Qua những phân tích trên, chúng tôi cũng thống nhất với quan điểm của các tác giả khi cho rằng: cấu trúc câu tiếng Anh bao gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, còn trạng ngữ, t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
NGUYỄN THỊ HUYỀN
KHẢO SÁT VAI TRÒ CỦA TÍNH TỪ TRONG
TIẾNG ANH (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
Số trang
1 Khái niệm về cấu trúc câu trong tiếng Anh 4
2 Khái niệm về từ loại trong tiếng Anh và tiếng Việt 8
3 Đặc điểm chung về tính từ và các tiểu loại tính từ trong tiếng Anh 12
3.1 Đặc điểm chung về tính từ tiếng Anh 12 3.2 Các tiểu loại tính từ trong tiếng Anh 14
4 Phân biệt tính từ với trạng từ (phó từ) trong tiếng Anh 19
4.1 Khái niệm về trạng từ (phó từ) tiếng Anh 19 4.2 Phân biệt tính từ với trạng từ (phó từ) 22
5 Đặc điểm chung về tính từ và các tiểu loại tính từ trong tiếng Việt 24
5.1 Đặc điểm chung về tính từ tiếng Việt 24 5.2 Các tiểu loại tính từ trong tiếng Việt 26
3 Hoạt động của tính từ trong cấu trúc so sánh 45
3.1 Cấu trúc so sánh ngang bằng 46 3.2 Cấu trúc so sánh không ngang bằng 47 3.3 Cấu trúc so sánh hơn 48 3.4 Cấu trúc so sánh kém 49 3.5 Cấu trúc so sánh tuyệt đối 50
Trang 43.6 Cấu trúc so sánh song hành 51 3.7 Nhận xét 52
Anh với tiếng Việt
71
2.5.1 Một vài cách dùng đặc biệt của tính từ trong tiếng Anh 71 2.5.2 Khả năng kết hợp của tính từ tiếng Việt với từ loại khác 76
3 Hoạt động của tính từ tiếng Anh trong cấu trúc so sánh (có đối
chiếu với tiếng Việt)
82
3.1 Hoạt động của tính từ tiếng Anh trong cấu trúc so sánh 82
3.2 Hoạt động của tính từ tiếng Việt trong cấu trúc so sánh 83
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt là thời kỳ mở cửa hiện nay, quan hệ giao lưu Việt Nam với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ Cùng với sự phát triển về kinh tế chính trị, sự giao lưu
về văn hóa xã hội cũng được quan tâm đặc biệt Một trong những phương tiện không thể thiếu, cầu nối hết sức quan trọng để đưa chúng ta mau chóng xích lại tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật mới đó chính là ngoại ngữ Hiện nay, tiếng Anh được coi là ngôn ngữ quốc tế và được sử dụng rộng rãi trên thế giới chính vì vậy rất nhiều người Việt Nam cũng tích cực học tiếng Anh như là ngôn ngữ mẹ đẻ của mình Mặt khác, quá trình hội nhập tích cực của Việt Nam đã
và đang thu hút không ít các tổ chức công ty nước ngoài muốn nghiên cứu lịch sử, đất nước con người Việt Nam thông qua tiếng Việt Để đáp ứng nhu cầu học, sử dụng và giảng dạy tiếng Anh chuyên sâu, bên cạnh việc giảng dậy tiếng Anh theo các trình độ khác nhau, việc hiểu và sử dụng các loại từ rất dễ nhầm lẫn đặc biệt
là cách sử dụng các tính từ trong câu Trước tình hình đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu đối chiếu Anh -Việt nhằm chỉ ra những tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, khắc phục những lỗi cơ bản cho người học ngoại ngữ Đó chính là lý
do vì sao chúng tôi chọn đề tài: “Khảo sát vai trò của tính từ trong tiếng Anh
(có liên hệ với tiếng Việt )” Hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu này sẽ có những
đóng góp nhất định vào công việc nghiên cứu và dạy học tiếng Anh
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trang 6- Mục đích chính của đề tài là khảo sát, lý giải các vị trí và khả năng kết hợp của tính từ trong câu Đồng thời tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau
về vị trí của tính từ trong câu giữa hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
- Thông qua việc tiếp cận, khảo sát và so sánh cách sử dụng tính từ trong câu tiếng Anh và tiếng Việt mục đích của luận văn còn hướng tới góp phần tìm hiểu lý luận để nâng cao hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập tiếng ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ
Với mục đích nêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về cách sử dụng từ loại nói chung và cách sử dụng tính từ nói riêng trong câu tiếng Anh và tiếng Việt
- Khảo sát hoạt động ngữ pháp của tính từ trong tiếng Anh
- So sánh hoạt động ngữ pháp của tính từ tiếng Anh với tiếng Việt
3 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chính được áp dụng trong luận văn này là phương pháp so sánh đối chiếu cách sử dụng tính từ, nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong hoạt động, cấu trúc và ý nghĩa ngữ pháp của tính từ trong câu tiếng Anh
và tiếng Việt
- Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, miêu tả: Phương pháp này cho phép chúng ta hình dung được một cách rõ ràng vai trò và hoạt động của tính từ trong hai ngôn ngữ
3.2 Tư liệu nghiên cứu
Các tư liệu dùng để phân tích trong luận văn lấy từ các tác phẩm văn học trong các giáo trình tiếng Anh và tiếng Việt Ngoài ra còn tham khảo và sử dụng
Trang 7một số tư liệu của các nhà nghiên cứu đi trước, ngữ pháp của các dạng câu trong tiếng Anh Tất cả các tư liệu này đã được tập hợp trong các giáo trình và các tài liệu này đều có nguồn gốc xuất xứ
4 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia thành 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
1 Khái niệm về cấu trúc câu trong tiếng Anh
2 Khái niệm về từ loại trong tiếng Anh và tiếng Việt
3 Đặc điểm chung về tính từ và các tiểu loại tính từ trong tiếng Anh
4 Phân biệt tính từ với trạng từ (phó từ) trong tiếng Anh
5 Đặc điểm chung về tính từ và các tiểu loại tính từ trong tiếng Việt
6 Tiểu kết
Chương 2: Hoạt động ngữ pháp của tính từ trong tiếng Anh
1 Dẫn nhập
2 Khả năng kết hợp của tính từ trong câu tiếng Anh
3 Hoạt động của tính từ trong cấu trúc so sánh
4 Tiểu kết
Chương 3: So sánh hoạt động ngữ pháp của tính từ tiếng Anh với tiếng Việt
1 Dẫn nhập
2 Khả năng kết hợp của tính từ trong câu tiếng Anh
(có đối chiếu với tiếng Việt.)
3 Hoạt động của tính từ tiếng Anh trong cấu trúc so sánh
(có đối chiếu với tiếng Việt.)
4 Tiểu kết
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Khái niệm về cấu trúc câu trong tiếng Anh
Bùi Ý - Vũ Thanh Phương [33, 462] cho rằng “một câu đơn trong tiếng
Anh gồm hai bộ chính là chủ ngữ (Subject) và vị ngữ (Predicate) Vị ngữ phải là một động từ (hay cụm động từ) ở dạng đã chia và tuỳ theo loại động từ mà nó đòi hỏi phải có tân ngữ (Object) hoặc bổ ngữ (Complement) Đó là những thành phần chủ yếu trong kết cấu câu tiếng Anh Những câu chỉ gồm những thành phần chủ yếu đó là câu hạt nhân (Kernel sentence) hay cấu trúc hạt nhân Ngoài ra, câu còn có những thành phần thứ yếu là trạng ngữ (Adverbial modifier) và tính ngữ (adjective modifier )” Các tác giả này đã tóm tắt các mẫu cấu trúc câu cơ bản
trong tiếng Anh như sau:
[1] Trường hợp câu chỉ có những thành phần chủ yếu (gọi là câu hạt nhân hay câu tối thiểu)
Anh ấy
is running
đang chạy (3) The boy
Chúng tôi
speak nói
Trang 9(7) The green door
Chiếc cửa màu xanh
in the street
trên đường phố (9) The boy in the blue hat
Cậu bé đội mũ xanh
English
tiếng Anh
rather well
khá tốt
(11) These young men
Những thanh niên này
will become
sẽ trở thành
factory workers công nhân
nó Đây chính là định nghĩa về câu đơn ( simple sentence):
(12) The little boy looks very happy
(Cậu bé nhìn rất hạnh phúc.)
