Đảo ngữ liên quan đến khả năng di chuyển của các thành tố trong câu, do đó tất yếu gắn với sự khác biệt nào đó giữa các biến thể trật tự của câu: đó là sự khác biệt giữa một trật tự được
Trang 2§¹I HäC QUèC GIA Hµ NéI TR¦êNG §¹I HäC KHOA HäC X· HéI Vµ NH¢N V¡N
Trang 3SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU TRONG LUẬN ÁN
Bảng 4.1 : Tiêu điểm thông báo -
Chủ ngữ đảo tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt 134
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH, TIẾNG VIỆT
1.1.2.1 Một số kiến giải tiêu biểu về đảo ngữ toàn phần 30
1.1.2.2 Một số kiến giải tiêu biểu về đảo trợ động từ 37
1.3 Các cơ sở lí thuyết có liên quan đến đảo ngữ 55
1.3.1 Trật tự từ và tính hình tuyến trong ngôn ngữ 55
1.3.2 Một số quan niệm về sự thay đổi trật tự từ 58
Trang 5ii
CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM CỦA LUẬN ÁN VỀ ĐẢO NGỮ
2.1.3.2 Mô hình PRO-FORM + OPERATOR + SUBJECT 732.1.3.3 Mô hình OPERATOR + SUBJECT + PREDICATION 74
Trang 6iii
CHƯƠNG 3: ĐẢO NGỮ VỚI CHỨC NĂNG GIỚI THIỆU
3.1 Chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn 99
3.2.1 A có cấu tạo là trạng từ chỉ xuất (Deitic Adverb) 102
3.2.2 A là trạng ngữ chỉ vị trí (Position Adjunct) 104
3.2.2.1 “Position Adjunct + Be + Noun Phrase Subject” 104
3.2.2.2 “Position Adjunct + Existence Verb + Noun Phrase Subject” 112
3.2.3 A là trạng ngữ chỉ hướng (Direction Adjunct) 117
3.2.4 A là trạng ngữ chỉ nguồn (Source Adjunct) 118
3.2.5 A là trạng ngữ chỉ thời gian (Time Adjunct) 121
3.2.6 A là trạng ngữ định vị trừu tượng (Abstract Location Adjunct)
4.2.3.1 “Adverbial (Only ) + Operator + Subject + Y” 145
4.2.3.2 “Here/There + Be + Noun Phrase Subject” 147
Trang 7iv
4.2.3.3 “Here/There + Come + Noun Phrase Subject” 148
4.2.3.5 “Direction Adjunct + Verb + Noun Phrase Subject” 1504.2.3.6 “Time Adjunct + Verb + Noun Phrase Subject” 151
4.4.1.1 “Never/At no time + Operator + Subject + Y” 162
4.4.1.3 “In no way/No way + Operator + Subject + Y” 1644.4.1.4 “Under (In) no circumstances/On no account + Operator +
5.2.1 Mô hình “Deitic Adverb + Verb + Noun Phrase Subject” 1785.2.2 Mô hình “Complement + Verb + Noun Phrase Subject” 185
Trang 8v
5.3.2 Mô hình “Nor/Neither + Operator + Subject” 1885.3.3 Mô hình “As + Operator + Noun Phrase Subject” 189
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
Trang 9Về mặt lí luận, di chuyển thành tố trong câu là hiện tượng bình thường trong các ngôn ngữ Điều này đã được sự xác nhận của nhiều nhà ngôn ngữ học [W Chafe 1976, Hoàng Trọng Phiến 1980, R Quirk 1985, Phan Thiều
1988, Lưu Vân Lăng (dẫn theo lần xuất bản 1998), Nguyễn Minh Thuyết
1998, D Biber 1999, R Huddleston 2002] Tiếng Anh và tiếng Việt đều là những ngôn ngữ SVO, trong đó vị trí thuận của chủ ngữ là ở trước vị ngữ, vị trí điển hình của bổ ngữ là sau vị ngữ Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp chủ ngữ được đảo ra sau vị ngữ, bổ ngữ được đảo lên vị trí đầu câu, v.v
“Đảo ngữ” trong tiếng Anh, tức “inversion”, là một hiện tượng ngữ pháp dễ nhận diện và đã được một số nhà Anh ngữ học quan tâm nghiên cứu
Là một quá trình cú pháp làm thay đổi trật tự các thành tố trong câu nhưng không làm thay đổi các quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố đó, ĐNTA gắn bó mật thiết với cấu trúc câu
Đảo ngữ liên quan đến khả năng di chuyển của các thành tố trong câu,
do đó tất yếu gắn với sự khác biệt nào đó giữa các biến thể trật tự của câu: đó
là sự khác biệt giữa một trật tự được cho là cơ bản, hay trật tự chuẩn, với những trật tự được hình thành nhờ vào hiện tượng đảo ngữ Chắc hẳn sự khác biệt về trật tự như vậy (với tư cách là “cái biểu đạt”) sẽ thể hiện những khác biệt về nội dung (với tư cách là “cái được biểu đạt”) Đây chính là một hệ quả của nguyên lí về tính hình tuyến của cái biểu hiện mà F D Saussure đã nêu ra trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” [1955, tr 126] khi bàn về bản chất
Trang 102
của tín hiệu ngôn ngữ: “Vốn là vật nghe được, cái biểu hiện diễn ra trong thời
gian và có những đặc điểm vốn là của thời gian: a) nó có một bề rộng, và b)
bề rộng đó chỉ có thể đo trên một chiều mà thôi: đó là một đường chỉ, một
tuyến.” Như vậy, tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ khiến cho người nói/
viết không thể cùng một lúc tạo ra hai yếu tố trong câu nói hay câu viết của mình Do đó, tính hình tuyến cũng có vai trò nhất định đối với việc lựa chọn một cấu trúc câu cũng như xuất phát điểm của câu
Tiếng Anh là một ngôn ngữ thiên chủ ngữ (subject-prominent language) và có chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject) đứng ở vị trí đầu tiên trong mô hình cấu trúc cơ bản của câu đơn trần thuật với tư cách là dạng thức chuẩn của câu (the canonical form of the sentence) Nhìn chung, có hai cách phân tích câu đã được áp dụng rộng rãi trong ngữ pháp tiếng Anh, cụ thể
là như sau:
♦ Cách thứ nhất phân tích câu ra thành 5 thành phần bắt buộc: S (Subject), V (Verb), O (Object), C (Complement) và A (Adverbial); cách phân tích này cho kết quả là 7 mô hình cơ bản của câu được hình thành căn cứ vào khả năng kết hợp của các thành phần câu theo trật tự thông thường của chúng, đó là: SV, SVO, SVC, SVA, SVOO, SVOC, SVOA
♦ Cách thứ hai chia câu ra thành Chủ ngữ (Subject) và Vị ngữ (Predicate), Vị ngữ lại được chia nhỏ ra thành “Operator” (trợ động từ thứ nhất) và “Predication” (vị ngữ không ngôi) Cách phân tích thứ hai này đưa đến hai mô hình cơ bản: “Subject + Predicate” và “Subject + Operator + Predication”
Hiện tượng đảo ngữ xuất hiện trong những biến thể (variation) của các
mô hình cơ bản nêu trên, cụ thể là như sau:
Nếu chủ ngữ đứng sau động từ thì sẽ có 5 mô hình: VS, OVS, AVS , CVS và “Predication + Be + Subject”
Trang 113
Nếu chủ ngữ đứng sau trợ động từ thì sẽ có 3 mô hình: “Operator + Subject + Predication”, “Pro-form + Operator + Subject” và “X + Operator + Subject + Y” ( X: yếu tố đứng ở vị trí đầu câu; Y: phần còn lại của câu)
Với những mô hình cấu trúc như vậy, các kiểu câu ĐNTA là bằng chứng cho thấy rằng thành tố tận cùng về bên trái (the left-most constituent) trong câu tiếng Anh không phải lúc nào cũng là chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject) Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần liệt kê các mô hình cấu trúc như đã nêu thì sẽ khó tránh khỏi nguy cơ sa vào chủ nghĩa hình thức Vậy những mô hình ĐNTA có thể được xem xét và tiếp cận như thế nào về mặt ngữ nghĩa? Để chuyển tải nội dung của những câu ĐNTA, tiếng Việt sử dụng những cấu trúc gì và những phương tiện gì trong những câu dịch tương ứng? Việc đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này chính là một trong những lí do chọn đề tài của chúng tôi
Từ góc độ lí luận, lời giải đáp cho những câu hỏi trên sẽ góp phần làm
