1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài

124 700 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT CỦA ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI .... Và, nếu có thể giảng dạy cho người nước n

Trang 1

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ LAN HƯƠNG

KHẢO SÁT CÁC BIẾN THỂ ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT

TIẾNG VIỆT VÀ ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY

CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 602201

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Trọng Phiến

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

1

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 8

3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 9

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Bố cục của Luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 13

1.1 Câu đơn trần thuật tiếng Việt 14

1.2 Biến thể đồng nghĩa của câu đơn trần thuật tiếng Việt 15

1.3 Các phương pháp biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt 20 1.3.1 Phương pháp thế 21

1.3.1.1 Thế các từ đồng nghĩa 22

1.3.1.2 Thế bằng dạng phủ định trái nghĩa 24

1.3.1.3 Thế các từ trái nghĩa chỉ phương hướng dựa vào điểm mốc, điểm nhìn trong không gian 28

1.3.1.4 Thế bằng lối nói vòng 28

1.3.1.5 Thế các từ chỉ số lượng đi cùng danh từ đơn vị 31

1.3.1.6 Thế các từ chỉ thời gian 32

Trang 3

1

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 8

3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 9

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Bố cục của Luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 13

1.1 Câu đơn trần thuật tiếng Việt 14

1.2 Biến thể đồng nghĩa của câu đơn trần thuật tiếng Việt 15

1.3 Các phương pháp biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt 20 1.3.1 Phương pháp thế 21

1.3.1.1 Thế các từ đồng nghĩa 22

1.3.1.2 Thế bằng dạng phủ định trái nghĩa 24

1.3.1.3 Thế các từ trái nghĩa chỉ phương hướng dựa vào điểm mốc, điểm nhìn trong không gian 28

1.3.1.4 Thế bằng lối nói vòng 28

1.3.1.5 Thế các từ chỉ số lượng đi cùng danh từ đơn vị 31

1.3.1.6 Thế các từ chỉ thời gian 32

Trang 4

2

1.3.1.7 Thế các kết từ 32

1.3.2 Phương pháp cải biến 33

1.3.2.1 Cải biến sử dụng các từ đảo nghĩa 34

1.3.2.2 Cải biến sử dụng lối nói bị động 36

1.3.2.3 Cải biến sử dụng cách danh hóa 38

1.3.2.4 Cải biến bằng cách thay đổi vị trí cụm [giới từ chỉ phương tiện + danh từ] 39

1.3.2.5 Cải biến sử dụng các vị từ có nghĩa đối xứng 40

1.3.2.6 Cải biến bằng cách tách phó động từ chỉ hướng hay mục đích khỏi động từ 41

1.3.2.7 Cải biến bằng cách đảo trật tự các từ ngữ liên kết với nhau qua các liên từ “và”; “hoặc” 41

1.3.3 Phương pháp lược 42

1.3.4 Phương pháp bổ sung 44

1.3.5 Kết hợp các phương pháp 45

Chương 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT CỦA ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 48

2.1 Đối tượng và hình thức khảo sát 48

2.1.1 Đối tượng khảo sát 48

2.1.2 Hình thức khảo sát 49

2.2 Kết quả khảo sát 52

Trang 5

3

2.2.1 Kết quả khảo sát các dạng bài tập ứng dụng phương pháp thế 52

2.2.2 Kết quả khảo sát các dạng bài tập ứng dụng phương pháp cải biến 55

2.2.3 Kết quả khảo sát dạng bài tập ứng dụng phương pháp lược 58

2.2.4 Kết quả khảo sát dạng bài tập ứng dụng phương pháp bổ sung 59

2.2.5 Kết quả khảo sát dạng bài tập tổng hợp 60

2.3 Nhận xét 60

2.3.1 Những kết quả định lượng 60

2.3.2 Đánh giá 63

Chương 3 ỨNG DỤNG GIẢNG DẠY CHO ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT 73

3.1 Vấn đề giảng dạy câu đồng nghĩa và các dạng bài tập liên quan trong các giáo trình dạy tiếng 74

3.2 Các dạng bài tập biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt 75

3.2.1 Các dạng bài tập ứng dụng phương pháp thế 76

3.2.1.1 Bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ đồng nghĩa 76

3.2.1.2 Bài tập ứng dụng phương pháp thế bằng dạng phủ định trái nghĩa 78

3.2.1.3 Bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ trái nghĩa chỉ phương hướng dựa vào điểm mốc, điểm nhìn trong không gian 79

3.2.1.4 Bài tập ứng dụng phương pháp thế bằng lối nói vòng 80

Trang 6

4

3.2.1.5 Bài tập ứng dụng phương pháp thế các danh từ chỉ số lượng đi cùng

danh từ đơn vị 81

3.2.1.6 Bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ chỉ thời gian 82

3.2.1.7 Bài tập ứng dụng phương pháp thế các kết từ 82

3.2.2 Các dạng bài tập ứng dụng phương pháp cải biến 83

3.2.2.1 Bài tập cải biến sử dụng các từ đảo nghĩa 83

3.2.2.2 Bài tập cải biến sử dụng lối nói bị động 84

3.2.2.3 Bài tập cải biến sử dụng cách danh hóa 85

3.2.2.4 Bài tập cải biến bằng cách thay đổi vị trí cụm [giới từ chỉ phương tiện + danh từ] 86

3.2.2.5 Bài tập cải biến sử dụng các vị từ có nghĩa đối xứng 86

3.2.2.6 Bài tập cải biến bằng cách tách phó động từ chỉ hướng hay mục đích khỏi động từ 87

3.2.2.7 Bài tập cải biến bằng cách đảo trật tự các từ ngữ liên kết với nhau qua các liên từ “và”; “hoặc” 89

3.2.3 Các dạng bài tập ứng dụng phương pháp lược 90

3.2.4 Các dạng bài tập ứng dụng phương pháp bổ sung 92

3.2.5 Dạng bài tập tổng hợp 94

PHẦN KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHẦN PHỤ LỤC 105

Trang 8

5 Bảng 2.2.1.5 Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ chỉ

số lượng đi cùng danh từ đơn vị [tr 53]

6 Bảng 2.2.1.6 Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ chỉ thời gian [tr 54]

7 Bảng 2.2.1.7 Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế các kết từ [tr 54]

8 Bảng 2.2.2.1 Kết quả khảo sát bài tập cải biến sử dụng các từ đảo nghĩa [tr 55]

9 Bảng 2.2.2.2 Kết quả khảo sát bài tập cải biến sử dụng lối nói bị động [tr 55]

10 Bảng 2.2.2.3 Kết quả khảo sát bài tập cải biến sử dụng cách danh hóa [tr 56]

11 Bảng 2.2.2.4 Kết quả khảo sát bài tập cải biến bằng cách thay đổi vị trí cụm [giới từ chỉ phương tiện + danh từ] [tr 56]

12 Bảng 2.2.2.5 Kết quả khảo sát bài tập cải biến sử dụng các vị từ có nghĩa đối xứng [tr 57]

Trang 9

15 Bảng 2.2.3 Kết quả khảo sát dạng bài tập ứng dụng phương pháp lược.[tr 58]

16 Bảng 2.2.4 Kết quả khảo sát dạng bài tập ứng dụng phương pháp bổ sung [tr 59]

17 Bảng 2.2.5 Kết quả khảo sát dạng bài tập tổng hợp [tr 60]

18 Bảng 2.3.1 Khả năng sử dụng các phương pháp biến đổi đồng nghĩa [tr 63]

Trang 10

quá trình học tập họ đã có kỹ năng giao tiếp tốt với người Việt

Đứng ở góc độ sư phạm, việc học tiếng Việt thông qua các giáo trình dạy tiếng chính là bước đi cơ bản và vững chắc cho bất cứ một người học tiếng nào

Đã có rất nhiều kiến thức ngôn ngữ được đưa vào giảng dạy trong các giáo trình dạy tiếng Giảng dạy về câu tiếng Việt là một đề mục rất quan trọng và tạo nhiều hứng thú với người học Mục đích cuối cùng của những người học tiếng là có thể giao tiếp linh hoạt và tự nhiên nhất với người bản ngữ Một người nước ngoài nói một câu nói đúng ngữ pháp được coi là đạt yêu cầu Nhưng, nếu một người nước ngoài có khả năng biến đổi từ một câu nói thành những cách diễn đạt đồng nghĩa phục vụ cho từng mục đích giao tiếp khác nhau thì họ đã tiếp cận được đến

vị trí người chủ của ngôn từ

Vấn đề câu đồng nghĩa tiếng Việt đã được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt trong và ngoài nước Tuy nhiên, việc ứng dụng những nghiên cứu về câu đồng nghĩa tiếng Việt trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài lại là một chủ đề khá mới mẻ Và, nếu có thể giảng dạy cho người nước ngoài những phương pháp biến đổi câu để tạo câu đồng nghĩa thì đó chính là chiếc chìa khóa giúp họ làm chủ ngôn từ, đồng thời là một bước tiến trong công tác nghiên cứu về hoạt động dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ

Trang 11

9

Trong phạm vi của một luận văn, chúng tôi đi vào nghiên cứu những phương pháp biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt, thực tế sử dụng của người nước ngoài, trên cơ sở đó thiết kế những dạng bài luyện phù hợp cho đối tượng học viên người nước ngoài

2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Để giúp những học viên người nước ngoài tiếp cận hiện tượng đồng nghĩa trong tiếng Việt, luận văn miêu tả những phương pháp biến đổi câu đơn trần thuật tiếng Việt để tạo nên những biến thể đồng nghĩa về mặt ngữ nghĩa học

Nhu cầu và mục đích của một người học tiếng là có thể giao tiếp một cách

tự nhiên nhất với người bản ngữ Việc sử dụng ngôn từ ở những cách diễn đạt khác nhau là rất cần thiết cho họ trong việc làm chính xác hóa, làm tăng sự phong phú và biểu cảm cho nội dung diễn ngôn Vì vậy, liệt kê những phương pháp biến đổi câu để tạo câu đồng nghĩa giống như chìa khóa, giúp người học có thể tra cứu, ghi nhớ và ứng dụng những cách biến đổi khác nhau để tạo ra những phát ngôn đồng nghĩa cho cùng một nội dung

Học và hiểu về câu đồng nghĩa tiếng Việt đối với người nước ngoài vẫn còn là một nội dung chưa được giảng dạy nhiều trong ngữ pháp nhà trường Vì vậy, luận văn cũng đi vào khảo sát thực tế năng lực sử dụng các phương pháp biến đổi đồng nghĩa này trên đối tượng học viên là người nước ngoài Những kết quả thu được sẽ là cơ sở quan trọng để những nhà giáo dục trong lĩnh vực dạy tiếng có thể nắm bắt được và lên kế hoạch thiết kế những chương trình giảng dạy phù hợp

Dựa trên năng lực thực tế của người học, với mục đích giúp người nước ngoài học tiếng Việt có thể phát triển vốn từ vựng, phát triển khả năng diễn đạt, luận văn thiết kế một số dạng bài luyện viết phù hợp rèn luyện cho đối tượng học

Trang 12

10

viên là người nước ngoài có kỹ năng sử dụng các phương pháp biến đổi câu đơn trần thuật tiếng Việt, tạo thành những biến thể đồng nghĩa

Đứng trên quan điểm ngôn ngữ học ứng dụng, những kết quả của luận văn

sẽ là những đóng góp rất hữu ích trong công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đối với cả người học và người dạy tiếng Đồng thời, những nghiên cứu trong luận văn này cũng là những gợi ý hữu dụng để công tác biên soạn sách

và giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được đầy đủ, hoàn thiện hơn

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Hiện tượng đồng nghĩa trong tiếng Việt bao gồm rất nhiều hình thức khác nhau Để giúp người nước ngoài tiếp cận và hiểu hết những hiện tượng đồng nghĩa trong tiếng Việt là một quá trình lâu dài và đòi hỏi nhiều nghiên cứu rộng hơn Trong khuôn khổ luận văn, ứng dụng trên ngữ liệu câu đơn trần thuật tiếng Việt, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu các biến thể đồng nghĩa ở những phương pháp biến đổi đồng nghĩa phục vụ mục đích giảng dạy cho người nước ngoài Có hai loại câu đồng nghĩa là câu đồng nghĩa ngữ dụng học và câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học Loại câu đồng nghĩa được nghiên cứu ở luận văn là câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học

Về đối tượng khảo sát, luận văn khảo sát trên đối tượng người học là người nước ngoài đang học theo chương trình dạy tiếng Việt được áp dụng tại Khoa Việt Nam học và tiếng Việt – Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Đối tượng được khảo sát là các sinh viên, học viên đã có thời lượng học tập từ 240 tiết (tương đương trình độ A2) trở lên Các đối tượng này ở những lứa tuổi khác nhau, có sở thích, thói quen khác nhau, đến từ những nước khác nhau và có mục đích học tập khác nhau

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

11

Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là:

– Phương pháp phân tích ngữ nghĩa – cấu trúc cú pháp

– Phương pháp thống kê

– Phương pháp miêu tả

– Phương pháp so sánh

Trên cơ sở này, chúng tôi thực hiện theo trình tự như sau:

- Soạn các dạng bài tập về các phương pháp biến đổi câu đơn trần thuật tiếng Việt thành những biến thể đồng nghĩa phù hợp với từng nhóm học viên trình độ A, B, C

- Từng nhóm học viên được yêu cầu làm các dạng bài tập đã soạn trong thời gian qui định

- Tiến hành thống kê lấy kết quả và phân loại kết quả trên từng dạng bài tập

cụ thể

- Xử lý tư liệu thu được và nhận xét

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung luận văn gồm 3 chương như sau:

Trang 14

12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu các vấn đề lý thuyết liên quan đến

đề tài: câu đơn trần thuật tiếng Việt, biến thể đồng nghĩa của câu đơn trần thuật tiếng Việt và các phương pháp biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt

Chương 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT CỦA ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Trong chương này, chúng tôi khảo sát thực tế năng lực sử dụng các phương pháp biến đổi đồng nghĩa của đối tượng học viên người nước ngoài ở những trình độ khác nhau Chúng tôi cũng tổng hợp, so sánh những kết quả thu được và đưa ra nhận xét

Chương 3: ỨNG DỤNG GIẢNG DẠY CHO ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT

Trong chương này, chúng tôi đưa ra một số nhận định về vấn đề giảng dạy câu đồng nghĩa tiếng Việt và các dạng bài tập liên quan trong các giáo trình dạy tiếng hiện nay Bên cạnh đó, chúng tôi tập trung thiết kế những dạng bài tập cụ thể rèn luyện khả năng sử dụng các phương pháp biến đổi câu để tạo ra các dạng đồng nghĩa cho đối tượng học viên người nước ngoài

Trang 15

13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý thuyết

Khi tiếp xúc một ngoại ngữ, người học thường được tiếp cận những cấu trúc ngữ pháp có tính qui phạm Với những đối tượng bắt đầu học tiếng, trình độ

sơ cấp, họ thường cố gắng ghi nhớ bằng cách sử dụng các cấu trúc ở những tình huống giao tiếp khác nhau, nhưng theo một lối mòn nhất định Bắt đầu từ trình

độ sơ cấp này, người học cũng đã được yêu cầu nắm bắt những hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa ở mức độ đơn giản Với những đối tượng ở trình độ trung cấp,

họ được cung cấp thêm về số lượng từ vựng và một số cấu trúc ngữ pháp mới tương đương, nhưng phạm vi sử dụng vẫn còn hạn chế và thụ động Với những đối tượng ở trình độ cao cấp hơn, các đối tượng này đã có những kiến thức cơ bản về ngữ pháp của tiếng Việt, số lượng từ vựng phong phú hơn, môi trường giao tiếp mở rộng hơn nên khả năng nắm bắt và thực hành những lối nói khác nhau cho cùng một nội dung của họ đã tốt hơn và dần dần thành thạo Tuy nhiên,

ở mỗi trình độ, các đối tượng vẫn mắc phải những lỗi sai và những vấn đề khó khăn, lúng túng khi giao tiếp đặc biệt là khi lựa chọn cách diễn đạt phù hợp cho mục đích giao tiếp của mình

Nhu cầu và mục đích của một người học tiếng là có thể giao tiếp một cách

tự nhiên nhất với người bản ngữ Việc sử dụng ngôn ngữ ở những cách diễn đạt khác nhau là rất cần thiết đối với họ trong việc làm chính xác hóa, làm tăng sự phong phú và biểu cảm nội dung diễn ngôn Vì vậy, trong chương này, chúng tôi

đi vào tìm hiểu và liệt kê những phương pháp biến đổi câu để tạo thành biến thể đồng nghĩa về mặt ngữ nghĩa học, phục vụ cho mục đích giảng dạy câu cho người nước ngoài Những nội dung trình bày trong chương này giống như chiếc chìa khóa, giúp người học có thể tra cứu, ghi nhớ và ứng dụng rất thiết thực khi giao tiếp

Trang 16

14

1.1 Câu đơn trần thuật tiếng Việt

Mục tiêu đầu tiên của bất kỳ một người nào khi học ngoại ngữ là nói được một câu nói hoàn chỉnh Những nội dung thông báo đều được hiện thực hóa trên ngữ liệu ngôn ngữ cụ thể là câu Để giúp người học tiếng Việt nắm bắt và sử dụng thành thạo những kiểu loại câu tiếng Việt là một yêu cầu quan trọng trong công việc dạy tiếng Trong phạm vi luận văn, chúng tôi không thể bao quát được hết các biến thể đồng nghĩa của các kiểu loại câu tiếng Việt Hình thức câu tiếng Việt được khảo sát trong luận văn là hình thức câu đơn trần thuật tiếng Việt, có nòng cốt là cấu trúc Đề - Thuyết

