1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong trong tiếng Việt

109 883 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, có thể tìm ra được quy tắc ngữ nghĩa, chỉ ra được sự giống nhau cũng như sự khác biệt của mỗi từ trong cùng một nhóm đồng nghĩa chỉ hành động nói năng; cách sử dụng các từ ngữ ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ THƯƠNG

KẾT CẤU NGHĨA CỦA NHÓM TỪ CHỈ HÀNH ĐỘNG NÓI NĂNG SPEAK, SAY, TELL, TALK TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG

ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ THƯƠNG

KẾT CẤU NGHĨA CỦA NHÓM TỪ CHỈ HÀNH ĐỘNG NÓI NĂNG SPEAK, SAY, TELL, TALK TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG

ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Thiện Giáp

Hà Nội-2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Ngôn ngữ học Khóa QH-2008-X, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về ngôn ngữ làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Nguyễn Thiện Giáp đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn còn gặp nhiều khó khăn khách quan cũng nhủ chủ quan nhưng Thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt

nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn không tránh được những thiếu xót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô

và các anh chị học viên

Hà Nội, tháng 3 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Thương

Trang 4

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Phương pháp miêu tả 3

5.2 Phương pháp phân tích nghĩa tố 4

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu 4

5.4 Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học 4

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí thuyết chung về hành động nói năng 7

1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về hành động nói năng 7

1.1.1 Tiếng Anh: 8

1.1.2 Tiếng Việt: 10

1.2 Khái niệm hành động nói năng 11

1.2.1 Tiếng Anh: 11

1.2.2 Tiếng Việt 12

1.2.3 Quan niệm của tác giả luận văn 12

1.3 Lí thuyết trường nghĩa: 12

1.3.1 Quan niệm thế giới 13

1.3.2 Quan niệm Việt Nam 16

1.3.2.1 Đỗ Hữu Châu 16

1.3.2.2 Nguyễn Thiện Giáp 17

1.3.3.3 Quan niệm của tác giả luận văn 18

1.3.3.3.1 Trường nghĩa 18

1.3.3.3.2 Trường từ vựng 18

1.4 Phân tích nghĩa của từ 18

1.4.1 Cơ cấu nghĩa của từ 18

1.4.2 Phương pháp phân tích trường nghĩa 19

1.4.2.1Phương pháp phân tích nghĩa tố 19

1.4.2.1.1 Định nghĩa phương pháp phân tích nghĩa tố 19

1.4.2.1.2 Cách xác định nghĩa tố trong ngôn ngữ học 21

1.4.2.1.3 Cách xác định nghĩa tố trong luận văn 21

1.4.2.2 Phương pháp miêu tả: 22

1.4.2.3 Phương pháp so sánh đối chiếu 22

1.4.2.4 Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học 22

Trang 5

1.4.3 Nhận xét 23

Chương 2: Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh 2.1 Nhóm từ Say, speak, tell, talk là một trường nghĩa 24

2.1.1Cấu trúc nghĩa từ Say 24

2.1.2Cấu trúc nghĩa từ Speak 29

2.1.3Cấu trúc nghĩa từ Tell 33

2.1.4Cấu trúc nghĩa từ Talk 37

2.2 Cấu trúc ngữ nghĩa nhóm Say, speak, tell, talk 42

2.2.1 Nhận xét chung: 42

2.2.2 Giống nhau: 43

2.2.3 Khác nhau: 45

2.2.3.1 "to say" và "to talk": 47

2.2.3.2 "to say" và "to tell": 49

2.2.3.3 “To tell” và “to talk”: 50

2.2.3.4 “To Say” và “to speak” 51

2.2.3.5 “To talk” và “to speak” 52

2.2.4 Bảng Ma trận 52

2.2.5 Tiểu kết: 55

Chương 3: Các đơn vị từ vựng trong tiếng Việt tương ứng với Say, Tell, Speak, Talk trong tiếng Anh 3.1.Vấn đề so sánh đối chiếu các ngôn ngữ 56

