Nhận thấy sự ảnh hưởng và tầm quan trọng to lớn của tên đề truyện ngắn đối với quá trình triển khai ngôn ngữ trong toàn bộ tác phẩm; đồng thời mong muốn tìm hiểu một cách cụ thể về tên đ
Trang 1Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học Khoa Học Xã Hội và nhân văn
luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Chuyên Ngành : ngôn ngữ học
Hà nội, 2009
Trang 2Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học Khoa Học Xã Hội và nhân văn
Trang 3KÍ HIỆU VIẾT TẮT
- DN : diễn ngôn
- PTDN : phân tích diễn ngôn
- TĐ : tên đề
Trang 4MỤC LỤC
Ký hiệu viết tắt 3
Mục lục 4
Mở đầu 6
Chương 1 Những vấn đề lý thuyết cơ bản 11
1.1 Về vấn đề phân tích diễn ngôn 11
1.1.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 11
1.1.2 Những đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn 12
1.1.3 Phương pháp và đường hướng phân tích diễn ngôn 15
1.2 Một số vấn đề phong cách học liên quan đến đề tài 18
1.2.1 Phong cách học và vấn đề giao tiếp ngôn ngữ 18
1.2.2 Phong cách nghệ thuật 19
1.3 Truyện ngắn và tên đề truyện ngắn 24
1.3.1 Một vài vấn đề về truyện ngắn và truyện ngắn hiện đại 24
1.3.2 Tên đề truyện ngắn với tư cách là một bộ phận của diễn ngôn văn bản nghệ thuật 28
Chương 2 Đặc điểm cấu tạo tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại 31
2.1 Phân tích tên đề ở bình diện hình thức 31
2.1.1 Một số mô tả hình thức 32
2.1.2 Mô tả cấu trúc ngữ pháp của tên đề 34
2.1.3 Những phương tiện tình thái của tên đề 38
2.1.4 Nhận xét 40
2.2 Phân tích tên đề ở bình diện nội dung 42
2.2.1 Mạch lạc 42
2.2.2 Mạch lạc của tên đề trong quan hệ với toàn bộ tác phẩm 43 2.3 Vai trò của tên đề đối với việc triển khai phần nội dung
Trang 5của một văn bản nghệ thuật 56
2.3.1 Tên đề với tư cách là yếu tố tích cực trong quá trình triển khai nội dung tác phẩm 56
2.3.2 Sự hạn chế của tên đề đối với việc triển khai nội dung tác phẩm 59
Chương 3 Quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa của tên đề và nội dung của truyện trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại 63
3.1 Quan hệ giữa tên đề tác phẩm và nội dung khái quát của tác phẩm 63
3.1.1 Tên đề với việc phản ánh số phận con người 64
3.1.2 Tên đề có ý nghĩa định hướng cho chủ đề tác phẩm 69
3.1.3 Tên đề định hướng về không gian xảy ra sự kiện 77
3.2 Quan hệ giữa tên đề và tên nhân vật 79
3.2.1 Tên tác phẩm trùng với tên nhân vật 80
3.2.2 Tên nhân vật + thành phần mở rộng 82
3.3 Quan hệ giữa tên đề và hình tượng tác phẩm 94
3.3.1 Hình tượng thể hiện ở việc sử dụng hình ảnh có tính chất biểu trưng 95
3.3.2 Hình tượng thể hiện ở việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ 99 3.3.3 Kết hợp bất thường 104
Kết luận 107
Tài liệu tham khảo 110
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói, văn học nghệ thuật nói chung và truyện ngắn nói riêng là những món ăn tinh thần không thể thiếu được của con người Vai trò to lớn của nó đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ sáu như sau: "Không có một hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học nghệ thuật trong việc xây dựng những tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào nếp nghĩ, nếp sống của con người"
Đặc trưng tiêu biểu của một tác phẩm văn học chính là lấy ngôn ngữ làm chất liệu, làm phương tiện biểu hiện của mình Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi chính ngôn ngữ đã cụ thể hoá và vật chất hoá sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách và cốt truyện Ngôn ngữ
là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm, nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm Xét trên phương diện sáng tạo nghệ thuật, có thể nói, ngôn ngữ
là yếu tố đầu tiên của văn học, - cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - là chất liệu của văn học
Tên đề truyện ngắn với tư cách là một bộ phận quan trọng cấu thành tác phẩm, là một bộ phận hữu cơ, được xem như nhãn mác hay hình ảnh thu nhỏ của một tác phẩm nghệ thuật, cũng không nằm ngoài đặc điểm trên Tên đề không chỉ là một đơn vị diễn ngôn của cấu trúc, ngữ nghĩa ngôn từ mà đó còn
là một đơn vị ngôn ngữ thể hiện năng lực sáng tạo của người viết Tên đề truyện ngắn cũng chính là công cụ đắc lực thể hiện định hướng, tư tưởng của nhà văn đối với điều mình phản ánh Vì vậy, tên đề ngoài chức năng ngôn ngữ còn thể hiện rõ nét phong cách tác giả Tất cả đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cả về hình thức lẫn ngữ nghĩa của tên đề truyện ngắn
Trang 7Trong thời gian qua, tên đề nói chung đã được nghiên cứu, phân tích từ
phương diện đơn vị ngôn ngữ: Nhờ đâu những tiêu đề bài viết có sức hấp dẫn của Hồ Lê (đăng trên tạp chí Ngôn ngữ S.P số 1 năm 1982); Cách ngắt dòng
trong việc trình bày đầu đề ở các văn bản của Nguyễn Thị Tuyết Ngân (đăng
trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống năm 1982); Tiêu đề văn bản tiếng Việt
(NXB Giáo dục năm 2002) của Trịnh Sâm; Nhưng ở bình diện đơn vị diễn ngôn nghệ thuật, tên đề truyện ngắn hầu như chưa được nghiên cứu một cách chi tiết và đầy đủ
Nhận thấy sự ảnh hưởng và tầm quan trọng to lớn của tên đề truyện ngắn đối với quá trình triển khai ngôn ngữ trong toàn bộ tác phẩm; đồng thời mong muốn tìm hiểu một cách cụ thể về tên đề truyện ngắn là lí do để chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này
2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Giải quyết tốt vấn đề mà đề tài đề cập sẽ có ý nghĩa vô cùng to lớn cả
về mặt lí luận và thực tiễn
Trước hết, về mặt lí luận, thành công của luận văn sẽ góp một phần không nhỏ vào quá trình nghiên cứu tên đề truyện ngắn nói riêng và tên đề của văn bản nói chung theo phương pháp phân tích diễn ngôn Điều đó cũng
có nghĩa là đề tài đã bước đầu mở rộng phạm vi nghiên cứu của phân tích diễn ngôn
Về mặt thực tiễn, với tư liệu khảo sát là truyện ngắn đầu tay qua các thời kì, của rất nhiều thế hệ các nhà văn, luận văn mong muốn chỉ ra được sự phong phú, đa dạng về phong cách trong quá trình tạo lập tên đề tác phẩm Điều này sẽ có tác dụng to lớn đối với những người muốn bước vào nghề cầm bút Không chỉ vậy, việc hiểu rõ một số đặc điểm của tên đề sẽ giúp người đọc có hướng tiếp cận đúng để có thể dễ dàng hơn trong việc cảm thụ một tác phẩm nghệ thuật
Trang 83 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chúng tôi lấy các diễn ngôn là tên đề của các truyện ngắn làm đối tượng nghiên cứu Cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại Tư liệu được chúng tôi thu thập và khảo sát gồm 200 tên đề truyện ngắn của 4 tập "Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam" Trong đó, tập 1 có tổng số 52 tác phẩm và tập 2 có tổng số 53 tác phẩm, được xuất bản năm 2000, với tên gọi chung là "Tuyển chọn truyện ngắn đầu tay các nhà văn Việt Nam"; tập 3 có tổng số 44 tác phẩm và tập 4 có tổng số 51 tác phẩm, được xuất bản năm
2004, có tên gọi chung là "Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam"
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đặt ra hai nhiệm vụ chính cho việc nghiên cứu của luận văn là:
- Về mặt cấu tạo, chúng tôi tập trung vào hai vấn đề là miêu tả đặc điểm hình thức và nội dung của tên đề truyện ngắn Từ những miêu tả cụ thể
đó, chúng tôi bước đầu đánh giá vai trò của cấu trúc tên đề đối với việc khai triển phần nội dung của một văn bản nghệ thuật
- Về ngữ nghĩa, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích mối quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa của tên đề và nội dung của truyện ngắn với ba mối quan hệ chính là: quan hệ giữa tên đề tác phẩm và nội dung khái quát của tác phẩm, quan hệ giữa tên đề tác phẩm và tên nhân vật, quan hệ giữa tên đề tác phẩm và hình tượng tác phẩm
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích diễn ngôn
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Trang 9- Phương pháp thống kê
- Phương pháp miêu tả
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của luận văn được chia làm ba chương, phân bố cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết cơ bản
1.1 Về vấn đề phân tích diễn ngôn
1.2 Một số vấn đề phong cách học liên quan đến đề tài
1.3 Truyện ngắn và tên đề truyện ngắn
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu
tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại
2.1 Phân tích tên đề ở bình diện hình thức
2.2 Phân tích tên đề ở bình diện nội dung
2.3 Vai trò của cấu trúc tên đề đối với việc triển khai phần nội dung
của một văn bản nghệ thuật
Chương 3: Quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa của tên đề và nội dung
của truyện trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại
3.1 Quan hệ giữa tên đề tác phẩm và nội dung khái quát của tác phẩm
3.2 Quan hệ giữa tên đề và tên nhân vật
3.3 Quan hệ giữa tên đề và hình tượng tác phẩm
Trang 10Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ BẢN
1.1 VỀ VẤN ĐỀ PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN
1.1.1 Diễn ngôn (DN) và phân tích diễn ngôn (PTDN)
Trải qua một quá trình phát triển rất mạnh mẽ trong khoảng năm mươi năm gần đây, những vấn đề về diễn ngôn (discourse) và phân tích diễn ngôn (discourse analysis) đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới và trong nước đề cập tới dưới những tên gọi khác nhau, phản ánh những nhận thức, quan tâm và những xu hướng khác nhau Chúng ta có thể tiếp cận một số ý kiến như sau:
Theo Crystal (1992), DN có thể xem như "một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lí lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay chuyện kể" [dẫn theo Nguyễn Hoà, 19, tr32]
Cùng đề cập tới vấn đề này, Cook (1989) đã coi DN như là "các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích" [dẫn theo Nguyễn Hoà, 19, tr33]
David Nunan cho rằng DN "như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan theo một cách nào đó" Và PTDN chính là "nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng" [27, tr183]
Riêng về PTDN, cụ thể hơn, George Yule cho rằng "khi hạn chế trong các vấn đề về ngôn ngữ, PTDN tập trung vào cái được ghi lại (nói hoặc viết) của quá trình theo đó ngôn ngữ được dùng trong một số ngữ cảnh để diễn đạt
ý định" [35, tr158] Ở một công trình nghiên cứu cùng Gillian Brown, Yule khẳng định "PTDN nhất thiết phải phân tích ngôn ngữ đang được sử dụng Như thế nó không thể bị giới hạn trong việc chỉ miêu tả các hình thức ngôn ngữ với mục đích hay chức năng mà các hình thức này được tạo ra để phục vụ các quan hệ giữa người với nhau" [5, tr15]
Trang 11Một trong số những nhà nghiên cứu trong nước, Diệp Quang Ban, khi
đề cập tới vấn đề PTDN đã cho rằng khi phân tích các sản phẩm ngôn ngữ (ở
cả dạng nói và viết) "với sự phân tích mặt sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể của chúng (có tính cả cái được nói tới, cả hoàn cảnh, cả người dùng, cả ngôn ngữ) thì gọi là PTDN" [4, tr33]
Nguyễn Hoà cho rằng DN là "sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể" [19, tr34] Trong đó, sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh được xây dựng dựa trên tính chủ đề và mạch lạc của DN Không chỉ vậy, trong quá trình giao tiếp, ngoài ngôn ngữ, cần chú ý tới các yếu tố phi ngôn ngữ tác động đến sự kiện giao tiếp như các yếu tố hoàn cảnh tình huống hay điều kiện diễn ra DN, kiến thức nền, yếu tố văn hoá Đó chính là hoàn cảnh giao tiếp cụ thể của sự kiện Từ đó, PTDN được hiểu là nghiên cứu mạch lạc, các hành động nói, sử dụng kiến thức nền trong quá tạo lập và hiểu
DN, cách thức xử lí từ trên xuống, từ dưới lên, tương tác hay thương lượng nghĩa
Những trình bày của chúng tôi ở trên đã phần nào thể hiện được tính chất phức tạp của vấn đề Đã có rất nhiều xu hướng khác nhau song cho đến nay các nhà nghiên cứu đã đi đến sự thống nhất nhất định về khái niệm DN và PTDN
Trong luận văn này, để đáp ứng mục đích đề ra, theo chúng tôi, quan niệm của Nguyễn Hoà về DN và PTDN là rất phù hợp với nội dung nghiên cứu về tên đề truyện ngắn
1.1.2 Những đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn
1.1.2.1 Những đặc tính của diễn ngôn
Những đặc tính cơ bản của DN bao gồm: tính giao tiếp và tính kí hiệu, mạch lạc, và tính quan yếu
Tính giao tiếp và tính kí hiệu
Trang 12Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt được dùng làm phương tiện giao tiếp Với tư cách là một đơn vị giao tiếp ở bậc lớn hơn câu, DN tất yếu phải có tính giao tiếp và tính kí hiệu
Nếu như nói chức năng của ngôn ngữ là giao tiếp thì ở cấp độ DN, điều
đó mới được chứng minh một cách thuyết phục nhất Điều đặc biệt ở đây là chức năng giao tiếp của DN không còn dừng lại ở việc dựa trên cơ sở ý nghĩa của các kí hiệu mà còn liên quan đến ý định của người nói, hay mối quan hệ giữa người sử dụng và kí hiệu Như vậy, khía cạnh giao tiếp của DN với tư cách là một loại kí hiệu ngôn ngữ sẽ bao gồm hai mặt là ngữ nghĩa và ngữ dụng
Ngữ nghĩa có thể hiểu là nội dung biểu hiện hay nội dung mệnh đề, là ý nghĩa sự việc hay nội dung của sự kiện đã xảy ra, thể hiện qua các tham thể và mối quan hệ giữa các tham thể Nội dung mệnh đề thay đổi khi có sự thay đổi của một trong các yếu tố này
Dụng học, như đã nói ở trên, là ý nghĩa rút ra từ ý định của người nói Dụng học đặc biệt quan tâm đến lực ngôn trung của diễn ngôn Và với những
DN chứa nhiều câu thì dụng ngôn của nó sẽ là ý nghĩa ngữ dụng khái quát của toàn DN chứ không phải là dụng ngôn đơn lẻ của từng phát ngôn
Tính giao tiếp và kí hiệu của DN cũng đồng thời tham gia vào hai loại quan hệ chủ yếu trong ngôn ngữ là quan hệ cú đoạn và quan hệ hệ hình Sự hiện diện của hai loại quan hệ này chính là quá trình phản ánh khả năng kết hợp và lựa chọn DN tuỳ theo tình huống giao tiếp, chủ đề giao tiếp
Như vậy, có thể khẳng định rằng, với tính giao tiếp và tính kí hiệu của
DN, ngôn ngữ đã không còn là một hệ thống kí hiệu võ đoán mà là "một hệ thống tín hiệu giao tiếp có cơ sở" [19, tr50]
Trang 13Nunan [27], mạch lạc là tầm rộng mà ở đó DN đựoc tiếp nhận như là có "mắc vào nhau" chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan với nhau
Mạch lạc không phải là các phương tiện liên kết hay nội dung của văn bản mà chính các phương tiện liên kết là một phương thức thể hiện mạch lạc
Về mặt hình thức, các phương tiện liên kết trong một DN hay một văn bản sẽ cho ta cảm nhận trực quan về sự liên kết nhất định ở DN đó Song thực tế, có những văn bản không thể hiện tính liên kết nhưng vẫn là văn bản do có mạch lạc Điều đó có nghĩa là mạch lạc còn được tạo ra bởi cấu trúc, hay cách thức
tổ chức các yếu tố quan yếu của DN nhằm thể hiện những ý tứ tạo thành mục đích nói Cách tổ chức đã làm cho các bộ phận hợp thành một thể thống nhất, hợp lí mạch lạc góp phần thể hiện chủ đề và đặc biệt là mang tính chủ quan của người viết
Những điều đã phân tích ở trên đã phần nào khẳng định mạch lạc là một trong những vấn đề quan trọng của DN Bởi vì, chính mạch lạc là "cái quyết định để một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn hay một văn bản"
Tính quan yếu
Tính quan yếu, được hiện thực hoá bởi các yếu tố quan yếu, có thể hiểu
là sự phù hợp về nội dung của các đóng góp trong quá trình giao tiếp Các đóng góp ở đây chính là các yếu tố quan yếu phát triển nội dung của chủ đề
Xuất phát từ bản chất của tính giao tiếp gồm nội dung mệnh đề/biểu hiện và nội dung dụng học, các yếu tố quan yếu vì thế cũng đồng thời thực hiện hai chức năng là biểu hiện một sự thể gồm các tham thể, quá trình, và mối quan hệ giữa các tham thể cũng như ý nghĩa dụng học kèm theo Bên cạnh đó, tính chất quan yếu còn bị quy định bởi các yếu tố văn hoá và những thông tin ngữ cảnh
Về cấu trúc, khi các yếu tố quan yếu thường xuyên xuất hiện cùng nhau
sẽ tạo nên cấu trúc quan yếu Cấu trúc này có vai trò tích cực trong việc tạo
Trang 14nên mạch lạc cho DN vì mạch lạc là sự hiện thực hoá của liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành động nói và tính quan yếu Trong mối quan hệ qua lại phức tạp của các biến trên, các yếu tố quan yếu được tổ chức theo một cách thức nhất định nhằm duy trì và triển khai đề tài theo những mối quan hệ nghĩa
- lôgic Và kết hợp đó phải thể hiện khả năng tương thích về hành động nói
1.1.2.2 Phân loại diễn ngôn
Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người Trong khi đó tình huống giao tiếp là không giới hạn, vì thế sẽ có vô vàn các dạng
DN được sử dụng cho phù hợp với những tình huống giao tiếp đó Để phân loại DN một cách tuyệt đối là điều khó có thể thực hiện được
Cho đến nay đã có rất nhiều cách phân loại khác nhau nhưng cũng giao nhau trên nhiều phương diện Chủ yếu gồm một số hướng phân loại sau: dựa trên trường DN (sẽ có các loại DN về giáo dục, tôn giáo hay khoa học); dựa vào sự phân biệt giữa phương thức biểu đạt nói - viết hay chức năng; dựa vào cấu trúc của DN
Theo Halliday, cách phân loại DN dựa trên các tham tố trường DN, tính chất DN, hay cách thức DN có thể xem là hiệu quả và đáng tin cậy Trong đó, trường DN bao gồm các chủ đề được đề cập đến và cũng thể hiện phần nội dung mệnh đề của mục đích giao tiếp Tính chất DN thể hiện mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia bao gồm cả ý nghĩa dụng học Cách thức DN là phương tiện ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết Từ các tham tố trên, các DN sẽ được phân thành các ngữ vực, tiếp đó là các thể loại cụ thể Chẳng hạn ngữ vực báo chí có các thể loại tin, bài bình luận, tin vắn, phóng sự điều tra ; ngữ vực khoa học gồm các tiểu ngữ vực như pháp lí, ngoại giao, thương mại tiếp
đó là các thể loại cụ thể như hợp đồng, biên bản, tờ trình, quyết định ; ngữ vực hội thoại thường ngày gồm các thể loại như hội thoại, chào hỏi, cuộc tranh luận
1.1.3 Phương pháp và đường hướng phân tích diễn ngôn
Trang 15Theo George Yule [35], PTDN là phân tích cấu trúc của DN và dụng học Về cấu trúc, cần tập trung tới cái tạo nên một văn bản có hình thức tốt, các đề tài với tư cách là những nối kết tường minh giữa các câu trong một văn bản tạo nên sự liên kết, hay các yếu tố tổ chức văn bản Về dụng học, nghiên cứu những phương diện của những điều không được nói hay viết ra, phải quan tâm đến phía sau cấu trúc và hình thức trong văn bản, đến khái niệm tâm
lí như kiến thức nền, niềm tin và sự mong đợi
Có thể nói, PTDN luôn theo một phương pháp chung là nghiên cứu ngôn ngữ hành chức trong mối quan hệ với xã hội - văn hoá (ngữ cảnh) như trên song tuỳ theo cách tiếp cận là lấy cấu trúc làm xuất phát điểm rồi đi đến chức năng hoặc ngược lại, lấy chức năng làm cơ sở rồi từ đó giải quyết cấu trúc mà có những đường hướng cụ thể Chúng tôi không có tham vọng giới thiệu hết các đường hướng trong PTDN mà chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một vài nét về những đường hướng nghiên cứu PTDN hiện nay cùng hệ thống phương pháp luận của nó, dựa trên tổng kết của Nguyễn Hoà [19] Cụ thể như sau:
Đường hướng dụng học, với cách tiếp cận đi từ chức năng của ngôn ngữ, đã xuất phát từ việc phân tích các yếu tố chức năng ngoài ngôn ngữ như
ý định của người nói, hành động của người nói, sự hiểu biết về các quy tắc cấu thành, hay sự hiểu biết về các quy tắc cộng tác trong giao tiếp Bên cạnh
đó, dụng học còn đi tìm các mô hình, các cách thức thực hiện hành động nói trong các ngữ cảnh khác nhau Như vậy, theo dụng học, PTDN là xem xét DN trong mối quan hệ tương tác giữa người sử dụng với ngôn ngữ, với văn hoá, với quan hệ xã hội, hoàn cảnh xã hội,
Đường hướng biến đổi ngôn ngữ, đặt giả thiết rằng DN có tính tổ chức
và do vậy đã tìm kiếm cách thức tổ chức của hội thoại và sự đa dạng của các biến từ vựng, ngữ pháp như là bộ phận của một hệ thống chặt chẽ Đồng thời, đường hướng này cũng thừa nhận những khác biệt về ngôn ngữ sử dụng trong các tình huống khác nhau Từ đó, phân tích ngữ vực gắn liền với PTDN ra
Trang 16đời, là phân tích dựa theo ba tham tố: trường DN, cách thức DN và bầu không khí của ngữ vực để tìm hiểu yếu tố làm cho ngôn ngữ biến đổi khi tình huống giao tiếp thay đổi
Đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác, quan tâm đến ý nghĩa ngôn ngữ và ý nghĩa xã hội được sản sinh ra trong quá trình tương tác, từ đó
đi tới xác lập một khung lí thuyết để phân tích phát ngôn không chỉ như các hành động mà còn như các chỉ số của ý nghĩa cá nhân, văn hoá và xã hội
Phương pháp phân tích DN tổng hợp, là đường hướng chức năng coi
DN như là một quá trình tương tác giữa các thành viên của xã hội Phương pháp này đặc biệt đề cập đến vấn đề mạch lạc và phân tích toàn bộ chỉnh thể
DN dựa trên mạch lạc Nhiệm vụ hàng đầu của PTDN theo đường hướng này
là phân tích cho được hình thức cấu trúc thể hiện mạch lạc đó là tính tổ chức, liên kết, tính quan yếu Trong đó, cấu trúc là mạng lưới các quan hệ của các yếu tố quan yếu, khi nói về cấu trúc là nói về việc kết hợp các yếu tố này vì thế tính quan yếu đựoc đánh giá là quan trọng nhất Các yếu tố quan yếu hiện diện trong DN với vai trò là những đơn vị từ ngữ, và sự lựa chọn các nguồn lực từ ngữ này bị quy định bởi các "mục đích giao tiếp, ý định của người nói; các chiến lược văn hoá, DN sẵn có trong một cộng đồng ngôn ngữ; hoàn cảnh
xã hội (các nhân tố tham gia tương tác, mối quan hệ, bản chất của bối cảnh tình huống); tính chất của các thể loại DN đã được quy ước hoá; và khung văn hoá, niềm tin và hành động của các thành viên xã hội" [19, tr146] Cấu trúc, liên kết và quan yếu phải được đặt trong mối quan hệ với các giá trị văn hoá;
và DN phải được coi là ngôn ngữ hành chức với tư cách là sự tương tác xã hội Như vậy, đường hướng này đã nhìn nhận chức năng và cấu thúc là hai thuộc tính cơ bản của ngôn ngữ, đồng thời chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa chúng, từ đó khẳng định không nên quá tách bạch hay đối lập hai thuộc tính này khi PTDN
Trang 17Ngoài ra còn có một số đường hướng PTDN như đường hướng dân tộc học giao tiếp, đường hướng phân tích hội thoại, phân tích DN trong tâm lí học
xã hội, đường hướng giao tiếp giao văn hoá
Như vậy, qua những tổng kết về các đường hướng PTDN như trên chúng ta có thể thấy, các đường hướng PTDN tuy được xây dựng trên những
cơ sở phương pháp luận khác nhau song đều có điểm chung là nhìn nhận ngôn ngữ như công cụ của một quá trình tương tác tạo nghĩa và cố gắng giải quyết mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, văn bản và ngữ cảnh, DN và giao tiếp rõ ràng hơn
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin chọn phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu và khảo sát tư liệu
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHONG CÁCH HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1 Phong cách học và vấn đề giao tiếp ngôn ngữ
Theo Hữu Đạt [12], những vấn đề về phong cách học, tuy đã được đề cập tới rất sớm nhưng chỉ đến khi những lí thuyết ngôn ngữ học đại cương của F de Saussure ra đời với những lí thuyết quan trọng như: lí thuyết về hệ thống - cấu trúc, lí thuyết về tín hiệu, về cấp độ ngôn ngữ , lí thuyết về tính võ đoán và tính có lí do thì phong cách học mới thực sự trở thành bộ môn khoa học độc lập
Về đối tượng nghiên cứu của phong cách học, đã có nhiều thay đổi trong việc xác định phạm vi, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của ngôn ngữ học Ở thời cổ đại, giai đoạn "văn - sử - triết bất phân", đối tượng của phong cách học chỉ bao gồm những lời nói hoa mỹ Đến sau Saussure, các yếu tố biểu cảm của hệ thống ngôn ngữ và sự phối hợp các sự kiện lời nói để tạo ra các phương tiện biểu cảm đó được xác định là đối tượng nghiên cứu của phong cách học Bên cạnh đó còn có một số quan điểm khác cho rằng các
Trang 18phong cách chức năng hay hiệu lực của việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ mới là đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này
Tuy nhiên, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, vì vậy ngoài hệ thống - cấu trúc, không thể không xét tới các yếu tố phi ngôn ngữ tồn tại song song và cùng với ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp như: đối tượng tham gia giao tiếp, vốn sống, văn hoá, tính dân tộc Phong cách học chính vì thế phải xác định cho mình mục tiêu nghiên cứu là toàn bộ những khả năng thực tế về việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của con người nhằm tạo ra sự thống nhất giữa cơ chế của người nói và người nghe về một lĩnh vực nào đó, từ đó hệ thống thành những kiểu, dạng, khuôn mẫu cụ thể
Đến đây, có thể khẳng định, phong cách học (chính là phong cách học ngôn ngữ ) là "bộ môn khoa học nghiên cứu những đặc điểm và phong cách
sử dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể" [12, tr16] Đối tượng của phong cách học chính là văn bản và hoạt động của các loại văn bản
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ dừng lại ở những lí luận về phong cách nghệ thuật, là lĩnh vực quan trọng trong phong cách chức năng, lấy đó làm cơ sở cho những khảo cứu cụ thể trên tư liệu thu thập được
1.2.2 Phong cách nghệ thuật
Cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về phong cách nghệ thuật Trong luận văn này chúng tôi chỉ giới thiệu một định nghĩa cụ thể của Hữu Đạt như sau: "phong cách nghệ thuật là một phong cách chức năng được dùng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật nhằm phục vụ cho nhu cầu về đời sống tinh thần của con người" [12, tr207]
1.2.2.1.Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật
Từ định nghĩa trên, Hữu Đạt khi đánh giá phong cách nghệ thuật đã nêu
ra các đặc điểm riêng như sau:
- Đặc điểm về chức năng ngôn ngữ
- Đặc điểm về tính hình tượng
Trang 19 Chức năng ngôn ngữ
Tác phẩm nghệ thuật là sự phản ánh cuộc sống vì thế ngôn ngữ có chức năng vô cùng quan trọng là chức năng tác động tới tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của bạn đọc Khác với những phong cách chức năng khác, ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật tác động đến người đọc thông qua hình ảnh và hình tượng Quá trình tác động đó đi theo các hướng chính như: tác động theo hướng giải trí, tác động theo hướng nhận thức, giáo dục, tác động theo hướng thẩm mỹ
Ba hướng tác động này được phối hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, cái này là nguyên nhân của cái kia theo nguyên tắc phát huy tính đa trị của các yếu tố ngôn ngữ, nhằm làm cho độc giả có cái nhìn sâu sắc và gần gũi hơn về cuộc sống, đồng thời nhận thức được cái đẹp ở những góc độ khác nhau và đầy đủ nhất
Trang 20Quá trình chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng có sự khác nhau giữa các nền văn hoá Nó liên quan tới nhiều yếu tố như đặc điểm ngôn ngữ, truyền thống văn hoá, tập quán dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo
Tên truyện ngắn, với tư cách là một bộ phận của văn bản nghệ thuật ngôn từ cũng thể hiện tính hình tượng rõ nét trong quá trình sử dụng ngôn từ của người viết Chính tính hình tượng cao trong ngôn ngữ tên đề truyện ngắn
đã tạo nên nét khái quát mà qua đó người đọc bước đầu tiến gần tới dụng ý nhà văn
Đặc điểm về tính thẩm mỹ
Nghệ thuật không gì khác là hướng con người tới cái đẹp Trong một tác phẩm nghệ thuật, tính thẩm mỹ thể hiện ở sự mẫu mực về ngôn từ, việc lựa chọn từ, ngữ vì ngôn ngữ là công cụ chuyển tải tư tưởng của nhà văn tới độc giả Hiện thực cuộc sống qua sự tái tạo có định hướng của nhà văn sẽ mang tính thẩm mỹ cao hơn Ngôn ngữ vì thế phải được chau chuốt, gọt giữa
Đó là điểm làm cho một lời nói có tính nghệ thuật khác với một lời phi nghệ thuật
Tuy nhiên, không phải lúc nào sự chau chuốt cũng đạt hiệu quả mà tính thẩm mỹ trong ngôn ngữ nghệ thuật cần được hiểu rộng hơn, đó là sự lựa chọn ngôn ngữ phải phù hợp, cân đối Đặc biệt, trong quá trình khắc hoạ tính cách nhân vật, việc sử dụng các từ ngữ thông tục không chỉ vẫn mang tính thẩm mỹ cao mà còn đạt hiệu quả vô cùng lớn nếu có sự lựa chọn đó phù hợp với tâm lí, nguồn gốc xuất thân, tình huống giao tiếp mà nhân vật xuất hiện
Tính sinh động và biểu cảm
Tính sinh động và biểu cảm là đặc trưng không thể thiếu trong phong cách nghệ thuật Chỉ trong phong cách nghệ thuật người nghệ sĩ mới có thể có những sáng tạo bất tận Một tác phẩm nghệ thuật chỉ dừng lại ở những miêu tả khô khan, thiếu sinh động, biểu cảm chắc chắn sẽ khó đi vào lòng người đọc
Tính sinh động cho phép ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật được sáng tạo đến tối đa, chấp nhận sự xuất hiện những kết hợp từ, các kiểu kết cấu
Trang 21cú pháp mới lạ Tất nhiên, mọi sự sáng tạo đều không đi chệch khỏi chuẩn mực và phải coi trọng việc sử dụng đúng chỗ, hợp lí, đặc biệt là những yếu tố tình thái
Về tính biểu cảm, các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ chính là yếu
tố làm nên tính biểu cảm của văn bản nghệ thuật Cùng một đề tài hoặc nội dung, một hiện tượng cuộc sống, một hiện tượng thiên nhiên như nhau nhưng với cách thể hiện, tái tạo khác nhau sẽ tạo ra sức hấp dẫn khác nhau Vì vậy có thể nói, tính biểu cảm là yếu tố góp phần chinh phục người đọc
Với tên một tác phẩm nghệ thuật nói chung và tên đề truyện ngắn nói riêng, tính sinh động và biểu cảm lại càng đóng vai trò quan trọng trên hết bởi tên tác phẩm là cái đầu tiên đập vào mắt người đọc Một tên đề hấp dẫn sẽ kích thích sự chú ý đến nội dung Vì vậy tên đề cần có sự sáng tạo, chọn lọc
kĩ càng trong từng câu chữ
Tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật
Đặc điểm về tính tổng hợp trong việc sử dụng ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật thể hiện qua việc sử dụng các phương tiện của tất cả các phong cách chức năng khác, kể cả những phương tiện đặc trưng nhất của một phong cách nào đó; và tính đa dạng trong hình thức thể hiện ngôn ngữ (ngôn ngữ tác giả - người kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại nội tâm)
Bên cạnh đó, điều đặc biệt nhất ở đây chính là, trong ngôn ngữ nghệ thuật, tính tổng hợp còn thể hiện ở hiện tượng xuất hiện rất nhiều từ ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ, từ nghề nghiệp Đây là hiện tượng rất ít gặp trong ngôn ngữ của các phong cách chức năng khác
Sở dĩ ngôn ngữ nghệ thuật mang tính tổng hợp sâu sắc như vậy vì đối tượng phản ánh của nghệ thuật là toàn bộ hiện thực cuộc sống gồm: thiên nhiên, xã hội, con người và những mối quan hệ phức tạp xung quanh Không chỉ vậy, con người trong xã hội tồn tại trong nhiều mối quan hệ khác nhau Vì vậy, để điển hình hoá nghệ thuật, xây dựng các hình tượng vừa mang tính
Trang 22khái quát vừa mang tính cụ thể, cần phải sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp, có tính tổng hợp nhất mới có thể miêu tả những diễn biến tâm lí, tình cảm của đối tượng một cách chính xác nhất
Đặc điểm thứ hai là trong tác phẩm thường có hiện tượng tách từ Khi
đó, nhà văn cấp nghĩa cho vỏ âm thanh của từ bằng phương pháp thêm yếu tố
mới đệm giữa các thành tố cấu tạo nên từ (ví dụ: nhanh nhẹn thành nhanh với
chả nhẹn mang nghĩa phủ định) hay lặp hoàn toàn từng thành tố (ví dụ: loè loẹt - loè loè loẹt loẹt)
Ngôn ngữ nghệ thuật thường xuyên sử dụng các đơn vị cố định như thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ ở nguyên dạng hoặc đã qua cải biên Việc sử dụng như vậy tạo nét nghĩa khái quát, mang tính hình tượng cao trong quá trình miêu tả sự vật, hiện tượng
Về mặt câu, phong cách nghệ thuật thường sử dụng câu có kết cấu mở rộng thành phần định ngữ, trạng ngữ
Ngoài ra, chúng ta còn có thể bắt gặp các loại kết cấu đảo với những loại cụ thể như: đảo vị ngữ, đảo trật tự các thành phần trong danh ngữ (số từ + danh từ, loại từ + danh từ)
Riêng với tên đề truyện ngắn, các kiểu cấu trúc mở rộng và kết cấu đảo thường được sử dụng qua sự sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật cao hơn
Trang 231.2.2.2.Kết cấu văn bản nghệ thuật
Mỗi văn bản nghệ thuật là một sự sáng tạo của người nghệ sĩ, phong cách nghệ thuật vì thế cũng có thể xem là phong cách thể hiện tính cá nhân sâu sắc Về kết cấu, so với các phong cách chức năng khác, phong cách nghệ thuật cũng có các kiểu kết cấu văn bản đa dạng nhất Chúng ta có thể thấy một
số dạng tiêu biểu như: kết cấu của văn bản thơ ca, câu đối, kết cấu văn bản văn xuôi, kết cấu văn bản kịch Trong luận văn này chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược về kết cấu văn bản văn xuôi
Văn bản văn xuôi được xây dựng theo cốt truyện vì vậy kết cấu của loại văn bản này mang tính phân đoạn đối với truyện ngắn, truyện vừa và chương hồi đối với tiểu thuyết Theo Hữu Đạt [12], kết cấu thường gồm ba thành tố chung:
- Giới thiệu nhân vật
- Diến biến tâm lí và tính cách của nhân vật (hoặc các nhân vật) thông qua mối quan hệ với các nhân vật khác hoặc hoàn cảnh xung quanh
- Số phận của nhân vật
Đây là dạng kết cấu được xây dựng theo phương pháp cổ điển Hiện nay, với cách xây dựng theo phương pháp hiện đại, đồng thời còn tuỳ thuộc vào phong cách cá nhân mà trật tự các thành tố trên có thể thay đổi, thậm chí, văn bản hoàn toàn có thể được cấu thành chỉ bởi một đến hai thành tố
Trước sự khác biệt về kết cấu văn bản văn xuôi hiện đại như vậy, tên đề tác phẩm nghệ thuật nói chung, tên đề truyện ngắn hiện đại nói riêng chắc chắn cũng sẽ có hình thức và nội dung nào đó tuỳ thuộc vào kết cấu của bản thân tác phẩm
1.3 TRUYỆN NGẮN VÀ TÊN ĐỀ TRUYỆN NGẮN
1.3.1 Một vài vấn đề về truyện ngắn và truyện ngắn hiện đại
1.3.1.1 Về khái niệm truyện ngắn
Trang 24Tên đề truyện ngắn tuy có tính độc lập nhất định với toàn bộ phần còn lại của văn bản truyện ngắn nhưng không vì thế mà nó mất đi mối quan hệ khăng khít với truyện về mặt nội dung Bên cạnh đó, tên đề cũng chịu sự chi phối rất lớn của đặc trưng thể loại Bàn đến tên đề truyện ngắn, ở luận văn này, chúng tôi mong muốn góp phần làm rõ đặc trưng của truyện ngắn trong một phương diện nào đó Trước khi đi vào nội dung vấn đề, xin đưa ra những đặc trưng của truyện ngắn một cách khái quát nhất
Thuật ngữ truyện ngắn (short story - tiếng Anh) hiện được dùng như
một thói quen, nhưng trong thực tế để có cái nhìn thấu đáo về thể loại này thì vấn đề không hề đơn giản Vì vậy, cho đến nay, đã có rất nhiều ý kiến của nhà văn, nhà nghiên cứu về thuật ngữ này Ở đây, chúng tôi chỉ trích dẫn một cách hiểu mang tính chất từ điển như sau:
Truyện ngắn là "tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện
ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn, nhưng thực chất lại là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại, lại càng không phải là truyện ngắn
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện
Trang 25phức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là một hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc
về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp tường thuật của truyện ngắn thường là chấm phá
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc,
có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết " [17, tr370]
Như vậy, truyện ngắn là một thể loại tiêu biểu, không thể thiếu trong bất cứ nền văn học nào Sở dĩ, truyện ngắn đóng vai trò to lớn như vậy vì đó
là một thể loại năng động, có khả năng phản ánh sâu sắc hiện thực đời sống cũng như tư tưởng của nhà văn
Về đặc trưng thể loại, cũng giống như truyện dài và truyện vừa, truyện ngắn cũng có những đặc trưng riêng nhất định Cụ thể như sau:
- Trước hết, truyện ngắn là một "tác phẩm tự sự cỡ nhỏ nhưng cái độc đáo của nó là ngắn" Điều đó có nghĩa là câu chuyện phải được kể một cách hàm súc, tinh lọc và hay
- Cốt truyện và kết cấu là hai yếu tố không thể thiếu khi xem xét một truyện ngắn Cốt truyện của truyện ngắn thường tập trung vào một vài biến cố hay mặt nào đó của đời sống, các sự kiện diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định Tương ứng, kết cấu của truyện ngắn cũng "không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng"
Trang 26- Một yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết Chi tiết trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, dung lượng lớn và lối hành văn nhiều ẩn ý, vì vậy nó có tính chất biểu tượng
- Nhân vật trong truyện ngắn tuy được đặt trong các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại song ít khi trở thành một thế giới hoàn
chỉnh, một tính cách trọn vẹn mà "thường là một hiện thân cho một trạng thái
quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người"
1.3.1.2 Đặc điểm của truyện ngắn hiện đại
Luận văn lấy đối tượng khảo sát là tên đề truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại Qua việc tìm hiểu tên đề truyện ngắn, chúng tôi mong muốn tìm hiểu về ý tưởng, tư duy ngôn ngữ thể hiện trong quá trình đặt tên cho tác phẩm văn học giai đoạn hiện đại
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại Vì vậy, truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học dân tộc
Theo Bùi Việt Thắng [32], truyện ngắn hiện đại Việt Nam có thể phân chia thành ba giai đoạn chính với những đặc trưng điển hình sau:
- Đặc trưng của truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945
Trước hết phải nói đến tính xung kích của truyện ngắn trong nhiệm vụ khám phá đời sống ở giai đoạn lịch sử đầy biến động, các mâu thuẫn căng thẳng và sự phân hoá diễn ra sâu sắc, phức tạp Vì vậy, bên cạnh sự đa dạng
về phong cách, bút pháp, cốt truyện tỏ ra nhạy cảm trước những biến cố phức tạp của đời sống, khám phá diễn biến tâm trạng con người Truyện áp sát tới đời sống, kể về cuộc đời của những con người bé nhỏ tầm thường dưới đáy xã hội
- Đặc trưng truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975
Bên cạnh đề tài chiến tranh, truyện ngắn giai đoạn này đi sâu vào cuộc sống thường nhật với những mâu thuẫn kịch tính, cũng như những khoảnh khắc lãng mạn phía sau những lo âu, những giành giật giữa cái sống và cái
Trang 27chết Không gian nghệ thuật cũng từ đó mà mở rộng ra, nhân vật "vượt ra khỏi luỹ tre làng" (hoàn cảnh hẹp) để đến với một hoàn cảnh rộng lớn được xác định bởi những mối liên hệ với nhân dân và thời đại
- Đặc trưng truyện ngắn giai đoạn 1975 đến nay
Truyện ngắn giai đoạn này chủ yếu tập trung vào chuyện đời thường, muôn mặt trong số phận đời sống con người, đặc biệt là những con người sau chiến tranh bước vào cuộc sống mới và con người trong công cuộc đổi mới đất nước Bút pháp vì thế mang xu hướng khái quát, triết luận, kể ít tả nhiều
và sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tái tạo đời sống
Như vậy, so với truyện ngắn truyền thống, truyện ngắn hiện đại được coi là xu hướng đổi mới với sự khác biệt rõ nét nhất ở khía cạnh cốt truyện và nhân vật Trong truyện ngắn hiện đại, do hành động cốt lõi của nhân vật rất đơn giản, chỉ còn lại những động tác và nói năng nên dường như không có cốt truyện Truyện ngắn hiện đại tập trung mọi sự chú ý vào con người, thân phận con người dưới góc độ nhân loại Qua nhân vật, nhà văn không khái quát loại người mà khái quát kiếp người, đào sâu vào bản chất Người Chính vì vậy, cái cốt lõi của truyện hiện đại tất yếu không được hiểu một cách hiển ngôn mà nằm trong "bề sâu, bề xa và bề sau" của câu chữ
Những đặc trưng thể loại của truyện ngắn hiện đại như trên đã tác động
to lớn tới đặc điểm ngôn ngữ tên truyện Truyện sẽ không được đặt tên một cách chung chung mà thay vào đó sẽ là những cái tên có tính chất cụ thể, gần gũi, phản ánh những vấn đề cụ thể cũng như những con người cụ thể Đồng thời tên truyện cũng là sự thể hiện phong cách nhà văn
1.3.2 Tên đề truyện ngắn với tư cách là một bộ phận của diễn ngôn văn bản nghệ thuật
1.3.2.1 Định nghĩa
Tên đề còn hay còn gọi là tên, nhan đề, tít đề của truyện ngắn nói riêng và tác phẩm nghệ thuật nói chung, là một trong những bộ phận cấu thành một truyện ngắn (một truyện ngắn gồm phần tên đề và phần nội dung)
Trang 28Theo Trịnh Sâm [28], TĐ tồn tại tương đối độc lập với phần nội dung còn lại của tác phẩm Phần nội dung còn lại của tác phẩm và TĐ có thể hình dung như hai bộ phận song song của một tác phẩm nghệ thuật nhưng không vì thế
mà giữa chúng mất đi mối quan hệ chặt chẽ với nhau về chủ đề, tư tưởng
Trong luận văn này, chúng tôi lấy đối tượng nghiên cứu là tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại và sử
dụng thuật ngữ tên đề để thống nhất trong quá trình làm việc
1.3.2.2 Chức năng của tên đề truyện ngắn
Là một phần quan trọng của truyện ngắn, cũng là một bộ phận của diễn ngôn nghệ thuật, tên đề mang đầy đủ chức năng của phong cách thể loại
Để thực hiện được chức năng của một tác phẩm nghệ thuật, trước hết tên đề phải thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình trong tác phẩm cụ thể mà nó đứng tên Tên đề phải là bức thông điệp có tính nghệ thuật sâu sắc thể hiện nội dung một cách cô đọng, có chọn lọc, chuyển tải được ý tưởng chủ đạo của tác giả Có thể xem tên đề là cái thần của tác phẩm, là điểm nhấn quan trọng thể hiện sự sáng tạo ngôn từ cũng như tư tưởng của nhà văn
Chức năng quan trọng tiếp theo của tên đề là chức năng tác động hình tượng Chức năng tác động là yếu tố nổi bật lên trước nhất của một tác phẩm nghệ thuật Sự tác động đó không dựa vào những lí lẽ khô khan hay số lượng các thông tin phản ánh mà nhờ vào hình ảnh và hình tượng Vì khi tiếp cận một tác phẩm nghệ thuật, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở bề mặt câu chữ, nội dung đích thực của tác phẩm chỉ được giải mã khi người đọc đến được với những gì ẩn sau ngôn ngữ, đó chính là hình tượng tác phẩm Tên đề với tư cách là một bộ phận chính của tác phẩm, là yếu tố đầu tiên tác động đến người đọc, vì vậy để thực hiện tốt chức năng này đòi hỏi ngôn từ phải được sử dụng hết sức sáng tạo, hình ảnh khái quát để tạo nên những tên đề mới lạ, hấp dẫn, độc đáo về cấu trúc và giàu hình ảnh Làm được điều đó là bước đầu tên
đề đã thực hiện được chức năng giải trí, tiếp đến là chức năng nhận thức và giáo dục Thông qua hình tượng, tên đề đưa đến cho người đọc những nhận
Trang 29thức đúng đắn, đầy đủ về cuộc sống, hướng con người đến với cái "chân, thiện, mỹ" để có được những hành động đúng đắn phù hợp với quy luật của thực tiễn
1.3.2.3 Đặc điểm của tên đề truyện ngắn
Trước hết, có thể nói, tên đề văn bản trong phong cách nghệ thuật nói chung, tên đề truyện ngắn nói riêng khá phong phú và đa dạng về cấu trúc Tên đề thường được xây dựng với độ dài vừa phải và trong kết cấu tên đề thường có mặt đầy đủ các kí hiệu văn tự tiếng Việt, các khuôn hình hội thoại, những từ phương ngữ, từ nghề nghiệp, thậm chí cả thuật ngữ Nói tóm lại, tên đề truyện ngắn là cuộc sống được nhận thức và mã hoá dưới dạng kí hiệu văn tự
Về mặt cấu tạo, tên đề có thể do các loại từ chính như danh từ, động từ, tính từ hoặc các ngữ tương ứng với các loại từ trên đảm nhiệm Về mặt quan
hệ giữa các thành phần theo trật tự tuyến tính, trong kết cấu của tên đề thường xuất hiện những kết hợp "ngược cú pháp" tiếng Việt
Về ngữ nghĩa, tên đề thường được mã hoá và có tính chất mở rất cao Người đọc không phải lúc nào cũng có thể ngay lập tức giải mã được câu chữ
có mặt trong tên đề mà phải tiếp cận với toàn bộ tác phẩm
Theo nhận xét của Trịnh Sâm, "tiêu đề văn bản trong phong cách nghệ thuật có mấy đặc điểm ngôn ngữ sau:
a) Sử dụng một cách "tổng hợp" tất cả các phương tiện ngôn ngữ vốn là đặc trưng trong kết cấu tiêu đề của một số phong cách khác Tất cả sẽ được
"thẩm thấu" chất văn chương dưới sự "lan toả", chính xác hơn, dưới áp lực của ngôn ngữ nghệ thuật
b) Tập trung với tần suất khá cao các phương thức biểu trưng, các biện pháp tu từ trong tiếng Việt Có thể nói, cấu trúc tiêu đề văn bản tiềm tàng nhiều chất thơ
c) Tiêu đề văn bản luôn luôn đa nghĩa, ý nghĩa hiển hiện chỉ là cái nền làm cơ sở cho các tầng nghĩa khúc xạ nảy sinh Và trong quan hệ với nội dung
Trang 30toàn văn bản, con đường hình thành nên các tầng ý nghĩa của cấu trúc tiêu đề rất tinh vi Đây cũng là nét riêng, khiến cho tiêu đề văn bản trong phong cách nghệ thuật khác biệt với tất cả tiêu đề trong phong cách khác." [28, tr62]
Như vậy, tên đề truyện ngắn là một bộ phận của diễn ngôn chịu ảnh hưởng rất lớn của đặc trưng thể loại song việc đặt tên đề còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chủ đề, nội dung tác phẩm; phong cách, bút pháp và khả năng sáng tạo của mỗi nhà văn
Trang 312.1 PHÂN TÍCH TÊN ĐỀ Ở BÌNH DIỆN HÌNH THỨC
Tư liệu được chúng tôi thu thập và khảo sát gồm 200 tên đề truyện ngắn của 4 tập "Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam" Trong đó, tập 1 và tập 2 được xuất bản năm 2000; tập 3 và tập 4 được xuất bản năm
2004
Như trong lời giới thiệu, nhà xuất bản nhận xét: "Tuyển chọn truyện ngắn đầu tay các nhà văn Việt Nam" là sự hội tụ của nhiều thế hệ nhà văn gồm " già trẻ, nam nữ, xưa nay, bút pháp lãng mạn, hiện thực đan xen tạo được không khí sinh động" Đó có thể là những trang viết đầu tay của những người mới lần đầu chập chững bước vào làng văn, hay có thể là những trang khởi đầu cho quá trình viết thể loại truyện ngắn đối với những nhà văn
đã từng viết những thể loại khác Tất cả đã phần nào thể hiện một cách chân thực bức tranh của nền văn học hiện đại nước nhà với tất cả "sự bỡ ngỡ, trẻ trung, bồi hồi, phấn khởi, náo nức, dào dạt của nhà văn với nhiều phần việc, trải đều theo năm tháng gồm mảng nổi, mảng chìm mà họ là đại diện cho từng
Trang 32thế hệ, là thƣ kí của thời đại, ghi nhận sự bền bỉ, dẻo dai, hùng tráng và vinh quang của dân tộc" [40, tr6]
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tên đề trong 4 tập
truyện ngắn đầu tay đầu tay của các nhà văn Việt Nam một cách cụ thể
2.1.1 Một số mô tả hình thức
2.1.1.1 Về độ dài của tên đề
Qua quá trình khảo sát tƣ liệu, chúng tôi nhận thấy, độ dài của các tên
đề rất phong phú về số lƣợng âm tiết Cụ thể ở bảng tổng kết sau:
Tổng số truyện
Tỉ lệ (%)
Trang 33Bảng tổng kết trên cho thấy, có sự chênh lệch tương đối lớn về âm tiết giữa các tên đề
- Tên đề có số lượng âm tiết lớn nhất là 13 âm tiết:
Cái chết của người nhạc sỹ chơi ghita theo phương pháp cổ điển
(Nguyễn Hiếu, 3-2004)
- Tên đề có số lượng âm tiết ít nhất là 1 âm tiết:
Với 761 âm tiết/200 tên đề, trung bình độ dài âm tiết cấu tạo tên đề thu được là 4 âm tiết Như vậy, có thể thấy rằng, tên đề truyện ngắn có độ dài vừa phải, khá ngắn gọn, rất ít xuất hiện những tên đề có độ dài lớn Cụ thể: số lượng tên đề có độ dài từ 3 - 6 âm tiết chiếm 72%; những tên đề có độ dài trên
10 âm tiết chỉ chiếm 1%
2.1.1.2 Về đặc điểm cú pháp
Qua khảo sát 200 tên đề trong 4 tập truyện, chúng tôi thấy rằng các kiểu cấu tạo của tên đề thường là: một từ (danh từ, động từ, tính từ) chiếm 15%, một ngữ (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, trạng ngữ) chiếm 79%, kết cấu sóng đôi (hai từ, hai ngữ trở lên) chiếm 3,5%, một kết cấu chủ - vị chiếm 2,5%
Có thể quan sát tỉ lệ trên qua biểu đồ sau:
Như vậy, tên đề truyện ngắn có kết cấu là một ngữ chiếm số lượng lớn nhất, tiếp đến là những tên đề có kết cấu là một từ Ngoài ra, chúng tôi còn
Một từ Một ngữ Kết cấu sóng đôi Một kết cấu chủ - vị 79%
15%
3,5%
2,5%
Trang 34thấy xuất hiện những dạng như kết cấu sóng đôi, kết cấu chủ - vị, song số lượng rất ít, hầu như không đáng kể
2.1.1.3 Về cách thức biểu hiện
Theo kết quả thu được qua quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy, về mặt hình thức, tên đề truyện ngắn ở đây chủ yếu mang hình thức trần thuật Bên cạnh đó, tên đề có hình thức câu nghi vấn có xuất hiện nhưng chiếm số lượng rất nhỏ và những dấu hiệu hình thức cụ thể (như dấu hỏi "?" ở cuối câu) chưa được rõ ràng nên việc xác định kiểu tít này rất mơ hồ Trong luận văn này, dựa vào ngữ cảnh, chúng tôi xếp những câu như vậy vào nhóm câu hỏi tu từ có chức năng thể hiện tình thái (sẽ được nêu rõ hơn trong phần những phương tiện tình thái của tên đề)
2.1.1.4 Về việc sử dụng các từ vay mượn
Trong kết cấu tên đề truyện ngắn thường không những có mặt hầu hết các kí hiệu văn tự của tiếng Việt mà còn xuất hiện các từ vay mượn từ tiếng nước ngoài, tiếng các dân tộc ít người ở Việt Nam Có thể thấy một số hiện tượng như sau:
Hiện tượng các từ vay mượn từ tiếng nước ngoài (được gạch chân)
Đó có thể là những danh từ chỉ tên riêng
Bobbi của tôi (Phạm Thị Minh Thư, 1-2000) Hoặc có thể là những tính từ
Kỷ niệm về cô bé tóc bôm bê (Lam Giang, 3-2004)
Hiện tượng dùng các từ thuộc tiếng dân tộc ít người ở Việt Nam (được gạch chân)
Đó có thể là những danh từ chỉ tên riêng
Kòn Trô (Lý Văn Sâm, 1-2000)
Trang 35(Coong: một loại vòng đeo tay bằng đồng của người Ba Na)
Theo thống kê của chúng tôi, những tên đề có xuất hiện hiện tượng vay mượn từ tiếng nước ngoài, tiếng các dân tộc ít người chiếm 3% Tuy chiếm số lượng hạn chế nhưng đã góp phần làm phong phú về mặt từ vựng của tên đề
2.1.2 Mô tả cấu trúc ngữ pháp của tên đề
Phân tích cấu trúc cú pháp của tên đề theo ngữ pháp truyền thống, chúng tôi nhận thấy có 3 dạng khái quát như sau:
- Tên đề có cấu trúc là từ (danh từ, động từ, tính từ )
- Tên đề có cấu trúc là ngữ (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ )
- Tên đề là câu đơn
Mỗi dạng tên đề nêu trên lại có rất nhiều hình thức mở rộng khác nhau Dưới đây là những miêu tả cụ thể
2.1.2.1 Tên đề có cấu trúc là từ
Với kết quả thu được qua quá trình khảo sát tư liệu, trong luận văn này, chúng tôi xếp những tên đề có cấu tạo là một danh từ, động từ, tính từ vào nhóm những tên đề có cấu trúc là từ
Tên đề có cấu trúc là từ thường có cấu tạo:
Danh từ
Kòn Trô (Lý Văn Sâm, 1-2000)
Quê hương (Nguyễn Linh, 1-2000)
Trang 36Về số lượng, tên đề có cấu trúc là từ chiếm tỉ lệ không nhiều (15,5%), chủ yếu tập trung ở ba nhóm từ loại chủ yếu là danh từ, động từ và tính từ Trong đó, chiếm số nhiều nhất là danh từ
2.1.2.2 Tên đề có cấu trúc là ngữ
Chúng tôi xếp những tên đề có cấu tạo là một ngữ (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ) và những tên đề có kết cấu sóng đôi (hai ngữ trở lên) là những tên đề có cấu trúc là ngữ
Qua khảo sát, chúng tôi thấy, tên đề có cấu trúc dạng này có những kiểu cấu tạo cụ thể như sau:
Ngữ danh từ
- Ngữ danh từ xác định
Tiếng hát chị Hai Son (Đào Vũ, 1-2000)
Chiếc thuyền gạo trên sông Kinh Thầy (Dũng Hà, 1-2000)
Những người trên đồng cỏ (Hồng Nhu, 1-2000)
Ông giám đốc mới được đề bạt (Trần Hiệp, 2-2000)
Nàng Kim Chi sáu ngón (Đà Linh, 2-2000)
Khoảng rừng trong thành phố (Phạm Quang Đẩu, 3-2004)
- Ngữ danh từ không xác định
Một đứa trẻ (Nguyễn Thị Ngọc Tú, 2-2000)
Một lá thư (Viết Linh, 4-2004)
Điếu thuốc lá (Lương Hiệu Vui, 4-2004)
Rừng già, rừng non (Vũ Hữu Ái, 3-2004)
Con chó và tên tù binh (Lê Văn Vọng, 2-2000)
Bông hường bông cúc (Hoàng Văn Bổn, 3-2004)
Ngữ động từ
Ra kẻ chợ (Tô Hoài, 1-2000)
Chết trong cảnh đói (Mai Văn Tạo, 1-2000)
Nói bằng lời của mình (Hồ Anh Thái, 1-2000)
Kể về một tình yêu (Đặng ái, 2-2000)
Trang 37Đi tìm chú Cuội (Hà Lâm Kỳ, 2-2000)
Đi thăm chồng (Lê Văn Thảo, 2-2000)
Hoài cổ nhân (Võ Hồng, 3-2004)
Qua cầu Công Lý (Thanh Giang, 3-2004)
Về thăm làng tề (Hoàng Công Khanh, 3-2004)
Lạc biển (Kiều Vượng, 4-2004)
Yêu giả, yêu thật (Nguyễn Trần Thiết, 4-2004)
Ngữ tính từ
Bí ẩn một dòng sông (Võ Thị Xuân Hà, 1-2000)
Thật và giả (Lê Thành Chơn, 3-2004)
Về số lượng, tên đề có cấu trúc là ngữ chiếm tỉ lệ lớn nhất, trong đó, chiếm số nhiều là danh ngữ với những kết cấu mở rộng của nó Tên đề có cấu trúc dạng này cũng rất phong phú, đa dạng về mặt cấu tạo Cụ thể, chúng tôi nhận thấy:
Về cấu trúc thông tin, tên đề có dạng vị ngữ đã chứa lượng thông tin sự tình tương đối rõ hơn nhưng không lộ rõ chủ thể của hành động hay sự tình nên bí mật thật sự đằng sau nó cũng chính là chất xúc tác buộc người đọc phải
đi tìm câu trả lời sáng tỏ hơn trong tác phẩm
Những tên đề còn lại thường đề cập tới những con người, địa danh, sự vật hiện tượng mà những tình tiết cụ thể chỉ xuất hiện trong tác phẩm Chính yếu tố ngắn gọn và không trọn vẹn của tên đề đã gợi sự tò mò của độc giả, cuốn hút họ tiếp cận với tác phẩm Chỉ khi tiếp cận với toàn bộ nội dung văn bản truyện còn lại, người đọc mới có thể hiểu hết những thông tin mà tên đề chuyển tải
2.1.2.3 Tên đề có cấu trúc là câu
Theo kết quả thu được, tên đề có cấu trúc là câu chiếm tỉ lệ thấp nhất trong ba dạng tên đề đã nêu ở trên Dạng tên đề này mang đặc điểm trọn vẹn
về nội dung và chuẩn mực về cấu trúc, phải chăng vì thế, với xu hướng cần
Trang 38nhiều sức gợi để thu hút sự chú ý của độc giả mà các nhà văn đã ít dùng cách đặt tên này cho tác phẩm của mình
Hưng Đạo Vương về kinh (Lê Cận, 3-2004)
Em có còn yêu ai (Vũ Hồng, 3-2004)
Gió vẫn thổi từ rừng (Linh Nga Niê Kdam, 3-2004)
2.1.3 Những phương tiện tình thái của tên đề
Qua tư liệu thu được, chúng tôi nhận thấy, tình thái là một trong những thành tố góp phần không nhỏ trong cấu tạo nên tên đề truyện ngắn
Tình thái chính là sự "phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu của điều được thông báo" [18, tr51] Như vậy, ngữ nghĩa tình thái thuộc về lĩnh vực của ngữ nghĩa, nội dung của tên đề
Hình thức tình thái của tên đề không chỉ là những phương tiện có chức năng thể hiện tình thái mà còn có nhiều yếu tố ngôn ngữ khác được dùng để biểu thị tình thái
Chúng tôi cho rằng, tình thái của tên đề là tổng hợp những tình thái đặt trong những thành tố cấu tạo nên tên đề đó Những yếu tố tình thái không gì nằm ngoài ngôn ngữ thể hiện và trong sự hành chức của mình thì các yếu tố
đó có quan hệ cấu trúc, ngữ nghĩa và chức năng
Những yếu tố tình thái của tên đề truyện ngắn thường nằm trong chủ ngữ hoặc vị ngữ, hay cũng có thể biểu hiện trên toàn bộ tên đề trong những trường hợp tên đề có cấu tạo là một thành phần Thực tế khảo sát tư liệu cũng cho thấy rằng, tên đề truyện ngắn thường có cấu trúc ngắn và tính tình thái của nó được thể hiện một cách phong phú qua: những phương tiện tình thái, mối quan hệ theo trường từ vựng, và cấu trúc cú pháp
Luận văn này chỉ dừng lại ở những miêu tả về tình thái của tên đề ở bình diện hình thức cấu trúc với một số nét chính như sau:
Trang 392.1.3.1 Những phương tiện tình thái
Những phương tiện tình thái được sử dụng gồm:
Các từ biểu thị mức độ
- Vị từ tình thái đứng trước vị từ trung tâm: cần
Câu chuyện cần chép lại (Phan Thanh, 4-2004)
- Vị từ tình thái đứng trước tính từ: quá
Bó hoa quá đẹp (Thanh Châu, 1-2000)
Những từ có ý nghĩa biểu thị sự tiếp tục của một tiến trình, hành
động: vẫn
Gió vẫn thổi từ rừng (Linh Nga Niê Kdam, 3-2004)
Tác tử phủ định
Tác tử phủ định được sử dụng trong tên đề truyện ngắn chủ yếu là:
không - với ý nghĩa phủ định sự tình
Nơi không còn là chiến khu (Trần Thanh Địch, 1-2000)
Một người không nổi tiếng (Lê Tri Kỷ, 2-2000)
Lời ru không bán (Lê Cảnh Nhạc, 2-2000)
Điều không thể nói ra (Vũ Đức Nguyên, 4-2004)
2.1.3.2 Mối quan hệ theo trường từ vựng
Qua quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi gặp những sự lựa chọn và đặc biệt là sự kết hợp từ vựng bất ngờ để xây dựng nên hình ảnh, tính chất cho sự tình mà tên đề nói đến Sự lựa chọn cách kết hợp từ vựng không cùng trường ngữ nghĩa đã đem đến cho người tiếp nhận những cảm xúc mạnh vì tính tình thái ẩn chứa của nó Vì thế, chúng tôi cho rằng, sự kết hợp và lựa chọn từ vựng là một thủ pháp được sử dụng như một phương tiện tình thái cấu trúc tên
đề truyện ngắn
Tính cách của một vùng đất (Cao Duy Thảo, 2-2000)
Khoảng rừng trong thành phố (Phạm Quang Đẩu, 3-2004)
Lửa trong lòng biển (Ngô Tự Lập, 4-2004)
Trang 402.1.3.3 Cấu trúc cú pháp
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng, cấu trúc cú pháp cũng là một trong những phương tiện tình thái của tên đề truyện ngắn Cụ thể, cấu trúc cú pháp được sử dụng ở đây là cấu trúc đảo và câu hỏi tu từ
Cấu trúc đảo đã được sử dụng với mục đích nhấn mạnh và đưa thông tin mới trực tiếp đến người đọc Cách xử lí này đã tạo hiệu quả rất lớn trong việc chuyển tải tư tưởng nhà văn
là một bộ phận diễn ngôn có sử dụng các từ vay mượn từ tiếng nước ngoài, tiếng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tuy nhiên số lượng rất hạn chế (chiếm 3%), chỉ đơn thuần là những danh từ chỉ tên riêng Ngoài ra những tính từ, danh từ khác có xuất hiện nhưng không đáng kể
Tên đề truyện ngắn sử dụng câu trần thuật là chủ yếu Tên đề có hình thức câu nghi vấn có xuất hiện song không sử dụng dấu câu (như dấu hỏi "?"
ở cuối câu) Theo chúng tôi đó chỉ là những câu hỏi tu từ có chức năng thể hiện tình thái vì nó được sử dụng không nhằm mục đích chất vấn hay tìm kiếm câu trả lời mà đó chỉ là sự hoài nghi được bày tỏ một cách nhẹ nhàng
Đó cũng có thể xem là cách bày tỏ cảm xúc của nhà văn đối với vấn đề đang được đề cập