Trong luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát và đưa ra những nhận xét về cách nêu định nghĩa, miêu tả nghĩa của một số nhóm các danh từ, vị từ vị từ “động” trong cuốn Từ Điển Tiếng V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG
KHẢO SÁT CÁC ĐỊNH NGHĨA CỦA
TỪ LOẠI DANH TỪ, VỊ TỪ TRONG TỪ ĐIỂN TIẾNG
VIỆT CỦA HOÀNG PHÊ - 2000
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG
KHẢO SÁT CÁC ĐỊNH NGHĨA CỦA
TỪ LOẠI DANH TỪ, VỊ TỪ TRONG TỪ ĐIỂN TIẾNG
VIỆT CỦA HOÀNG PHÊ - 2000
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Đức Nghiệu
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
1 Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu của luận văn 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Về phương pháp nghiên cứu, khảo sát 5
5 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬN VĂN 6
1.1 Lý luận về nghĩa của từ và cơ cấu nghĩa của từ 6
1.1.1 Nghĩa của từ 6
1.1.2 Cơ cấu nghĩa của từ 8
1.2 Phương pháp phân tích nghĩa của từ 11
1.3 Lý luận về định nghĩa và cách nêu định nghĩa 14
1.3.1 Quan niệm về định nghĩa 14
1.3.2 Cấu trúc của định nghĩa 17
1.3.3 Kiểu loại định nghĩa 18
1.4 Vấn đề định nghĩa từ trong từ điển 24
1.4.1 Một số vấn đề về từ điển 24
1.4.2 Kiểu loại định nghĩa trong từ điển 25
1.4.3 Miêu tả nghĩa trong từ điển 27
Chương 2 ĐỊNH NGHĨA DANH TỪ TRONG TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT 30
2.1 Danh từ và các tiểu loại danh từ 30
2.1.1 Khái niệm danh từ 30
2.1.2 Các tiểu loại của danh từ 30
2.2 Mô hình miêu tả nghĩa của một số tiểu loại danh từ 32
2.2.1 Danh từ chỉ người, động vật 32
2.2.1.1 Danh từ chỉ người 32
Trang 42.2.1.2 Danh từ chỉ động vật: 38
2.2.2 Danh từ chỉ thực vật 54
2.2.3 Danh từ chỉ sự vật, hiện tượng 61
Chương 3 ĐỊNH NGHĨA VỊ TỪ TRONG TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT 73
3.1 Vị từ và các tiểu loại vị từ 73
3.1.1 Khái niệm vị từ 73
3.1.2 Các tiểu loại của vị từ 73
3.2 Mô hình miêu tả nghĩa của một số tiểu loại vị từ 74
3.2.1 Vị từ chỉ hành động rời chỗ 74
3.2.2 Vị từ chỉ hành động thay đổi tư thế 77
3.2.3 Vị từ chỉ hành động phát ra âm thanh 78
3.2.4 Vị từ chỉ hành động tạo tác 80
3.2.5 Vị từ chỉ hành động phá hủy 87
3.2.6 Vị từ chỉ hành động thay đổi trạng thái vật lý 90
3.2.7 Vị từ chỉ hành động di chuyển có đối tượng 92
3.2.8 Vị từ chỉ hành động vận chuyển 94
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu của luận văn
Chúng ta đều biết, từ điển là loại sách công cụ giúp tra cứu khi cần thiết, cung cấp những tri thức cho người đang cần nó Hiện nay, nhu cầu sử dụng từ điển các loại, trong đó có từ điển tường giải (giải thích) của mọi người ngày càng tăng Điều này đã đặt ra một thách thức lớn với công tác biên soạn từ điển Muốn xây dựng được một cuốn từ điển tường giải loại vừa
và lớn đòi hỏi một cơ sở tư liệu đầy đủ, đội ngũ chuyên gia và đội ngũ kỹ thuật viên làm việc trong nhiều năm
Hiện nay, từ điển học đã trở thành một bộ môn ngôn ngữ học có ứng dụng quan trọng Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, những thành tựu rực rỡ
về ngữ pháp và ngữ nghĩa đã tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở lý luận từ điển học hiện đại Từ điển học Việt Nam ra đời chưa lâu Tuy nhiên với sự nỗ lực lao động của đội ngũ các nhà nghiên cứu đã cho ra đời những loại từ điển phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau như: từ điển giải thích, từ điển thuật ngữ chuyên ngành,… Sự phong phú của các loại từ điển giúp người tra cứu có thể nhanh chóng tìm được điều họ mong muốn
Đối với một cuốn từ điển, bên cạnh việc thiết kế bảng từ, mục từ thì phần định nghĩa, miêu tả nghĩa của từ là vô cùng quan trọng Nếu lời định nghĩa, miêu tả chính xác và dễ hiểu sẽ giúp người đọc có cái nhìn đúng và giải quyết vấn đề hiệu quả Mỗi quyển từ điển có những cách định nghĩa, miêu tả khác nhau thể hiện mục đích của các nhà biên soạn từ điển Trong luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát và đưa ra những nhận xét về cách nêu định nghĩa, miêu tả nghĩa của một số nhóm các danh từ, vị từ (vị từ
“động”) trong cuốn Từ Điển Tiếng Việt – một cuốn từ điển giải thích cỡ vừa
được biên soạn trên cơ sở khối tư liệu tương đối đầy đủ; để trên cơ sở đó, đưa
ra những nhận xét, lấy đó làm cơ sở xây dựng một số “công thức” “mô hình” định nghĩa thích hợp cho những nhóm từ, kiểu từ hữu quan
Trang 6Mục đích nghiên cứu là để góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận liên quan đến nghĩa của từ và cách phân tích, giải thích nghĩa của từ Qua đó cũng góp phần khẳng định, củng cố thêm hoặc bổ sung vào những phương pháp, thao tác phân tích, giải thích, miêu tả nghĩa từ khi làm từ điển tường giải tiếng Việt, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu về định nghĩa, cách nêu định nghĩa không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ trong các nghiên cứu Tác giả Rey – Debove đã có những nghiên cứu và thống kê các kiểu loại định nghĩa trong từ điển, ông cũng phân biệt sự khác nhau giữa định nghĩa trong từ điển với định nghĩa của logic học
Ở Việt Nam, tác giả Hoàng Phê cũng có một chương riêng nghiên cứu
về phân tích ngữ nghĩa trong cuốn Lô gic ngôn ngữ học [22] Trong chương
này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu các nét nghĩa và giá trị thông báo của chúng Ngoài ra, tác giả Chu Bích Thu [27, tr 75 – 112] cũng có một bài viết nhận xét về cấu trúc vi mô của cuốn Từ điển giải thích tiếng Việt Ở trong bài viết này có nhắc đến tầm quan trọng của lời định nghĩa và các kiểu định nghĩa thường được sử dụng trong từ điển Tác giả cũng nêu ra một cách phân loại định nghĩa trong cuốn từ điển giải thích Bên cạnh đó, luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Thanh Hà [9] nghiên cứu về các định nghĩa sách giáo khoa phổ thông hiện nay Trong đó, tác giả liệt kê các kiểu định nghĩa, thống kê những kiểu định nghĩa được dùng trong sách giáo khoa và đưa ra những nhận xét yêu cầu đối với định nghĩa
Hiện nay, tại các trung tâm từ điển, việc phân loại từ, sau đó xây dựng nên mô hình định nghĩa rất được quan tâm Đặc biệt người ta còn nghiên cứu các phần mềm định nghĩa để việc miêu tả nghĩa của từ không những chính xác mà còn nhanh gọn, tiện lợi cho người làm từ điển Do vậy, việc nghiên cứu cách nêu định nghĩa và miêu tả nghĩa là hết sức có ý nghĩa đối với các nhà từ điển học
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng chúng tôi nghiên cứu là lời định nghĩa của danh từ, vị từ (vị
từ “động”) trong Từ Điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên năm 2000 Tuy nhiên, số lượng danh từ, vị từ “động” trong cuốn từ điển này rất đồ sộ, bởi vậy, chúng tôi chỉ chọn một số nhóm nổi bật và miêu tả mô hình định nghĩa đặc trưng của chúng Sau đó, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét về cách định nghĩa danh từ, vị từ trong từ điển
4 Về phương pháp nghiên cứu, khảo sát
4.1 Dựa trên cơ sở lý thuyết, chúng tôi phân loại danh từ, vị từ “động” thành các tiểu loại Mỗi tiểu loại lại được chia thành các nhóm theo chủ đề Việc phân chia này tạo điều kiện cho việc xây dựng mô hình định nghĩa và miêu tả nghĩa Sau đó, chúng tôi tiến hành chọn một số mẫu tiêu biểu vào từng nhóm để tìm ra nét đặc trưng của mỗi mô hình định nghĩa