3.2 Những từ tiếng Việt tương ứng với Say trong tiếng Anh 56

3.3.Những từ tiếng Việt tương ứng với Tell trong tiếng Anh 57

3.4 Những từ tiếng Việt tương ứng với Speak trong tiếng Anh 58

3.5 Những từ tiếng Việt tương ứng với Talk trong tiếng Anh 59

3.6 So sánh cách dịch của cả nhóm 59

3.6.1 Giống nhau 59

3.6.1.1 Say được dịch với nghĩa là “Nói”: 60

3.6.1.2 Tell được dịch với nghĩa là “Nói”: 61

3.6.1.3 Speak được dịch với nghĩa là “Nói”: 62

3.6.1.4 Talk được dịch với nghĩa là “Nói”: 62

3.6.2 Khác nhau: 63

3.6.2.1 Say được dịch tương ứng với 8 từ trong tiếng Việt 63

3.6.2.2 Tell được dịch tương ứng với 7 từ trong tiếng Việt 67

3.6.2.3 Talk được dịch tương ứng với 4 từ trong tiếng Việt 71

3.6.2.4 Say được dịch tương ứng với 2 từ trong tiếng Việt 72

3.6.3 Tiểu kết: 73

KẾT LUẬN Nhóm từ chỉ hành động nói năng say, speak, tell, talk trong tiếng Anh 76

Nhóm từ chỉ hành động nói năng tương ứng trong tiếng Việt 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 83

Trang 6

QUY ƢỚC

Bảng 1: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Say

Bảng 2: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Speak

Bảng 3: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Tell

Bảng 4: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Talk

Bảng 5: Bảng Ma trận tổng hợp các nghĩa tố của nhóm chỉ hành động nói

năng trong tiếng Anh say, tell, talk, speak

* Số thứ tự từ 1 đến 32 được dùng để miêu tả 32 nghĩa tố làm cơ sở khu biệt ngữ nghĩa của 4 từ say, tell, talk, speak thuộc nhóm chỉ hành động nói năng trong

tiếng Anh (Trang 53-54) Trong đó:

1 (±) Sử dụng giọng nói

2 Mục đích nói/kể về 1 vấn đề cho ai đó

3 Mục đích nhấn mạnh nội dung nói ra

4 Giải thích/đánh giá riêng về ai/cái gì

5 Mục đích gợi ý/ví dụ

6 Mục đích diễn đạt tư tưởng, tình cảm

7 Mục đích thông báo/chỉ dẫn

8 Mục đích thực hiện phát ngôn

9 Thông tin có tính chất 2 chiều (thảo luận/trao đổi) talk

10 Mục đích yêu cầu ai đó làm việc gì

11 Đặc trưng âm thanh của giọng nói

12 Nhấn mạnh cách thức diễn đạt (đề cập/mô tả)

13 Chỉ hành động nói đơn thuần nhất (ngôn ngữ/thứ tiếng)

14 Số đông tham gia giao tiếp

15 Thể hiện tính chất trang trọng (bài phát biểu)

16 Sử dụng trong truyền thông 1 chiều

Trang 7

17 Nhấn mạnh cách thức trình bày tường thuật 1 vấn đề

18 Mục đích cung cấp thông tin

19 Hình thức cung cấp thông tin (viết)

20 Nhấn mạnh về độ chắc chắn của thông tin vừa được cung cấp

21 Mục đích yêu cầu giữ kín 1 thông tin nào đó

22 Ra lệnh

23 Khuyên ai đó nên làm gì

24 Thể hiện quan điểm cá nhân (nhìn nhận/phán đoán/đánh giá)

25 Kết quả có thể đúng/sai

26 Mục đích chỉ ra sự khác nhau của 2 người/cái gì

27 Cho biết điều gì đó ảnh hưởng, tác động không tốt đến kết quả

28 Một ngôn ngữ cụ thể được sử dụng để giao tiếp

29 Nhấn mạnh sự hợp lí hay không hợp lí

30 Nhấn mạnh một khoản tiền, 1 điều gì đó nghiêm trọng như thế nào

31 Thông tin bàn về cuộc sống riêng tư của ai đó

32 Từ chối cung cấp thông tin cho ai đó

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hành động nói năng của con người là một món quà của tạo hóa và luôn là đề tài quan tâm, nghiên cứu của ngôn ngữ học, tuy nhiên việc nghiên cứu hành động nói năng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế Bản thân ngôn ngữ nói chung và hoạt động nói năng nói riêng luôn luôn thay đổi theo sự phát triển của con người, nó rất phong phú và phức tạp như tâm lí, suy nghĩ, nhận thức của con người Cũng là hành động sử dụng ngôn ngữ nhưng người ta có thể nhằm mục đích thực hiện những hành động khác nhau như ra lệnh, khuyên, sai bảo, hướng dẫn,… Bên cạnh

đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ theo bình diện dụng học hiện đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu, vì thế hành động nói năng đã và đang trở thành đối tượng cần phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu

Nhóm từ chỉ hành động nói năng với ý nghĩa thông tin trực tiếp là một trong những vấn đề được quan tâm trong lí thuyết tiếng Anh hiện đại, bởi lẽ đây là một trong những tiểu nhóm động từ nói năng tiêu biểu Từ vựng học truyền thống phân chia động từ nói năng thành một nhóm riêng biệt ngang bằng với các động từ chuyển động, tư duy, tình cảm, mong muốn Nhóm động từ nói năng trong tiếng Anh rất phổ biến, có số lượng rất phong phú (lên đến hàng trăm từ) và đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu, song nhiều bình diện cụ thể của nhóm

từ này còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống trong đó có vấn đề về đặc điểm cấu trúc-ngữ nghĩa Việc phát hiện các đặc điểm cấu trúc-ngữ nghĩa đặc trưng cho các nhóm từ này có ý nghĩa lí luận lớn, bởi lẽ nó sẽ góp phần làm rõ cơ chế liên

hệ và tác động qua lại của bình diện ngữ nghĩa và cú pháp

Thêm vào đó, ngày nay, do nhu cầu phát triển của xã hội, việc học ngoại ngữ ngày càng đóng vai trò quan trọng và cần thiết Người học không những phải trang

bị cho mình một vốn từ vựng phong phú mà còn cần có khả năng sử dụng những từ vựng đó đúng với những tình huống và hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Vì vậy, việc nắm vững nghĩa của các từ biểu thị hành động nói năng là rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày Ngoài ra, trong quá trình dạy-học tiếng Anh ở Việt Nam có thể

Trang 9

quan sát thấy người học gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định cấu trúc ngữ nghĩa và mắc rất nhiều lỗi sử dụng các động từ nói năng và trong nhiều trường hợp các lỗi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giao tiếp, thậm chí có thể dẫn đến phá vỡ giao tiếp

Mặt khác, trên thực tế, chưa có công trình nào nghiên cứu, đề cập đến nhóm

động từ này giới hạn hẹp trong phạm vi 4 từ cụ thể Say, tell, talk, speak; trên bình

diện so sánh đối chiếu với tiếng Việt cả về mặt lí thuyết cũng như thực hành Chính

vì vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu 1 nhóm từ Say, tell, talk, speak trong tiếng

Anh có so sánh với tiếng Việt Đây là nhóm động từ nói năng thỏa mãn tiêu chí: A nói X với B

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn “Kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ

hành động nói năng trong tiếng Anh Say, tell, talk, speak và những đơn vị

tương ứng trong tiếng Việt” làm đối tượng nghiên cứu

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu của luận văn là miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm

chỉ hành động nói năng Say, tell, talk, speak trong tiếng Anh và các đơn vị tương

ứng trong tiếng Việt Qua đó, có thể tìm ra được quy tắc ngữ nghĩa, chỉ ra được sự giống nhau cũng như sự khác biệt của mỗi từ trong cùng một nhóm đồng nghĩa chỉ hành động nói năng; cách sử dụng các từ ngữ chỉ nói năng để làm phong phú thêm vốn từ vựng của mình cũng như khả năng sử dụng chúng trong những tình huống nói năng khác nhau trong thực tế

