câu hô gọi) Điều đó chứng tỏ rằng đối với diễn ngôn có mục đích kêu gọi thì việc sử dụng câu hô gọi với tư cách thành phần chính là rất quan trọng Nó có tính chất chỉ ra đối tượng mà chủ thể kêu gọi hướng tới Từ đó ảnh hưởng tới việc sử dụng văn phong ở các phần tiếp theo Câu hô gọi là một trong những thành phần cần yếu làm nên đặc thù của Lời kêu gọi Diễn ngôn Lời kêu gọi mà không có câu
hô gọi sẽ được coi là diễn ngôn không điển hình
Tùy thuộc vào vị trí của mình trong từng diễn ngôn mà câu hô gọi có những vai trò riêng Nếu câu hô gọi làm thành phần mở đầu cho một diễn ngôn Lời kêu gọi thì nó có tác dụng gợi sự chú ý của đối tượng được kêu gọi vào nội dung mà người kêu gọi muốn trình bày Ví dụ:
Quốc dân đồng bào!
(Trích: “Kêu gọi quốc dân” - Hồ Chủ Tịch)
20.89%
47.50%
31.61%
Không dùng câu hô gọi
Sử dụng 01 câu hô gọi
Sử dụng từ 2 câu hô gọi trở lên