Ý nghĩa của các kết cấu có giới từ “of”……….…60 Chương III: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SỞ HỮU TRONG DANH NGỮ TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH 1... Xét về mặt cấu trúc thì trong tiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DOÃN THỊ PHƯƠNG
KHẢO SÁT CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN
Ý NGHĨA SỞ HỮU TRONG DANH NGỮ
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2007
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DOÃN THỊ PHƯƠNG
KHẢO SÁT CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN
Ý NGHĨA SỞ HỮU TRONG DANH NGỮ
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……… …6
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… … 9
3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu……… …….9
4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu………10
5 Bố cục của luận văn……… … 11
Chương I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1 Phạm trù sở hữu và kết cấu sở hữu……….12
1.1 Phạm trù sở hữu………12
1.2 Kết cấu sở hữu……… …17
2 Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu……… ……22
2.1 Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu ở các ngôn ngữ………… 22
2.2 Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh.24 2.3 Chức năng của các hình thức biểu thị ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ……… …… 25
Chương II: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SỞ HỮU TRONG DANH NGỮ TIẾNG ANH 1 Vị trí của các hình thức sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh……… 34
1.1 Cấu trúc của danh ngữ tiếng Anh……… ….…34
1.2 Cấu trúc danh ngữ tiếng Anh điển hình……… 35
1.3 Vị trí của các hình thức biểu thị ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ …43 2 Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của các hình thức biểu thị ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh……….… …43
2.1 Tính từ sở hữu……… ……44
2.1.1 Các kết cấu có tính từ sở hữu……….………46
Trang 42.1.2 Ý nghĩa của các kết cấu có tính từ sở hữu……….48
2.2 Đại từ sở hữu……… …….50
2.2.1 Các kết cấu có đại từ sở hữu……… 52
2.2.2 Ý nghĩa của các kết cấu có đại từ sở hữu……….…54
2.3 Sở hữu cách……… ….54
2.3.1 Các kết cấu có sở hữu cách……….… 55
2.3.2 Ý nghĩa của các kết cấu có sở hữu cách……….… 59
2.4 Sở hữu giới từ “of"………59
2.4.1 Các kết cấu có giới từ “of”………60
2.4.2 Ý nghĩa của các kết cấu có giới từ “of”……….…60
Chương III: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SỞ HỮU TRONG DANH NGỮ TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH) 1 Danh ngữ và thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Việt……….… 67
1.1 Danh ngữ tiếng Việt………67
1.2 Đặc điểm cấu tạo……….…… 68
1.2.1 Thành tố chính của danh ngữ……… 69
1.2.2 Thành tố phụ trước của danh ngữ……… … 70
1.2.3 Thành tố phụ sau của danh ngữ……….71
1.3 Thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu của danh ngữ ……… 72
1.3.1 Thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu của danh ngữ tiếng Việt… 72
1.3.2 Vị trí của các thành tố phụ biểu thị ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ……… 74
2 Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Việt………75
2.1 Kết cấu sở hữu có giới từ "của"……….…… 75
2.1.1 Đặc điểm cấu trúc……….……75
2.1.2 Đặc điểm ý nghĩa ……… 80
Trang 52.2 Kết cấu sở hữu không có giới từ "của"……….……… …81
2.2.1 Đặc điểm cấu trúc……… …… …81
2.2.2 Đặc điểm ý nghĩa……… … ….… 85
2.3 Tính bắt buộc và tuỳ ý của việc sử dụng giới từ "của" trong kết cấu sở hữu ở danh ngữ tiếng Việt……… … …… …87
3 Đối chiếu các hình thức sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 3.1 Tương đồng……… 90
3.1.1 Về hình thức biểu hiện……….…….90
3.1.2 Về cấu tạo……….…90
3.2 Khác biệt……….… 92
3.2.1 Về hình thức biểu hiện……….….92
3.2.2 Về vị trí của các biểu thức sở hữu……….…92
3.2.3 Về khả năng biểu hiện nghĩa ……… 94
3.2.4 Về chức năng……… 96
4 Các lỗi thường gặp khi chuyển dịch………99
4.1 Sự không phù hợp giữa chủ ngữ với từ sở hữu……….99
4.2 Sử dụng dấu sở hữu không chuẩn xác……… ….101
4.3 Không sử dụng dấu sở hữu trong những trường hợp đặc biệt……103
4.4 Dịch từng từ……… ……….…….104
KẾT LUẬN……… 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 110
PHỤ LỤC……….116
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, ngoại ngữ không chỉ là một môn học bắt buộc ở các cấp học
mà với một số người, nó là một sự lựa chọn có chủ đích Việc nắm bắt thông thạo một ngoại ngữ là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình hội nhập quốc tế Theo thống kê, tiếng Anh là một ngôn ngữ có số lượng người sử dụng nhiều thư hai trên thế giới sau tiếng Trung quốc Tiếng Anh không những được sử dụng như là một ngôn ngữ giao dịch chính thức trong nhiều lĩnh vực trên thế giới mà nó còn được coi là ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ để ở nhiều quốc gia Vì vậy nhu cầu học tiếng Anh là khá cấp thiết đối với nhiều người Việt đặc biệt là sau sự kiện Việt nam chính thức là thành viên của WTO tháng 11/2006 Tuy nhiên trong quá trình học tiếng Anh, một số người gặp không ít khó khăn Một trong những khó khăn đó là cách chuyển dịch các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu ở danh ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
Có thể dễ dàng nhận thấy những câu kiểu như: "Mary's mother gave her a pair of shoes on her 17 th birthday" (1) không phải ít gặp trong ngôn ngữ
hằng ngày của người Anh Đối với người Việt, sự xuất hiện của ba hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong cùng một phát ngôn như vậy là điều không bình thường Cùng một ý nghĩa như trên nhưng cách diễn đạt của người Việt đơn giản hơn rất nhiều Theo đó (1) có thể được hiểu một cách đơn giản là:
"Mẹ của Mary tặng cô ấy một đôi giày nhân dịp sinh nhật lần thứ 17" Qua ví
dụ nhỏ này có thể thấy, tần số xuất hiện của các hình thức biểu hiện ý nghĩa
sở hữu trong tiếng Anh lớn hơn tiếng Việt và ý nghĩa sở hữu cũng được biểu hiện dưới nhiều hình thức Đối với những người mới làm quen với tiếng Anh thì việc phân biệt và sử dụng đúng các cách biểu đạt quan hệ sở hữu là không
hề đơn giản Một số người khác lại thấy rằng, việc phân biệt và sử dụng đúng các kiểu cấu trúc sở hữu cũng mất không ít thời gian Có thể khẳng định chắc
Trang 7chắn một điều là các phương thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong tiếng Anh không chỉ đa dạng về cấu trúc mà còn phong phú về ý nghĩa
Xét về mặt cấu trúc thì trong tiếng Anh, hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu ở danh ngữ được thể hiện bằng nhiều kiểu kết cấu khác nhau như kết cấu
sở hữu có giới từ “of” (trong "books of our teacher)", kết cấu sở hữu cách (như "our teacher's books"), kết cấu sở hữu với tính từ sở hữu (như "Those are her books"), kết cấu sở hữu với đại từ sở hữu (như "This is my book and those are hers") gây không ít rắc rối cho người học
Xét về mặt ý nghĩa, các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh không đơn giản chỉ là biểu thị mối quan hệ sở hữu giữa đối tượng sở hữu và chủ thể sở hữu mà còn thể hiện nhiều quan hệ ý nghĩa khác như: quan hệ chỉnh thể - bộ phận, quan hệ sở thuộc, quan hệ chủ thể - hành động, quan hệ đối thể - hành động, quan hệ chủ thể - đối thể, quan hệ chất liệu sự vật, quan hệ nguồn gốc v.v
Cũng chính vì sự phong phú và đa dạng về cấu trúc và ý nghĩa của các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh mà đôi khi việc chuyển dịch từ Anh sang Việt và ngược lại, từ Việt sang Anh, gặp không
ít khó khăn Những câu chuyển dịch ngô nghê, lủng củng không thuần Việt không phải hiếm gặp trong các tác phẩm dịch thuật cũng như trong các phát
ngôn của người học Câu: “It's still cold at the end of February” là hoàn toàn
đúng về mặt ngữ pháp tiếng Anh Nhưng khi chuyển dịch một số sinh viên
thường dịch một cách máy móc như: ”Trời vẫn lạnh vào thời điểm cuối của
tháng hai" hoặc "Cuối của tháng hai rồi mà trời vẫn còn lạnh” Những cách
dịch bám sát từ như thế cho chúng ta một sản phẩm dịch không thuần Việt
Thực tế, người Việt không nói thế, mà nói đơn giản hơn nhiều: "Cuối tháng hai rồi mà trời vẫn còn lạnh" Những lỗi tương tự cũng thường gặp khi những
người Anh, Mỹ, Australia nói, viết tiếng Việt Nguyên nhân chính là do các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu của tiếng Anh có những đặc điểm cấu trúc
và ý nghĩa không hoàn toàn giống với các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong tiếng Việt Bên cạnh một số ít các trường hợp tương ứng cả về hình
Trang 8thức lẫn ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ như: her daughter - con gái cô ấy; a leg of
an old table - một cái chân bàn cũ còn có những trường hợp “hơi khó hiểu” với người Việt Ví dụ, khi người Anh nói “a pair of shoes”, người Việt còn có
thể hiểu được đó là ám chỉ một đôi giày Bởi từ “a pair” được sử dụng để chỉ một đôi, một cặp sự vật, đồ vật gồm hai chiếc Nhưng khi người Anh nói