4.2 Sau khi phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích để tìm ra mô hình miêu tả nghĩa của các tiểu loại danh từ, vị từ Sau đó chúng tôi đưa ra những nhận xét về các cách định nghĩa, sự khác nhau giữa các định nghĩa danh từ và
vị từ trong Từ Điển Tiếng Việt
5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn này ngoài phần Mở đầu và Kết luận, sẽ gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luân có liên quan của luận văn
Chương 2: Định nghĩa danh từ trong Từ Điển Tiếng Việt
Chương 3: Định nghĩa vị từ trong Từ Điển Tiếng Việt
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬN VĂN
Muốn miêu tả nghĩa và xây dựng các “mô hình” định nghĩa, chúng ta cần phải phân tích nghĩa Tuy nhiên, muốn phân tích được nghĩa từ thì phải hiểu bản chất và cấu trúc nghĩa Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề lý luận về nghĩa của từ và phương pháp phân tích nghĩa từ
1.1 Lý luận về nghĩa của từ và cơ cấu nghĩa của từ
1.1.1 Nghĩa của từ
Trước đây, ngữ nghĩa học truyền thống chỉ đóng khung trong việc miêu
tả, phân loại nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ Hiện nay, ngữ nghĩa học hiện đại
đã chuyển sang việc phát hiện ra các quy tắc điều khiển các quá trình tạo nghĩa Do vậy, ngữ nghĩa học bao gồm hai bộ phận: ngữ nghĩa học hệ thống (chủ yếu là ngữ nghĩa học từ vựng) và ngữ nghĩa học hoạt động Từ là một đơn vị của ngôn ngữ và có nghĩa vì thế nghĩa của từ tất yếu là một đối tượng nghiên cứu của ngữ nghĩa học Nếu ngữ nghĩa học từ vựng phân tích và miêu
tả nghĩa của từ trong hệ thống tức là trong trạng thái tĩnh và ổn định thì ngữ nghĩa học hoạt động lại nghiên cứu nghĩa của từ trong trạng thái hành chức, trạng thái động tức là gắn với phân tích diễn ngôn, trạng thái ngôn ngữ đang hoạt động trong quá trình giao tiếp Với cách tiếp cận này, ta thấy nghĩa của
từ cũng là một đối tượng phức tạp, nó bao gồm những thành tố nghĩa nhỏ hơn Chúng ta thường bắt gặp các thành phần nghĩa sau:
♦ Sở chỉ và nghĩa sở chỉ:
“Một cá thể sự vật mà từ đó chỉ ra, được gọi là (vật) sở chỉ (referent) của từ Khi đó, quan hệ giữa từ và sở chỉ là: từ quy chiếu (refer) sở chỉ Quan
hệ này là quan hệ quy chiếu, sự quy chiếu (reference)” 19, tr 321
Để hiểu một cách sâu sắc hơn, chúng ta xem xét ví dụ sau:
- Con mèo nhà Mai rất đẹp (1)
Trang 9- Con chim kia hót hay quá (2)
Trong hai câu trên, hai từ mèo và chim là hai từ có nghĩa
Câu 1: chỉ ra một con mèo cụ thể, con mèo ấy nhà Mai là chủ sở hữu (Con mèo nhà Mai)
Câu 2: chỉ ra một con chim cụ thể (con chim kia)
Ngữ nghĩa học gọi con mèo, con chim được chỉ xuất một cách cụ thể
trong những trường hợp này là sở chỉ của từ Mối quan hệ giữa từ với cái sở chỉ gọi là nghĩa sở chỉ Nghĩa sở chỉ chỉ thể hiện ra khi sử dụng các từ trong lời nói Mối quan hệ giữa từ với cái sở chỉ có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể, bởi vậy, nó không có tính ổn định
Cái sở chỉ bao gồm các đối tượng nằm ở cả thế giới hiện thực và phi hiện
thực Ví dụ: thần, tiên, ma, quỷ, thiên đường, địa ngục… mặc dù chúng là những
sự vật không tồn tại trong thế giới hiện thực nhưng được người Việt nhận thức
về mặt văn hóa – xã hội nên vẫn được gọi tên bằng các từ tương ứng
♦ Sở thị và nghĩa sở thị:
Bên cạnh nghĩa sở chỉ, nghĩa sở thị cũng là một thành tố nghĩa rất quan trọng được các nhà ngữ nghĩa học quan tâm Để hiểu sâu sắc về thành tố nghĩa này, chúng ta quan sát ví dụ sau:
- Mèo là loài vật nuôi
- Chim là động vật có lông vũ, có khả năng bay
Ở hai ví dụ trên, ta thấy mèo, chim không phải là tên gọi một cá thể đặc
biệt nào mà đó là tên gọi chung cho một lớp sự vật trong thế giới khách quan
Từ mèo là tên gọi chung cho cả loài mèo, bất kể con mèo nào, loại mèo nào: mèo tam thể, mèo mướp, …Từ chim là tên gọi chung cho cả loài chim bất kể
thứ chim gì: chim ưng, chim sẻ, chim yến, chìa vôi, sơn ca…
Như vậy, nghĩa sở thị của từ là sự biểu thị các lớp sự vật, hiện tượng, quá trình… dưới dạng một tập hợp những đặc điểm, thuộc tính chung nhất, đặc trưng nhất, bản chất nhất đủ để phân biệt sự vật này với sự vật khác
Trang 10Hay nói cách khác, nghĩa sở thị là mối quan hệ giữa từ với khái niệm, biểu tượng Còn những khái niệm, biểu tượng có quan hệ với từ gọi là (cái) sở thị
Nghĩa sở thị của từ là thành phần nghĩa rất được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Có nhà nghiên cứu phân biệt nó với nghĩa khái niệm nhưng có nhà nghiên cứu lại coi như nhau Trong luận văn này, chúng tôi cũng không phân biệt như vậy Nghĩa khái niệm là thành phần nghĩa cơ bản, cốt lõi Thông thường, trong những trường hợp không thực sự cần thiết phải phân biệt một cách rõ ràng người ta vẫn gọi nghĩa khái niệm là nghĩa của từ Tuy nhiên chúng ta vẫn ngầm hiểu rằng đó là nghĩa khái niệm
Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm nghiên cứu nghĩa sở thị của từ hay còn gọi là nghĩa của từ Nghĩa của từ cũng như từ, nó là một tổ chức bao gồm các
“thành tố” sắp xếp theo một trật tự nhất định, có quan hệ quy định lẫn nhau
1.1.2 Cơ cấu nghĩa của từ
Mỗi từ có một nghĩa hoặc nhiều nghĩa Từ đa nghĩa là từ có hơn một nghĩa trở lên Mỗi nghĩa của từ đa nghĩa cũng có cơ cấu, tổ chức như nghĩa của từ đơn nghĩa Người ta có thể phân tách mỗi nghĩa thành các nghĩa tố nhỏ hơn để có thể xác định được quan hệ giữa các thành tố
Mỗi từ có thể đơn nghĩa hoặc đa nghĩa “Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại” [19, tr 324
Ví dụ: Từ miệng trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa Các nghĩa của từ
miệng được miêu tả là một cơ cấu có tổ chức
Ban đầu, từ miệng có nghĩa: “Bộ phận trên mặt người hay ở phần trước của đầu động vật, dùng để ăn, và (ở người) để nói” Sau đó, từ miệng chuyển
sang gọi tên cho các sự vật khác và biểu thị những nghĩa khác:
- Miệng ăn
- (Giao tiếp bằng) lời nói trực tiếp, không phải viết
- Phần trên cùng, chỗ mở ra thông với bên ngoài của vật có chiều sâu
Trang 11Sự xuất hiện của từ đa nghĩa có hai nguyên nhân chính:
- Quá trình nhận thức của cộng đồng bản ngữ, đặc điểm định danh của ngôn ngữ
- Quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ (dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn), cụ thể hơn là cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau
Nhìn ví dụ về từ miệng ta thấy: Nghĩa ban đầu của từ miệng là nghĩa có
trước, nghĩa cơ bản nên được gọi là nghĩa gốc Những nghĩa sau là những nghĩa được xây dựng trên cơ sở nghĩa ban đầu còn gọi là nghĩa phái sinh
Như vậy, nghĩa của từ được sắp xếp theo một tổ chức nhất định, người
ta có thể chia thành: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh dựa trên trên tiêu chí nguồn gốc của từ
Nghĩa gốc: là nghĩa đầu tiên (nghĩa có trước), là nghĩa không thể giải thích được lý do, được nhận ra một cách độc lập, không cần thông qua nghĩa khác
Nghĩa phái sinh: là nghĩa được hình thành dựa trên cơ sở nghĩa gốc, là nghĩa có lý do, được nhận ra qua nghĩa gốc của từ
Một từ có thể có nhiều nghĩa, trong từng nghĩa lại có thể phân ra thành các nét nghĩa nhỏ hơn nữa, ta gọi đó là các nghĩa tố
♦ Nghĩa tố:
Theo U Weinreich “Điều mong muốn phân tích một nghĩa tổng quát ra những thành tố và xác lập một quan hệ tôn ti giữa các thành tố luôn luôn là một trong những động cơ chủ yếu của nghiên cứu ngữ nghĩa học” [22, tr 11] Như vậy, đã từ lâu, các nhà ngữ nghĩa học quan tâm nghiên cứu về cấu tạo của nghĩa từ Trong quá trình nghiên cứu ấy, họ nhận thấy rằng mỗi nghĩa từ
là một tổ hợp đặc biệt những thành tố ngữ nghĩa gọi là các nét nghĩa Hay nói cách khác: Nghĩa tố (nét nghĩa) là những thành tố tối giản, căn bản, cần yếu khi ta đi sâu vào phân tích từng nghĩa của từ
Ví dụ:
Trang 12- Giáo viên: Người// dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương
- Bộ đội: Người// trong quân đội
So sánh nghĩa của cặp từ trên, ta thấy: [dạy học ở bậc phổ thông hoặc
tương đương] là nét đặc trưng của từ giáo viên còn [trong quân đội] là nét đặc trưng của từ bộ đội [Người] là nét đặc trưng chung của hai từ bộ đội và giáo
viên Ta gọi đó là các nét nghĩa hay nghĩa tố
Trong cơ cấu nghĩa của từ, nghĩa tố : “được xem như là sự phản ánh một dấu hiệu đặc trưng, ứng với một thuộc tính chung hoặc riêng của sự vật, hiện tượng, được đưa vào nghĩa sở thị (biểu niệm) của từ và chúng cũng được sắp xếp trong một cơ cấu tổ chức nhất định nào đó” [19, tr 328]
Nghĩa tố của từ giúp ta phân biệt từ này với từ khác Tuy nhiên, mỗi nghĩa tố có thể là yếu tố ngữ nghĩa riêng của một từ đối lập với nghĩa của các
từ khác trong cùng một nhóm hoặc là yếu tố ngữ nghĩa chung của các từ thuộc cùng một nhóm từ vựng
Ví dụ: tai, mắt, mũi… đều có nét nghĩa chung là: bộ phận cơ thể người,
động vật Nhưng nét nghĩa: để nghe, để nhìn, để ngửi… là những nét nghĩa
riêng của các từ này
Nói cách khác, một nét nghĩa có thể được coi là nét nghĩa cụ thể so với nét nghĩa bao trùm nó, cũng có thể là một nét nghĩa khái quát so với các nét nghĩa hẹp hơn mà nó phân chia ra
Ví dụ: nét nghĩa [thay đổi tư thế] là nét nghĩa cụ thể so với nét nghĩa [hành động] nhưng so với nét nghĩa [thay đổi tư thế của thân], [thay đổi tư thế của mặt], [thay đổi tư thế của đầu]…thì lại là nét nghĩa khái quát
Làm thế nào chúng ta có thể phát hiện ra các nét nghĩa (nghĩa tố)? Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học thường áp dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để tìm ra những nét nghĩa chung và riêng của từ
Bước 1: Tìm ra những nét nghĩa chung, đồng nhất trong nhiều từ
Trang 13Bước 2: Trong nhóm từ chứa nét nghĩa chung đó, đối lập các từ đó với nhau để tìm nét nghĩa cụ thể hơn Tiếp tục làm như thế cho đến khi gặp những nét nghĩa chỉ có riêng trong một từ
Ví dụ: Xét nhóm từ: đi, chạy, nhảy, lăn, lê, ra, vào, lên, xuống…
Nét nghĩa chung, khái quát cho cả nhóm từ: [hoạt động rời chỗ]
Đối lập các từ trong nhóm với nhau ta có thể chia thành hai nhóm với những nét nghĩa khác nhau:
- Nhóm 1: [rời chỗ vô đích]: đi, chạy, nhảy, lăn, lê
- Nhóm 2: [rời chỗ có đích]: ra, vào, lên, xuống
Chia nhỏ hơn nữa, ta sẽ tìm được những nét nghĩa riêng cho từng từ mà chỉ từ đó mới có
Tóm lại, nghĩa của từ là một cơ cấu có tổ chức Nó giúp ta so sánh, đối chiếu các từ trong nhóm với nhau để tìm ra những nét nghĩa chung và những nét nghĩa riêng Đồng thời mỗi nghĩa của từ là sự tập hợp của nhiều nét nghĩa (nghĩa tố) Như vậy, nghĩa tố đóng vai trò quan trọng Nó là nền tảng của phương pháp phân tích thành tố nghĩa mà các nhà nghiên cứu đang dùng hiện nay, đặc biệt trong việc nghiên cứu các nhóm từ có quan hệ với nhau về nghĩa (mỗi từ chỉ khác nhau ở một số nét nghĩa)
1.2 Phương pháp phân tích nghĩa của từ
Phân tích nghĩa của từ là xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố (nghĩa tố); các nét nghĩa này được sắp xếp theo một tổ chức như thế nào và có quan hệ như thế nào với nhau Mục đích, nhiệm vụ của việc phân tích nghĩa là tìm ra những nét nghĩa chung giữa các nhóm từ và nét nghĩa riêng, đặc trưng của từng từ để phân biệt giữa từ này với
từ khác Để thực hiện được điều này, người ta thường sử dụng phương pháp phân tích phân tích thành tố nghĩa Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, tính độc lập về nghĩa của từ khá yếu, hiện tượng đồng âm và đa nghĩa khá phổ biến, vì vậy ngữ cảnh đóng một vai trò quan trọng trong việc phân tích ngữ nghĩa
Trang 14Đây cũng là một trong những phương pháp thường gặp nhất trong những phương pháp phân tích nghĩa của từ
“Ngữ cảnh của một từ là chuỗi từ kết hợp với nó hoặc bao xung quanh nó
đủ để làm cho nó được cụ thể hoá và hoàn toàn xác định về nghĩa” 3, tr 178
“Ngữ cảnh hay hoàn cảnh nói năng là cái tình huống, cái bối cảnh phi ngôn ngữ mà từ xuất hiện: “Ai nói, nói bao giờ, nói ở đâu, nói với ai, vì sao nói”
Ví dụ: khi chúng ta nghe nói đến từ “ăn” trong tiếng Việt, chúng ta
không biết người nói muốn nhắc tới nghĩa nào của từ nhưng đặt trong những phát ngôn cụ thể, ta có thể hiểu một cách rõ ràng hơn
Ăn có nhai, nói có nghĩ; Tàu đang ăn hàng ngoài cảng; Cái xe này phanh không ăn; Sương muối ăn bạc trắng cả lá; Một đô la ăn mấy đồng Việt Nam?; Ăn nhau ở tinh thần là chính…
Như vậy, ngữ cảnh có một vai trò quan trọng trong việc phân tích nghĩa
từ Phương pháp phân tích theo ngữ cảnh lần lượt được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Tập hợp ngữ cảnh:
- Xác định được các ngữ cảnh chứa từ cần phân tích trong các loại văn bản thuộc các loại hình phong cách chức năng khác nhau
- Trích các ngữ cảnh ra và tập hợp lại
Bước 2: Phân loại ngữ cảnh:
- Sắp xếp những ngữ cảnh mà từ xuất hiện với cùng một nghĩa thành
một nhóm gọi là nhóm ngữ cảnh cùng loại
Trang 15Bước 3: Phân tích nghĩa:
- Với từ đơn nghĩa: so sánh với các từ khác cùng nhóm để phát hiện các nghĩa tố cần yếu trong cấu trúc nghĩa của từ
- Với từ đa nghĩa: ngoài công việc như trên, ta phải làm một số công việc trước là:
+ Xác định nghĩa gốc của từ Từ nghĩa gốc ta phát hiện ra các nghĩa phái sinh và các quy tắc chuyển nghĩa của chúng
+ Xác định nghĩa không thường trực để thu hẹp phạm vi xử lí
+ Trong phân loại ngữ cảnh đã bao hàm việc tách nghĩa của từ
Ví dụ:
Bước 1: Xét các ngữ cảnh chứa từ “hay”:
1 Ông ấy là người văn hay chữ tốt
2 Sáng kiến mà cậu đưa ra khá hay
3 Bài thuốc mà ông thầy dưới huyện bốc cho tớ hay lắm
4 Nói điều hay, làm việc tốt
5 Cô ấy không phải ca sĩ nhưng mà hát rất hay
6 Nhà nó xảy ra chuyện không hay nên trông nó rất buồn
Bước 2: Phân loại ngữ cảnh có từ “hay”
Nhóm 1: gồm ngữ cảnh 1, 5
Nhóm 2: gồm ngữ cảnh 2, 3
Nhóm 3: gồm ngữ cảnh 4, 6
Bước 3: Phân tích nghĩa của từ “hay”
Sau khi phân loại ngữ cảnh, ta thấy hay là từ đa nghĩa, nó bao gồm 3
nghĩa sau đây:
a Được đánh giá là có tác dụng gây được hứng thú hoặc cảm xúc tốt đẹp, dễ chịu, trái với dở
b Được đánh giá là đạt yêu cầu cao, có tác dụng mang lại hiệu quả mong muốn
c Có tác dụng đem lại sự tốt lành
Trang 16Trong đó, nghĩa a của tính từ hay là nghĩa gốc
Nghĩa b và nghĩa c của nó là nghĩa phái sinh ra từ nghĩa a
Tóm lại, với phương pháp phân tích theo ngữ cảnh chúng ta có thể phân loại nghĩa của từ một cách rõ ràng và dễ hiểu
1.3 Lý luận về định nghĩa và cách nêu định nghĩa
Sau khi phân tích được nghĩa từ, người ta tiến hành miêu tả nghĩa của từ Miêu tả nghĩa của từ là miêu tả cho thấy được các thành tố nghĩa, những đặc điểm, thuộc tính, tính chất cơ bản nhất của nghĩa từ Từ điển học gọi đó là định nghĩa
1.3.1 Quan niệm về định nghĩa
