Ngoài việc tìm hiểu sự xuất hiện của các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt dã được thừa nhận trong các cuốn từ điển về thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, luận văn cũng chú ý đến sự xuất hiện của c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
======m======
NGUYỀN THỊ KIM DUNG
KHẢO SÁT CÁC THÀNH NGỮ VÀ TỤC NGỮ XUẤT HIỆN TRẼN BÃO PHỤ NỮ VIỆT NAM ■ ■ ■
THỜI KY ĐỒI MỚI (1985-2005)
IAJẬN VĂN THẠC s ĩ
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 602201 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Hà Nói 2007
Trang 2£ Ờ J < äcA JH 0 ’< )(
Luận văn dược hồn thành tại trường Dại học KtìẴỉí&NV Tơi xin chần thành bảy tỏ lỏng cảm ơn sầu sắc tỏi thầy hướng dẩn TS Trịnh Dức Hiển, người dã cĩ cơng rất lớn trong quá trình dần dắt tơi thực hiện luận văn nà/ Tơi xin cảm ơn trường Dại hoc KHÄH&NV, Khoa Ngơn ngữ học, thổ/ cơ dẵgiảng d ạ / vồ tạo đ ề u kiện tốt cho tơi trong suốt thời giãn học tập.
Nhấn dịp nà/ tơ i cũng xin gửi lời cẩm ơn sấu sắc tĩ i những người t/mn trong giờ dinh và bạn bẻ, những người dã động viên giúp đ õ tơi, tạo diều kiện chữ tơ i hồn thảnh luận văn ná/.
7Ớ <ìlặi 05-2007
Qtạuụỉn ÇJlii ~K¡m (Dung.
Trang 3M Ụ C LỤC
MỞ Đ Ầ U 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, ý nghĩa để tài 1
3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứ u 2
3 1 Tư liệ u 2
3.2 Phương pháp nghiên cứ u 2
4 Đóng góp của luận văn 2
5 Kết cấu của luận v ă n 3
NỘI D U N G 4
Chương I: Giới thuyết về các khái n iệ m 4
1 Thành n g ừ 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Đặc điểm của thành ngữ 9
1.2.1 Đặc điểm về hình thái cấu trúc 9
1.2.2 Đặc điểm về nội dung ngữ n gh ĩa 11
2 Tục n g ữ 13
2.1 Khái n iệm 13
2.2 Đặc điểm của tục ngữ 15
2.2.1 Về mặt cấu trúc 15
2.2.2 Vê mặt ý nghĩa 16
2.2.3 Về mặt chức năng 16
2.2.4 Về mặt vận d ụ n g 16
3 Tiểu k ế t 16
Chương II: Khảo sát các thành ngữ, tục ngữ về cấu trúc .19
/ C àu trúc củ a các thành n g ữ xu ất hiện trên báo P hụ n ữ V iệt N a m 19
1.1 Thành ngữ được sử đụng nguyên d ạ n g 19
T rang
Trang 41.1.1 Thành ngữ cỏ cấu trúc là một danh n g ữ 20
1.1.2 Thành ngữ cỏ cấu trúc là một động n g ữ 23
1.1.3 Thành ngữ có cấu trúc là một tính n g ữ 27
1.2 Thành ngừ được sử dụng sáng t ạ o 31
1.2.1 Thay đổi vị trí các thành t ố 32
1.2.2 Thay thế thanh tố của thành ngữ nguyên d ạ n g 33
1.2.3 T h ê m các thành t ố vào thành ngữ g ố c 36
! 2.4 Sử dụng một phần của thành n g ũ 38
2 Cấu trúc của các tục ngữ xuất hiện tren báo Phụ nữ Việt N a m 40
2.1 Tục ngữ dược sử đụng nguyên d ạ n g 40
2.1.1 Tục ngữ có cấu trúc là một câu d ơ n 40
2.1.2 Tục ngữ có cấu trúc là một câu g h é p 42
2.2 Tục ngữ được sử dụng sáng t ạ o 45
2.2.1 Sử dụng một bộ phận của tục n g ữ 45
2.2.2 T h ê m thành tố vào tục ngữ nguyên d ạ n g 47
2.2.3 Thay thế thành tố của tục ngữ nguyên d ạ n g 48
3 Tiếu k ế t 50
Cl iư ơ n g I I I : K h ả o sát c ác t h à n h ngữ, t ụ c n g ữ về n g ữ n g h ĩ a 51
1 K háo sát nghĩa của các th à n h trên báo P hụ n ữ V iệt N a m 51
1.1 Đặc trung nghĩa của các thành ngữ tiếng V i ệ t 51
1.2 Khảo sát nghĩa của các thành ngữ trên báo Phụ nữ Việt N a m 54
1.2.1 Thành ngữ ẩn dụ h o á 54
1.2.1.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối x ứ n g 54
1.2.1.2 Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứn g 60
1.2.2 Thành ngữ so s á n h 63
2 Khảo sát nghĩa của các tục ngữ trẽn báo Phụ n ữ Việt N a m -68
2.1 Các kiểu nghĩa của tục ngữ Việt N a m 68
2.2 Khao sát ngữ nghía các tục ngữ xuất hiện trên báo Phụ nữ Việt N a m 70
2.2.1 Tục ngữ vể kinh nghiệm ứng xử trong phạm vi gia đ ì n h 70
2.2.1.1 Tục ngữ khuyên răn về cách sống .70
Trang 52.2.1.2 Tục ngữ vé dạy dỏ con c á i 72
2.2.1.3 Tục ngữ vé các quan hệ trong gia đinh 73
2.2.2 Tục ngữ vé kinh nghiệm ứng xử ở phạm vi ngoài xã h ộ i 75
2.2.2.1 Tục ngữ về các mối quan h ệ 76
2 2 2 2 Tục ngữ về cách ứng x ử 77
3 T iế u k ế t 7 9 KẾT L U Ậ N 81
PHỤ L Ự C 85
TÀI LIỆU T H A M K H Ả O 88
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng, thành ngữ và tục ngữ là những đơn vị có sẩn, xuất hiện từ nhicu nguồn, vào nhiều thời điểm khác nhau và được sử dụng rộng rãi trong lời nói của nhân dân.
Từ trước đến nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến thành ngữ và tục ngữ về các khía cạnh khác nhau như: cấu írúc-chức năng, nội
d ung-ngữ nghĩa , sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ, so sánh thành ngữ, tục ngữ của Việt nam với thành ngữ, tục ngữ của các nước k h á c Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự xuất hiện của thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt trên một tờ báo, trong một giai đoạn nhất định thì chưa được các tác giả chú ý đến.
Báo Phụ n ữ Việt Nam là tờ báo ra đời vào ngày 8/3/1948 Ban đầu báo
ra theo định kỳ mỗi tuần một số, và từ năm 1998 đến nay báo tăng số lượng
và ra ổn định với định kỳ 3 số một tuần Với truyền thống lâu năm, và những thê tài rất gần gũi với đời sống, báo Phụ nữ Việt Nam tới nay vẫn luôn là một
tờ báo uy tín và thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều độc giả Ngoài những chuycn m ục về thời sự, kinh tế, chính trị, báo còn có những mục về tư vân tâm lý tinh cảm , khuyên nhủ vể cách ứng x ử Đây là những mục cần có vốn sống, vốn kinh nghiệm sống để định hướng tư tưởng cho người đọc nên những bài viết trên báo thường sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ trong khi viết Diều này gợi m ở ra những ý tưởng cho luận văn đi sâu vào nghiên cứu việc sử đụng thành ngữ, tục ngữ trong các ấn phẩm của báo.
2 M ục đích, ý nghĩa của đề tài
Luận văn tìm hiểu sự xuất hiện của thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt xuất hiện trên báo Phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (từ 1985 đến nay), thời
kỳ xã hội, đất nước Vịêt nam có nhiéu biến chuyển m ạnh vé kinh tế, chính trị, văn hoá-xã h ộ i
Ẩ ỉ / / í ỉ / t / ư iề ỉ t / ỉ f f S ' J /
Trang 7Ngoài việc tìm hiểu sự xuất hiện của các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
dã được thừa nhận trong các cuốn từ điển về thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, luận văn cũng chú ý đến sự xuất hiện của các biến thể của các thành ngữ và tục ngữ đã được thừa nhận, một kiểu “ sáng tạ o ” mới trong ngôn ngữ đang xuất hiện nhiều trên sách, báo tiếng Việt nói chung và báo Phụ nữ Việt Nam nói riêng.
K h ảo sát sự xuất hiện của thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt trên báo Phụ nữ Việt Nam, luận văn g óp phần khảng đinh giá trị và VỊ trí đặc biệt của các dơn
vị ngôn n g ữ này T hành ngữ và tục ngữ tiếng Việt không chỉ tồn tại lâu bền
mà còn tiếp tục phát triển, làm giàu cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc.
3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 T ư liệu
L u ận vãn thu thập, thống kê sự xuất hiện của các thành ngữ, tục ngữ trên báo Phụ nữ Vịêt N am trong thời kỳ đổi mới (từ 1985-2005), thời kỳ xã hội Việt N am có rất nhiều đổi mới.
3.2 P h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn là:
3.2.1 Phương p h á p thống kê p h â n loại
C húng tôi dùng phương pháp thống kê phân loại để lấy số liệu về số lượng thành ngữ, tục ngữ xuất hiện trên các ấn phẩm báo, phân loại chúng theo cấu tạo, chức n ă n g
3 2 2 Phương p h á p so sánh-đối chiếu
Phương pháp so sánh đối chiếu dùng để đối chiếu giữa những thành ngữ, tục ngữ có cùng cấu tạo, chức năng, ngữ nghĩa xuất hiện trên các tác phẩm khác nhau.
4 Đ óng góp của luận văn
Luận văn là chuyên luận đầu tiên khảo sát sự xuất hiện của thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt trên báo Phụ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới Qua những thành ngữ, tục ngữ được khảo sát, luận văn tìm hiểu vai trò những thành ngữ,
Trang 8
-2-'Ẩ b ể ế ĩ/Ĩ íU Ĩ ề t / / t ự í 9 J Ĩ
— — ■ — ■ — -— — -— - - - — - — r - — I
tục ngữ này trong hành chức, đặc hiệt là trong hành chức ngôn ngữ của xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới Điều này sẽ góp phấn khẳng định sức sống và
sự phát triển của thành ngữ, tục ngữ - những đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, rất
đ á n g quan tâm trong tiếng Việt.
5 Kết cấu của luận văn
L uận văn gồm 3 chương:
C hương I: Giới thuyết về các khái niệm
C hương II: Khảo sát các thành ngữ, tục ngữ về cấu trúc.
C hương III: Khảo sát các thành ngữ, tục ngữ về ngữ nghĩa
Ngoài ra, luận văn còn có phần mục lục, phụ lục và tài liệu th am khảo.
Trang 9Thành ngữ là m ột bộ phận quan trọng trong vốn từ của một ngôn ngữ
T rong tiếng Việt thành ngữ có một khối lượng rất lớn, phong phú và đa dạng Cùng phát triển với tiếng nói dân tộc, thành ngữ dần dần được hình thành, được nhân dân sử d ụ n g như một công cụ giao t ế chung Phát triển thành ngữ
là một trong những cách tốt để bổ sung cho vốn từ Xét về mặt tu từ, thành ngữ đã góp phần làm giàu, làm đẹp cho tiếng Việt về nhiều phương diện.
