Tuy thán từ không chiếm vị trí quan trọng trong từ pháp hay cú pháp như phần lớn các thực từ và hư từ, cũng không có tác dụng tích cực trong việc phân loại câu như ngữ khí từ, nhưng xé
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ THU LAN
ĐẶC ĐIỂM CỦA THÁN TỪ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VÀ VIỆC
CHUYỂN DỊCH CHÚNG SANG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu
Mã số: 62 22 01 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS NGUYỄN VĂN KHANG
Hà Nội, 2013
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và dẫn chứng nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực và không trùng với bất
cứ công trình nào
Tác giả luận án
Đỗ Thu Lan
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6 Bố cục của luận án
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Vấn đề phân chia từ loa ̣i trong tiếng Hán
1.1.1 Phân chia từ loa ̣i trong ngôn ngữ ho ̣c đa ̣i cương
1.1.2 Phân chia từ loa ̣i trong tiếng Hán
1.2 Vấn đề thán từ trong tiếng Hán
1.2.1 Một số quan niệm về thán từ
1.2.2 Quan niệm về thán từ trong tiếng Hán
1.2.3 Nhận xét các quan niê ̣m về thán từ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t
1.3 Quan niệm của luâ ̣n án về thán từ tiếng Hán
1.3.1 Quan niệm của luận án về thán từ
1.3.2 Danh sách thán từ trong tiếng Hán và tiếng Việt
1.4 Tiểu kết chương 1
1 4 4 5 6 7 9 9 10 13 13 16 32 34 35 35 54 Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA THÁN TỪ TIẾNG HÁN 2.1 Đặc điểm ngữ âm - ngữ nghĩa của thán từ tiếng Hán
2.1.1 Đặc điểm ngữ âm của thán từ tiếng Hán
2.1.2 Mối liên hệ giữa đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa của thán từ tiếng Hán
2.1.3 Mối liên hệ giữa ngữ âm và văn tự củ a thán từ tiếng Hán………… …
2.2 Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của thán từ tiếng Hán………
56
56
70
71
73
Trang 52.2.1 Một số đặc điểm về từ vựng - ngữ nghĩa của thán từ tiếng Hán
2.2.2 Mối liên hệ giữa ngữ cảnh giao tiếp và ý nghĩa biểu thị của thán từ
tiếng Hán
2.3 Đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của thán từ tiếng Hán………
2.3.1 Đặc điểm ngữ pháp của thán từ tiếng Hán
2.3.2 Mối liên hệ giữa vị trí cú pháp và ngữ nghĩa của thán từ tiếng Hán……
2.4 Đặc điểm sử dụng của thán từ tiếng Hán………
2.4.1 Đặc điểm sử dụng thán từ tiếng Hán xét theo phân tầng xã hội
2.4.2 Đặc điểm sử dụng thán từ tiếng Hán xét theo bối cảnh giao tiếp
2.4.3 Vai trò của thán từ tiếng Hán trong giao tiếp
2.5 Tiểu kết chương 2
73 81 85 85 91 106 106 122 128 134 Chương 3: PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH THÁN TỪ TIẾNG HÁN SANG TIẾNG VIỆT 3.1 Một số vấn đề liên quan đến lý thuyết dịch
3.1.1 Một số khái niệm
3.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ đối chiếu với lý luận và thực tiễn dịch thuật 3.2 Đặc điểm chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt
3.3 Khảo sát cách dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt
3.3.1 Giới thiệu tư liệu khảo sát
3.3.2 Kết quả khảo sát và nhận xét
3.4 Một số lưu ý và gợi ý khi chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt 3.4.1 Các yếu tố cần chú ý khi chuyển dịch thán từ tiếng Hán
3.4.2 Lưu ý về viê ̣c sử du ̣n g âm Hán - Viê ̣t khi chuyển dịch thán từ tiếng Hán
3.4.3 Lưu ý khi sử dụng phần giải nghĩa thán từ tiếng Hán trong từ điển Hán - Việt
3.4.4 Gợi ý cách dịch thán từ tiếng Hán dựa vào ngữ nghĩa của thán từ
3.5 Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN
138 138 141 142 142 142 146 168 168 169 170 178 179 181 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC I
PHỤ LỤC II
PHỤ LỤC III
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
1 Bảng 1.1:Bảng kết quả khảo sát sự khác biệt về đối tượng sử dụn g giư ̃a
từ tượng thanh và thán từ
2 Bảng 1.2:Bảng thống kê ca ́ c tên gọi khác nhau có liên quan đến thán từ
trong các giáo trình ngữ pháp tiếng Viê ̣t
3 Bảng 1.3:Bảng thống kê danh sa ́ ch thán từ trong S ổ tay hư từ tiếng Hán (NXB Đa ̣i học Bắc Kinh, năm 2005)
4 Bảng 1.4:Bảng thống kê danh sa ́ ch thán từ trong T ừ điển hư từ (NXB Ngữ văn Trung Quốc, năm 2007)
5 Bảng 1.5:Bảng thống kê danh sách thán từ trong Từ điển tiếng Hán (Nhà
in Thương Vụ, năm 2009)
6 Bảng 1.6:Danh sa ́ ch thán từ thông dụng trong tiếng Hán
7 Bảng 1.7:Danh sa ́ ch thán từ tiếng Hán sử dụng trong luận án
8 Bảng 1.8:Bảng thống kê danh sách thán từ trong T ừ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, năm 2000)
9 Bảng 1.9:Bảng thống kê danh sách thán từ trong T ừ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học, NXB Đà Nẵng, năm 2008)
10 Bảng 1.10:Bảng thống kê danh sách thán t ừ trong Từ điển giải thích hư
từ tiếng Việt (Hoàng Trọng Phiến, NXB tri Thức, năm 2008)
11 Bảng 1.11:Bảng thống k ê danh sa ́ ch thán t ừ trong T ừ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, năm 2003)
12 Bảng 2.1:Bảng tổng hợp ca ́ c âm tiết của thán từ tiếng Hán phổ thông
13 Bảng 2.2:Hình thức chú âm đặc biệt của một số thán từ tiếng Hán
14 Bảng 2.3:Phần biểu âm của một số thán từ tiếng Hán
15 Bảng 2.4:Bảng đối chiếu các nhóm thán từ tương ứng về mặt ngữ nghĩa trong tiếng Hán và tiếng Việt (dựa trên tư liệu trong từ điển)
16 Bảng 2.5:Bảng thống kê tần suất xuất hiện của thán từ dựa theo đặc điểm
19 Bảng 2.8: Bảng thống kê số lượng thán từ phân bố theo vị trí cú pháp
20 Bảng 2.9:Bảng thống kê tình hình sử dụng các thán từ mới nổi trong giao tiếp giữa học sinh trung học và sinh viên đại học với giáo viên
21 Bảng 2.10: Bảng thống kê số liệu khảo sát đặc điểm sử dụng thán từ của Cao Ngạn Mai
22 Bảng 2.11: Bảng thống kê tần suất sử dụng thán từ của hai giới nam và
nữ trong hai bộ phim 全城热恋 và 神奇侠侣
23 Bảng 2.12: Bảng thống kê tần suất sử dụng thán từ của hai giới nam và
nữ trong 5 tác phẩm văn học Trung Quốc
24 Bảng 2.13:Bảng thống kê số lượng thán từ mà hai giới nam và nữ sử
Trang 8dụng theo từng cung bậc cảm xúc khác nhau
25 Bảng 2.14:Bảng thống kê tần suất sử dụng một số thán từ thường dùng của hai giới nam và nữ trong cuộc sống hàng ngày
26 Bảng 2.15:Bảng thống kê tần suất sử dụng thán từ của hai giới nam và
nữ trong 2 tác phẩm “Một nửa đàn ông là đàn bà” và “ Búp bê Bắc Kinh”
28 Bảng 3.2:Khảo sát tần xuất xuất hiện của thán từ tiếng Hán trong phim
“Nhất Nhất - tiến lên” và cách chuyển dịch chúng trong bản thuyết minh tiếng Việt
29 Bảng 3.3:Bảng thống kê những thán từ tiếng Hán được sử dụng với tần suất cao trong các tác phẩm
30 Bảng 3.4:Bảng thống kê tần suất sử dụng thán từ哦 trong các tác phẩm
31 Bảng 3.5: Bảng thống kê tần suất xuất hiện của câu có thán từ tiếng Hán trong các tác phẩm
32 Bảng 3.6:Bảng so sánh tỷ lệ giữa số lượng thán từ được sử dụng để chuyển dịch trong văn bản tiếng Việt với số lượng thán từ trong văn bản gốc tiếng Hán
33 Bảng 3.7:Bảng thống kê tần suất sử dụng các phương thức chuyển dịch trong các tác phẩm
34 Bảng 3.8:Bảng liệt kê âm Ha ́ n Viê ̣t của các thán từ tiếng Hán
35 Bảng 3.9:Bảng thống kê các cách chuyển dịch thán từ 哼 sang tiếng Việt trong các bản dịch
36 Bảng 3.10:Bảng thống kê các cách chuyển dịch thán từ哦 sang tiếng Việt trong các bản dịch
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
1 Biểu đồ 2.1:Biểu đồ thanh điệu tiếng Hán
2 Biểu đồ 2.2:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ嗨, trong câu “嗨,谁告
6 Biểu đồ 2.6:Biểu đồ thanh điệu tiếng Việt
7 Biểu đồ 2.7:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “A”, trong câu: “A! Mẹ đã về!
8 Biểu đồ 2.8:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “Ứ ”, trong câu: “Ứ, con không đi đâu!”
9 Biểu đồ 2.9:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “Hừ”, trong câu: “Thế mà chịu được à? Hừ!”
10 Biểu đồ 2.10a:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ 噢 (1), trong câu: “噢!
13 Biểu đồ 2.11a:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “Ôi”(1), trong câu:
“Ôi! Tổ quốc giang sơn hùng vĩ.Đất nước anh hùng của thế kỉ hai mươi”
14 Biểu đồ 2.11b:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “Ôi”(2), trong câu:
“Ôi! Tổ quốc giang sơn hùng vĩ.Đất nước anh hùng của thế kỉ hai mươi”
15 Biểu đồ 2.11c:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “Ôi”(3), trong câu:
“Ôi! Tổ quốc giang sơn hùng vĩ.Đất nước anh hùng của thế kỉ hai mươi”
16 Biểu đồ 2.12:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ 啊, trong câu: “啊,刮
Trang 1022 Biểu đồ 2.18:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “ha”, trong câu “Ha! thích quá!”