(13) John gets up very early in the morning
(John thức dậy rất sớm vào buổi sáng.)
Trang 10Còn tác giả L.G Alexander, tác giả cuốn “ Longman English Grammar” cho rằng: “Trong tiếng Anh, đơn vị nhỏ nhất là câu đơn Câu đơn thường có một động từ có ngôi (one finite verb), có một chủ ngữ (subject) và một vị ngữ (predicate)”
(15) One of our aircraft
Một trong những cái máy bay
is mising
của chúng ta đang mất liên lạc (16) The old building opposite our school
Toà nhà cũ đối diện trường chúng tôi
is being pulled down
đang bị phá đổ
[26, 10]
Randolph Quirk và Greenbaum, tác giả cuốn “ A University Grammar of English” cũng đồng quan điểm với L.G Alexander khi họ cho rằng câu gồm hai thành phần chính là chủ ngữ (Subject ) và vị ngữ ( Predicate), tương ứng với hai thành phần của một phán đoán logic là chủ thể (Subject) và vị thể (Predicate)
Hiện giờ cô gái này
is now a student at a large university
là sinh viên của một trường đại học lớn
(19) His brother
Anh trai nó
grew happier gradually
dần dần trở nên vui vẻ hơn
(20) It
Trời mưa
rained steadily all day
dữ dội suốt ngày
(21) He had given the girl an apple
Trang 11Nó đã đưa cho cô gái một quả táo
Ví dụ:
(23) John (S) carefully (A) searched (V) the room (O)
(24) The girl (S) is (V) now (A) a student (C) at the university (A)
(25) His brother (S) grew (V) happier (C) gradually (A)
(26) It (S) rained (V) steadily (A) all day (A)
(27) He (S) had given (V) the girl (O) an apple (O)
(28) They (S) make (V) him (O) the chairman (C) every year (A)
[13, 12]
Như vậy, trên cơ sở những câu hạt nhân, chúng ta có thể mở rộng câu bằng cách thêm những thành phần thứ yếu của câu là tính ngữ (adjective modifiers), trạng ngữ (adverbial modifiers) và đồng vị ngữ (words used in apposition)
Ví dụ:
Câu hạt nhân: The teacher arrived (Thầy giáo tới)
Câu mở rộng: The new teacher of our class, a grey - haired man of fifty - two arrived in Ha Noi at ten o‟clock yesterday (Thầy giáo mới của lớp chúng tôi,
Trang 12một người tóc bạc, năm mươi hai tuổi đã đến Hà Nội lúc mười giờ sang hôm qua)
Qua những phân tích trên, chúng tôi cũng thống nhất với quan điểm của các tác giả khi cho rằng: cấu trúc câu tiếng Anh bao gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, còn trạng ngữ, tính ngữ là thành phần thứ yếu, thêm vào thì rõ
ý hơn, nhưng không có chúng câu vẫn đủ nghĩa Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi đề cập đến một yếu tố trong thành phần thứ yếu của câu, đó là tính từ Đặc biệt hơn là chúng tôi khảo sát vai trò của tính từ trong câu tiếng Anh (có đối chiếu tương đương với tiếng Việt)
2 Khái niệm về từ loại trong tiếng Anh và tiếng Việt
Các khái niệm về từ loại và cấu trúc câu trong tiếng Anh có những điểm giống tiếng Việt, nhưng do đặc điểm riêng của từng ngôn ngữ, nên tất nhiên cũng
có nhiều điểm khác Thí dụ những khái niệm chung về danh từ, động từ, tính từ, chủ ngữ, vị ngữ, nhưng đi vào chi tiết cấu tạo, chức năng, vị trí v.v thì khác nhau nhiều Có những khái niệm chỉ tiếng Anh có mà tiếng Việt không có như cách sở hữu của danh từ, thì của động từ, động tính từ, động danh từ v.v…
Theo tác giả Lê Dũng tiếng Anh có tám từ loại:
Trang 13a Phân chia từ loại theo chức năng:
Phân chia từ loại theo chức năng là dựa vào công việc mà từ đảm nhận trong câu Vì một từ có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên nó có thể thuộc một từ loại trong câu này nhưng lại thuộc về một từ loại khác trong câu khác Chúng ta hãy xem từ “well” trong những câu sau đây
Ví dụ:
(29) He works well
Phó từ
Anh ấy làm việc giỏi
(30) I do not feel well
Tính từ
Tôi cảm thấy không được khoẻ
(31) Tears well from her eyes
Động từ
Nước mắt chảy từ đôi mắt của nàng
(32) Well, I think so
Con người cần thức ăn và chỗ ở
(34) The restaurant has a man cook
Tính từ
Tiệm ăn có một đầu bếp nam
(35) Man! That was good
Trang 14Thán từ
A! thật là tuyệt [11, 6]
b Phân chia từ loại theo hình thức:
Phân chia từ loại theo hình thức là dựa vào các tiếp tố (affix) gắn với từ, nếu có Nhờ đó, chúng ta có thể ít nhiều đoán được một từ thuộc loại từ nào, ví dụ:
- Danh từ với –ist, -dom, -ness, -ship, -red:
(làm cho đơn giản)
- Tính từ với –ous, -ed, -en, -less, -ly, -ful
Người ta thường phân chia tám từ loại nêu trên thành hai nhóm lớn:
- Open word classes: (từ loại có thể nhận thêm từ mới) gồm có: danh từ, động từ, tính từ và phó từ Số lượng mỗi từ loại thuộc nhóm này có thể từ một vài nghìn đến cả trăm nghìn từ Nhóm này bao gồm các content word, là những từ
Trang 15mang nghĩa nội dung hay nghĩa từ điển (lexical meaning) như home (nhà ở, quê hương), bridge (cây cầu), slowly (chậm chạp)
- Close word classes: (từ loại có số lượng từ giới hạn) gồm đại từ, giới từ, liên từ và thán từ Số lượng mỗi từ loại thuộc nhóm này chỉ từ vài từ đến vài mười
từ và rất it khi nhận thêm từ mới Nhóm này bao gồm các function word, là những
từ ít mang nghĩa nội dung nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong quan hệ cú pháp của câu, như on (ở trên), beside (bên cạnh), he (ông ấy), anh (và)
[11, 6 ] Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều cách phân loại, nhưng theo ngữ pháp truyền thống Anh, các tác giả Bùi Ý - Vũ Thanh Phương đều có quan điểm như tác giả Lê Dũng