rõ những đặc trưng loại hình của tiếng Anh và tiếng Việt, trước hết, với tư cách là những ngôn ngữ phân tích tính và sau đó, cho thấy một số khác biệt mang tính nội bộ trong tổng thể những đặc điểm loại hình của hai ngôn ngữ, vốn khác biệt đáng kể so với những loại hình khác theo cách phân loại cổ điển
Về mặt thực tiễn, trong các sách ngữ pháp tiếng Anh hiện đang lưu hành tại Việt nam, kể cả các giáo trình ngữ pháp ở bậc đại học, chúng tôi nhận thấy rằng hầu như chỉ có một sự liệt kê các trường hợp đảo ngữ mà ít có
sự phân tích về ngữ nghĩa đối với loại câu này Mặt khác, từ thực tiễn dạy học tiếng Anh, với tư cách là một giáo viên, chúng tôi nhận thấy rằng người học luôn luôn có nhu cầu muốn được lí giải cụ thể về bản chất của ĐNTA để có được những hướng dẫn đúng đắn liên quan đến việc sử dụng loại câu này Thiết nghĩ một công trình nghiên cứu về cả hai bình diện cấu trúc và ngữ
Trang 122 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được thể hiện một cách khái quát qua tên gọi của đề tài: “Khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt” Trong tên gọi này, có ba điểm chúng tôi muốn làm sáng tỏ:
a- “Cấu trúc” được hiểu là “sự sắp xếp có quy tắc của các đơn vị ngôn ngữ để
tạo thành một tổng thể có nghĩa” [Asher et al., 1994, t 10, tr 5175] Trong luận án này, các cấu trúc đảo ngữ được chúng tôi xem xét dưới dạng các
mô hình cú pháp được trừu tượng hoá từ những câu cụ thể, với các thành phần bắt buộc theo quan niệm của đại đa số các nhà Anh ngữ học Hiện tượng đảo ngữ không làm thay đổi chức năng ngữ pháp cũng như vai nghĩa của các thành phần bị đảo So với mô hình của câu có trật tự thuận tương ứng, mô hình câu đảo ngữ thể hiện sự khác biệt về trật tự sắp xếp các thành tố trong câu
Trang 135
b- “Ngữ nghĩa” của các câu đảo ngữ trong luận án này được chúng tôi hiểu
không chỉ là nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề (descriptive meaning/propositional meaning) mà còn là nghĩa phi miêu tả hay nghĩa phi nội dung mệnh đề (non-descriptive meaning/non-propositional meaning) Đây là cách hiểu về ngữ nghĩa theo nghĩa rộng, dựa trên quan điểm của J Lyons [1995, tr xii-xiii] Theo quan điểm này, ngữ nghĩa được xem là đối tượng của “ngữ nghĩa học” hiểu theo nghĩa rộng, tức ngữ nghĩa học mà trong đó bao hàm cả những nội dung của ngữ dụng học Đỗ Hữu Châu, trong cuốn sách “Đại cương ngôn ngữ học”, tập hai [2003, tr 45],
đã nêu rõ: “Ngữ nghĩa học hiểu theo nghĩa rộng có đối tượng là ngữ nghĩa nói chung, bao gồm cả ngữ nghĩa bị quy định bởi tính đúng - sai lôgic và ngữ nghĩa không bị quy định bởi tính đúng - sai lôgic” Khi khảo sát ngữ nghĩa của đảo ngữ, luận án đặt trọng tâm nghiên cứu vào phần nghĩa phi miêu tả hay nghĩa phi nội dung mệnh đề, được giới hạn và cụ thể hoá trong ba chức năng của đảo ngữ, đó là: chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn, chức năng nhấn mạnh và chức năng liên kết
c- “Hiện tượng đảo ngữ” trong luận án này có nội hàm của thuật ngữ
“inversion” của ngữ pháp tiếng Anh Bản thân thuật ngữ “đảo ngữ” được
sử dụng trong luận án này chỉ là một cách gọi theo thói quen khi chuyển dịch thuật ngữ “inversion” sang tiếng Việt Vì vậy, cách hiểu của chúng tôi đối với hiện tượng đảo ngữ không căn cứ vào cách chiết tự, chẳng hạn như “đảo” tức là “đổi ngược vị trí” ra trước hoặc sau đối với các yếu tố theo trật tự hình tuyến và “ngữ” là “cụm từ” có tư cách của một thành phần câu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là loại câu trần thuật tiếng Anh có trật tự đảo Đối tượng này được chúng tôi xác định dựa vào định nghĩa của Green [1982, tr 120]: đảo ngữ là “những cấu trúc câu trần thuật mà trong đó
Trang 146
chủ ngữ theo sau một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của động ngữ” Định nghĩa này cũng chính là điểm xuất phát của nhiều công trình trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến đảo ngữ trong tiếng Anh hiện đại [H Dorgeloh
1997, M A Gomez-González 2001]
Sau khi xác định đối tượng nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng phạm
vi nghiên cứu của luận án không bao hàm những trường hợp sau đây:
i Phép đảo trợ động từ với tư cách là một phương tiện ngữ pháp để tạo câu hỏi trong tiếng Anh
Phép đảo này là một phép cải biến làm cho câu hỏi được phái sinh từ câu trần thuật và có tác dụng phân biệt thức trần thuật với thức nghi vấn Đó
là một sự chuyển vị mang tính chất ngữ pháp hoá, tức nó là một trong các phương tiện cú pháp để tạo câu hỏi [Givón 1993, t 2, tr 249 & 259]
Nó được xem là một phương tiện mã hoá ngữ pháp (grammatical coding device) và là một hình thức ngôn ngữ học (linguistic form) mang tính đặc thù ngôn ngữ (language specific) [J Penhallurick 1987, tr 99]
ii Hiện tượng đảo trong những câu cầu khiến như “Post this letter for me, can you?”, hoặc những câu cảm thán mang đậm phong cách tu từ như
“How softly glides the moon!” hoặc “How beautiful are the flowers!”
iii Những câu khuôn thức (formulae/formulaic sentences) như “May your
dreams come true”, “Long live the Queen”, được dùng để diễn tả một lời cầu chúc, lời chào hay một niềm mong ước Đây là một loại “câu bất quy tắc” (irregular sentences) thuộc về thức giả định nguyện ước (optative subjunctive), trong đó đảo ngữ đã bị “hóa thạch” (fossilized), theo cách diễn đạt của R Quirk và các đồng sự [1972, tr 411]
iv Đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn (quotation inversion) Ví dụ:
0: 1 “The newspaper is late again”, said John (OVS) [87, tr 590] 0: 2 “The newspaper is late again”, John said (OSV) [87, tr 590]
Trang 157
0: 3 “The newspaper,” John said, “ is late again.” [87, tr 590] 0: 4 “The newspaper,” said John, “ is late again.” [87, tr 590] 0: 5 Says John: “The newspaper is late again” (VSO) [87, tr 590] Theo H H Hartvigson và L K Jakobsen [1974, tr 80], sự xuất hiện của đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn là một vấn đề thuộc về phong cách cũng như sở thích của người viết Trong nhiều trường hợp, lời trích dẫn
bị phân tách thành hai phần, và xen vào giữa hai phần đó là các mệnh đề
tường thuật (reporting clauses) như John said và said John trong các ví
dụ {0:3} và {0:4} R Quirk và các đồng sự [1985, tr 1378] xem các mệnh đề tường thuật này là các mệnh đề phụ (dependent clauses) bởi vì xét về các phương diện cú pháp lẫn ngữ nghĩa, các mệnh đề tường thuật này giống với các mệnh đề bình luận (comment clauses) nêu lên ý kiến hoặc quan điểm của người nói đối với điều được nói đến Cũng theo nhóm tác giả này [1985, tr 1023], tính độc lập của lời trích dẫn trực tiếp (direct quotation) thể hiện ở chỗ có những lời trích dẫn trực tiếp không cần sự hiện diện của mệnh đề tường thuật Như vậy, về mặt cấu trúc, hiện tượng đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn thể hiện qua nhiều kiểu sắp xếp trật tự các thành tố; các ví dụ {0:3} và {0:4} là bằng chứng cho thấy không phải lúc nào lời trích dẫn trực tiếp cũng có chức năng ngữ pháp là