Định nghĩa ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của con người, giúp con người tri nhận về thế giới một cách rõ ràng và rút ngắn thời gian tìm hiểu về thế giới Đây cũng chính là mục đích của việc nêu định nghĩa Có rất nhiều cách quan niệm về định nghĩa
♦ Theo logic học:
Các nhà logic học xem xét định nghĩa như một quá trình, một hoạt động
- Định nghĩa là thao tác logic nhờ đó phát hiện nội hàm các khái niệm hoặc xác lập ý nghĩa của từ (thuật ngữ) biểu thị khái niệm [7, 12, 13, 25, 28
- Định nghĩa khái niệm là vạch rõ nội hàm của khái niệm tức là vạch rõ những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất của sự vật mà khái niệm phản ánh 11, 23], [24, 26, [29 Kết quả của hành động, thao tác định nghĩa là các định nghĩa
Một định nghĩa phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Định nghĩa phải cân đối: Khái niệm được định nghĩa và khái niệm dùng để định nghĩa phải có cùng ngoại diên, hay nói cách khác ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa phải đúng bằng ngoại diên của khái niệm được định nghĩa
Ví dụ:
Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh liên tiếp bằng nhau
Định nghĩa trên là một định nghĩa cân đối vì ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa và ngoại diên của khái niệm được định nghĩa bằng nhau
Trang 17Nếu vi phạm quy tắc này có thể mắc các lỗi sau đây:
- Định nghĩa quá hẹp: Ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa hẹp hơn ngoại diên của khái niệm được định nghĩa
Ví dụ:
“Thấu kính là một dụng cụ quang học được giới hạn bởi hai mặt lồi” [5, tr 38]
Định nghĩa trên là không cân đối vì ngoại diên của A rộng hơn của B
- Định nghĩa quá rộng: Ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa rộng hơn ngoại diên của khái niệm được định nghĩa
Ví dụ:
Hình bình hành là tứ giác có hai cạnh song song với nhau
Định nghĩa trên được coi là quá rộng vì “tứ giác có hai cạnh song song với nhau” không chỉ là hình bình hành mà có thể là hình thang
Định nghĩa không vòng vo, luẩn quẩn Tức là không dùng B để định nghĩa A, sau đó lại dùng A để định nghĩa B
Ví dụ:
“Góc vuông là một góc 90 độ”, “Góc 1 độ là góc bằng 1/90 góc vuông” [5, tr 38]
Định nghĩa trên là định nghĩa vòng quanh, không vạch rõ được nội hàm của khái niệm cần định nghĩa
Định nghĩa phải ngắn gọn, rõ ràng: Tức là trong định nghĩa không được dài dòng vượt khỏi việc chỉ rõ nội hàm có thể dẫn đến sự miêu tả giản đơn Trong định nghĩa cũng không nên có nhiều danh từ chứa nhiều cách hiểu gây sự mơ hồ, lầm lẫn về đối tượng Từ ngữ cần phải được sử dụng chuẩn xác, nội dung của định nghĩa phải được sắp xếp hợp lý
Trang 18cần “nước là một chất lỏng không màu, không mùi, không vị.” là đủ
Định nghĩa phải chỉ ra được những thuộc tính cơ bản của khái niệm
“Trẻ em là những bông hoa của cuộc sống” [5, tr 46]
Định nghĩa trên là một phép so sánh ẩn dụ, định nghĩa không vạch ra được thuộc tính bản chất của đối tượng được định nghĩa
Không nên chỉ dùng các định nghĩa phủ định Vì định nghĩa phủ định không chỉ ra được nội hàm của khái niệm cần được định nghĩa Do đó, nó không giúp cho ta hiểu được ý nghĩa của khái niệm đó
Ví dụ:
“Cây leo là loại cây không mọc ở xứ lạnh.” [5, tr 46]
Dấu hiệu “không mọc ở xứ lạnh” không phải là dấu hiệu duy nhất của những cây leo, có nhiều loại cây khác cũng không mọc ở xứ lạnh
Những yêu cầu trên giúp chúng ta tạo lập được những định nghĩa chính xác, khoa học Bên cạnh đó cũng đặt cho chúng ta nhiệm vụ lớn đó là phải xây dựng được các mô hình định nghĩa nhằm đáp ứng các yêu cầu trên
♦ Theo ngôn ngữ học và từ điển học:
Theo IU V Rozdextvenxki:
“Định nghĩa là phát ngôn của từ hay ngữ” 34, tr 89
“Từ bình diện nội dung, định nghĩa phải gọi ra được họ và khác nhau
về loại” 34; tr 90 “Do đó, định nghĩa là sự giải thích tên gọi thể hiện được bản chất quan trọng cuả sự vật được gọi tên”34, tr 90
Trong từ điển, các tác giả xem xét định nghĩa dưới cả góc độ danh từ và động từ
Trang 19Định nghĩa với tư cách là một danh từ, định nghĩa/ lời định nghĩa là lời
giải thích miêu tả về nghĩa của từ, định nghĩa từ trong từ điển nêu lên được ý nghĩa khái quát của sự vật, tính chất chủ yếu của sự vật
Với tư cách là một hành động, quá trình, định nghĩa là:
- Dùng từ ngữ làm rõ nghĩa của từ hoặc nội dung khái niệm
- Nêu lên những tính chất riêng của một vật, một hiện tượng hay nghĩa của từ
Trong luận văn này, chúng tôi xem xét định nghĩa dưới góc độ danh từ nghĩa là xem xét lời định nghĩa, giải thích về nghĩa của từ
1.3.2 Cấu trúc của định nghĩa
Cấu trúc chung của định nghĩa bao gồm:
- Khái niệm được định nghĩa
- Khái niệm dùng để định nghĩa
- Bộ phận nối giữa hai khái niệm này
Tuy nhiên, cách ký hiệu các bộ phận cấu tạo nên định nghĩa có khác nhau giữa các tác giả Có hai cách ký hiệu như sau:
Cách 1:
Công thức: A là B
Trong đó:
A: Khái niệm được định nghĩa
B: Khái niệm dùng để định nghĩa
Dfd: Khái niệm được định nghĩa
Dfn: Khái niệm dùng để định nghĩa
dấu “=” có ý nghĩa là “là, bằng, nếu, theo định nghĩa, khi và chỉ khi”
Trang 20Khi khái niệm dùng để định nghĩa đứng trước khái niệm được định nghĩa thì ta có: B được gọi là A
1.3.3 Kiểu loại định nghĩa
Xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà logic học và ngôn ngữ học đã đưa ra những kiểu định nghĩa và các cách nêu định nghĩa khác nhau Mặc dù trong từng kiểu định nghĩa, cách gọi tên các định nghĩa có thể khác nhau nhưng nội dung lại giống nhau
1.3.3.1 Định nghĩa bằng loại và sự khác biệt
Trong kiểu định nghĩa này, A được định nghĩa thông qua loại B chứa
nó cùng với những đặc điểm riêng của nó
Ví dụ:
Định nghĩa khái niệm hình chữ nhật
Khái niệm loại gần nhất với hình chữ nhật là hình bình hành Thuộc
tính bản chất khác biệt giữa hạng này (hình chữ nhật) với các hạng khác (hình
thoi) trong loại là một góc vuông
Kiểu định nghĩa này được nhắc đến trong các công trình của Nguyễn Đức Dân [5], Vương Tất Đạt [7] Kiểu định nghĩa này thường sử dụng trong khoa học tự nhiên
Ví dụ:
“Khái niệm (/ quan hệ) “nằm trong” trên một đường thẳng được định
nghĩa qua 3 tiên đề sau:
Trang 211) Nếu trên một đường thẳng, C nằm trong A và B thì nó cũng nằm trong B và A
2) Trong 3 điểm A, B, C trên một đường thẳng, có một và chỉ một điểm nằm trong 2 điểm kia
3) Trên một đường thẳng, một trong 3 điểm sẽ nằm trong hai điểm kia nếu và chỉ nếu hai điểm đó nằm ở hai phần khác nhau mà điểm này đã phân chia đường thẳng đó
Trong định nghĩa trên, tiên đề 1 nói rằng quan hệ “nằm trong” là đối xứng Vì có những quan hệ bất đối xứng, như quan hệ “lớn hơn”: a>b>c ≠ c>b>a Tiên đề 2 để phân biệt với tình huống cả 3 điểm đều coi là nằm trong nhau, như 3 điểm trên một đường tròn.” [5, tr 41]
1.3.3.3 Định nghĩa cú pháp
Đây là kiểu định nghĩa do tác giả Nguyễn Đức Dân [5] đưa ra Kiểu định nghĩa này dùng trong khoa học tự nhiên - đối tượng được nhắc đến thông qua các phép toán liên quan đến nó
Ví dụ:
“Trong phép chia các số, số 0 là số bị cấm là số chia” [5, tr 44]
1.3.3.4 Định nghĩa duy danh
Các cách gọi khác của kiểu định nghĩa này là: Định nghĩa định danh
Trang 22Ví dụ:
“Định nghĩa về từ (của Kuznesov trong V Ja, 5/ 1964):
1) Một chuỗi âm thanh có thể phân cách bằng quãng ngừng dài ngắn tùy ý sẽ chứa ít nhất một thực từ