Còn ở ngữ pháp của tiếng Việt, tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung lại cho rằng việc phân định từ loại tiếng Việt được dựa vào tập hợp ba tiêu chuẩn: (1) ý nghĩa - từ vựng ngữ pháp khái quát có tính chất phạm trù của từ, (2) khả năng kết hợp của từ, và (3) chức năng cú pháp chủ yếu của từ Và hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm bao gồm những từ loại sau:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ) Danh từ, động từ, tính từ, là ba từ loại cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất và thể hiện tương đối đầy đủ và rõ rệt nhất các tiêu chuẩn phân loại Về mặt ý nghĩa, chúng có bản chất từ vựng - ngữ pháp, trực tiếp phản ánh các nội dung ý nghĩa từ vựng khái quát có tính vật thể, hành động, trạng thái hoặc phẩm chất thành các đặc trưng phân loại Về khả năng kết hợp, chúng có thể làm thành tố chính - trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp - trong một kết hơp từ, với các từ làm thành tố phụ đứng xung quanh Về chức năng cú pháp, danh từ, động từ, tính từ có khả năng tạo câu và đảm nhiệm hầu hết các thành phần ở mọi ví trí trong cấu tạo câu Số từ phản ánh nội dung ý nghĩa số lượng có tính chất thực, gần gũi với danh từ, động
từ, tính từ Số từ không có được khả năng kết hợp rộng rãi nhưng vẫn đảm nhiệm
Trang 16được đầy đủ các chức năng cú pháp như các từ loại nói trên Vì vậy, chúng có tư cách là thực từ, và có tác giả đã xếp cùng nhóm với danh từ Đại từ không trực tiếp phản ánh các nhân tố ý nghĩa từ vựng như thực từ Nhưng do chúng có chức năng thay thế các thực từ, biểu hiện nội dung ý nghĩa của thực từ mà chúng thay thế và đảm nhiệm các chức năng cú pháp của thực từ được thay thế, nên có thể xem là một từ loại có vị trí trung gian trong hệ thống từ loại Do có quan hệ chặt chẽ với danh từ, động từ, tính từ, nên đại từ cũng được xếp vào nhóm hai
[6, 77]
Tóm lại, nắm vững từ loại là điều rất quan trọng trong việc học ngoại ngữ Thiếu kiến thức về từ loại, người học sẽ không thể nào viết và nói được câu đúng, cũng như không thể nào phân biệt được câu đúng và câu sai Mục đích chính của việc hiểu biết từ loại là nhằm phát hiện bản chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của các lớp từ trong quá trình thực hiện những chức năng cơ bản của ngôn ngữ: làm công cụ để giao tiếp, để tư duy trừu tượng
Từ đó có thể sử dụng các lớp từ cho đúng quy tắc, hợp với phong cách và chuẩn của ngôn ngữ
3 Đặc điểm chung về tính từ và các tiểu loại tính từ trong tiếng Anh
3.1 Đặc điểm chung về tính từ tiếng Anh
Có rất nhiều định nghĩa về tính từ nhưng hai tác giả Thanh Hà và Trần Trọng Dương đều đồng nhất quan điểm định nghĩa về tính từ như sau: "Tính từ dùng để miêu tả hoặc bổ nghĩa cho một danh từ/đại từ chỉ người hoặc vật trong câu Tính từ thường đứng trước danh từ /đại từ mà nó bổ nghĩa"
(36) This is an interesting book
( Đây là một cuốn sách hay.)
Một tính từ có thể đứng trước hoặc đứng sau danh từ hay đại từ mà nó mô
tả Nhiều tính từ có thể được dùng để mô tả cho cùng một danh từ
(37) She is beautiful
Trang 17(Cô ấy thật xinh đẹp.)
[12, 7]
Còn tác giả Lê Dũng thì định nghĩa về tính từ như sau: "Tính từ là từ để hạn định cho danh từ bằng cách miêu tả các đặc tính của sự vật mà danh từ đó đại diện (An adjective is a word that qualifies a noun by expressing the properties of the object that the noun refers to)"
Một danh từ như “house” có thể được dùng để chỉ bất kỳ căn nhà nào; nhưng “a big house” với tính từ “big” đi trước nêu lên đặc tính của căn nhà; nó chỉ đề cập đến những “căn nhà lớn” mà thôi Như thế tính từ một mặt cung cấp cho chúng ta thêm những thông tin hay đặc tính về danh từ mà nó thẩm định, mặt khác nó giới hạn phạm vi áp dụng của danh từ đó Tương tự, “a big house” chỉ về bất kỳ căn nhà lớn nào nhưng “a new big house” chỉ đề cập đến những “căn nhà lớn và mới” mà thôi Như thế, một danh từ càng được hạn định bởi nhiều tính từ thì phạm vi áp dụng của nó càng bị thu hẹp [11, 67]
Xuân Bá, tác giả cuốn “Trau dồi ngữ pháp và từ vựng tiếng Anh” cũng đồng quan điểm với các tác giả trên, ông cũng đưa ra định nghĩa về tính từ như sau: “Một tính từ nói lên tính chất của một vật hay một người nào đó Nó được dùng để miêu tả về những danh từ hay đại từ”
Chúng ta hãy quan sát những tính từ gạch chân trong các ví dụ dưới đây để hiểu biết sâu hơn về từ loại tính từ:
(38) He wants his son to be a famous scientist
(Anh ta muốn con trai mình là một nhà khoa học nổi tiếng.)
(39) Mary lives in a new house
(Mary sống ở một căn nhà mới.)
(40) Football matches are interesting
(Những trận đấu bóng thật hay.)
(41) She bought me a pink coat
Trang 18(Cô ấy mua cho tôi một chiếc áo khoác màu hồng.)
(42) We were all horrified when we heard about the flood
(Chúng tôi đều kinh hãi khi chúng tôi biết tin về cơn bão.)
(43) I feel confused to meet her
(Tôi thấy bối rối khi gặp cô ấy.)
(44) She is tired of doing housework everyday
(Cô ấy mệt mỏi phải làm việc nhà hàng ngày.)
(45) There are two apples in the basket
(Có hai quả táo trong giỏ.)
(46) The child sits on that chair
(Đứa bé ngồi trên chiếc ghế kia.)
(47) Whose umbrella is it?
(Ô này là của ai?)
Qua những phân tích trên, chúng tôi cũng thống nhất với quan điểm của các tác giả khi cho rằng: tính từ dùng để miêu tả hoặc bổ nghĩa cho một danh từ/đại từ chỉ người hoặc vật trong câu Tính từ thường đứng trước danh từ /đại từ
mà nó bổ nghĩa
3.2 Các loại tính từ trong tiếng Anh
Tác giả Thanh Hà và Xuân Bá [1, 261] đều thống nhất quan điểm phân loại tính từ tiếng Anh thành bảy loại chính sau:
a Tính từ phẩm chất (adjectives of quality):
Tính từ phẩm chất cho biết về tính chất của danh từ mà nó bổ nghĩa: beautiful (xinh đẹp), clever (thông minh), slim (mảnh khảnh), fat (béo), thin (gầy), tall (cao), short (thấp), white (trắng), stripped (đường sọc), sweet (ngọt ngào), ugly (xấu), heavy (nặng), good (tốt), funny (vui vẻ), square (vuông), round (tròn), warm (ấm), large (rộng), smooth (trơn), pretty (xinh đẹp)…
(48) She has a new hat
Trang 19Cô ấy có một chiếc mũ mới.)
(49) He is a short, fat man
(Ông ấy là người lùn béo.)
(50) The weather is so warm in spring
(Thời tiết ấm áp vào mùa xuân.)
(51) The box is so heavy that she can‟t lift it
(Chiếc hộp nặng tới mức mà cô ấy không nhấc nó lên được.)
(52) She is a good example for the children
(Cô ấy là tấm gương sáng cho bọn trẻ.)