“Object” (O) như trong các mô hình OVS và VSO, mà lời trích dẫn này
có thể bị tách ra và chen vào giữa bởi mệnh đề tường thuật Về mặt ngữ nghĩa, yếu tố V trong các mô hình này chỉ có thể là những động từ ngoại động chỉ hành động nói năng (verbs of saying) Với những đặc điểm này, hiện tượng đảo ngữ trong câu có lời trích dẫn là một hiện tượng riêng biệt, khác hẳn với đối tượng nghiên cứu của luận án
v Cũng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án là hiện tượng
“preposing” (còn gọi là “fronting”) và câu tồn tại trong tiếng Anh
Trang 160: 6 Jason deals with the post every morning The routine letters he
answers The rest he passes onto the boss [77, tr 56]
Jason xử lí thư từ vào mỗi buổi sáng Những thư thường lệ thì anh trả lời Phần còn lại anh chuyển sang cho ông chủ
0: 7 Intelligent she may be but omniscent she‟s not [77, tr 96]
Thông minh thì cô ta có, nhưng thông suốt mọi sự thì không
Existential sentence:
0: 8 There was a unicorn in the garden [98, tr 179]
Có một con kì lân trong khu vườn
Trong các ví dụ {0:6} và {0:7}, bổ ngữ trực tiếp (the routine letters, the rest) và bổ túc ngữ (intelligent, omniscent) đã được đảo lên vị trí đầu
câu; tuy nhiên, không có sự dịch chuyển của chủ ngữ ra phía sau động
từ, cũng không có sự xuất hiện của trợ động từ trước chủ ngữ; riêng ví
dụ {0:8} là một câu thể hiện ý nghĩa tồn tại, trong đó chủ ngữ ngữ pháp
là “there”, đứng ở vị trí đầu câu Như vậy, các câu này có bản chất khác hẳn so với các câu đảo ngữ hiểu theo định nghĩa của Green [1982, tr 120] Do đó, chúng không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của luận án là loại câu trần thuật tiếng Anh được cấu tạo bởi 3 mô hình khái quát của “đảo ngữ toàn phần” (ĐNTP), tức “full inversion” và 3 mô hình khái quát của “đảo trợ động từ” (ĐTĐT), tức “auxiliary/operator inversion”, cụ thể là như sau:
Đảo ngữ toàn phần: AVS
Trang 179
CVS PREDICATION + BE + SUBJECT Đảo trợ động từ: OPERATOR + SUBJECT + PREDICATION
PRO-FORM + OPERATOR + SUBJECT
X + OPERATOR + SUBJECT + Y
(X : yếu tố đứng ở vị trí đầu câu; Y: phần còn lại của câu)
Ngoài ra, trong tiếng Anh, chủ ngữ còn có thể xuất hiện sau động từ trong các mô hình VS, OVS và AVSA Tuy nhiên, luận án không nghiên cứu các mô hình này vì những lí do như sau:
(i) Đối với mô hình VS, trong nguồn tư liệu, chúng tôi chỉ tìm thấy 2 ví dụ: 0: 9 Came frightful days of snow and rain [157, tr 32-33]
Rồi đến những ngày đáng sợ, đầy tuyết và mưa
0: 10 Came a terrific flash of lightning and clap of thunder [73,
tr 22]
Tiếp theo đó một tia chớp loé lên cùng với một tiếng sét kinh
hoàng
Theo H Dorgeloh [1997, tr 21], câu {0: 9} cũng như câu {0:10} thực ra
đều được bắt đầu bằng một ngữ đoạn chỉ thời gian ngầm ẩn (implied temporal phrase) Chúng tôi nhận thấy rằng ngữ đoạn này có thể là một
trạng ngữ như then hoặc next; khi đó, mô hình đầy đủ của hai câu này sẽ
là AVS, được hiện thực hoá như sau:
Then came frightful days of snow and rain
Next came a terrific flash of lightning and clap of thunder
Như vậy, trong nguồn tư liệu của chúng tôi, số lượng câu có mô hình VS thực sự quá ít ỏi và chúng chỉ là một trường hợp nhỏ của mô hình AVS
Do đó, chúng tôi sẽ không đề cập đến mô hình VS trong luận án này
Trang 1810
(ii) Đối với mô hình OVS, chúng tôi cũng chỉ tìm thấy 2 ví dụ - chính là các
ví dụ của R Quirk và các đồng sự [1972, tr 699] [1985, tr 1381]:
0: 11 Oxford is likely to win the next boat race So say all my friends
Đội Oxford chắc sẽ thắng trong cuộc đua thuyền sắp tới Tất cả các bạn tôi đều nói thế
0: 12 So say the rest of us
Những người còn lại trong chúng tôi đều nói thế cả
Cũng theo nhóm tác giả Quirk [1985, tr 1381], một số người quan niệm rằng các câu đảo ngữ trong hai ví dụ {0:11} và {0:12} thể hiện một đặc điểm của tiếng Anh cổ (archaic English) Đây cũng chính là lí do khiến chúng tôi loại trừ mô hình OVS trong luận án này, vì cứ liệu nghiên cứu của chúng tôi là tiếng Anh hiện đại
(iii) Trong mô hình AVSA, có sự xuất hiện của hai trạng ngữ Ví dụ:
0: 13 In the garden sat an old man unhappily [57, tr 235]
Trong khu vườn có một cụ già đang ngồi rầu rĩ
Xét về phương diện cấu trúc, trong trường hợp này, trạng ngữ cuối câu không có tính bắt buộc (obligatory) so với trạng ngữ đứng ở vị trí đầu câu Trong khi “In the garden sat an old man” là một câu hoàn chỉnh, thì
* “Sat an old man unhappily” là một trường hợp không thể chấp nhận được, bởi lẽ đây không phải là một câu đúng theo những quy tắc của ngữ pháp tiếng Anh Do đó, trong luận án này chúng tôi sẽ không nghiên cứu mô hình AVSA, mà tập trung khảo sát các mô hình được tạo lập bởi
sự hiện diện mang tính bắt buộc của các thành phần câu
Phạm vi nghiên cứu của luận án cũng không bao hàm ngữ điệu và các yếu tố ngôn điệu khác, mặc dù các yếu tố này bao giờ cũng đi kèm với bất kì một câu nói hay câu viết nào trong các ngôn ngữ tự nhiên
Trang 1911
3 Mục tiêu của luận án
Luận án đặt ra những mục tiêu sau:
Xác lập khái niệm “đảo ngữ trong tiếng Anh” là cơ sở của việc nghiên cứu
Xác lập một cách hiểu chung về cấu trúc và ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ ứng với thực tế của tiếng Anh và sự biểu đạt của nó trong tiếng Việt Đây cũng chính là nền tảng để xây dựng nội dung nghiên cứu
Hệ thống hoá tất cả các trường hợp ĐNTA trong câu trần thuật; miêu tả cấu tạo hình thức của chúng bằng cách căn cứ vào các mô hình cú pháp
Chọn ra các cấu trúc đảo ngữ giống nhau về mặt chức năng trong diễn ngôn; mặt chức năng đó chính là sự cụ thể hoá của một thứ nghĩa “phi miêu tả” (non-descriptive meaning) hay “phi nội dung mệnh đề” (non-propositional meaning) mà đảo ngữ biểu thị
Phân tích cả hai mặt cấu trúc và ngữ nghĩa của từng kiểu câu đảo ngữ tiếng Anh, đồng thời đối chiếu với tiếng Việt nhằm tìm ra các cách thức thể hiện chúng trong tiếng Việt, qua đó thấy được các kiểu tương đương dịch thuật cũng như những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ
Trình bày những nhận xét tổng quát mang tính lí luận về vấn đề nghiên cứu và những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm mục đích khảo sát ĐNTA trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, đồng thời nắm bắt được những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt dựa trên cứ liệu đối dịch Anh-Việt, luận án này được thực hiện dựa trên ba phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp quy nạp: phương pháp này được sử dụng nhằm xử lí cứ liệu, tổng hợp các kết quả và rút ra kết luận
Trang 2012
Phương pháp miêu tả: phương pháp này được thể hiện thông qua việc phân tích mặt cấu trúc cú pháp và chức năng của đảo ngữ trong diễn ngôn; các cấu trúc cú pháp được nhận diện nhờ vào những mô hình được tạo lập bởi các thành phần câu theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống
Phương pháp phân tích đối chiếu: phương pháp này được sử dụng nhằm nêu bật những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Về phạm vi đối chiếu, chúng tôi lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở hay ngôn ngữ chỉ đạo, tức ngôn ngữ này là ngôn ngữ đối tượng cần được phân tích, làm sáng tỏ; còn tiếng Việt là ngôn ngữ phương tiện, được sử dụng như là ngôn ngữ liên hệ để làm sáng tỏ các đặc điểm của ngôn ngữ đối tượng
Luận án được thực hiện theo các bước như sau:
a- Tổng hợp tài liệu và những kiến giải về hiện tượng ĐNTA
b- Thu thập ngữ liệu của cả hai ngôn ngữ Anh-Việt từ các bản dịch song ngữ
và các tài liệu ngữ pháp
c- Phân loại, miêu tả, phân tích đối chiếu và quy nạp để đi đến kết luận Việc
phân loại dựa trên các tiêu chí về cấu tạo hình thức và chức năng của đảo ngữ Việc đối chiếu có tính đến những đặc điểm loại hình học
Để thuận tiện cho việc miêu tả và đối chiếu, một số thuật ngữ và cách gọi tên của ngữ pháp truyền thống vẫn được sử dụng trong luận án, do ý nghĩa thực tiễn của đề tài này là phục vụ cho việc dạy học và thực hành ngoại ngữ
5 Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án
♦ Các bản dịch song ngữ Anh-Việt, đặc biệt là các tác phẩm văn học như tiểu thuyết, truyện ngắn
♦ Các sách ngữ pháp và các công trình nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt
♦ Các loại từ điển tiếng Anh và tiếng Việt
Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo một số cấu trúc câu
“không cơ bản”, hiện tượng ĐNTA lại không xuất hiện với tần số cao, nếu
Trang 2113
không nói là “tương đối hiếm” [D Biber et al 1999, tr 926] Cũng theo các tác giả này, các cấu trúc ĐNTA xuất hiện trong bút ngữ nhiều hơn là trong khẩu ngữ, đặc biệt các tác phẩm văn chương cho thấy tần số xuất hiện của đảo ngữ là cao hơn cả Chính vì vậy mà nguồn tư liệu của chúng tôi chủ yếu dựa vào các tiểu thuyết, truyện ngắn, Trên cơ sở tham khảo 927 đoạn văn tiếng Anh có sử dụng đảo ngữ, chúng tôi đã chọn ra 500 ví dụ tiêu biểu nhất để làm dẫn liệu cho việc miêu tả và phân tích trong luận án
6 Vấn đề đối chiếu trong luận án
Trong luận án này, việc đối chiếu từ tiếng Anh sang tiếng Việt chính là một sự phân tích tương phản ứng dụng (applied contrastive analysis), chứ không phải là phân tích tương phản lí thuyết (theoretical contrastive analysis) Đây là hai loại phân tích tương phản mà Carl James [1980] đã nêu ra trong cuốn sách bàn về đối chiếu ngôn ngữ có nhan đề “Contrastive Analysis” Carl James [1980, tr 142] đã dẫn lời Fisiak và các đồng sự [1978, tr 10], rằng phân tích tương phản lí thuyết “tìm kiếm sự hiện thực hoá của một phạm trù phổ quát X trong cả hai ngôn ngữ A và B”; còn phân tích tương phản ứng dụng thì lại “quan tâm sâu sắc đến vấn đề một phạm trù phổ quát X, được hiện thực hoá là y trong ngôn ngữ A, được biểu đạt như thế nào trong ngôn ngữ B” Sau đây là sơ đồ minh hoạ cho hai loại phân tích tương phản này:
X X
A B A(y) B(?)
Phân tích tương phản lí thuyết Phân tích tương phản ứng dụng
Sơ đồ 0.1: Các loại phân tích tương phản
(Nguồn: C James 1980, tr 142)
Trang 2214
Sơ đồ này cho thấy phân tích tương phản ứng dụng mang tính chất một chiều (unidirectional) từ ngôn ngữ đối tượng sang ngôn ngữ phương tiện, trong khi đó phân tích tương phản lí thuyết “không cần thiết phải phản ánh bất
kì một tính định hướng nào đối với việc học ngôn ngữ” [C James 1980, tr 142] Vì mục đích thực tiễn của việc đối chiếu trong luận văn này là nhằm phục vụ cho việc học tiếng Anh của người Việt, nên hướng phân tích đối chiếu của chúng tôi là phân tích tương phản ứng dụng Dựa trên cơ sở đó mà
sự miêu tả trong luận án này chủ yếu thiên về tiếng Anh và việc đối chiếu tập trung vào cách thức biểu đạt của ĐNTA khi chuyển dịch sang tiếng Việt
Mặc dù “đảo ngữ” đã được xem là một phổ quát ngôn ngữ, nhưng tình hình trong tiếng Việt có khác với tiếng Anh: khác với ĐNTA, “đảo ngữ trong tiếng Việt” là một vấn đề đã và đang gây nhiều tranh luận trong các nhà nghiên cứu Có nhiều ý kiến khác biệt, thậm chí trái ngược nhau đối với sự tồn tại của một hiện tượng gọi là “đảo ngữ” trong tiếng Việt Các nhà Việt ngữ học có thể đồng ý về sự hiện diện của các kiểu câu như Danh ngữ - Danh ngữ - Vị ngữ và Vị ngữ - Danh ngữ, tuy nhiên lại khá dè dặt và thận trọng trong cách đặt tên cho sự dịch chuyển thành tố trong các kiểu câu này Một số
cách gọi đã được nêu ra: sự đề bạt, hiện tượng đảo trí, phép đảo, đảo ngữ,
Vấn đề tư cách thành phần câu của các yếu tố đảo trí cũng đã làm nảy sinh những quan điểm khác nhau Có thể nói rằng, cho đến nay, đảo ngữ trong tiếng Việt đã được thừa nhận trong lĩnh vực phong cách học, còn trong lĩnh vực ngữ pháp, “đảo ngữ” là một phạm trù chưa có sự định hình rõ nét như trong tiếng Anh Chính vì vậy chúng tôi chưa có điều kiện để thực hiện được một sự phân tích đối chiếu hai chiều thể hiện sự cân đối trong việc miêu tả đầy đủ cả hai ngôn ngữ Anh-Việt ở một mức độ như nhau Do đó, chúng tôi chọn giải pháp đối chiếu một chiều Giải pháp này không yêu cầu hai sự miêu
tả của hai ngôn ngữ phải ở một mức độ thấu đáo như nhau (equally
Trang 2315
exhaustive theo C James [1980, tr 65] hoặc delicate theo M A K Halliday
[1961, tr 272, dẫn theo C James 1980, tr 65]) Mặt khác, giải pháp này cho phép đặt trọng tâm đối chiếu thiên về ngôn ngữ đối tượng - ngôn ngữ mà người học đang hướng đến
Việc đối chiếu trong luận án này được thực hiện dựa vào cứ liệu đối dịch Anh-Việt và trên cơ sở thừa nhận sự tồn tại của tương đương dịch thuật (TĐDT) Carl James [1980, tr 67] đã khẳng định rằng việc sử dụng các câu dịch tương đương (translationally equivalent sentences) tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đối chiếu
Trong bài viết “Về vấn đề tương đương trong dịch thuật” [2001], tiếp thu các quan điểm của A Fedorov [1968], Catford [1969], Nida & Taber [1969], Newman [1980] & Koller [1990], tác giả Nguyễn Hồng Cổn đã nêu ra một định nghĩa về tương đương dịch thuật như sau:
Tương đương dịch thuật (TĐDT) là sự trùng hợp hay tương
ứng trên một hoặc nhiều bình diện (ngữ âm, ngữ pháp, ngữ
nghĩa, ngữ dụng) giữa các đơn vị dịch thuật của văn bản
nguồn (VBN) và văn bản đích (VBĐ) với tư cách vừa là sản
phẩm vừa là phương tiện của dịch thuật như một quá trình
giao tiếp
Theo Nguyễn Hồng Cổn, định nghĩa trên đây ngụ ý rằng:
a) TĐDT là một thuộc tính khách quan, một mối quan hệ có thực tồn tại
giữa VBN và VBĐ và các đơn vị của chúng
b) TĐDT là một đại lượng động, biến thiên theo số lượng và tính chất của
các bình diện tương đương được dịch
c) TĐDT chịu sự ảnh hưởng và chi phối của nhiều nhân tố trong việc ưu
tiên lựa chọn một bình diện, một khía cạnh tương đương này hay khác
Trang 2416
Như vậy, cách hiểu về TĐDT như trên cho thấy rằng không có một TĐDT lí tưởng nào chung cho các đơn vị dịch thuật Giữa các đơn vị dịch thuật có thể có các kiểu TĐDT khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất và số lượng của các bình diện tương đương được chuyển dịch