Luận văn nhằm nghiên cứu đặc điểm cấu trúc nghĩa (trục dọc) của 4 từ thuộc nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh Dựa trên các định nghĩa trong từ điển, nhận biết được nghĩa gốc, hiện tượng chuyển nghĩa, tìm ra được mối liên hệ ngữ nghĩa giữa các nghĩa trong cùng một cấu trúc nghĩa của từ

Ngoài ra, luận văn còn nhằm mục đích phát hiện và mô tả các nghĩa của từng

từ bằng cách phân tích các yếu tố kết hợp được với nó

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Xác lập một số cơ sở lí thuyết làm tiền đề cho công việc khảo sát, nghiên cứu

Trang 10

Tập hợp, thống kê tư liệu dựa vào tác phẩm “20 truyện ngắn song ngữ Anh – Việt” do Nguyễn Thị Ái Nguyệt - Cát Tiên biên dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tìm các ngữ cảnh có sử dụng speak, tell, say, talk xuất

hiện sau đó đối chiếu với bản dịch tiếng Việt để tìm ra được các đơn vị tương ứng chỉ hành động nói năng trong tiếng Việt

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những từ ngữ chỉ hành động nói năng thỏa mãn tiêu chí: A nói X với B

Phạm vi nghiên cứu: Miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm chỉ hành động nói năng Say, tell, talk, speak trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong tiếng Việt

Phạm vi tư liệu được khảo sát là Từ điển Anh - Anh: Oxford Advanced

Learner's Dictionary by Albert Sydney Hornby, Anthony Paul Cowie, J Windsor

Lewis; Bản dịch: Tác phẩm “20 truyện ngắn chọn lọc Anh – Việt” do Nguyễn Thị Ái Nguyệt - Cát Tiên biên dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh,

2012

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng tổng thể các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả được sử dụng trong chương 2 của luận văn Ở đó, chúng tôi đã dùng phương pháp này để phân tích, chiết xuất cấu trúc ngữ nghĩa của từng từ chỉ hành động nói năng nói riêng cũng như của cả nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh Say, speak, tell, talk thành những nghĩa tố để từ

đó tìm ra được sự giống nhau và khác nhau của từng từ trong nhóm cũng như đặc trưng ngữ nghĩa của cả 4 từ

5.2 Phương pháp phân tích nghĩa tố

Phương pháp phân tích nghĩa tố cũng được dùng trong chương 2 để chỉ ra

sự khác biệt cũng như giống nhau giữa các từ chỉ hành động nói năng trong cùng một nhóm thông qua việc đối chiếu từng cặp từ, tách các nghĩa tố trên cơ sở từ điển giải thích tiếng Anh Ngoài ra, phương pháp phân tích nghĩa tố còn được sử

Trang 11

dụng trong việc miêu tả 4 từ thuộc cùng một nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh và xem xét trong mối quan hệ giữa các từ với nhau Từ đó chứng minh

4 từ thuộc nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh Say, tell, talk, speak tạo thành một trường nghĩa Thủ pháp này giúp chúng tôi trình bày được một cách đầy

đủ và hệ thống số lượng cũng như chất lượng các nghĩa tố trong kết cấu ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh Say, tell, talk, speak và các

đơn vị tương ứng trong tiếng Việt (thể hiện ở Bảng ma trận - Trang 53)

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này được sử dụng trong việc lựa chọn tiếng Anh là ngôn ngữ trung tâm chú ý còn tiếng Việt là phương tiện để nghiên cứu, thông qua đó phát hiện ra được những tương ứng có tính quy luật của hai ngôn ngữ, những điểm tương đồng và khác biệt trong thực tế sử dụng của 4 từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong tiếng Việt (chương 3) dựa trên cơ sở

nguồn tư liệu là tác phẩm dịch “20 truyện ngắn chọn lọc Anh – Việt” do Nguyễn Thị Ái Nguyệt - Cát Tiên biên dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh,