Về mặt cấu trúc, chúng tôi sử dụng khái niệm về câu đơn tiếng Việt của tác giả Đào Thanh Lan làm cơ sở nghiên cứu và khảo sát Theo đó, “ Khi câu có cấu tạo: Đề ngữ - Thuyết ngữ thì nó là câu đơn thuần túy Khi một trong hai thành phần phát triển theo sơ đồ:

a, Đề cú - Thuyết ngữ

Đề - thuyết

b, Đề ngữ - Thuyết cú

Đề - thuyết thì câu đơn thuần túy đã được phát triển từ câu một bậc đề - thuyết thành câu hai bậc đề - thuyết (câu đơn phát triển)” [35, tr 71]

Về mặt mục đích phát ngôn: Trong nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt, GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, trên cơ sở tán thành quan điểm của tác giả Bùi Mạnh Hùng và bổ sung những nghiên cứu riêng, đã phân loại câu tiếng Việt như sau:

Trang 17

15

Câu đánh dấu (marked sentence)

Câu không đánh dấu (unmarked sentence) Câu

nghi vấn

Câu cầu khiến

Câu cảm thán

Câu trần thuật

Theo đó, “Câu trần thuật được coi là kiểu câu không đánh dấu (unmarked sentence) Có thể giải thích một cách đơn giản đó là kiểu câu không có dấu hiệu hình thức của những kiểu câu khác” [23, tr 348] Ngoài ra, “câu trần thuật là câu

có những tiểu từ tình thái như vậy, mà, rồi, hay các tổ hợp đặc ngữ như là cùng, còn gì, mới phải, mới được đứng ở cuối câu” [23, tr 350]

1.2 Biến thể đồng nghĩa của câu đơn trần thuật tiếng Việt

Theo V.B Kasevich, sự tồn tại hai mặt ở các ký hiệu ngôn ngữ - cái biểu đạt và cái được biểu đạt – cho phép khảo sát và, trong đó phân chia một văn bản theo sự phân đoạn đôi Việc chấp nhận thuật ngữ này cho phép chính xác hóa định nghĩa về ngôn ngữ: ngôn ngữ là một hệ thống các hình hiệu, các ký hiệu và các qui tắc hành chức của chúng Bình diện gắn với cấu trúc và các tính chất của những cái được biểu đạt, được gọi là mặt nội dung Bình diện gắn liền với cấu trúc và những tính chất của những cái biểu đạt gọi là mặt biểu thị

Ký hiệu ngôn ngữ tồn tại hai mặt: mặt biểu thị và mặt nội dung Một nội dung có thể được biểu thị bằng nhiều hình thức khác nhau

“Luận đề phi đối xứng của mối liên hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt chỉ ra rằng: không tồn tại sự tương ứng thường xuyên giữa hai mặt này của

ký hiệu Cùng một cái biểu đạt có thể tương ứng với nhiều cái được biểu đạt khác nhau, điều đó được thể hiện ở hiện tượng đồng âm, hiện tượng đa nghĩa,

Trang 18

16

hiện tượng trung hòa hóa Cùng một cái được biểu đạt có thể được biểu hiện bằng những cái biểu đạt khác nhau, điều này đặc trưng cho hiện tượng đồng nghĩa” [62, tr 36]

Từ thời Hy Lạp cổ đại, người ta bắt đầu chú ý đến hiện tượng đồng nghĩa

cú pháp và dùng thuật ngữ paraphrasis để chỉ các cặp câu đồng nghĩa Những năm 60 của thế kỷ 20 trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã thực sự đi vào nghiên cứu về câu đồng nghĩa Người ta nghiên cứu vấn đề này trên hai phương diện: lý thuyết và ứng dụng Về mặt lý thuyết, người ta tiến hành xác định khái niệm paraphrase, phân loại các loại câu đồng nghĩa, chỉ ra và xác định vai trò của các loại phương thức và phương tiện diễn đạt đồng nghĩa,… Về mặt nghiên cứu ứng dụng, người ta vận dụng khái niệm câu đồng nghĩa đề ra các kỹ thuật mới trong lĩnh vực dạy tiếng, dùng các lối diễn đạt đồng nghĩa để kiểm tra các phép biến đổi câu,… Có thể kể đến những nhà nghiên cứu trên lĩnh vực câu đồng nghĩa như sau: H.Hik, N.Chomsky, G.Lakoff, R.A.Jacob, P.Rosenbaum,S.Z.Harris, E.V.Paducheva,Yu.D.Aprexian, R.Martin, C.Fuchs, J.R.Hurford, B.Heasley,…

Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề câu đồng nghĩa: Hoàng Trọng Phiến, Bùi Tuyết Mai, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Đức Dân,…

TS Nguyễn Hữu Chương trong luận án tiến sĩ của mình đã có những nghiên cứu khá cụ thể về hiện tượng câu đồng nghĩa tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) Luận văn sử dụng những định nghĩa được trình bày trong luận án tiến sĩ này để phục vụ mục đích nghiên cứu Đứng trên quan điểm logic học, tác giả đã trích dẫn quan niệm của R Martin về câu đồng nghĩa như sau: “Hai câu Pi và Pj

sẽ được coi là có liên hệ đồng nghĩa ngôn ngữ học/ngữ nghĩa học (paraphrase linguistique/semantique) nếu đối với mọi người nói và trong mọi tình huống, Pi tương đương với Pj một cách logic Hoặc nhất thiết là Pi thì suy ra được Pj và ngược lại Ký hiệu “(Pi Pj)” [63, tr 85] Tác giả tán thành quan điểm của R Martin về câu đồng nghĩa và sử dụng các định nghĩa của ông cùng tiêu chuẩn

Trang 19

17

“khả năng suy diễn hai chiều” vào việc nhận diện các kiểu loại câu đồng nghĩa trong tiếng Việt [12, tr 34]

Tác giả phân chia các bình diện đồng nghĩa của câu nói (phát ngôn) thành

7 kiểu như sau:

a) Hai câu có danh ngữ đồng sở chỉ:

Ví dụ: Bắt lấy tên cướp / nó

Trong một tình huống, nếu “nó” được hiểu là “tên cướp” thì “nó” và “tên cướp” là các danh ngữ đồng sở chỉ Và hai câu trên có quan hệ đồng sở chỉ

b) Hai câu cùng chỉ một sự tình:

Đây là các câu có vị từ hạt nhân chỉ cốt lõi của sự tình, có cùng cấu trúc vị

từ - tham tố Các tham tố có quan hệ đồng sở chỉ hoặc vừa đồng sở chỉ vừa đồng nghĩa

[obj], và có quan hệ suy diễn hai chiều: Bắt lấy tên cướp Bắt lấy nó

c) Hai câu đồng nghĩa cấu trúc tham tố:

Trang 20

18

Đây là hai câu có cùng cấu trúc tham tố, nội dung nghĩa vị của vị từ và các tham tố về cơ bản là giống nhau (có thể khác nhau ở một số sắc thái nghĩa, sắc thái biểu cảm) Điều kiện: đây phải là hai câu cùng chỉ một sự tình

Ví dụ:

Ba cho / biếu bà quả cam

[agent] [v] [recipient] [object]

d) Hai câu đồng nghĩa biểu hiện:

Đây là hai câu vừa có các danh từ đồng sở chỉ, vừa cùng chỉ một sự tình, vừa đồng nghĩa cấu trúc tham tố, lại vừa có ý nghĩa tình thái (các loại), ý nghĩa của các từ khác (các kết từ) mà không tham gia vào cấu trúc tham tố của vị từ giống nhau

Ví dụ:

Tôi mua một cân / kilôgam gạo

e) Hai câu đồng nghĩa logic – ngôn từ:

Đây là hai câu cùng diễn đạt một nhận định về một đối tượng, một hiện tượng,… được đề cập tới Điều kiện: đây là hai câu có cấu trúc cú pháp đề -thuyết giống nhau, các tham tố có quan hệ đồng nghĩa hoặc đồng sở chỉ

Ví dụ:

Tuần này, anh ấy đi vắng vài ba hôm / ngày

f) Hai câu đồng ý nghĩa toàn phát ngôn:

Ý nghĩa toàn phát ngôn = ý nghĩa biểu hiện + nghĩa logic ngôn từ

Ví dụ:

Trang 21

19

Tôi mua một cân/kilôgam gạo

g) Hai câu đồng hiệu lực tại lời:

Hai câu đồng hiệu lực tại lời khi cùng biểu thị một hành vi ngôn ngữ như thông báo, miêu tả, đề nghị,…