[1, 262]
b Tính từ số lượng (quantitative adjectives):
Tính từ số lượng chỉ rõ về số lượng của danh từ nó bổ nghĩa Tính từ số lượng gồm tính từ xác định: one (một), two (hai), a hundred (một trăm), first (thứ nhất), both (cả hai), double (gấp đôi), triple (gấp ba)…, và tính từ không xác định: some (một chút), many (nhiều), few (ít), little (ít), all (tất cả), any (bất cứ thứ gì), several (rất nhiều)… Ví dụ:
(53) He has not any rice
(Anh ta không còn ít gạo nào.)
(54) No men were present
(Không người đàn ông nào có mặt.)
(55) We have some milk in the fridge
(Chúng tôi còn một ít sữa trong tủ lạnh.)
(56) Both men and women are equal in the modern society
(Cả nam giới và nữ giới bình đẳng trong xã hội hiện đại.)
(57) The number of population is triple in 50 years
(Dân số đã tăng lên gấp ba trong vòng 50 năm.)
(58) I first met her when I was ten years old
(Lần đầu tôi gặp cô là khi tôi mười tuổi.)
Trang 20(59) Many people are standing while few ones are sitting
(Nhiều người đang đứng trong khi chỉ có vài người đang ngồi.)
[1, 263]
c Tính từ sở hữu (posessive adjectives):
Tính từ sở hữu dùng để chỉ người/ vật sở hữu danh từ mà tính từ đó bổ nghĩa: my (của tôi), his (của anh ấy), her (của cô ấy), their (của họ), its (của nó) (60) My coat is torn
(Chiếc áo khoác của tôi bị rách.)
(61) Is this your house?
(Đây là nhà của bạn à?)
(62) Our friendship will last forever
(Tình bạn của chúng tôi sẽ là mãi mãi.)
(63) Her dress is so colourful
(Váy của cô ấy thật sặc sỡ.)
[1, 264]
d Tính từ nghi vấn: (interrogative adjectives):
Tính từ nghi vấn đặt trước danh từ dùng để hỏi: what (cái gì chung chung), which (cái nào), whose (của ai)…
(64) Which plants should be watered twice a week?
(Loại cây nào nên được tưới hai lần một tuần)
(65) What book are you reading?
(Bạn đang đọc những quyển sách gì?)
(66) Whose coat is it?
(Áo khoác này của ai? )
Trang 21(Mỗi sinh viên trong hàng nên yên lặng và không làm phiền người khác) (68) I will give a book to each scholar in this class
(Tôi sẽ đưa sách cho mỗi người nghiên cứu trong lớp.)
(69) You can take either cake or sweet
(Cậu chỉ có thể lấy bánh hay kẹo.)
(70) You are not allowed to meet neither he or she
(Cậu không được phép gặp cô ấy hoặc anh ấy.)
[1, 265]
f Tính từ chỉ định (demonstrative adjectives):
Tính từ chỉ định chỉ rõ vị trí của danh từ mà nó bổ nghĩa: this (đây, này), that (kia, đó), these (những cái này), those (những cái đó) Ví dụ:
(71) This book is the most interesting one that I've never read!
(Cuốn sách này là cuốn hay nhất mà tôi từng đọc.)
(72) That pen is yours
(Chiếc bút đó là của bạn.)
(73) Those people who I saw entering into the bank yesterday are creditors
(Những người kia, người mà tôi nhìn thấy đang đi vào nhà băng ngày hôm qua là những chủ nợ.)
[1, 262]
g Tính từ riêng (proper adjectives): là từ xuất phát từ một danh từ riêng
(England English, Viet Nam Vietnamese) Tính từ riêng luôn viết hoa chữ đầu tiên
(74) We are studying the English language
(Chúng ta đang học tiếng Anh.)
(75) Vietnamese soldiers foughtr bravely
(Các chiến sĩ Việt Nam chiến đấu dũng cảm.)
Trang 22Bên cạnh cách phân chia như trên, chúng ta thường gặp một số tính từ xuất phát từ động từ và tận cùng bằng "ing" gọi là phân từ hiện tại (participles) hoặc
"ed" gọi là quá khứ phân từ (past participles) Đa số các hình thái có “ing” được
dùng để nói về sự vật, sự việc hoặc người gây ra cảm giác nào đó Đa số hình thái
“ed” được dùng để miêu tả các cảm giác của con người: amazing (ngạc nhiên), facinating (làm mê hồn), amusing (thích thú), confusing (gây bối rối, boring (chán
nản), worrying (làm lo lắng),… amazed (thấy ngạc nhiên), fascinated (bị mê
hoặc), amused (thấy thích thú), embarrassed (thấy bối rối), annoyed (thấy khó chịu), bored (buồn chán)….Ví dụ:
(76) This weather is depressing
(Thời tiết thật khó chịu.)
(77) The weather makes me depressed
(Thời tiết khiến tôi cảm thấy khó chịu.)
(78) The novel is so interesting
(Cuốn tiểu thuyết này thật hay.)
(79) I‟m interested in the novel
(Tôi thích cuốn tiểu thuyết này.)
[19, 10]
Trong nhiều trường hợp, danh từ được sử dụng như tính từ, những danh từ này có thể là danh từ chỉ người/vật, chất liệu, nơi chốn hay danh từ riêng (Vietnamese food: món ăn Việt Nam; a gold coin: đồng tiền vàng)
(80) Mrs Morrison papered her kitchen walls with hideous wall paper
(Bà Morrison dán tường bếp bằng tờ giấy gớm ghiếc)
(81) The coal mines are dark and dank
(Các mỏ than tối và ẩm ướt)
Trang 23Những danh từ có chức năng như một tính từ luôn ở hình thức số ít ngay khi chúng bổ nghĩa cho danh từ số nhiều Sự kết hợp giữa "số + danh từ" luôn có dấu gạch ngang Ví dụ:
(82) They're going on holiday for two weeks
danh từ (noun) (Họ sẽ đi nghỉ hai tuần.)
(83) They're going on a two- week holiday
tính từ (adjective)
(Họ đi nghỉ trong hai tuần.)
(84) That's a three - ton truck
Tính từ (adj) ( Đó là xe tải ba tấn.)
[19, 11]
4 Phân biệt tính từ với trạng từ (phó từ) trong tiếng Anh
Để tránh nhầm lẫn trong cách dùng tính từ và trạng từ, chúng ta cần phải biết được định nghĩa của tính từ và trạng từ Nhận biết được dạng đúng của tính
từ và trạng từ khi kết hợp với các từ loại khác trong câu Tính từ là bổ nghĩa cho một danh từ còn trạng từ là từ bổ nghĩa cho động từ, tính từ hoặc một trạng từ khác
4.1 Khái niệm về trạng từ (phó từ) tiếng Anh
Trong cuốn “Introduction to Theoretical Linguistics” (Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết) J.Lyons đã dẫn ra định nghĩa truyền thống về trạng từ: “Trạng từ là thành phần lời nói dùng làm bổ từ cho một động từ, một tính từ hay một trạng từ khác hay trạng ngữ” [14, 515]
Cobuild, Collins, tác giả cuốn “Basic Grammar and Usage” (Ngữ pháp cơ bản và cách sử dụng) cũng viết “Trạng từ là các từ bổ nghĩa cho động từ chứ không phải là một bộ phận của động từ” [6, 4], như:
Trang 24(85) The sportcaster spoke rapidly
(Người bình luận thể thao nói nhanh.)
(86) The burglar entered the house quietly
(Tên kẻ trộm lặng lẽ vào nhà.)
Cuốn “Oxford Advanced Learner‟s Encyclopedia” (Từ điển bách khoa dành cho người học của trường đại học Oxford) viết: “Trạng từ là từ hoặc một nhóm từ bổ nghĩa cho cả câu, một động từ, một trạng từ khác hoặc một tính từ trong một câu.”