23 Biểu đồ 2.19:Biểu đồ thông số Pitch của thán từ “ơ”, trong câu “Ơ! anh
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ buổi sơ khai, khi năng lực ngôn ngữ của con người còn chưa phát triển hoàn thiện, những lúc xúc động, ngườ i ta đã biết phát ra những âm thanh biểu thị sự vui mừng, tức giận, đau buồn, Chính những tín hiệu cảm xúc đó là tiền thân của thán từ
Xét về mặt lịch đại, thán từ là một lớp từ từ lâu đã được giới ngôn ngữ học chú
ý, cho là thuộc lớp từ đầu tiên của nhân loại Về mặt đồng đại, thán từ là một từ loại
có nhiều đặc điểm thú vị cả về nội dung ý nghĩa, cả về mặt hoạt động ngôn ngữ, nói chung, và hoạt động ngữ pháp, nói riêng [6, tr 325]
Tuy thán từ không chiếm vị trí quan trọng trong từ pháp hay cú pháp như phần lớn các thực từ và hư từ, cũng không có tác dụng tích cực trong việc phân loại câu như ngữ khí từ, nhưng xét về khả năng biểu đạt tình cảm, thì chúng có những vai trò
mà không một từ loại hay phương thức biểu thị nào có thể thay thế [96, tr 146]
Ý thức được tầm quan trọng của thán từ trong hệ thống ngôn ngữ, những nghiên cứu về thán từ đã được giới ngôn ngữ học của Trung Quốc và Việt Nam chú ý
từ rất s ớm Trong cuốn Mã thị văn thông - cuốn sách ngữ pháp đầu tiên của Trung
Quốc, xuất bản năm 1898, thán tự (thán từ) được coi là một hiện tượng ngữ pháp và được trình bày thành một phần riêng [142] Ở Việt Nam, vào khoảng những năm 1940,
vấn đề tán thán tự (thán từ) cũng được các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm
Duy Khiêm [42] đề cập đến trong cuốn sách tiếng Việt về văn phạm
Mặc dù vậy, so với các từ loại khác trong cùng hệ thống ngôn ngữ, những nghiên cứu về thán từ không chỉ ít hơn về số lượng mà còn nhỏ hơn cả về quy mô Vì lẽ đó, đã có lúc, người ta cho rằng, lớp từ này lâu nay bị lý luận ngôn ngữ bỏ qua, hay,
đó là ―một từ loại phổ quát nhưng bị quên lãng‖ (Ameka, 1992) [dẫn theo 82]
Cho đến nay, những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực thán từ của Trung Quốc
đa phần nằm rải rác trong một số bài viết, tài liệu giảng dạy, giáo trình ngữ pháp, từ điển hư từ và một số ít các luận văn, luận án Các nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở các nội dung sau:
a Giới định phạm vi của thán từ tiếng Hán hiện đại
Các tranh luận chủ yếu tập trung vào việc phân biệt thán từ với ngữ khí từ và
từ tượng thanh Một số học giả cho rằng, thán từ và ngữ khí từ là một (Hồ Minh Dương, Phòng Ngọc Thanh) [115, 100], một số học giả khác thì cho rằng, thán từ và
từ tượng thanh thuộc cùng một loại (Đinh Thanh Thụ, Lã Thúc Tương, Chu Đức Hy) [94, 140] Liên quan đến vấn đề này, còn có không ít học giả đưa ra quan điểm của riêng mình, đa số cho rằng, thán từ, ngữ khí từ và từ tượng thanh có sự khác nhau rất
rõ rệt, cần phải phân ra thành từng loại riêng biệt
b Quy loại thán từ tiếng Hán hiện đại
Liên quan đến việc quy loại cho thán từ, hiện có nhiều ý kiến lý giải khác nhau,
có thể tổng hợp thành 4 quan điểm là:
1) Thán từ thuộc nhóm thực từ (Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông, Thiệu Kính Mẫn, Lưu Đan Thanh, ) [111, 147, 128 ];
Trang 122) Thán từ thuộc nhóm hư từ (Mã Kiến Trung, Cao Danh Khải, Hồ Dụ Thụ, Hình Phúc Nghĩa và Uông Quốc Thắng, ) [142, 102, 116, 164];
3) Thán từ là một loại từ đặc biệt (Hình Công Uyển, Lưu Nguyệt Hoa, Trương Bân ) [165, 135, 182];
4) Thán từ thuộc loại từ không thể kết hợp (Quách Nhuệ, Tiêu Á Lệ) [182, 160]
c Đặc điểm ngữ âm của thán từ tiếng Hán hiện đại
Các giáo trình về ngữ pháp của Triệu Nguyên Nhiệm [85], Hồ Minh Dương, và các bài viết của Từ Thế Vinh [167], Lưu Ninh Sinh [132], Quách Nhuệ [105], Tạ Nhân Hữu [162] đều có đề cập đến đặc điểm ngữ âm của thán từ tiếng Hán hiện đại Nhìn chung, các tác giả này đều thống nhất ý kiến là, ngữ âm của thán từ tiếng Hán hiện đại mang tính đặc thù, có nhiều khác biệt so với đặc điểm ngữ âm của các từ loại khác trong cùng hệ thống ngôn ngữ
d Phân loại thán từ tiếng Hán hiện đại
Liên quan đến việc phân loại thán từ tiếng Hán hiện đại dựa trên ý nghĩa biểu thị, mỗi tác giả có một cách triển khai khác nhau, có tác giả dựa trực tiếp vào sắc thái tình cảm mà thán từ biểu thị để chia thán từ thành một số loại lớn (Lê Cẩm Hy) [127];
có tác giả lại chia thán từ thành 2 loại lớn là thán từ biểu thị tình cảm và thán từ gọi đáp, sau đó lại chia tiếp loại thứ nhất thành các nhóm nhỏ hơn (Lã Thúc Tương)
f Nghiên cứu đối chiếu thán từ tiếng Hán với thán từ trong các ngôn ngữ khác Hiện nay, đã có một số nghiên cứu đối chiếu thán từ trong tiếng Hán hiện đại với thán từ trong các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Nhật và tiếng
Inđônêxia Trong đó, tiêu biểu là luận văn Phân tích đối chiếu thán từ tiếng Hán và
thán từ tiếng Nga của tác giả Nadya [145], các bài viết đối chiếu thán từ tiếng Hán với
thán từ tiếng Anh của Lưu Toàn Phúc [133], Vu Quế Bột [178], Hà Chiếm Nghĩa [107], Chu Tiểu Linh [195], Đặng San [192] Ngoài ra, còn có các bài viết đối chiếu thán từ tiếng Hán với thán từ tiếng Inđônêxia của Ngô Hiểu Ba [158], đối chiếu thán
từ tiếng Hán với thán từ tiếng Nhật của Lưu Nguyên Mãn [134]
Ở Việt Nam, theo khảo sát của chúng tôi, cho đến nay, các công trình nghiên
cứu chuyên sâu có liên quan đến thán từ, mới chỉ có luận văn thạc sĩ Cảm từ trong
tiếng Việt hiện đại và một số dạng thức tương đương trong tiếng Anh của Phạm Thị
Hương Lan [47], và luận án tiến sĩ Câu cảm thán trong tiếng Việt của Nguyễn Thị
Hồng Ngọc [57] Tuy nhiên, luận văn của Phạm Thị Hương Lan mới chỉ dừng ở việc nhận diện, phân loại, phân tích chức năng, cách sử dụng của một số cảm từ tiếng Việt
Trang 13và đối chiếu với các dạng thức tương đương trong tiếng Anh, còn luận án của Nguyễn Thị Hồng Ngọc cũng chỉ có một phần bàn sơ lược về vấn đề thán từ tiếng Việt
Nhận thấy, cả ở Trung Quốc và Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên sâu, mang tính hệ thống về thán từ tiếng Hán hiện đại không nhiều, đặc biệt, từ trước đến nay, chưa có một đề tài nào liên quan đến nội dung chuyển di ̣ch thán từ tiếng Hán
hiện đại sang tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài Đặc điểm của thán từ tiếng
Hán hiện đại và việc chuyển dịch chúng sang tiếng Việt với mong muốn sẽ có thể góp
thêm một phần tư liệu nghiên cứu vào lĩnh vực này
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là:
- Thông qua khảo sát đă ̣c điểm của thán từ tiếng Hán hiê ̣n đa ̣i, góp phần vào nghiên cứu lý luâ ̣n về từ loa ̣i nói chung và vấn đề thán từ trong ngôn ngữ ho ̣c đa ̣i cương nói riêng Đồng thời, chỉ ra những quan niệm về thán từ trong từng ngôn ngữ
cụ thể
- Trên cơ sở nghiên cứu thán từ tiếng Hán hiện đại và việc chuyển dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Viê ̣t, luâ ̣n án góp phần vào viê ̣c nghiên cứu các đă ̣c điểm riêng của thán từ trong mỗi ngôn ngữ
Xuất phát từ những mục đích này, chúng tôi xác định nhiệm vụ của luận án như sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết có liên quan đến thán từ Xác định khái niệm thán từ sử dụng trong luận án và xác định danh sách thán từ tiếng Hán
- Khảo sát đặc điểm của thán từ tiếng Hán hiện đại trên các bình diện ngữ âm - ngữ nghĩa, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp - ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng
- Khảo sát các cách dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt trong một
số tác phẩm văn học và điện ảnh Trên cơ sở những kết quả khảo sát, tiến hành phân tích, tổng hợp các phương thức chuyển dịch, chỉ ra một số điểm cần lưu ý và gợi ý khi chuyển dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt
3 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như miêu tả, thống
kê và khảo sát trường hợp Cụ thể là, trên cơ sở tâ ̣p hơ ̣p mô ̣t số lươ ̣ng lớn ngữ liê ̣u các câu có chứa thán từ tiếng Hán và tiếng Việt, luận án phân loa ̣i các nhóm thán từ có
đă ̣c tính tương đồng, sau đó tiến hành miêu tả, làm rõ các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa và cách sử du ̣ng Dựa vào đó, rút ra những nhận xét mang tính tổng hợp Thủ pháp thống kê và khảo sát trường hợp được sử dụng trong luận án
để kiểm nghiệm một số giả thiết đã có sẵn hoặc rút ra kết luận từ các kết quả thu được Thủ pháp này đươ ̣c sử du ̣ng trong quá trình nghiên cứu để cung cấp số liê ̣u , lâ ̣p các bảng phân bố về tần số xuất hiê ̣n của các hiê ̣n tượng, xếp loa ̣i mô ̣t cách khách quan đối với các biến thể của các hiê ̣n tượng Đối với những bảng số liệu phức tạp, chúng tôi kết hợp hình thức minh họa bằng biểu đồ nhằm đa ̣t đươ ̣c hiê ̣u quả mô ̣t cách hình tươ ̣ng, rõ ràng và dễ hiểu
Luâ ̣n án sử du ̣ng phương pháp của ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i là điều tra xã hô ̣i ho ̣c
có định hướng đối với các đối tượng ngẫu nhiên Số liê ̣u thu được sau đó được xử lý theo phương pháp đi ̣nh tính và đi ̣nh lượng nhằm khẳng đi ̣nh xu hướng được ưu tiên sử du ̣ng, đề xuất hoặc lý giải vấn đề
Luận án sử dụng phương pháp đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa thán từ tiếng Hán hiện đại và thán từ tiếng Việt hiện đa ̣i Trong pha ̣m vi
Trang 14của đề tài này, chúng tôi coi tiếng Hán hiện đại là ngôn ngữ đối tượng, tiếng Việt hiện đại là ngôn ngữ phương tiện Đối chiếu thán từ tiếng Hán hiện đại với thán từ tiếng Viê ̣t hiê ̣n đa ̣i để làm nổi bật các đă ̣c điểm của thán từ tiếng Hán hiê ̣n đa ̣i và làm cơ sở cho việc chuyển dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt hiện đại
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu và khảo sát của luận án là các thán từ tiếng Hán hiện đại (sau đây gọi tắt là thán từ tiếng Hán), các thán từ tiếng Việt hiện đa ̣i (sau đây gọi tắt là thán từ tiếng Việt) và các phương thức chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt
Các thán từ tiếng Hán cổ đại, thán từ tiếng Hán trong các phương ngữ và các thán từ tiếng Hán thứ cấp không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án này Chúng tôi chỉ đề cập đến những thán từ này ở một số trường hợp cần thiết để làm sáng tỏ vấn đề
Nguồn tư liệu nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 6 phần:
- Tài liệu viết gồm: một số tác phẩm văn học, kịch bằng nguyên bản tiếng Hán và bản dịch sang tiếng Việt tương ứng
- Tài liệu nói gồm: file mp3 phim truyền hình Trung Quốc bằng nguyên bản tiếng Hán
và file mp3 phim truyền hình Trung Quốc có thuyết minh bằng tiếng Việt
- Phiếu điều tra trực tiếp từ giảng viên, sinh viên, học sinh Trung Quốc (sống tại Trung Quốc và tại Việt Nam)
- Kho ngữ liệu: kho ngữ liệu của trường Đại học Bắc Kinh - Trung Quốc và kho ngữ liệu của trung tâm từ điển học (Vietlex) - Việt Nam
- Các cuốn từ điển:
+ Tự điển các chữ Hán cổ thường dùng (古汉语常用字字典), Bắc Kinh, năm 1998 + Tư ̀ điển tiếng Hán hiê ̣n đại (现代汉语词典), Bắc Kinh, năm 2009
+ Tư ̀ điển hư từ tiếng Hán hiê ̣n đại (现代汉语虚词词典), Chu Cảnh Tùng, năm 2007
+ Tư ̀ điển hư từ tiếng Hán hiê ̣n đại (现代汉语虚词词典), Hầu Ho ̣c Triê ̣u, năm 1998
+ Tư ̀ điển Hán – Viê ̣t, Phan Văn Các chủ biên, năm 2008
+ Tư ̀ điển tiếng Viê ̣t, Hoàng Phê chủ biên, năm 2000
+ Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt, Hoàng Trọng Phiến, năm 2008
- Các ngữ liệu ghi lại qua quan sát thực tế và qua khảo sát trực tiếp ta ̣i một số diễn đàn trên mạng internet của Trung Quốc và Việt Nam
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu, khảo sát một cách tương đối đầy đủ và hệ thống về thán từ tiếng Hán trên các bình diện ngữ âm - ngữ nghĩa, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp - ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa thán từ tiếng Hán và thán từ tiếng Việt, góp phần vào viê ̣c nghiên cứu thán từ nói riêng và nghiên cứu từ loa ̣i nói chung
Thán từ tiếng Hán vốn rất mơ hồ và khó nắm bắt khiến cho việc dịch thán từ thường gặp rất nhiều khó khăn, những lưu ý và gợi ý về các về cách dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt sẽ giúp cho việc chuyển dịch thán từ dễ dàng và chính xác hơn Các khảo sát và đề xuất liên quan đến việc dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt của luận án cũng có những đóng góp nhất định vào lĩnh vực lý luận cũng như thực tiễn dịch thuật
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc giảng dạy, học tập tiếng Hán và tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ Hiểu thấu đáo các
Trang 15đặc điểm về ngữ âm - ngữ nghĩa, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp - ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng của thán từ tiếng Hán sẽ giúp người dạy cũng như người học tự tin hơn khi vận dụng thán từ, tránh được các sai sót và hiểu nhầm khi giao tiếp bằng ngoại ngữ
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luâ ̣n, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 3 chương:
- Chương 1 : Cơ sở lý thuyết
Trong chương này, trên cơ sở phân chia từ loa ̣i của ngôn ngữ ho ̣c đa ̣i cương, luâ ̣n án hê ̣ thống hoá và phân tích việc phân chia từ loa ̣i trong tiếng Hán, có liên hệ với tiếng Viê ̣t Theo đó, luâ ̣n án tiến hành hê ̣ thống hoá và phân tích quan niê ̣m về thán từ trong tiếng Hán, có liên hệ với các quan niệm về thán từ trong tiếng Việt Sau
đó, đề xuất quan niệm của luận án về thán từ và đưa ra một danh sách thán từ tiếng Hán và một danh sách thán từ tiếng Viê ̣t
- Chương 2: Đặc điểm của thán từ tiếng Hán
Luận án nghiên cứu, khảo sát một cách toàn diện, hệ thống về thán từ tiếng Hán trên các phương diện ngữ âm - ngữ nghĩa, ngữ pháp - ngữ nghĩa, từ vựng - ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa thán từ tiếng Hán và thán từ tiếng Việt
- Chương 3: Phương thức chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt
Trên cơ sở của lý thuyết đối di ̣ch, luâ ̣n án tiến hành khảo sát cách di ̣ch các thán từ tiếng Hán sang tiếng Viê ̣t theo phương pháp nghiên cứu trường hợp (khảo sát một số tác phẩm cu ̣ thể) Kết hợp với các kết quả nghiên cứu ở chương 2, luận án chỉ ra một số điểm cần lưu ý và một số gợi ý trong quá trình dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt, đồng thời cung cấp một bảng gợi ý cách chuyển dịch 18 nhóm thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt, có lưu ý đến đặc điểm ngữ điệu
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Vấn đề phân chia tư ̀ loa ̣i trong tiếng Hán
1.1.1 Phân chia tư ̀ loại trong ngôn ngữ học đại cương
Phân loại từ là một phần quan trọng trong phân tích ngữ pháp Tuy nhiên, đối với vấn đề này, mỗi nhà ngữ pháp học lại có một cách nhìn nhận khác nhau Trong lịch sử phân định từ loại, có thể kể ra một số quan điểm có ảnh hưởng lớn, xuất phát
từ ngôn ngữ học Âu - Mỹ rồi lan ra các nước khác như sau:
Thứ nhất, phân chia từ loại dựa trên tiêu chí ý nghĩa khái quát của từ Đây từng được coi là là quan điểm kinh điển trong nhiều thế kỉ, kéo dài đến tận thế kỉ XIX Khởi đầu là các triết gia Hi Lạp như Protagoros, Cratyle, Platon
Thứ hai, phân chia từ loại dựa trên tiêu chí hình thức ngữ pháp (đặc điểm hình thái học) của từ Tiêu biểu là nhà ngôn ngữ học Nga F.F Fortunatov
Thứ ba, phân chia từ loại dựa trên tiêu chí khả năng kết hợp (khả năng phân bố) của nó trong câu, đặc biệt là trong ngữ Tiêu biểu là trường phái ngôn ngữ học miêu tả
Mỹ (Bloomfield, E Sapir, M.B Emeneau)
Thứ tư, phân chia từ loại dựa trên các tiêu chí từ vựng – ngữ pháp, tức là
những lớp từ được phân chia ra trong một ngôn ngữ dựa trên ý nghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của nó Trong đó, ý nghĩa khái quát của từ là ý nghĩa ngữ pháp tự thân, thường trực như: ý nghĩa sự vật, ý nghĩa trạng thái, ý nghĩa tính chất, ý nghĩa số lượng, ý nghĩa quan hệ, ý nghĩa tình thái, Còn đặc điểm hoạt động ngữ pháp của từ bao gồm đặc điểm hình thái học và đặc điểm cú pháp học Đặc điểm hình thái học là một căn cứ rất quan trọng để phân loại từ trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, Đặc điểm cú pháp học là đặc điểm của từ về khả năng kết hợp và chức năng cú pháp Trong các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Hán, tiếng Việt, đặc điểm cú pháp học là một chỗ dựa rất quan trọng để xác định các từ loại [21, tr 258 - 259]
―Không phải tất cả các ngôn ngữ cùng có những từ loại như nhau Một số từ loại như vị từ, danh từ dường như ngôn ngữ nào cũng có Một số từ loại khác như tính
từ, trạng từ có thể có trong một số ngôn ngữ này mà không có trong một số ngôn ngữ khác Trên cơ sở truyền thống Latin, người ta thường xác định các từ loại như: danh
từ (noun), đại từ (pronoun), tính từ (adjective), vị từ (verb), trạng từ (adverb), giới từ (preposition), liên từ (conjunction), quán từ (article) và thán từ (interjection) Ngoài ra, còn có một số phạm trù mới được đưa vào ngôn ngữ học như: tiểu từ (particle), trợ vị
từ (auxiliary), đại ngữ (pro-form), hệ từ (copula) ‖ [21, tr 259 - 260]
1.1.2 Phân chia tư ̀ loại trong tiếng Hán
1.1.2.1 Một số nhà ngôn ngữ học đồng tình với quan điểm xác định tiêu chí phân định từ loại là hình thức ngữ pháp của từ và cho rằng, những ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái như tiếng Hán, tiếng Việt không thể phân chia từ loại một cách chính xác
Trong tiếng Hán, tiêu biểu là nhận định của Mã Kiến Trung ―Tự vô định nghĩa,
cố vô định loại ‖(vì từ không có nghĩa cố định nên cũng không có từ loa ̣i cố định)
[142] Lã Thúc Tương trong cuốn Khái lược ngữ pháp Trung Quốc cũng cho rằng: về
mặt hình thức không thể phân biệt được từ loại trong tiếng Hán [141]
Trang 17Trong tiếng Viê ̣t, các ho ̣c giả Grammont, Lê Quang Trinh, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê cũng phủ nhận sự tồn tại của từ loại, ―bở i theo họ tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn với các ngôn ngữ phuơng Tây - từ không biến đổi hình thái, nên
không có ‗từ loại‘ ‖ [dẫn theo 13]
1.1.2.2 Tuy nhiên, nhận định như vậy là chưa xác đáng, vì ―từ loại không thể không tồn tại trong ngôn ngữ‖ ―Bởi lẽ, hễ là từ được vận dụng vào câu thì nhất thiết
nó phải thể hiện ra những đặc điểm hoặc cương vị tạo câu của nó Những đặc điểm hoặc cương vị ấy chính là những tiêu chí để phân định từ loại, mặc dù các hình thức thể hiện của nó trong từng ngôn ngữ có thể rất khác nhau.‖ [50, tr 62 - 63] Đa số các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự có mặt của phạm trù từ loại trong tiếng Hán và tiếng Việt,mặc dù, tiêu chí và kết quả phân định từ loại của họ không hoàn toàn giống nhau Có thể chia ra 3 trường hợp sau:
a Phân loại từ dựa vào ý nghĩa khái quát
Mặc dù cho rằng dựa vào mặt hình thức không thể phân biệt được từ loại trong tiếng Hán nhưng Lã Thúc Tương chủ trương dựa vào ―ý nghĩa và tác dụng tương cận
để quy từ về một loại…‖ Lã Thúc Tương chia từ trong tiếng Hán thành hai loại chính
là thực từ và từ phụ trợ: thực từ ―là những từ có ý nghĩa tương đối thực tại‖, từ phụ trợ
là ―những từ có ý nghĩa tương đối trừu tượng, nhưng có thể phụ trợ cho thực từ biểu đạt suy nghĩ của chúng ta‖ [141] Có thể thấy, Lã Thúc Tương chủ yếu dựa vào tiêu chí ý nghĩa để phân biệt từ loại Vương Lực cũng là một trong những tác giả tiêu biểu
của Trung Quốc sử dụng tiêu chí ý nghĩa để phân loại từ Cuốn Ngữ pháp hiện đại
Trung quốc (1943) của ông chỉ rõ ―phân loại từ trong tiếng Hán gần như toàn bộ chỉ