Mặt khác do được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của
d â n tộc, thành ngữ là những cụm từ cố định, hay ngữ c ố định, có nội dung mgữ nghĩa sâu rộng, nên nó cũng giữ được nhiều khái niệm thuộc về truyền
th ố n g N hững khái niệm này đã phản ánh nhiều mặt tri thức về giới tự nhiên
v à đời sống xã hội của các thời đại đã sản sinh ra nó trên đất nước Việt Nam.
Việc SƯU tập và nghiên cứu thành ngữ lâu nay đã được nhiều người
q u a n tâm Trước hết, những tác giả biên soạn từ điển tiếng Việt thường ghi
v à o cuối m ục từ những thành ngữ hay tục ngữ để minh hoạ cho việc dùng từ
C ó từ điển sau khi giải nghĩa từ còn thu thập và giải nghĩa cả những ngữ
T r o n g số này có nhiều thành ngữ Có từ điển xếp một số thành ngữ thành hẳn mhững m ục từ chính tương đương với m ục từ Đ ã có người biên soạn từ điển tlhành ngữ riêng cho m ộ t loại như: Hán-Việt thành ngữ Có người ghép thành ntgữ với điển tích, danh nhân thành một từ điển, loại này nội dung hỗn hợp,
c ó ca lỏm tắt tác phẩm, trích thơ và tiểu sử tác giả
Những từ điển thuộc loại “tầm nguyên” , “điển c ố ” tuy không nói rõ là c<ó thu thập thành ngữ nhưng do tính chất của sách, mặc nhiên các tác giả của
mó đã góp phần thu thập, giải thích một số đơn vị thành ngữ trong ngôn ngữ tru y è n thống của dân tộc Những người biên soạn từ điển song ngữ, do nhu
Trang 10
-4-cáu dịch nghĩa, cũng đã thu thập được một số đem vị thành ngữ Đ ã có những cuốn sách thành ngữ đối chiếu hai hay ba thứ tiếng như: Thành ngữ Việt-
A nh-Pháp, T hành ngữ Nga-Việt, Thành ngữ A n h -M ỹ Khi chú loại truyện nôm như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, có tác giả lập bảng từ ngữ, trong này
có khá nhiều thành n g ữ , Trong những sách sưu tập văn học dân gian xuất hiện từ th ế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, các tác giả khi sưu tập tục ngữ, ngạn ngữ, cổ n g ữ thường không phân biệt thành ngữ với các thể loại khác Trước C ách m ạng T háng Tám, tập sách thu lượm được nhiêu thành ngữ nhất
là tập “Tục ngữ Phong dao” , tập này đã tập hợp được trên sáu nghìn năm trăm câu không phân biệt thành ngữ, tục ngữ.
Sau Cách m ạn g T háng Tám , những người làm công tác sưu tập giảng dạy, nghiên cứu văn học dân gian ở các viện nghiên cứu, các trường đại học, Hội văn nghệ dân gian, đã quan tâm tới lời ăn tiếng nói của nhân dân, cố gắng sưu tập được khá nhiều tục ngữ Từ đấy giới văn học dân gian đã bước vào giai đoạn có ý thức phân biệt tục ngữ và thành ngữ, lẻ tẻ đã hình thành và thể hiện quan niệm phân biệt và nguyên tắc để phân biệt Nhưng trên thực tế việc phàn biệt rạch ròi đối với một số đơn vị thành ngữ, tục ngữ vẫn chưa sáng tỏ, thường chúng có khả năng nằm chung ở hai loại Điều này có thể thấy trong các cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt N a m ” , “ Hợp tuyển văn học Việt N a m ” (tập I), “Tục ngữ Việt N am ”
Đ án g chú ý hơn cả là có một số công trình nghiên cứu của Viện N gôn ngữ học và những tác giả khác khi nghiên cứu chung tiếng Việt đã có phần
đề cập tới vấn đề thành ngữ tiếng Việt Một số giáo trình của các trường đại học cũng đã dành hẳn một mục cho vấn đề thành ngữ, và đã có một số báo cáo khoa học hay bài nghiên cứu bàn về từng mặt của thành ngữ tiếng Việt, cũng đã được tạp c h í N gôn ngữ giới thiệu.
Tuy nhiên, mồi nhà nghicn cứu lại xem xét thành ngữ từ những khía cạnh khác nhau, do vậy, mỗi tác giả đã có một cách quan niệm và kiến giải riêng vé thành ngữ.
Trang 11Chẳng hạn, theo Nguyễn Văn Tu (33, tr 185-186): “Thành ngữ là những c ụ m từ c ố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Ngh ĩa c ủa chúng không phải nghĩa của từng thành tố (từ ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của
ch ú ng đã khác nghĩa của những từ nhưng cùng có thê cát nghĩa bằng từ nguyên học Một số thành ngữ trong tiếng Việt có tính chất kiểu điển tích, điển cô' nhưng nghĩa điển cố, điển tích ấy khỏ ng còn được nhớ lại nữa thậm chí là những người dùng hiện nay không cần biết lai lịch của những thành ngữ ấy.”
T h eo Đái xuân Ninh (26, tr 212): “Thành ngữ là một cụ m từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất tính độc lập ở cái mức nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh Ví dụ: thành ngữ “M ẹ đròn con vu ôn g" khô ng thể đổi thành "Mẹ cũng tròn con cũng v u ô n g ” hay tlà "Mẹ trò n lắm con vuông lắ m ”
Còn Nguy ễn Thiện Giáp (11, tr80) thì cho rằng: “Thành ngữ là những
c ụ m từ c ố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi cảm Ví dụ:
C h ó n g á p ph ả i ruồi, Hồn xiêu pháclĩ lạc, N ói thánh nói tướng Bên cạnh
c á c nội d u ng trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng đi k è m theo các sắc thái
b ì n h giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng tán thành, hoặc là chê bai,
k h i n h rẻ, hoặc là ái ngại, xót th ư ơng C hẳng hạn thành ngữ “N ói thánh nói t.ướng' vừa chê bai sự khoác lác vừa kèm thêm thái độ chê bai không tán
tlh à n h ” Tác giả cũng phân chia thành ngữ theo cấu trúc là : thành ngữ hoà k;ết, thành ngữ chắp dính Bên cạnh đó, tác giả cũng phân biệt thành ngữ với nigừ định danh và cụm từ tự do.
T heo Nguyễn Lực-Lương Vãn Đang (24, tr7) : T hàn h ngữ trong phân
c h i a các cấp độ ngôn ngữ được xếp ở tầng bậc trên từ và dưới câu.
Về mặt kết cấu hình thái, thành ngữ tiếng Việt phổ biến thuộc loại cụm tiừ cô định, cũng có thê có thành ngữ tính cố định cao, kết cấu vững chắc đạt rrnức một ng ừ cú cô định như: Bốt chạch đằníỊ đu ôi, M èo mù v ớ cú rán Nếu
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ „ _ Ẩ ỉiiâ ề t ữ ể ú t f/tư ế > J /
Trang 12đem thay đổi trật tự, vị trí từ, thay từ đồng nghĩa hoặc một từ tương đương, thì lập tức kết cấu bị phá vỡ, ý nghĩa bị xuyên tạc, và không còn giá trị của một thành ngữ nữa Cho nên, không phải bất cứ một cụm từ c ố định hay ngữ
cô định nào cũng có thể thành thành ngữ (nói c ố định ở mức tương đối) như:
Khoa học kỹ thuật, Bánh xe lịch sử, Gia đình vẻ vang
Vé mặt biểu hiện nghĩa, một bộ phận thành ngữ tiếng Việt có tính đa nghĩa nhưng trong đó nghĩa bóng quan trọng hơn cả N ghĩa này có tính khái quát, tượng trưng cho toàn bộ tổ hợp, tuy th ế nó không phải là nghĩa của tống
sỏ nghĩa các thành tố cộng lại Có người xem nghĩa của thành ngữ có tính chất biểu trưng Khi nói nghĩa bóng là nói chung nhiều phương thức biểu hiện nghĩa của thành ngữ như: ẩn dụ, hoán dụ, khoa trương, so sánh, hình tượng (ví dụ: Đ i guốc trong bụng, Ruột đ ể ngoài da, Khoe’ như vâm, N hư diêu gặp gió ) N ghĩa bóng là đặc tính bản chất của thành ngữ Nó góp phần
xem xét một cụm từ c ố định có trở thành thành ngữ hay không Nhưng cũng không nên tuyệt đối hoá vấn đề này Trên thực tế, tiếng Việt có khá nhiều thành ngữ vẫn còn sử dụng nghĩa thực, nghĩa đen bên cạnh nghĩa bóng Trong thành ngữ tiếng Việt, có loại thành ngữ có những thành tố đã mất nghĩa thực, nhất là loại chuyển nghĩa bằng phương pháp khoa trương Chẳng hạn: K hông cánh mà bay, Rán sành ra mỡ, Đi guốc trong bụng, Lấy thúng úp voi
Q u á trình vận động sử dụng thành ngữ là một vấn để phức tạp Chính mặt này đã tạo ra những quan hệ ngữ pháp của thành ngữ Khi thành ngữ là một cụ m c ố định có giá trị tương đương như m ột từ thì nó cũng là đơn vị có thể vận dụng độc lập trong câu (tất nhiên mức độ không dẽ bằng từ.) Khi thành ngữ được sử dụng như một m ệnh đề, một ngữ c ố định nào đó trong câu phức http thì nó có giá trị như một cụm từ chủ v ị Tính chất một cụm từ chủ
vị khá rõ ràng đối với một số đơn vị thành ngữ như: Châu chấu đá xe, ếch ngồi đáy giếng, M èo mù vớ cá rán Nếu tách riêng ra từng câu mà xét khi nó
đứng độc lập thì những loại thành ngữ này rõ ràng là tương đương với một câu đơn: câu có đủ chủ từ, động từ và tân từ N hưng khi những đơn vị này
t t à t t / / f i f f ' J ỉ
Trang 13
-7-Ỉ ĩ/ỉtt / / t ạ ế3 j /
vận dộng ở trong một câu phức hợp thì chúng có giá trị tương đương như một
m ệnh đề (ví dụ: Khi ta hắt đáu cuộc kháng chiến, có người nhút nhát cho
ràng: cuộc kháng chiến của ta là chấu chấu đá voi)
Vấn đề ý nghĩa ngừ pháp và chức năng củ a thành ngữ tiếng Việt còn nhiều mặt phức tạp Bước đầu chúng tôi xác định chúng ở mức cụm từ cố định và ngữ cố định Khi thành Iigữ được dùng tương đương như một từ nó
m ang chức năng định danh Khi nó được dùng như một m ệnh đề, một ngữ cô định thì nó cũng có thể m ang chức năng tliông báo.