Từ điển Anh - Việt của trung tâm khoa học và nhân văn quốc gia - Viện ngôn ngữ học cũng định nghĩa rất rõ: “Trạng từ (phó từ) là từ để đưa thêm thông tin về nơi chốn, thời gian, hoàn cảnh, phương cách, nguyên nhân, mức độ cho
một động từ hoặc một phó từ khác” [13, 25], ví dụ như:
Speak kindly (nói một cách tử tế)
Incredibly deep (cực kỳ sâu)
L.G Alexander, tác giả cuốn “Longman English Grammar” (Ngữ pháp tiếng Anh của nhà xuất bản Longman) diễn giải: “ Trạng từ bổ nghĩa cho một động từ bằng cách cho chúng ta biết hành động xảy ra khi nào (When?) , ở đâu (Where?), như thế nào (How?)” [26, 122]
(87) Paganini played the violin beautifully (How did he play?)
(Paganini đã chơi vi - ô- lông tuyệt vời.) (Anh ấy chơi như thế nào?)
Tuy nhiên, trạng từ có thể bổ nghĩa cho:
- Tính từ: very good (rất hay)
Adv Adj Awfully hungry (rất đói) Adv Adj
- Các trạng từ khác: very soon (rất sớm)
Adv Adv
Trang 25Awfully quickly (rất nhanh) Adv Adv
- Cụm giới từ: you‟re entierely in the wrong
Adv Prep (Bạn hoàn toàn sai.)
- Cả câu: Strangely enough, I won first prize
Adv Adv (Vô cùng kì lạ, tôi đã giành giải nhất.) Randolph Quirk – Sidney Greenbaum, trong cuốn “A University Grammar
of English” hiểu trạng từ có thể bổ nghĩa cho:
- Một tính từ:
(88) That was a very funny film
Adv Adj (Đó là một bộ phim rất buồn cười.)
(89) It is extremely good of you
- Hoặc bổ nghĩa cho một trạng từ khác
(91) They are smoking very heavily
Adv Adv (Họ hút thuốc rất nhiều.)
- Hay cũng có thể bổ nghĩa cho cụm giới từ
(92) The nail went right through the wall
Adv Prep (Chiếc đinh xuyên qua tường.)
Trang 26(93) His parent are dead against the trip
Adv Prep (Cha mẹ kiên quyết phản đối chuyến đi.)
4.2 Phân biệt tính từ với trạng từ (phó từ)
Như đã trình bày ở trên , trạng từ (phó từ) là từ dùng để bổ nghĩa cho động
từ, tính từ hoặc một trạng từ khác bằng cách mô tả cách thức, mức độ, phạm vị hoạt động hoặc tính chất cho động từ, tính từ hoặc một trạng từ khác diễn tả Trạng từ và tính từ dễ bị nhầm lẫn nhau vì do cách thành lập của hai loại từ này rất giống nhau, chúng chỉ khác biệt khi kết hợp với các loại từ khác trong câu Mặt khác, có một số tính từ vừa có chức năng là tính từ lại vừa có chức năng là trạng từ, chính vì vậy rất dễ gây nhầm lẫn cho người học và sử dụng tiếng Anh
Để thấy sự khác biệt giữa trạng từ và tính từ chúng ta hãy xem xét một số
ví dụ sau:
(94) She is an excellent student
Adj (Cô ấy là một sinh viên xuất sắc.)
(95) I was disappointed that my exam results were so bad
Adj (Tôi thất vọng vì kết quả thi của tôi quá tệ.)
(96) The tired, beaten team trotted slowly off the field
Adj (Đội bóng mệt mỏi và thua cuộc đã lần bước ra khỏi sân cỏ.)
(97) We didn't go out because of heavy rain
Adj (Chúng tôi đã không đi chơi vì mưa to.)
(98) Be quiet, please?
(Xin hãy yên lặng)
Trang 27(99) Tom drove carefully song the narrow road
Adv (Tom lái xe trên con đường nhỏ hẹp này một cách thận trọng.)
(100) Oh, I'm terrible sorry I didn't man to push you
Adv (Ồ thành thật xin lỗi Tôi không cô ý đẩy bạn.)
(101) Maria learns languages incredibly quickly
Adv (Maria học ngoại ngữ nhanh không thể tưởng tượng được.)
(102) He works fairly rapidly
Adv (Anh ta làm việc khá nhanh nhẹn.)
(103) She speaks English perfectly
Adv (Cô ấy nói tiếng Anh một cách hoàn hảo.)
Đặc biệt chúng ta nên chú ý ba từ: fast (nhanh), hard (chăm chỉ, siêng năng), late (muộn) Điểm đặc biệt của ba từ này là chúng vừa là tính từ vừa là trạng từ
Tính từ Trạng từ
(104) Jack is a very fast runner (105) Jack can run very fast
(106) Noodle is a king of fast food (107) He eats so fast
(Mì tôm là loại đồ ăn nhanh.) (Anh ta ăn rất nhanh.)
(108) Ann is a hard student (109) Ann studies hard
(Ann là một sinh viên chăm chỉ.) (Ann học hành chăm chỉ.)
(110) John is a hard worker (111) John works hard
Trang 28(John là một công nhân siêng năng.) (John làm việc siêng năng.)
(112) The train was late (113) I got up late this morming (Chuyến tàu đến muộn.) (Sáng nay tôi đã dậy muộn.)
(114) She has ben late twice this week (115) He arrived late again
(Tuần này cô ấy bị muộn hai lần.) (Anh ta lại đến muộn.)
[2, 53]
Như vậy, theo chúng tôi hiểu thì trạng từ có thể là một từ, một cụm từ bổ nghĩa cho một động từ, tính từ hoặc một trạng từ khác; còn tính từ là một từ bổ nghĩa cho một danh từ Ngoài ra, một số tính từ và trạng từ rất giống nhau và có thể được cấu tạo như nhau nên chính những từ này khiến chúng ta bối rối và dễ nhầm lẫn giữa hai loại từ này
5 Đặc điểm chung về tính từ và các tiểu loại tính từ trong tiếng Việt
5 1 Đặc điểm chung về tính từ tiếng Việt
Tính từ là những từ diễn đạt những đặc điểm về chất lượng, về tính chất, mầu sắc, mùi vị, trạng thái, quan hệ của các danh từ hay đại từ (Đại từ xưng hô, đại từ xác định) Tính từ là một từ loại quan trọng trong hệ thống từ loại tiếng Việt Nó có chức năng là nêu đặc trưng, tính chất, trạng thái của các sự vật hiện tượng và hành động Nhìn chung các nhà Việt ngữ học đều thống nhất về quan niệm và cách định nghĩa tính từ Nhưng khi phân ra các tiểu loại nhỏ hơn trong hệ thống tính từ thì tuỳ từng cách nhìn, hướng phân tích mà mỗi tác giả lại có cách phân chia riêng
Theo tác giả Nguyễn Chí Hoà [22, 79] tính từ là những từ chỉ tính chất của
sự vật Nói đến tính chất của sự vật tức là nói đến đặc trưng, hình khối (méo mó), màu sắc (đen, xanh), dung lượng (nhiều ít ) Như vậy, về phương diện ý nghĩa thì tính từ thường biểu thị tính chất, thuộc tính Phần lớn tính từ là chỉ các tính chất Tính từ thường được phản ánh trong các nhóm màu sắc, tính từ đánh giá phẩm chất, trí tuệ Những từ gạch chân ở dưới là tính từ
Trang 29(116) Nói chuyện với họ chán phè (ĐM 255)
(It was tedious having a talk with them.)