Bên cạnh việc trình bày những bình diện đồng nghĩa của hai phát ngôn, dựa vào tiêu chí [ phụ thuộc] vào điều kiện ngữ dụng tác giả cũng phân chia câu đồng nghĩa thành hai loại là câu đồng nghĩa ngữ dụng học (phụ thuộc vào điều kiện ngữ dụng) và câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học (không phụ thuộc vào điều kiện ngữ dụng) Trong đó, câu đồng nghĩa ngữ dụng học được phân chia làm 4 kiểu loại và câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học được phân chia làm 18 kiểu loại 4 kiểu loại câu đồng nghĩa ngữ dụng học gồm có: (1) câu đồng nghĩa bởi lối nói mang hàm ý hội thoại; (2) câu đồng nghĩa bởi lối nói có hàm ý trong câu trỏ quan hệ điều kiện – kết quả; (3) câu đồng nghĩa bởi phép thế đại từ; (4) câu đồng nghĩa câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng các danh ngữ đồng sở chỉ 18 kiểu loại câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học gồm có: (1) câu đồng nghĩa bằng phép thế bởi các

từ đồng nghĩa; (2) câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng dạng phủ định trái nghĩa; (3) câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng các từ đảo nghĩa; (4) câu đồng nghĩa bởi lối nói vòng; (5) câu đồng nghĩa bởi việc dùng các danh từ chỉ công cụ; (6) câu đồng nghĩa bởi lối nói có nghĩa bị động; (7) câu đồng nghĩa bởi lối phủ định kép; (8) câu đồng nghĩa bởi lối nói khẳng định dùng cấu trúc có từ phiếm chỉ; (9) câu đồng nghĩa bởi lối nói bác bỏ dùng cấu trúc có từ phiếm chỉ; (10) câu đồng nghĩa bởi việc dùng các động từ, tính từ có nghĩa đối xứng; (11) câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng các danh từ chỉ số lượng, các con số; (12) câu đồng nghĩa bởi phép đảo trật tự từ ra trước và sau các liên từ “và”, “hoặc”; (13) câu đồng nghĩa bởi việc dùng đại từ tương hỗ; (14) câu đồng nghĩa bởi phép danh hóa; (15) câu đồng nghĩa bởi việc tách phó động từ chỉ hướng khỏi động từ; (16) câu đồng nghĩa bởi phép thay thế các kết từ (liên từ, giới từ); (17) câu đồng nghĩa bởi phép

Trang 22

về các phương pháp biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng những phương pháp này trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

1.3 Các phương pháp biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt

Để dạy cách giao tiếp một ngoại ngữ, người học cần phải nắm vững những qui luật ngữ pháp của ngôn ngữ đó

Về mặt lý thuyết, có thể có một số lượng vô hạn các câu “Hoàn toàn rõ ràng là – Chomsky khẳng định – trí nhớ của chúng ta không đủ sức lưu giữ được thậm chí đơn giản là một số lượng quá nhiều câu Ngoài ra, chúng ta thường xuyên tạo ra và hiểu được những câu hoàn toàn mới Điều đó, theo Chomsky, chính là biểu hiện “bình diện sáng tạo” của ngôn ngữ” [62, tr 164] Cái mà mỗi người chúng ta nắm vững được khi biết một ngôn ngữ không phải là một tập hợp các câu mà là một tập hợp hay nói một cách chính xác hơn, một hệ thống qui tắc:

cơ sở của tất cả các câu có thể có là một hệ thống các qui tắc đảm bảo khả năng tạo ra và hiểu được các câu đó Ngữ pháp cải biến – tạo sinh của Chomsky chính

là lý thuyết về tri thức ngôn ngữ, lý thuyết này đã giải thích các câu được tạo sinh như thế nào Lý thuyết cải biến – tạo sinh ứng dụng vào lĩnh vực câu đồng nghĩa cho ta những phương pháp cần thiết để tạo câu, và ở đây là để tạo ra những biến thể đồng nghĩa của câu

Về phương pháp dạy tiếng, giảng dạy chính là quá trình truyền thụ cho học viên những đơn vị ngôn ngữ Có ba giai đoạn cơ bản trong phương pháp giảng dạy ngữ pháp: “Giai đoạn thứ nhất: giới thiệu ngữ liệu ngữ pháp; giai đoạn

Trang 23

21

thứ hai: luyện tập ngữ liệu mới; giai đoạn thứ ba: sử dụng ngữ liệu này trong các kiểu lời nói khác nhau” [20, tr 40] Vì thế, “Sau khi cung cấp những ngữ liệu mới để hình thành quy tắc – cấu trúc và các mẫu lời nói, giai đoạn tiếp theo là giai đoạn luyện tập của sinh viên để sử dụng các ngữ liệu mới này trong hoạt động lời nói … Quy tắc vàng đối với giảng dạy các phương thức ngữ pháp – là lĩnh hội các hình thức ngữ pháp trong quá trình sử dụng của chúng” [20, tr 44] Thêm vào đó, sử dụng mỗi hiện tượng ngữ pháp, người học cần phải đạt đến sự thành thục các kỹ năng Giảng dạy câu tiếng Việt cũng chính là quá trình hình thành cho người học kỹ năng sản sinh câu Mục đích của luận văn là giúp đối tượng học viên người nước ngoài có được khả năng diễn đạt linh hoạt cho cùng một nội dung hay chính là giúp người học có khả năng sản sinh những biến thể khác nhau từ một ngữ liệu ngôn ngữ gốc, phục vụ cho mục đích giao tiếp Vì thế, vấn đề luận văn cần giải quyết là trao cho người học chìa khóa về các phương pháp biến đổi câu thành dạng đồng nghĩa Dựa trên các phương pháp nghiên cứu

cú pháp thường gặp, dựa trên nghiên cứu về những dạng câu đồng nghĩa tiếng Việt, ứng dụng trên ngữ liệu câu đơn trần thuật tiếng Việt, luận văn đi vào miêu

tả những phương pháp cụ thể được sử dụng để biến đổi một câu thành các dạng đồng nghĩa Các phương pháp được trình bày gồm có: phương pháp thế, phương pháp cải biến, phương pháp lược, phương pháp bổ sung và phần tổng hợp các phương pháp

1.3.1 Phương pháp thế

“Thế được hiểu là thủ pháp thay một thành tố nào đó của kiến trúc bằng một thành tố khác Trong cú pháp, thủ pháp này có thể được dùng với nhiều mục đích khác nhau” [23, tr 103] Điều kiện để sử dụng phép thế là phải làm sao sau khi thế, ta vẫn nhận được một câu đúng và thuộc cùng kiểu với câu xuất phát Khi áp dụng phép thế để tạo câu đồng nghĩa thì câu nhận được phải tương đương với câu xuất phát trong mọi tình huống

Trang 24

22

1.3.1.1 Thế các từ đồng nghĩa

Từ vựng tiếng Việt là một hệ thống phong phú và đa dạng Sử dụng từ đồng nghĩa là một trong những cách diễn đạt đồng nghĩa rất phổ biến “Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu hiện những sắc thái khác nhau của cùng một khái niệm” [19, tr 104] Căn cứ vào sự đồng nhất về nghĩa sở thị (denotative) và nghĩa sở biểu (significative), người ta chia thành hai kiểu từ đồng nghĩa từ vựng là: từ đồng nghĩa hoàn toàn và từ đồng nghĩa bộ phận

Phép thế bằng các từ đồng nghĩa hoàn toàn sẽ tạo ra các cặp câu có cùng ý

nghĩa Ví dụ: Nhà Lan cách trường 3km/cây Việc sử dụng phép thế này khá đơn

giản và hiệu quả đối với người học, ít có khả năng nhầm lẫn và mắc lỗi sai khi phát ngôn

Không như các từ đồng nghĩa hoàn toàn, các từ đồng nghĩa bộ phận ít nhiều có sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa, biểu cảm Chúng sẽ tạo ra các câu đồng nghĩa trên bình diện đồng sở chỉ, cùng chỉ một sự tình, đồng nghĩa cấu trúc tham tố, giống nhau về mặt nghĩa logic ngôn từ nhưng khác nhau về nghĩa biểu hiện Việc sử dụng được phép thế này là một yêu cầu phức tạp với người học, nhưng nó lại đem lại cho người học nhiều kiến thức bổ ích về mặt từ vựng, giúp người học có thể phân biệt các hoàn cảnh sử dụng khác nhau của từ

Ví dụ: Người học có thể thay thế hai từ “sửa” và “chữa” cho nhau trong

câu “Bố tôi sửa/chữa xe máy.” vì chúng có chung nét nghĩa “làm cho không còn

những chỗ hư hỏng”, và đấy là hai phát ngôn đồng nghĩa Nhưng, người học sẽ

mắc phải lỗi sai khi nói “Đội lính cứu hỏa đang sửa cháy.” (câu đúng là “Đội lính cứu hỏa đang chữa cháy.” ) nếu không nắm rõ đầy đủ các nét nghĩa của hai

từ này, vì từ “sửa” không có nét nghĩa “ làm cho hết …tai họa để trở lại hoặc trở thành bình thường” nên không thể thay thế từ “chữa” trong trường hợp này