Tuy nhiên, tác giả Đỗ Hữu Châu (2, tr'72) cho răng, thành ngữ là một loại ngữ cố định Ông viết: “Đối chiếu với từ phức và cụm từ tự do, có thể nói: ngữ c ố định là cụm từ nhưng đã cố định hoá cho nên cũng có tính chất
chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ” Thí dụ: ngữ cố định “C h ờ hết nước hết c á i” , ý nghĩa của nó không giống ý nghĩa các cặp từ ghép biệt
lập hay từ ghép phân nghĩa ( ) Nói khác đi, ch ú n g ta lĩnh hội nghĩa của ngữ này theo cách ch ú n g ta lĩnh hội nghĩa của m ột cụm từ chính phụ thông thường (nghĩa là lĩnh hội nghĩa của từ trung tâm và lĩnh hội nghĩa bổ sung cúa các từ phụ) T uy nhiên, hình thức của nó (các từ tạo nên nó, trật tự và quan hệ giữa các từ) là cố định Dĩ nhiên để diễn đạt cái nội dung trên ta có
thể dùng một cụ m từ tự do như: “ch ờ quá lâu, quá sức chịu đựng, làm sốt ruột, bực d ọ c ” T uy nhiên, nếu đã dùng ngữ c ố định này thì phải dùng đúng
như nó đã có Có m ấy điểm chú ý:
D o sự c ố định hoá, do tính chất chặt chẽ m à các ngữ c ố định ít hay
nhiều đều có tính thành ngữ T ính thành ngữ được định nghĩa như sau: cho
một tổ hợp s do các đơn vị A, B, c m ang ý nghĩa lần lượt s l , s2, s3 tạo nôn Nếu như nghĩa s không thể giải thích bằng các ý nghĩa s l , s2, s3 thì tổ hợp A B c có tính thành ngữ Dĩ nhiên, tính thành ngữ có những mức độ từ
thấp đến cao, chẳng hạn, “Ba hoa thiên tướng” có tính thành ngữ thấp hơn
“Ba chìm bảy n ổ i”, tiếp đến : “Ba chìm bảy n ổ i” có tính thành ngữ thấp hơn
"Ba cọc ba đ ồ n g ”
Trang 14ngữ c ố định là tính tương đưưng với từ vé chức năng tạo câu.
Những đơn vị trung gian trong giữa ngữ c ố định và cụm từ tự do là các
trường hợp như: C hẳng nước non gì; trước hết; nói cách khác; m ột m ặt thì; đáng chú ý là
Nói ngừ c ố định là nói tính chất chặt chẽ, c ố định không có nghĩa là chúng không biến đổi trong câu văn cụ thể N gay cả các từ phức, những đơn
vị mà ý nghĩa của từ có tính chất thống nhất cao cũng còn có những biến thể lời nói, huống chi những ngữ cố định vốn có ý nghĩa lỏng lẻo hơn ý nghĩa của từ phức nhiều Cho nên sự biến đổi của các ngữ c ố định đa dạng hơn, “tự
đo ” hơn các biến thể của từ phức.
Hoàng Văn H ành trong cuốn sách gần đây nhất là “T hành ngữ học tiếng Việt” (13, tr 27) đã viết: “Theo cách hiểu thông thường nhất thì thành ngữ là một loại tổ hựp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng hẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong khẩu ngữ ”
Từ các cách hiểu về những thanh ngữ trên đây, chúng ta có thể đi đến thông nhất về những điểm cốt yếu của thành ngữ theo cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ h ọ c” : “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đcn và hoạt đ ộ n g như m ột từ riêng biệt trong câu”
1.2 Đ ặc điểm của thành ngữ
Nhìn chung, nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt cần chú ý đến
2 đặc điểm: hình thái-cấu trúc và nội dung-ngữ nghĩa.
1.2.1 Đ ặc điểm vé hình thái cấu trúc
Trang 15Ẩ ỉ i í ậ ế t t ư / í t / / t ự ? ũ
— i _ _ • _
Theo Đái Xuân Ninh, trong “ Hoạt động củ a từ tiếng V iệt”, những đặc điểm nổi bật về hình thức, cái làm cho người ta nhanh chóng nhận ra thành ngữ là:
1/ Tính so sánh: Ví dụ: Đ ẹ p như tiên, nhanh như cắt, ngang như cưa,
5/ Thay đổi trật tự của thành tố: Ví dụ: “7 "rẻ người non d ạ ” thành
“ N on d ạ tr ẻ người ”, hay “Đ ầu đường xó c h ợ ” thành “Xó ch ợ đầu đ ư ờ n g ”
Đặc biệt, trong các thành ngữ, kiểu thành ngữ bốn âm tiết có nhiều
kiểu cấu trúc rất phong phú và đa dạng như: C ấu trúc chủ vị (ví dụ: Chuột sa chĩnh gạo, Chó n g á p phải ruồi, C huồn chuồn đạp nước ); C âu trúc vị ngữ (ví
dụ: V ơ đũa cả n ắm , Nuôi ong tay áo, Xanh như tàu lá ); L o ạ i song song có hai v ế gồm h a i k ết cấu chính phụ c ó quan hệ son g son g (ví dụ: Gạo châu củi
quế, Hàm chó vó ngựa, Cá chậu chim lồng ).
Tuy nhiên, theo tác giả Hoàng Văn H ành thì tính cố định về hình thái- cấu trúc của thành n g ữ được thể hiện ở những đặc điểm :
* T hành phần từ vựng của thành ngữ nói chung là ổn định, nghĩa là các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong sử dụng mà trong nhiều trường hợp k h ô n g thể thay th ế bằng các yếu tố khác Chẳng hạn: phải nói: "Chán d ă m đ á chân chiêu ” chứ khổng nói “C hân p h ả i đ á chân t r á i ”
* Tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở sự cố định về
trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ C hẳng hạn, chúng ta thường nói:
"Cíữig dầu cứn i> c o ' chứ không nói : “Cứng c ổ cíơig đầu
Trang 16f£!fut*f iM Ỉtr J ĩ
— — — - — — —=—— - — — -2 2_
Tính bền vững vc hình thái- cấu trúc của thành ngữ có nhiều nguyên
n h ân khác nhau:
- C ó thể là hệ quá của quá trình m ờ nhạt về ngữ nghĩa của các thành tố
vã nhữ ng mối quan hệ ngữ pháp giữa chúng Các yếu tố này m ất đi mối liên
hệ n g ữ nghĩa với các yếu tố xung quanh, do đó ít nảy sinh quan hệ thay thế.
- C ó thể d o đặc điểm nguồn gốc của thành ngữ từ truyện cổ tích,
tru>ền thuyết, điển cố sách vở như: S ư tử H à Đ ỏng, N ợ n h ư chúa C hổm ,
- Có thê do tính vần điệu, tiết lấu, quan hệ đối điệp: Được voi đòi tiên, Lên voi xu ố n g c h ó ; tính khóng binh thường về cú pháp: Tai vách m ạch (lừng, K h u ấ t m ắt khôn co i
Tính ổn định, c ố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của người bản ngữ Ớ một thời kì lịch sử
xa xư a nào đó, thành ngữ mà ngày nay ta sử dụng vốn chỉ là một tổ hợp từ tự
do, so n g n h ờ được tái hiện lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói với những sự
ch u y ển di ngữ nghĩa nhất định nó đã được cộng đồng bản ngữ ghi nhận và ưa dùng Vì th ế dạng ổn định của thành ngữ là dạng chuẩn, m ang tính xã hội cao Tuy vậy cũ n g cần phải nói thêm cái dạng chuẩn này của thành ngữ
k h ô n g phải là “ch ết cứ n g ” , m à trong sử dụng nó vẫn uyển chuyển Nói là
ch u ẩn là có sự bắt buộc, có tính quy định của xã hội, nhưng không vì thế mà hạn c h ế sự sáng tạo cá nhân.
1.2.2 Đ ặc điểm vế nội dung-ngữ nghĩa
K hác với các đơn vị từ vựng thông thường, nghĩa của thành ngữ thường là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hoá H oàng Văn Hành coi “thành ngữ là đơn vị định danh bậc hai của n g ô n ngữ, nghĩa là nội dung của thành ngữ không hướng tới điều được nhắc đến trong nghĩa đcn của các từ ngữ tạo nên thành ngữ m à ngụ ý điều gì
đó su y ra từ chúng V í dụ: thành ngữ “C á nằm trên th ớ t” không phải miêu tả
con c á nằm trên thớt m à ngụ ý trạng thái nguy hiểm đến sự sống cò n ”
T h eo tác giả thì đặc trưng nổi bật thứ hai của thành ngữ (sau đặc trưng
về hình thái cấu trúc) là tính hoàn chỉnh và bóng bẩy vc nghĩa Nó biểu thị
Trang 17Ẩ ỉí/ậ ể t tu b / //ĩíỉS ' J /
-í _ — _ t _ _
những khái niệm hoặc biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói một cách khác, thành ngữ là đơn vị định danh của ngôn ngữ Ví dụ:
N ư ớc m ắt cá s ấ u , có nghĩa thứ nước mắt giả dối; Tức nước vỡ bờ, có nghĩa
điêu tất yếu xảy đ ế n Có nhiều loại giá trị biểu trưng hoá của định danh ngôn ngữ:
- Biểu trưng hoá dựa vào quan hệ tương thích giữa âm và nghĩa là giá
tr/ biểu ỉn ừ ĩg h oá n g ữ âm
- Biểu Irưng hoá dựa vào quan hệ tương đòng và tương cận trong qúa
trình liên hội ngữ nghĩa thì gọi là giá trị biểu triùĩg hoá ng ữ nghĩa Hình thái
liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ tương đồng là so sánh, bao gồm so sánh
hiện, tức tỉ dụ hoá : “nóng n h ư lửa So sánh ẩn là ẩn dụ hoá : “m ặt sứa gan lim ”, “cha giăng m ẹ cuội hình thái liên hội n g ữ nghĩa theo quan hệ tương cận là hoán dụ: “ba chân bốn c ẳ n g ”, “m au m ồm m au m iệ n g ” Nghĩa của
thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả của hai hình thái biểu trưng hoá: Hình thái tỉ dụ và hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm ) Sự đối lập giữa hai hình thái biểu trưng có tính tương đối, cho nên có thể thấy những hiện tượng
chuyển tiếp m ang tính chất trung gian, kiểu như: “chạy n h ư C(y lông c ô n g ”,
"chạy rống Bái C ô n g ” M ặc dù vậy vãn có thể dựa vào hình thái biểu trưng
hoá m à chia thành ngữ tiếng Việt làm hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hoá.
2/ V ề m ặ t V nghĩa: Thành ngữ miêu tả một hình ảnh, một hoạt động,
m ột tính chất hay một trạng thái thông qua nghĩa biểu trưng, có tính chất bóng bảy.
M V ề chức năng: Thành ngữ làm nhiệm vụ định danh.
Trang 18lý, có khi là m ột sự phê phán”
Còn Chư X u ân Diên- Lương Văn Đang- Phương Tri (5, t r l l - 1 2 ) thì cho rằng, trong sáng tác dân gian của mỗi dân tộc, tục ngữ là một thể loại có mối quan hệ hữu cơ hơn cả với lời ăn tiếng nói của nhân dân T ụcngữ được sáng tạo ra trước hết n h ằm đáp ứng nhu cầu tổng kết và phổ biến kinh nghiệm đời sống, kinh n g h iệm lịch sử - xã hội của quần chúng lao động Nhưng hình thức ngôn ngữ chứa đựng những nội dung kinh nghiệm ấy thường lại chỉ là hình thức từng đơn vị lời nói Mỗi câu tục ngữ là một câu nói có cấu trúc tương đối ổn định Do vậy, tục ngữ từ lâu đã trở thành m ột trong những thể loại sáng tác dân gian quen thuộc nhất, hay được sử dụng nhất, có sức sống lâu bền nhất trong đời sống tinh thần của nhân dân.