2) Chuỗi âm thanh thỏa mãn tính chất vừa nêu mà trong nó không chứa một chuỗi âm thanh nào khác cũng thỏa mãn tính chất ấy sẽ là một thực từ
3) Chuỗi âm thanh không là thực từ hoặc là một bộ phận của thực từ sẽ
là một phụ từ” [5, tr 43]
1.3.3.6 Định nghĩa liệt kê
Định nghĩa này còn có tên gọi là: Định nghĩa theo liệt kê đối tượng
23, định nghĩa theo liệt kê các sự vật 29
Trong kiểu định nghĩa này, khái niệm định nghĩa liệt kê các phần tử nằm trong ngoại diên của khái niệm được định nghĩa
Ví dụ:
“Tác tử J (đọc: Iốtta) cũng được định nghĩa qua ngữ cảnh Jx P(x) có nghĩa là: x là đối tượng duy nhất có thuộc tính P Theo quy ước này, câu “Hà Nội là thủ đô của Việt Nam” sẽ được miêu tả thành đẳng thức sau:
Trang 23Hà Nội = (Jx) T(x, VN); ở đây T(x, VN) là “x là thủ đô của VN” [5, tr 42]
1.3.3.9 Định nghĩa phủ định
Kiểu định nghĩa này còn được gọi là: Phân biệt 7; So sánh khác biệt 25 Kiểu định nghĩa này dùng với những khái niệm đối lập Hay trong trường hợp thành phần được định nghĩa không có dấu hiệu x (dấu hiệu x có ở tất cả các đối tượng còn lại) thì ta có định nghĩa phủ định: đối tượng “không
có dấu hiệu x”
Ví dụ:
Méo tức là không tròn [5, tr 36]
1.3.3.10 Định nghĩa qua miêu tả
Ngoài tên gọi này, kiểu định nghĩa trên còn có các tên gọi khác như: Định nghĩa bằng miêu tả 25;…
Đây là kiểu định nghĩa liệt kê các dấu hiệu khu biệt bên ngoài của đối tượng nhằm phân biệt đối tượng đó với các đối tượng khác giống nó
Ví dụ:
Chim: Động vật có xương sống, đầu có mỏ, thân phủ lông vũ, có cánh
để bay, đẻ trứng
1.3.3.11 Định nghĩa qua quan hệ
Các cách gọi khác của kiểu định nghĩa này là: Định nghĩa theo quan hệ [13]; [23]; [24]; [28]; [29]; …
Kiểu định nghĩa này nêu lên quan hệ đối lập của khái niệm được định nghĩa với một khái niệm khác
Kiểu định nghĩa này dùng để định nghĩa những khái niệm có ngoại diên rộng, đặc biệt là trong định nghĩa phạm trù
Ví dụ:
“Bản chất là cơ sở bên trong của hiện tượng Hiện tượng là sự biểu hiện bên ngoài của bản chất” [12, tr 58]
Trang 24Xanh: có màu như màu của lá cây, của nước biển
1.3.3.13 Định nghĩa theo chức năng sử dụng
Kiểu định nghĩa này xuất hiện trong công trình 12, 34
Ở kiểu định nghĩa này, khái niệm định nghĩa nêu rõ nhiệm vụ, tác dụng, mục đích sử dụng của đối tượng được từ gọi tên, được xác định nhờ việc gọi tên đối tượng đó
Ví dụ:
Nhà bếp: Nhà dùng làm nơi nấu ăn
Định nghĩa từ nhà bếp đã xác định rõ chức năng, tác dụng của nó là
“dùng làm nơi nấu ăn”
1.3.3.15 Định nghĩa theo ngữ nghĩa
Kiểu định nghĩa này cũng do Rozdextvenxki đưa ra Trong kiểu định nghĩa này, ý nghĩa của từ được xác định qua đối tượng
Ví dụ:
Hình vị: một phần của từ có nghĩa liên tưởng [34, tr 91]
Trang 251.3.3.16 Định nghĩa theo quy nạp
Tác giả Vương Tất Đạt [7] đưa ra kiểu định nghĩa này
Định nghĩa theo quy nạp là kiểu định nghĩa trong đó khái niệm được định nghĩa biểu thị khái niệm dựa vào chính ý nghĩa của khái niệm
Ví dụ:
“Định nghĩa “số tự nhiên” dựa vào chính số tự nhiên:
- 1 là số tự nhiên
- Nếu n là số tự nhiên, thì n + 1 là số tự nhiên
- Không số nào là số tự nhiên, ngoài các số đã nêu ra ở điểm 1 và 2 Nhờ định nghĩa trên, chúng ta có dãy số tự nhiên vô hạn 1,2,3,4…” [7, tr 91]
1.3.3.17 Định nghĩa theo nguồn gốc
Kiểu định nghĩa này có tên gọi khác như: Định nghĩa xây dựng [20]; [21]; Định nghĩa thông qua việc vạch rõ nguồn gốc phát sinh [26]
Định nghĩa này giải thích nguồn gốc của đối tượng, chỉ dẫn phương thức hình thành đối tượng
Ví dụ:
“Đường tròn là một đường cong khép kín do điểm B của đoạn thẳng
AB chuyển động xung quanh một điểm cố định A tạo thành.” [11, tr 34]
1.3.3.18 Định nghĩa theo thực tiễn
Định nghĩa này dựa vào sự chỉ dẫn các điểm khác biệt của đối tượng được gọi tên
Ví dụ:
Bút: Đồ dùng để viết, kẻ, vẽ thành nét
1.3.3.19 Định nghĩa trực quan
Kiểu định nghĩa này còn có các tên gọi khác như: Định nghĩa trỏ ra 7
Ở kiểu định nghĩa này, người ta đưa ra các sự vật, hình ảnh… của một hay những đối tượng của khái niệm được định nghĩa Kiểu định nghĩa này thường dùng cho trẻ em
Trang 26Trên đây là những kiểu loại định nghĩa mà chúng tôi thu thập được từ những công trình nghiên cứu của các tác giả Tuy nhiên, việc định nghĩa và nêu định nghĩa trong từ điển không hoàn toàn như vậy mà nó có những đặc điểm đặc thù riêng
1.4 Vấn đề định nghĩa từ trong từ điển
Định nghĩa trong từ điển cũng như định nghĩa trong logic học hay ngôn ngữ học, nó cũng phải đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của một định nghĩa Dựa trên những yêu cầu cần và đủ đó, các nhà từ điển học xây dựng các mô hình định nghĩa Các mô hình định nghĩa đó thực chất là kết quả của quá trình phân tích nghĩa từ
Trong luận văn này, định nghĩa mà chúng tôi quan tâm không phải là những định nghĩa với tư cách là một động từ mà là những lời định nghĩa, giải thích nghĩa của từ trên một văn bản có sẵn với tư cách là một danh từ
1.4.1 Một số vấn đề về từ điển
Trước khi trình bày các vấn đề liên quan, chúng tôi xin nhắc lại một số
điểm về từ điển giải thích
Từ điển giải thích còn gọi là từ điển tường giải Chức năng của nó là
“giải thích ý nghĩa và cách sử dụng của từ, ngữ, chỉ ra những đặc điểm ngữ pháp và ngữ âm của từ” 30, tr 341
Trong cuốn từ điển này ngoài việc giải thích nghĩa gốc, nghĩa bóng của
từ, nó còn tổng kết cách dùng chúng và cụ thể bằng các ví dụ trích ở các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng
Cấu trúc chung của một cuốn từ điển là cấu trúc đôi Từ điển giải thích
có cấu trúc phức tạp và đa dạng nhất trong các loại từ điển Nó bao gồm: cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô
“Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc bao gồm toàn thể các mục từ được sắp xếp trong từ điển theo một trật tự xác định; có thể gọi là cấu trúc tổng thể hay cấu trúc bảng từ Cấu trúc vi mô là cấu trúc toàn bộ những thông tin được trình bày một cách hệ thống trong mỗi mục từ; có thể gọi là cấu trúc mục từ” 27, tr 26 - 27
Trang 27Trong cấu trúc vi mô, nếu L Zgusta coi mục từ là phần đề còn các thông tin là phần chính thì J Rey Debove coi mỗi mục từ trong từ điển như một câu, trong đó đơn vị mục từ là chủ ngữ, các thông tin là vị ngữ Như vậy,
họ đều gặp nhau ở một điểm là chỉ ra một đặc tính cơ bản của cấu trúc mục từ
là tính “đề - thuyết”
Luận văn này quan tâm đến cấu trúc vi mô hay cấu trúc của mục từ Bởi lời định nghĩa là một trong những thành phần quan trọng của mục từ và cũng là đối tượng chúng tôi nghiên cứu
1.4.2 Kiểu loại định nghĩa trong từ điển
Rút từ các loại định nghĩa từ các khoa học hữu quan, từ điển học có thể
lựa chọn một số kiểu sau đây:
- Định nghĩa phân tích, vạch rõ nội dung ý nghĩa của từ ngữ, nếu cần
nêu cả phạm vi sử dụng, khả năng tổ hợp của từ ngữ, có chú ý đến sự khác nhau với những từ đồng nghĩa
Ví dụ:
Bạc: Kim loại màu trắng sáng, mềm khó gỉ, dẫn điện tốt, thường dùng
để mạ, làm đồ trang sức
Định nghĩa trên đây là định nghĩa phân tích Các nét nghĩa của từ bạc
được phân tách như sau:
Bạc: Kim loại // màu trắng sáng// mềm khó gỉ, dẫn điện tốt// thường dùng để mạ, làm đồ trang sức
Định nghĩa trên bao gồm nét nghĩa khái quát “kim loại” và các nét nghĩa cụ thể khác về: màu sắc, thuộc tính, công dụng
Kiểu định nghĩa này áp dụng cho phần lớn các từ ngữ mà chủ yếu nhất
là các từ ngữ thuộc lớp từ cơ bản
- Định nghĩa bằng từ đồng nghĩa hoặc dựa vào từ trái nghĩa Kiểu định
nghĩa này chỉ áp dụng trong trường hợp bản thân từ đồng nghĩa hoặc từ trái nghĩa ấy đã được định nghĩa phân tích
Trang 28Định nghĩa bằng từ đồng nghĩa là kiểu định nghĩa khá phổ biến trong
từ điển tiếng Việt Kiểu định nghĩa này gần với sự liên tưởng của con người, giúp cho lời định nghĩa ngắn gọn, tránh trùng lặp Tuy nhiên, trong ngôn ngữ
có rất ít từ đồng nghĩa hoàn toàn nên khi giải thích bằng đồng nghĩa cần vạch
ra sắc thái, cách dùng, phạm vi sử dụng… khác nhau Trong từ điển, người ta
sử dụng một số cách để giải nghĩa như sau:
+ Dùng bản thân từ đồng nghĩa để định nghĩa:
Ví dụ: Thu thanh : Thu âm thanh vào để khi cần thì có thể phát ra ; ghi âm
Kiểu định nghĩa dùng từ trái nghĩa: đưa ra sự phủ định với từ có ý
nghĩa trái ngược với từ đang được định nghĩa
Mẫu: A (là) không B
Ví dụ: Cong: Không thẳng [16, tr 10]
Một số các trường hợp khác như:
+ A (là) không B, không C
B và C trái nghĩa nhau
Ví dụ: Nhàng nhàng: Không gầy, không béo.[ 16, tr 11]
B và C là những từ gần nghĩa
Ví dụ: Bằng phẳng: Không gồ ghề, không lỗi lõm [16, tr 11]
+ A (là) không B, x (trong đó, x là một phần định nghĩa phân tích)
Ví dụ: Cheo leo: Không vững, chực rơi rớt [16, tr 13]
+ A (là) không B, C (C đồng nghĩa với A)
Ví dụ: Khác thường: Không thường, đặc biệt [16, tr 13]
Trang 29Kiểu định nghĩa này đơn giản dễ hiểu, áp dụng tốt cho một số từ Tuy nhiên độ chính xác không cao, không bao quát hết khả năng của từ Kiểu định nghĩa này thường được sử dụng để định nghĩa tính từ
1.4.3 Miêu tả nghĩa trong từ điển
Miêu tả nghĩa là lời định nghĩa ngắn gọn, đơn giản nhất nhưng đủ để người đọc nhận ra đối tượng miêu tả thông qua những nét đặc trưng nhất, cơ bản nhất Lời miêu tả nghĩa thực chất là miêu tả tập hợp của các nghĩa tố (nét nghĩa) có quan hệ chi phối lẫn nhau theo một trật tự nhất định Đó là mối quan hệ logic Nét nghĩa đứng trước là tiền đề cho nét nghĩa đứng sau, nét nghĩa đứng sau thuyết minh cho nét nghĩa đứng trước Những nét nghĩa này
có thể là quan hệ cùng bậc hoặc khác bậc nhưng đều thực hiện nhiệm vụ bổ sung cho nhau để làm sáng tỏ ý nghĩa của từ
Ví dụ 1:
Xét tập hợp các nét nghĩa của nhóm danh từ: ngựa, thỏ, công, quạ
Ngựa d Thú //có guốc // chân chỉ có một ngón // chạy nhanh // nuôi để
cưỡi, để kéo xe
Thỏ d Thú // gặm nhấm // tai to và dài, đuôi ngắn, lông dày mượt //
nuôi để lấy thịt và lông
Công d Chim// cùng họ với gà// có bộ lông màu lục, đuôi dài// xòe
múa rất đẹp// thịt được coi là món ăn quý
Quạ d Chim //lông đen, cánh dài, mỏ dài// hay bắt gà con
Nét nghĩa [Động vật] là nét nghĩa khái quát của nhóm danh từ trên Nhìn
vào nghĩa của từng từ ta thấy có thể phân chia thành hai nhóm: Ngựa, thỏ và gà,
vịt Vì ngựa, thỏ đều chứa nét nghĩa [thú], còn gà, vịt đều chứa nét nghĩa [chim]
Nhóm 1: ngựa, thỏ: phân biệt nhau ở nét nghĩa cụ thể hơn
- Nét nghĩa [loại]: Ngựa [có guốc]; thỏ [gặm nhấm]
- Nét nghĩa [đặc điểm hình dáng]: Ngựa [chân chỉ có một ngón]; thỏ [tai to và dài, đuôi ngắn, lông dày mượt]
Trang 30- Nét nghĩa [công dụng]: Ngựa [nuôi để cưỡi, để kéo xe]; thỏ [nuôi để lấy thịt và lông]
- Nét nghĩa [khả năng] chỉ xuất hiện trong từ ngựa [chạy nhanh]
Từ Ngựa có 5 nét nghĩa, từ thỏ có 4 nét nghĩa Trong đó hai từ này
chung nhau nét nghĩa [thú] và khác nhau ở các nét nghĩa đặc trưng [loại], [đặc
điểm hình dáng], [công dụng] và ở từ ngựa có thêm nét nghĩa [khả năng]
Nhóm 2: công, quạ: phân biệt nhau ở nét nghĩa cụ thể hơn
- Nét nghĩa [loại] chỉ xuất hiện ở từ công [cùng họ với gà]
- Nét nghĩa [đặc điểm hình dáng]: Công [có bộ lông màu lục, đuôi dài]; quạ [lông đen, cánh dài, mỏ dài]
- Nét nghĩa [khả năng] chỉ xuất hiện ở từ công [xòe múa rất đẹp]
- Nét nghĩa [tập quán kiếm ăn] chỉ xuất hiện ở từ quạ [hay bắt gà con]
- Nét nghĩa [công dụng] chỉ xuất hiện ở từ công [thịt được coi là món
ăn quý]
Từ công có 5 nghĩa, từ quạ chỉ có 3 nghĩa Hai từ này chung nhau ở nét
nghĩa [chim] và khác nhau ở nét nghĩa [đặc điểm hình dạng], nét nghĩa [loại] và
[khả năng] chỉ có ở từ công và nét nghĩa [tập quán kiếm ăn] chỉ có ở từ quạ
Ví dụ 2:
Xét tập hợp các nét nghĩa trong nhóm động từ: đi, chạy, ra, vào:
Đi đg (Người, động vật) tự di chuyển// bằng những động tác liên tiếp
của chân// lúc nào cũng vừa có chân tựa trên mặt đất, vừa có chân giơ lên đặt tới chỗ khác
Chạy đg (Người, động vật) di chuyển thân thể // bằng những bước nhanh
Ra đg Di chuyển // đến một vị trí ở phía ngoài, ở nơi rộng hơn, ở nơi
có điều kiện đi xa, hoặc ở về phía Bắc trong phạm vi nước Việt Nam
Vào đg Di chuyển //đến một vị trí ở phía trong, ở nơi hẹp hơn, hoặc ở
phía Nam trong phạm vi nước Việt Nam
Trang 31Nét nghĩa [di chuyển] là nét nghĩa chung của nhóm động từ này Tuy nhiên,
đi sâu vào nội bộ nghĩa của các từ này ta có thể chia chúng thành hai nhóm:
Nhóm 1: đi, chạy phân biệt nhau ở nét nghĩa cụ thể hơn
- Nét nghĩa [công cụ]: Đi [bằng những động tác liên tiếp của chân]; chạy [bằng những bước nhanh]
Nhóm 2: ra, vào phân biệt nhau ở nét nghĩa cụ thể hơn
- Nét nghĩa [Đích]: Ra [đến một vị trí ở phía ngoài, ở nơi rộng hơn, ở nơi có điều kiện đi xa, hoặc ở về phía Bắc trong phạm vi nước Việt Nam]; vào [đến một vị trí ở phía trong, ở nơi hẹp hơn, hoặc ở phía Nam trong phạm
vi nước Việt Nam]
Qua ví dụ phân tích ở trên, ta thấy: Mỗi loại từ bao gồm nhiều tiểu loại Mỗi tiểu loại có cách nêu định nghĩa, miêu tả định nghĩa khác nhau Bởi vậy, bức tranh miêu tả nghĩa của các loại từ càng trở nên phong phú, đa dạng
Tiểu kết:
Như vậy, muốn miêu tả nghĩa, phân tích nghĩa của từ, chúng ta cần phải hiểu khái niệm nghĩa của từ Trong các thành phần nghĩa từ, luận văn quan tâm đến nghĩa sở thị của từ Nghĩa sở thị của từ hay còn gọi là nghĩa của
từ cũng có một cơ cấu tổ chức riêng Bằng phương pháp phân tích nghĩa của
từ mà phổ biến nhất là phương pháp phân tích ngữ cảnh, chúng ta có thể phân định được nghĩa của từ đặc biệt là các nghĩa của từ đa nghĩa Trong từng nghĩa, chúng ta lại có thể phân tách thành các thành tố nhỏ hơn gọi là nghĩa tố (nét nghĩa) Sau khi phân tích nghĩa từ thành các nghĩa tố chúng ta mới có thể xây dựng được các mô hình định nghĩa và nhân xét về các mô hình này
Vì thế, trong chương sau, chúng tôi lần lượt tiến hành khảo sát các định nghĩa của danh từ, vị từ (vị từ động) trong Từ Điển Tiếng Việt dựa trên một
số nhóm mẫu lựa chọn Sau đó, chúng tôi khái quát trên các mô hình định nghĩa; đánh giá các mô hình hiện có, đưa ra những nhận xét, bổ sung cách
làm và yêu cầu của định nghĩa trong từ điển
Trang 32Chương 2 ĐỊNH NGHĨA DANH TỪ TRONG TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT
Trong chương này, chúng tôi tập trung khảo sát một số nhóm danh từ tiêu biểu theo một số chủ đề (tương ứng với cái gọi là các trường biểu vật) Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích nghĩa của từng từ trong nhóm và xây dựng mô hình định nghĩa cho từng nhóm Trước hết, xin trình bày một số điểm về danh từ và các tiểu loại danh từ
2.1 Danh từ và các tiểu loại danh từ
Danh từ là loại từ chiếm số lượng nhiều nhất trong từ điển tiếng Việt
2.1.1 Khái niệm danh từ
Danh từ là những từ biểu thị sự vật (bao gồm người, động vật, sự vật…)
“Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ vật (hiểu rộng, bao gồm cả người, động vật, thực vật, đồ vật, các chất, những khái niệm trừu tượng về vật tương
đương với những thứ vừa kể) có thể đứng trước các từ ấy, nọ… và thường giữ
vai trò chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu.” [3, tr 269]
Đối với các ngôn ngữ biến hình, về mặt hình thái, danh từ có các biến
tố, chúng biến đổi dạng thức cho phù hợp để biểu thị về giống, số, cách
Đối với ngôn ngữ biến hình hay không biến hình, về mặt tham gia tạo lập và giữ chức vụ trong các tổ chức cú pháp, danh từ được nhận diện là một
từ loại phải đáp ứng được hai tiêu chí sau:
- Có tính phi vị ngữ (không thể tự mình làm vị ngữ trong câu)
- Có khả năng làm trung tâm danh ngữ
2.1.2 Các tiểu loại của danh từ
Danh từ được phân chia thành các tiểu loại theo các tiêu chí khác nhau
• Theo quan điểm ngữ pháp:
Danh từ được chia thành hai lớp cơ bản là:
Trang 33- Danh từ riêng là những từ chỉ tên gọi của người, tên đất, tên núi sông…
Ví dụ: Giang Văn Minh, Việt Nam, Trường Sơn…
- Danh từ chung: “là tên gọi của cả một lớp vật đồng tính xét theo tiêu chuẩn đã chọn.”[3, tr 269]
Trong lớp danh từ chung lại chia thành các nhóm khác nhau dựa theo các tiêu chuẩn
* Căn cứ vào tính chất tổng hợp: Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp
* Căn cứ vào hình thể của vật:
- Danh từ vật thể
- Danh từ chất thể
- Danh từ tượng thể
- Danh từ tập thể
* Căn cứ vào khả năng kết hợp trực tiếp với số từ hoặc lượng từ:
- Danh từ không đếm được: gồm có danh từ tổng hợp và danh từ chất thể
- Danh từ đếm được:
+ Danh từ đếm được tuyệt đối: có thể đứng sau số từ vô điều kiện Ví dụ
như: các danh từ chỉ loại (cái, con, quyển, chiếc…); danh từ chỉ đơn vị đại lượng
(mẫu, sào, thước…); danh từ chỉ đơn vị hành chính nghề nghiệp (tỉnh, xã, ban…);
danh từ chỉ đơn vị thời gian (năm, tháng, tuần, giờ…); danh từ chỉ lần (phen,
chuyến, trận…); danh từ chỉ đơn vị không gian (chỗ, nơi, chốn…); danh từ chỉ
màu sắc, mùi vị, âm thanh (màu, sắc, mùi…); danh từ chỉ khái niệm trừu tượng
(trí tuệ, tài năng…); danh từ tập thể (bọn, tụi, đàn…); danh từ phức (gồm hai âm
tiết trở lên) không tổng hợp chỉ người hoặc vật (giáo viên, công nhân…)
+ Danh từ đếm được không tuyệt đối: chỉ có thể đứng trực tiếp sau số
từ trong một số trường hợp
• Trong khi biên soạn từ điển, việc phân loại danh từ không nhất thiết
phải theo tiêu chí ngữ pháp mà có thể theo hiện thực phản ánh (theo nhóm
Trang 34chủ đề, trường biểu vật) để có cách miêu tả nghĩa thích hợp Bởi mục đích của
từ điển là làm sao để người đọc có thể nhận biết về sự vật, hiện tượng, quá trình… một cách nhanh nhất Vì thế, ví dụ: danh từ có thể được phân chia
theo chủ đề (hay theo thực tại) như sau:
DANH TỪ
Danh từ chỉ Danh từ chỉ Danh từ chỉ
người, động vật thực vật hiện tượng
Trong mỗi loại danh từ này, chúng tôi chia thành các tiểu loại nhỏ hơn, mỗi tiểu loại có một cách miêu tả, cách nêu định nghĩa riêng
2.2 Mô hình miêu tả nghĩa của một số tiểu loại danh từ
2.2.1 Danh từ chỉ người, động vật
2.2.1.1 Danh từ chỉ người
Nhóm 1: Danh từ chỉ quan hệ thân tộc
Chúng tôi phân tích các nét nghĩa trong các danh từ chỉ quan hệ thân
tộc: “Ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, cháu” như sau:
- Ông: Người// đàn ông// thuộc thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ
- Bà: Người// đàn bà// thuộc thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ
- Bố: Cha
- Mẹ: Người// đàn bà// có con// trong quan hệ với con
- Anh: Người// con trai// cùng một thế hệ trong gia đình, trong họ/// nhưng thuộc hàng trên
- Chị: Người// phụ nữ// cùng một thế hệ trong gia đình, trong họ/// nhưng thuộc hàng trên
- Cháu: Người// thuộc một thế hệ sau/// nhưng không phải là con, trong quan hệ với người thuộc thế hệ trước
Trang 35Trong nhóm danh từ chỉ quan hệ thân tộc: Từ bố được định nghĩa theo
kiểu dùng từ đồng nghĩa theo cách dùng bản thân từ đồng nghĩa để định nghĩa Cách định nghĩa này ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ
Trong các từ còn lại, từ nhiều nhất có 4 nét nghĩa: mẹ “người” là nét nghĩa chung cho tất cả các từ Các từ ông, bà, mẹ, anh, chị phân biệt nhau ở
nét nghĩa “giới tính” ([+nam], [- nam])
- Ông [đàn ông]; anh [con trai] được quy về [+nam]
- Bà [đàn bà]; mẹ [đàn bà]; chị [phụ nữ] được quy về [-nam]
Riêng từ cháu, nét nghĩa về giới tính không được đánh dấu là nam hay nữ Nếu lấy tôi là trung tâm thì nét nghĩa “thế hệ” được phân định như sau:
- Ông , bà là thế hệ trước [thuộc thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ]
- Cháu là thế hệ sau [thuộc thế hệ sau]
- Anh, chị là cùng thế hệ nhưng khác nhau về nét nghĩa “thứ bậc” (anh, chị [thuộc hàng trên])
Từ anh, chị, cháu ngoài nét nghĩa cụ thể bậc 1, còn có nét nghĩa cụ thể
bậc 2 Ta có thể khái quát thành mô hình như sau:
A: x1 - x2
x3 Trong đó: x1: nét nghĩa khái quát
x2: Nét nghĩa cụ thể 1 (bậc 1) x3: Nét nghĩa cụ thể 2 (bậc 2)
Riêng từ mẹ có thêm một nét nghĩa đặc biệt [có con] Nét nghĩa này là nét nghĩa đặc trưng của từ mẹ Nó nêu lên chức năng chính của mẹ trong mối quan hệ “trực sinh – trực hệ” với con
So sánh nghĩa của hai cặp từ: ông – bà; anh – chị ta thấy rằng: hai cặp
từ này có số lượng nét nghĩa như nhau, trật tự giữa các nét nghĩa giống nhau, quan hệ giá trị giữa các nét nghĩa giống nhau Chúng được gọi là hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa
Trang 36Tóm lại, trong nhóm danh từ chỉ quan hệ thân tộc: Nét nghĩa khái quát
là [người] để phân biệt với [- người] = [động vật] [thực vật] [sự vật] [hiện tượng]…; bên cạnh đó còn có các nét nghĩa cụ thể về giới tính, thế hệ, thứ bậc
và những nét nghĩa đặc trưng của riêng từng từ
Nhóm 2: Danh từ chỉ nghề nghiệp
Nhóm danh từ chỉ nghề nghiệp: “công nhân, giáo viên, y sĩ, bác sĩ, họa
sĩ, thợ, nhà văn, nhà thơ, bộ đội, kiến trúc sư” lần lượt có các nét nghĩa sau:
- Công nhân: Người// lao động chân tay// làm việc ăn lương
- Giáo viên: Người// dạy học// ở bậc phổ thông, hoặc tương đương
- Y sĩ: Người // thầy thuốc// tốt nghiệp trung học y khoa
- Bác sĩ: Người// thầy thuốc// tốt nghiệp đại học y khoa
- Họa sĩ: Người// chuyên vẽ tranh nghệ thuật
- Thợ: Người// lao động chân tay// làm một nghề nào đó để lấy tiền công
- Nhà văn: Người// chuyên sáng tác văn xuôi// và đã có tác phẩm giá trị được công nhận
- Nhà thơ: Người// chuyên sáng tác thơ// và đã có tác phẩm giá trị được công nhận
- Bộ đội: Người// trong quân đội
- Kiến trúc sư: Người// tốt nghiệp đại học ngành kiến trúc
Trong nhóm danh từ chỉ nghề nghiệp, nét nghĩa khái quát [người] xuất hiện trong tất cả các từ Nét nghĩa này nhằm đối lập với phạm trù [vật] Sự phân biệt giữa các từ trong nhóm thể hiện ở nét nghĩa cụ thể về đặc trưng nghề nghiệp Mỗi nghề có một cách thức làm việc, nơi làm việc khác nhau giúp chúng ta hình dung chính xác về công việc của người đó
Nhóm danh từ có 3 nét nghĩa: công nhân, giáo viên, y sĩ, bác sĩ, thợ,
nhà văn, nhà thơ Nhóm danh từ có 2 nét nghĩa: họa sĩ, bộ đội, kiến trúc sư
Nét nghĩa [lao động chân tay], [dạy học], [thầy thuốc], [chuyên vẽ tranh nghệ thuật], [chuyên sáng tác thơ], [chuyên sáng tác văn xuôi] có thể quy về