“Give me a pair of jeans, please!”, thì người tham gia giao tiếp nếu không
nắm vững tiếng Anh sẽ có thể đưa ra hai chiếc quần jeans Trong khi đó với
người Anh thì “a pair of jeans” được dùng để chỉ một chiếc quần jeans
Một điều nữa khiến cho người học tiếng Anh cảm thấy lúng túng đó là trong một số trường hợp, các hình thức sở hữu trong danh ngữ được sử dụng không nhằm để chỉ mối quan hệ sở hữu mà đơn giản chỉ mang tính xác định thuần tuý
Hoàn toàn có thể chấp nhận được khi người Việt nói :
- Tôi cắt tóc hôm qua
Nhưng theo tác giả Nguyễn Quang (2002: 64) “cách nói như vậy bị coi
là không chính xác và mơ hồ” Để diễn đạt ý của câu này người Anh (Mỹ hoặc Úc) sẽ nói:
- I had my hair cut yesterday
Trong khi tiếng Anh sử dụng tính từ sở hữu “my" như một hình thức để
đánh dấu tính xác định của sự vật được nêu trong phát ngôn trên thì người Việt lại sử dụng các yếu tố khác để đánh dấu tính xác định Các yếu tố đó là các yếu tố nào? Chúng bị ràng buộc bởi những yêu cầu gì? Sẽ được phân tích
cụ thể trong luận văn
Những luận điểm sơ bộ trên đây cho thấy xung quanh vấn đề các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt vẫn còn nhiều điều cần phải làm sáng tỏ Và việc giúp người học định hướng chính xác và sử dụng có hiệu quả các hình thức sở hữu ở cả hai ngôn ngữ là một việc làm cần thiết
Việc lựa chọn đề tài “Khảo sát các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt” không ngoài mục đích tìm
Trang 9hiểu sự giống và khác nhau giữa các biểu thức sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một vài gợi ý nhằm hướng tới những cách chuyển dịch thích hợp hơn
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này tập trung khảo sát các hình thức sở hữu của danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt Tuy nhiên, về mặt tư liệu chúng tôi không chỉ xem xét các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong phạm vi ngữ mà còn xem xét chúng ở cả cấp độ câu và trên câu
Trong khi nghiên cứu đối chiếu các danh ngữ Anh - Việt, chúng tôi chỉ giới hạn sự phân tích và đối chiếu ở hai bình diện cú pháp (syntax) và ngữ nghĩa (semantics) Bình diện dụng học (pragmatics) cũng được phân tích trong một số trường hợp cần thiết để làm sáng tỏ thêm các bình diện cấu trúc
và ý nghĩa nhưng không phải là mối qua tâm chính của luận văn
3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
Chọn tên đề tài: “Khảo sát các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt”, người viết hướng đến những mục đích cụ thể sau:
- Thứ nhất, điểm qua các khái niệm về nghĩa sở hữu, kết cấu sở hữu trong ngôn ngữ và các khái niệm lý thuyết có liên quan, trên sơ sở đó xây dựng một khung lý thuyết đủ hiệu lực để xem xét, đối chiếu về cách cấu tạo
và ý nghĩa của các hình thức sở hữu ở danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
- Thứ hai, trên cơ sở miêu tả một cách có hệ thống các đặc điểm của danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt xác định rõ vai trò của các biểu thức sở hữu trong danh ngữ trên hai bình diện hình thức và ngữ nghĩa
- Thứ ba, dựa vào các kết quả miêu tả, tiến hành nghiên cứu để làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau về cấu trúc và ý nghĩa của các hình thức sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó rút ra những điểm tương đồng và dị biệt của hai ngôn ngữ này về mặt loại hình ngữ pháp
Trang 10Thứ tư, khảo sát những lỗi người học thường mắc phải trong quá trình chuyển dịch các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
Nếu thực hiện được những mục tiêu trên đây luận văn có những đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:
- Về mặt lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm sáng tỏ các đặc điểm tương ứng hoặc khác biệt giữa các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
- Về mặt thực tiễn:
+ Dựa trên những kết quả thu được, luận văn có thể giúp người dạy tìm được các cách truyền đạt thích hợp sao cho người học cảm thấy dễ hiểu nhất Đồng thời cũng giúp người học có được những kiến thức nền khi sử dụng những hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu
+ Chỉ ra các lỗi thường mắc phải đối với việc sử dụng các phương thức
sở hữu ở danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tránh được những lỗi sai không đáng có
4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
Bên cạnh hai phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp qui nạp
và diễn dịch, trong luận văn này chúng tôi còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích miêu tả, phân tích cấu trúc, phân tích chức năng, so sánh đối chiếu…
Tư liệu của luận văn bao gồm 360 câu trích dẫn tiếng Anh và tiếng Việt
có sử dụng các hình thức biểu thị ý nghĩa sở hữu; 293 câu tư liệu có danh ngữ xác định được sử dụng các hình thức biểu thị ý nghĩa sở hữu đã được phân loại theo các tiểu loại cụ thể Trong đó có 113 câu trích dẫn tiếng Anh, 180 câu trích dẫn tiếng Việt; 80 câu dịch đối chiếu Anh - Việt được trích dẫn từ tác phẩm "Pride and Prejudice" (Kiêu hãnh và định kiến) của tác giả Jane Austen do Vương Trí Nhàn dịch, nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm
Trang 112003 Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của các tác giả khác
5 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương chính với nội dung cụ thể như sau:
Chương I: Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Trong chương này, chúng tôi trình bày những khái niệm, những quan điểm có liên quan đến phạm trù sở hữu và kết cấu sở hữu
Chương II: Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở
tiếng Anh
Các đặc điểm, cấu trúc và ý nghĩa của danh ngữ tiếng Anh được miêu tả
kỹ ở phần chương này Trên cơ sở đó đưa ra những phân tích về các đặc điểm cấu trúc, ý nghĩa của các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở ngôn ngữ này
Chương III: Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ
tiếng Việt - đối chiếu với tiếng Anh
Trong chương này, chúng tôi tiến hành miêu tả đặc điểm cấu trúc và ý nghĩa của danh ngữ tiếng Việt, các phương thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Việt Trên cơ sở đó tiến hành đối chiếu nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu của danh ngữ ở cả hai ngôn ngữ Đặc biệt, ở chương này, người viết có nhấn mạnh đến một số lỗi thường mắc phải khi chuyển dịch các phương thức
sở hữu từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
Ngoài ra luận văn còn có mục tài liệu tham khảo, tài liệu trích dẫn, mục lục và phụ lục tư liệu
Trang 12CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Phạm trù sở hữu và kết cấu sở hữu
1.1 Phạm trù sở hữu
1.1.1 Phạm trù sở hữu nói chung
Từ điển Bách khoa Việt Nam do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn
Từ điển Bách khoa Việt Nam phát hành năm 2003 có nêu rõ: “Sở hữu: quan
hệ xã hội phát triển trong lịch sử, biểu hiện đặc tính chiếm hữu của cải vật chất xã hội bởi những thể nhân khác nhau (cá nhân riêng biệt, nhóm xã hội, nhà nước), đối tượng sở hữu: là tất cả những đồ vật lệ thuộc vào chủ thể nhất định (người sở hữu), quan hệ sở hữu là những chế định pháp lý quan trọng, là tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu (quan hệ giữa người với người về vật)” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách
Khoa Việt Nam 2003:803)
Các nhà làm luật thì lại có một cách định nghĩa thiên về mặt kinh tế như sau: “Sở hữu được hiểu chính là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (ngày nay còn gồm cả những tư liệu sản xuất) của
xã hội loài người" Theo một nghĩa hẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức độ
xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định.” (Trường Đại học Luật Hà Nội 2003:147)
Như vậy, có thể thấy, các nhà xã hội học và kinh tế học đều thống nhất
với nhau ở một điểm: Sở hữu nghĩa là chiếm hữu Quan hệ sở hữu phản ánh
sự chiếm giữ của cải vật chất xã hội giữa người này với người khác, giữa tập đoàn này với tập đoàn khác Nói đến sở hữu là nói đến đối tượng sở hữu, người sở hữu, đến mối quan hệ giữa người sở hữu và vật sở hữu
Qua các định nghĩa trên có thể thấy dưới góc nhìn của các nhà xã hội học cũng như các luật gia, khi nhắc đến “sở hữu” và “quyền sở hữu” chúng ta liên tưởng ngay đến khái niệm “chiếm hữu, sử dụng và định đoạt” Điều đó đồng nghĩa với việc chủ thể sở hữu có quyền:
Trang 13+ Nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu Đó cũng là quyền kiểm soát, làm chủ và chi phối vật đó theo ý chí của mình;
+ Khai thác công dụng và khai thác những lợi ích vật chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép;
+ Quyết định về “số phận” của vật
Như vậy, theo quan điểm của các nhà làm luật, ba quyền năng trên tạo thành một thể thống nhất trong nội dung của quyền sở hữu, chúng có mối liên
hệ mật thiết với nhau
Khái niệm sở hữu trên đây có liên quan gì với khái niệm sở hữu và các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong các ngôn ngữ?