Trong m ột bài viết trên tạp chí Ngôn ngữ, tác giả N guyễn Văn Mệnh đã kháng định : “ Giữa thành ngữ và tục ngữ có thể tìm ra được những đặc điểm khác biệt rõ ràng ở cả hai phương diện nội dung và hình thức” Từ nhận xét:
“ Về nội dung thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái đ ộ ” còn tục ngữ “đi đến một nhận định cụ thể một kết luận ch ắc chắn, m ột kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một
bài học về tư tưởng, đạo đức” và tác giả đã kết luận: “ C ó th ể nói nội dung của thành n g ữ m a n g tính chất hiện tượng cồn nội dung của tục ngữ m ang tính chất quy luật T ừ sự khác nhau cơ bản v ề nội dung dẫn đến s ự khác nhau
về hình thức n g ữ p h á p M ồ i càu của thành ng ữ c h ỉ là m ột cụm từ chưa phải lí) m ột câu hoàn chình T ục ngữ thì khúc hẳn, m ỗi tục ng ữ tối thiểu là m ột càu." (25, t r i 3).
Trang 19
-13-Cũng trên tạp c h í Ngôn ngữ, tác giả Cù Đình Tủ cho rằng, cách phân biệt của N guyẻn Văn Mệnh chưa thật xác đáng “Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Tục ngữ xét về một mặt nào đ ó cũng là một hiện tượng ngôn ngữ Giải quyết những hiện tưọng ngôn ngừ cần phải căn cứ vào những căn
cứ ngôn ngữ học Một trong những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại là chỉ ra sự khác nhau và mối quan hộ giữa kết cấu và chức năng ITieo chổ chúng tôi nghĩ, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau vẻ chức năng T hành ngữ là đơn vị có sẩn m ang chức năng định danh, nói khác đi là dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, tính c h â t v ề mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác củ a dân gian như: ca dao, truyện cổ tíc h đều là các thông háo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó
của thế giới khách quan Do vậy, m oi tục ng ữ đ ọ c lên là m ột câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn m ộ t ý tư ở n g ” (35, tr 41)
Còn nhóm tác giả: Chu Xuân Diên - Lương V ăn Đ ang - Phương Tri thì viết : “Nội dung tục ngữ là các kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân, có khi được tổng kết dưới dạng các tư tưởng triết lý dân gian Hình thức của tục ngữ là hình thức các đơn vị lời nói, có thể dễ dàng được nhà văn nhà thơ dùng như một thành tố hữu cơ trong cấu trúc ngôn ngữ tác phẩm của m inh Đ iều đó khiến cho sự thâm nhập của tục ngữ với tư cách
là một thể loại sáng tác dân gian vào sáng tác cá nhân thường thể hiện thành
sự tiếp thu, sự sử dụng của nhà văn, nhà thơ m ột cách trọn vẹn các câu tục ngữ cả về nội dung lãn hình thức.” (5, tri 3)
G ần đây, tác giả H oàng Văn Hành đã có cách nhìn khá mới mẻ về tục ngữ Ông đã viết: “ Song, trong cách nhìn ngữ nghĩa học thì tục ngữ không phái chỉ là câu theo cách hiểu thông thường và nội dung của nó cũng không phái chí là phán đoán Có thể nhận định tục ngữ là câu-thông điệp nghệ thuật Khi tục ngữ là câu-thông điệp nghệ thuật, là cùng m ột lúc chúng ta đã chú ý đến hai đặc trimg bủn chất, không tách rời nhau của nó:
Ẩ ỉ ì/ ự ề / fU Ỉ* f f / t í t ? / /
— — —— ———— - - - { _ t _
1 4
Trang 20-ftết ft //tự ứ á /
— — — - — -— -— - - - - - - 1 2 _
M ột là, tục ngữ là câu, nhưng là loại câu đặc biệt, khác với mọi câu nói
thông thường ở tư cách của nó là làm thông điệp nghệ thuật.
Hai là, tục ngữ là thông điệp nghệ thuật nhưng là loại thông điệp nghệ
thuật đặc biệt, khác mọi thông điệp khác ở chỗ hình thức của nó chỉ là một
„ A 1 ”
c a u.
Từ hai đặc trưng bản chất này có thể thấy, tục ngữ là một chính thể có cấu trúc da diện Cho nên không chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt kia
trong nó Ví dụ: v ỏ q u ỷi d ày cú móng ĩay nhọn: vẻ mặt cấu trúc là gồm toàn
bộ những yếu tố ngôn ngữ khác nhau tạo nên tục ngữ, về cấu trúc văn học: sự hợp vần dày-tay, th ế đối thanh bằng dày và thanh trắc ở n h ọ n Cách tổ chức các yếu tố ngữ âm có thể coi là đặc biệt đó có tác dụng làm cho tục ngữ trở nên hài hoà, dễ đọc, dễ nhớ và diễn đạt được tốt hơn điều người ta cần nói: sự dối chọi giữa vỏ quýt dày và móng tay nhọn.
Theo cách phân tích ngữ pháp học thì “V ỏ qu ýt dày cố mỏng tay nhọn ” là một càu ghép liên hợp, được cấu tạo nhờ hai vế, m à mỗi vế đều có
cấu trúc “chủ-vị” Về m ặt ngữ pháp học ngữ nghĩa, câu vừa có những yếu tố iniêu tả vể nội d u n g hiện thực vừa có dụng ý thông báo
Trong cuốn “T ừ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ h ọ c” (40, tr329) các tác giả đã định nghĩa: Tục ngữ là “Câu ngắn gọn, có cấu Irúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức, tri thức của m ột dân tộc Khác với cách ngôn, tục ngữ không bao hàm ý nghĩa khuyên răn trực tiếp Ví dụ:
Thuốc đắn<ị d ã tật, V ống nước nhớ nguồn
2.2 Đ ặc điểm của tục ngữ
N hư vậy, từ các phân tích của các tác giả, có thể khái quát một số đặc điểm của tục n g ữ như sau:
2.2.1 V ê m ặ t cấu trúc: Tất cả các tục ngữ đẻu có cấu trúc ngữ pháp
của đơn vị câu.
a/ Tục ngừ có cấu trúc là một câu đơn: Ví dụ: Cố chí thì nên; Chín quá hoá nẫu
Trang 21
-15-_ -15-_ -15-_ -15-_ -15-_ -15-_ -15-_ -15-_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ < Ẩ ỉf tâ f t lU Ỉ ế t f / r a ? J Ĩ
b / Tục n g ữ có cấu trúc là một càu ghép: Ví dụ: R áng m ỡ gà thì gió, ráng
m ỡ chỏ thì m ưa; B iết tội dâu m à tránh, biết p h ú c đâu m à cầu
c / Tục ngữ so sánh: Ví dụ: Đ ắt cá còn hơn r ẻ thịt; M iếng ăn là m iếng nhục,
2.2.2 V ê m ặ t ý nghĩa: Tục ngữ đúc kết một quy luật, một kinh nghiệm,
một chân lý củ a cuộc sống hoặc nêu lên một bài học ở đời.
2.2.3 V ề m ặ t chức năng' Tục ngữ có chức năng thông báo.
2.2.4 V è m ậ t vận dụng: Tục ngừ có khả năng độc lập tạo thành câu.
3.Tiểu kết
Từ những phân tích trên đây có thể thấy, có ba khái niệm được các tác giả nhắc đến nhiều và tập trung chú ý phân tích về sự tương đồng, khác biệt là: thành ngữ, tục ngữ và cụm từ cố định Theo Đái X uân Ninh: Cụm từ cố định bao gồm cả thành ngữ lẫn tục ngữ.
Tuy nhiên, thành ngữ mặc dù có nhiéu nét tương đ ồ n g với tục ngữ (như tính bền vững, tính bóng bẩy về n g h ĩa ) nhưng lại khác tục ngữ về bản chất
Sự khác biệt ấy thể hiện ở chỗ: Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt” , biểu thị những khái niệm m ột cách bóng bảy còn iục ngữ là những câu ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật.
Cũng như các từ trong ngôn ngữ, íhành ngữ là những đơn vị có sẵn, xuất hiện dần dà từ nhiều thời điểm khác nhau và được sử dụng rộng rãi tự nhiên trong đời sống xã hội Các kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng các yếu tố tạo ncn thành ngữ vốn là những từ độc lập tức những đơn vị định
danh có nghĩa từ vựng và chức năng cú pháp ổn định kiểu: Đ ầu cua tai nheo, Được voi đ ò i tiê n Tuy vậy trong hệ thống thành ngữ củ a mỗi ngôn ngữ
cũng có những thành ngữ xét trên quan điểm đương đại k hông dễ dàng nhận biết được V nghĩa của các yếu tố Do đó, việc suy xét nghĩa thành ngữ cũng
như việc tìm kiếm nguồn gốc của nó trở nên khó khăn hơn Ví dụ: Đ ồ n ẹ khônỊỊ môni> q u ạ n h , K hôn sôhíỊ m ốnq chết
Mặt khác, quan hệ giữa các yếu tố trong thành ngữ xét vể cú pháp âm vận và ngữ nghĩa nói chung là rõ ràng, có quy luật Tuy nhiên cũng có khá
Trang 22
-16-< £ if ậ ề t f u b t / /tạ ế » J Ĩ
f - 2 nhiều trường hợp, các yếu tố tạo thành ngữ kết hợp với nhau không theo luật thường mà theo lối nói tắt, nói gộp hoặc theo cách kết hợp với nhau, cách so sánh lạ, bất ngờ khiến cho việc nhận biết nội dung toàn thành ngữ và xuất xứ
của nó trứ nên rất khó khăn Đó là những trường hợp như: T ai vách m ạch dừng, M ặt sứa gan lim , N ó i n h ư ông Bành tổ Ngoài ra việc tồn tại các biến
thể thành ngữ biểu đạt cùng một ý nghĩa hay biểu đạt các ý nghĩa , các sắc thái nghĩa khác nhau cũng gây khó khăn đáng kể cho việc luận giải thành ngữ và truy tìm xuất xứ của Ĩ1Ó Nhung nhò vào khảo sát những trường hợp phổ biến có quy luật ngữ nghĩa, cấu tạo của thành ngữ của các ngôn ngữ khác người ta cũng phát hiện ra các nguồn gốc chủ yếu phổ biến, tạo nên hệ thống thành ngữ của một ngôn ngữ.
Về tục ngữ, trong khi các ngữ cố định có tính chất tương đương với từ thì tục ngữ là những đơn vị tương đương với câu Trong khi nghĩa của ngữ cố định tương đương với nghiã của cụm từ (dù hình thức có tương đương với câu đi nữa) thì nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về một chân lý, m ột lý lẽ đối với m ột nền văn hoá nào đó, nghĩa
là một tư tưởng hoàn chỉnh Do đó thuộc phạm vi của từ vựng ngữ nghĩa học chí nên là các ngữ c ố định m à thôi Dĩ nhiôn cũng có trường hợp mà tục ngữ
được dùng như một ngữ c ố định, (ví dụ: Ăn c ỗ đ i trước lội nước đi sa u -là một
tục ngữ Và Hồ Chí M inh từng viết: “ Mỗi người phải ra sức góp công góp của
để xây dựng nước nhà C hớ nên “Ă n c ổ đi trước lội nước theo sau ” - n h ư vậy,
tục ngữ này đã được dùng như một cụm cô định.