có thể dựa vào mặt ý nghĩa Có nghĩa là, từ có thể phân làm hai loại: loại thứ nhất là thực từ, ý nghĩa của chúng rất cụ thể, đó là những từ chỉ sự vật, con số, hình thái, động tác…; loại thứ hai là hư từ, ý nghĩa của chúng rất linh hoạt, khi đứng độc lập chúng hầu như không mang nghĩa, tuy nhiên chúng lại thể hiện ý nghĩa ngữ pháp trong câu.‖ [152] Qua đó, có thể thấy, tiêu chí ý nghĩa của Vương Lực hàm chứa hai nội dung hoàn toàn khác nhau: ý nghĩa khái niệm đối với thực từ và ý nghĩa ngữ pháp đối với hư từ
Trong tiếng Việt, các học giả Trương Vĩnh Ký , Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân cũng chủ trương phân định từ loại tiếng Việt dựa vào tiêu chuẩn ý nghĩa Theo đó, từ tiếng Việt được phân chia thành hai nhóm lớn là thực từ (biểu hiện ý nghĩa từ vựng) và hư từ (biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp), mỗi nhóm bao gồm nhiều từ loại khác nhau, mà ―mỗi loại trong các từ ngữ ấy đều có ý nghĩa riêng biệt, không thể lẫn lộn …‖ và ―muốn sắp một từ ngữ thuộc về loại nào (…) cần phải biết rõ ý nghĩa của nó‖ (Bùi Đức Tịnh 1952: 274) [dẫn theo 13]
b Phân loại từ dựa vào chức năng ngữ pháp
Cuốn Tiếng Hán hiện đại do Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông [111] nhận định
như sau về vấn đề phân loại từ: Từ loại là phân loại từ về mặt ngữ pháp Tiêu chí để phân loại từ là đặc trưng về mặt ngữ pháp, mà chủ yếu là chức năng ngữ pháp của từ Cuốn sách này còn chỉ ra rằng: "chức năng ngữ pháp của từ một mặt biểu hiện ở khả năng có thể làm thành phần câu hay không …từ có thể làm thành phần câu gọi là thực từ; một loại từ khác không làm được thành phần câu, chỉ có thể bổ trợ cho thực từ tạo câu, biểu thị ý nghĩa ngữ pháp… những từ như vậy gọi là hư từ‖ [111, tr 312] Chức năng ngữ pháp của thực từ biểu hiện ở khả năng kết hợp giữa từ với từ, đặc điểm ngữ
Trang 18pháp của hư từ biểu hiện ở mối liên hệ giữa nó với đoản ngữ và thực từ Dựa vào tiêu chí phân loại này, các tác giả phân định từ loại tiếng Hán thành 14 loại:
- Thực từ (10 loại): danh từ, động từ, tính từ, khu biệt từ, số từ, lượng từ, phó từ, đại
từ, từ tượng thanh, thán từ
- Hư từ (4 loại): giới từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ
Trong cuốn Tiếng Hán hiện đại, Hồ Dụ Thụ viết về vấn đề phân loại từ như
sau: "nó chỉ các cách biểu hiện trong kết cấu ngôn ngữ của từ, mục đích của việc phân loại từ về mặt ngữ pháp là để chỉ rõ quan hệ kết cấu với các thành phần khác của từ, thuyết minh quy luật tổ hợp của ngôn ngữ, do vậy, căn cứ cơ bản để phân loại từ là chức năng ngữ pháp‖ [116, tr 284] Hồ Dụ Thụ chia từ thành 13 loại:
- Thực từ (7 loại): Danh từ, động từ, tính từ, số từ, lượng từ, phó từ, đại từ
- Hư từ (6 loại): Giới từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ, thán từ, từ tượng thanh
Trong tiếng Việt, các giả Phan Khôi, Lê Văn Lý, Emeneau, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Phú Phong, Lưu Vân Lăng cũng tiến hành phân định từ loại dựa vào đặc điểm ngữ pháp của từ, cụ thể là dựa vào chức vụ cú pháp và/hoặc khả năng kết hợp
c Phân loại từ dựa trên tiêu chí từ vựng - ngữ pháp
Tuy biện pháp phân loại cụ thể không hoàn toàn giống nhau nhưng khá nhiều nhà nghiên cứu thực hiện phân loại từ dựa trên tiêu chí từ vựng - ngữ pháp
Trương Tĩnh [187] trong cuốn Tiếng Hán hiện đại tân biên lấy tiêu chí phân
loại từ là sự kết hợp giữa đặc điểm ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp Ông chủ trương ―căn cứ phân loại từ phải là các đặc điểm ngữ pháp có thể đối lập lẫn nhau của
từ Đặc điểm ngữ pháp ở đây chính là đặc điểm của sự kết hợp giữa ý nghĩa ngữ pháp
và hình thức ngữ pháp Những đặc điểm của ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp
có thể dùng làm tiêu chí phân loại từ chủ yếu là ý nghĩa trừu tượng, ý nghĩa chức năng
và hình thức kết hợp.‖.Về mặt ý nghĩa ngữ pháp, thực từ là những từ có thể làm thành phần câu; về mặt hình thức ngữ pháp, thực từ là những từ có thể kết hợp với những từ khác tạo thành tổ hợp từ Hư từ là những từ đối lập với thực từ Căn cứ vào đó Trương Tĩnh phân định từ tiếng Hán thành 11 loại:
- Thực từ (7 loại): Danh từ, động từ, tính từ, số lượng từ, phó từ, đại từ, từ tượng thanh
- Hư từ (4 loại): Giới từ, liên từ, ngữ khí từ, thán từ
Trong tiếng Viê ̣t, cũng có nhiều nhà Việt ngữ học như Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức,… tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả hai tiêu chí từ vựng - ngữ pháp.Nguyễn Kim Thản trong cuốn Nghiên cứu về
ngữ pháp tiếng Việt viết: ―ý nghĩa khái quát và quan hệ cú pháp (khả năng kết hợp
của các từ) là căn cứ chắc chắn để phân định từ loại Ngoài ra, công dụng ở trong câu
và hình thức tạo từ cũng có thể là điều kiện tham khảo‖ [71, tr 144 - 154] Ông đưa ra bảng phân chia từ loại tiếng Việt như sau:
- Thực từ (6 loại): Danh từ, thời vị từ, số từ, động từ, tính từ, đại từ
- Bán thực từ, bán hư từ (01 loại): Phó từ
- Hư từ (6 loại): Trạng từ, giới từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ, thán từ
1.2 Vấn đề tha ́ n tƣ̀ trong tiếng Hán
1.2.1 Một số quan niê ̣m về thán từ
1.2.1.1 Về mặt từ nguyên, thuật ngữ ―interjection‖ có nguồn gốc từ chữ ―inter‖ (nghĩa là ―giữa‖), và ―iacere‖ (nghĩa là ―quăng‖) trong tiếng Latin Thán từ
Trang 19(interjection) được coi như là một từ hoặc một cấu trúc câu ―được đặt vào giữa‖ các từ trong một câu Thán từ có mặt trong mọi ngôn ngữ, nó được sử dụng khá thường xuyên, và được sử dụng trong ngôn ngữ nói nhiều hơn trong ngôn ngữ viết, như các
thán từ wow, yuk, aha, ouch, oops, ah, oh, er, huh, eh, tut-tut (tsk-tsk), brrr, shh, ahem,
psst trong tiếng Anh, các thán từ 啧啧啧, 唉, 呸, 啊, 嘿 trong tiếng Hán, hay các thán
từ a, ôi, ô hay trong tiếng Việt Ví dụ:
(1) Lily: Dentists are people too, huh! (Lily: Nha sĩ cũng là người ư!)
(2) Ouch, that hurt! (Ái, đau quá!)
(3) Wow! I won the lottery! (Trời ơi! Tôi trúng số rồi!)
(4) 嗨,你还真有两下子。(Ôi, anh giỏi quá!)
(5) 哎哟,这可怎么办? (Trời ơi, thế thì biết làm thế nào?)
(6) A, mẹ đã về!
(7) Ôi, Tổ quốc giang sơn hùng vĩ…
Khái niệm thán từ được đề cập đến từ rất sớm trong cuốn Ngữ
pháp tiếng Latin của Marcus Terentius Varro (năm 116 – năm 27 trước Công nguyên)
Theo học giả này, thán từ thường là những từ không mang nghĩa, dùng để biểu thị tình cảm và không có mối liên hệ cú pháp với các thành phần khác trong câu, nó thường xuyên được sử dụng độc lập [dẫn theo 145]
Sau Marcus Terentius Varro, Jespersen (1922) được coi là một trong những người chỉ ra giới định chính thức sớm nhất về thán từ Trong chương IV của cuốn
Language Its nature, Development and origin, phần viết về nguồn gốc của ngôn ngữ,
Jespersen (1922) có đề cập đến lý thuyết thán từ Ông viết rằng, ngôn ngữ bắt nguồn
từ những tiếng thốt ra theo bản năng khi con người bị đau hoặc khi có những tình cảm hay cảm xúc mãnh liệt [83, tr 414] Cũng theo lý thuyết này, thán từ thường dùng để biểu lộ những cảm xúc và tình cảm bột phát bất ngờ, nó bị cô lập trong mối liên hệ với chất liệu của lời nói (speech material) và được sử dụng trong những khoảng ngừng ngắt của ngôn ngữ ―Giữa thán từ và từ vựng có một khoảng cách đủ lớn để cho chúng
ta nói rằng thán từ là sự phủ định của ngôn ngữ, nó chỉ được sử dụng khi ai đó không thể nói hoặc sẽ không nói‖ (Benfey Gesch 295) Cái ―khoảng cách‖ này cũng tồn tại trong lĩnh vực ngữ âm, với thực tế là, hầu hết các thán từ được thể hiện bằng những
âm không có mặt trong ngôn ngữ chính tắc (language proper) (những âm gió hay là những tiếng hít vào ), do vậy rất khó có thể diễn đạt bằng những chữ cái tiêu chuẩn
phổ thông, như là pooh, pish, whew, tut, Mặt khác, hiện nay, rất nhiều thán từ đã
được quy ước hóa và được học giống như những từ khác, bởi vậy chúng được thể hiện không giống nhau trong những ngôn ngữ khác nhau Ví dụ, cùng biểu thị sự đau đớn,
một người Đức sẽ phàn nàn là au, một người đàn ông Pháp sẽ than thở là ahi trong khi một người Anh sẽ nói là oh hay ow [theo 83, tr 415]
Một số nhận định về thán từ cũng được đề cập đến trong "Lời nói đầu" của
Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương (Ferdinand de Saussure - bản dịch của Cao Xuân
Hạo) Theo đó, thán từ được nhận xét ―vốn là những tiếng kêu thường không tự giác
có nguyên do gần như hoàn toàn tự nhiên‖ Nhưng, ngay trong ―những thán từ thốt ra một cách vô thức nhất cũng không phải không có một phần võ đoán nhất định.‖ Ví dụ,
―một từ như mèo trong tiếng Việt rõ ràng là một từ mô phỏng tiếng kêu của con mèo
Nhưng nếu nó chỉ bắt chước cho giống tiếng mèo kêu mà thôi thì người Việt sẽ tha hồ
chọn giữa bốn năm tiếng meo, méo, mẻo, mẽo, mẹo (hay ngoao, miêu, mão) để đặt tên cho con mèo; đằng này, tiếng Việt (chuẩn) chọn đúng tiếng mèo và chỉ một tiếng ấy
Trang 20mà thôi; ai nói khác đi thì người nghe sẽ không hiểu được nữa, hay ít nhất là cảm thấy rất lạ tai Sự lựa chọn này hoàn toàn võ đoán Và ngay các thán từ cũng không hề y hệt như nhau trong mọi thứ tiếng [20]
1.2.1.2 Liên quan đến thán từ, hiện có khá nhiều quan điểm khác nhau, trong
đó, nổi lên ba quan điểm chính như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thán từ là yếu tố phụ ngoài ngôn ngữ, là ―phi từ‖, độc lập với cú pháp, chỉ biểu đạt cảm xúc hoặc trạng thái tinh thần, ―giỏi lắm chỉ là sắc màu tô vẽ cho tấm vải ngôn ngữ rộng lớn và phức tạp, không hơn không kém‖ (Sapir; 1970:7) Leech tuyên bố rằng thán từ hoàn toàn thiếu hụt mọi nội dung ngữ nghĩa thực sự và không có cấu trúc ý niệm cố hữu nào (1981:11-12); Quirk,