1.1.2 Phạm trù sở hữu trong ngôn ngữ học
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Chức năng của ngôn ngữ là giao tiếp Vậy, để thể hiện ý nghĩa sở hữu bằng ngôn ngữ, chỉ ra mối liên hệ ràng buộc giữa đối tượng sở hữu và chủ sở hữu trong quá trình giao tiếp, con người đã sử dụng các phương thức biểu hiện nào? Quan hệ sở hữu trong ngôn ngữ có thể được xác nhận theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng ngôn ngữ Hình thức đơn giản nhất là
đặt các danh từ liền nhau theo một trật tự nhất định (như "tay tôi", "nhà hắn"
trong tiếng Việt), hoặc sử dụng các câu sở hữu với những động từ sở hữu có sẵn, hoặc phức tạp hơn như sử dụng sự biến đổi hình thái bằng cách thêm hậu
tố, sử dụng các tính từ, đại từ sở hữu như trong các ngôn ngữ biến hình Nói cách khác, trong các ngôn ngữ ý nghĩa sở hữu có thể được biểu hiện ở hai cấp độ: cú pháp và hình thái học
Ở cấp độ cú pháp (syntax), đa số các ngôn ngữ đều có các động từ có
nghĩa sở hữu như "có, sở hữu, thuộc về " (tiếng Việt), “have, belong to, own” (tiếng Anh), “ồủũỹ” (tiếng Nga) Từ các động từ này chúng ta có các
kết cấu biểu thị quan hệ sở hữu với đầy đủ chủ thể sở hữu, động từ sở hữu và đối tượng sở hữu Ví dụ:
Trang 14Ngôn ngữ Cấu trúc Vắ dụ minh hoạ Tương đương
- Cây bút chì này thuộc về anh ấy Tiếng Nga
ể (CTSH) ồủũỹ (ĐTSH) ể ẹồđóồỮ ồủũỹ
ờàđàớọàứ
Sergei có cây bút chì
Ở cấp độ hình thái học (morphology), bên cạnh các động từ sở hữu, các ngôn ngữ biến hình chủ yếu sử dụng sự biến đổi hình thái của từ như một phương thức hữu dụng để biểu thị ý nghĩa sở hữu, đó có thể là hình thức sở hữu cách như trong tiếng Anh hoặc thuộc cách như ở các ngôn ngữ Slavic vắ
dụ như tiếng Nga, Croatia, Balan Ở các ngôn ngữ Slavic, để diễn tả ý sở hữu thì phần đuôi của chủ thể sở hữu bị biến đổi sang các dạng như à, Ữ, ỷ, hoặc ố như trong các vắ dụ sau:
(a) Âợũ Àớũợớ
(b) Âợũ ờàđàớọàứ ÀớũợớỮ
Vắ dụ (a) và (b) đều đề cập đến một nhân vật, đó là Anton Nhưng để
diễn tả ý sở hữu "đây là bút chì của Anton" như ở vắ dụ (b) thì ta thấy đuôi của danh từ chỉ người đã được biến đổi so với vắ dụ (a) chỉ diễn đạt ý "Đây là Anton"
Ở các ngôn ngữ không biến hình (như tiếng Hán, tiếng Việt) thay vì sử
dụng hình thái từ, các ngôn ngữ này lại chủ yếu sử dụng hư từ hoặc trật tự từ
để biểu thị ý nghĩa sở hữu như Ộáo của tôiỢ, hoặc Ộáo tôiỢ (tiếng Việt)
Trang 15Nhưng cũng có những ngôn ngữ sử dụng cả sự biến đổi hình thái cũng như hư từ hoặc trật tự từ như những phương tiện để biểu thị ý nghĩa sở hữu Tiếng Anh là một ví dụ Để biểu thị ý sở hữu, người Anh sử dụng “'s” (như
"Beethoven's music" - nhạc của Bethoven) hoặc “of” (như "the music of Beethoven")
Như vậy, có thể thấy ý nghĩa sở hữu trong ngôn ngữ được biểu thị dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi ngôn ngữ có các cách thức không giống nhau tuỳ thuộc vào đặc trưng của từng ngôn ngữ
1.1.3 Phân loại các phạm trù nghĩa sở hữu trong ngôn ngữ
Như đã nói ở trên, có nhiều cách khác nhau để đánh dấu nghĩa sở hữu trong ngôn ngữ Tuy nhiên, xét về mặt ngữ nghĩa, phạm trù sở hữu ở các ngôn ngữ lại tương đối thống nhất và có thể qui về bốn cặp phạm trù sở hữu sau:
- Sở hữu khả li và sở hữu bất khả li
- Sở hữu cố hữu và sở hữu phi cố hữu
- Tính có thể sở hữu và không thể sở hữu
một phát ngôn "I have my dad's big nose" người nói ngụ ý mình được thừa
hưởng từ người cha một chiếc mũi to theo di truyền (anh ta có một cái mũi to giống như mũi của cha anh ta) chứ không phải anh ta đang sở hữu một cái mũi bằng xương bằng thịt của cha mình theo nghĩa đen Ngược lại, khái niệm
sở hữu khả li có thể thấy rõ trong cụm từ "my mobile phone” (cái điện thoại di
động của tôi), bởi trong trường hợp này “cái điện thoại di động” là một sự vật
có thể tách rời khỏi vật chủ là “tôi”
Trang 16b Sở hữu cố hữu và sở hữu phi cố hữu
Cũng tương tự như tính khả li và bất khả li, khái niệm sở hữu cố hữu và phi cố hữu (inherent and non-inherent) lại là một sự phân biệt khác được một
số ngôn ngữ trên thế giới sử dụng Tính cố hữu chỉ một thuộc tính tồn tại như một đặc điểm hoặc tính chất tự nhiên hoặc thường xuyên của vật chủ Tính phi cố hữu thì ngược lại Ví dụ khi nói, ám chỉ một bộ phận của cơ thể thì không thể không đề cập đến chủ sở hữu của bộ phận đó Chính vì vậy trong ngôn ngữ Mangga Buang thuộc nhóm ngôn ngữ Pupan bạn sẽ không bao giờ
gặp cụm từ ”một cái tay” đơn thuần mà phải chỉ chính xác và cụ thể cái tay ấy của ai, “tay của tôi” hay “tay của ông ta”
c Tính có thể sở hữu và không thể sở hữu
Nhiều ngôn ngữ như tiếng Massai có sự phân biệt khá thú vị giữa khái niệm có thể sở hữu và không thể sở hữu (possessable and unpossessable) Những vật có thể sở hữu được bao gồm vật nuôi ở trang trại, công cụ lao động, nhà cửa, cấc thành viên trong gia đình và tiền bạc trong khi đó động vật hoang dã, đồng cỏ, các hiện tượng thời tiết lại được coi là không thể sở hữu được Như vậy có thể thấy ở ngôn ngữ này khi nói “anh trai tôi” thì hoàn toàn
có thể chấp nhận được nhưng cụm từ "đất đai của tôi” lại hoàn toàn không chính xác về mặt ngữ pháp Để diễn đạt cùng một ý trên người nói phải áp áp
dụng cách nói vòng vèo kiểu như: ”mảnh đất mà tôi sở hữu (là chủ)”
d Sở hữu động vật và sở hữu bất động vật
Ở một vài ngôn ngữ, đối tượng sở hữu cũng là một yếu tố quan trọng quyết định tới việc hình thành dạng của động từ sở hữu Trong tiếng Georgian
cổ khi đối tượng sở hữu là động vật ta có câu: "Dzaghli mqavs" (Tôi có một
con chó), nhưng khi đối tượng sở hữu không phải là động vật thì động từ sở
hữu lại có dạng hoàn toàn khác như ở ví dụ dưới đây: "Kompiuteri makvs"
(Tôi có một chiếc máy tính) Như vậy có thể thấy yếu tố động vật và bất động
vật (animate and inanimate) của đối tượng sở hữu luôn chi phối hình thức sở hữu Tuy nhiên cũng theo tiếng Georgian cổ thì khái niệm động vật và bất
Trang 17động vật có một gianh giới khá mơ hồ, bởi theo ngôn ngữ này thì từ "cái ô tô" lại được xếp vào nhóm sở hữu động vật và vì vậy động từ sở hữu đi kèm
với nó sẽ là "mqavs" chứ không phải "makvs" (Dẫn theo
1.2.2 Đặc điểm của kết cấu sở hữu
a Về mặt ngữ pháp
Kết cấu sở hữu tồn tại ở hai dạng chính, đó là kết cấu sở hữu là câuvà kết cấu sở hữu là ngữ