Bên cạnh đó, cho đến hiện tại, chúng ta vẫn phải chấp nhận việc tồn tại những tranh cãi xung quanh m ột số đơn vị m à không biết đâu là thành ngữ đâu là tục ngữ C hẳng hạn, cùng một trường hợp có đến 3 cách hiểu khác
nhau: thành ngữ, tục ngữ, và cho là cả hai: Ví dụ: T re già m ăng m ọc, Lệnh ỏng không bằng cồng bà, số n g lâu lên lão làng, Đ ói cho sạch, rách cho thơm Trong cuốn Lịch sử văn học Việt N am -V ăn học dân gian, Chu Xuân
Diên cho rằng: “T hành ngữ là sản phẩm của cách nói ví von phổ biến trong nhân dàn Chính điều đó làm cho thành ngữ và tục ngữ tuy phân biệt nhau
V - I V q G Ả
Trang 23
-17-~ ¿ ! ffíh f íM Ì ể t f / t ế t r J Ĩ
nhưng cũng n h iều khi thâm nhập lẫn nhau vé thể loại, do đó, có những
trường hợp m ộ t thành ngữ nhất định cũng có thể được dùng như một câu tục
n g ữ ”
Đặc biệt, trong tiếng Việt có nhiều tục ngữ, phương ngôn và ngạn ngữ
có liên quan đ ến những thành ngữ và quán ngữ, chúng là những câu sẩn có
trong ngôn n g ữ được dùng đi dùng lại trong trao đổi tư tưởng cho nên chúng
đính dáng đến c ụ m từ c ố định Thực ra chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ
một nội dung đầy đủ chứ không cần có những thành phần cú pháp nào khác
cả Vé mặt tổ chức cũng nhu về m ặt ý nghĩa chúng là những đơn vị có sẵn
trong ngôn ngữ C húng có thể được coi là những đơn vị từ vựng học về một
khía cạnh nào đó Hơn nữa, chúng còn là cơ sở cho việc tạo những thành ngữ
và quán ngữ N hưng chúng khác những thành ngữ là ở chỗ chúng không
dùng để đặt câu, những thành ngữ chỉ một nội dung chưa đầy đủ và chỉ dùng
để làm thành phần của c â u
Q ua những vấn để trình bày trên đây có thể tìm thấy những sự tương
đồng và dị biệt giữa thành ngữ và tục ngữ:
/ S ự tư ơ n g đ ồ n g : Cả thành ngữ và tục ngữ đều là những đơn vị có
sẵn, có kết cấu chặt chẽ và ổn định, có tính bóng bẩy về nghĩa và được tái
hiộn trong giao tiếp.
Trang 24tứ Qua khảo sát những thành ngữ, tục ngữ xuất hiện trên báo Phụ nữ Việt Nam, chúng tôi tạm phân loại thành ngữ và tục ngữ theo hai dạng là: Thành Iigữ, tục ngữ được sử dụng nguyên dạng và thành ngữ và tục ngữ được sử cỉụng sáng tạo.
1 Cấu trúc của các thành ngữ trên báo Phụ nữ Việt Nam
l l T hành n g ữ được sử dụ n g ngu yên d ạ n g
Thành ngữ được sử dụng nguyên dạng là những thành ngữ khi sử dụng vẫn giữ nguyên thành phần và trật tự của các thành tố của “bản g ố c”
1.1.1 T hành n g ữ có cấu trúc là m ộ t dan h n gữ
Trong tiếng Việt khi dùng danh từ để giữ m ột chức vụ này hay một chức vụ khác ở trong câu, thường thường người ta còn hay đặt thêm vào bên cạnh nó một số thành tố phụ để cùng nó tạo thành đoán ngữ Loại đoản ngữ
có danh từ làm trung tâm như th ế gọi tắt là danh ngữ Trên đại thể, danh ngữ
có đặc điểm về tổ chức như sau: Bộ phận trung tâm do danh từ đảm nhiệm, chiếm vị trí nằm ngay giữa lòng đoản ngữ, các thành tô' phụ gọi chung là định
- _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ *& Ể M Ĩểi tư b t f/t/iế > J /
Trang 25tố, chia làm hai bộ phận: Một số được phân b ố trước trung tâm tạo thành phán đầu của đoản ngữ và một sô' nữa thi được phân b ố sau trung tâm tạo thành phần cuối của đoản ngữ Trong danh ngữ tiếng Việt không có loại định
tó nào có trật tự tự do, khi thì trước khi thì sau Ngoài ra, trong tiếng Việt giữa định tố ở đầu và định tố ở cuối danh ngữ có một số đặc điểm khác nhau:
Về từ loại: định tố đầu nhiều trường hựp đểu do những từ có nghĩa không chân thực đảm nhiệm , còn định tố cuối phần lớn do những từ có nghĩa chân thực; v ể tổ chức: định tố ở đầu tuyệt đại đa số trường hợp đéu dưới dạng của
m ộí từ, định tố cuối thường lại dễ dàng kèm theo thành tố phụ để phát triển thành đoản ngừ nhỏ Trong tiếng Việt khi định tố là một m ệnh đề, thì bao giờ
nó cũng là một định tô cuối.
T rung tâm danh n g ữ có thê bao gồm hai trung tâm T I và T2 (ví dụ:
Mội ảtìàn sinh viên K hoa văn/ Một anh sinh viên K hoa văn) TI là trung tâm
«chỉ vể đơn vị đo lường T2 là trung tâm chỉ về sự vật được đem ra đo lường
TI nêu chủng loại khái quát, T2 nêu sự vật cụ thể T I là trung tâm về m ặt mgữ pháp, T2 là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng Đứng về m ặt liên hệ với tthực tế m à xét, T2 có phần quan trọng hơn, nhưng đứng về mặt tìm hiểu quy
t ắ c ngôn ngữ m à xét thì T I lại có phần quan trọng hơn Với hai vị trí T I , T2,
b ộ phận trung tâm có thể xuất hiện dưới 3 biến dạng: dạng đầy đủ cả T1-T2 ( ví dụ: con chim (này); dạng thiếu TI (ví dụ: .c h im (này); dạng thiếu T2 ví clụ: con (này)).
Phần đầu của danh ngữ trong tiếng Việt, có cả ba loại thành tố phụ:
đ ị n h tố cái (ví dụ: cái cậu học sinh ấy); định tố chỉ số lượng (ví dụ: mấy cái
c:ậu học sinh ấy); định tố chỉ ý nghĩa toàn bộ (ví dụ: tất cả mấy cái cậu học Siinh ấy) Các nhóm định tố ở phần đầu đều có vị trí cố định, được sắp xếp
t;heo trật tự: định t ố c h ỉ toàn bộ - định t ố c h ỉ s ố lượng - cái - T ỉ - T 2 - p hản
c uối danh ngữ Tuy nhiên, các thành tố này không nhất thiết phải có mặt đầy
Trang 26-20-~ £ J /fừ ể ỉ / ư h t J Ĩ
— —— — — —————— - - - 2 _ t _
hay dùng có kèm thêm cả thành tô phụ của nó để thành lập một đoản ngữ nhỏ
(ví dụ: Một cuốn sách quý - Một cuốn sách rất quý , hoặc: Hoàn cảnh gia đình- Hoàn cảnh gia đình tỏi) Loại định tố do một m ệnh đề đảm nhiệm (ví
dụ: Cuốn sách tôi vừa m ua hôm qua/Hai bài thơ anh vừa ngâm xong) Trường hợp dùng từ hay từ đã phát triển thành đoản ngữ làm định tố cuối là trường hợp khá phong phú về mặt số lượng và khá đa dạng về kiểu loại Khi dùng mệnh đề làm định tố chúng ta thấy rằng: v ề m ặt cấu tạo, cũng có những nét giống như khi dùng danh từ làrn định lố N ghĩa là cũng có trường hợp mệnh
đề ghép liền với trung tâm, không thể chen quan hệ từ vào giữa chúng được
và cũng có trường hợp m ệnh đề có hai khả năng ghép với trung tâm: ghép có quan hệ từ và ghép không có quan hệ từ Nhưng đứng về mặt quan hệ ý nghĩa với trung tâm thì m ệnh đề định tố lại có những nét tương ứng với trường hợp động từ làm định tố (ví dụ: Các bác thợ m ộc (vai) đang vác cưa, cầm đục/Bức thư (của tôi) viết hôm nọ .)
T hành ngữ có cấu trúc là một danh ngữ trên báo Phụ nữ Việt Nam chiếm số lượng khá lớn: 143 lượt thành ngữ (chiếm 30% trong số các thành ngữ nguyên dạng) Tuy nhiên trong hành chức ngôn ngữ, các thành ngữ có cấu trúc là danh ngữ lại có thể giữ nhiều chức vụ khác nhau.
1.1.1.1 T h à n h n g ữ làm thành t ố p h ụ cho danh ngữ.
M ặc dù có cấu trúc là một danh ngữ song có k hông ít thành ngữ loại này lại giữ chức vụ làm thành tố phụ cho danh ngữ trong hành chức của nùnh.
V í dụ 1:
N hưng trong Ịúc nước sôi lửa bỏng này thôi thì Thiện là ai thì là, cốt là
người còn sống (N guyễn Hưng, tr8, số 46, ra 13/11/2000)
Trong ví dụ này, thành ngữ “nước sỏ i lửa bỏng” có nghĩa là: “được đặt
trong tình th ế hết sức nguy ngập, khẩn cấp với những tai hoạ lớn đang trực
tiếp đe doạ.” Khi sử dụng thành ngữ này tác giả đã đặt sau danh từ “lú c” với
chức năng làm định ngữ cho danh từ này N hư vậy sự kết hợp của danh từ lúc
2 1
Trang 27-^ / / / / / fu fri ỉ/t ự r / /
t _ _2 _
với thành n g ữ “nước sỏi lửa b ó n ịì' và từ “n à y ” (chuyên dùng để làm định tô
cuối ớ trong đanh ngữ) đã tạo thành danh ngữ: [Ú£ nước sôi lửa bỏng này.
Ví dụ 2:
Cái ch u y ên "môn đủng hộ đ ố i" một lần nữa lại gây tang thương cho
tình yêu đôi lứa (Q u ỳ n h Nguyên, số 37, tr7, ra 5/9/1994)
Xét trong ví dụ này, thành ngữ “ m ôn đăng hộ đ ố i” , từ “đăng đối” có nghĩa: Có sự tương xứng, sự cân xứng về mặt hình thức, bố cục trong nghệ thuật tạo hình Sử d ụ n g Irong trường hợp nay, từ “đăng đ ố i” đã được kết hợp với từ “m ôn h ộ ” (tức cửa nhà) theo cách câu tạo đối xứng của thành ngữ để tạo nên các danh ngữ “ môn đ ă n g ” (môn là danh từ trung tâm và đăng là từ phụ làm định n g ữ cho m ôn) và “hộ đối” {hộ là danh từ trung tâm, đối là từ
phụ cho hộ) Tuy nhiên, xét từ một cấu trúc lớn hơn, thành ngữ “ môn đăng hộ dối” lại làm định n g ữ cho từ “chuyện” , trong thành ngữ “Cái chuyện môn đătiịị liộ đối
1.1.1.2 Thành ngữ làm trung tàm của động ngữ
Theo lý thuyết vể động ngữ thì trung tâm của động ngữ thường là các dộng từ, tuy nhiên, khảo sát các thành ngữ xuất hiện trên báo Phụ nữ Việt Nam, luận văn nhận thấy có khá nhiểu thành ngữ có cấu trúc là một danh ngữ lại được dùng như m ột động từ trung tâm trong cấu trúc động ngữ.