Greenbaum và nhóm tác giả (1985:853) gọi thán từ là ―những từ xúc cảm thuần tuý, không tham gia vào các quan hệ cú pháp‖; Trask (1993:144) lại gọi thán từ là ―một yếu tố từ vựng hoặc đoản ngữ nhằm thể hiện cảm xúc và nói chung không tham bất kỳ một cấu trúc cú pháp nào‖; Crystal (1995:207) đồng ý rằng ―thán từ là một từ hoặc âm thanh được đưa vào câu để thể hiện cảm xúc nào đó trong nội tâm‖ Goffman coi thán
từ là ―những tiếng kêu đáp‖: ―Chúng tôi coi những ‗biểu thức‘ như thế là sự dâng trào tự nhiên, sự dâng tràn của cảm xúc bị kìm nén từ trước, sự bùng nổ những cầm hãm bình thường‖ (1981:99) Ông bàn về thán từ theo những vai giao tiếp xã hội chúng đảm nhận hơn là về nội dung ngôn ngữ chúng có thể có [theo 82]
Quan điểm thứ hai khẳng định rằng, thán từ ―rất phong phú về nghĩa và có cấu trúc ý niệm cụ thể, có thể giải thích được‖ (Wilkins, 1992:119) và coi thán từ là câu một từ, ―phức tạp‖, mang chứa ý nghĩa hơn cả một câu toàn vẹn, mà ―người ta phải dùng đến những khúc giải dài dòng mới phân tích nổi và xác định được nội dung.‖ (Tesniere L (1959) Theo quan điểm này, thán từ truyền đạt những cấu trúc ý niệm phức tạp và giao tiếp được thực hiện cơ bản bằng cách mã hoá những cấu trúc ý niệm
đó [theo 82]
Quan điểm thứ ba dựa vào lý thuyết quan yếu của Sperber và Wilson
(1986/1995) thì lại cho rằng, thán từ chỉ là một loại biểu thức mang tính quy trình, làm công cụ để kích hoạt hàng loạt khái niệm khi tìm kiếm sự quan yếu tối ưu, và có thể dẫn tới những ý nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn khác nhau trong các môi trường tri nhận khác nhau Mô hình tri nhận - dụng học trong diễn giải thán từ như sau [dẫn theo 82]:
Như vậy, cho dù mới chỉ mạnh nha thừa nhận là thán từ có mang nghĩa
Như vậy, cho dù có hay không thừa nhận là thán từ có mang nghĩa, thì về cơ bản, các nhà ngữ pháp học đều thống nhất về một số đặc trưng của thán từ như sau:
- Thán từ là những từ được sử dụng để biểu đạt các cảm xúc khác nhau của con người;
- Thán từ không mang bất kì một ý nghĩa ngữ pháp nào, và không có mối liên hệ với các thành phần khác trong câu;
- Thán từ có thể sử dụng độc lập
1.2.2 Quan niệm về thán từ trong tiếng Hán
1.2.2.1 Quy loa ̣i thán từ trong tiếng Hán
Ý nghĩa hàm ngôn Tìm sự quan yếu tối ưu
Ý nghĩa hiển ngôn Kích hoạt khái niệm
Thán từ
Trang 21Trong tiếng Hán, liên quan đến việc xác định vị trí của thán từ trong hệ thống
từ loại, mỗi nhà nghiên cứu ngữ pháp có một cách nhìn nhận và giải thích khác nhau, hiện đang tồn tại 4 quan niệm như sau:
Quan niê ̣m thứ nhất cho rằng, thán từ tiếng Hán thuộc lớp thực từ vì nó có khả năng tạo thành một câu độc lập (Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông, Thiệu Kính
Mẫn, )[111, 147] Đặc biệt, gần đây, Lưu Đan Thanh [128] còn đề xuất thán từ tiếng Hán thuộc nhóm các đa ̣i từ, ông cho rằng, bản chất của thán từ là từ thay thế cho câu, trong các nhóm từ loại, thán từ có tính chất gần giống nhất với đại từ, đại từ thay thế cho từ ngữ còn thán từ thay thế cho câu Trong tiếng Việt, tác giả Hữu Quỳnh [67] cũng xếp thán từ tiếng Việt vào lớp thực từ, theo ông, ―trong các thực từ có một loại đặc biệt, thán từ là những từ dùng để biểu thị cảm xúc‖
Quan niê ̣m thứ hai cho rằng, thán từ tiếng Hán thuô ̣c lớp hư từ vì ý nghĩa của thán từ bị hư hoá (Mã Kiến Trung, Cao Danh Khải, Hồ Dụ Thụ, Hình Phúc Nghĩa và Uông Quốc Thắng, ) [142, 102, 116, 164] Thậm chí, Viên Dục Lâm [175] còn gọi thán từ tiếng Hán là hư từ phi điển hình vì lý do nó không thể kết hợp với các từ khác, chỉ có thể làm thành phần độc lập trong câu, nên nó không giống với đại đa số các hư
từ Trong tiếng Việt, cũng cho rằng thán từ tiếng Việt thuô ̣c lớp hư từ có các tác giả Hoàng Trọng Phiến [61], Đào Thanh Lan [17], Nguyễn Kim Thản [70], Diệp Quang Ban [2]
Quan niê ̣m thứ ba cho rằng, thán từ tiếng Hán là một loại từ đặc biệt, vì nó tuy
có thể sử dụng độc lập nhưng lại vừa không có ý nghĩa từ vựng, vừa không thể biểu thị ý nghĩa ngữ pháp (Hình Công Uyển, Lưu Nguyệt Hoa, Trương Bân, ) [165, 135, 182] Trong tiếng Việt, các học giả Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Anh Quế cũng xếp thán từ tiếng Viê ̣t vào nhóm từ loa ̣i đă ̣c biê ̣t [75, 65]
Quan niê ̣m thứ tư dựa vào khả năng kết hợp với các từ loại khác, coi thán từ tiếng Hán là từ độc lập, không thể kết hợp (Quách Nhuệ, Tiêu Á Lệ) [182, 160]
Trong tiếng Việt, theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay, chưa có quan niệm nào tương tự như vậy về thán từ
Bên cạnh đó, khác với tiếng Hán, trong tiếng Việt, một số nhà nghiên cứu còn xếp thán từ tiếng Việt vào nhóm từ tình thái, cho rằng thán từ tiếng Việt là những từ chuyên dùng để biểu thị tình thái hoặc cảm xúc (Cao Xuân Hạo, Hồ Lê, Đinh Văn Đức) [24, 50, 19]
Theo ý kiến của chúng tôi, thán từ thường được dùng để biểu thị cảm xúc hay
để gọi đáp Tính độc lập của thán từ rất rõ rệt, nó không có mối quan hệ về mặt kết cấu với bất kì thành phần nào trong câu, có thể độc lập tạo câu và cũng có thể tạo thành một ngữ độc lập Về mặt hình thái, thán từ thuộc loại từ đơn thuần, không có khả năng kết hợp tạo từ mới, cũng không thể phân tích thêm về mặt ngữ pháp Do vậy, trong cả tiếng Hán và tiếng Việt, xếp thán từ vào nhóm từ đặc biệt bên cạnh các nhóm thực từ và hư từ là hợp lý hơn cả
1.2.2.2 Phân biệt thán từ với các từ loại khác trong tiếng Hán
a Phân biệt thán từ và ngữ khí từ
Trong tiếng Hán, thông thường, người ta thường dựa 3 lý do sau để quy thán từ
và ngữ khí từ vào cùng một loại:
Trang 22Thứ nhất, thán từ và ngữ khí từ đều là những từ dùng để biểu thị ngữ khí, đều
có thể biểu thị các sắc thái cảm thán như khen ngợi, cảm khái, bất ngờ, ngạc nhiên, nhắc nhở, hiểu ra ;
Thứ hai, một bộ phận thán từ và một số ngữ khí từ điển hình đều có đặc điểm không ổn định về mặt ngữ âm Ví dụ, thán từ 啊 có khuynh hướng không ổn định về mặt âm điệu, tùy theo sự biểu ý và biểu cảm của người sử dụng mà nó có thể mang thanh điệu 55, 44, 35 hoặc 51; ngữ khí từ 啊 cũng có thể biến âm theo các âm tiết khác nhau đứng trước nó
Thứ ba, về mặt văn tự, một số thán từ và ngữ khí từ có hình chữ giống hệt nhau Ví dụ các thán từ 啊,哎,呕 có cách viết giống hệt các ngữ khí từ 啊,哎,
呕 [theo118, tr 293]
Trong tiếng Việt, cũng có một số học giả quy thán từ và ngữ khí từ vào cùng
mô ̣t nhóm Các tác giả Đinh Văn Đức [19], Cao Xuân Ha ̣o [24], Diê ̣p Quang Ban và Hoàng Văn Thung [1] xếp thán từ và ngữ khí từ vào lớp tình thái từ, tác giả Phạm Hùng Việt [80] xếp thán từ và ngữ khí từ vào nhóm tiểu từ tình thái
Chúng tôi cho rằng, nếu đánh giá một cách toàn diện từ góc độ hệ thống từ loại thì thán từ và ngữ khí từ phải được chia thành hai loại khác nhau, vì, cho dù hai loại
từ này có một số điểm chung nhưng giữa chúng vẫn tồn tại những điểm khác biệt rõ rệt
a1 Khác biệt về vị trí cú pháp
Trong tiếng Hán, thán từ thường đứng độc lập với kết cấu câu, có thể đứng ở đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu, được ngăn cách với nòng cốt câu bằng dấu câu, còn ngữ khí từ chỉ có thể đứng ở cuối câu hoặc cuối phân câu, kết hợp với nòng cốt câu tạo thành một liên kết chặt chẽ Ví dụ:
(1) 啊,小姐,真遗憾,那么,我们就跟你谈谈也行 (À, chị ạ, thật tiếc quá, thôi thì chúng tôi bàn cùng với chị cũng được ) [200.14]
(2) “真是个傻瓜!唉!嫁了你这么个人真没办法!‖(Rõ vớ vẩn! Chao ôi! Lấy phải anh thật khổ hết chỗ nói! ) [189, 52]
(3) 瞧瞧,骆驼祥子敢情也是三天半就吹呀,哼!(Đấy, thằng Tường lạc đà cũng chỉ được ba ngày có lẻ là phải chuồn, hừ!) [120, 10]
(4) 啊,是老丁啊!(A, ông Đinh đấy à!) [200.15]
(5) 今天的访问收获不少,真圆满啊!(Chuyến đi thăm hôm nay thu hoạch được không ít, thật viên mãn a [啊: a] ! ) [200.16]
Qua các ví dụ trên, có thể thấy, vì thán từ thường được ngăn cách với kết cấu câu bằng dấu ngắt câu nên nếu dựa vào vị trí cú pháp sẽ rất dễ dàng để nhận biết chúng Trong các ví dụ (1), (2), (3), các thán từ 啊, 唉,哼 lần lượt đứng ở đầu câu, giữa câu và cuối câu Trong khi đó, ngữ khí từ luôn có vị trí cố định ở cuối câu hoặc cuối phân câu, ở ví dụ (4) từ 啊 thứ nhất là thán từ, từ 啊 thứ hai là ngữ khí từ, còn ở
ví dụ (5), 啊 là ngữ khí từ đứng ở cuối câu
Trang 23Đặc điểm về vị trí cú pháp của thán từ tiếng Hán và thán từ tiếng Viê ̣t về cơ bản là giống nhau Ví dụ :
(1) À , nhưng mà con đã có chồng rồi hay là chưa ? [64]
(2) Cô ấy…hừ… khó đấy, ốm yếu, con dại, lai lịch lại như thế [40]
(3) Con đĩ Con đĩ nào đây, hả ? [69.6]
(4) Ngày mai tớ đến rủ cậu đi học nhé (Khẩu ngữ)
(5) Anh vẫn chưa về à ? [44]
Trong ví dụ (1), ví dụ (2), ví dụ (3), các từ à, hừ, hả đều là thán
từ, lần lượt đứng ở đầu câu, giữa câu và cuối câu Về mặt hình thức, các thán từ này đứng độc lập với kết cấu câu, được ngăn cách với nòng cốt câu bằng dấu phảy (,) hoặc
dấu chấm lửng ( ) Trong ví dụ (4), ví dụ (5), các từ nhé, à là ngữ khí từ đứng cố
định ở cuối câu, giữa chúng và nòng cốt câu không bị ngăn cách bởi dấu câu
a2 Khác biệt về chức năng ngữ pháp
Trong các tình huống vận dụng cụ thể, thán từ và ngữ khí từ có một số điểm khác biệt rõ nét như sau:
Thứ nhất, trong tiếng Hán, thán từ có thể đóng vai trò là một thành phần độc lập trong câu, thậm chí, tạo thành một câu độc lập, nhưng thán từ tiếng Hán lại không có chức năng tạo câu như ngữ khí từ Thán từ tiếng Hán thường đứng độc lập với kết cấu câu và không có mối quan hệ cú pháp với bất kì thành phần nào của câu, còn ngữ khí từ lại quan hệ với nòng cốt câu theo quan hệ phụ thuộc trực tiếp, có thể kết hợp với nòng cốt câu tạo thành các kiểu câu khác nhau như trần thuật, nghi vấn, mệnh lệnh hoặc cảm thán Ví dụ:
(1) 啊!世界上最可爱的是女人![189]
(Ôi! Trên thế giới này đáng yêu nhất là đàn bà! ) [52]
(2) 哎,你说的不错。(Ờ, anh nói hay đấy.) [200.8]
(3) 那次爬山他去了嘛。(Câu trần thuật)
(Lần leo núi đó anh ta có đi đấy.)
(4) 你吃饭了吗? (Câu nghi vấn)
(Cậu đã ăn cơm chưa?)
(5) 快去吧! (Câu cầu khiến)
(Mau đi thôi.)
(6)他写的多好啊!(Câu cảm thán)
(Anh ấy viết đẹp quá!)