Nguyễn Hồng Cổn đã phân biệt bốn bình diện TĐDT cơ bản, cụ thể là:
Tương đương ngữ âm (phonetic equivalence) là khả năng tương ứng giữa
các đơn vị dịch của VBN và VBĐ về cấu trúc âm vị, đặc trưng ngôn điệu (trọng âm, ngữ điệu), và độ dài tuyến tính
Tương đương ngữ pháp (grammatical equivalence) là khả năng tương
đương giữa các đơn vị dịch thuật về các phương diện phạm trù từ loại của các từ, trật tự từ, cấu trúc cú pháp và kiểu câu
Tương đương ngữ nghĩa (semantic equivalence) là khả năng tương đương
giữa các đơn vị dịch của VBN và VBĐ về a) nghĩa sở biểu và nghĩa sở chỉ ở cấp độ từ; b) nghĩa mô tả hay nghĩa mệnh đề ở cấp độ câu
Tương đương ngữ dụng (pragmatic equivalence) là sự tương ứng giữa các
đơn vị dịch thuật của VBN và VBĐ về các thông tin ngữ dụng (hay còn gọi là thông tin phi miêu tả), liên quan đến các nhân tố của tình huống giao tiếp
Căn cứ vào sự có mặt/vắng mặt của 4 bình diện tương đương cơ bản này, Nguyễn Hồng Cổn đã phân chia các TĐDT thành 2 nhóm lớn với 6 kiểu tương đương như sau:
♦ Các tương đương hoàn toàn, bao gồm hai kiểu: tương đương hoàn toàn tuyệt đối và tương đương hoàn toàn tương đối
Tương đương hoàn toàn tuyệt đối: là các TĐDT tương đương với
nhau trên cả 4 bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Tương đương hoàn toàn tương đối: là các TĐDT giống nhau trên 3
bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Trang 2517
Kiểu tương đương hoàn toàn tuyệt đối rất ít khi xảy ra bởi vì phần lớn các ngôn ngữ có các hệ thống âm vị khác nhau Còn kiểu tương đương
hoàn toàn tương đối thì xuất hiện phổ biến hơn
♦ Các tương đương bộ phận: các TĐDT chỉ tương ứng với nhau trên một
hoặc hai bình diện Chúng bao gồm các kiểu sau:
Tương đương ngữ pháp-ngữ nghĩa: kiểu TĐDT này được tìm thấy
khi mà, do sự khác biệt tinh tế giữa hai ngôn ngữ, người dịch không thể chuyển tải được hết các thông tin dụng học khác nhau của đơn vị dịch Kiểu TĐDT này thường chỉ dùng để dịch chú giải nghĩa nguyên văn của câu hoặc thành ngữ; nó ít được sử dụng trong dịch giao tiếp
Tương đương ngữ pháp-ngữ dụng: là kiểu TĐDT mà trong đó các
đơn vị dịch của VBN và VBĐ chỉ tương đương nhau về ngữ pháp và ngữ dụng nhưng không tương đương về ngữ nghĩa
Tương đương ngữ nghĩa-ngữ dụng: là kiểu tương đương phổ biến
nhất, trong đó đơn vị gốc và đơn vị đối dịch có nghĩa biểu hiện và nghĩa ngữ dụng (đích ngôn trung, giá trị thông báo ) tương ứng với nhau, nhưng giữa các đơn vị này có những khác biệt nhất định về mặt ngữ pháp
Tương đương thuần ngữ dụng: là kiểu tương đương tự do nhất, trong
đó các khía cạnh tương đương khác nhau về thông tin ngữ dụng (đặt biệt là đích ngôn trung và giá trị thông báo) hầu như độc lập với tương đương ngữ pháp và ngữ nghĩa Kiểu tương đương này thường xảy ra khi chuyển dịch các câu có tính nghi thức hoặc tính thành ngữ cao
Căn cứ vào 6 kiểu TĐDT theo sự phân loại của Nguyễn Hồng Cổn, khi tiến hành đối chiếu Anh-Việt, luận án đặt mục tiêu tìm ra các kiểu TĐDT có thể có giữa hai ngôn ngữ trên cơ sở các mô hình cấu trúc của ĐNTA Cụ thể
Trang 2618
là: đối với mỗi một cấu trúc ĐNTA, chúng tôi sẽ tìm kiếm kiểu TĐDT phù hợp nhất có thể có trong tiếng Việt Trong một số trường hợp, có thể có hơn một cấu trúc trong tiếng Việt ứng với một cấu trúc đảo ngữ tiếng Anh
Việc đối chiếu trong luận án được thực hiện ở cấp độ câu, do đó chúng tôi thấy cần phải xác định các khái niệm “ngữ pháp”, “ngữ nghĩa”, “ngữ dụng” trong cách gọi tên các kiểu TĐDT mà luận án sử dụng
“Ngữ pháp”, theo cách hiểu của luận án, là bình diện kết học của câu, được thể hiện qua cấu trúc cú pháp của câu, với những đặc điểm hình thức của các yếu tố cấu tạo nên câu
“Ngữ nghĩa”, trong cách gọi tên các kiểu TĐDT mà luận án sử dụng, được giới hạn trong bình diện nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề của câu, còn được gọi là nghĩa biểu hiện Đó là phần nghĩa của câu phản ánh một sự tình (state of affairs) nào đó của hiện thực Đây là cách hiểu về “ngữ nghĩa” theo nghĩa hẹp so với cách hiểu về “ngữ nghĩa” trong tên đề tài luận án mà chúng tôi đã trình bày ở mục 2, trong phần “MỞ ĐẦU”
“Ngữ dụng”, cũng trong cách gọi tên các kiểu TĐDT của luận án, là bình diện của mối quan hệ giữa câu và việc sử dụng câu trong hoạt động giao tiếp, được thể hiện qua các thông tin phi miêu tả, có liên quan đến các nhân tố của tình huống giao tiếp như người sử dụng, mục đích sử dụng, hoàn cảnh sử dụng
Như đã trình bày ở mục 2, phần “MỞ ĐẦU”, trong tên gọi của đề tài
“Khảo sát cấu trúc-ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt”, thuật ngữ “ngữ nghĩa” được chúng tôi hiểu theo nghĩa rộng, tức
đó là đối tượng của ngữ nghĩa học hiểu theo quan điểm của J Lyons [1995, tr 342]: “Về nguyên tắc, ngữ nghĩa học nên bao quát (tất cả và duy nhất) những nghĩa được mã hoá trong cấu trúc từ vựng và cấu trúc ngữ pháp của các ngôn
Trang 2719
ngữ cụ thể, bất luận là những nghĩa đó có thể được phân tích theo điều kiện chân trị hay không” Đây là quan niệm được chấp thuận rộng rãi ở Việt Nam hiện nay, khi mà nghĩa học điều kiện chân trị và một số khuynh hướng nghĩa học hình thức (Formal Semantics) chưa thật sự được giới thiệu rộng rãi Trên
cơ sở những cân nhắc về lí luận và thực tiễn như vậy, luận án này được thực hiện chủ yếu nhằm tìm hiểu những nghĩa được mã hoá trong cấu trúc cú pháp của đảo ngữ tiếng Anh, ngoài phần nghĩa miêu tả hay nghĩa mệnh đề, tức hiểu
“ngữ nghĩa” theo cách hiểu rộng Riêng trong phần đối chiếu giữa các câu đảo ngữ tiếng Anh với các câu đối dịch trong tiếng Việt, để làm rõ các kiểu TĐDT
có thể có giữa hai ngôn ngữ, chúng tôi tạm phân biệt khái niệm “ngữ nghĩa” với khái niệm “ngữ dụng” như đã trình bày ở trang 17 Sự phân biệt này được nêu ra chỉ như là một sự phân biệt ở khía cạnh kĩ thuật, bởi vì cuộc tranh luận
về ranh giới giữa nghĩa học và dụng học nói chung, giữa việc xếp nội dung nào thuộc nghĩa học, nội dung nào thuộc dụng học là một vấn đề quá sức phức tạp Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi tập trung giải quyết một số vấn đề cốt lõi của nghĩa, với tư cách là “cái được biểu đạt”, trong những giới hạn của đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã được đặt ra
7 Cái mới của luận án
Luận án nghiên cứu ĐNTA trong mối quan hệ gắn bó giữa hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, xem đảo ngữ không chỉ là một hiện tượng thuộc
về cấu trúc nội tại của câu xét trên bình diện cú pháp mà còn là một hiện tượng có quan hệ mật thiết với diễn ngôn, với việc tổ chức diễn ngôn của người nói/ viết Quá trình nghiên cứu được xuất phát từ những luận điểm và những nguyên lí cơ bản trong truyền thống nghiên cứu ngôn ngữ học, đồng thời hướng tiếp cận vấn đề dựa trên cơ sở những khái niệm và phạm trù của ngôn ngữ học hiện đại như tiêu điểm thông báo, chức năng nhấn mạnh, tính liên kết, quan hệ giữa chức năng và ngữ nghĩa,