Kết cấu sở hữu là câu là dạng kết cấu đầy đủ với sự có mặt của chủ thể
sở hữu, động từ sở hữu và đối tượng sở hữu Dạng kết cấu này có cấu trúc khá
ổn định và số lượng hạn chế do phụ thuộc vào số ít các động từ sở hữu Chẳng
hạn để diễn tả ý sở hữu đối với một cuốn sách, người Việt nói: "Tôi có/ sở hữu một quyển sách", hoặc "Quyển sách này thuộc về tôi" còn người Nga có câu: "ú ỡồớÿ ờớốóà", tương tự như vậy, người Anh sẽ nói "I have/own a book" hoặc "This book belongs to me"
Kết cấu sở hữu là ngữ là sự kết hợp của hai thành tố (thường là hai danh từ) biểu thị đối tượng sở hữu và chủ thể sở hữu Hai thành tố này được kết hợp theo những phương thức nhất định Các kết cấu sở hữu là ngữ khá phong phú về dạng thức và nghĩa biểu hiện Trong nhiều trường hợp các hình
thức sở hữu này không hẳn được dùng để biểu thị ý sở hữu Ví dụ "my car" -
"ô tô của tôi", nghĩa sở hữu rất rõ ràng nhưng "girl's school" - "trường nữ sinh" thì lại không hoàn toàn mang nghĩa sở hữu Cụm danh ngữ "girl's school" được hiểu một cách đơn giản là trường dành cho học sinh nữ
Trang 18Như trên đã nói, hình thức biểu hiện của các kết cấu sở hữu là ngữ khá
đa dạng Chúng ta có thẻ thấy có các phương thức sau:
+ Phương thức hình thái học (biến đổi hình thái của từ) như ở các ngôn ngữ Slavơ
+ Phương thức từ vựng (sử dụng các đại từ sở hữu, tính từ sở hữu ) như ở các ngôn ngữ châu Âu
+ Phương thức cú pháp (sử dụng hư từ, trật tự từ) Phương thức này có
cả ở các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, tiếng Đức lẫn các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán
Xét về mặt cấu trúc, các kết cấu sở hữu là ngữ có thể là sự kết hợp của:
+ Danh từ với danh từ
+ Danh từ với danh ngữ
+ Danh từ với đại từ
+ Danh ngữ với đại từ
+ Đại từ với đại từ
+ Danh ngữ với danh ngữ
b Về mặt ngữ nghĩa
Kết cấu sở hữu ngoài chức năng chính là biểu thị ý nghĩa sở hữu còn
có thể biểu đạt nhiều ý nghĩa khác tuỳ thuộc vào từng ngôn ngữ Tuy nhiên
các kết cấu sở hữu nhìn chung có thể nhóm lại theo các nhóm sau;
Kết cấu sở hữu biểu thị mối quan hệ sở hữu:
+ Quan hệ sở hữu bất khả li: "John's height": chiều cao của John (như trong tiếng Anh), "sự tồn tại của tôi" (như trong tiếng Việt)
+ Quan hệ sở hữu khả li: "Janet's house": ngôi nhà của Janet, "mein mann": chồng tôi (tiếng Đức); "Dzaghli mqavs": Tôi có một con chó (tiếng
Georgian)
Kết cấu sở hữu biểu thị mối quan hệ chỉnh thể, bộ phận
+ Chỉ chất liệu: "a house of stone": một ngôi nhà bằng đá
+ Chỉ bộ phận, yếu tố: "a group of children": một nhóm trẻ con
Kết cấu sở hữu chỉ các tác nhân tham gia vào một hành động:
Trang 19+ Với vai trò chủ thể của hành động: "her leaving": việc dời đi của cô ấy
+ Với vai trò là tác thể của hành động: "the president's murder": kẻ ám sát tổng thống
Kết cấu sở hữu chỉ nguồn gốc: "men of France": những người đàn ông tới từ nước Pháp/ những người đàn ông Pháp (tiếng Anh); "cuốn tiểu thuyết của Chu Lai" (tiếng Việt)
Kết cấu sở hữu dùng để miêu tả: "day of reckoning": ngày đền tội/ tính sổ (tiếng Anh); "lương tháng" (tiếng Việt); "der Keller des hauses": hầm chứa của ngôi nhà (tiếng Đức)
Kết cấu sở hữu chỉ mục đích: "women's shoes": giày của phụ nữ (tiếng Anh); "truyện tranh của trẻ em" (tiếng Việt); "la chambre des filles": phòng của con gái (tiếng Pháp)
Như vậy, có thể nói rằng các kết cấu sở hữu không chỉ đơn thuần biểu thị ý nghĩa sở hữu mà nó còn được sử dụng để biểu thị khá nhiều mối quan hệ khác Chúng tôi sẽ đi sâu mô tả các kiểu quan hệ nghĩa này của kết cấu sở hữu
ở các chương sau
1.2.3 Phân loại kết cấu sở hữu
Có rất nhiều cách khác nhau để biểu thị ý nghĩa sở hữu trong tiếng Anh
Có thể tạm chia chúng thành hai loại sau:
+ Kết cấu sở hữu là câu
+ Kết cấu sở hữu là ngữ
1.2.3.1 Kết cấu sở hữu là câu
Dạng kết cấu này biểu thị ý nghĩa sở hữu thông qua các động từ sở hữu
như: To have (có), to own (sở hữu), to belong (thuộc về)… Xét các ví dụ sau:
(2) She has a big profit from its business
Cô ta có (thu được) một khoản lời lớn từ công việc kinh doanh
(3) They owned an old, big castle in York
Họ đã từng sở hữu một lâu đài cổ lớn ở York
(4) This blue cycle belongs to my dear uncle Tom
Trang 20Chiếc xe đạp màu xanh đó thuộc về chú Tôm yêu quí của tôi
Qua các ví dụ trên có thể thấy dạng kết cấu sở hữu này tồn tại dưới dạng cấu trúc câu hoàn chỉnh với đầy đủ các thành phần như câu như: chủ ngữ, động từ, tân ngữ Đây chính là một yếu tố bắt buộc của kết cấu sở hữu này Khi có sự xuất hiện của động từ thì buộc phải có sự xuất hiện của chủ thể gây ra hành động cũng như có mặt của đối tượng chịu sự tác động của hành động Nếu thiếu một trong ba yếu tố trên thì kết cấu sở hữu không còn tồn tại
Xét các ví dụ trong tiếng Việt:
(5) Tôi có năm người anh trai
(6) Quyển sách này có cả thảy 473 trang
(7) Chiếc xe đạp màu xanh đó thuộc về vợ hắn
Cũng giống như trong tiếng Anh kết cấu sở hữu dạng câu trong tiếng Việt cũng có những yêu cầu chặt chẽ về các thành tố đi kèm Chỉ khác một điều là trong tiếng Anh các thành tố đó chi phối động từ sở hữu theo nguyên tắc về giống và số Còn trong tiếng Việt sự ràng buộc đó không rõ nét
Tuy nhiên trong tiếng Việt ta cũng có thể bắt gặp một số trường hợp ngoại lệ như các ví dụ dưới đây:
(8) Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có về đất Bưởi với anh thì về
Đất Bưới có cây Bồ đề
Có giếng tắm mát có nghề seo, can HG
(9) Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
PTD Nhưng những trường hợp trên chỉ là những trường hợp đặc biệt, ít gặp hoặc thường thấy trong thơ ca, hò, vè Chủ sở hữu không trực tiếp xuất hiện liền trước động từ sở hữu nhưng nghĩa sở hữu vẫn tồn tại do ngầm hiểu hoặc
do chủ sở hữu đã có mặt trước hoặc sau đó (tác giả sử dụng thủ thuật đảo)
Như vậy có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng xét về mặt cấu trúc, kết cấu sở hữu là câu có cấu tạo cố định và ổn định Các yếu tố trong cấu
Trang 21trúc phụ thuộc lẫn nhau theo những qui tắc nhất định không dễ thay thế Xét
về mặt nghĩa, thì mỗi kết cấu là câu đã là một phát ngôn hoàn chỉnh Chúng đem tới cho người đọc, người nghe một thông tin đầy đủ, cụ thể giúp trả lời các câu hỏi; Ai? Cái gì? Như thế nào?