Ví dụ 1:
Đ ã vậy cô còn “đầu m à \, cuối m ắ t” , chiều Toản hết mực Ngày qua
tháng lại, mối quan hệ của cô và Toản trở thành “già nhân ngãi non vợ
c h ồ n g ” (N guyễn Đ ình, tr 10, số 19, ra 5/8/1995).
Ớ ví dụ này, trong thành ngữ “đầu mày cuối m ắ t” có từ mày làm định
ngữ cho từ đầu (phân biệt ý nghĩa của từ đầu mày với đầu bút, đẩu dây ),
còn từ cuối làm định ngữ cho từ mắt Do đó, đây là một thành ngữ bao gồm
trong nó hai cấu trúc danh ngữ Bên cạnh đó, xét ý nghĩa từ “rỜAỉ” trong tiếng Việt, đày là m ột từ phụ có ý nghĩa biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn của hành động, trạng thái cho đến một lúc nào đó Trong cấu trúc của động ngữ, từ còn
Trang 28~£J/ỈỢ*Ỉ /MĨ*t S / t ự s á / - 1 _ 2
thuộc loại từ phụ đứng trước động từ trung tâm N hư vậy, trong trường hợp
nay, "còn đầu m à y cuối m ắt " là một động ngữ, trong đó thành ngữ “đầu m ày
cuối m ắt” đã được dùng như là một động từ trung tâm.
Ví dụ 2:
Trong các vận động viên, trong khi các vận động viên nam có thê kéo
dài tuổi thể thao bởi không phái "bụng m ang dạ chửa " thì với các vận động
viên nữ lại là ngược lại (Nguyên Anh, tr 13, số 21, ra 23/5/1994)
Trong tiếng Việt từ “không p h ả i” là một hư từ thường được d ùng làm
lừ phụ có nghĩa phủ định và đứng trước các động từ chỉ hành động trạng thái Như vậy trong trường hợp này, được dùng sau từ “không phải” , thành ngữ
“bụng m ang dạ c h ử a ” có cương vị như là trung tâm của động ngữ “không
n h á i bụ nạ m ang d ạ chửa
T heo N g u y ễ n Tài c ẩ n , động từ là một từ loại có khả năng kèm thêm
những thành tố phụ để phát triển thành đoản ngữ Ví dụ: (tay nó) lại cầm nhăm nhăm cái vỏ chai
Một động n g ữ g ồm 3 phần: phần trung tâm là m ột động từ, phần giữa
và cuối là các th àn h tố phụ Ở trung tâm động ngữ, riêng với các trường hợp
có các từ như :m uốn, cần, có thể (ví dụ: m uốn ăn cơm /có thể m ua đ ư ợ c ) cần có biện luận thêm Căn cứ vào thực tiễn ngôn ngữ là : Có rất nhiều trường
hợp trong động ngữ chỉ có một m ình những động từ : m uốn, có thể, cầ n
đứng làm trung tâm , bên cạnh chúng không có m ột động từ nào khác (ví dụ: không muốn, chưa có thể, đang cần lắm ) V à ở nhiêu trường hợp động từ sau
“m uốn ”, “cần ” có thể đem bỏ đi thay bằng một danh từ, một đại từ, m ột tính
từ hay một m ệnh đề m à vần giữ nguyên mối quan hệ như trước (ví dụ: cần ngủ - cần gì/ m uốn ngủ - m uốn gì ) Hiện tượng này càng làm cho chúng ta
có thèm cơ sở để tin rằng trong tiếng Việt, các từ như: m uốn, có thể, c ầ n đúng là những từ có khả năng làm trung tâm và những động từ sau từ
“m uốn ”, “có t h ể ”, “cẩn ” là những từ ở cương vị phụ Điếu này cho chúng ta
Trang 29kết luận được rằng, vị trí trung tâm của động ngữ là vị trí của từ loại động từ Tất cả mọi đ ộ n g từ không trừ bỏ một kiểu động từ nào đều có thô dùng ở vị trí này: động từ chỉ tác động có phư(ĩng hướng cũng như động từ chỉ tác động không có phương hướng, động từ chỉ sự việc có khả nâng kết thúc cũng như dộng từ chỉ sự việc không có khả năng kết thúc, động từ có khả năng dùng độc lập cũng như động từ không có khả năng dùng độc lập
Phần đầu động ngữ thường là những từ phụ cho động từ m à luôn đứng
trước động tù như: đã, S C, đang, hãy, chớ, dừng Còn với phần cuối của động ngữ, xét về m ặt m ặt ý nghĩa thành tố phụ ở phán cuối của động ngữ có thể
chia ra thành nhiều kiểu loại, nhưng xét về mặt hình thức tổ chức dùng để diễn đạt các ý nghĩa đó, chúng ta có thể có 2 khả năng: khả năng diễn đạt bằng một từ, m ột ngữ, và khả năng diễn đạt bằng một m ệnh đề Kết hợp hai mặt nội dung ý nghĩa và hình thức diễn đạt kể trên ta có hai loại phần cuối của động ngữ: loại có ý nghĩa chỉ diễn đạt được bằng từ và đoản ngữ (ví dụ:
àn cơm); loại có ý nghĩa có thể diễn đạt được bằng cả m ệnh đề, bằng cả từ và đoản ngữ T h àn h tố phụ của hai loại này đều có đủ cả hai kiểu m à ta quen gọi
là bổ tố và trạng tố của động từ Trong những trường hợp như: ăn cơm / đi Hà Nội/ chạy vào/ vay của bạn /(tôi) biết rằng anh ấy sẽ không đến thành tố
phụ sau động từ thuộc loại b ổ tố Đ ây là những thành tố phụ dùng để bổ sung
những chi tiết chuyên m ôn cần thiết cho những n hóm động từ nhất định Ý nghĩa thành tố phụ ở đây là ý nghĩa bị chi phối bởi nghĩa khái quát của nhóm động từ trung tâm Trái lại trong những trường hợp như: ngủ trưa/ học 4 giờ/ ngói ở ghế/ăn bằng đũa/hỏng vì bài khó quá thành tố phụ sau động từ là
trạng tố Đây đều là những thành tố phụ bổ sung những chi tiết chung cho rất
nhiều nhóm đ ộng từ khác nhau Nói chung ý nghĩa của thành tố phụ có thể suy ra được từ bản thân thành tố phụ không bị chi phối bởi ý nghĩa khái quát của động từ trước đó.
Trên Báo Phụ nữ Việt Nam (từ 1985-2005) có 227 lượt thành ngữ có Cíĩu trúc là đ ộ n g ngừ (chiếm 48% trong tổng số các thành ngữ nguyên dạng) Các thành ngữ này thường được dùng như một động từ trung tâm của động
Trang 30
-24-ngừ, song cũng có nhiều trường hợp, các thành ngữ có cấu trúc là một động ngữ được dùng như thành tố phụ các động từ trung tâm trong động ngữ
ỉ 1.2 J T h à n h ng ữ làm trung tâm của cíộnịỊ ngữ
Ví dụ 1:
Lẽ ra khi sóng gió, vợ chồng anh T hành chị Loan nên “chung lung đấu c ậ t ” chèo chống con tnuyén gia đình thì ắt có ngày thuyền rẽ vào khúc
sông êm (Thanh Hương, tr9, số 13, ra ngày 23/6/2001)
Trong càu trên, thành ngữ “chung lưng d ấu c ậ t ” có “ch u n g ” và “đấu”
là các động từ, còn “ lưng” và “cật” là các thành phần bổ sung ý nghĩa cho hai động từ này trong thành ngữ Tuy nhiên cả thành ngữ lại làm trung tâm
cho một động ngữ lớn là “nên chung liửig đấu cật ”
Ví dụ 2:
Còn kẻ gây tội ác thì đã “cao ch ạ y xa b a y ” trốn biệt cho dù các nhà
chức trách đang ra công tìm kiếm (Kiều Minh, trró, số 12, ra 20/3/1995)
Trong ví dụ này, nếu tạm thời không xét đến sự phi logic về mặt ý nghĩa của các kết hợp “cao-chạy” và “ xa-bay” (do đây là một cách cấu tạo của thành ngữ được chứng minh về mặt phổ biến) thì về mặt cấu trúc, thành
ngữ có hai động từ là ch ạ y và bay và hai từ phụ bổ sung ý nghĩa cho hai động
từ này là cao và x a (tuy trật tự của hai từ cao và xa đứng trước hai động từ
Iihưng đây chỉ là cách nói thành ngữ, còn về m ặt tri nhận chúng vẫn phải theo những quy luật tri nhận ngôn ngữ thông thường: chạy xa, bay cao.) Do vậy,
về mặt cấu trúc, thành ngữ sẽ có cấu trúc của động ngữ Trước thành ngữ này, phó từ “đã” là m ột hư từ được dùng trước động từ, có nghĩa biểu thị sự việc, hiện tượng nói đến xảy ra trước một thời điểm nào đó được xem là mốc trong
quá khứ hoặc tương lai Như vậy, trong cấu trúc động ngữ “đ ã cao chạy xa bay ”, thành ngữ “ cao chạy xa b ay ” đã đóng vai trò của một động từ trung
tâm.
1.1.2.2 T h à n h n g ữ làm thành tô'phụ chơ động n ẹữ
Trang 31T rong số các thành ngữ xuất hiện trên báo Phụ nữ Việt Nam, có nhiều
th àn h ngữ m ặc dù cớ cấu trúc động ngữ nhưng lại đóng vai trò là thành phần phụ, bổ sung ý nghĩa cho một động từ.
V í dụ 1:
Triều đình bị phân hoá giữa những người m uốn m ở cửa và những
người m uốn “b ể quan toả cảng” (P.L (dịch), tr 6, số 10, ra ngày 24/1/1994)
T rong câu này, thành ngữ : “bê quan toả c ả n g ” là bổ tố cho "m u ô n ”,
xét trong m ột cấu írúc lớn hơn ‘ những người muốn "b ế q u a n ttìả cả n g ” thì
th àn h n g ữ này đã được sử dụng như một thành phần phụ của danh ngữ, nó có
n h iệm vụ làm rõ nội dung cho danh từ “người” Đặc biệt, do đây là một danh
từ c ó nội h àm hẹp và ngoại diên rộng, nên phần phụ này là phần phụ không thể thiếu được của danh ngữ.
V í dụ 2:
Ôi, ch u y ện đó có thể sẽ không bao giờ xảy ra nếu những người con
d â u của bà Linh biết “kính trên nhường dưới” và thương yêu cha mẹ (Quỳnh
N g uyên, tr8, số 22, ra 26/5/94).
T h eo N guyễn Tài c ẩ n , trong những động ngữ có từ biết, muốn, cần
nhữ ng từ này sẽ g iữ vị trí trung tâm của động ngữ Tuy nhiên, “biết” là một
đ ộ n g từ k h ô n g độc lập, sau động từ này, buộc phải có các từ phụ để làm rõ
ng h ĩa cho đ ộ n g từ này Do vậy, trong động ngữ: “biết kính trên nhường 'dưới” , rõ ràng, thành ngữ “kính trên nhường dưới” đã được dùng như một
1 thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho động từ trung tâm “biết”
1.1.2.3 Thành ngữ là thành tô'phụ của danh ngữ
Có một điều khá thú vị m à luận văn nhận thấy trong quá trình khảo sát
<các thành n g ữ xuất hiện trên báo Phụ nữ Việt N am là có những thành ngữ có
(quan trọng trong các danh ngữ.
Ví dụ 1:
2 6
Trang 32-Ẩ ^ ỉ/ậ ề ỉ t ư ĩ s t / / i t ỉ í ' J Ĩ
Đấy là cách dạy cho anh một bài học để anh nhớ đời mà bỏ đi cái thói
“thượng cẳng chân, hạ cẳng ta y" (Thư tâm sự, trio, số 24, ra ngày 13/6/1994)
Trong ví dụ này, thành ngữ "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” có nghĩa
là đ á n h túi bụi, tàn ác, đấm đá không tiếc tay Thành ngữ này giữ vai trò làm định ngữ, làm rõ nghĩa cho danh từ “cái th ó i” và nhìn từ cấu trúc lớn hơn, thành ngữ đã làm thành phần phụ cho danh ngữ: '‘"cái thối thượng chẳng chân, hạ càng ta y ”.
Ví dụ 2:
Dù cho cuộc sống gia đình sau lẩn kết hôn thứ nhất không trọn vẹn vì bất k ỹ nguyên nhân gì thì cùng với tình cảm là yếu tố không thể thiếu, lần kết hôn thứ hai người ta bình tâm suy nghĩ thấu đáo mọi điều, trước sau nhất là khi đ ố i tượng cũng cùng cảnh ngỏ “đí(t gánh giữa đư ờ n g ” như mình (Thư
tâm sự, tr9, số 3, ra ngày 17/1/2000).
ơ trong ví dụ này, dù có cấu trúc là động ngữ nhưng thành ngữ “đứt gánh giữ đ ườ ng” đã được dùng như một phần phụ của danh ngữ “cảnh ngộ ílúl gánh giữa đường ”, nó có tác dụng bổ sung, làm rõ và cụ thể hoá ý nghĩa
c ho d a n h từ “cảnh ngộ”.
1.1.3 Thành ngừ có cấu trúc là tính ngữ
Trong cuốn “N g ữ pháp tiếng Việt (từ loại)” , tác giả Đinh Văn Đức đã viết: “Tính từ là từ loại thực từ, ý nghĩa của tính từ có quan hệ với nội dung phan ánh thực tại (tính chất, đặc điểm, m àu s ắ c ) ” bởi vậy cũng như với danh từ, động từ, ở tính từ trong ngôn ngữ này cũng tự nhiên hình thành một vài ý nghĩa ngữ pháp kèm theo nảy sinh từ mối quan hệ giữa các khái niệm Điểu đó cho phép trong tiếng Việt tính từ tiếp nhận những thành phần phụ quây quần chung quanh nó, bổ sung cho nó các chi tiết, lập thành đoản ngữ
do tính từ làm trung tâm, gọi tắt là tính ngữ” (10, tr 184-185).
Theo tác giả Đinh Văn Đức, “đoản ngừ tính từ cũng có cấu trúc theo nguyên tắc thành tố chính đứng ở trung tâm, do tính từ đám nhận, chung
Trang 33Ẩ b /ậ ề t (M iT ềt f/ụ tế > á ĩ
quanh tính từ, phía trước và phía sau có các thành tô phụ trong cấu trúc động
Tính ngữ chịu ánh hưởng từ bản chất ngữ pháp của thành tô trung tâm,
v ụ thể là phụ thuộc vào các liêu ỉoại tính từ.
Về các thành tô phụ cua tinh từ thì phần lớn các thành tố phụ đứng trước của động ngữ đều có thể làm thành tố phụ đứng trước của tính ngữ
ngoại trừ nhóm từ phụ với ý nghĩa mệnh lệnh, khuyên bảo (đừììg, chớ, hãy )
- Chỉ mức độ: đ ẹp quá, xấu lắm, nhanh lắm
- Chỉ so sánh: tốt hơn, xấu nhất, đẹp bằng, đẹp n h ư tiên, xấu n h ư ma
- Chỉ số lượng: cao 5 mét, dài 7 phân
- Chỉ thời gian: chậm m ộ t giờ, nhanh 5 phút
- Chỉ trạng thái: g ầy đi, đẹp ra, hẹp lại, béo lên
N hóm các từ phụ “ra, lên, đi , l ạ i ” khi hết kết hợp với tính từ không
chỉ hướng như khi kết hợp với động từ m à chỉ ra các kết quả diễn biến của đặc trung.
Còn với loại thành tô phụ chỉ sự so sánh có một nhóm nhỏ gồm “nhất, hơn, b ằ n g ” có thể gọi là cấp so sánh của tính từ nhưng ngoài nhóm này còn
có thể dùng một số thành tố phụ khác như: tu yệt trần, vô cùng, ghê Ví dụ:
D ẹp tuyệt trần, tốt vô c ù n g , hay ghê (N guyễn Anh Quế, 29, tr 106).
Trang 34Tìm hiểu trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt, chúng ta thấy có khá
n h iê u thành n g ữ có cấu trúc của một tính ngữ, đặc biệt là các thành ngữ chỉ
s,ự so sánh C hẳng hạn: bẩn như húi, đẹp như tiên, đẹp như tranh, nhanh như
c ắ t , nhanh n h ư chớp, nhanh như gió, nhát n h ư cá y, nhát n h ư thỏ đế, nhạt n h ư
HI ước ốc, vui như hội, xanh như tàu lá, to như voi Có một điểu đáng chú ý là
t.i ường hựp các thành ngữ gồm hai vế như: dại mồm dại miệng, gần đất xa
ỉ,rời, to gan lớn m ật thì thực chất mỗi vế là một tính ngữ.
Trén báo Phụ nữ Việt Nam những thành ngữ có cấu trúc là tính ngữ
đtược sử dụng k hông nhiều : 62 lượt, chiếm 13% trong tổng số các thành ngữ
niguyên dạng Tuy nhiên, các thành ngữ này cũng được sử dụng khá phong
p>hú.
1.1.3.1 Thành ngữ làm trung tâm của tính ngữ:
Do có cấu trúc củ a các tính ngữ nên các thành ngữ có cấu trúc tính ngữ
th ư ờ n g được sử d ụ n g như một tính từ trung tâm trong các tính ngữ.
V í dụ:
Bỏ lại b ố g ià đã “gần đất xa trời ”, bỏ lại hai em thơ để sang Đức,
Blùng thật không yên tâm (N guyễn Đình, trio, số 24, ra ngày 13/6/1994)
Ở ví dụ trên có thành ngữ "gần đất xa tr ờ i” có nghĩa là “ già yếu lắm
r ò i , không còn sống được bao lâu nữa” T hành ngữ này có cấu trúc là tính
n Ịg ữ (chính xác là trong thành phần cấu tạo gồm hai tính ngữ là “gần đất” và
“:xa trời” ) T uy nhiên, nếu nói một cách ngắn gọn thì thành ngữ này có thể
điược thay th ế bằng m ột tính từ là “già y ếu ” V à vì có thể được dùng như một
tíinh từ nên thành ngữ này hoàn toàn có khả năng đứng sau phụ từ “đ ã ” để
tạio thành một tính ngữ lớn hơn: “đ ã gần đ ấ t xa trời ”, trong đó " đ ã ’’ là thành
tê) phụ đứng trước trung tâm và “gần đất xa tr ờ i” đứng ở vị trí trung tâm của
tíinh ngữ (là trung tâm củ a tính ngữ).
ỉ 1.3.2 Thành ngữ làm thành tô phụ của danh ngữ
C ũng giống như các thành ngữ có cấu trúc động ngữ, nhiều thành ngữ
c ó Cấu trúc tính ngữ cũng giữ các vai trò là thành tố phụ trong danh ngữ.
r Ẩ !//íĩ* f f U í tt f / t / t ? á f
~ ™ — — — — - — — — — - — - - — -i _ f _
Trang 35
-29-Ví dụ 1:
Rồi bố m ẹ họ có tội tình gì mà họ cũng nỡ đẩy họ vào cảnh “gần đất
x a trờ i" mà vẫn còn phải đi nuôi “con đỏ” như thế (Nguyễn Đình Chúc,
t r i o, sô' 12, ra 20/3/1995).
Ớ câu này, thành ngữ "gần đất xa trời ” đứng sau danh từ “cảnh ” với
c hức năng làm định ngữ cho danh từ này N hư vậy, thành ngữ “gán đất xa t;rời” (có cấu trúc là tính ngữ) đã kết hợp với danh từ “c ản h ” để tạo ra một dlanh ngữ là “cánh gần đ ấ t xa trời ”, trong đó “c ả n h ” là danh từ trung tâm còn g’ần đất xa trời là thành tố phụ đứng sau trung tâm, có tác dụng bổ sung, làm
r õ ý nghĩa cho trung tâm.
V í dụ 2:
“Tức nước vỡ b ờ ” , bé Thảo bỏ nhà chạy trốn vào cái m iền đất “lạ nước
hạ cái ” này (Q uỳnh N guyên, tr 6, số 35, ra 29/8/1994)
Ở ví dụ này, thành ngữ “lạ nước lạ cá i” có nghĩa: xa lạ, bỡ ngỡ chưa
qiuen m ọi thứ vì mới ở nơi khác đến, nó được dùng làm định ngữ, bổ sung Iltghĩa cho danh từ “ m iền đ ất” Như vậy, kết hợp với các từ “miên đ ấ t’ và
“ này” , thành n g ữ “ lạ nước lạ cái” trở thành m ột bộ phận (thành tố phụ) trong
rrnỌt cấu trúc lớn hơn là danh ngữ: “m iên đất lạ nước lạ cái này (trong đó
“ miền đ ấ t” là danh từ trung tâm).
c;ả tin”, trong đó, 44 (bốn mươi bốn) là thành phần phụ chỉ số lượng đứng
tr ước danh từ trung tâm, người là danh từ trung tâm và thành ngữ “nhẹ dạ cả
tim” là thành tố phụ đứng sau danh từ trung tâm của danh ngữ này.
Trang 36
-30-Ẩ ? ffế fo t f u b f / / t ợ /» J /
' — - - - - — - — - - - - t t _
trong hành chức các thành ngữ này được sử dụng rất linh hoạt Chẳng hạn,
D ây cũng là một minh chứng cho quy luật của “ngôn ngữ”, cái có hạn mang
tí nh bất biến và lời nói, cái vô hạn và luôn có nhiều biến thể Bcn cạnh đó,
k háo sát các thành ngữ xuất hiện trên báo Phụ nữ Việt Nam, luận văn cũng
n hận thấy, có nhiều thành ngữ có cùng một cấu trúc nhưng lại tham gia vào trong các '‘cấu ìrúc lớn hơn” với nhiều vai trò khác nhau Chẳng hạn, ihành
n gữ “gần đất xa tròi” như có thể giữ vai trò trung tàm tính ngữ trong “đã gần
điất xa trời” và giữ vai trò thành tố phụ của danh ngữ “cảnh gần đất xa ư ờ i”
(v í dụ đã xét, mục 1.1.3.1 )
1.2 T h à n h n gữ được sử d ụ n g sá n g tạo
Thành ngữ được sử dụng sáng tạo ở đây là những thành ngữ được phát triển từ thành ngữ gốc nhờ thêm từ, thay đổi trật tự, thay đổi một số thành tố hioạc dùng một phần của thành ngữ để tạo nghĩa Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng, nhà văn hoá lớn của dân tộc ciũrìg đã sử dụng thành ngữ sáng tạo như một cách tiếp cận và truyền đạt thông tin hiệu quả nhất Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng thành ngữ, Nlgười có thể thêm, bớt các thành tố của thành ngữ để cho thành ngữ ấy thoát khỏi những sự ràng buộc, cố định cố hữu để có “cuộc sống” riêng, sống
c<ó câu: “tai nghe mắt thấy” thì Người vận dụng thành : "Nhìn thấy tận mắt, tv<ghe thấy tận ta i ” Đặc biệt, nhờ những sự sáng tạo của Người, nghĩa của thiành ngữ trở nên tinh tế hơn, chính xác hơn và cũng hiện đại hơn Ví dụ:
s i u ố i ” , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng nguyên vẹn cả thành ngữ “ăn gió nằm
ciủa họ: “Trong ba ngày tết đồng bào ai cũng đoàn tụ xum vầy xung quanh
3 1
Trang 37-những binh hoa, mâm bánh, còn các bạn thì chịu ăn gió nằm mưa lạnh lùng ớ
c hỏn sa trường” Hoặc một trường hợp khác, mọi người vẫn dùng thành ngữ
“'dè dầu cưỡi c ổ ” nhưng Chu tịch Hồ Chí Minh lại thấy nói như vậy chưa đủ đliễn tả sự thống trị tàn bạo của bọn đế quốc, thực dân, nên Người đã đổi
tlhành ngữ này thành “cưỡi đầu cưỡi cổ": “Thời k ỳ đế quốc M ỹ tự d o cưỡi
ứỉấu cưỡi c ổ họ đã qua rồi” Như vậy, việc vận dụng sáng tạo thành ngữ k.hông chỉ mang lại diện mạo mới cho thành ngữ mà còn giúp người viết diễn đỉạt hiệu quả nhát ý tưởng của mình.
Kháo sát trên báo Phụ nữ Việt Nam, luận văn thấy có 105 lượt thành nigữ được sử dụng sáng tạo (chiếm 18% trong tổng số các thành ngữ được
k háo sát), với nhiều cách sáng tạo rất phong phú.
1.2.1 Thay đổi vị trí của các thành tô
Tiếng Việt vốn là ngôn ngữ đơn lập, phạm trù trật tự từ trong tiếng
V iệt là một phạm trù quan trọng Khi thay đổi trật tự từ trong các câu sẽ dẫn đíến thay đổi ý nghĩa của câu hoặc có thể biến câu đó thành một câu vô nghĩa
v ì “không thể hiểu được”, không thể chấp nhận được Chẳng hạn, chúng ta có thìé nói “ T ô i ăn cơrrĩ’’ chứ không thể thay đổi thành “Cơm ăn tô i” Điều này c:àng trở nên khắt khe hơn với thành ngữ, vốn là những đơn vị "có sẩn" và đã điược "cố định hoá" thành một khối vững chắc, ổn định theo thời gian Tuy mhiên, trên báo Phụ nữ Việt Nam các thành ngữ khi vận dụng trong câu nói, điược người sử dụng thay đổi trật tự các thành tố, mang lại sự mới mẻ trong c;ách dùng thành ngữ.
V í dụ 1:
“Vốn là một kẻ tò mò, tôi đã bỏ thời gian ra đi tìm hiểu nội tình vì đâu g:ia đình anh L.v lại “s ẻ nghé tan đ à n ” để tìm ra kinh nghiệm cho bản thân”
(1LỎ Liên, tr8, số 38, ra ngày 10/9/2001).
Trong vốn thành ngữ tiếng Việt đã có thành ngữ: “S ẻ đàn tan n gh é”!
S i ẩ y dàn tan nghé, có nghĩa: Cảnh chia lìa, tan nát của một gia đình trước tai hioạ hất ngờ Tuy nhiên, ở ví dụ trên, thành ngữ này đã được thay đổi trật tự thiành “s ẻ nghé tan đàn ” Mặc dù vậy, việc thay đổi trật tự vị trí của từ “đàn”
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ Ẩ ỉể ià ề t f W f t f / t a / > J f
3 2
Trang 38-Ẩ^//ếb/ /ỉ/ìềt / / t ự / 3 á ĩ
— — - — — — — — -— - - — - r i
và từ “nghé” trong câu này chỉ có ý nghĩa làm thay đổi một chút về mặt hài
âm, tạo “màu sắc” mới cho thành ngữ, còn ngữ nghĩa cúa câu thành ngữ này
vẫn không hề thay đổi, và hởi vậy, người nghe cũng sẽ dễ dàng chấp nhận
trong sô các thành ngữ kháo sát trên báo Phụ nữ Việt Nam, thành ngữ “biến
của các tác giả khác nhau, chứng tỏ “biến thể” có thể đã được chấp nhận như
là một thành ngữ gốc.
Ví dụ 2:
anh chàng đến trồng cây si trước cổng (Lê Ngọc Đỉnh, tr8, số 3, ra ngày
17/1/1994).
Ở trong ví dụ này, các thành tố của thành ngữ “hương trời sắc nước” đã
được thay đổi vị trí dựa trên vị trí “gốc” là : “Sắc nước hương trời”, có nghĩa
người con gái có sắc đẹp tuyệt vời hiếm có trên đời.
Như vậy, việc thay đổi trật tự các thành tố của các thành ngữ có thể
được lý giải là do nghĩa của thành ngữ được hình thành trên một nghĩa chung
cỏ tính “trừu tượng”, khái quát từ nghĩa của các thành tố Hơn nữa các thành
ngữ thường có bốn từ đi theo hai cặp, những cặp từ này được liên hệ chung
bưi sợi dây “biểu trưng ý nghĩa”, do vậy khi thay đổi vị trí các thành tố trong
thành ngữ, nghĩa của thành ngữ không thay đổi, chỉ có diện mạo và ý nghĩa
dụng học của thành ngữ trở nên phong phú hơn mà thôi.
1.2.2 Thay thê thành tố của thành ngữ nguyên dạng
Xét về một phương diện nào đó, thành ngữ cũng giống như tục ngữ, ca
dao là những sản phẩm của văn hoá dân gian Thành ngữ được hình thành,
vận dụng trong quá trình nói năng của nhân dân và trước khi được ghi chcp
dưới dạng văn tự thì thành ngữ đã tồn tại dưới dạng truyền miệng Đây là lý
thuộc từng ngữ cảnh cụ thể và cách vận dụng thành ngữ của từng cá thể.
Ví dụ 1:
Trang 39Trong thành ngữ tiếng Việt đã có thành ngữ : “Đâm năm chém bảy"
hết người này đến người khác ‘kNói thì đâm năm chém mười-Đến bữa tối trời
chảng dám ra sán”, song, trên báo Phụ nữ Viẹt Nam lại có: “đâm thuê chém
câu thành ngữ gốc để tạo một “thành ngữ mới” nói về cách sống, cách hành động của một nhóm người mang tính côn đồ Cách sáng tạo từ một cấu trúc
có sẩn và phổ biến khiến cho câu nói mang tính gần gũi hơn với công chúng Hơn nữa “cách nói thành ngữ” là cách nói có tính khái quát cao, việc sáng tạo thành ngữ như vậy sẽ tạo nên độ sâu, tăng tác dụng nhấn mạnh cho ý tưởng của người viết.
Đặc biệt, trong một số trường hợp, để phục vụ cho mục đích thông tin của mình người nói có thể thay đổi thành tố của thành ngữ để tạo nên một
“ngữ” mới, có khả năng biểu đạt cao và sâu sắc cho bài viết.
Ví dụ 2:
Lan khéo léo thu xếp thời gian để có thể vừa học vừa làm, thật là
“nhất cử lưỡng lợi” (Hà Lan, tr 7, số 12, ra ngày 20/3/2000).
lại làm được nhiều việc Như vậy, mặc dù ngữ mới được tạo ra dựa trên cấu
tứ của thành ngữ cũ không “mang tính thành ngữ” giống như “đâm thuê chém mướn” ở ví dụ 1 nhưng lại tạo nên một diện mạo mới cho thành ngữ, đổng thời khiến cho cách diễn đạt của tác giả trở nên sinh động hưn.
Ví dụ 3:
Trang 40
-34-Cầm tiền của các cụ thì ngượng thật đấy nhưng biết làm sao được khi trong túi mình “nhẵn như con chi chi” (Đặng Lân, trl 1, số 44, ra ngày 1/10/1994).
Trong trường hợp này, ngữ “nhân như con chi c h i” thực chất đưực phát sinh từ thành ngữ gốc: “Nhũn như cơn chi c h i”, có nghĩa thái độ quá mểm yếu, chịu nhun nhường do sợ sột hoặc bị lcp vế trước người khác Việc thay dổi tính từ "nhũn" thành "nhẵn" của người viết đã khiến thành ngữ thay đổi hoan loàn về ý nghĩa Tuy nhiên, nhờ giữ được kẽt cấu của thành ngữ và cách nói vần vè nên việc vận dụng sáng tạo thành ngữ này đã giúp cho câu ván uyển chuyên và tạo được điểm nhấn.
V í d ụ 4 :
Diên, tr7, số 18, ra ngày 1/5/1995)
Trong thành ngữ tiếng Việt đã có thành ngữ “Trông m ặt mà bắt hình
mặt đặt tên/ Xem mặt mà bắt hình dong, có nghĩa: Nhìn bể ngoài mà đoán được tính nết Tuy nhiên, trong ví dụ này, người viết lại có một ngữ mới với việc thay đổi thành ngữ gốc thành “nhìn mặl mà bắt hình dong” Thực tế, để diễn tả hành động quan sát bằng mắt và nhận biết sự vật, hiện tượng, trong tiếng Việt có một trường nghĩa như: trông, coi, xem, nhìn Tuy vậy, mỗi từ nằm trong trường từ này lại có những nét nghĩa riêng biệt như: "Nhìn" có nghĩa: xem xét để thấy, để biết được Ví dụ : "Nhìn ra sự thật" hay "Nhìn rõ trắng đen"/ "Trông" có nghĩa là : nhìn để nhận biết Ví dụ: "Trông thấy tận
mắt" hay "Đứng núi này trông núi nọ" /C oi và xem có nghĩa là: nhận biết bằng mắt Ví dụ: "Đi coi hát"/"Xem phong cảnh", "xem kịch" Như vậy so sanh các từ đồng nghĩa trong trường nghĩa này ta thấy rõ ràng từ "nhìn" ở
đ à y mang nghĩa sát hon, diễn tả chính xác hơn hành động "tim hiểu bản chất" mà người viết đang hướng tới.
Đặc biệt, do trong tiếng Việt có một số lượng rất lớn từ Hán Việt, nhất
là lớp từ Hán Việt xâm nhập vào Việt Nam vào thời Đường nên đã tạo ra một
Ẩ ^ /i/b i f U f f t f / t a r J f