Trang 2820
Luận án cũng đã bước đầu hệ thống hoá các cách nhìn nhận đối với vấn
đề đảo ngữ trong tiếng Việt, mặc dù không lấy đảo ngữ tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu chính của đề tài
Luận án góp phần giúp người Việt học tiếng Anh nắm vững và sử dụng có hiệu quả các cấu trúc ĐNTA nhằm đa dạng hoá các cách thức diễn đạt bằng tiếng Anh cho những mục đích giao tiếp nhất định Kết quả đối chiếu
có thể góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập ngữ pháp tiếng Anh cho người Việt Nam
8 Bố cục của luận án
Luận án được trình bày trong ba phần:
1) Mở đầu: Đây là phần giới thiệu luận án
2) Nội dung: Phần này gồm năm chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đảo ngữ tiếng Anh, tiếng Việt và các
cơ sở lí thuyết có liên quan
Chương này trình bày khái quát về ĐNTA và ĐNTV cùng với những vấn đề lí thuyết làm cơ sở nghiên cứu
Chương 2: Quan niệm của luận án về đảo ngữ trong tiếng Anh và
tiếng Việt Chương này trình bày các đặc trưng tiêu biểu nhất của
ĐNTA, ĐNTV và nhận diện đối tượng nghiên cứu
Chương 3: Đảo ngữ với chức năng giới thiệu thực thể trong
diễn ngôn
Chương này phân tích chức năng giới thiệu thực thể trong diễn ngôn của ĐNTA, đồng thời đối chiếu với tiếng Việt
Chương 4: Đảo ngữ với chức năng nhấn mạnh
Chương này phân tích chức năng nhấn mạnh của ĐNTA, đồng thời tiến hành đối chiếu với tiếng Việt
Trang 2921
Chương 5: Đảo ngữ với chức năng liên kết
Chương này phân tích chức năng liên kết của ĐNTA, đồng thời tiến hành đối chiếu với tiếng Việt
3) Kết luận: Phần này nêu ra những đúc kết của luận án về các đặc
trưng của đảo ngữ tiếng Anh trên các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, đồng thời trình bày những nhận xét về tiếng Việt trong việc chuyển dịch các cấu trúc đảo ngữ tiếng Anh, qua đó thấy được các kiểu TĐDT cũng như những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ đối với vấn đề đảo ngữ
Trang 3022
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH, TIẾNG VIỆT
VÀ CÁC CƠ SỞ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN
Trong chương này, chúng tôi trình bày một cái nhìn mang tính khái
quát về đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt, điểm qua tình hình nghiên cứu
đảo ngữ và nêu ra một số cơ sở lí thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu
1.1 Tổng quan về đảo ngữ tiếng Anh
Trong luận án này, nội hàm của “đảo ngữ” (inversion) được hiểu theo
định nghĩa của Green [1982, tr 120], đó là “những cấu trúc câu trần thuật mà
trong đó chủ ngữ theo sau một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của động ngữ”
Trên cơ sở đó, các nhà Anh ngữ học đã phân biệt hai loại đảo ngữ như sau:
Đảo ngữ toàn phần (full inversion) (ĐNTP):
1: 1 At the end of the garden stood a handsome building of the
newest style [161, tr 82-83]
Phía cuối công viên sừng sững một toà nhà đẹp với kiểu dáng hiện đại nhất
1: 2 From some houses standing apart came the sound of grinding
mills and the sweet voices of women singing at their work [161,
tr 80-81]
Từ một vài căn nhà biệt lập vọng ra âm thanh của những chiếc cối xay và giọng hát dịu dàng của những phụ nữ đang làm việc
1: 3 Her face was stony and even stonier was the tone of her voice
[112, tr 1381]
Khuôn mặt của cô ta thật lạnh lùng và còn lạnh lùng hơn nữa là giọng nói của cô ta
Trang 31 Đảo trợ động từ (auxiliary/operator inversion) (ĐTĐT):
1: 5 Never have I seen such a magnificent performance [52, tr 218]
Chưa bao giờ tôi trông thấy một cuộc trình diễn lộng lẫy như vậy
1: 6 In no circumstances would I agree to such a proposal [6, tr 134]
Dù trong bất kì hoàn cảnh nào tôi cũng không đồng ý với một đề nghị như thế
1: 7 So violent was the gale that all the trees were uprooted.[6,
tr.136]
Cơn bão quá sức dữ dội đến nỗi tất cả cây cối đều bị bật gốc
1: 8 Ed passed the exam and so did Mary [74, tr 229]
Ed đã thi đỗ và Mary cũng vậy
1: 9 Ed didn‟t pass the exam and neither/nor did Mary [74, tr 229]
Ed đã không thi đỗ và Mary cũng vậy/cũng không
1.1.1 Đảo ngữ tiếng Anh từ góc nhìn lịch đại
Theo H Dorgeloh [1997, tr 29], trật tự XVS (trong đó X là một thành
tố chiếm vị trí đầu câu nhưng không đóng vai trò chủ ngữ) đã tồn tại qua các giai đoạn phát triển của tiếng Anh Trong kiểu trật tự này, động từ thay vì theo sau chủ ngữ lại đứng sau một thành tố khác xuất hiện ở vị trí đầu câu
Trong thời kỳ của tiếng Anh Cổ (Old English), có một quy tắc gọi là
“Verb-Second Rule”, tức là động từ được đặt ở vị trí thứ hai trong câu, cho dù đứng trước động từ có thể là chủ ngữ hoặc một thành tố khác của câu Đây chính là quy tắc chi phối trật tự từ cơ bản trong các mệnh đề chính của các
Trang 3224
ngôn ngữ Germanic Khi nghiên cứu về lịch sử của đảo ngữ tiếng Anh, Schmidt [1980] (dẫn theo H Dorgeloh 1997, tr 30) đã chỉ ra rằng trong tiếng Anh Cổ (Old English) có sự lựa chọn giữa hai mô hình: SVO hoặc XVS Tuy nhiên, sự lựa chọn này không mang tính ngẫu nhiên Hopper [1979] (dẫn theo
H Dorgeloh 1997, tr 30), cho rằng trong các văn bản tường thuật của tiếng Anh Cổ, trật tự SV gắn liền với phần thông tin nền hay thông tin hậu cảnh (backgrounded material), còn trật tự VS thì gắn với phần thông tin tiền cảnh (foregrounded material) So với trật tự SV, trật tự VS thường được dùng để miêu tả sự khởi đầu của các sự kiện cũng như giới thiệu các sự vật hiện tượng
“đóng một vai trò nào đó trong câu chuyện tường thuật”
Chuyển sang thời kì của tiếng Anh Trung đại (Middle English), xuất hiện một khuynh hướng mạnh mẽ đối với việc sử dụng trật tự SV khi chủ ngữ mang thông tin cũ (given), đặc biệt là chủ ngữ đại từ (pronominal subject); còn đảo ngữ toàn phần (ĐNTP), tức trật tự VS thì được dùng để giới thiệu chủ đề (topic introduction), và đảo trợ động từ (ĐTĐT) được sử dụng để làm nổi bật yếu tố được đảo lên vị trí đầu câu (the preposed constituent)
Kể từ đây bắt đầu quá trình ngữ pháp hoá dần dần trật tự SVO Kèm
theo đó là việc sử dụng trợ động từ do để hỗ trợ cho động từ trong mô hình SdoV Theo Schmidt [1980], cũng trong thời kì tiếng Anh Trung đại, các trường hợp đảo ngữ với trợ động từ do dường như được dùng để nhấn mạnh
vào động từ hơn là nhấn mạnh vào một yếu tố được đảo lên vị trí đầu câu (the
preposed constituent) Tuy nhiên, chức năng này của do đối với hiện tượng
ĐTĐT cũng dần dần thay đổi một cách rõ rệt: sự nhấn mạnh được chuyển từ yếu tố động từ sang yếu tố đứng ở vị trí đầu câu
Vào đầu thời kì tiếng Anh hiện đại (Early Modern English), trật tự
SdoV đã trở thành phương tiện nhấn mạnh vào động ngữ (verb phrase), trong khi đó trật tự XdoVS lại xuất hiện trong những ngữ cảnh có liên quan đến sự
Trang 3325
tăng cấp hay cường điệu (intensity) [Stein 1990] (dẫn theo H Dorgeloh 1997,
tr 33), trong đó yếu tố đầu câu được nhấn mạnh