(117) Phải cứu một nước như mình kể cũng khổ cho ông cụ lắm.(ĐM 257)
(It must be rather weary some for him to save a country like ours.)
(118) Chúng uống với nhau rất là nhiều Và rất là nhiều (CP 30)
(Both drank like sponges.)
(119) Ô, cái gì đấy, đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại?
(What is this black and deformed mass which moves about on the roadway bathed in moonlight.)
Hay "bất" trong ''bất hoà"
(122) Họ bất hoà vơi nhau
(They are like dog and cat.) [22, 81]
Trong tiếng Việt tồn tại cả tính từ đơn âm tiết và tính từ đa âm tiết Trong cùng một phát ngôn, người ta có thể sử dụng những kiểu tính từ khác nhau trong cùng một chức năng vị ngữ Trong ví dụ dưới đây, vị ngữ là một cụm tính từ đơn tiết (gầy), tính từ đa âm tiết (ngay ngắn), lại có đơn vị được sử dụng như một tính
từ có cấu tạo lâm thời như một tính từ (ít nói)
(123) Con trai bà thì vẫn gầy, ngay ngắn và ít nói
Trang 30(Her son was as thin straight and quiet silent as ever.)
Những đơn vị cấu tạo kiểu "ít nói", "hay ăn" không có khả năng tồn tại như một đơn vị từ vựng trong từ điển Chúng chỉ lâm thời hoạt động trong những ngữ cảnh xác định Trong những trường hợp này có thể coi chúng là những tính từ
"giả" đảm nhận chức năng như một tính từ Tương tự, động từ trong tiếng Việt cũng có thể được tạo ra hiện tượng tính từ "giả" Động từ "nâng niu" có thể được
sử dụng như một tính từ:
(124) Ôi những quyển sách rất nâng niu
(Oh! Those beloves books.)
[22, 86 ] Theo tác giả Diệp Quang Ban, tính từ là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình) Ý nghĩa đặc trưng được biểu hiện trong tính từ thường có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất mức độ (so sánh và miêu tả theo thang độ) Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ, nhưng không kết hợp được với "hãy", "đừng", "chớ" (đối lập với động từ) Tính từ cũng có thể kết hợp với thực từ đi kèm (để bổ nghĩa cho thực từ)
Trong tính từ, có bộ phận không thể dùng kèm phụ từ, đó là những tính từ chỉ ý nghĩa đặc trưng ở thang độ tuyệt đối Làm vị ngữ trong câu được coi là chức năng chính của tính từ, nhưng tính từ cũng được dùng kèm với danh từ hoặc động
từ để bổ nghĩa cho danh từ hay động từ
5.2 Các tiểu loại tính từ trong tiếng Việt
Việc phân loại tính từ ít phức tạp hơn so với danh từ và động từ Nhưng do tiêu chuẩn được vận dụng để phân loại chưa đủ sức bao quát, nên ranh giới giữa các lớp con trong tính từ khó xác định được rõ ràng dứt khoát Theo tác giả Diệp Quang Ban tính từ tiếng Việt được chia làm bốn loại nhỏ gồm có: tính từ tính chất, tính từ quan hệ , tính từ thang độ và tính từ không thang độ
Trang 31* Tính từ tính chất
Tính từ tính chất được hiểu là những tính từ vốn mang ý nghĩa chỉ tính chất, chứ không phải vay mượn nó ở lớp từ khác Ý nghĩa tính chất ở đây rất phong phú về nội dung, sau đây là một số ví dụ:
- Ý nghĩa về các loại phẩm chất như ở các từ tốt, xấu, đẹp, vụng, trơn, nhám, sạch, bẩn, trong , đục, tầm thường, quan trọng, đúng, sai, phải, trái
- Ý nghĩa về lượng thuộc nhiều phương tiện như mật độ, độ dài, trọng lượng, hình dạng, màu sắc, âm thanh, mùi vị, như ở các từ nhiều, ít, đông, thưa, ngắn, dài, to, nhỏ, béo, gầy, cao, thấp, sâu, cạn, nhanh, chậm, nặng, nhẹ, méo, tròn, ngay, lệch, thẳng, cong, nhọn, cùn ; xanh, đỏ, vàng, tím ; vang, dội, ồn, lặng, réo rắt, trầm, bổng ; thơm, nồng, cay, ngọt
* Tính từ quan hệ
Tính từ quan hệ là tính từ mà ý nghĩa chỉ tính chất của chúng được vay mượn ở ý nghĩa thực thể của danh từ, nói đúng hơn đó là thứ ý nghĩa thực thể được “nhào nặn” thành ý nghĩa chỉ tính chất và chấp nhận sự đo đạc ở phương tiện thang độ thông qua từ “rất” chứng tố Theo khảo sát của tác giả Diệp Quang Ban, trong tiếng Việt vẫn tồn tại tính từ quan hệ Tuy tính từ quan hệ ở tiếng Việt không nhiều, nói khác đi, sự tạo nên tính từ quan hệ ở tiếng Việt không dễ dàng như ở các ngôn ngữ biến hình từ Chỉ danh từ nào ở vị trí sẵn chứa hoặc có thể thêm “rất” vào trước thì nó mới được coi là tính từ Tuy nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần cho danh từ đó bản tính từ loại của tính từ, chứ chưa phải đủ để nó được coi là tính từ quan hệ Tính từ quan hệ có thể có gốc là danh từ chung, cũng có thể
Trang 32Tóm lại, tính từ quan hệ là một lớp con có thực trong lớp tính từ tiếng Việt, mặc dù về số lượng lớp con này có phần ít hơn so với các ngôn ngữ biến hình từ
* Tính từ thang độ
Tính từ thang độ là tính từ có thể kết hợp với các phó từ chỉ thang độ rất, hơi, khí, quá, cực kỳ về phía trước hoặc lắm, quá, cực kỳ về phía sau, như rất đẹp, rất rộng, rất anh hùng, rất Việt Nam ; đẹp lắm, vui quá, anh dũng cực kỳ Có thể thấy, các tính từ quan hệ khó kết hợp với yếu tố chỉ thang độ đứng sau
* Tính từ không thang độ
Trong tiếng Việt có một nhóm nhỏ từ, xét cách hoạt động trong câu và xét mặt ý nghĩa, thì giống hệt tính từ, nhưng không kết hợp được với các phó từ chỉ thang độ thường đứng trước tính từ Đó là những tính từ không có sự phân biệt về thang độ, gọi gọn là tính từ không thang độ như chính, công, chung, quốc doanh, riêng, tư trong các tổ hợp vấn đề chính, quyền lợi chung, quỹ công, đời tư, hàng quốc doanh, gia đình riêng
Cũng xét ở phương diện ý nghĩa, tính từ không thang độ có thể là tính từ tính chất hoặc tính từ quan hệ So sánh:
vấn đề chính = vấn đề có tính chất chính (tính chất)
hàng quốc doanh = hàng thuộc về khu vực quốc doanh (quan hệ)
quyền lợi chung = > quyền lợi nói chung , không cụ thể (tính chất)
> quyền lợi thuộc về mọi người (quan hệ)
Xét hoạt động ngữ pháp tính từ không thang độ thường làm yếu tố mở rộng cho danh từ, khó trực tiếp làm vị tố
Cũng có thể xếp vào số tính từ không thang độ những từ tượng thanh làm yếu tố mở rộng đứng sau danh từ như đùng đùng, ầm ầm, ào ào, leng keng, lộp bộp, róc rách, thì thầm trong các tổ hợp từ kiểu tiếng đì đùng (của pháo tết),
giọng thì thầm, tiếng xe cộ ầm ầm, tiếng nước róc rách, tiếng gió ù ù, tiếng róc
rách của dòng suối vv [22, 507- 510]
Trang 33Còn theo tác giả Nguyễn Chí Hoà [22, 81- 82] tính từ được chia làm ba nhóm chính: nhóm tính từ miêu tả trạng thái, nhóm miêu tả đặc điểm của sự vật, nhóm tính từ miêu tả về mức độ
* Nhóm tính từ miêu tả trạng thái
Xét ví dụ:
(125) Đêm đến, nàng thương khóc thầm trong căn phòng u ám, nhỏ bé của nàng (CT2/30)
(During the night, she would cry silently in her small, gloomy room.)