1.2.3.2 Kết cấu sở hữu là ngữ
Khác với kết cấu sở hữu là câu, kết cấu sở hữu là ngữ lại khá gọn nhẹ Xét về mặt cấu trúc, ngoại trừ trường hợp sở hữu đại từ tồn tại độc lập, các kết cấu biểu hiện ý nghĩa sở hữu là ngữ chỉ bao gồm hai thành tố chính là chủ thể sở hữu và đối tượng sở hữu được kết hợp với nhau theo các phương thức nhất định Ví dụ như trong tiếng Anh chúng ta có:
(10) Her daughter Tính từ sở hữu + danh từ Con gái của cô ấy
(11) Lan's old friend Danh từ + 's + danh ngữ
Bạn cũ của Lan
(12) Books of our teacher Danh từ + of + danh ngữ
Sách của thầy giáo chúng tôi
Trong tiếng Việt kết cấu sở hữu là ngữ được thể hiện qua hai kiểu kết cấu Đó là sử dụng giới từ "của" và sử dụng trật tự từ như trong các ví dụ sau:
(13) Con chó con của mẹ Danh ngữ + của + danh từ
(Đối tượng sở hữu + chủ thể sở hữu)
Xét về mặt nghĩa, kết cấu sở hữu là ngữ cũng đưa lại cho người nghe, người đọc một thông tin nhất định nhưng thông tin đó không đầy đủ Nó chỉ giúp xác định Ai? Cái gì? Xét về mặt chức năng, các kết cấu sở hữu là ngữ khá linh hoạt Chúng có thể đóng vai trò là chủ ngữ trong câu như trong ví dụ:
(15) Con gái Lan giờ đã trưởng thành cả
(16) The owner of this old house is a widow
Chủ nhân của ngôi nhà cổ kia là một bà goá
hay là tân ngữ như:
Trang 22(17) They repaired the roof of the house last year
Họ đã sửa mái nhà năm ngoái
hoặc giữ chức năng là khởi ngữ như:
(18) Giọt lệ của vợ chồng Ngâu, ai cũng cho là giọt lệ của chính mình
VB, 122 Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích, so sánh đối chiếu các kết cấu sở hữu là ngữ Đó là các kết cấu sở hữu danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
2 Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ
2.1 Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong các ngôn ngữ nói chung
Hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu chính là cách thức để đánh dấu một danh từ thuộc quyền sở hữu của một danh từ khác Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu ở các ngôn ngữ khác nhau thì không giống nhau Mỗi ngôn ngữ
có những cách riêng để biểu thị ý nghĩa sở hữu Có những ngôn ngữ thiên về phương thức hình thái học, có những ngôn ngữ thiên về sử dụng từ vựng Nhưng nhìn chung đa số các ngôn ngữ đều sử dụng một trong bốn phương thức biểu thị ý nghĩa sở hữu phổ biến Đó là:
+ Phương thức hình thái học (biến đổi hình thái của từ)
+ Phương thức từ vựng (sử dụng các đại từ sở hữu, tính từ sở hữu ) + Phương thức cú pháp (sử dụng hư tư, trật tự từ)
Để biểu thị ý nghĩa sở hữu người Tây Ban Nha sử dụng phương thức
ngữ pháp với giới từ "de"như trong ví dụ sau:
(18) El pdre de Maria vive en Espana
Bố của Maria sống ở Spain
(19) La casa es de Juan
Ngôi nhà đó là của John
Hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu thông qua từ vựng cũng là một phương thức biểu thị ý nghĩa sở hữu phổ biến trong tiếng Tây Ban Nha Đó chính là việc áp dụng hệ thống tính từ sở hữu Nhưng việc sử dụng tính từ sở
Trang 23hữu ở ngôn ngữ này khá phức tạp Riêng tính từ sở hữu của ngôi thứ nhất số ít
"của tôi" được thể hiện ở sáu dạng thức khác nhau: mi; mis; mío, míos; mía, mías Các tính từ sở hữu phải phù hợp với danh từ mà nó bổ trợ về giống và
số như trong các ví dụ sau:
(20) mi libro: sách của tôi
(21) mis libro: Những quyển sách của tôi
(22) la pluma mía: bút của tôi
(23) las casas mías: những ngôi nhà của tôi
Trong khi đó tiếng Thổ Nhĩ Kỳ lại sử dụng phương thức biến đổi hình
thái từ và một hệ thống tính từ sở hữu đơn giản hơn rất nhiều Từ "fil" trong ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ là "con voi", từ "ev" nghĩa là "nhà, chuồng" Vậy khi
muốn biểu thị mối quan hệ sở hữu giữa hai danh từ trên người Thổ Nhĩ Kỳ đã
sử dụng phương thức nào? Hãy cùng xét các ví dụ sau:
(24) Filin ev: Chuồng voi
(25) Fillerin evleri: Chuồng của những con voi
Như vậy rõ ràng chủ thể sở hữu đã được biến đổi bằng cách thêm đuôi
"in" vào sau danh từ gốc để hình thành nghĩa sở hữu
Tiếng Đức cũng giống như tiếng Tây Ban Nha sử sụng phương thức hình thái học và phương thức từ vựng làm công cụ chủ yếu để diễn đạt ý sở hữu Tuy nhiên các hình thức sở hữu trong tiếng Đức phức tạp hơn rất nhiều
do liên quan đến giống, số và cách Chúng ta hãy cùng quan sát cách sử dụng đại từ sở hữu trong tiếng Đức
(26) Mein kind ist intellgent Con tôi thông minh
Trang 24Như vậy các đại từ sở hữu trong tiếng Đức luôn đứng trước danh từ và biến đổi theo danh từ
Vậy tiếng Anh và tiếng Việt sử dụng hình thức nào để biểu thị ý nghĩa
Phương
thức
Hình thái học
Từ vựng
Cú pháp Tính từ sở
hữu Đại từ sở hữu
- the car of mine
- the car of hers
- the car of my teacher.
Bảng 1: Các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh
Nếu tiếng Anh sử dụng các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu thì tiếng Việt lại chỉ sử dụng có hai hình thức Đó là hình thức từ vựng và hình thức trật tự từ Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập không biến đổi hình tháI, chính vì vậy mà trong tiếng Việt không có tính từ sở hữu, đại từ sở hữu cũng như không tồn tại khái niệm sở hữu cách Khi muốn chỉ ra mối quan hệ sở hữu giữa hai danh từ người Việt sử dụng giới từ "của" như trong ví dụ:
(30) Con của mẹ giờ đã khôn lớn rồi
(31) Không bao giờ tôi quên đặc trưng của vở tuồng cổ đó
VB, 265
Trang 25Đôi khi không có sự xuất hiện của hư từ "của" nhưng nghĩa sở hữu vẫn được hiểu một cách rõ ràng như trong các ví dụ dưới đây:
(32) Sài gòn đẹp như mắt một cô gái đa tình
VB, 206 (33) Tội gì mình lại khổ thân mình như thế
VB, 242 Mỗi ngôn ngữ có một nét đặc trưng riêng trong việc sử dụng các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu Chính vì vậy sẽ thật không dễ khi người Việt học tiếng Anh và muốn sử dụng chính xác và thành thục các cách diễn đạt ý nghĩa sở hữu Điều tương tự cũng xảy ra đối với người nước ngoài khi muốn tìm hiểu ngôn ngữ và văn hoá Việt Vậy các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong tiếng Anh có gì đặc biệt? Điểm tương đồng và khác biệt trong việc
sử dụng các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu ở tiếng Anh và tiếng Việt là gì? Điều này sẽ được làm rõ trong phần sau của luận văn
2.3 Chức năng ngữ nghĩa - ngữ dụng của các hình thức sở hữu trong danh ngữ
Như đã nói ở trên (mục 1), chức năng cơ bản của các hình thức sở hữu
là biểu thị ý nghĩa sở hữu, hiểu theo nghĩa là “quyền sở hữu” hay “quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt” Ví dụ:
(34) The blue car is mine (Chiếc ô tô màu xanh là của tôi)
Rõ ràng ở ví dụ này, quan hệ sở hữu được xác lập giữa chủ thể sở hữu
là “tôi” với đối tượng sở hữu là chiếc xe ô tô màu xanh thông qua đại từ sở hữu “mine” Đại từ sở hữu “mine” được sử dụng trong ví dụ không phải ngẫu nhiên mà nó thể hiện rất rõ dụng ý của người nói muốn nhấn mạnh đến quyền làm chủ, quyền chi phối vật của mình đối với chiếc ô tô màu xanh vừa được chỉ ra kia Tương tự như vậy, chúng ta cũng có thể thấy rất rõ nghĩa sở hữu trong các ví dụ sau:
(35) The owner of this old house is a widow
Chủ nhân của ngôi nhà cổ kia là một bà goá
(36) Sorry It isn't my umbrella It's Lan's
Trang 26Xin lỗi Đó là không phải là ô của tôi Đó là ô của Lan
Trong những trường hợp trên, chủ sở hữu hoàn toàn có thể thực hiện cả
ba quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đối tượng sở hữu Tuy nhiên, trong một số trường hợp khác, khái niệm sở hữu trong các phương thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu dường như lại không rõ nghĩa sở hữu Ví dụ:
(37) The Prince of Wale's speech was too long
Bài diễn thuyết của hoàng tử xứ Wales quá dài
(38) My uncle Tom has lived here for 10 years
Chú Tom của tôi đã sống ở đây được mười năm rồi
Ví dụ (37) và (38) cũng sử dụng các phương thức biểu hiện ý nghĩa
sở hữu của giới từ “of” và tính từ sở hữu “my” nhưng quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của “tôi” với chú Tôm là không thể Nghĩa sở hữu của xứ Wales với vị hoàng tử của họ cũng không thể là “chiếm hữu, sử dụng, định đoạt” Trong tiếng Việt, chúng ta cũng bắt gặp những trường hợp tương tự:
(39) Cái mặt mụ chắc chắn là sẽ không được tươi tỉnh lắm
2.3.1 Biểu thức sở hữu và tính xác định của danh ngữ
Như các ví dụ đã dẫn ở phần trên, chúng ta có thể thấy trong một số trường hợp khi các phương thức sở hữu được sử dụng thì rõ ràng mục đích của người nói, người viết là nhằm hướng cho người nghe, người đọc tới một đối tượng nhất định thông qua nghĩa sở hữu của các phương thức này Nói một cách khác, đối tượng được đề cập sẽ được định hình rõ nét hơn nhờ vào ý nghĩa khu biệt của các biểu thức sở hữu được sử dụng Hãy so sánh:
(41) Hắn mượn chiếc xe đạp của tôi hơn một tháng rồi
(42) Nó muốn có một chiếc xe đạp
Trang 27Ở ví dụ (41) “chiếc xe đạp” luôn là một đối tượng xác định chính vì nhờ sự có mặt của biểu thức sở hữu “của tôi” Người nghe, người đọc dễ dàng
xác định được người nói, người viết đang ám chỉ tới chiếc xe đạp nào thông
qua mối quan hệ giữa chủ sở hữu (tôi) với đối tượng sở hữu (chiếc xe đạp) Ngược lại ở ví dụ (42) "chiếc xe đạp" là một đối tượng không xác định Trong
phát ngôn này , người nói không đề cập đến một chiếc xe đạp cụ thể nào cả Chiếc xe đạp mà người nói và người nghe nhìn nhận là xe đạp nói chung, có thể là bất cứ chiếc xe đạp nào Chúng ta cùng xét tiếp các ví dụ:
(43) The owner of the house is a professor of Philosophy at Oxford Chủ nhân ngôi nhà là một giáo sư triết học tại Oxford
(44) I'm sorry The professor is ten minutes late today
Xin lỗi, hôm nay giáo sư tới muộn mười phút
Cũng tương tự như các ví dụ trên, ở phát ngôn (43) ý nghĩa sở hữu được
xác nhận giữa chủ thể sở hữu (the owner) với đối tượng sở hữu (the house) thông qua giới từ “of” giúp trả lời một cách chính xác câu hỏi “Ai là giáo sư
triết học tại Oxford” Còn ở tình thuống hội thoại (44) cả hai phía đối thoại đều biết và có thể nhận định được đối tượng mà người nói nhằm tới thông qua
việc sử dụng mạo từ "the" trong "the professor" Nói cách khác, người nghe
dẫu có muốn cũng không thể xác định nhầm Người mà tôi muốn đề cập ở đây không phải là bất cứ vị giáo sư nào mà là một vị giáo sư cụ thể và xác định Tính xác định của nhân vật đó được thể hiện nhờ vào sự ràng buộc về nghĩa như ở ví dụ (43) hay qua biểu thức sở hữu với giới từ "of" như ở (44)
T.Givón cũng có cùng nhận định Trong cuốn “Syntax: A functional Typological introductional, Vol II” (1984: 399) có viết: “Tính xác định thể hiện khi người nói mã hoá một danh từ qui chiếu là xác định nếu người nói cho rằng họ được phép thừa nhận là người nghe bằng bất cứ phương tiện gì đều có thể qui cho danh từ là qui chiếu duy nhất (unique reference)” Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận sự tồn tại của một số yếu tố mà nhờ đó, người nói có thể thừa nhận là người nghe có khả năng chỉ định qui chiếu duy nhất tới những danh từ đã được người nói đề cập đến trong diễn ngôn
Trang 28-Bên cạnh các quán từ (articles), các từ chỉ định (demonstratives) thì các hình thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong tiếng Anh cũng là một phương tiện khá quan trọng để thể hiện tính xác định Các ví dụ dưới đây sẽ chứng minh điều đó
(45) John's only daughter
Cô con gái duy nhất của John
(46) My niece
Cháu gái tôi
(47) The daughter of my sister and brother
Con gái của anh chị tôi
Rõ ràng đây là các danh ngữ xác định Sở dĩ chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn như vậy là vì mỗi danh ngữ đều được viết dưới dạng các
biểu thức sở hữu ”John's”, “my”, “my sister and brother” mà các biểu thức
này mang tính xác định nên các danh ngữ trên mang tính xác định là điều hiển nhiên
Tương tự, trong tiếng Việt khi nói:
(48) Bà ngoại của Linh rất thích ăn trầu thuốc
Ở ví dụ trên, “bà ngoại của Linh” là một danh ngữ xác định vì “Linh”
đã là một nhân vật xác định, một nhân vật cụ thể nên “bà ngoại của Linh” cũng phải là xác định Thậm chí ở một số trường hợp, giới từ “của” có thể bị lược đi chỉ còn lại “bà ngoại Linh” thì tính xác định cũng không vì thế mà bị
Trang 29này, người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” (Dẫn theo Nguyễn Thị Minh Nguyệt 2004: 9)
Nói cách khác, theo các nhà ngôn ngữ, qui chiếu là vấn đề liên quan đến
sự tiếp nhận và tạo lập các phát ngôn Nhưng trong ngôn ngữ tự nhiên, vấn
đề tạo ra các phát ngôn và hiểu các phát ngôn không phải lúc nào cũng đồng nhất ở cả hai phía người nói và người nghe Nghĩa là, đối với một phát ngôn