Ngày nay, tiếng Anh hiện đại tuân theo quy tắc “Verb-Third Rule”, với trật tự cơ bản là SVX hay SVO [Denison 1993] (dẫn theo H Dorgeloh 1997,
tr 29) Tuy nhiên, chính Denison lại thừa nhận rằng tên gọi “Verb-Third Rule” quả là “một sự chọn lựa khá bất hạnh” (a somewhat unhappy choice of label) đối với trường hợp “động từ theo sau chủ ngữ bất luận có hoặc không
có bất kì một yếu tố nào xuất hiện ở vị trí trước chủ ngữ” Như vậy, trật tự SVX trong tiếng Anh hiện đại là kết quả của cả một quá trình ngữ pháp hoá (grammaticalization) những trường hợp chủ ngữ đứng trước động từ theo quy tắc “Verb-Second Rule” trong tiếng Anh Cổ Những trường hợp còn lại của quy tắc “Verb-Second Rule” có mô hình khái quát nhất là XVS, trong đó chủ ngữ S đứng sau động từ nội động V, còn yếu tố X đứng ở vị trí đầu câu có đặc trưng là một yếu tố định vị: X có thể là một yếu tố chỉ không gian, thời gian, chỉ phương hướng hoặc chỉ sự định vị trừu tượng Đây chính là hiện tượng ĐNTP Riêng đối với hiện tượng ĐTĐT thì mô hình khái quát nhất của
nó trong tiếng Anh hiện đại là XOpSV, với Op (Operator) là trợ động từ thứ nhất (the first auxiliary), X là một yếu tố đứng ở vị trí đầu câu mà theo sau nó bắt buộc phải là trợ động từ thứ nhất (Operator), rồi mới đến chủ ngữ So với ĐNTP, hiện tượng ĐTĐT có mức độ ngữ pháp hoá cao hơn, bởi vì yếu tố X được giới hạn trong một phạm vi hẹp, chủ yếu là một yếu tố phủ định, một dạng thế hoặc một liên từ trong một số cặp liên từ nhất định
Theo những dữ liệu của Stockwell, trước cuối thời kì tiếng Anh Trung đại, chưa có sự ra đời của những cấu trúc đảo ngữ có yếu tố đứng đầu câu là một động ngữ hoặc một tính ngữ, chẳng hạn như những cấu trúc của các câu
“Addressing the demonstration was a quite elderly woman” và “Equally inexplicable was his behaviour to close friends” H Dorgeloh [1997, tr 34]
Trang 3426
gọi đây là các trường hợp đảo ngữ “cách tân” (innovations) Chúng không phải là kết quả của một quá trình ngữ pháp hoá mà sự hiện diện của chúng được quy định bởi bản chất cân bằng (equational nature) của cấu trúc
Như vậy, nhìn từ khía cạnh lịch đại, hiện tượng ĐNTA gắn liền với lịch
sử phát triển của ngôn ngữ này Những cấu trúc đảo ngữ là sự hiện thực hoá những “dấu vết còn lại” (remnants) của quy tắc “Verb-Second Rule” trong tiếng Anh Cổ Bên cạnh đó, việc di chuyển các thành tố trong câu còn nhằm mục đích tạo ra tính hài hoà, cân đối cho cấu trúc
1.1.2 Tình hình nghiên cứu đảo ngữ tiếng Anh
Theo những tài liệu mà chúng tôi thu thập được, hai tác giả Hans H Hartvigson và Leif Kvistgaard Jakcobsen [1974] đại diện cho những người đi tiên phong có công trình chuyên khảo về đảo ngữ trong tiếng Anh hiện đại Tuy nhiên, cuốn sách có độ dày 93 trang của hai ông với nhan đề “Inversion
in Present-Day English” hầu như chỉ liệt kê các trường hợp ĐNTA, thiên về trình bày cấu tạo hình thức mà ít chú trọng đến mặt ngữ nghĩa của đảo ngữ
Trong những thập niên 1980 và 1990, một số nhà nghiên cứu đã tỏ ra quan tâm hơn đến phương diện ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ, trong nỗ lực tìm kiếm cơ chế (mechanism) hoặc động cơ (motivation) chi phối hiện tượng này Chúng tôi đã tìm thấy một số kiến giải khác nhau về ĐNTA trong các bài báo của các tác giả John Penhallurick [1984 & 1987], Ekkehard Konig [1988], Hans Bernhard Drubig [1988], Betty Birner [1994 & 1995] và gần
đây nhất là cuốn sách “Inversion in Modern English: Form and Function” của
Heidrun Dorgeloh [1997] Các công trình có quy mô lớn về ngữ pháp tiếng Anh cũng đã đề cập đến đảo ngữ như là một biến thể trật tự từ, điển hình là:
“A Grammar of Contemporary English” [1972], “A Comprehensive Grammar
of the English Language” [1985] của R Quirk và các đồng sự, “A University Course in English Grammar” [1995] của Angela Downing và
Trang 3527
Philip Locke; “Longman Grammar of Spoken and Written English” [1999]
do Douglas Biber chủ biên và mới đây nhất là cuốn sách “The Cambridge Grammar of the English Language” [2002] do Rodney Huddleston chủ biên với sự cộng tác của nhiều chuyên gia về ngôn ngữ học hiện đại Nhìn chung, các công trình này đều thể hiện những điểm tương đồng trong việc miêu tả mặt cấu tạo hình thức của hiện tượng đảo ngữ; mặc dù trên bình diện nội dung, các ý kiến còn khá tản mạn và đi theo những hướng khác nhau Tuy vậy, hầu hết các tác giả đều trực tiếp hay gián tiếp khẳng định rằng hiện tượng ĐNTA không làm thay đổi chức năng cú pháp cũng như vai nghĩa của các thành phần trong câu, do đó sẽ không thoả đáng nếu nghiên cứu đảo ngữ như
là một hiện tượng thuần túy mang tính cú pháp mà phải xem xét hiện tượng này trong sự tác động qua lại khá phức tạp (a complex interplay) của nhiều nhân tố thuộc về diễn ngôn, dụng học và cả những nhân tố liên quan đến nhận thức (cognitive)
Như đã nói, các tác giả đều khá nhất trí khi cho rằng, căn cứ vào vị trí của chủ ngữ so với động từ hoặc trợ động từ trong câu, ĐNTA được phân thành hai loại: đảo ngữ toàn phần (ĐNTP) và đảo trợ động từ (ĐTĐT), với những khác biệt về mặt hình thức và ngữ nghĩa
ĐNTP được hiện thực hoá trong những cấu trúc có 3 yếu tố theo trình
tự yếu tố đầu câu + động từ + chủ ngữ ngữ pháp, với những đặc điểm như sau:
♦ Yếu tố đầu câu thường là một trạng ngữ chỉ không gian hoặc thời gian
Ngoài ra, nó có thể là một bổ túc ngữ (Complement) hoặc một vị ngữ không ngôi (Non-finite Predication) Trong nhiều trường hợp, yếu tố đầu câu tạo nên sự liên kết giữa câu đảo ngữ với phần văn bản trước đó
♦ Động từ trong câu ĐNTP là động từ to be hoặc một động từ nội động
(intransitive verb), thường gặp là những động từ chỉ sự tồn tại hay xuất
Trang 3628
hiện của một thực thể trong một bối cảnh Động từ này có thể ở dạng đơn (single form) hoặc dạng phức (complex form) Ví dụ:
1: 10 Alan walked along Elmdale Avenue and found number sixteen
without difficulty Outside the house was a furniture van [123,
tr 108]
Alan đi dọc theo Đại lộ Elmdale và dễ dàng tìm ra số nhà mười sáu Bên ngoài căn nhà là một chiếc xe tải chở vật dụng
1: 11 Best of all would be to get a job in Wellingham [56, tr 914]
Tốt hơn cả là đi tìm một việc làm ở Wellingham
1: 12 Among the sports will be athletics, badminton, basketball [56,
tr 914]
Trong số các môn thi đấu sẽ có điền kinh, cầu lông, bóng rổ
1: 13 On a hill in front of them stood a great castle [113, tr 281]
Trên quả đồi trước mặt họ sừng sững một toà lâu đài tráng lệ
1: 14 On the stairs was sitting a small dark-haired girl [113, tr 277]
Ngồi trên cầu thang là một cô gái người nhỏ nhắn, tóc đen
♦ Chủ ngữ trong câu ĐNTP bao giờ cũng là một danh ngữ, không thể là một
đại từ Chủ ngữ trong câu ĐNTP thường gặp là một danh ngữ có độ dài vật chất hay cấu tạo hình thức khá phức tạp Danh ngữ này thường giới thiệu thông tin mới và có thể là chủ đề (topic) của câu tiếp theo sau Đại từ thường mang tính xác định (về ngữ pháp và nghĩa) và tính đã biết (về thông báo); do đó, đại từ không thể giữ chức năng của chủ ngữ trong câu ĐNTP