Trong ví dụ (1) 啊 là thán từ, có vai trò như một câu độc lập Trong ví dụ (2) 哎 cũng là thán từ, là thành phần độc lập trong câu Trong các ví dụ (3), (4), (5) và (6) các từ 嘛, 吗, 吧, 啊 đều là ngữ khí từ, lần lượt kết hợp với nòng cốt câu tạo thành các kiểu câu trần thuật, nghi vấn, mệnh lệnh và cảm thán
So sánh thán từ và ngữ khí từ trong tiếng Việt, chúng tôi cũng nhận thấy những điểm khác nhau tương tự như trên Ví dụ:
Trang 24(1) À, nhớ ra rồi
(2) Cậu mua quyển từ điển này à? (Câu nghi vấn)
(3) Anh mua quyển từ điển này đi (Câu cầu khiến)
(4) Tôi mua quyển từ điển này đấy (Câu trần thuật)
(5) Quyển từ điển này tốt lắm thay! (Câu cảm thán)
Trong ví du ̣ (1), à là thán từ, là đóng vai trò là thành phần độc lập trong câu Trong ví du ̣ (2), ngữ khí từ à biểu thị sự nghi vấn, còn trong ví du ̣ (3), ngữ khí từ đi
biểu thị cầu khiến, trong ví du ̣ (4) ngữ khí từ đấy biểu thị ý xác định trong câu trần
thuật, trong ví du ̣ (5), ngữ khí từ thay biểu thị sự cảm thán So sánh thán từ à trong ví
dụ (1) với ngữ khí từ à trong ví du ̣ (2), có thể thấy, rõ ràng là thán từ à trong ví du ̣ (1) không có chức năng tạo thành câu nghi vấn như ngữ khí từ à ở ví dụ (2)
Thứ hai, thán từ tiếng Hán có thể sử dụng dưới hình thức lặp lại nhưng ngữ khí từ thì không thể Ví dụ:
(1) 啊啊啊啊啊,你那个方案,我看过了,看过了,你很有改革的热情嘛!(À à
à à à, mấy phương án đó của cậu, tôi xem qua rồi, xem rồi, cậu rất có nhiệt tình cải cách đấy!) [200.17]
(2) 哎, 哎, 李先生你说的一点儿不错!(Ôi, ôi, ông Lý nói đúng quá!) [200.8]
(3)就是这个这个风俗啊。(Chính là phong tục này đấy.)
Trong các ví du ̣ (1), (2) các từ 啊, 哎 là thán từ, có thể sử dụng dưới hình thức
lặp lại Còn trong các ví du ̣ (3) từ 啊 là ngữ khí từ, không thể dùng dưới hình thức lặp lại
Giống như tiếng Hán, thán từ tiếng Việt có thể sử dụng dưới hình thức lặp lại nhưng ngữ khí từ thì thường không được sử dụng dưới hình thức này Ví dụ:
(1) Thôi thôi, thiếp đã phụ chàng từ đây [16]
(2) Đau lòng em lắm, anh ơi !
Riêng em cứ quyết đợi người ấy thôi [43]
(3) Không phải xe ông! À, à! Xe cậu Cả! Cậu Tú lên chơi, chúng mày ạ [64]
(4) Thế Lý đã mua sắm hàng tết rồi à? [40]
Trong các ví du ̣ (1), (3) các từ thôi, à là thán từ, có thể sử dụng dưới hình thức
lặp lại Còn trong các ví du ̣ (2) và (4), các từ này đóng vai trò là ngữ khí từ trong câu, đều không thể dùng dưới hình thức lặp lại
Thứ ba, trong tiếng Hán, ngữ khí từ có thể sử dụng kết hợp với nhau nhưng thán từ thì lại không thể dùng theo cách này Ví dụ:
(1) 下雨了吗?(Mưa rồi à?)
(2) 不早了啊。(Không còn sớm nữa )
b Phân biệt thán từ và từ tượng thanh
Trang 25Trong tiếng Hán, theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Hán hiện đại, từ tượng
thanh là từ mô phỏng âm thanh của sự vật Chính vì thán từ và từ tượng thanh đều có điểm chung là mô phỏng âm thanh nên người ta thường gọi chung chúng là 拟声词/拟音词 (âm Hán Viê ̣t là ―nghĩ thanh từ‖/―nghĩ âm từ‖, nghĩa là từ mô phỏng âm
thanh), hay 声音词 (âm Hán Viê ̣t là ―thanh âm từ‖, nghĩa là từ âm thanh), khi phân định từ loại đều quy về hoặc là thực từ, hoặc là hư từ, hoặc là từ đặc biệt
Tương tự như trong tiếng Hán, trong tiếng Việt, ―từ tượng thanh‖ hay ―từ mô phỏng‖ được định nghĩa là ―các từ dùng chất liệu ngôn ngữ để mô phỏng, bắt chước các âm thanh trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, được dùng để biểu thị sự vật về mặt âm thanh‖ [8, tr 93] Do đều có điểm chung là mô phỏng âm thanh nên có tác giả gộp cả thán từ và từ tượng thanh vào thành một loại, gọi chung là cảm từ [50, tr.152]
Tuy nhiên, có thể nhận thấy, quy thán từ và từ tượng thanh vào cùng một nhóm
là không thỏa đáng, vì hai loại từ này có những điểm khác nhau rõ rệt
b1 Khác biệt về đặc điểm ngữ âm
Thán từ, đặc biệt là những thán từ biểu thị cảm xúc, thường là những âm thanh bột phát được phát ra khi người nói phải chịu một sự kích động nào đó Thông thường, các thán từ được phát âm một cách tự nhiên, ít chịu sự chi phối của lý trí, do vậy về mặt ngữ âm, các âm tiết biểu thị cảm thán tương đối mơ hồ, nhiều trường hợp vượt ra ngoài hệ thống ngữ âm của các từ loại khác trong cùng một ngôn ngữ [xem cụ thể tại chương 2, phần 2.1.1]
Trong khi đó, từ tượng thanh là từ dùng để mô phỏng các âm thanh trong tự nhiên, cho dù âm thanh tự nhiên rất phong phú, đa dạng, nhưng con người vẫn có thể dựa vào thính giác và thói quen của bản thân để mô phỏng một cách có ý thức Do vậy, về mặt ngữ âm, từ tượng thanh được sử dụng có lựa chọn và chịu sự chi phối của
hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ mà người nói sử dụng, nó thuộc hệ thống ngữ âm của các từ loại khác trong cùng một ngôn ngữ [201, tr 41]
Đây đươ ̣c coi là đă ̣c điểm chung về ngữ âm của thán từ và từ tượng thanh trong khá nhiều ngôn ngữ, tiếng Hán và tiếng Viê ̣t cũng không phải ngoại lệ
b2 Khác biệt về chức năng ngữ pháp
Trong tiếng Hán, từ tượng thanh có thể kết hợp với các trợ từ kết cấu 的, 地, 得,
có thể làm các thành phần cú pháp như định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ, vị ngữ, từ chen ngang, và còn có thể tạo thành một câu độc lập Ví dụ:
Trang 26(Ào ào ào! Ngoài cửa nghe như có tiếng gió mưa.) [200.20]
(6) 当当,当当。(Câu độc lập)
(Leng keng, leng keng.) [dẫn theo 160, tr 90]
Trong khi đó, thán từ chỉ có thể là từ chen ngang hoặc tạo thành câu độc lập, trước và sau nó thường phải có sự ngừng ngắt Ví dụ:
(1)啊呀呀, 你放了道台,还说不阔 ——— (Từ chen ngang ở đầu câu)
(Ái chà, Anh bây giờ làm quan rồi mà lại bảo là không sang trọng.) [200.19]
(2)推开门一看 , 嗬 ! 好大的雪啊。 (Từ chen ngang ở giữa câu)
(Mở cửa nhìn ra, ôi! tuyết rơi dày quá.) [200.6]
(3)咱们走着瞧 , 哼! (Từ chen ngang ở cuối câu)
(Chúng ta đi xem, hừm!) [dẫn theo 160, tr.90]
(4)呸 ! (Câu độc lập)
(Hừ!) [dẫn theo 160, tr.90]
Tiếng Viê ̣t cũng tương tự như vâ ̣y, đại đa số từ tượng thanh trong tiếng Việt là
tính từ hoặc động từ, trong đó, có khá nhiều từ thuộc kiểu kiêm loại Chính vì vậy, từ tượng thanh tiếng Việt ngoài khả năng tạo thành câu độc lập còn có thể đảm nhận các chức vụ cú pháp trong câu như vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ Ví dụ:
(1) Oa!Oa!Oa! Cha trốn không đi lính nước nhà Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi Phải
theo mẹ đến ở nhà pha (Câu độc lập) [54]
(2) Tiếng khoá cửa lạch xạch (Vị ngữ) [55]
(3) Chiếc đồng hồ trên vách, quả lắc vẫn chạy tích tắc, nhưng tôi có cái cảm giác
kinh hãi rằng thời gian ở đây đã bị bó cứng chắc lại.(Bổ ngữ) [77.4]
(4) Khi qua hai chiếc xe ấy, không hiểu nguyên do làm sao tự dưng tim đập thình
thịch, Kiên lên tiếng gọi Phương (Trạng ngữ) [55]
Trong khi đó, thán từ tiếng Việt thường chỉ có thể là từ chen ngang hoặc tạo thành câu độc lập, trước và sau nó thường phải có sự ngừng ngắt Ví dụ:
(1) Ôi! Tôi cũng có bốn đứa con Hiện giờ chúng nó cơ cực ở nơi sơ tán (Câu độc
lập) [69.1]
(2) Ôi chao, nhớ Sài Gòn cái ngày chúng mình khố rách áo ôm, nhưng lại có đêm
cưỡi xe độc mã, xà ích ngồi đằng trước, đánh ngựa đi chén thịt bò bảy món ở Gò Vấp
(Từ chen ngang ở đầu câu) [69.2]
(3) Tỉnh ra, chao ôi, buồn! (Từ chen ngang ở giữa câu) [77.1]
(4) Người ta có thể có một tình yêu trong ngần đầy ảo giác, chao ôi! (Từ chen ngang
ở cuối câu) [69.3]
Ngoài ra, trong tiếng Hán, hình thức cấu tạo và hình thức lặp lại của thán từ và
từ tượng thanh cũng khác nhau Hình thức cấu tạo của thán từ chỉ có 2 loại: một âm tiết A (ví dụ: 喂 [wèi]) và hai âm tiết AB (ví dụ: 哎哟 [āiyō]) Loại A có thể lặp lại một hoặc nhiều lần dưới hình thức AA hoặc AAA (ví dụ: 喂喂 [wèi wèi] hoặc 喂喂
喂 [wèi wèi wèi]) Loại AB chỉ có thể lặp lại dưới hình thức ABB (ví dụ: 哎 [āi yō yō]) So với thán từ, hình thức cấu tạo và hình thức lặp lại của từ tượng thanh phong phú hơn Các hình thức cấu tạo chủ yếu của từ tượng thanh là: hình thức một âm tiết A (ví dụ: 拍 [pāi]), hai âm tiết AB (ví dụ: 叮当 [dīngdāng]), bốn âm tiết ABCD (ví dụ: 劈里巴啦 [pī .lipālā]) Loại A có thể lặp lại một lần hoặc nhiều lần, loại AB có các hình thức lặp lại như ABAB, ABB, AAB, AABB, trong đó thường gặp nhất là lặp lại theo kiểu ABAB vì tất cả các từ tượng thanh dạng AB đều lặp lại được dưới hình thức
Trang 27ABAB, chỉ có một số ít từ có thể lặp lại dưới các hình thức còn lại [theo 143] Ví dụ:
Thán từ Hình thức lặp lại
拍 [pāi] 拍拍 [pāi pāi]
滴嗒滴嗒 / 滴嗒嗒 [dīda dīda], [dī da da]
Trong tiếng Việt, giữa thán từ và từ tượng thanh cũng có những điểm khác nhau tương tự như trong tiếng Hán Cụ thể là, hình thức cấu tạo của thán từ tiếng Viê ̣t
cũng thường chỉ có 2 loại: một âm tiết A (ví dụ: này) và hai âm tiết AB (ví dụ: a lô) Loại A thường lặp lại dưới hình thức ―A, A‖ hoặc ―A, A, A‖ (ví dụ: này, này hoặc
này, này, này ) Loại AB thường lặp lại dưới hình thức ―AB, AB‖ (ví dụ: a lô, a lô)
So với thán từ, hình thức cấu tạo và hình thức lặp lại của từ tượng thanh có phần phong phú hơn Các hình thức cấu tạo chủ yếu của từ tượng thanh là: hình thức một
âm tiết A (ví dụ: đùng, tùng), hai âm tiết AB (ví dụ: leng keng, lách cách), loại bốn âm tiết có các hình thức: ABAC (ví dụ: kẽo cà kẽo kẹt); AABC (ví dụ: tích tịch tình
tang); ABCB (ví dụ: ò e í e); ABCD (ví dụ: bô lô ba la) Loại A có thể lặp lại một lần
hoặc nhiều lần (ví dụ: đùng đùng; tùng tùng tùng), loại AB có các hình thức lặp lại như AABB (ví dụ: chập chập cheng cheng), ABAB (ví dụ: leng keng leng keng, rủ rỉ
rù rì)
b3 Khác biệt về đặc điểm ngữ nghĩa
Trong tiếng Hán, từ tượng thanh được coi là một hiện tượng vật lý khách quan, mang tính chất miêu tả sinh động hình tượng, nó chỉ đơn thuần là mô phỏng những
âm thanh do sự vật tự nhiên phát ra, giúp người nghe có cảm giác như nghe được âm thanh thực mà không hề hàm chứa tình cảm ở bên trong Ví dụ:
(1) 北风呼呼地吹着。[dẫn theo 181]
(Gió bấc thổi vù vù.)
(2) 窗外滴滴答答,雨还没有停。[dẫn theo 181]
(Mưa vẫn rơi tí ta tí tách ngoài cửa sổ.)
Ngược lại, thán từ là một hiện tượng tâm lý chủ quan, nó là những âm thanh dùng để thể hiện tình cảm hoặc những lời gọi đáp, nó chú trọng đến việc biểu thị ý nghĩ và tình cảm của con người Ví dụ:
(1) 哈哈,我猜着了![dẫn theo 181]
(A ha, tôi đoán trúng rồi! )
(2) ―啊!‖ ,她大叫一声昏倒在地。
(―Ối!‖, cô ta kêu lên một tiếng rồi ngã ra đất hôn mê.)
Có thể thấy, trong ví dụ (1), cụm từ 哈哈 không chỉ đơn thuần là mô phỏng tiếng cười mà còn biểu thị sự vui mừng, phấn khởi của người nói Ở ví dụ (2), thán từ
啊 không chỉ là tiếng kêu lên đơn thuần mà còn ẩn chứa trong đó cả sự sợ hãi và đau đớn
Giống như tiếng Hán, từ tượng thanh trong tiếng Việt cũng có thể coi là một hiện tượng vật lý khách quan, chủ yếu dùng để miêu t ả hình tượng, mô phỏng những
âm thanh tự nhiên Ví dụ:
Trang 28(1) Con vịt cạp ! cạp !
Con gà cục cục !
Con chó gâu gâu !
( Đồng dao)
(2) Nước vẫn chảy róc rách theo các con hẻm, ao rau muống vẫn xanh mướt [77.2]
Ngược lại, thán từ là một hiện tượng tâm lý chủ quan, nó là những âm thanh dùng để thể hiện tình cảm hoặc những lời gọi đáp, nó chú trọng đến việc biểu thị ý nghĩ và tình cảm của con người Ví dụ:
(1) Ối, ông Đại ơi, ông về mà dạy chúng nó đi Tôi chết vì chúng nó mất thôi [41] (2) Ôi, một vầng trăng tròn vành vạnh đang nhìn xuống chị, đứng giữa khoảng trời
thoáng cây rừng [26.5]
Ngoài ra, trong cả tiếng Hán và tiếng Việt, từ tượng thanh thường là những từ đơn nghĩa, còn thán từ lại thường là những từ đa nghĩa Vì, thán từ liên quan đến cảm xúc của con người, mà cảm xúc lại vốn rất phức tạp, cách thức và âm thanh con người dùng để biểu thị cảm xúc rất đa dạng, do vậy, mối liên hệ giữa hình thức và ý nghĩa của thán từ không tương đối cố định giống như từ tượng thanh
b4 Khác biệt về đối tượng sử dụng
Trong tiếng Hán, từ tượng thanh được dùng để mô phỏng âm thanh của sự vật,
do vậy, nó thường xuất hiện ở ngôn ngữ trần thuật của người thứ ba Trong khi đó, thán từ tiếng Hán là những tiếng cảm thán, lời gọi đáp do bản thân người nói phát ra,
vì lẽ đó, nó thường xuất hiện trong ngôn ngữ của người nói ở ngôi thứ nhất Khảo sát
về sự khác biệt này trong toàn bộ tác phẩm 《呐喊》(Gào thét),《彷徨》(Bàng hoàng) và 3 chương đầu của tác phẩm《中国式离婚》(Ly hôn kiểu Trung Quốc), kết quả thu được như sau:
Bảng 1.1: Bảng kết quả khảo sát sự khác biệt về đối tượng sử dụng giữa
tư ̀ tượng thanh và thán từ
tác phẩm 《呐喊》(Gào thét), 《彷徨》(Bàng hoàng)) từ tượng thanh được dùng
trong lời thoại của người nói ở ngôi thứ nhất Tuy nhiên, từ tươ ̣ng thanh ở những ví dụ này đều có thể sử dụng cho cả hai trường hợp người nói ở ngôi thứ nhất hoặc người nói ở ngôi thứ hai giống như các danh từ, động từ, giới từ và trợ từ khác Hai ví dụ ít
Trang 29ỏi trong tác phẩm《中国式离婚》(Ly hôn kiểu Trung Quốc) thán từ được sử dụng trong trường hợp người nói ở ngôi thứ ba đều là trường hợp thán từ chuyển loại thành động từ [171, tr 213]
Thán từ và từ tượng thanh trong tiếng Việt cũng có đặc điểm khác nhau tương tự như vâ ̣y Ví dụ:
(1) Dân làm phim hãi cái dầm dề dai dẳng của mưa Huế lắm Chậm tiến độ quay
sang một ngày là mất trắng tiền triệu như chơi Đạo diễn giờ được khoán sản phẩm
như những anh thợ may gia công Phập, phập, phập Trau chuốt ít thôi, phập, phập Chả nghệ thì gừng, phập, phập Người ta khoán thế, bớt tiền ăn trả tiền ngủ, anh làm chậm cả đoàn bỏ mẹ, phập, phập [49]
(2) A, chào ông anh! Làm gì mới sáng sớm mà cằm đã chạm rốn thế kia? Vào nhà em
làm ấm trà ta nói chuyện phiếm [26.4]
Trong ví dụ (1), các từ phập, phập là từ tượng thanh, xuất hiện trong ngôn ngữ trần thuật của người thứ ba Còn trong ví dụ (2), từ a là thán từ, xuất hiện trong
câu thoại của người nói ở ngôi thứ nhất
1.2.2.3 Thảo luận về tên gọi “thán từ” trong tiếng Hán
a Trong tiếng Hán, 感叹词 - cảm thán từ, 象声词 - từ tượng thanh, 拟声词 -
từ mô phỏng âm thanh, 感词 - cảm từ, 叹字 - thán tự, 惊叹词 - kinh thán từ là
những loại từ có tên gọi với hàm ý gần giống hay có một số đặc điểm giống với thán
từ Để phân biệt các từ này có thể dựa vào các đặc điểm sau đây:
(1): Biểu thị tình cảm (ví dụ: 啊,哎哟 )
(2): Biểu thị lời gọi, lời đáp (ví dụ: 喂,嗯 )
(3): Biểu thị mô phỏng âm thanh của sự vật (ví dụ: 呼呼,哗啦)
Đầu tiên là Mã Kiến Trung đề xuất cách gọi ―thán tự‖ trong cuốn Mã Thị Văn
Thông [142], đây là cách gọi sớm nhất của ―thán từ‖ tiếng Hán Về sau, Lã Thúc
Tương, Chu Đức Hy (1979) trong cuốn Bàn về tu từ ngữ pháp [140], Đinh Thanh Thụ (1979) trong cuốn Bàn về ngữ pháp tiếng Hán [94] lại dùng tên gọi ―từ tượng
thanh‖ cho các từ có các đặc điểm (1), (2) và (3) Dương Hợp Minh (1996) trong cuốn
Khác biệt trong ngữ pháp cổ kim [169] dùng tên gọi ―thán từ‖ để chỉ các từ có đặc
điểm (1) và (2), ngoài ra, ông còn dùng tên gọi ―cảm thán từ‖ cho các từ có đặc điểm (1) và ―ứng đáp từ‖ cho các từ có đặc điểm (2) Điền Thân Anh (1985) trong cuốn
Thuật yếu ngữ pháp [153] dùng ―cảm từ‖ để gọi các từ có đặc điểm (1) và (2), dùng
―kinh thán từ‖ để gọi các từ có đặc điểm (1) và ―hô đáp từ‖ chỉ các từ có đặc điểm (2)
Chu Đức Hy (1982) trong cuốn Ngữ pháp giảng nghĩa [196] dùng ―cảm thán từ‖ để chỉ các từ có đặc điểm (1) và (2) Các cuốn Từ điển Hán ngữ hiện đại (2009) [181],
Từ hải (1989) [92] và một số lượng lớn các sách ngữ pháp phổ thông hiện nay đều
thống nhất với cách gọi ―thán từ‖ đối với các từ có đặc điểm (1) và (2) - là những từ dùng để biểu thị tình cảm và những từ dùng để gọi đáp
Tổng kết lại, các từ gọi là cảm thán từ, cảm từ về cơ bản có đặc điểm giống với thán từ, các ý kiến tranh luận chủ yếu tập trung ở việc các từ gọi đáp (2) có thuộc vào nhóm từ này hay không? Nếu chỉ căn cứ về mặt tên gọi và ý nghĩa thì không thể xếp các từ gọi đáp vào nhóm từ này, tuy nhiên, nếu căn cứ vào các đặc điểm ngữ pháp như có khả năng tạo câu độc lập, không có mối liên hệ cú pháp với bất kì từ ngữ nào trong câu thì vẫn có thể xếp các từ có đặc điểm (1) và (2) vào cùng một nhóm Ngoài ra, các tên gọi khác như từ tượng thanh, từ mô phỏng âm thanh chỉ chuyên
Trang 30dùng để chỉ các từ có đặc điểm (3), không thể xếp vào cùng một nhóm với thán từ được
b Qua khảo sát 21 cuốn sách, giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, chúng tôi thống
kê được các tên gọi khác nhau của một số loại từ có đặc điểm ý nghĩa và chức năng gần giống với thán từ như sau:
Bảng 1.2: Bảng thống kê các tên gọi khác nhau có liên quan đến thán từ trong
các giáo trình ngữ pháp tiếng Việt
Hồ Lê
Ngữ pháp tiếng Việt,
(2002)
Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt (2008)
Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại (1980)
Cú pháp tiếng Việt -
quyển 2 - Cú pháp cơ sở (1992)
5 Thán từ 11 Nguyễn Thiện Giáp
(chủ biên) Nguyễn Thiện Giáp
Dẫn luận ngôn ngữ học
(2002)
Giáo trình ngôn ngữ học
(2008) Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức
Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến
Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (1997)
Bùi Đức Tịnh Văn phạm Việt Nam
(1952)
Trang 31Nguyễn Lân Ngữ pháp Việt Nam, lớp
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt – Q2- Ngữ
đoạn và từ loại (2006)
Diệp Quang Ban Giáo trình ngữ pháp
tiếng Việt (theo định hướng ngữ pháp chức năng), tập 1 (2008)
Vũ Đức Nghiệu (chủ biên) Nguyễn Văn Hiệp
Dẫn luận ngôn ngữ học
(2009)
Tìm hiểu cách phân loại và phân tích đặc điểm từ loại theo từng cách gọi, chúng tôi nhận thấy:
- ―Tán thán từ‖ là cách gọi cũ, ngoài cuốn Việt Nam văn phạm của các tác giả Trần
Trọng Kim, Bùi Kỉ và Phạm Duy Khiêm ra, cách gọi này hiện nay không còn được sử dụng
- ―Từ tình thái‖ (tình thái từ) có đầy đủ các đặc điểm của thán từ Tuy nhiên, vì khi sử dụng cách gọi này, các tác giả gộp hoặc ngữ khí từ hoặc trơ ̣ từ vào cùng mô ̣t nhóm với thán từ để biểu thị ý nghĩa tình thái nên phạm vi sử dụng của tình thái từ rộng hơn
so với thán từ [1, 19]
- ―Từ cảm thán‖ hay ―cảm thán từ‖ được coi là những từ chuyên về ―biểu thị cảm xúc của con người‖ [65, 66], ―nó chỉ là dấu hiệu của một cảm xúc cảm tính hoặc lí tính‖ [8] Trong nhóm các từ cảm thán (cảm thán từ) không bao gồm các từ được dùng để gọi đáp, do vậy, phạm vi của từ cảm thán (cảm thán từ) hẹp hơn so với phạm vi của thán từ