cụ thể trong những tình huống nhất định, người nói phải lựa chọn sử dụng hình thức ngôn ngữ như thế nào để người nghe có thể nhận biết được cái đang được qui chiếu; ngược lại, để hội thoại thành công thì nhiệm vụ của người nghe là làm sao suy ra đúng được cái thực thể mà người nói nhằm tới Bởi như chúng ta đã biết, bản thân các từ không qui chiếu đến cái gì cả, chỉ có con người mới làm việc qui chiếu đó
Vậy, điểm mấu chốt để có thể hiểu được nghĩa của hiện tượng qui chiếu
là quá trình dụng học Tại đó, người nói lựa chọn những biểu thức ngôn ngữ với ý nhận diện những thực thể nào đó và chắc chắn rằng người nghe sẽ cộng tác với mình và giải thuyết những biểu thức đó như là người nói đã chủ định
Các hình thái ngôn ngữ mà người nói hay người viết sử dụng làm cho người nghe hay người người đọc nhận diện được “cái gì đó” được George Yule (1997: 48) gọi là những biểu thức qui chiếu (referring expressions) Cũng theo George Yule, “những biểu thức qui chiếu có thể là các danh từ
riêng (như: Shakespeare, Cathy Revuelto, Hawaii), các cụm danh từ xác định (như tác giả này: the author, ca sĩ đó: the singer, hòn đảo này: the island ), hoặc một cụm danh từ không xác định (như a man: một người đàn ông, a woman: một người đàn bà, a beautiful place: một cảnh đẹp ), hoặc các đại từ (như he: nó, her: của cô ấy )" Việc lựa chọn biểu thức qui chiếu này hay
biểu thức qui chiếu khác trong số những biểu thức qui chiếu sẵn có dường như là dựa trên những gì người nói chắc chắn rằng người nghe đã biết
Như vậy, để giúp người nghe nhận dạng được sự vật, đặc tính, mối quan hệ đang được ám chỉ, qui chiếu đến người nói phải thực hiện một hành
Trang 30vi qui chiếu Hành vi chiếu vật hoặc quy chiếu đó dược thực hiện nhờ các phương thức qui chiếu Đây cũng chính là con đường mà người nghe tìm ra nghĩa qui chiếu từ các biểu thức qui chiếu Có ba phương thức lớn: dùng tên riêng, dùng biểu thức miêu tả xác định và dùng chỉ xuất Trong phần tiếp theo chúng tôi chỉ xin trình bày hai phương thức liên quan đến các hình thức sở hữu trong ngôn ngữ Đó là phương thức dùng tên riêng và dùng biểu thức miêu tả
b Các phương thức qui chiếu
+ Tên riêng
Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi tên bằng tên riêng Xét về mặt lý thuyết, khi chúng ta gọi tên Lan Anh thì chỉ riêng cái tên
đó thôi cũng chỉ cho chúng ta một cá thể người xác định trong rất nhiều cá thể người xung quanh và người đọc hay người nghe không bị rơi vào tình trạng
mơ hồ về chiếu vật Tuy nhiên trong thực tế, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới có hiện tượng các sự vật, người trong cùng một phạm trù trùng tên với nhau và đặc biệt trong quá trình sử dụng tên riêng có thể được dùng theo lối chuyển dịch phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ Một thói quen khiến chúng ta luôn nghĩ rằng một tên gọi hoặc một tên riêng chỉ có thể dùng để nhận diện một nhân vật cụ thể nhưng trong ngôn ngữ chúng ta vẫn thường thấy những phát ngôn sau:
(49) Xem triển lãm Tô Ngọc Vân
(50) Suốt mười năm tôi đọc Nguyễn Du
(51) Kẹo chú Xìu Châu sao sánh được
Bánh bà Hạnh Tụ cũng thua xa
(52) Picasso's on the far wall
Picaxô treo ở trên tường phía đằng kia
(53) The new Mozart's better value than Bach
Bản Mo- da mới này giá trị hơn Bách
Trang 31Các ví dụ (49), (50), (52) cho phép chúng ta thấy rõ hơn sự qui chiếu hoạt động trong thực tại như thế nào Nghĩa của các phát ngôn (49), (50), (52) sẽ được làm rõ tương ứng theo thứ tự như sau:
(49') Xem triển lãm tranh của Tô Ngọc Vân
(50') Suốt mười năm tôi đọc các tác phẩm của Nguyễn Du
(52') Picasso's painting is on the far wall
Bức tranh của Picaxô treo ở trên tường phía đằng kia
(53') The new Mozart's concerto is better than Bach's
Những cái tên Tô Ngọc Vân, Nguyễn Du, Picasso, Mozart, Bach là tên các hoạ sĩ, nhạc sĩ đã được dùng để chỉ các tác phẩm hội hoạ, các bản nhạc do
họ sáng tác Còn ở (51) địa điểm nơi sản xuất được thay thế cho sản phẩm được sản xuất tại đó Việc sử dụng tên riêng theo lối qui chiếu để nhận diện một vật thể như thế đã gợi lên ở người nghe việc thực hiện sự suy đoán mong đợi Trong trường hợp này, khái niệm sở hữu không được nói ra nhưng người nghe, người đọc vẫn có thể hiểu được nội dung thông báo
+ Biểu thức miêu tả
Trong thế giới thực tại không phải mọi sự vật, hiện tượng đều có tên riêng Điều đó đồng nghĩa với việc trong nhiều trường hợp chúng ta không thể dùng tên riêng để chiếu vật Vậy làm sao để cho người giao tiếp với mình hiểu được mình đang nói về cái gì trong thế giới diễn ngôn nào?
Để giúp cho người nghe, người đọc dễ dàng suy ra nghĩa chiếu vật cá thể của một biểu thức chiếu vật không phải là tên riêng nào đó, người nói (người viết) thường dùng biện pháp miêu tả để tạo ra các biểu thức miêu tả chiếu vật Theo Đỗ Hữu Châu thì: “miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung, nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật- nghĩa chiếu vật
ra khỏi các sự vật khác cùng loại với chúng” ( 2001: 67) Hãy so sánh hai ví
dụ sau:
(54) Mèo rất hay ăn vụng
(55) Con mèo nhà Lan hay ăn vụng lắm
Trang 32Mèo trong (54) chiếu vật loại chỉ mèo nói chung thường có đặc tính hay
ăn vụng Con mèo nhà Lan trong (55) lại là một biểu thức chiếu vật cá thể Các yếu tố phụ con, nhà Lan đã tách con mèo đang được nói tới ra khỏi các
con mèo nói chung Nó giúp cho người nghe, người đọc nhận diện rõ nét hơn
về con mèo đang được nói tới Chúng ta xét tiếp các ví dụ:
(56) The man whose daughter is a ballet dancer is ill seriously
(57) Marry's husband is living aboard
(58) Đây là đoàn xiếc mô tô bay của thành phố chúng tôi
Những biểu thức miêu tả: “Whose daughter is a ballet dancer”,
“Marry's husband”, “của thành phố chúng tôi” đã giúp người đọc, người nghe
thu hẹp phạm vi chiếu vật đến cực tiểu Lúc này, việc xác định đối tượng đang được đề cập đến không còn là quá khó nữa Trong những trường hợp như vậy các biểu thức sở hữu không chỉ thuần tuý mang nghĩa sở hữu mà nó chính là những biểu thức miêu tả mang chức năng qui chiếu giúp nhận dạng đối tượng qui chiếu một cách rõ ràng hơn, chính xác hơn
Như vậy có thể thấy, các biểu thức sở hữu ở cả hai ngôn ngữ không chỉ đơn thuần diễn tả ý nghĩa sở hữu mà còn có chức năng biểu thị tính xác định
và nghĩa qui chiếu và các chức năng dụng học này thậm chí có phần nổi trội hơn hẳn chức năng ngữ nghĩa Các phương thức biểu hiện ý nghĩa sở hữu trong danh ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt có những nét tương đồng và khác biệt gì? Các yếu tố nào chi phối người học khi sử dụng cũng như chuyển dịch
ý nghĩa sở hữu từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác? Những lỗi thường mắc phải trong quá trình người học tiếp cận với các phương thức biểu hiện ý nghĩa
sở hữu ở cả hai ngôn ngữ? Điều này sẽ được làm rõ trong chương hai và chương ba
Trang 33CHƯƠNG II
CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SỞ HỮU TRONG
DANH NGỮ TIẾNG ANH
1 Vị trí của các hình thức sở hữu trong danh ngữ tiếng Anh
1.1 Cấu trúc của danh ngữ tiếng Anh
Cấu trúc danh ngữ của các ngôn ngữ trên thế giới không hoàn toàn giống nhau Mỗi loại hình ngôn ngữ có cấu trúc danh ngữ riêng với những đặc trưng riêng Bên cạnh đó, các nhà ngôn ngữ học lại cũng có những quan điểm về danh ngữ và cấu trúc danh ngữ không hoàn toàn trùng khớp Richards (1992: 251) cho rằng: “Danh ngữ là một cụm phân từ (participle phrase) hoặc một cụm nguyên mẫu (infinitive phrase) mà trong đó các cụm từ này lại có thể thay thế bằng một danh từ hoặc một đại từ” Ví dụ được ông lấy để minh chứng là:
(59) Peter just hates washing clothes
Peter ghét giặt quần áo
Theo Richards, trong ví dụ trên, cụm “washing clothes” có thể được
thay thế bằng đại từ “it” như trong ví dụ (60) dưới đây mà trong tình huống giao tiếp cụ thể nét nghĩa chính không bị mất đi
(60) Peter just hates it
Peter ghét nó
Các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Ngữ pháp cải biến tạo sinh thì lại không đồng ý với Richards Họ cho rằng danh ngữ là một nhóm từ trong
đó danh từ hoặc đại từ là thành tố chính của danh ngữ Ví dụ:
(61) My grandmother was a ballet dancer
Bà tôi đã từng là một vũ công bale
Trang 34Trong ví dụ (61), “My grandmother” là một danh ngữ trong đó,
“grandmother” là danh từ chính hay còn được gọi là chính tố (head), “my” đóng vai trò là định từ (det)
Một nhà ngôn ngữ học truyền thống khác, J Eastwood, thì lại cho rằng danh ngữ trong tiếng Anh có thể là một từ (một danh từ hoặc một đại từ) hoặc hơn một từ (có thể là một danh từ đi cùng một mệnh đề quan hệ hoặc một
danh từ với các định tố đi kèm khác) (1994: 68) như trong các ví dụ dưới đây:
(62) John usually goes to school by bus
John thường đi học bằng xe buýt
(63) A large room for two
Một phòng rộng rãi dành cho hai người
(64) All these under sixteen people
Tất cả những người dưới 16 tuổi này
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thống nào dành cho danh ngữ tiếng Anh nhưng dù gì đi chăng nữa thì mọi người đều thừa nhận một điểm chung về vai trò và vị trí của danh ngữ Trong câu, danh ngữ (noun phrase) thường đảm nhận chức năng của một danh từ (noun) và danh từ được coi là trung tâm (head) của danh ngữ Một danh ngữ thường đảm nhận chức năng của chủ ngữ, tân ngữ, bổ ngữ trong câu
1.2 Cấu trúc danh ngữ điển hình
Mô hình danh ngữ trong tiếng Anh có thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:
Noun phrase = Premodification + Head + Postmodification
(Danh ngữ = Định tố trước + Chính tố + Định tố sau )
Các ví dụ trên đã cho chúng ta thấy danh ngữ trong tiếng Anh có thể là một danh từ, nhưng cũng có thể bao gồm các thành tố phụ đứng trước hoặc sau danh từ trung tâm như mô hình trên Chúng ta sẽ cùng làm rõ hơn một số đặc điểm của các thành tố trong cấu trúc danh ngữ tiếng Anh
Trang 351.2.1 Chính tố
Chính tố hay thành tố trung tâm (head) của danh ngữ thường là một danh từ Danh từ này đóng vai trò trung tâm của danh ngữ Các yếu tố khác trong danh ngữ sẽ có quan hệ với danh từ trung tâm về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa
Danh từ trung tâm của danh ngữ tiếng Anh được phân loại theo cấu trúc
và theo ý nghĩa như sau:
- Xét về mặt cấu trúc thì danh từ trong tiếng Anh được chia làm ba loại:
Danh từ đơn (simple nouns): Danh từ đơn là những danh từ không
thể chia nhỏ hơn được nữa do chúng không được hình thành từ các từ loại
khác Ví dụ như: boy (cậu bé), table (cái bàn), pencil (bút chì)
Danh từ phái sinh (derived nouns): Danh từ phái sinh là những danh
từ được hình thành từ các từ loại khác nhờ vào các phụ tố đi kèm Ví dụ: happy (adj): hạnh phúc → happiness (n): niềm hạnh phúc
Danh từ ghép (compound nouns): Danh từ ghép là những danh từ được cấu tạo từ hai hay nhiều từ ghép lại với nhau Ví dụ: swimming + pool → swimmingpool (bể bơi); girl + friend → girlfriend (bạn gái)
- Xét về mặt ý nghĩa danh từ tiếng Anh được chia loại như sau:
Danh từ riêng (proper nouns): Danh từ riêng là những danh từ dùng
để chỉ riêng một đối tượng nhất định nào đó và đôi khi nó được dùng như danh từ chung Ví dụ: Paris, London, Vietnam
Danh từ chung (common nouns): Danh từ chung là những danh từ
dùng để chỉ những đối tượng chung, bao gồm:
- Danh từ đếm được (count nouns): Ví dụ như: pupils (những học sinh), cars (những chiếc ô tô), chairs (những chiếc ghế)
- Danh từ khối (mass nouns): như butter (bơ), milk (sữa), oil (dầu)
Trong danh từ đếm được và danh từ khối lại chia ra hai tiểu loại:
- Danh từ cụ thể (concrete nouns): là những danh từ mà chúng ta có thể cảm nhận trực tiếp qua giác quan như: book (sách), table (bàn), pen (bút)
Trang 36- Danh từ trừu tượng (abstract nouns): là những danh từ chỉ phẩm chất, đặc tính, trạng thái hay hoạt động như: honesty (tính trung thực), truth (sự thật), happiness (niềm hạnh phúc)
Sơ đồ phân loại cấu trúc, ý nghĩa của danh từ trung tâm được biểu hiện
rõ hơn trong sơ đồ dưới đây:
(65) An old house with a colourful rose garden
Trang 37(Định tố trước) (Chính tố) (Định tố sau)
(Một ngôi nhà cổ với một vườn hoa hồng đủ màu sắc)
Yếu tố giúp phân biệt định tố trước và định tố sau chính là vị trí của chúng so với chính tố (danh từ trung tâm) trong danh ngữ
(66) A heavy, young, dark man with long, fair hair
Premodification Head Postmodification
(Một người đàn ông trẻ tuổi, to lớn, nước da ngăm đen với một mái tóc dài hoe vàng)
(67) My clever daughter (con gái láu cá của bố)
(68) Some old books (một vài quyển sách cũ)
(69) Another girl (một cô gái khác nữa)
(70) This pen (một chiếc bút)
(71) The next door boy (cậu bé gần nhà)
(72) A nice car (một chiếc ô tô đẹp)
Các định từ được M Swan phân theo 4 nhóm chính như sau:
Trang 38Determiners (Định từ)
Articles
(Quán từ)
Demonstratives (Chỉ định từ)
Possessives (Định từ sở hữu)
Quantifiers (Lượng từ)
A, an, the this, that, these,
those
My, your, his, her, its, our, their, Louis's
Another, every, any, either, neither, no, much, enough, each
Bảng 2: Các định từ trong tiếng Anh
Quirk, R (1973) lại có cách phân chia các định từ theo cách khác Vẫn là các định từ đó nhưng theo Quirk có 6 nhóm định từ được phân chia dựa vào
sự kết hợp với các nhóm danh từ như danh từ số ít (như bottle), danh từ số nhiều (như bottles) và danh từ không đếm được (như furniture)
có thể thấy rõ vị trí của các lượng từ qua các ví dụ sau:
(73) All (of) the meat (tất cả số thịt)
(74) Both (of) the girls (cả hai cô gái)
(75) Half (of) the time (nửa thời gian)
- Từ chỉ tần xuất, mức độ thường xuyên (multipliers): Là các từ chỉ tần xuất, mức độ thường xuyên của hành động Các từ này được tính theo cấp số
nhân như: double (gấp đôi), twice (hai lần), three, four time (ba, bốn lần) Các
tiền định từ loại này có thể kết hợp với các danh từ không đếm được, danh từ đếm được số nhiều, danh từ đếm được số ít để định lượng hoặc chỉ mức độ thường xuyên
Trang 39(76) Double their bonus (gấp đôi số tiền thưởng của họ)
(77) Twice his strength (hai lần sức anh ta)
(78) Four time this amount (bốn lần lượng này nữa)
(79) Three times a week (ba lần một tuần)
- Định từ chỉ phân số (fractions): Các tiền định từ phân số cũng được sử dụng kết hợp với các danh từ đếm được số ít hoặc số nhiều và các danh từ không đếm được để chỉ số lượng Chúng có thể xuất hiện sau quán từ như trong ví dụ sau:
(80) He did it in one-third (of) the time it took me
Hắn chỉ mất một phần ba thời gian để làm việc đó so với tôi
- Cụm giới từ (prepositional phrase) Ví dụ:
(81) The house on the right (ngôi nhà phía bên phải)
Trang 40- Trạng từ (adverb):
(82) My room upstairs (phòng của tôi ở trên gác)
- Ngữ động từ bất định (non-finite verb phrase) Ví dụ:
(83) The boy sitting in the corner (Cậu bé ngồi trong góc)
PI
non-finite verb phrase
(84) The school damaged in the flood (Ngôi trường bị phá huỷ sau trận
lụt) PII
Non-finite verb phrase
(85) The desire to become a doctor (Khát vọng muốn trở thành bác sĩ)
Infinitive Non-finite verb phrase
Qua các ví dụ trên có thể thấy rõ ngữ động từ bất định có thể ở dạng phân từ I như trong ví dụ (83) và phân từ II như trong ví dụ (84) Bên cạnh
đó, ngữ động từ cũng có thể ở dạng nguyên của động từ (infinitive) như trong
ví dụ (85)
- Mệnh đề quan hệ (relative pronoun).Ví dụ:
(86) The man who she met yesterday
Relative pronoun (Người đàn ông cô ta gặp hôm qua)
- Tính từ (adjective) Ví dụ:
(87) She recognised his smile extremely atractive
adjective
(Cô chợt nhận ra nụ cười của anh ta thật hấp dẫn chết người)
Như vậy, có thể tóm tắt cấu trúc danh ngữ trong tiếng Anh theo sơ đồ sau:
Noun phrase
(Danh ngữ