Trang 25

23

Sự phong phú của hệ thống từ vựng tiếng Việt không chỉ ở tính đồng nghĩa của các từ mà còn ở tính đa nghĩa của từ “Từ đa nghĩa là từ cùng một vỏ ngữ âm liên hệ với nhiều ý nghĩa khác nhau” [19, tr 96] Mỗi từ có thể có nhiều

ý nghĩa khác nhau Mỗi lần sử dụng, chỉ một trong những ý nghĩa của nó được hiện thực hóa Mỗi từ đa nghĩa, ở nét nghĩa này hay nét nghĩa khác có thể tham gia vào một số nhóm từ đồng nghĩa khác nhau Do đó từ đa nghĩa cũng có thể tham gia vào các phép chuyển đổi đồng nghĩa Ví dụ: Từ “cao”(t) là một từ đa

nghĩa Trong câu “Chất lượng hàng hóa của cửa hàng rất cao.”, nó có nghĩa “hơn

hẳn mức trung bình về chất lượng…” Từ này có thể được thay thế bằng từ

“tốt”(t) cũng có nghĩa “có phẩm chất, chất lượng cao hơn mức bình thường.” Vì

thế, câu trên có thể thay đổi thành “Chất lượng hàng hóa của cửa hàng rất tốt.”

mà vẫn giữ được nghĩa thông báo của phát ngôn Nhưng, với nghĩa “có những biểu hiện đáng quý về tư cách, đạo đức, hành vi, quan hệ, được mọi người đánh

giá cao” của từ “tốt”(t) trong các kết hợp “tính tốt, người bạn tốt, đối xử tốt với

mọi người,…” thì từ “cao”(t), vì không có ý nghĩa tương tự nên không thể thay thế được

Để sử dụng được thủ pháp thế này, người học cần có kiến thức sâu rộng

về bản chất nghĩa của các từ, vì người học phải nhận biết được các từ đa nghĩa

và nắm vững được các ý nghĩa khác nhau của chúng để thay thế cho phù hợp và chính xác

Mặc dù vậy, không giống như dạng đồng nghĩa hoàn toàn, những trường hợp trên, nói là từ đồng nghĩa, song, ở một góc độ nào đó, các từ có thể thay thế cho nhau vẫn có sự khác nhau ít nhiều về sắc thái ý nghĩa Tuy nhiên, trong thực

tế nói năng, người bản ngữ vẫn chấp nhận những cách nói này là đồng nghĩa

Trang 26

24

1.3.1.2 Thế bằng dạng phủ định trái nghĩa

Nếu sử dụng các từ đồng nghĩa giúp người học hiểu sâu hơn về nội dung nghĩa của một từ, các hoàn cảnh sử dụng của từ thì dùng các từ trái nghĩa trong phép biến đổi đồng nghĩa có tác dụng tích cực giúp người học mở rộng vốn từ của mình

“Từ trái nghĩa là một trong những biện pháp tổ chức từ vựng theo sự đối lập Có thể định nghĩa từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập về

ý nghĩa, biểu hiện các khái niệm tương phản về logic nhưng tương liên lẫn nhau” [19, tr 104] Có hai kiểu đối lập trong từ trái nghĩa: sự đối lập về mức độ của các thuộc tính, phẩm chất của hiện tượng ( nhiều – ít, thấp – cao, lớn – bé,…); sự đối lập loại trừ nhau ( giàu – nghèo, mua – bán, vào – ra,…)

Nhưng, thay thế các từ trái nghĩa như ở phần thay thế các từ đồng nghĩa thì không thể tạo thành một phát ngôn đồng nghĩa Tuy nhiên, nếu thêm các phủ định từ vào phía trước (với các cặp trái nghĩa có ý nghĩa đối lập loại trừ) hay từ đảo nghĩa vào phía sau (với các từ trái nghĩa theo mức độ) hay dựa vào điểm nhìn trong không gian (với các từ trái nghĩa chỉ phương hướng) thì trong các trường hợp cụ thể ta có thể có các phát ngôn đồng nghĩa

Với các cặp từ trái nghĩa có ý nghĩa đối lập loại trừ, giữa hai từ trái nghĩa chỉ hai cực không có từ chỉ mức độ trung bình hay trung hòa Các cặp từ trái nghĩa đối lập loại trừ có cơ cấu nghĩa giống hệt nhau nhưng một trong hai từ có chứa một hoặc một vài thành tố nghĩa phủ định “không” Theo logic, nếu từ A có nghĩa là “a” thì từ B trái nghĩa với nó sẽ có nghĩa là “không a”, [A = a; B = không a] Ví dụ: “Ồn ào” (t) là “Có nhiều âm thanh, tiếng động lẫn lộn, làm cho khó nghe, khó chịu”, “Yên tĩnh” (t) là “Không có nhiều âm thanh, tiếng động lẫn lộn làm cho khó nghe, khó chịu” Nói cách khác, việc phủ định từ này cũng có nghĩa là khẳng định từ kia và ngược lại Nắm được từ trái nghĩa của một từ thì

Trang 27

25

việc thực hiện phép thế, biến đổi một phát ngôn này thành một phát ngôn khác trở nên đơn giản Người học chỉ cần thêm phủ định từ “không” vào trước từ thay thế trong phát ngôn thứ hai thì sẽ tạo ra một phát ngôn đồng nghĩa Người học có thể vận dụng công thức sau: [không A = B; không B = A]

Áp dụng vào ví dụ, chúng ta có thể thực hiện phép thế, biến đổi thành câu đồng nghĩa:

Ở đây ồn ào Ở đây không yên tĩnh

Tuy nhiên, dù biến đổi để trở thành hai câu đồng nghĩa, nhưng tiêu điểm nhấn mạnh của hai câu là khác nhau, một câu quan tâm đến chuyện ồn ào hay không ồn ào và một câu quan tâm đến chuyện yên tĩnh hay không yên tĩnh Ưu điểm ở đây là người học có thể lựa chọn lối nói nào tùy vào dụng ý của mình

Các từ trái nghĩa theo mức độ hầu hết là các tính từ chỉ kích thước, số lượng, cường độ, đại lượng Giữa hai từ trái nghĩa chỉ hai cực có một từ chỉ mức trung bình và chúng đối xứng nhau qua từ chỉ mức trung bình đó Ví dụ: đẹp – bình thường – xấu, nhiều – bình thường – ít,… Với các trường hợp trái nghĩa này, công thức thêm phủ định từ “không” như trên không còn mang tính phổ quát nữa mà lại có khả năng tạo ra những biến thể không đồng nghĩa

Ví dụ: Từ điển Tiếng Việt định nghĩa từ “xấu”(t) là “có hình thức, vẻ bề ngoài khó coi, gây cảm giác khó chịu, làm cho không muốn nhìn ngắm; trái với

đẹp” [57, tr 1144] (“đẹp”(t): có hình thức hoặc phẩm chất đem lại sự hứng thú

đặc biệt, làm cho người ta thích nhìn ngắm hoặc kính phục [57, tr 306].) Trong thực tế nói năng, chúng ta có thể nói “Cô ấy xấu  Cô ấy không đẹp.” (hoặc có thể “ Cô ấy bình thường.”), nhưng nếu “Cô ấy đẹp.” thì khó có thể nói lại là

“Cô ấy không xấu.” Xét về cơ cấu nghĩa, nếu từ “xấu” chỉ cực âm thì từ “đẹp” chỉ cực dương, đối xứng nhau qua một giá trị trung bình (bình thường/không đẹp, không xấu) Nếu gọi chung các từ chỉ cực dương là A, các từ chỉ cực âm

Trang 28

26

trong cặp đối lập là B thì từ B là các tính từ có giới hạn mang tính chất phức tạp hơn về nghĩa Khi đó, phủ định vế này không nhất thiết là khẳng định vế kia, nếu phủ định vế A thì ta được một giá trị tương đương với giá trị của B: [không A ≥ B] (không đẹp  xấu), nhưng phủ định B thì lại được một giá trị thấp hơn giá trị của A: [không B < A] (không xấu < đẹp ) và thường là một giá trị trung bình, khái niệm “trung bình” này thường được gọi với các tên khác nhau là “bình thường”, “vừa”, hoặc dùng kết cấu cú pháp “không A không B”; [không B bình thường], (không xấu  bình thường/không đẹp không xấu)

Chúng ta có công thức sau: [không A  B]; [không B  bình thường]; [bình thường = không A không B]

Áp dụng công thức trên người học có thể thực hiện phép thế, biến đổi thành câu đồng nghĩa trong ví dụ cụ thể sau:

Giá cái áo này không rẻ Giá cái áo này đắt

Giá cái áo này không đắt Giá cái áo này trung bình/bình thường/vừa/

phải chăng

Giá cái áo này không đắt không rẻ = Giá cái áo này bình thường/

phải chăng

Có một số cặp từ trái nghĩa, đối lập nhau qua một giá trị trung bình, nhưng

ở một vài tình huống thực tế sử dụng thì phép phủ định hai cực lại cho ta chính giá trị trung bình đó

Ví dụ: “nóng – lạnh” là một cặp từ tính từ chỉ nhiệt độ đối lập theo mức

độ, khi muốn nói “không nóng không lạnh”, tùy ngữ cảnh người ta dùng “ấm” hoặc “mát”

Trang 29

27

Nói về thời tiết mùa hè thì người ta dùng cặp “nóng – mát”:

Hôm nay mát Hôm nay không nóng

Nói về thời tiết mùa đông thì người ta lại dùng cặp “ấm – lạnh”:

Hôm nay ấm Hôm nay không lạnh

Chúng ta cũng có thể biến đổi câu đồng nghĩa tương tự với các cặp “ẩm – nồm”, “nóng – nguội”, …

Xét về bình diện đồng nghĩa, các cặp câu trên có các danh ngữ đồng sử chỉ và đồng nghĩa logic ngôn từ, cùng diễn đạt một phán đoán Nhưng, ý nghĩa biểu hiện của các cặp câu là khác nhau, một vế mang tình thái khẳng định, một

vế mang tình thái phủ định và tiêu điểm nhấn mạnh của hai câu cũng có sự khác nhau Sử dụng phép thế này giúp người học luyện tập những cách diễn đạt khác nhau, mặt khác, nó cũng cho phép người học chọn cho mình một lối diễn đạt phù hợp với mục đích mình muốn nhấn mạnh

Trên đây là cách biến đổi đồng nghĩa sử dụng phép thế bằng dạng phủ định trái nghĩa Khi cả người nói và người nghe không cố tình chú ý vào một cực nào trong cặp từ đối lập thì người học có thể áp dụng những công thức trên vào thực tế nói năng để tạo lập những phát ngôn tương đương Cũng có trường hợp người học dùng được cả hai phát ngôn, phát ngôn gốc và phát ngôn đồng nghĩa khi muốn giải thích cho thật rõ nghĩa (Ví dụ: học sinh giải thích về việc mình không đi học muộn có thể nói “Em không đến lớp muộn Em đến lớp đúng giờ.”)

Tuy nhiên, người học cần chú ý tới những trường hợp không thể thay thế bằng dạng phủ định trái nghĩa đối với câu đơn như sau: Từ chỉ cực dương làm tên gọi đại diện cho cả thang độ (chức năng siêu ngôn ngữ); phần muốn thay thế làm định ngữ định tính; phần muốn thay thế làm bổ ngữ chỉ mục đích; hoặc khi

Trang 30

28

đưa ra một thông tin; khi nói một câu so sánh và các trường hợp là thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, cụm từ cố định cũng không nên thay thế bằng dạng phủ định trái nghĩa

1.3.1.3 Thế các từ trái nghĩa chỉ phương hướng dựa vào điểm mốc, điểm nhìn trong không gian

Các từ trái nghĩa chỉ phương hướng là các từ: ra – vào, lên – xuống, Các

từ trái nghĩa chỉ phương hướng được dùng làm phương tiện diễn đạt đồng nghĩa trong hai trường hợp: dựa vào hướng của vận động và dựa vào điểm mốc/điểm nhìn trong không gian Đối với tiếng Việt, trường hợp dựa vào điểm mốc/điểm nhìn trong không gian, tùy vào vị trí của người nói mà có thể chọn các lối nói khác nhau mà nghĩa vẫn giống nhau

Ví dụ:

Cô giáo để quyển sách lên bàn

Cô giáo để quyển sách xuống bàn

Sự khác nhau về điểm nhìn làm nên sự khác nhau về nghĩa biểu hiện của các cặp câu, nhưng chúng vẫn đồng nghĩa trên bình diện cấu trúc tham tố và cùng chỉ một sự tình

1.3.1.4 Thế bằng lối nói vòng

“Nói vòng là lối nói sử dụng các cụm từ có tính chất miêu tả, giải thích, thay thế cho các danh từ, động từ gốc Giữa cụm từ nói vòng và các danh từ, động từ gốc có quan hệ phái sinh ngữ nghĩa hoặc một quan hệ ngữ nghĩa nào đó

mà ta có thể suy diễn ra được” [12, tr 131]

“ Qui tắc nói vòng chiếm một vị trí riêng biệt trong hệ đối vị cú pháp Các qui tắc này chỉ ra rằng có thể biến đổi câu mà vẫn bảo tồn nghĩa của nó như

Trang 31

29

thế nào Các qui tắc nói vòng có thể được nghiên cứu ở hai bình diện: như các qui tắc chuyển đổi từ cùng một nghĩa tới những cấu trúc cú pháp khác nhau và như những biến đổi qua lại từ câu này sang câu khác mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa Bình diện thứ nhất quan trọng đối với việc sản sinh lời nói, bình diện thứ hai cần cho việc xác lập các mối quan hệ thuần túy trong hệ thống” [62, tr 160]

Do danh từ gốc có quan hệ phái sinh ngữ nghĩa với vị từ trong cụm nói vòng cho nên người ta có thể suy ra được danh từ gốc là từ nào và nhờ vậy mà xác định đúng sở chỉ của cụm nói vòng Có những trường hợp muốn hiểu được những cụm từ thay thế phải đặt chúng trong ngữ cảnh cụ thể Cũng có trường hợp, người ta không cần dựa vào ngữ cảnh mà vẫn hiểu được ý nghĩa của cụm từ thay thế Đây là những cụm từ giải thích phổ biến, được chấp nhận trong cộng đồng nói năng, ai cũng hiểu được và dễ dàng qui chiếu nó với từ gốc

Sử dụng lối nói vòng này để thay thế một từ trong phát ngôn, tạo thành câu đồng nghĩa chính là cách sử dụng phương pháp thế để biến đổi đồng nghĩa Các câu đồng nghĩa được tạo thành chính là những câu đồng sở chỉ

Trong tiếng Việt có những lối nói vòng sau đây:

- Nói vòng thay cho danh từ gốc chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc:

Ví dụ: Cụ ông thân sinh ra tôi quê gốc ở Nam Định

Bố tôi quê gốc ở Nam Định

(Cụ ông thân sinh ra tôi = Bố tôi)

- Nói vòng thay cho tên riêng:

Trang 32

30

Ví dụ: Học sinh muốn gặp cô giáo của Lee Myoung Kun (tên là Hương),

nhưng vì không biết tên thì có thể nói: “Em muốn gặp cô giáo của bạn Lee Myoung Kun.” (cô giáo của bạn Lee Myoung Kun = cô Hương )

- Nói vòng thay cho “Tôi” – người nói:

Ví dụ: Trong thư của một sinh viên nước ngoài gửi cô giáo có viết: “Em

sẽ nghe lời cô làm việc chăm chỉ Học sinh lười của cô luôn nhớ đến cô.” (học

sinh lười của cô = tôi)

- Nói vòng thay cho các danh từ chỉ đối tượng:

Ví dụ: Anh ấy là một cây viết nổi tiếng (cây viết = nhà văn)

- Nói vòng thay cho các danh từ chỉ địa điểm, nơi chốn:

Ví dụ: Ai đi xa cũng nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình (nơi chôn

nhau cắt rốn = quê hương)

- Nói vòng thay cho danh từ chỉ địa danh:

Ví dụ: Chúng tôi đến từ đất nước mặt trời mọc (đất nước mặt trời mọc =

Nhật Bản)

- Nói vòng thay cho danh từ chỉ nghề nghiệp:

Ví dụ: Sau khi tốt nghiệp, anh ấy về làng làm nghề gõ đầu trẻ (nghề gõ

đầu trẻ = giáo viên)

- Nói vòng thay cho động từ gốc:

Ví dụ: Con người, ai cũng phải trở về với đất (trở về với đất = chết)

Trang 33

31

1.3.1.5 Thế các từ chỉ số lượng đi cùng danh từ đơn vị

Từ chỉ số lượng là các từ như: một, hai, ba, bốn,…Các chữ số như: 1,2,3,4,…Các danh từ chỉ đơn vị là các danh từ dùng để đo lường về chiều dài: mét, centimét,…; thời gian: giờ, phút, giây,…; khối lượng, trọng lượng: tấn, tạ, yến,…

Một đơn vị đo lường này có thể qui đổi thành đơn vị đo lường khác theo những giá trị chênh lệch đã được qui định Ví dụ: Người Việt Nam khi đi chợ có

thể nói: “Tôi muốn mua 1 cân thịt.”, hoặc “Tôi muốn mua 10 lạng thịt.”, vì 1 cân

= 10 lạng Dựa trên những giá trị bằng nhau về mặt toán học này, chúng ta có thể thay thế vị trí của các từ chỉ số lượng và các danh từ chỉ đơn vị trong câu Phụ thuộc vào giá trị chênh lệch, chúng ta sẽ thực hiện phép thế cho cả từ chỉ số lượng và danh từ chỉ đơn vị

Với các danh từ đơn vị đo độ dài, chúng ta có các giá trị tương đương như: 1km/cây = 1000 m;1 m = 100 cm; … Với các danh từ đơn vị đo thời gian, chúng ta có các giá trị tương đương như: 1 tuần = 7 ngày; 1 ngày = 24 giờ; 1 giờ

= 60 phút;… Với các danh từ đơn vị đo khối lượng, trọng lượng, chúng ta có các giá trị tương đương như: 1 tạ = 10 yến = 100 kg; 1l = 1000 ml;…

Ví dụ: Các vận động viên chạy 2km vòng quanh hồ Gươm  Các vận

động viên chạy 2000m vòng quanh hồ Gươm

Sắp tới, lớp chúng ta sẽ nghỉ Tết nửa tháng  Sắp tới, lớp chúng

ta sẽ nghỉ Tết 2 tuần

Cô ấy mua nửa yến gạo Cô ấy mua 5kg gạo

Sử dụng phép thế các từ chỉ số lượng đi cùng các danh từ chỉ đơn vị là cách tạo nên các câu đồng nghĩa đồng sở chỉ, cùng chỉ một sự tình Người học

Trang 34

32

cũng nhờ thế mà làm quen với những đơn vị đo lường được dùng thông dụng trong tiếng Việt

1.3.1.6 Thế các từ chỉ thời gian

Với một câu, muốn xác định thời gian trong phát ngôn người ta thường

dựa vào các danh từ chỉ thời gian như: hôm qua, hôm nay, bây giờ, …hoặc dựa vào các phó từ chỉ thời gian như: đã, đang, sẽ, vừa mới, rồi,… Một số từ trong

nhóm này có ý nghĩa giống nhau, cùng qui chiếu một khoảng thời gian xác định

và vì thế chúng có thể thay thế cho nhau để tạo nên những phát ngôn đồng nghĩa, đồng sở chỉ

Trong các giáo trình dạy tiếng, cùng chỉ thời gian hiện tại, chúng ta có các

từ “bây giờ, giờ” có thể thay thế cho nhau trong câu Ví dụ: Bây giờ/giờ chúng ta

bắt đầu bài 1

Cùng chỉ thời gian tương lai, xác định một hành động sẽ diễn ra liền sau thời điểm nói chúng ta có các từ “ngay/ngay bây giờ/ngay lập tức” Ví dụ: Anh

ra khỏi đây ngay/ngay bây giờ/ngay lập tức

Cùng chỉ thời gian quá khứ, xác định một hành động diễn ra gần thời

điểm nói, chúng ta có các từ “vừa/mới/vừa mới” Ví dụ: Anh ấy vừa/mới/vừa mới đi du lịch Hàn Quốc về

1.3.1.7 Thế các kết từ

Trong câu tiếng Việt, các kết từ có nghĩa tương đương có thể thay thế cho

nhau tạo nên các cấu trúc đồng nghĩa

Một số kết từ, liên từ có ý nghĩa tương đương đã được đưa vào giáo trình dạy tiếng Việt như: đến mức/ đến nỗi; cùng/ với; kẻo/nếu không thì; …

Trang 35

33

Ví dụ: Anh ấy say đến mức/đến nỗi không thể về nhà

Ngoài các kết từ còn có những cấu trúc cùng biểu thị một ý nghĩa, có thể

sử dụng để thay thế cho nhau, như: [và] / [vừa … vừa]; [càng … càng] / [mỗi lúc một]; [không chỉ … mà còn] / [không những … mà còn]; [cả … lẫn] / [cả … và] / [cả … cả]; [cứ … là] / [hễ … là]; … khi thay thế cho nhau, chúng sẽ tạo nên các cặp câu đồng nghĩa đồng cấu trúc tham tố

Ví dụ: Cặp [không những … mà còn], [đã … lại …(nữa)], [đã … hơn nữa lại] cùng biểu thị ý nghĩa tăng cường, thêm một điều quan trọng bổ sung cho điều vừa nói

Cô ấy không những đẹp mà còn thông minh

Cô ấy đã thông minh lại đẹp nữa

Cô ấy đã thông minh hơn nữa lại đẹp

1.3.2 Phương pháp cải biến

Cải biến là phương pháp quan trọng nhất của cú pháp học Phương pháp cải biến được hiểu là “ bất kỳ một sự chuyển đổi nào từ kiến trúc này sang kiến trúc khác theo một qui tắc nhất định với điều kiện là quan hệ ngữ nghĩa giữa các thực từ tham gia sự chuyển đổi đó, về cơ bản, được bảo tồn” [61, tr 245]

Trong ngữ pháp tạo sinh, các quy tắc viết lại tạo ra biểu đồ ngữ đoạn của một câu cơ sở Phép cải biến tác động trên biểu đồ ngữ đoạn của một câu để đi tới biểu đồ ngữ đoạn của một câu khác, hay nó tác động vào một cấu trúc này để biến đổi thành một cấu trúc khác “Đó là sự chuyển có tính qui tắc cấu trúc hình thức của câu, với điều kiện là các vai nghĩa của các thành tố cú pháp tham gia cải biến vẫn được bảo tồn” [23, tr 96]

Trang 36

34

Cải biến thường kéo theo các yêu cầu thêm bớt các thành tố, đặc biệt là các thành tố hư từ Việc thêm và bớt các thành tố là một phần của phương pháp cải biến, thuận theo đòi hỏi của kiến trúc mà người nghiên cứu thu được sau phép cải biến

Phương pháp cải biến áp dụng để biến đổi đồng nghĩa các câu đơn trần thuật tiếng Việt được hiện thực hóa thông qua phép đảo trật tự đề - thuyết hoặc thay đổi vị trí, chức năng của các từ trong câu Phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể sau đây

1.3.2.1 Cải biến sử dụng các từ đảo nghĩa

Các cặp từ đảo nghĩa không phân làm hai cực đối lập như các cặp từ trái nghĩa, không có thành tố nghĩa phủ định “không” ở một trong hai vế như các cặp

từ trái nghĩa loại trừ, không có các thành tố nghĩa “lớn hơn, nhỏ hơn” trong cơ cấu nghĩa như các cặp từ trái nghĩa theo thang độ “Nếu một vị từ miêu tả một mối quan hệ giữa hai vật/người theo một trật tự là A – B còn vị từ kia miêu tả quan hệ đó theo một trật tự ngược lại là B – A thì hai từ đó là hai từ có quan hệ đảo nghĩa (ngược nghĩa) với nhau” [60, tr 116]

Xét 2 ví dụ sau:

a Bà Lan mua táo của bà Hoa

b Bà Hoa bán táo cho bà Lan

Cặp từ “mua - bán” đều đóng vai trò vị từ trong hai ví dụ trên Về cơ cấu nghĩa, “Mua”(đg): đổi tiền lấy vật (thường là hàng hóa) [65, tr 647]; “Bán” (đg): đổi vật (thường là hàng hóa) lấy tiền [65, tr 31] Hai từ này là một cặp từ đảo nghĩa, chúng miêu tả quan hệ mua – bán theo hai trật tự ngược chiều nhau

Trang 37

35

Về vai nghĩa, ở hai câu vị trí của tác thể và tiếp thể được đổi cho nhau Ở câu (a), tác thể là “bà Lan” trở thành tiếp thể ở câu (b), và tác thể “bà Hoa” ở câu (b) lại là tặng cách ở câu (a)

a Bà Lan mua táo của bà Hoa

[agent] [v] [objective] [dative]

[tác thể] [vị từ][đối thể] [tặng cách]

b Bà Hoa bán táo cho bà Lan

[agent] [v] [objective] [recipient]

[tác thể] [vị từ] [đối thể] [tiếp thể]

Khi thay đổi vị từ và các vai nghĩa được đảo ngược thì giới từ đi cùng vị

từ cũng được thay đổi theo: “mua (cái gì) của (ai)”  “bán (cái gì) cho (ai)”

Xét về cấu trúc đề - thuyết, việc đảo vai nghĩa cũng chính là đảo cấu trúc

Như vậy, khi sử dụng các cặp từ đảo nghĩa để tạo câu đồng nghĩa, chúng

ta thực hiện phép đảo cấu trúc đề - thuyết, theo đó, các vai nghĩa phải đảo vị trí cho nhau và giới từ đi kèm vị từ cũng phải thay đổi cho phù hợp

Trang 38

36

Trên đây là ví dụ về câu đồng nghĩa do việc dùng động từ đảo nghĩa Phép đảo cấu trúc đề - thuyết và thế bằng từ đảo nghĩa còn được áp dụng với nhiều loại khác nhau như: Câu đồng nghĩa tạo ra do việc dùng các từ đảo nghĩa chỉ phương hướng và vị trí; câu đồng nghĩa tạo ra do việc dùng các từ đảo nghĩa chỉ thời gian; câu đồng nghĩa tạo ra do việc dùng các danh từ đảo nghĩa

Vì các câu đồng nghĩa được tạo ra bởi phép đảo cấu trúc đề - thuyết, các vai nghĩa hoán đổi cho nhau nên nghĩa cấu trúc tham tố và nghĩa biểu hiện của hai câu là khác nhau Phần đề của hai câu khác nhau, nội dung nhận định khác nhau nên nghĩa logic ngôn từ của hai câu khác nhau Nghĩa toàn phát ngôn của chúng cũng không giống nhau Những câu này chỉ đồng nghĩa trên bình diện đồng sở chỉ

Áp dụng phép thế này trong thực tế nói năng giúp người học mở rộng vốn

từ và rèn luyện những cách diễn đạt linh hoạt hơn

1.3.2.2 Cải biến sử dụng lối nói bị động

Phương pháp cải biến được nhắc nhiều nhất trong cú pháp học là cải biến

bị động, biến câu chủ động thành câu bị động Phương pháp cải biến này chỉ áp dụng cho câu chủ động ban đầu với động từ ngoại động Trong tiếng Việt, vấn

đề có hay không có câu bị động vẫn là vấn đề gây tranh cãi Đối với những người chấp nhận có câu bị động trong tiếng Việt, phương pháp cải biến để chuyển từ câu chủ động sang câu bị động là như sau: chuyển danh ngữ làm bổ ngữ (của câu chủ động) lên đầu câu, chuyển danh ngữ làm chủ ngữ (của câu chủ

động) về cuối câu, trở thành thành tố của giới ngữ được dẫn xuất bằng bởi, thêm được hoặc bị trước động từ vị ngữ Một biến thể khác của phương pháp cải biến

bị động trong tiếng Việt là trong câu bị động, danh ngữ làm chủ ngữ trong câu

chủ động ban đầu có thể được đặt trước động từ và sau các từ được, bị

Trang 39

37

Áp dụng phép cải biến bị động vào một câu khẳng định, chủ động, như câu 1, chúng ta sẽ được một câu bị động, như câu 2:

(1) Nhà trường khen thưởng học sinh

(2) Học sinh được nhà trường khen thưởng

Phân tích theo cấu trúc đề - thuyết, chúng ta có:

(1) Nhà trường /khen thưởng học sinh

là “nhà trường” thực hiện Trật tự của câu 2 là: đối tượng tiếp nhận hành động – (được) - hành động – chủ thể hành động

Trang 40

38

Sự hoán đổi trong ví dụ trên là sự cụ thể hóa mô hình biến đổi của phép cải biến bị động Từ một câu khẳng định, chủ động, người học có thể biến đổi thành một câu khẳng định mang ý nghĩa bị động, đồng cấu trúc tham tố bằng cách kết hợp các từ biểu thị ý nghĩa bị động với các động từ biểu thị hoạt động

và thay đổi cấu trúc đề - thuyết của câu Những từ mang ý nghĩa bị động phổ biến nhất là “bị”, “được”; ngoài ra trong một số kết cấu cú pháp gồm có danh từ biểu thị đối tượng và động từ biểu thị hoạt động đặt theo trật tự OV, người học

có thể sử dụng các từ như “do”, “của”,…

Người học có thể sử dụng phương pháp biến đổi này khi muốn người nghe tập trung vào nội dung thông báo được nhấn mạnh Khi thay đổi chủ đề của một câu nói thì trọng tâm thông báo cũng được thay đổi Biến đổi câu mang ý nghĩa chủ động thành bị động, người nói có thể muốn nhấn mạnh ý nghĩa bị động của hành động hoặc nhấn mạnh đối tượng tiếp nhận, đối tượng chịu ảnh hưởng từ hành động của một chủ thể hành động nào đó Người học từ đó có thể tìm cho mình cách diễn đạt phù hợp với mong muốn, đồng thời giúp người nghe

có thể tiếp nhận thông tin một cách chính xác nhất, tăng hiệu lực giao tiếp

1.3.2.3 Cải biến sử dụng cách danh hóa

Phương pháp cải biến này cũng cho chúng ta những phát ngôn đồng nghĩa

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ Pháp tiếng Việt, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
2. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ Pháp tiếng Việt, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
3. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt – Phần câu, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
4. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
5. Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
6. Đinh Kiều Châu (2005), Bài giảng môn “Giáo dục ngôn ngữ” (tại lớp K47 Ngôn ngữ CLC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn “Giáo dục ngôn ngữ”
Tác giả: Đinh Kiều Châu
Năm: 2005
7. Nguyễn Hữu Chinh (2003), Văn hoá với việc dạy – học ngoại ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ số 3, tr. 73-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá với việc dạy – học ngoại ngữ
Tác giả: Nguyễn Hữu Chinh
Năm: 2003
8. Nguyễn Văn Chính (2001), Đôi điều suy nghĩ về các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Ngữ học trẻ 2001, tr. 200-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Năm: 2001
10. Mai Ngọc Chừ (2002), Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ số 5, tr. 65-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2002
11. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
12. Nguyễn Hữu Chương (1999), Một số vấn đề về câu đẳng nghĩa (đồng nghĩa tiếng Việt) (so sánh với tiếng Anh), Luận án tiến sĩ Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về câu đẳng nghĩa (đồng nghĩa tiếng Việt) (so sánh với tiếng Anh)
Tác giả: Nguyễn Hữu Chương
Năm: 1999
13. Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên (2004), Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ, số 7/2004, tr. 1- 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên
Năm: 2004
14. Nguyễn Đức Dân (2005), Nhập môn logic hình thức và logic phi hình thức, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn logic hình thức và logic phi hình thức
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
15. Nguyễn Cao Đàm (2003), Ngữ pháp tiếng Việt (mô hình câu và các biến thể), Bài giảng tại lớp cao học khóa 2006 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (mô hình câu và các biến thể)
Tác giả: Nguyễn Cao Đàm
Năm: 2003
19. Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết (2002), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
20. Nguyễn Chí Hòa (2008), Nội dung và phương pháp dạy giảng dạy ngữ pháp Tiếng Việt thực hành, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung và phương pháp dạy giảng dạy ngữ pháp Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
21. Nguyễn Chí Hòa (2010), Nội dung và phương pháp giảng dạy từ vựng tiếng Việt thực hành, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung và phương pháp giảng dạy từ vựng tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
23. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cú pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
24. Đinh Thanh Huệ (1997), Tiếng Việt thực hành dùng cho người nước ngoài, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành dùng cho người nước ngoài
Tác giả: Đinh Thanh Huệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
26. Nguyễn Văn Huệ (2003), Giáo trình Tiếng Việt – VSL, tập 1, NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt – VSL, tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Huệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.1.1. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế các  từ đồng nghĩa - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.1.1. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ đồng nghĩa (Trang 54)
Bảng 2.2.1.2. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế bằng  dạng phủ định trái nghĩa - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.1.2. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế bằng dạng phủ định trái nghĩa (Trang 54)
Bảng 2.2.1.6. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế các  từ chỉ thời gian - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.1.6. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ chỉ thời gian (Trang 56)
Bảng 2.2.2.1. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến  sử dụng các từ đảo nghĩa - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.2.1. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến sử dụng các từ đảo nghĩa (Trang 57)
Bảng 2.2.2.2. Bài tập ứng dụng phương pháp cải biến sử dụng lối nói  có nghĩa bị động - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.2.2. Bài tập ứng dụng phương pháp cải biến sử dụng lối nói có nghĩa bị động (Trang 57)
Bảng 2.2.2.4. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến  bằng cách thay đổi vị trí cụm [giới từ chỉ phương tiện + danh từ] - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.2.4. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến bằng cách thay đổi vị trí cụm [giới từ chỉ phương tiện + danh từ] (Trang 58)
Bảng 2.2.2.3. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến  sử dụng cách danh hóa - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.2.3. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến sử dụng cách danh hóa (Trang 58)
Bảng 2.2.2.5. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến  sử dụng các vị từ có nghĩa đối xứng - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.2.5. Kết quả khảo sát bài tập ứng dụng phương pháp cải biến sử dụng các vị từ có nghĩa đối xứng (Trang 59)
Bảng 2.2.5.1. Kết quả khảo sát dạng bài tập tổng hợp  Khảo sát trên học viên trình độ B, C - Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài
Bảng 2.2.5.1. Kết quả khảo sát dạng bài tập tổng hợp Khảo sát trên học viên trình độ B, C (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w