2012

5.4 Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học

Luận văn sử dụng thủ pháp thống kê ngôn ngữ học trong chương 3 dựa trên

tư liệu là tác phẩm dịch “20 truyện ngắn chọn lọc Anh – Việt” do Nguyễn Thị Ái Nguyệt - Cát Tiên biên dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012; trên

cơ sở tư liệu này chúng tôi thống kê lại tất cả các ngữ cảnh có chứa 4 từ say, tell, talk, speak xuất hiện thỏa mãn ngữ cảnh A nói X với B

Kết quả thống kê:

Chúng tôi đã thống kê được 91 ngữ cảnh có xuất hiện 4 từ Say, speak, tell, talk thỏa mãn mô hình A nói X với B Trong đó:

- Có xuất hiện từ speak 4,4% (4 phiếu)

- Có xuất hiện từ say 30,7% (28 phiếu)

- Có xuất hiện từ tell 58,24% (53 phiếu)

- Có xuất hiện từ talk 6,6% (6 phiếu)

Như vậy, trong tổng số 91 phiếu ngữ cảnh thu thập được làm cơ sở tư liệu thì Tell là từ có tần số xuất hiện nhiều nhất: 53/91 phiếu chiếm 58,24%/100%; tiếp

Trang 12

đến là từ Say có tần số xuất hiện lớn thứ 2 với 28/91 phiếu tương đương 30,7%/100%; Talk có tần số xuất hiện là 6/91 phiếu tương đương với 6,6%/100%

và thấp nhất là Speak với 4/91 phiếu tương đương với 4,4%/100%

Mặt khác, có một sự chênh lệch khá lớn giữa số phiếu ngữ cảnh thu thập được giữa 4 từ với nhau Từ Tell xuất hiện nhiều nhất với 53 phiếu, trong khi từ talk và speak chỉ có 6 và 4 phiếu ngữ cảnh Con số này cũng phần nào thể hiện được mức độ thông dụng cũng như thực tế sử dụng của 4 từ Ngoài ra, trong một từ cũng có sự chênh lệnh nhau về số lần xuất hiện của các phiếu Điều này nói lên trong cấu trúc ngữ nghĩa của 1 từ thì nghĩa nào/nghĩa tố nào là phổ biến và được sử dụng nhiều nhất và ngược lại Ví dụ như: Từ Say có tới 21 phiếu ngữ cảnh dịch là

“nói” nhưng chỉ có 1 phiếu ngữ cảnh mà say dịch là “chào”; 1 phiếu ngữ cảnh mà say dịch là “nói thầm”; 2 phiếu ngữ cảnh mà say dịch là “bảo”, 1 phiếu ngữ cảnh

mà say dịch là “kể”, 1 phiếu ngữ cảnh mà say dịch là “chửi”; 1 phiếu ngữ cảnh mà say dịch là “thầm nói”; 1 phiếu ngữ cảnh mà say dịch là “cho biết” Điều này không phải là vô cớ mà đây chính là tần số xuất hiện của các nghĩa qua đó biểu hiện được đâu là nghĩa gốc và các nghĩa tố nào nhiều hay ít phổ biến hơn Ở đây,

xét trong phạm vi giới hạn tác phẩm “20 truyện ngắn chọn lọc Anh – Việt”, qua

thống kê chúng ta thấy được tần số xuất hiện của từ Say được dịch với ý nghĩa là

“nói” chiếm tới 21 lần trên tổng số 28 phiếu ngữ cảnh Như vậy có thể nói đây là nghĩa tố chủ yếu của từ Say

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Cấu trúc của luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo gồm có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lí thuyết chung về hành động nói năng