Khác với ĐNTP, hiện tượng ĐTĐT có những đặc điểm như sau:
♦ Phạm vi của các động từ tham gia vào câu ĐTĐT không hạn chế như đối
với ĐNTP: đó có thể là động từ to be, hoặc bất kì một động từ nào khác
♦ So với ĐNTP, những yếu tố mở đầu câu ĐTĐT bị giới hạn trong phạm vi
Trang 3729
hẹp hơn
♦ Hầu hết các cấu trúc ĐTĐT đều mang tính ngữ pháp hoá ở một mức độ cao, thể hiện qua tính bắt buộc (obligatory) của chúng trong những điều kiện nhất định
♦ Đảo trợ động từ mang tính bắt buộc khi đứng đầu câu là một yếu tố phủ
Do vậy, hiện tƣợng đảo ngữ không xảy ra trong những câu chỉ có một thành tố cấu trúc bị phủ định, nhƣ trong các ví dụ sau:
1: 15 No doubt he will issue his instructions [56, tr 916]
Chắc chắn ông ta sẽ đưa ra những chỉ thị
1: 16 Not surprisingly, most studies have concerned themselves with
ill effect, notably that of emotional stress [56, tr 916]
Thảo nào mà hầu hết các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến tác động tiêu cực, nhất là ảnh hưởng của chứng trầm cảm
1: 17 Not many years ago, it seemed that almost all readability
research, and almost all research in linguistics confined itself to
the analysis of units no larger than a sentence [56, tr 916]
Cách đây không lâu, hầu hết tất cả các công trình nghiên cứu
có giá trị, cũng như hầu hết các nghiên cứu về ngôn ngữ học dường như đều giới hạn trong phạm vi phân tích các đơn vị không lớn hơn câu
Trang 3830
1.1.2.1 Một số kiến giải tiêu biểu về đảo ngữ toàn phần
i Nhóm tác giả H H Hartvigson và L K Jakcobsen
Hans H Hartvigson và Leif Kvistgaard Jakcobsen [1974] đặt mục tiêu
đi tìm cơ chế tạo ra (provoke) ĐNTP Theo hai tác giả này, có hai yếu tố tham gia vào quá trình đảo ngữ: thứ nhất là độ phức tạp về mặt cú pháp, số lượng
âm tiết hay cấu tạo hình thức của một yếu tố, tức “formal weight”; thứ hai là
“nội dung thông báo” (information content) hay “giá trị thông tin” (news value) của các yếu tố, còn gọi là “notional weight” Khái niệm “notional weight” được các tác giả miêu tả dựa theo lí thuyết phối cảnh chức năng câu (Functional Sentence Perspective) với quan niệm của J Firbas Theo lí thuyết này, mỗi một yếu tố trong câu đều mang một mức tỉ lực thông báo (communicative dynamism) nhất định Tỉ lực thông báo là “phần đóng góp của mỗi yếu tố của câu vào sự phát triển của thông báo, phần „thúc đẩy sự giao tế tiến lên‟” [J Firbas 1964, tr 270] (dẫn theo Hartvigson và Jakcobsen
1974, tr 49) Những yếu tố có mức tỉ lực thông báo thấp làm thành phần đề của câu, những yếu tố có mức tỉ lực thông báo cao làm thành phần thuyết của câu Sự phân bố cơ bản của tỉ lực thông báo được tạo ra bởi “khả năng của các vị trí trong câu thể hiện sự tăng dần mức tỉ lực thông báo theo hướng từ đầu câu đến cuối câu” [J Firbas 1964, tr 270] Theo Hartvigson và Jakcobsen [1974, tr 12], hai yếu tố “formal weight” và “notional weight” thường hay kết hợp với nhau trong hầu hết các trường hợp của ĐNTP tiếng Anh Do đó hiện tượng ĐNTP có thể được lí giải như sau: chủ ngữ được di chuyển xuống vị trí cuối câu vì nó có độ dài vật chất phức tạp và mức tỉ lực thông báo lớn; trong khi đó một yếu tố khác lại được đảo lên vị trí đầu câu do có mức tỉ lực thông báo thấp và yếu tố này chính là “cái đã biết” đối với người nghe/người đọc (known to the reader/hearer)
Có thể nói rằng cách lí giải của H H Hartvigson và L K Jakcobsen về
Trang 3931
cơ chế của ĐNTP vẫn chưa thật sự chặt chẽ và đủ sức thuyết phục Đó là vì hai lí do sau đây:
* Thứ nhất, như B Birner [1994, tr 238] đã chỉ ra, có những trường hợp chủ ngữ có độ dài vật chất phức tạp nhưng vẫn đứng đầu câu chứ không
bị đảo xuống vị trí cuối câu Ví dụ:
1: 18 In the grass little jeweled lizards darted [57, tr 238]
Trên bãi cỏ, những con thằn lằn màu ngọc đang nhảy nhót
1: 19 The largest betting-shop in London belongs to my father [108,
tr 34]
Văn phòng đánh cá ngựa lớn nhất London thuộc sở hữu bố tôi
* Thứ hai, có những câu đảo ngữ mà yếu tố đầu câu không phải là “cái đã biết” đối với người nghe/người đọc Ví dụ:
1: 20 I had lunch at Ritzy‟s yesterday, and you wouldn‟t believe who
was there Behind a cluster of microphones was Hilary Clinton,
holding another press conference [97, tr.1387]
Hôm qua tôi ăn trưa ở nhà hàng Ritzy, và anh có tin là tôi đã gặp ai không Đằng sau một số mi-crô chụm lại với nhau là Hilary Clinton, lại đang chủ trì một cuộc họp báo nữa
Chính H H Hartvigson và L K Jakcobsen [1974, tr 51] cũng đã thừa nhận rằng kiến giải của hai ông về ĐNTP dựa trên “formal weight” và
“notional weight” cũng chỉ phản ánh một khuynh hướng khá phổ biến trong tiếng Anh, chứ không phải là một nguyên tắc áp dụng cho mọi trường hợp
ii John Penhallurick
Trong bài báo “Full-Verb Inversion in English” [1984, tr 40-43], John Penhallurick cho rằng ĐNTP là một hiện tượng có cơ sở trong diễn ngôn (a discourse-based phenomenon) và động cơ chủ yếu của nó là nhằm giới thiệu
Trang 4032
thông tin mới vào trong diễn ngôn Chính vì vậy mà chủ ngữ xuất hiện ở vị trí sau động từ và chủ ngữ phải mang thông tin mới, tức là thông tin mà người nói cho là không có trong ý thức của người nghe vào thời điểm của phát ngôn
Để phù hợp với chức năng giới thiệu một thực thể vào trong diễn ngôn, yếu tố động từ cũng như các yếu tố đứng đầu trong cấu trúc ĐNTP phải mang một
số những đặc điểm nhất định Mở đầu câu đảo ngữ thường là các trạng ngữ chỉ vị trí hay phương hướng, còn động từ của câu thì chủ yếu là động từ chỉ
sự tồn tại hay sự xuất hiện trong một bối cảnh Do đó không phải bất kì một động từ nội động nào cũng có thể tham gia vào ĐNTP, chẳng hạn không thể
chấp nhận động từ laugh trong một trường hợp như * “In a corner laughed
Harry ”
Penhallurick đã nêu ra một nhận xét rất xác đáng rằng việc đặt thông tin cũ trước thông tin mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lí thông tin của người nghe/người đọc Tuy nhiên ông đã không hoàn toàn đúng khi khẳng định rằng “chủ ngữ không thể được dời về cuối câu (backed) trừ phi nó biểu thị thông tin mới” B J Birner [1994, tr 241] đã dẫn ra một phản ví dụ, cho thấy chủ ngữ không mang thông tin mới nhưng hiện tượng đảo vẫn xảy ra: 1: 21 Yes, this is no ordinary general election
„Evan is a Democrat; Daley is a Democrat Different Democrats have different points of view about the City of Chicago and its
politics,‟ Jackson noted „The war between forces within the
party continues, and within our coalition.‟
Standing in the middle of it all is Jesse Jackson [57, tr 241]
Vâng, đây không phải là một cuộc tổng tuyển cử bình thường
“Evan là thành viên của Đảng dân chủ; Daley cũng là thành
viên của Đảng dân chủ Những người dân chủ khác nhau có những quan điểm khác nhau về thành phố Chicago và tình hình