(126) Hoàng tử và vợ sống trong êm ấm thuận hoà (CT 3/71)
(The prince and his wife lived peace and harmony.)
(127) Phố xá nhộn nhịp như ngày hội (CT3/57)
(All the streets were as busy and noisy as in Festivals.)
Nhận xét: Nhóm này thường dùng để miêu tả trạng thái hoặc trạng thái hành động của động từ (sống trong êm ấm thuận hoà) Do đó, trong động ngữ, tính từ thường
(129) Bà tiên máy nước quả nhiên rất thanh nhã (CT3/ 29)
(The Fountain Fairy was indeed elegant.)
Nhận xét: Đây là nhóm tập hợp hầu hết các tính từ của tiếng Việt Căn cứ vào ý nghĩa, có thể chia nhóm này ra thành nhiều nhóm nhỏ
- Nhóm tính từ miêu tả màu sắc của sự vật như: đỏ, trắng, xanh
(130) Hai má anh bỗng đỏ bừng (TĐ93)
(He blushed)
Trang 34(131) Đôi mắt nó mọng đỏ như quả nhót (TĐ93)
(The little girl‟s eyes were reddened and swollen.)
- Nhóm tính từ chỉ kích thước sự vật như: cao, thấp, lớn, bé, dài, ngắn (132) Quan trọng hơn, thiếu dinh dưỡng, đã dẫn đến tình trạng thấp bé, nhẹ cân ở trẻ em và vóc dáng nhỏ bé ở người lớn
(Much more important, undernourishment to shortness and underweight in children and small shape in adults)
Nhóm này làm thành tố phụ cho một đoản ngữ có danh từ làm trung tâm Tuy nhiên, vẫn có khả năng một tính từ làm thành tố phụ cho động ngữ chẳng hạn như các tính từ: to, nhỏ, xấu, tốt, và phần nào cho cả những tính từ như: cao, thấp, đẹp, xấu
- Tính từ làm thành tố phụ cho danh ngữ
(133) Thế mà nó sẽ ngủ trên chiếc giường xinh đẹp, sạch sẽ của nàng.(CT3/3)
(And yet it would sleep on her clean beautiful bed.)
- Tính từ làm thành tố phụ trong động ngữ
(134) Từ đó, công chúa và vua ếch sống thật hạnh phúc suốt đời
( The princess and King Frog had lived happily ever after.)
Trang 35Có thể nói: người đông = đông người, người ít = ít người, người đủ = đủ người, sao thưa = thưa sao
Nhận xét: Nhóm tính từ này thường mang ý nghĩa về lượng hay mức độ Nhóm này gồm các từ như: đông, đầy đủ, nhiều, ít, vơi, dầy, thưa Nhóm từ này thường kết hợp với danh từ chúng có vị trí tương đối tự do Về chức năng ngữ pháp, tính từ có nhiều nét giống động từ, tính từ có thể trực tiếp làm vị ngữ động
từ, có thể kết hợp các phó từ như động từ (riêng nhóm hãy, đừng, chớ kết hợp với tính từ có bị hạn chế hơn so động từ) Tuy nhiên, tính từ cũng có những nét khác
cơ bản Tính từ kết hợp với phổ biến các phó từ chỉ mức độ: rất, hơi, khí, khá trong khi chỉ vài nhóm động từ kết hợp được với các phó từ này Tính từ giữ chức năng định tố cho danh từ phổ biến hơn động từ.[22, 83-84 ]
Tác giả Bùi Đức Tịnh [34, 5] trong cuốn “Văn phạm Việt Nam ”, ông chia tính từ làm ba tiểu loại:
- Tính từ lõi: tính từ lõi là những tiếng tự nhiên đã là tính từ như: lớn, nhỏ, kha khá, lanh lảnh
- Tính từ do các từ loại khác biến thành ( có thể là danh từ, có thể là động từ)
Ví dụ: Tinh thần quốc gia
“Quốc gia” chỉ tính chất của tinh thần, nên “quốc gia” là tính từ (khác với một quốc gia được thành lập Ở đây quốc gia là danh từ.)
Ví dụ: Anh ấy có nhiều tư tưởng tiến bộ
“Tiến bộ” chỉ một tính cách, nên “tiến bộ” là tính từ (khác với anh ấy đã tiến bộ hơn nhiều Ở đây tiến bộ là động từ)
- Tính từ ghép: có thể do hai danh từ ghép với nhau
Ví dụ: Tôi không muốn nghe những câu nói hàng tôm hàng cá
“Tôm, cá” là hai danh từ, nhưng trong câu này chúng ghép lại để chỉ tính chất, nên “hàng tôm hàng cá” là tính từ
- Có thể do hai động từ ghép lại
Ví dụ: Một hành vi phản quốc, hại dân
Trang 36“Phản”, “hại” là hai động từ, khi ghép trong ví dụ trên chúng lại chỉ tính chất, nên
“phản”, “hại” là tính từ
Theo Đinh Văn Đức [16, 8] quan niệm rằng do tiếng Việt không có tính
từ chỉ quan hệ nên nội bộ từ loại này tương đối thuần nhất Nhưng để chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của từng tiểu loại, người ta có thể chia ra làm hai tiểu loại:
- Tính từ chỉ tính chất với sắc thái “tĩnh” ( xấu, tốt, nặng, nhẹ, dài, ngắn )
- Tính từ chỉ đặc trưng thiên về trạng thái nên có sắc thái “động” (vui, buồn, thương, yêu, mong, nhớ ) Nhưng chính tác giả lại lập luận rằng, thực ra không có sự đối lập giữa hai sắc thái “tĩnh” và “động” ở tính từ
Theo quan niệm của Đào Thanh Lan [14, 28], tác giả cho rằng tính từ có thể chia thành hai loại:
- Tính từ hàm lượng: trỏ những tính chất của sự vật bao hàm giá trị về lượng như: cao, thấp, ngắn, dài, rộng, hẹp, gần, xa
- Tính từ hàm chất: trỏ những tính chất của sự vật bao hàm giá trị về chất như: tốt, xấu, giỏi, ngoan, thông minh, trong sạch
Tóm lại, qua các tác giả vừa nêu trên chúng ta có thể thấy, khi bàn về tính
từ đại đa số các nhà nghiên cứu đều quan tâm đến mặt nội dung ý nghĩa của từ và khả năng kết hợp của các loại từ Việc phân loại ngữ nghĩa tính từ và xác định các quy luật kết hợp của tính từ với từ loại khác đòi hỏi càng ngày càng phải chi tiết hơn Tuy vậy, một bảng phân loại ngữ nghĩa các từ và xác định các quy luật kết hợp giữa chúng dù có chi tiết đến đâu, thì cũng chỉ là những quy luật chung nhất, tiêu biểu cho những chuẩn mực ngôn ngữ phổ biến nhất mà thôi Mặc dù mỗi tác giả đều có cách phân loại khác biệt nhau nhưng xét về phương diện ngữ nghĩa thì dường như đã có sự tương đối thống nhất trong cách phân chia các tiểu loại tính
từ tiếng Việt
Trang 376 Tiểu kết
Trên cơ sở lý thuyết, chương này chúng tôi chủ yếu trình bày về các quan niệm từ loại, cấu trúc câu trong hai ngôn ngữ Anh - Việt và đặc biệt quan tâm đến
từ loại tính từ Nhìn chung, trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, tính từ là từ loại có
ví trí quan trọng trong câu Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu định nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của tính từ trong tiếng Anh bằng cách xem xét hình thức từ thể hiện trong các ngữ, và trong chừng mực có thể chúng tôi nghiên cứu cả chức năng ngữ nghĩa của tính từ trong câu Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp mà trong đó các đặc trưng thể hiện chức năng của chúng hầu như ngay tức thì, và thật