Trong chương này, luận văn trình bày những vấn đề lí thuyết cơ bản có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài Đó là các vấn đề: Lí thuyết trường nghĩa, phương pháp phân tích nghĩa tố, phương pháp so sánh đối chiếu, thủ pháp thống kê ngôn ngữ học, phương pháp miêu tả Trong đó, phương pháp phân tích nghĩa tố là phương pháp rất quan trọng nhằm thiết lập những cơ sở, những căn cứ cho việc giải

Trang 13

thích các nghĩa tố khác nhau của từng từ ngữ một cách thống nhất, chính xác, hợp lí

và khoa học

Chương 2: Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh

Trong chương này, chúng tôi sử dụng Từ điển giải thích Anh – Anh để làm

cơ sở chiết xuất, tìm ra nghĩa tố của 4 từ Speak, tell, talk, say chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh thỏa mãn mô hình (A nói X với B) Chúng tôi tập trung phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của từng từ trong nhóm và phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của

cả nhóm Say, tell, talk, speak; trên cơ sở đó rút ra được những nghĩa tố giống nhau, chung cho 4 từ và những nét khác biệt về ngữ nghĩa của 4 từ trong nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh cũng như tìm ra được cấu trúc ngữ nghĩa chung cho

cả nhóm 4 từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh

Chương 3: Các đơn vị từ vựng trong tiếng Việt tương ứng với Say, Tell, Speak, Talk trong tiếng Anh

Ở chương này, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu và thủ pháp thống kê để phân tích, tìm hiểu trong các ngữ cảnh tại sao say, tell, talk, speak lại được giống nhau và dịch khác nhau ở các ngữ cảnh khác Từ đó, rút ra được những đặc trưng ngữ nghĩa của các đơn vị chỉ hành động nói năng trong tiếng Việt tương ứng với 4 từ say, tell, talk, speak thuộc nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG VỀ HÀNH ĐỘNG NÓI NĂNG

1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về hành động nói năng

Hành động nói năng là một đề tài đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên

cứu của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và nước ngoài Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành động nói năng, tuy nhiên các nghiên cứu nhìn chung mới đề cập đến những vấn đề sau:

và gián tiếp (reported speech)

Vị từ nói năng được nhìn nhận ở góc độ “nói tức là hành động”, nghĩa là nó được khảo sát với tư cách một vị từ ngôn hành

Vị từ nói năng được nghiên cứu khá kĩ lưỡng nhưng dưới góc độ dụng học, đặc biệt là lí thuyết hành động ngôn từ

Vị từ nói năng còn được nghiên cứu dưới góc độ nghĩa học, nghĩa là, vị từ nói năng có 2 diễn tố là Tác thể (người nói) và tác tạo thể (điều được nói)

Trang 15

Mới đây nhất là công trình nghiên cứu của Nguyễn Vân Phổ về động từ nói năng, ông tập trung làm sáng tỏ những quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp giữa vị từ nói năng và các tham tố có thể có xung quanh nó

1.1.1 Tiếng Anh

Vị từ chỉ hành động nói năng tiếng Anh khá phong phú về số lượng và cũng thu hút được đông đảo sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngữ học cũng như các nhà triết học

“Wierzbicka bàn nhiều về vị từ nói năng, tuy nhiên các phân tích của tác giả thiên về khía cạnh ngữ nghĩa từ vựng hơn là ngữ nghĩa cú pháp Trong chuyên khảo “English speech act verbs, a semantic dictionary” (1987), bà đã tập hợp 234

từ liên quan đến hoạt động nói năng thành 37 nhóm và đi vào miêu tả ngữ nghĩa của chúng Tuy nhiên, mục tiêu của tác giả là một từ điển ngữ nghĩa nên sự phân biệt hết sức tinh tế mà tác giả miêu tả được (chủ yếu) vẫn là sự phân biệt nghĩa từ vựng Hơn nữa, trong khi đề cập nghĩa của từng từ, tác giả không miêu tả cấu trúc nghĩa theo các tham tố và các dấu hiệu có liên quan mà sử dụng một thứ siêu ngôn ngữ (tác giả dùng khoảng hơn 150 từ chọn lọc để miêu tả toàn bộ đối tượng)