Trang 37nét nghĩa “đặc trưng nghề nghiệp”; nét nghĩa [làm việc ăn lương], [làm một nghề nào đó để lấy tiền công] quy về nét nghĩa “mục đích”; nét nghĩa [ở bậc phổ thông, hoặc tương đương], [tốt nghiệp trung học y khoa], [tốt nghiệp đại học y khoa], [đã có tác phẩm giá trị được công nhận], [tốt nghiệp đại học ngành kiến trúc] có thể quy về nét nghĩa “điều kiện”
Như vậy, trong nhóm danh từ chỉ nghề nghiệp: khi định nghĩa người ta thường dựa vào các tiêu chí sau: Nét nghĩa khái quát “người”, nét nghĩa cụ thể về “đặc trưng nghề nghiệp”, “mục đích” hoặc “điều kiện”
Mô hình định nghĩa của nhóm danh từ chỉ nghề nghiệp:
Người – đặc trưng nghề nghiệp – mục đích – điều kiện
Nhóm 3: Danh từ chỉ tổ chức
Nhóm danh từ: “lớp, ban chấp hành, ban bí thư, câu lạc bộ, hội đồng,
giám hiệu, hội chữ thập đỏ, hội đồng quản trị” được chia thành các nét nghĩa:
- Lớp: Tập hợp người// cùng một lứa tuổi hay cùng có chung những đặc
trưng xã hội nào đó
- Ban chấp hành: Tập thể những người// được đại hội của một tổ chức chính đảng, đoàn thể bầu ra// để thực hiện nghị quyết của đại hội và lãnh đạo
công tác giữa hai kì đại hội
- Ban bí thư: Tổ chức// gồm một số bí thư// thay mặt ban chấp hành
lãnh đạo công tác hằng ngày// trong một số chính đảng hay đoàn thể
- Câu lạc bộ: Tổ chức// lập ra cho nhiều người tham gia sinh hoạt văn
hóa, giải trí// trong những lĩnh vực nhất định
- Hội đồng: Tập thể những người// được chỉ định hoặc được bầu ra// để
họp bàn và quyết định// những công việc nhất định nào đó
- Hội chữ thập đỏ: Tổ chức// quốc tế// giúp nạn nhân các thiên tai và
nạn nhân chiến tranh
- Hội đồng quản trị: Hội đồng// được bầu ra// quản lý, điều hành công
việc// của một tổ chức kinh doanh
Trang 38“Tổ chức là tập hợp người hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm
một mục đích chung, phân biệt với cá nhân.” Vì thế, các danh từ chỉ tổ chức cũng mang những đặc điểm này
Những nét nghĩa [tập hợp người] của từ lớp; [tập thể những người] của
từ ban chấp hành, hội đồng; [tổ chức] của từ ban bí thư, câu lạc bộ… được
quy về nét nghĩa chung của nhóm từ là “tổ chức” Bên cạnh nét nghĩa khái quát là nét nghĩa cụ thể của các từ
- Nét nghĩa [được đại hội của một tổ chức chính đảng, đoàn thể bầu ra]
của từ ban chấp hành; [được chỉ định hoặc được bầu ra] của từ hội đồng có
thể quy về nét nghĩa “nguồn gốc”
- Nét nghĩa [để thực hiện nghị quyết của đại hội và lãnh đạo công tác giữa
hai kì đại hội] của từ ban chấp hành; nét nghĩa [thay mặt ban chấp hành lãnh đạo công tác hằng ngày] của từ ban bí thư; nét nghĩa [lập ra cho nhiều người tham gia sinh hoạt văn hóa, giải trí] của từ câu lạc bộ; nét nghĩa [để họp bàn và quyết định những công việc nhất định nào đó] của từ hội đồng; nét nghĩa [giúp nạn nhân các thiên tai và nạn nhân chiến tranh] của từ hội chữ thập đỏ; nét nghĩa
[quản lý, điều hành công việc] có thể quy về nét nghĩa “nhiệm vụ”
- Nét nghĩa [trong một số chính đảng hay đoàn thể] của từ ban bí thư; nét nghĩa [trong những lĩnh vực nhất định] của từ câu lạc bộ; nét nghĩa [quốc tế] của từ hội chữ thập đỏ; nét nghĩa [những công việc nhất định nào đó] của
từ hội đồng; nét nghĩa [của một tổ chức kinh doanh] của từ hội đồng quản trị
có thể quy về nét nghĩa “phạm vi”
- [cùng một lứa tuổi hay cùng có chung những đặc trưng xã hội nào đó]
là nét nghĩa riêng của từ lớp
Tóm lại, trong nhóm danh từ chỉ tổ chức của người, số lượng nét nghĩa nhiều nhất là 4, ít nhất là 2 Ngoài nét nghĩa khái quát “tổ chức” còn có các nét nghĩa cụ thể khác: nguồn gốc, nhiệm vụ, phạm vi Tuy nhiên những nét nghĩa này không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ trong tất cả các từ
Trang 39Mô hình định nghĩa nhóm danh từ chỉ tổ chức:
Tổ chức – nguồn gốc – phạm vi – nhiệm vụ
Nhóm 4: Danh từ chỉ nhân vật siêu nhiên
Các nét nghĩa của các danh từ chỉ nhân vật siêu nhiên được thể hiện như sau:
- Tiên: Nhân vật// trong truyện thần thoại// đẹp khác thường, có những phép mầu nhiệm và cuộc sống rất yên vui
- Thần: Lực lượng siêu tự nhiên // được tôn thờ, coi là linh thiêng// có thể gây họa hoặc làm phúc cho người đời// theo quan niệm duy tâm hoặc theo quan niệm của tôn giáo
- Phật: Người tu hành // đã giác ngộ, có đức từ bi// quên mình để cứu
độ chúng sinh// theo giáo lý đạo phật
- Bồ tát: Người tu hành đắc đạo// trong đạo Phật// có hiểu biết rộng, có đức độ cao
- Thánh mẫu: Tên gọi tôn một số nữ thần// theo tín ngưỡng dân gian
- Ngọc hoàng: Vị thiên thần //có địa vị cao nhất, chức vụ quyền hành lớn nhất// theo Đạo giáo
- Chúa: Đấng //tạo ra trời đất, làm chủ muôn loài// theo Công giáo
- Diêm Vương: vua// âm phủ// theo đạo Phật
- Long vương: vua hoặc thần// ở dưới nước// trong truyện thần thoại
- Bà mụ: Nữ thần// nặn ra hình đứa trẻ và chăm nom, che chở cho trẻ// theo tín ngưỡng dân gian
“Nhân vật siêu nhiên là lực lượng có tính chất, khả năng vượt ra khỏi
phạm vi tự nhiên, không thể giải thích bằng các quy luật tự nhiên”
Quan sát các danh từ chỉ nhân vật siêu nhiên, ta thấy: Số lượng nét
nghĩa nhiều nhất là 4 ( tiên, thần, phật) và ít nhất là 2 (thánh mẫu) Yếu tố
“người” và yếu tố “siêu nhiên” đan xen nhau
Nét nghĩa [nhân vật], [lực lượng siêu nhiên], [người tu hành], [người tu hành đắc đạo], [tên gọi tôn một số nữ thần], [vị thiên thần], [đấng], [vua], [vua hoặc thần] có thể quy về nét nghĩa khái quát “nhân vật siêu nhiên”
Trang 40Bên cạnh nét nghĩa khái quát là những nét nghĩa cụ thể:
- Nét nghĩa [đẹp khác thường, có những phép mầu nhiệm và cuộc sống
rất yên vui] của từ tiên, nét nghĩa [được tôn thờ, coi là linh thiêng] của từ
thần, nét nghĩa [đã giác ngộ, có đức từ bi] của từ phật, nét nghĩa [có hiểu biết
rộng, có đức độ cao] của từ bồ tát, nét nghĩa [có địa vị cao nhất, chức vụ
quyền hành lớn nhất] của từ Ngọc hoàng có thể quy về nét nghĩa “đặc điểm”
- Nét nghĩa [có thể gây họa hoặc làm phúc cho người đời] của từ thần, nét nghĩa [quên mình để cứu độ chúng sinh] của từ phật, nét nghĩa [tạo ra trời đất, làm chủ muôn loài] của từ chúa, nét nghĩa [nặn ra hình đứa trẻ và chăm nom, che chở cho trẻ] của từ bà mụ có thể quy về nét nghĩa “chức năng”
- Nét nghĩa [âm phủ] của từ Diêm vương, nét nghĩa [ở dưới nước] của
từ Long vương có thể quy về nét nghĩa “nơi sống”
- Nét nghĩa [theo quan niệm duy tâm hoặc theo quan niệm của tôn giáo]
của từ thần, nét nghĩa [theo giáo lý đạo phật] của từ phật, nét nghĩa [trong đạo Phật] của từ Bồ tát, nét nghĩa [theo tín ngưỡng dân gian] của từ thánh mẫu, nét nghĩa [theo Đạo giáo] của từ Ngọc hoàng, nét nghĩa [theo Công giáo] của
từ Chúa, nét nghĩa [theo đạo Phật] của từ Diêm vương, nét nghĩa [trong truyện thần thoại] của từ Long vương, nét nghĩa [theo tín ngưỡng dân gian] của từ bà
mụ được xếp chung vào nét nghĩa “nguồn gốc”
Tóm lại, trong định nghĩa danh từ chỉ nhân vật siêu nhiên, ngoài nét nghĩa chung “nhân vật siêu nhiên”, còn có các nét nghĩa cụ thể “đặc điểm”,
“chức năng”, “nguồn gốc”, “nơi sống” Trong các nét nghĩa cụ thể, nét nghĩa
về “nguồn gốc” xuất hiện ở tất cả các từ, nó giải thích xuất xứ của các nhân vật này là theo quan niệm nào nhằm giúp người đọc hiểu rõ về nhân vật
Mô hình định nghĩa của nhóm danh từ chỉ nhân vật siêu nhiên:
Nhân vật siêu nhiên – nơi sống – đặc điểm – chức năng – nguồn gốc
2.2.1.2 Danh từ chỉ động vật:
Nhóm 1: Danh từ chỉ động vật thuộc nhóm thú