- Về cách gọi là ―từ cảm‖ hay ―cảm từ‖, tuy tên gọi có khác nhau, nhưng thông qua cách miêu tả ý nghĩa khái quát và ý nghĩa chức năng của nhóm từ, có thể kết luận đặc điểm của các nhóm từ được nhắc đến đa phần là đồng nhất với thán từ Nói cách khác,
về bản chất, từ cảm (cảm từ) và thán từ là một loại, chỉ đơn thuần khác nhau về tên gọi
c Chính vì những lý do trên, trong phạm vi nội dung luận án này, chúng tôi sử dụng tên gọi ―thán từ‖ - cách gọi phổ biến nhất hiện nay trong cả tiếng Hán và tiếng Việt, để chỉ đối tượng nghiên cứu của luận án
1.2.3 Nhận xét các quan niệm về thán từ trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 32Các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc và Việt Nam cùng có nhiều quan điểm tương đồng liên quan đến các nhận định chung về thán từ trong các ngôn ngữ Cụ thể
là, trong tiếng Hán, Mã Kiến Trung (1932) chỉ rõ: ―Thán tự (thán từ) dùng để biểu thị những tình cảm bột phát ‖ [142, tr 383] Trương Nghị Sinh (2002) [185] định nghĩa thán từ ―là một kiểu từ loại đặc biệt, độc lập với kết cấu câu, chủ yếu dựa trên sự mô
tả âm thanh để biểu thị tình cảm tự thân của con người‖ Triệu Nguyên Nhiệm [85] cho rằng : ―thán từ là những âm thanh dùng để biểu thị cảm xúc trong khi giao tiếp‖ Đồng tình với các quan điểm này, Trần Vọng Đạo [90] nhấn mạnh : ―Thán từ, là những từ biểu thị cảm xúc, hoặc biểu thị sự vui sướng, hoặc biểu thị sự đau khổ, hoặc biểu thị sự phẫn nộ, hoặc biểu thị sự ngạc nhiên‖
Trong tiếng Việt, các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm
[42] định nghĩa tán thán từ (thán từ) ―là tiếng dùng để biểu diễn một cái cảm tình, một sự xúc động rất mạnh đột nhiên mà phát ra‖ Nguyễn Tài Cẩn (1975) [6] nhận định thán từ ―là lớp từ chuyên biểu đạt cảm xúc, lớp từ bộc lộ trực tiếp sự kích động trong tình cảm của chủ quan người nói đứng trước hiện thực Lớp từ này không có trọng lượng về mặt tư duy lí trí‖ Nguyễn Minh Thuyết (1986) khẳng định ―Thán từ chỉ xuất hiện trong một bối cảnh duy nhất – bối cảnh zero, có nghĩa là chúng không hề kết hợp với một từ nào Thế nhưng thán từ có thể làm thành một câu độc lập và đó là hình thức tồn tại duy nhất của chúng Khác với những câu do thực từ làm thành, câu thán
từ không thông báo điều gì mới mà chỉ biểu hiện tình cảm, cảm xúc của người nói‖
[74, tr 43] Cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quốc gia cũng chỉ rõ ―thán từ là những từ nằm ngoài đoản ngữ, không có một mối liên quan nào đối với tổ chức của đoản ngữ ‖ [76, tr 324 - 325)
Qua đó, có thể nhận thấy những quan điểm tương đồng về đặc điểm căn bản của thán từ nói chung cũng như thán từ trong tiếng Hán và tiếng Việt nói riêng như sau:
- Thán từ là những từ dùng để biểu đạt những tình cảm bột phát của con người;
- Thán từ là một kiểu từ loại đặc biệt, không mang ý nghĩa ngữ pháp và độc lập với kết cấu câu;
- Thán từ có khả năng tạo thành một câu độc lập
Tuy nhiên, khác với các quan điểm chung về thán từ, trong tiếng Hán và tiếng Việt, ngoài các từ chuyên dùng để biểu thị cảm xúc, các từ làm tín hiệu của những lời gọi đáp cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp xếp vào nhóm thán từ
Trong tiếng Hán, Mã Kiến Trung [142] chỉ rõ: thán từ dùng để biểu thị tình cảm, dùng để gọi hay đáp lời Các tác giả Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông nhận định:
―Thán từ là những từ biểu thị cảm thán và gọi đáp [111, tr 29] Lưu Nguyệt Hoa cũng
cho rằng: ―Thán từ là những từ dùng để biểu đạt những cảm xúc mạnh mẽ hoặc dùng làm lời gọi, lời đáp‖ [135, tr 439] Các tác giả khác như Đặng San [192], Dương Thụ Thâm [171], Hoàng Hiểu Đông [112] cũng đồng tình với quan điểm này
Với những nhận định tương tự như trong tiếng Hán, trong tiếng Việt, Cao Xuân Hạo [24] chia thán từ thành hai loại: thán từ biểu hiện cảm xúc và thán từ gọi đáp Nguyễn Kim Thản [71] khẳng định: ―trong câu, thán từ thường làm thành phần đơn lập (lời cảm thán, lời gọi đáp)… ‖ Cùng chung quan điểm này, còn
có các tác giả Bùi Đức Tịnh [75], Hữu Quỳnh [67] và các tác giả thuộc Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia [76] …
Trang 33Qua đó, có thể tổng hơ ̣p các đặc điểm cơ bản của thán từ tiếng Hán và thán từ tiếng Việt như sau:
- Về mặt ý nghĩa:
Là những từ dùng để biểu thị cảm xúc của người nói (người viết) hoă ̣c ma ̣nh, hoă ̣c đô ̣t nhiên, như vui mừng, sợ hãi, ngạc nhiên, thương yêu, căm giâ ̣n, đau đớn, kinh hãi, than vãn…
1.3 Quan niê ̣m của luận án về thán từ tiếng Hán
1.3.1 Quan niệm của luận án về thán từ
Trong khuôn khổ của luâ ̣n án này, chúng tôi sử dụng khái niệm chung cho cả thán từ tiếng Hán và thán từ tiếng Việt như sau:
- Thán từ là những từ dùng để biểu thị cảm xúc của con người (vui, buồn, tức giận, phẫn nộ….), để hô gọi và đáp lại
- Thán từ không có mối quan hệ về mặt kết cấu với bất kì thành phần nào trong câu,
có thể độc lập tạo câu và cũng có thể tạo thành một ngữ độc lập
- Thán từ thuộc nhóm từ loại đặc biệt, độc lập với thực từ và hư từ
1.3.2 Danh sa ́ ch thán từ trong tiếng Hán và tiếng Việt
1.3.2.1 So sánh danh sách thán từ tiếng Hán giữa các tác giả
Đến nay, mặc dù các quan niệm về thán từ tiếng Hán đã tương đối thống nhất nhưng vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau trong việc nhìn nhận và phân định
danh sách thán từ Trong cuốn Sổ tay hư từ tiếng Hán, Lý Hiểu Kỳ [126] đưa ra một
danh sách gồm 20 thán từ như sau (danh sách thứ nhất):
Bảng 1.3: Bảng thống kê danh sách thán từ trong Sổ tay hư từ tiếng Hán hiện đại
(Nhà xuất bản Đa ̣i học Bắc Kinh, năm 2005)
STT Thán từ Phiên âm STT Thán từ Phiên âm
Trang 3410 咳 hāi 20 哟 yō
Số lượng thán từ được liệt kê trong bảng trên ít hơn nhiều so với danh sách 51
thán từ được thống kê theo cuốn Từ điển hư từ tiếng Hán hiện đại của Chu Cảnh
Tùng [197] (danh sách thứ hai)
Bảng 1.4: Bảng thống kê danh sách thán từ trong Từ điển hư từ tiếng Hán hiện đại
(Nhà xuất bản Ngư ̃ văn Trung Quốc, năm 2007)
STT Thán từ Phiên âm STT Thán từ Phiên âm
Cho đến thời điểm hiện tại, Từ điển tiếng Hán hiện đại [181] là một trong
những cuốn chỉ ra được số lượng thán từ tiếng Hán đầy đủ nhất, 63 thán từ (danh sách thứ ba)
Bảng 1.5: Bảng thống kê danh sách thán từ trong Từ điển tiếng Hán
(Nhà in Thương Vụ, năm 2009)
Trang 3630 嘿(giống 嗨) hēi 62 吁 yū
Có thể thấy, tuy số lượng thán từ trong các sách công cụ có khác nhau, nhưng
có một số thán từ có mặt trong tất cả các danh sách như sau:
Bảng 1.6: Danh sách thán từ thông dụng trong tiếng Hán
dụ thán từ 欸, trong danh sách thứ hai ghi phiên âm là [ế/éi] còn danh sách thứ ba ghi chú phát âm là [ế] Có một số thán từ có mặt ở danh sách này nhưng lại không có mặt
ở danh sách kia, ví dụ như các thán từ口
欧 , 呸, 吁, 咄 咄, 啈, 嘚, 呔, 口
歪,
1.3.2.2 Danh sách thán từ tiếng Hán theo quan điểm của luận án
Căn cứ vào khái niệm thán từ được nêu ở phần 1.3.1, trên cơ sở tư liệu là các từ điển hư từ, từ điển tiếng Hán đang được sử dụng phổ biến và các tư liệu thực tế,
chúng tôi đưa vào đối tượng nghiên cứu danh sách gồm 56 thán từ tiếng Hán theo bảng 1.7 sau đây Những trường hợp thán từ có một hình chữ nhưng có nhiều âm đọc khác nhau hoặc âm đọc giống nhau nhưng có nhiều hình chữ khác nhau, chúng tôi sẽ cân nhắc ghi chú thêm hình chữ và âm đọc hoặc lựa chọn hình chữ hoặc âm đọc thông dụng hơn
Trong một số nội dung nghiên cứu, luận án có thể đề cập đến các thán từ tiếng Hán cổ đại, hiện rất hiếm được sử dụng như 咄咄, 咳也, 咨嗟, 嗟呀,… hoặc các thán
từ mới xuất hiện nhưng chỉ được sử dụng trong một số nhóm cá nhân nhất định như
哇噻, 嗯哼, và một số thán từ dùng trong tiếng địa phương như 唷, 喏 Tuy nhiên, với mục đích liệt kê một danh sách các thán từ phổ thông, tương đối thông dụng trong tiếng Hán, nên chúng tôi không đưa những thán từ này vào trong danh sách Ngoài ra,
Trang 37các thán từ thường thấy trong bạch thoại thời kì đầu như 啐, 呔, 喳, cũng không được liệt kê trong danh sách này
Bảng 1.7 : Danh sách thán từ tiếng Hán sử dụng trong luận án
Trang 38欸,嗳) Ừ, tôi biết rồi
加油干呐,嗨哟!
Cố lên, dô ta nào!
Trang 39嘿,下雪了!
Ơ, tuyết rơi rồi!
26 哼唷 hēngyō Tiếng hò tập thể khi làm việc nặng
Trang 40Ồ, hóa ra hai người bọn cậu rất hợp nhau