là khó khăn khi tách biệt một nét đặc trưng để xem xét nó riêng biệt như ta xem xét mẫu vật dưới kính hiển vi Ngôn ngữ là sống động hoặc ít nhất nó là hình thức
mà con người dùng để thể hiện vai trò, tư tưởng và cảm xúc của mình - và như thế, bất kỳ cố gắng nào nhằm đề cập đến nó một cách khách quan sẽ đưa đến kết quả không chính xác Chúng ta không thể "hiểu được" tính từ, từ thể hiện chức năng đầy đủ là một tính từ, ngoại trừ tính từ nhẹ nhàng trôi qua trong dòng lời nói, và khi chúng ta tách nó ra khỏi dòng phát biểu và bắt đầu xem xét nó, thì nó không còn "sống động" - nó chỉ là tập hợp các chữ lại với nhau trên một mảnh giấy hoặc một chuỗi âm thanh chứa đựng ít ý nghĩa
Trong khuôn khổ hạn hẹp của luận văn thạc sỹ , để không trùng lặp với các
đề tài nghiên cứu trước, chúng tôi tiến hành khảo sát vị trí của tính từ trong câu tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt) với mong muốn những kết quả nghiên cứu này có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy để học sinh biết và sử dụng đúng tính
từ
Trang 38cụ hữu hiệu nhất để chúng ta có thể tiếp cận nguồn thông tin trên khắp thế giới,
để mở ra cơ hội học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia khác, để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển Nhu cầu học tập tốt tiếng Anh đã trở nên cần thiết và phổ biến hơn Để đáp ứng nhu cầu đó, nguồn tài liệu để giảng dậy và học tập tiếng Anh cũng được phát triển phong phú, đa dạng hơn với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, Internet và các phương tiện truyền thông hiện đại
Ngày nay, tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ được nói ở nhiều quốc gia nhất trên thế giới Tiếng Anh không những là công cụ giao lưu rộng khắp về văn hoá mà còn cả trong lĩnh vực khác như: khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin Muốn học giỏi tiếng Anh thì việc nghe nói tiếng Anh thường xuyên là hết sức cần thiết Bên cạnh đó, những kiến thức cơ bản của ngôn ngữ này bạn cũng không thể bỏ qua
Thực tế đã chứng minh rằng, nắm vững ngữ pháp tiếng Anh sẽ giúp bạn giao tiếp nhanh hơn và thông qua việc học ngữ pháp, bạn đã tìm hiểu sâu hơn về văn hóa cũng như ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh trên khắp thế giới Với mục đích đề ra là tìm hiểu, làm rõ bản chất đặc điểm ngữ pháp của tính từ trong câu tiếng Anh, chương 2 sẽ lần lượt trình bày về cách sử dụng tính từ và khả năng kết hợp của tính từ trong câu tiếng Anh (có đối chiếu tương đương với tiếng Việt) với mong muốn giúp bạn đọc nắm vững những kiến thức cơ bản và nâng cao có liên quan đến tính từ trong tiếng Anh Hy vọng luận văn này sẽ là nguồn tài liệu thực sự bổ ích đối với bạn đọc
Trang 392.2 Khả năng kết hợp của tính từ trong câu tiếng Anh
2 2.1 Tính từ đứng trước danh từ làm chức năng định ngữ
Trong tiếng Anh tính từ được phân loại theo công dụng Như đã phân tích
ở chương 1, hầu hết các tác giả đều thống nhất có bảy loại tính từ chính trong tiếng Anh Đó là tính từ chỉ định (this, that, these, those), tính từ phân loại (each, every, either, neither), tính từ số lượng (some, any, no, little/few, many, much), tính từ nghi vấn (which, what, whose), tính từ sở hữu (my, your, his, her, its, our, their), tính từ phẩm chất (clever, dry, fat, good, golden, heavy, square), phân từ được dùng như tính từ (amusing, tiring, boring, amused, horrified v.v ), tính từ riêng là những từ xuất phát từ một danh từ (France, English) Người ta thường dùng tính từ theo nghĩa hẹp là tính từ miêu tả, vì vậy tính từ chỉ sự miêu tả chiếm phần lớn số lượng tính từ trong tiếng Anh Hầu hết các tác giả đều thống nhất quan điểm: tính từ tiếng Anh có ba vị trí trong câu đó là đứng trước danh từ, sau động từ và sau danh từ
Tính từ tiếng Anh không thay đổi Nó chỉ có một dạng đối với danh từ số
ít, số nhiều, giống cái, giống đực, giống trung Các tính từ trong tiếng Anh thông thường đứng trước danh từ làm chức năng định ngữ (nó bổ nghĩa cho danh từ đứng sau nó)
Các tính từ đứng trước danh từ được gọi là tính từ thuộc ngữ (attrributive) Tính từ sở hữu, tính từ phân biệt, tính từ nghi vấn, tính từ chỉ định, tính từ số lượng và tính từ phẩm chất đều có thể đứng trước danh từ, bổ nghĩa cho danh từ (1) This is my English book
(Đây là quyển sách tiếng Anh của tôi.)
(2) She is a beautiful girl
(Cô ấy là một cô gái đẹp.)
(3) This is a new car
(Đây là một chiếc ô tô mới.)
(4) It is a hot day
Trang 40(Hôm nay trời nóng)
(5) Nam will become a good worker
(Nam sẽ trở thành một công nhân giỏi.) [1, 47]
(Người đàn ông giàu có.)
Những tính từ vừa nêu trên thường có mối liên hệ chặt chẽ về ngữ nghĩa với danh từ theo sau Trong khi “the late president of a company” chỉ có nghĩa là (ông chủ tịch quá cố của công ty), thì “a late student” lại có nghĩa là (một học sinh đến muộn) Ngược lại, “late” đứng một mình sau động từ chỉ có nghĩa
“muộn”, không có nghĩa “quá cố” như trong “the president of the company is late” (ông chủ tịch công ty đến muộn) và “a student is late” (một học sinh đến muộn) Tương tự, chúng ta nói “an old friend” (một người bạn cũ) nhưng “my friends is old” lại không theo nghĩa này [vì nó có nghĩa: người bạn của tôi thì già] nhưng chúng ta có thể nói “my old father” hoặc “my father is old.”
Như thế, ngoài các tính chất chung của tính từ, một số ít tính từ trong tiếng Anh có nghĩa như thế nào, được dùng như thế nào còn phụ thuộc vào danh từ kết hợp với chúng
Thông thường những tính từ đứng trước danh từ cũng có thể đứng một mình, không có danh từ theo sau như: nice, good, bad, long, short, hot, happy, beautiful Tuy nhiên, một số ít tính từ lại chỉ đứng một mình trước danh từ như former, latter, main Ngoài ra, chúng ta nên chú ý một vài trường hợp đặc biệt của tính từ dưới đây: