Trong các hành động ngôn ngữ, đề nghị và từ chối là một cặp hành vi được coi là mang tính đe dọa thể diện cao, nhưng lại xuất hiện nhiều trong giao tiếp.. Đề tài này nếu được thực hiện t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đoàn Thị Hồng Lan
Lịch sự và gián tiếp trong tiếng Nhật qua hành
vi đề nghị và từ chối
Luận văn ThS Ngôn ngữ học: 60.22.01
Nghd : TS Hoàng Anh Thi
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1: Một số vấn đề cơ sở lý thuyết 6
1.3.4 Tính gián tiếp trong giao tiếp và gián tiếp tiếng Nhật 23 1.4 Gián tiếp như một phương tiện lịch sự trong hành vi
đề nghị và từ chối
27
Trang 31.4.1 Hành vi đề nghị và chiến lược lịch sự trong đề nghị 27 1.4.2 Hành vi từ chối và chiến lược lịch sự trong từ chối 29
Chương 2: Gián tiếp và lịch sự trong tiếng Nhật 33
2.2 Gián tiếp - một cách thể hiện lịch sự trong tiếng
2.3.1.1 Gián tiếp bằng biểu thức giảm nhẹ: to omoimasu /
-to kangaeru/ -youni omou (~と思います/~と考える
/~ように思う)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như
là )
43
2.3.1.2 Gián tiếp bằng biểu thức phủ định: janai (ka)/
-dewanai/ -to iu kotowa nai (~ じゃないか/~ではない
/~ということはない) (chẳng phải, không phải là,
không có nghĩa là )
44
2.3.1.3 Gián tiếp bằng biểu thức: -te + động từ bổ trợ tiếp
nhận lợi ích (kureru/ kudasaru/ morau/ itaditadaku)
hộ tôi được không)
45
2.3.1.4 Gián tiếp bằng các biểu thức thể hiện nghe nói,
truyền đạt: -rashi/ -youda/ -mitai/ -to iu koto desu
(Nghe nói, hình như)
46
Trang 42.3.1.5 Gián tiếp bằng các biểu thức phán đoán:
-kamoshirenai/ tabun …deshou / -darouka/(~ かもし
2.3.1.7 Gián tiếp bằng biểu thức nguyện vọng: -te hoshii
/-V tai(~てほしい/V たい)(tôi muốn )
2.3.1.10 Gián tiếp bằng biểu thức nghi vấn phủ định:
-masenka (~ませんか)(có V không/ không V à)
2.3.1.14 Gián tiếp bằng những từ ngập ngừng đứng ở đầu
câu: eeto, ano, un, soudesune…(ええと、あの、う
ん、そうですね ) (à, ừ, ừm, cái này thì…)
50
Trang 52.3.2 Ngập ngừng cho đến im lặng - biểu hiện tối cao của
gián tiếp tiếng Nhật
53
2.3.2.1 Ngừng ngừng, im lặng để nhường quyền phát ngôn
cho đối phương
53
2.3.2.2 Ngập ngừng, im lặng để tránh đối đầu 57 2.3.2.3 Ngập ngừng, im lặng là tự hạn chế mình nói ra điều
không vui cho đối phương
60
Chương 3: Những biểu hiện gián tiếp trong đề
nghị và từ chối của tiếng Nhật
Trang 63.2.5 Dùng ngập ngừng trong chuỗi lời nói 80
3.2.7 Dùng biểu thức giảm nhẹ: -to omou(~と思う) 82 3.3 Đặc trưng của gián tiếp trong tiếng Nhật 85 3.3.1 Thể hiện tính tương tác trong cộng đồng 86
Trang 7Hiện nay, ngoài những tác giả Âu-Mỹ, còn có những công trình nghiên cứu về vấn đề này đáng được nhắc đến của tác giả người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Thành tựu nghiên cứu của họ trong lĩnh vực này có ý nghĩa lớn lao trong nghiên cứu lý thuyết ngôn ngữ, trong việc dạy
có thể đạt được điều chúng ta mong muốn một cách tốt nhất Những yếu tố
và chuẩn mực này, một mặt mang những nét đặc trưng chung cho mọi dân tộc trên thế giới, mặt khác mang sắc thái đặc trưng cho mỗi một cộng đồng Hiểu sai hoặc không hiểu những nét chung và riêng đó có thể đem lại cho chúng ta những thất bại trong giao tiếp, có nghĩa là, không đạt được điều mình mong muốn
Trong các hành động ngôn ngữ, đề nghị và từ chối là một cặp hành vi được coi là mang tính đe dọa thể diện cao, nhưng lại xuất hiện nhiều trong giao tiếp Từ chối là hành vi đi ngược lại với yêu cầu, nguyện vọng của đối
Trang 8tác giao tiếp cho nên phải từ chối như thế nào để không làm tổn thương đối tác mà vẫn đảm bảo duy trì quan hệ là hết sức quan trọng Vậy người ta phải làm sao để đề nghị và từ chối mà không gây mất thể diện cho đối tác Điều này có thể có được chính nhờ các phương thức và các chiến lược lịch sự Một trong những phương thức lịch sự hữu hiệu chính là gián tiếp, cho nên nói tới lịch sự không thể không nói tới gián tiếp
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi sẽ khảo sát biểu hiện gián tiếp như một phương thức lịch sự trong hành vi đề nghị và từ chối bằng tiếng Nhật Đề tài này nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần phát hiện những khác biệt của lịch sự trong ngôn ngữ giao tiếp nói chung, vấn đề gián tiếp nói riêng trong một đại diện của ngôn ngữ phương Đông là tiếng Nhật, những vấn đề mà có thể là lý thuyết lịch sự chủ yếu dựa trên ngôn ngữ châu
Âu chưa bao quát hết Đề tài này cũng có thể trở thành tư liệu để biên soạn sách dạy tiếng Nhật cho người Việt, tư liệu tham khảo trực tiếp cho sinh viên học tiếng Nhật
2 Lịch sử vấn đề
Ngữ dụng học nói chung và hành vi ngôn ngữ nói riêng rất được quan tâm chú ý trong những năm gần đây và các số lượng các công trình nghiên cứu đang được phát triển mạnh Đặc biệt, các nghiên cứu về lịch sự và gián tiếp của hành vi cầu khiến và hành vi từ chối đã giành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Ở Việt Nam, gần đây có khá nhiều công trình liên quan đến lịch sự trong hành động ngôn ngữ như công trình của Vũ Thị Thanh Hương [17] , của tác giả Lê Anh Xuân có nhan đề “Một cách trả lời gián tiếp cho câu hỏi chính danh - trả lời bằng im lặng” [36], của Trần Chi Mai [23] Ngoài ra, còn một số bài viết liên quan đến hành vi từ chối của các tác giả khác đăng trên tạp chí Ngôn ngữ
Trang 9Về các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề lịch sự và gián tiếp trong tiếng Nhật, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như của M.Haugh [48], Matsumoto [50], Sanae Tsuda [52], Ở Việt Nam, gần với
đề tài nghiên cứu của chúng tôi cũng có một số công trình như [16], [34] Đó
là luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Thị Hằng Nga [16] với đề tài
“Tìm hiểu một số đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá ứng xử thể hiện trong hành
vi từ chối của tiếng Nhật (liên hệ với tiếng Việt)” Như có thể thấy, đối tượng khảo sát của chúng tôi khác với đối tượng khảo sát của Nguyễn Thị
Hằng Nga ở những điểm sau Thứ nhất, chúng tôi khảo sát cả hành vi đề nghị và từ chối chứ không phải chỉ hành vi từ chối Thứ hai, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát phương thức lịch sự gián tiếp của tiếng Nhật Khác
với Nguyễn Thị Hằng Nga, chúng tôi coi gián tiếp trong hành vi đề nghị và
từ chối bao gồm cả hiển ngôn và một số biểu hiện hàm ngôn như ngập ngừng, gián đoạn trong chuỗi lời nói và im lặng hoàn toàn
Một công trình khác cũng được chúng tôi tham khảo nhiều là bài viết của Hoàng Anh Thi với nhan đề “Bàn về tính gián tiếp và lịch sự trong giao tiếp tiếng Nhật” [34] Phải nói rằng đây là công trình đầu tiên đề cập đến bản chất của gián tiếp trong tiếng Nhật với tư cách là một phương tiện lịch sự Tác giả đã chỉ ra sự khác biệt mang tính bản chất của gián tiếp tiếng Nhật so với quan niệm trong thuyết lịch sự của Brown và Levinson
Tuy nhiên, công trình này đề cập đến gián tiếp nói chung, chứ không tập trung vào vấn đề gián tiếp trong cặp hành động đề nghị-từ chối Hơn nữa, tác giả cũng không đưa ra danh sách các biểu hiện gián tiếp của tiếng Nhật, một điều hữu ích cho nhiều người dạy và học tiếng Nhật Và như vậy, có thể nói cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề gián tiếp và lịch sự trong hành vi đề nghị và từ chối của tiếng Nhật, cũng như so sánh nó
Trang 10với tiếng Việt để làm rõ tương đồng và khác biệt văn hóa Vấn đề còn bỏ ngỏ này đã trở thành mục đích trong nghiên cứu này chúng tôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các phát ngôn có chứa hành động đề nghị và từ chối trong tiếng Nhật Để nhận diện và phân tích các phát ngôn này, chúng tôi không xem xét lời đề nghị và từ chối như là một phát ngôn riêng lẻ mà đặt nó trong một khuôn khổ lớn hơn, đó là đoạn thoại Từ những đoạn thoại, ta sẽ thấy rõ hơn tính lịch sự và gián tiếp qua hành vi đề nghị và từ chối trong tiếng Nhật
4 Mục đích và nội dung của luận văn
Mục đích của luận văn là phân tích tính lịch sự và gián tiếp qua hành
vi đề nghị và từ chối trong tiếng Nhật duới góc độ dụng học – văn hoá (cultural pragmatics) Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung vào giải quyết ba nội dung cơ bản như sau:
a Gián tiếp và lịch sự trong đề nghị và từ chối của tiếng Nhật
b Gián tiếp - một cách thể hiện lịch sự trong tiếng Nhật
c Tính xã hội - bản chất của gián tiếp trong tiếng Nhật
5 Nhiệm vụ và Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu những nghiên cứu có liên quan về lịch sự trong hành động ngôn ngữ
- Khảo sát phương thức đề nghị và từ chối của tiếng Nhật trong một số tác phẩm văn học của Nhật Bản trong giai đoạn cuối thế kỷ XX (có so sánh với tiếng Việt)
- Phát hiện và miêu tả phương thức gián tiếp trong đề nghị và từ chối của người Nhật qua các tác phẩm văn học đó
- Để thực hiện các nhiệm vụ trên, luận văn sử dụng các phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê
Trang 116 Đóng góp của luận văn
Trong những năm gần đây, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đã phát triển không ngừng Số lượng người Việt Nam học tiếng Nhật cũng như
số lượng người Nhật học tiêng Việt đã tăng lên đáng kể Trong khi đó những nghiên cứu về tiếng Nhật nói chung và lịch sự trong tiếng Nhật nói riêng vẫn còn rất khiêm tốn Vì vậy, nghiên cứu những biểu hiện ngôn ngữ của tính lịch sự cũng như áp lực văn hoá đối với lịch sự tiếng Nhật, góp phần phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ cũng như văn hoá của hai ngôn ngữ đã trở nên cần thiết Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể áp dụng để giảng dạy lý thuyết và dạy tiếng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ sở của lý thuyết
Chương II: Gián tiếp và lịch sự trong tiếng Nhật
Chương III: Những biểu hiện gián tiếp trong đề nghị và từ chối tiếng Nhật (so sánh với tiếng Việt)
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Hội thoại và cấu trúc hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
“Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.” (V.I.Lênin) Giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều hình thức như là giao tiếp một chiều (còn gọi là độc thoại) Giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn (còn gọi
là hội thoại) Trong xã hội loài người, giao tiếp hai chiều là cơ bản và phổ biến nhất, gồm một người nói, một người người nghe và có sự phản hồi trở lại Trong cuộc thoại, khi có sự phản hồi thì vai trò của người tham gia cuộc thoại cũng thay đổi Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe mà G.Yule gọi là tương tác Và như vậy, hội thoại là sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham thoại
Theo Đỗ Hữu Châu [4, tr.15], các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như thời gian, không gian, nơi chốn, số lượng người tham gia, cương vị tư cách người tham gia, về tính chất cuộc thoại, vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hoà cuộc thoại để đạt đến cái đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định
1.1.2 Các quy tắc hội thoại
Hội thoại diễn ra theo quy tắc nhất định Bàn về quy tắc hội thoại, Orecchioni đã chia quy tắc hội thoại thành ba nhóm:
-Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
-Cácquy tắc chi phối cấu trúc hội thoại
-Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
Trang 13Luân phiên lượt lời là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hội thoại Trong cuộc thoại, từng người nói một và không nói đồng thời Người nói luân phiên nhau, đó là lượt lời mà theo G.Yule [37, tr.136], lượt lời hoạt động theo một hệ thống điều hành cục bộ, được hiểu theo lối quy ước giữa thành viên trong một nhóm xã hội
Về quy tắc chi phối hội thoại, theo Nguyễn Đức Dân (1998) [9, tr 103] những phát ngôn trong một lượt lời là những hành vi hội thoại Sự liên kết giữa hai lượt lời là sự liên kết giữa hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp Rất nhiều loại phát ngôn trong hội thoại đòi hỏi phải có sự hồi đáp riêng biệt như hành vi chào yêu cầu có một lời chào đáp lại, hành vi đề nghị cần có phản hồi hoặc chấp nhận hoặc từ chối, hành vi hỏi cần có câu trả lời Một hành vi ngôn ngữ xuất hiện có thể được chấp nhận hoặc từ chối Tất nhiên, người tham thoại cũng có thể lờ đi mà không có một biểu đạt ngôn ngữ nào Nhưng dù tuân theo hành vi dẫn nhập, từ chối hay lờ đi, người tham thoại vẫn phải có chiến lược giao tiếp và phương tiện biểu đạt trong hành vi hồi đáp của mình
Quan hệ cá nhân giữa những người tham thoại cũng có tầm quan trọng đặc biệt trong tương tác hội thoại Đó là những nhân tố sẵn có trong cuộc tương tác nhưng chúng nằm ngoài tương tác Chúng liên quan tới quan
hệ thân – sơ, quan hệ vị thế xã hội, tuổi tác quyền lực và được thể hiện khác nhau ở cộng đồng người Theo Nguyễn Đức Dân (1998) [9, tr.122], quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ:
- Quan hệ ngang (quan hệ thân – sơ)
- Quan hệ dọc (quan hệ vị thế)
a Quan hệ ngang:
Quan hệ ngang chỉ rõ mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa những người tham gia giao tiếp Mối quan hệ này có thể thay đổi và điều
Trang 14chỉnh trong quá trình hội thoại, từ sơ đến thân hoặc ngược lại Hình thức có thể đối xứng, hoặc phi đối xứng Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngang như bằng lời nói, cử chỉ điệu bộ hoặc dấu hiệu bằng lời Người nói có nhiều công cụ để lựa chọn khi muốn thể hiên quan hệ hàng ngang này
b Quan hệ dọc
Quan hệ dọc là quan hệ tôn ti trong xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới trong giao tiếp Quan hệ này được đánh dấu bằng yếu tố quyền lực Quan hệ này có tính chất tương đối và phụ thuộc vào những yếu tố khách quan như cương vị xã hội, giới tính, tuổi tác Những yếu tố khách quan này tạo các vị thế khác nhau tuỳ theo quan niệm truyền thống văn hoá của mỗi cộng đồng người Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ vị thế như bằng lời, bằng cử chỉ hoặc điệu bộ Hầu như mọi yếu tố trong hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế Những dấu hiệu bằng lời giống như ở quan hệ ngang, hệ thống xưng hô, hệ thống đại từ, các hành vi ngôn ngữ, hành vi hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế, và điều này được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá Do vậy, người tham gia giao tiếp cần hiểu và nắm bắt được những quan niệm về vị thế giữa các dân tộc, giữa các nền văn hoá để có những hành vi ứng xử đúng đắn
1.1.3 Cấu trúc hội thoại
1.1.3.1 Đoạn thoại
Hội thoại có những tổ chức nhất định mà đoạn thoại là một trong các yếu tố của nó Theo Đỗ Hữu Châu (2001) [4, tr.209], đoạn thoại là mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Trong đoạn thoại, những người tham gia hội thoại nói về một chủ đề duy nhất Việc phân định đoạn thoại không dễ dàng bởi những danh giới mơ hồ, đôi khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán Có thể ít nhiều định hình đoạn thoại qua cấu trúc: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn
Trang 15thoại kết thúc Đoạn thân thoại liên quan tới hình vi đề nghị và hành vi từ chối là cặp trao – đáp có chứa phát ngôn đề nghị tiền vị và phát ngôn từ chối Ví dụ:
- Đây này, hộ tịch của con chuyển rồi Ngày đi, chính con nhờ người cắt, con nhớ không
- Dạ, con nhớ Nhưng trong khi làm thủ tục giấy tờ
- Trong khi chờ thủ tục, giấy tờ con cứ đi đâu đó sau này nhà máy người ta có trách nhiệm
- Cậu định không cho con ở nhà?
- Trong nhà này chỉ có những người đăng ký mới được ở
- Cậu cho con mượn hộ khẩu con đi đăng ký tạm trú
- Trong đời cậu, chưa có một lần nào đưa hộ khẩu cho người khác mượn
- Cậu ơi, con chỉ xin cậu một lần này
- Lần nào đối với cậu cũng thế Đời cậu chưa bao giờ nói lần thứ hai để thay đổi những ý định của mình
( 17, tr.120)
Chủ đề duy nhất của cuộc thoại là việc hỏi mượn sổ hộ khẩu và thái
độ từ chối của người cha
1.1.3.2 Ngữ cảnh
Hội thoại bao giờ cũng xảy ra trong một ngữ cảnh nhất định Các nhân
tố tham gia vào hoạt động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh Cách thức
đề nghị và từ chối trong hội thoại được xuất hiện trong những ngữ cảnh được xác định Ngữ cảnh bao gồm các tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tự nhiên xung quanh, đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng xử, các khía cạnh liên quan như quan hệ thân – sơ, địa điểm, thời gian nơi diễn ra cuộc thoại, nội dung của cuộc thoại có chứa hành vi đề nghị và từ chối có liên
Trang 16quan Tất cả những yếu tố được gọi là ngữ cảnh ấy cùng tham dự vào cuộc thoại, quy định cách thức tiến hành cuộc thoại
1.1.3.3 Lượt lời
Đây là sự tương tác qua lại trong hội thoại Trong cuộc thoại người nói sẽ luân phiên nhau Vai người nói sẽ thường xuyên thay đổi, và lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Hai lượt lời có quan
hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại Lượt lời có chứa các hành
vi, trong đó có hành vi đề nghị và hành vi từ chối Các lượt lời trong cuộc thoại phải bảo đảm tính thống nhất nội dung phục vụ cho sự phát triển vấn
đề, hướng tới đích của cuộc thoại là điều kiện cho cuộc thoại thành công Trong ví dụ nêu trên, hai nhân vật tham thoại liên kết chặt chẽ và lượt lời với nội dung thống nhất: hỏi – trả lời, đề nghị - từ chối, nhờ vả - khước từ
1.2 Hành vi ngôn ngữ
Việc nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của loài người đã được các nhà ngôn ngữ học bắt đầu chú ý từ nhiều thập kỷ trước Trong đó có J.L.Austin, một nhà triết học người Anh ở trường đại học Harvard (Mỹ) đã trình bày 12 chuyên đề Năm 1962 , những chuyên đề này
đã được tập hợp lại xuất bản thành sách có nhan đề “How to do things with word” Có nhiều cách dịch như là “Hành động như thế nào bằng lời nói” hay
“Nói tức là hành động” Đồng thời cũng xuất hiện một số thuật ngữ khác nhau như: hành động lời nói, hành động ngôn từ, hành động ngôn ngữ Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ : “Hành động ngôn ngữ”
Austin đã đưa ra tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành
vi ngôn ngữ, hành vi ở lời, hành vi tạo lời và hành vi mượn lời Austin đã điều chỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói mà trước đây F.D.Saussure đã phân biệt:
Trang 17Hành vi ở lời (illocutionary act) là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Hành vi tạo lời (locutionnary act) là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo
ra được một phát ngôn về hình thức nội dung Hành vi mượn lời (perlocutionary act) là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói [4, tr.88-89]
1.3 Tính gián tiếp trong thuyết lịch sự
1.3.1 Định nghĩa lịch sự
Theo J.Thomas, phép lịch sự được xem như là một (hay một loạt chiến lược) được người nói dùng để hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hoà (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.257])
Theo Lakoff thì lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.258])
Theo Leech phép lịch sự có các chức năng như giữ gìn sự cân bằng xã hội và quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta có tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta (Dẫn lại của
Đỗ Hữu Châu [4, tr.261])
Theo C.K Orecchioni, phép lịch sự liên quan đến tất cả các phương diện của diễn ngôn Tức là:
1 Bị chi phối bởi các quy tắc
2 Xuất hiện trong địa hạt quan hệ liên cá nhân
Trang 183 Có chức năng giữ gìn tính chất hài hoà quan hệ đó
Lịch sự cũng bao gồm cả không lịch sự như G.M.Green thì viết: “Những người tham gia hội thoại có thể chọn cách cư xử sự lịch sự, tránh cục cằn thô
lỗ Họ có thể chọn cách cư sử tuỳ thích không đếm xỉa đến tình cảm và nguyện vọng của người khác Họ còn có thể dựa vào những hiểu biết của mình về quy tắc lịch sự để tỏ ra cục cằn thô lỗ một cách cố ý.” (Dẫn lại của
Đỗ Hữu Châu [4, tr.264])
Brown và Levinson đưa ra định nghĩa về lịch sự dựa trên khái niệm thể diện (face), đó là “hình ảnh -về -ta cộng đồng mà mỗi thành viên muốn mình có được” Thể diện gồm thể diện âm tính và thể diện dương tính (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.263])
Vậy , lịch sự theo cách hiểu của chúng tôi đó là cách sử dụng hành động ngôn ngữ sao cho giữ được mối quan hệ hài hoà, giảm thiểu được sự xung đột trong các cuộc thoại
1.3.2 Các thuyết về lịch sự
R.Lakoff nêu lên ba loại quy tắc lịch sự Đó là quy tắc không được áp đặt, quy tắc dành cho người đối thoại lựa chọn, quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.257])
Quy tắc không được áp đặt thích hợp với những ngữ cảnh trong đó giữa những người tham gia tương tác có những khác biệt được nhận biết về quyền lực và cương vị như giữa sinh viên và chủ nhiệm khoa, giữa công nhân và ông phó giám đốc nhà máy phụ trách tổ chức Áp đặt đối với người nghe (H) có nghĩa là làm cho H không thể hành động theo H muốn Không
áp đặt có nghĩa là không ngăn cản H hành động theo ý muốn của mình Người nói (S) lịch sự theo quy tắc này sẽ tránh, làm dịu bớt, hoặc xin phép, xin lỗi H khi buộc người đối thoại H phải làm điều mà H không muốn làm,
Trang 19tránh cả những hành động khiến H xao lãng điều H đang làm hay đang nghĩ tới khi S nói với H
Quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn thích hợp với những ngữ cảnh trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị gần tương đương với nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội, thí dụ giữa thương nhân và khách hàng mới, giữa hai người không quen biết nhau trong phòng bệnh Dành cho sự lựa chọn có nghĩa là bày tỏ ý kiến sao cho ý kiến hay lời thỉnh cầu của mình có thể không được biết đến mà không bị bác bỏ hay từ chối Nói chung, nếu S muốn thuyết phục người nghe theo môt quan điểm hay về một công việc nào đó thì S sẽ nói sao cho H không buộc phải nhận ra
ý định của S Những điều S khẳng định hay thỉnh cầu đều rào đón hoặc nói theo lối hàm ẩn (Theo Đỗ Hữu Châu [4, tr.258])
Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè thích hợp với bạn bè gần gũi hoặc thực sự thân mật với nhau Theo quy tắc này thì “Đã là bạn bè với nhau thì không có gì phải giấu giếm nhau nữa cả” Nói chung, trong phép lịch sự này, người ta không phải “uốn lưỡi” Nguyên tắc chi phối ở đây không phải
là chỉ dừng ở chỗ tỏ ra quan tâm thực sự lẫn nhau mà còn tỏ ra săn sóc nhau, tin cậy nhau bằng cách “thổ lộ hết tâm can với nahu”, bộc lộ hết mọi chi tiết của cuộc sống, kinh nghiệm, cảm xúc…của mõi người đối với nhau Những người đối thoại theo phép lịch sự này thường dùng các từ xưng hô thân thuộc, kể cả các biệt danh, những lời chửi thề
Khác với quy tắc lịch sự của Lakoff, quy tắc lịch sự của Leech dựa trên hai khái niệm tổn thất (cost) và lợi ích (benefit), một siêu nguyên tắc (như nguyên tắc cộng tác), các phương châm và tiểu phương châm Siêu nguyên tắc lịch sự của Leech bao gồm sáu phương châm lịch sự lớn và một
số phương châm phụ khác (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.261]) Các phương châm cụ thể đó là:
Trang 20(1) Phương châm khéo léo
a Giảm thiểu tổn thất cho người (other)
b Tăng tối đa lợi ích cho người
(2) Phương châm rộng rãi
a Giảm thiểu lợi ích cho ta (self)
b Tăng tối đa tổn thất cho ta
(3) Phương châm tán thưởng
a Giảm thiểu sự chê bai đối với người
b Tăng tối đa khen gợi người
(4) Phương châm khiêm tốn
a Giảm thiểu khen ngợi ta
b Tăng tối đa sự chê bai ta
(5) Phương châm tán đồng
a Giảm thiểu sự bất đồng giữa người và ta
b Tăng tối đa sự đồng ý giữa người và ta
(6) Phương châm thiện cảm
a Giảm thiểu ác cảm giữa người và ta
b Tăng tối đa thiện cảm giữa người và ta
Theo Leech, những phương châm trên có tính chuyên dụng đối với những hành vi ở lời nhất định Mức độ lịch sự của một hành vi ở lời theo Leech phụ thuộc vào ba nhân tố Thứ nhất là phụ thuộc vào bản chất của hành vi đó Thứ hai là phụ thuộc vào hình thức ngôn từ thể hiện hành vi đó Thứ ba là tuỳ theo mức độ quan hệ giữa người cầu khiến và người được cầu khiến (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.262])
Brown và Levinson xây dựng lý thuyết lịch sự trên khái niệm thể diện Thể diện được Brown và Levinson định nghĩa là: “hình ảnh- về -ta công
Trang 21cộng mà mỗi thành viên trong xã hội muốn mình có được” Thể diện lại gồm hai phương diện: thể diện âm tính và thể diện dương tính [4, tr.263]
“Thể diện âm tính là mong muốn không bị can thiệp, mong muốn được hành động tự do theo như mình đã lựa chọn.”(J.Thomas), nó là “nhu cầu được độc lập, tự do trong hành động, không bị người khác áp đặt.”(G.Yule, tr.121), nó bao gồm “quyền tự do hành động mà không bị can thiệp.” (G.M Green) (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.264]
Thể diện dương tính là cái “được phản ánh trong ý muốn mình được
ưa thích, tán thưởng, tôn trọng, đánh giá cao”(J.Thomas), là “sự thoả mãn khi một giá trị của mình được tán thưởng”(G.M.Green) G.Yule giải thích cụ thể hơn: “Thể diện dương tính của một người là cái nhu cầu được chấp nhận, thậm chí được yêu thích bởi người khác, được đối xử như là thành viên của cùng một nhóm xã hội và nhu cầu được biết rằng mong muốn của mình cũng được người khác chia sẻ Nói đơn giản thì thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập, còn thể diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người khác.” [37, tr.121]
Trong tương tác bằng lời và không bằng lời chúng ta phải thực hiện những hành động, những hành vi ngôn ngữ nhất định Đại bộ phận những hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đến thể diện Brown và Levinson gọi chúng là các hành vi đe doạ thể diện –Face Threatening Acts, viết tắt là FTA [4, tr.273-275] Có những hành vi:
- Đe doạ thể diện âm tính của người thực hiện nó như hành vi tặng biếu, hứa hẹn
- Đe doạ thể diện dương tính của người thực hiện như thú nhận, cám
ơn, xin lỗi, tự phê bình…
- Đe doạ thể diện âm tính của người tiếp nhận Đó là những hành vi phi lời như vi phạm không gian, sờ mó không được phép, nhìn uy hiếp
Trang 22người ta, gây ồn ào, phun mùi khói thuốc lá… Những hành vi ngôn ngữ như khuyên nhủ, dặn dò, chỉ vẽ quá mức, những câu hỏi tò mò vào đời tư của người ta, nói chặn, nói leo, ngắt lời
Đe doạ thể diện dương tính của người tiếp nhận như phê bình, chê bai, chế giễu…
Theo Brown và Levinson thì bất cứ hành vi ngôn ngữ nào cũng tiềm tàng hiệu lực đe dọa thể diện nên hai ông đã tập hợp các chiến lược lịch sự khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ thành năm siêu hay tổng chiến lược và được biểu diễn theo sơ đồ sau:
(Sơ đồ năm siêu chiến lược lịch sự của Brown và Levinson -1987) Hội thoại là thực hiện các hành vi ở lời, mà hành vi ở lời đều tiềm ẩn khả năng đe doạ thể diện cho nên lịch sự trong giao tiếp chủ yếu là sự điều phối các thể diện bằng các hành vi ngôn ngữ.Vì thế người nói phải tính toán được các mức độ hiệu lực đe doạ thể diện của hành vi ở lời mình định nói để
từ đó tìm cách giảm nhẹ nó Mức độ đe doạ thể diện của một hành vi ngôn ngữ theo Brown và Levinson được đánh giá theo thông số: quyền lực, khoảng cách và mức độ trầm trọng của các hành vi đe doạ thể diện Đánh giá
Thực hiện FTA
5 Không thực hiện FTA
Trang 23được đúng mức độ hiệu lực đe doạ thể diện rồi, người nói sẽ quyết định lựa chọn chiến lược lịch sự nào là thích hợp nhất với quan hệ liên cá nhân, với mục đích của cuộc hội thoại Do đó, Brown và Levinson đã đưa ra khái niệm lịch sự âm tính và lịch sự dương tính
Phép lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính, vào lãnh địa của đối tác Phép lịch sự dương tính là phép lịch sự hướng vào thể diện dương tính của người tiếp nhận Nói cụ thể hơn, phép lịch sự âm tính có tính né tránh,
có nghĩa là tránh không dùng những hành vi đe doạ thể diện hoặc bù đắp, giảm nhẹ hiệu lực của các hành vi đe doạ thể diện khi không thể không dùng chúng
Các biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện các hành vi đe dọa thể diện FTA được Brown và Levinson gọi là các biện pháp dịu hoá (Softenners) Theo hai ông, biện pháp dịu hoá là biện pháp giảm hiệu lực đe dọa thể diện của người nghe Chúng bao gồm:
a Các biện pháp thay thế cho cho các hành vi đe dọa thể diện (FTA)
- Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp
- Các biện pháp hình thái học ở các ngôn ngữ biến hình như các lối nói điều kiện (conditionnel), thời quá khứ chưa hoàn thành (imparfait) trong tiếng Pháp
- Các phương tiện tu từ như nói giảm, nói vòng v.v… Các phép phủ định lịch sự như: không sớm lắm đâu, không lấy gì làm, không phải là thông minh cho lắm v.v…
Trang 24- Tình thái hoá như: tôi nghĩ rằng, tôi thấy rằng, có lẽ là, theo tôi nghĩ v.v…
- Biện pháp “tháo ngòi nổ”: Dùng trong trường hợp dự đoán rằng hành vi sắp thực hiện có thể gây hiệu quả xấu cho người nghe, khi đó có thể nói trước cho người nghe hiệu quả xấu đó như:
Tôi rất băn khoăn phải phiền anh nhưng…
Mình biết cậu không muốn rời cái băng đó ra một phút nhưng…
- Những yếu tố vuốt ve: Đây là cách nói nêu ra những ưu điểm của người nhận trước khi đưa ra hành động đe dọa thể diện Ví dụ như: Anh bạn thủ khoa toán của tớ ơi, giảng hộ tớ bài toán này với
Cậu sẽ rất tuyệt vời nếu cậu ra phô tô hộ tớ cuốn này
Phép lịch sự dương tính nhằm thực hiện những hành vi tôn vinh thể diện, tức những hành vi làm gia tăng một trong hai thể diện của đối tác Phép lịch sự dương tính cũng nhằm gia tăng lợi ích thể diện cho người nói, là cách người nói tìm cách gia tăng thể diện cho mình bằng cách cố ý nêu bật mục đích làm cho đối tác nhận biết rằng người đó có cùng mục đích giao tiếp hội thoại như mình, hoặc dùng những từ ngữ thể hiện thân tình như từ xưng hô thân mật, những từ ngữ như đã nói suồng sã… Bằng cách xử sự như vậy, người nói nghĩ rằng sẽ tạo lập được sự liên thông với đối tác
Vì lịch sự dương tính nhằm thoả mãn nhu cầu thể diện dương tính của người nhận FTA và cả người nói ra FTA cho nên các biện pháp ngôn ngữ thể hiện nó ở FTA chủ yếu là nhằm tôn vinh thể diện của người nghe và cả người nói nên có thể quy các biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự dương tính khi thực hiện FTA thành hai nhóm:
Thứ nhất: dùng các hành vi tôn vinh thể diện người nhận như các biện pháp vuốt ve, xin lỗi, xin phép v.v…
Trang 25Thứ hai: dùng các yếu tố ngôn ngữ nhằm xác lập quan hệ cùng nhóm
xã hội giữa người nói và người nhận (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.279])
Xét về ngôn từ thì dường như ngôn ngữ nào cũng có những biểu hiện của lịch sự dương tính và lịch sự âm tính, tuy rằng những biểu hiện này không đồng đều: có ngôn ngữ sử dụng nhiều phương tiện lịch sự dương tính
và ngược lại Và nếu vậy, thuyết phổ niệm lịch sự (universal politeness theory) của Brown và Levinson sẽ mang tính đúng đắn tuyệt đối Tuy nhiên, thực tế là khi đem lí thuyết lịch sự áp dụng để nghiên cứu các ngôn ngữ cụ thể thì lại có nhiều vấn đề nảy sinh Đó cũng là lí do chúng tôi tiến hành khảo sát gián tiếp và lịch sự trong tiếng Nhật
1.3.3 Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp do Searle đưa ra vào năm 1969
và được phát triển trong công trình “Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp” Searle
đã đưa ra định nghĩa: “Một hành vi tạo lời được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tạo lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp” (dẫn lại của Nguyễn Đức Dân [9, tr.59])
Theo Nguyễn Đức Dân [9, tr.60], hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi theo lối gián tiếp Một hành vi
sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác
Ví dụ: Chị gái của Ken nói chuyện với Ken
- Ano hito, mikonde toshiwa kenchan to onajitoshiyo
(Người đó chưa kêt hôn, bằng tuổi với Ken đấy)
Trang 26Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp là một trong những phương thức tạo
ra tính mơ hồ về nghĩa trong lời nói Tuy nhiên, không phải tuỳ tiện muốn dùng hành vi ở lời trực tiếp nào để tạo ra hành vi ở lời gián tiếp nào cũng được Quy tắc sử dụng gián tiếp các hành vi ở lời hoặc vấn đề một hành vi ở lời trực tiếp có thể được dùng để tạo ra những hành vi gián tiếp nào là vấn đề chưa được giải quyết đến nơi đến chốn Catherine Kerbrat Orecchioni đã dẫn làm thí dụ một số trường hợp sau đây (Dẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.147-148])
1) Hiệu lực trực tiếp: trần thuật / Hiệu lực gián tiếp: cầu khiến
- Đèn nhà bếp hỏng rồi / Thay bóng đèn đi
- Hôn nay con được điểm mười toán / Mẹ cho con ăn kem
2) Hiệu lực ở lời trực tiếp: trần thuật / Hiệu lực ở lời gián tiếp: mong muốn
- Anh Tuấn vừa mua cho chị ấy chiếc áo da / Em cũng muốn có một chiếc
áo như vậy
- Hè này vợ chồng Lan sẽ đi nghỉ ở Đà Lạt / Giá vợ chồng mình cũng đi nghỉ mát như họ nhỉ !
3) Hiệu lực ở lời trực tiếp: trần thuật / Hiệu lực ở lời gián tiếp: hỏi
- Bác Trị đã bỏ được thuốc lá rồi / Còn anh thì sao?
Trang 27- Anh chàng lại đến rồi / Bạn có tiếp hắn không?
4) Hiệu lực ở lời trực tiếp: mong muốn / Hiệu lực ở lời gián tiếp: cầu khiến
- Giá ai xách hộ thùng nước lên nhỉ / Anh xách hộ tôi thùng nước
5)Hiệu lực ở lời trực tiếp: hỏi / Hiệu lực ở lời gián tiếp: cầu khiến
- Mày có dọn dẹp sách vở cho gọn lại không? / Dọn dẹp ngay sách vở cho ngọn
- Anh có thuốc lá không? / Cho tôi một điếu!
6)Hiệu lực ở lời trực tiếp: hỏi / Hiệu lực ở lời gián tiếp: khẳng định
- Mày không làm vỡ cái cốc thì ai làm? / Chính mày làm vỡ cái cốc
7)Hiệu lực ở lời: trần thuật / Hiệu lực ở lời gián tiếp: từ chối
- A: Tối nay đi dự ca nhạc đi
- B: Tối nay, mình bận học thi / Tối nay, mình không đi được
Có thể nói hiệu lực ở lời gián tiếp là cái thêm vào cho hiệu lực ở lời trực tiếp Muốn nhận biết được hiệu lực ở lời gián tiếp thì người nghe trước hết phải nhận biết hiệu lực ở lời của hành vi trực tiếp Và bởi vì tất cả các hành vi ở lời nào cùng được dùng gián tiếp cho nên muốn sử dụng và nhận biết được các hành vi ở lời gián tiếp thì phải biết tất cả các biểu thức ngữ vi
và hiệu lực ở lời của tất cả các hành vi ở lời Nhận biết được hành vi ở lời gián tiếp là kết quả của hoạt động suy ý từ hành vi trực tiếp nghe được (đọc được) Ví dụ ở trong tiếng Nhật cấu trúc “động từ + tekudasai” (~てくださ い)có hiệu lực ở lời trực tiếp là đề nghị yêu cầu (hãy làm…), nhưng cấu trúc hiệu lực ở lời gián tiếp là hỏi (có thể hộ tôi được không / tôi có thể nhận được việc …của anh không) có cấu trúc là -te kudasaimasenka (~てくださ
い ま せ ん か ) / -te moraemasenka ( ~ て も ら え ま せ ん か ) / -te itadakemasenka(~ていただけませんか).Vídụ:
Trang 28- Hon wo katte kudaisai 「本を買ってください」
(Chị hãy mua cho tôi quyển sách)
- Hon wo katte kudaisaimasenka.「本を買ってくださいませんか」
(Chị có thể mua sách hộ tôi được không?)
- Hon wo katte moraemasuka.「本を買ってもらえませんか」
(Dịch trực nghĩa: Tôi có thể nhận được việc mua sách từ chị không?)
Có thể nhận biết hành vi ngôn ngữ gián tiếp thông qua ngữ cảnh, biểu thức ngữ vi, các phương châm hội thoại, phép lịch sự, các quy tắc liên kết, các quy tắc hội thoại và cả lôgic nữa
Ngay từ đầu thập kỉ 70 đã có hàng loạt công trình đề cập đến hành vi gián tiếp (HVGT) Người ta tiếp tục tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “Do đâu mà một hành vi tại lời (HVTL) này lại nảy sinh một HVTL khác - một HVGT
Theo Nguyễn Đức Dân [9, tr.69], quan điểm của Morgan về HVGT như là những quy ước về việc dùng ngôn ngữ rất gần với cách tiếp cận sau: Người ta quan sát thấy rằng những HVGT, trong rất nhiều trường hợp, đều được mọi người dùng và hiểu một cách trực tiếp như là những “hiệu lực tại lời”, nghĩa là chúng không còn là “gián tiếp nữa”
Vậy con người đã dùng và hiểu các HVGT như thế nào? Mỗi người sử dụng là một cá thể, một bộ phận, trong toàn thể những người sử dụng của một cộng đồng ngôn ngữ Vì vậy, họ không được phép tùy tiện sử dụng theo cách riêng của mình, vì điều này sẽ khiến người khác không hiểu Họ luôn luôn dùng ngôn ngữ như là một thành viên của một cộng đồng ngôn ngữ phản ánh các điều kiện bao quát nhất trong cộng đồng Trong số các điều kiện này, có những thể chế quốc gia mà xã hội đã đặt ra về phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như thể chế của các cơ quan nhà nước khác Có những ước chế xã hội về những quan hệ gia đình, hôn nhân, chợ
Trang 29búa… Tất cả các loại thể chế, ước chế và tập tục này đều liên quan tới con người và được mọi người trong xã hội thừa nhận Chúng được hợp thức hoá trong xã hội và có được sự biểu hiện hình thức trong ngôn ngữ Nghĩa là để hình thành các quy ước về sự dùng ngôn ngữ phản ánh các thể chế, quy ước
xã hội của nó Theo cách này ngôn ngữ đã được chuẩn hoá và mã hoá về các thể chế, ước chế xã hội và đi vào tâm thức của mỗi con người Nói cách khác: Hiện thực xã hội là cơ sở cho những hiện tượng ngôn ngữ Ngôn ngữ
đã phản ánh , “cấu tạo” và gìn giữ các thể chế và ước chế xã hội Nhận ra HVGT không cần qua các bước suy luận như của Searle, nó được nhận thức một cách trực tiếp, các HVGT như là cấu trúc ngôn ngữ của những sự kiện
xã hội đã được mã hoá
Không ít người đề cập đến tính tế nhị, lịch sự khi bàn về hành vi gián tiếp Có một số khuôn mẫu nói năng trở thành một cách quy ước biểu thị tính cách tế nhị, lịch sự để đưa ra đề nghị một cách gián tiếp Có lẽ thế này thì đúng hơn: Không phải vì tôi tế nhị mà tôi đề nghị môt cách gián tiếp, mà
là cách dùng gián tiếp làm cho tôi trở thành người lịch sự Điều này có nghĩa
là tính tế nhị, lịch sự không phải là nguyên nhân làm nên tính gián tiếp của ngôn ngữ mà cái nghĩa có thể gắn cho cách dùng ngôn ngữ, gắn với câu hỏi,
là chứng cứ của tính lịch sự, tế nhị Nghĩa này biểu hiện một cách dùng, một lối sống mà chúng ta đã học hỏi trong quá trình trưởng thành
1.3.4 Tính gián tiếp trong giao tiếp và gián tiếp trong tiếng Nhật
Như chúng tôi đã đề cập, theo Searl thì hành vi gián tiếp là “Một hành
vi tạo lời được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tạo lời khác sẽ được gọi
là một hành vi gián tiếp” Xét về hành động ngôn ngữ thì nó chỉ là một định nghĩa rất gọn ghẽ Tuy nhiên, theo khảo sát của một số học giả khác, biểu hiện của ngôn ngữ gián tiếp lại vô cùng phong phú Dehorah Tannen (1989, tr.23) (dẫn lại của Sanae Tsuda [52], dựa vào nguyên tắc lịch sự của Lakoff
Trang 30để chỉ ra vai trò của gián tiếp trong giao tiếp như sau: “Một đặc trưngcơ bản của ngôn ngữ là những gì các nhà phân tích văn học gọi là sự lược bỏ và các nhà phân tích hội thoại gọi là gián tiếp hay còn gọi là nghĩa hàm ngôn, tức là
sự truyền đạt nghĩa không được nói ra” Theo bà, sự gián tiếp luôn xuất hiện
và không thể thiếu được trong hội thoại vì gián tiếp liên quan đến hai lý do chính, đó là giữ được hoà khí trong cuộc thoại và có được mối quan hệ tốt từ
việc hiểu nhau mà người nói không phải nói ra
Tannen cũng đã đề cập đến tính gián tiếp với tác động qua lại trong
hội thoại bao gồm cả việc im lặng được coi là thông điệp đa nghĩa Và điều
này đặc biệt đúng trong giao tiếp tiếng Nhật Im lặng trong giao tiếp tiếng Nhật không phải là vô nghĩa mà nó mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau Điều này, chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở chương 2
Sanae Tsuda đã xây dựng khung lý thuyết cho gián tiếp trong hội thoại dựa vào nguyên tắc cộng tác của Grice (1975), lý thuyết thể diện của Ervin và lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson Theo Sanae Tsuda, gián tiếp (chẳng hạn nói đùa và nói giảm bớt) có các chức năng khác nhau trong
hội thoại như tránh sự đối đầu, khai thác thông tin Theo tác giả thì nói đùa như là sự thể hiện của gián tiếp nhằm mục đích làm tăng sự thân thiện Tác
giả cũng đã phân tích sự khác nhau trong cách nói đùa của người Nhật và các nước phương Tây Ở phương Tây, người ta nói đùa ở trong công ty để
có quan hệ tốt với các đồng nghiệp Còn ở Nhật, nói đùa thường được sử dụng trong những cuộc nói chuyện cá nhân với bạn bè thân thiết Cũng theo tác giả thì trong một xã hội, nơi mà người ta nhạy cảm với người trong nhóm như ở Nhật Bản, sự gián tiếp được sử dụng bởi những người có vị trí cao nhằm mục đích đặt ra một giới hạn sẵn cho người có vị trí thấp hơn, như cách để người đó không thể vượt qua giới hạn này Trong ví dụ sau đây, người có vị trí thấp hơn muốn nói một điều, mà điều này đã gây áp lực cho
Trang 31người có ví trí cao hơn Bởi vậy, người ở vị trí cao hơn (tổng giám đốc) đã dùng cách nói gián tiếp như cách để chặn trước điều đó
VD: Tổng giám đốcHasekawa nói chuyện với Shimamura Shimamura là người phản đối kế hoạch sát nhập giữa ngân hàng Mitsubishi và Daiichi
N: Kimiga korehodo wakarazu ya datowa omowanaikatta
「きみがこれほど分からず屋だとは思わなかった」
(Tôi không nghĩ cậu là người không hiểu đến như thế.)
S: Daiichi ginkounotame, soshite toudori notamenimo Mitsubishi tono gappei niwa sansei surukotowa dekimasen
Nhân vật Hasekawa là tổng giám đốc ngân hàng Daiichi, là người có
vị trí cao hơn so với nhân vật Shimamura, nhưng trong trường hợp này Shimamura là người phản đối sát nhập giữa ngân hàng Mitsubishi với Daiichi, luôn tỏ rõ thái độ phản đối kế hoạch sát nhập này gây áp lực cho tổng giám đốc Hasekawa, Hasekawa đã dùng phương thức biểu hiện gián tiếp “-to omowanai” (Tôi không nghĩ là) thực hiện hành động gián tiếp yêu cầu Shimamura đồng ý kế hoạch này
Và Sanae Tsuda cũng đã khẳng định gián tiếp như là một cách giao tiếp của người Nhật Trong cộng đồng giao tiếp tiếng Nhật, gián tiếp được nhiều người sử dụng Thông thường thì gián tiếp làm tăng khoảng cách giao tiếp Nhưng trong tiếng Nhật, có thể sử dụng thể động từ là thể thường hay
Trang 32thể lịch sự, qua đó gián tiếp biểu hiện thái độ của người nói hoặc người nghe
là thái độ thân thiện hay thái độ trang trọng
Chẳng hạn như ví dụ sau đây cách nói gián tiếp là cách thể hiện thái độ thân mật của Hiroko khi đề nghị Mayuri mở nhà hàng, khác với ví dụ mà chúng tôi đã phân tích ở trên cách nói thể hiện thái độ trang trọng của cấp trên khi gián tiếp đề nghị cấp dưới không được phản đối việc liên doanh ngân hàng
VD: Hiroko nói với Mayumi
Hiroko: Minna, renbi hataraku nowa tsurai kara, koutaisei ga iiwayo Soredattara sorehode karada wa kitsukinai to omoukedo Dakara sannin de youbi wo kimereba iinoyo
「みんな、連日働くのは辛いから、交替制がいいわよ。それだったら それほど体はきつくないと思うけど。だから三人で曜日を決めればい
いのよ」
(Cả ba chúng ta, ngày nào cũng làm thì mệt lắm Vậy, chúng ta áp dụng chế độ thay phiên nhau làm Như thế thì mình nghĩ rằng chúng ta sẽ không mệt Vì chúng ta có ba người nên nếu quyết định luôn được ngày làm việc thì tốt quá.)
Mayumi: Futari wa iikedo, watashi, ryouri wa hetadamon Watashi wa tsukurub tokidake, okyakusan ga konai
Trang 33Hiroko đã dùng biểu thức gián tiếp là “-to omou” và “-baii” để đề nghị Mayumi mở nhà hàng Ở cuối phát ngôn của mình, Hiroko không sử dụng thể lịch sự mà sử dụng thể thường “-kimereba iinoyo” Cách sử dụng cách nói gián tiếp của Hiroko trong đoạn hội thoại này biểu thị thái độ thân mật của người nói là Hiroko.
Như vậy, việc công nhận tính gián tiếp của ngôn ngữ như là một chiến lược lịch sự được bắt nguồn từ các lý thuyết lịch sự vốn được sinh ra trong ngôn ngữ châu Âu và đã được một số học giả nghiên cứu, và tất yếu nó sẽ có những khác biệt trong tiếng Nhật Theo nghiên cứu của các học giả thì sự khác nhau trong tính gián tiếp của ngôn ngữ châu Âu và tiếng Nhật chính là:
ở châu Âu, tính gián tiếp thể hiện giữ được hoà khí trong cuộc thoại và có được mối quan hệ tốt từ việc hiểu nhau mà người nói không cần nói ra Còn trong tiếng Nhật tính gián tiếp ngoài việc thể hiện tránh đối đầu giữ hoà khí trong cuộc thoại còn có thể thể hiện thái độ của người nói, thái độ trang trọng, nghiêm nghị hay thái độ thân mật khi kết hợp với thể lịch sự hay thể thường của động từ (như trong cách đề nghị gián tiếp của nhân vật Hiroko trong đoạn hội thoại vừa phân tích trên) Đây chính là đặc thù của tiếng Nhật, bởi chỉ tiếng Nhật mới phân chia thành thể thường (-nai, -ta/da) và thể lịch
sự (-masu/-desu),
Và, theo ý kiến của chúng tôi tính gián tiếp là những cách thức truyền đạt ý chưa được nói ra, hoặc không được nói thẳng ra: dùng hành động ngôn ngữ này để thực hiện hành động ngôn ngữ khác, những lối nói giảm nhẹ…bao gồm cả hiển ngôn và sự khuyết ngôn (ngập ngừng-im lặng) trong
chuỗi lời nói Trong tiếng Nhật, sự khuyết ngôn trong chuỗi lời nói là một đặc thù của tính gián tiếp mà chúng tôi sẽ khảo sát ở chương sau
1.4 Gián tiếp - một c ách thể hiện lịch sự trong hành vi đề nghị và từ chối
1.4.1 Hành vi đề nghị và chiến lược lịch sự trong đề nghị
Trang 34Đề nghị là hành vi mà người nói (S) muốn người nghe (H) làm một việc gì đấy vì lợi ích của người nói Trong hệ thống phân loại hành vi ngôn
từ, hành vi đề nghị được hiểu theo hai nghĩa rộng hẹp khác nhau Hiểu theo nghĩa hẹp thì hành vi đề nghị gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả Hiểu theo nghĩa rộng hành vi đề nghị gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả, xin phép, mời mọc Trong luận văn này, chúng tôi xác định nhận diện hành vi đề nghị theo nghĩa rộng, tức là bao gồm tất cả những biểu hiện ngôn từ mà S đưa ra để yêu cầu H làm một việc gì đó, bất kể việc đó mang lại lợi ích cho ai
Vậy dựa vào tiêu chí nào để nhận diện lời đề nghị trong chuỗi lời nói? Chúng tôi chủ trương nhận diện lời đề nghị một mặt dựa vào các quy tắc cấu tạo, mặt khác dựa vào mối quan hệ với các hành vi khác trong chuỗi hội thoại Do đó, để nhận diện một phát ngôn nào đó là lời đề nghị trước hết căn
cứ vào hành động trả lời bằng lời (bằng lời, không bằng lời) của H, tức là dựa vào cặp liền kề “đề nghị- trả lời”
VD: Một người con gái làm lễ tân ở câu lạc bộ Piano đề nghị Youko đánh một bản nhạc Ở đoạn hội thoại này, người đưa ra đề nghị không sử dụng dạng thức ngôn ngữ tiêu biểu cho hành vi đề nghị trong tiếng Nhật là: động từ dạng “-te kudasai” (“My one and only love” wo hiite kudasai [My one and only loveを弾てください]) mà chỉ đưa ra yêu cầu giống như sự gợi
ý
- My one and only love wa
「My one and only loveは」
(Thế bản “My one and only love” thì thế nào?)
- Gomennasai Wasurechattawa
「ごめんなさい。忘れちゃったわ」
(Xin lỗi Mình quên mất bản nhạc đó rồi)
Trang 35(22, tr.93 )
Theo lí thuyết lịch sự của Brown và Levinson (1987), hành vi đề nghị
là một hành vi đe doạ thể diện điển hình Thứ nhất, hành vi đề nghị là vì lợi ích của người nói, xâm phạm vào lĩnh vực của đối phương (người nghe), thúc đẩy người nghe hành động nên xâm phạm thể diện âm tính (xâm phạm nguyện vọng không muốn bị người khác làm phiền) Thứ hai, khi bị đề nghị, người tiếp nhận hành vi đề nghị có cảm giác bị người đề nghị ghét nếu không đáp ứng hành vi đề nghị, tức là vi phạm thể diện dương tính (xâm phạm nguyện vọng muốn được người khác tiếp nhận, ưa thích) Như vậy, hành vi đề nghị vi phạm cả hai mặt của thể diện, do đó người đề nghị phải điều chỉnh bằng những quan hệ và cách thức khác nhau ở các cộng đồng có nền văn hoá khác nhau Đề nghị đòi hỏi người nói phải khéo léo tìm được hình thức ngôn từ để diễn đạt sao cho người nghe chấp nhận lời đề nghị của mình Điều này phụ thuộc vào các chiến lược đề nghị Mỗi một dân tộc, một cộng đồng có một chiến lược đề nghị khác nhau Và đề nghị gián tiếp là một giải pháp hữu hiệu để người nói đạt được mục đích giao tiếp của mình, giảm được mức độ đe doạ thể diện và duy trì được cuộc thoại Đề nghị gián tiếp là hành vi ngôn ngữ biểu hiện ý định đề nghị nào đó bằng hiển ngôn mà người nghe phải dựa vào kinh nghiệm cuộc sống, vốn ngôn ngữ của mình để nhận diện được hàm ý đề nghị
Để giảm bớt hành vi đe doạ thể diện khi đề nghị, trong tiếng Nhật thường sử dụng cách nói gián tiếp như sử dụng các hình thức ngôn ngữ như câu điều kiện, câu nguyện vọng, biểu thức nghi thức (formulaics), các biểu hiện cho nhận đặc thù của tiếng Nhật (-te morau/ kureru) và một số phương thức khác để làm giảm bớt lợi ích của bản thân người nói, tăng lợi ích của người nghe Chúng tôi sẽ nói rõ hơn phần này ở chương 2
1.4.2 Hành vi từ chối và chiến lược lịch sự trong từ chối
Trang 36Từ chối là một hành vi không đáp ứng đề nghị, yêu cầu của đối phương (người nghe) Một người có thể có thể biểu đạt hành vi từ chối bằng lời hoặc không bằng lời như im lặng Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát cách thức biểu hiện hành vi từ chối bằng lời và biểu hiện khuyết ngôn (ngập ngừng, im lặng) Bởi vì im lặng trong tiếng Nhật, theo Lebra khẳng định, là một kho tàng ý nghĩa phong phú trong giao tiếp, là một trong những biện pháp từ chối tránh gây tổn thương, thể diện cho đối phương Do đó, nó cũng
là một trong những chiến lược từ chối được người Nhật ưa dùng Lời từ chối thường được coi là hành vi ngôn ngữ bởi những gì người nói lời từ chối tham gia thực hiện một hành động do người cùng tham thoại đề xướng Do vậy, chúng tôi xác nhận hệ thống tiêu chí nhận diện hành vi từ chối bao gồm:
- Có một ngữ cảnh tình huống hiện thực tác động đến nhu cầu, quyền lợi của một trong hai bên tham thoại làm tiền đề cho hành vi từ chối
- Người nói biểu thị nội dung từ chối bằng sự không chấp thuận nào
đó theo hướng đề xuất như yêu cầu, đề nghị, mời, khuyên…
- Hành vi từ chối là lượt lời thứ hai của đoạn thoại có chứa nội dung
từ chối dựa vào ngữ cảnh của đoạn thoại
VD: Mẹ nói với Souko
- Itsuka papa ni aerutte, anatano papa ga watashitachi no iru basho nano
「いつかパパに会えるって、あなたのパパが私たちの居る場所なの」
(Khi nào gặp được bố con thì bố chính là ngôi nhà của chúng ta.)
- Atashi wa genjitu wo arukitai noda
「あたしは現実を歩きたいのだ」
(Con muốn sống trong hiện thực)
(22, tr.75)
Trang 37Trong đoạn hội thoại này, người mẹ đã đề nghị con chuyển nhà để mong gặp được chồng là bố của Souko, nhưng người con không muốn chuyển nên đã từ chối lời đề nghị của mẹ Hành vi từ chối nằm ở lượt lời thứ hai trong đoạn hội thoại này
Hành vi từ chối theo lí thuyết lịch sự của Brown và Levinson (1987) cũng là một hành vi đe doạ thể diện điển hình Vì hành vi từ chối biểu thị ý chí của bản thân người nói không tiếp nhận, từ chối hành vi đề nghị, yêu cầu của người nghe làm tổn hại đến tính hợp tác giữa người nói và người nghe nên đe doạ thể diện dương tính (xâm phạm nguyện vọng muốn được người khác tiếp nhận, ưa thích) Dó đó, người từ chối phải điều chỉnh bằng những quan hệ và cách thức khác nhau ở các cộng động có nền văn hoá khác nhau
Từ chối đòi hỏi người nói, khéo léo tìm hình thức ngôn từ để diễn đạt sao cho người nghe không hiểu lầm và chấp nhận lời từ chối, đồng thời giữ được thể diện cho cả người nói và người nghe Điều này phụ thuộc vào chiến lược
từ chối Mỗi một dân tộc, một cộng đồng văn hoá có những chiến lược từ chối khác khau Và từ chối gián tiếp là một giải pháp hữu hiệu để người nói đạt được mục đích giao tiếp của mình, giảm mức độ đe doạ thể diện cho cả hai bên tham thoại và duy trì được cuộc thoại Từ chối gián tiếp là hành vi ngôn ngữ biểu hiện ý định từ chối không đồng ý thực hiện một yêu cầu, đề nghị… nào đó bằng hiển ngôn mà người nghe phải dựa vào kinh nghiệm cuộc sống, vốn ngôn ngữ của mình để nhận diện hàm ý từ chối
Để giảm bớt hành vi đe doạ thể diện khi từ chối, trong tiếng Nhật thường sử dụng cách nói gián tiếp như nói vòng, đưa ra lý do, đưa ra một đề
án thay thế, xin lỗi và biểu thị tâm trạng nuối tiếc và các cách khác để làm giảm sự tổn hại đến quan hệ, tính hợp tác giữa người nói và người nghe Chúng tôi sẽ nói rõ hơn phần này ở chương 2
1.5 Tiểu kết
Để làm cơ sở lý luận cho những nghiên cứu ở chương 2 và chương 3, thì một số vấn đề cơ bản về lý thuyết ở chương 1 là không thể thiếu
Trang 38Austin là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hành vi ngôn ngữ với những tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành vi ngôn ngữ
Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp do Sealer đưa ra năm 1969 là
cơ sở cho việc nhận ra một hành vi ngôn ngữ gián tiếp dựa vào kinh nghiệm cuộc sống, kiến thức nền và kiến thức về ngôn ngữ
Để nghiên cứu hành vi đề nghị và hành vi từ chối trong tiếng Nhật thì không thể tách rời hội thoại Do đó các khái niệm về hội thoại, các quy tắc hội thoại, cặp thoại, lượt lời cũng được đề cập đến
Để nghiên cứu tính gián tiếp và lịch sự trong hành vi đề nghị và từ chối trong tiếng Nhật thì những khái niệm trong thuyết lịch sự cũng như những khái niệm và quan niệm về tính gián tiếp của các học giả đã được đề cập đến
Các chiến lược đề nghị và từ chối thể hiện trong văn hoá giao tiếp của người Nhật được thể hiện như thế nào, đặc biệt họ chú ý tới tính gián tiếp và tính lịch sự
ra sao, chúng được liên hệ với tiếng Việt như thế nào, sẽ được thể hiện rõ trong chương 2 và chương 3
Trang 39Chương 2 GIÁN TIẾP VÀ LỊCH SỰ TRONG TIẾNG NHẬT
2.1 Quan niệm về lịch sự trong tiếng Nhật
Nghiên cứu biểu hiện lịch sự trong tiếng Nhật đã trải qua một quá trình có thể nói là hơi bất thường Thông thường, hiện tượng ngôn ngữ có trước, sau đó lý thuyết có sau để giải thích cho hiện tượng đó Nhưng trong tiếng Nhật, các học giả đã đem nguyên xi lí thuyết lịch sự vào tiếng Nhật trước, rồi mới tìm những biểu hiện ngôn ngữ hợp với nó, như cách làm của Hokui (1988) và Ikuta (1997) Hokui (1988) đã dịch các ví dụ tiếng Anh sang tiếng Nhật, nhưng khó có thể nói rằng đây là những hiện tượng ngôn ngữ đồng dạng với tiếng Nhật Dưới đây là những trích dẫn ví dụ của Hokui
(1) Would you open the window, if you don't mind ?
「もし差し支えがなければ、窓を開けてくださいますか」
(Moshi sashitsukaega nakereba mado wo akete kudasaimasuka.) (Nếu không có gì trở ngại thì anh mở cửa sổ cho tôi được không?) (2) Open the window, if possible ?
「もし可能なら窓を開けてください」
(Moshi kanou nara mado wo akete kudasai.)
(Nếu có thể thì anh hãy mở của sổ ra.)
(3) Can you open the window ?
「窓を開けられますか」
(Mado wo akeraremasuka.)
(Anh có thể mở của sổ được không?)
(4) I don't suppose you would lend me your car this afternoon
「今日の午後は車を貸してくださらないでしょうね。」
(Kyou no gogowa kuruma wo kashite kudasaranaideshoune.) (Chiều nay, anh không cho tôi mựơn xe được nhỉ)
Trang 40Tất cả những câu tiếng Anh này đều là câu nhờ vả Hành động nhờ vả
có hình thức hỏi thể hiện tính do dự, tức là quan tâm đến lịch sự âm tính của đối phương Nhưng, thử xem các câu dịch tiếng Nhật, thì câu3 được hiểu là câu hỏi hơn là câu nhờ vả, còn câu 4 cũng khó có thể được hiểu là một câu nhờ vả
Hokui (1988) [68] đã giới thiệu lí thuyết lịch sự nhưng ông chỉ đề cập đến tiếng Anh, ngôn ngữ mà Brown & Levinson sử dụng làm hiện tượng ngôn ngữ, và như vậy lí thuyết lịch sự vẫn chưa được kiểm chứng trong tiếng Nhật Nguyên nhân của việc nghiên cứu lịch sự trong tiếng Nhật chưa phát triển là do trong tiếng Nhật, hệ thống kính ngữ rất phát triển và người ta
đã hiểu nhầm rằng kính ngữ trong tiếng Nhật là hiện tượng ngôn ngữ đối ứng với lịch sự trong tiếng Anh Nguyên lý lịch sự của Leech (1987) đã được Ikeue dịch là “Nguyên lý của tính lịch sự” (丁寧さの原理), và điều này càng làm cho mọi người hiểu nhầm thêm
Thực ra trong tiếng Nhật, hai khái niệm này không trùng nhau, như có thể thấy trong các ví dụ sau”
1 Warui dedo, kasa wo kashite kurenai?
「悪いけど、傘を貸してくれない?」
(Xin lỗi, anh cho tôi mượn cái ô.)
Trong phát ngôn này, để tránh hành vi đe doạ thể diện khi nhờ vả,
trước khi đưa ra lời đề nghị, người nói đã dùng biện pháp đi kèm như lời xin
lỗi và đã sử dụng cách nói nghi vấn phủ định đề nhờ vả Có thể nói câu này
là cách nói biểu hiện lịch sự, nhưng thể của động từ lại dùng thể thường nai) chứ không sử dụng thể lịch sự (-masenka)
(-2 Moshigozaimasenga, kasa wo okari dekimasendeshouka
「申しございませんが、傘をお借りできませんでしょうか」
(Xin lỗi, anh có thể cho tôi mượn cái ô được không?)