(Wierzbicka 1987, Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011)

Givón (1984, 1990) đã phác họa một số đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của vị từ nói năng khi bàn về cấu trúc vị ngữ và các vai-cách của câu đơn (simple sentences: predications and case-roles) Theo đó, vị từ nói năng được nhắc đến trong các mục như vị từ với đối tượng có hướng (abstract directional object), vị từ với đối tượng tặng thể-lợi thể gián tiếp (dative-benefactive directional object), vị từ nhận thức và phát ngôn (cognition and utterance verbs), vị từ cầu khiến (manipulative verbs), vị từ thông tin (information verbs) Sở dĩ vị từ nói năng được trình bày ở nhiều mục rời rạc như vậy là vì tác giả không xem xét nhóm vị từ này như một đối tượng riêng biệt mà chỉ khảo sát các biểu hiện của nó trong tương quan với các vị từ khác Tuy nhiên, nhìn chung quan điểm của tác giả vẫn có sức thuyết phục; đặc biệt là quan điểm cho rằng một vị từ có thể thuộc về “nhiều hơn một lớp”, vì các lớp từ phân biệt với nhau không chỉ về cú pháp mà còn phân biệt

Trang 16

về ngữ nghĩa Tư cách đôi (double membership), và thậm chí ba (triple membership) này là một hiện tượng có thể thấy ở nhiều ngôn ngữ trên thế giới

(cross-linguistically) (Givón 1984, 64, Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011)

Các tác giả như Postal Paul, Petruck Miriam (1996), Baker Colin (1998), và đặc biệt là Filmore (1971, 2001) và Halliday (1994) bàn nhiều đến cấu trúc tham tố của vị từ nói năng, tuy không tác giả nào nghiên cứu nó với tư cách một đối tượng của một chuyên khảo Riêng Halliday đã xem xét vị từ nói năng trong một quá trình biệt loại là quá trình nói năng (verbal process); do vậy ông đã đưa ra nhiều kiến giải rất quan trọng về nhóm vị từ này, đặc biệt là những quan điểm liên quan đến lời

dẫn ở dạng trực tiếp (quoted speech) và gián tiếp (reported speech) (Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011)

Từ những năm 1960 trở đi, đặc biệt từ sau công trình “How to do things with words” của Austin (1962), vị từ nói năng được nhìn nhận ở góc độ “nói tức là hành động”, nghĩa là nó được khảo sát với tư cách một vị từ ngôn hành (performative verb) Hàng loạt nhà nghiên cứu như Searl (1960, 1976), Grice (1975, 1978), Yule (1996), Wilson Deirde và Sperber Dan (2000, 2002),… nghiên cứu các hành động ngôn từ trong mối liên quan với quá trình nói năng nói chung và vị từ nói năng nói riêng

Các tác giả như David Donal (1968), Zwicky A.M (1971), Leech G và Short M (1981), David Bzaril (1995), Toolan Michael (2001),… lại bàn nhiều về vai trò của người đưa ra phát ngôn, về lời dẫn trực tiếp và gián tiếp, về quy chiếu trong lời dẫn với nhiều quan điểm khác nhau, đôi khi những quan điểm đó là những biện giải có tính triết học và logic học nhiều hơn là ngôn ngữ học

Ngoài ra, trong các công trình nghiên cứu cấu trúc ngữ pháp hay ngữ nghĩa của nhiêu tác giả khác, chẳng hạn như Anderson J.M (1971, 1977), Cook W.A (1979), Robyn Carston (1997),… đều có ít nhiều để cập đến vị từ nói năng nhưng không xem xét nó như là một đối tượng riêng biệt, do vậy đặc điểm ngữ pháp và

Trang 17

ngữ nghĩa của nó chưa thực sự được làm sáng tỏ.” (Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011)

1.1.2 Tiếng Việt

Vị từ nói năng hầu hết được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp Trong công trình nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Vân Phổ, căn cứ vào hướng tiếp cận của các tác giả từ trước đến nay, có thể chia các công trình nghiên

cứu có đề cập đến vị từ nói năng thành 3 nhóm (Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011):

―Các tác giả: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963); Nguyễn Kim Thản (1977, 1997); Hoàng Trọng Phiến (1980), Hồ Lê (1992);… Trong công trình

của mình khi bàn về ngữ pháp tiếng Việt nói chung hoặc động từ tiếng Việt nói riêng, các tác giả này thường coi vị từ nói năng là nhóm vị từ có bổ ngữ là một cấu trúc chủ-vị (“cụm từ tường thuật”), có thể có hoặc không có kết từ là/rằng dẫn nhập, bỏ ngữ đó có thể là danh từ/danh ngữ, nhưng khả năng này không phải là tiêu biểu Như vậy, vị từ nói năng được xem xét rất sơ lược về mặt cấu trúc mà chưa phân tích nhiều về mặt ngữ nghĩa Chính vì vậy, các vị từ nói năng thường được xếp vào cùng nhóm với các vị từ cảm nghĩ

Các tác giả: Phạm Thị Hòa (2000); Đỗ Hữu Châu (2001, 2003);… Các tác

giả này xem xét vị từ nói năng khá kĩ lưỡng nhưng dưới góc độ dụng học, đặc biệt

là lí thuyết hành động ngôn từ Chính từ góc nhìn này, Đỗ Hữu Châu đã thấy cần phải khảo sát vị từ nói năng trong quá trình nói năng, và đó cũng là cơ sỏ để tác giả

đi từ vị từ nói năng đến các “biểu thức ngữ vi” của nó Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên cho rằng cần biệt lập vị từ nói năng với các nhóm vị từ khác để có thể nghiên cứu thấu đáo hơn Tuy nhiên, trong công trình của ông (Đỗ Hữu Châu 2001), vấn

đề cấu trúc tham tố của vị từ vẫn chưa được đề cập

Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Thị Quy (1995), Hoàng Văn Tân (2002), Tô Minh Thanh (2005,)… Các tác giả này nghiên cứu vị từ nói năng dưới góc độ nghĩa

học Nghĩa là, vị từ nói năng có 2 diễn tố đó là Tác thể (người nói) và tác tạo thể (điều được nói) Diễn tố thứ hai này có thể là một danh ngữ với trung tâm là một

Trang 18

danh từ “chuyên dụng” như chuyện, điều Nhìn chung, những phác họa về vị từ nói

năng ở các công trình của các tác giả trên là chính xác những chưa đủ chi tiết để vạch ra được những đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của các tham tố (/cách, vai nghĩa) khác nhau tham gia vào khung vị ngữ của vị từ.”

Cũng trong công trình mới nhất về động từ nói năng của Nguyễn Vân Phổ, ông quan niệm rằng: Vị từ nói năng là một khái niệm khá rộng (và mơ hồ) bao gồm hàng trăm từ (Nguyễn Vân Phổ thống kê được hơn 500 đơn vị từ vựng liên quan đến quá trình nói năng), có thể tập hợp thành nhiều tiểu nhóm khác nhau, trong đó ông xem “nói” là vị từ tiêu biểu Công trình nghiên cứu của ông tập trung làm sáng

tỏ những quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp giữa vị từ nói năng và các tham tố có thể

có xung quanh nó Theo Nguyễn Vân Phổ, vị từ nói năng là toàn bộ các vị từ có liên quan đến quá trình/hoạt động nói năng của chủ thể người, được thực hiện thông qua phương tiện vật chất là lời nói hoặc ngôn ngữ nói chung (tức là kể cả dạng thức chữ viết) Vị từ nói năng gồm các tiểu loại sau:

- Vị từ cầu khiến: Là nhóm vị từ nói năng có thể tham gia vào kết cấu cầu

khiến như: bảo, dăn, sai, nhờ, ra lệnh, đề nghị, yêu cầu,…

- Vị từ nói năng-tác động: dạy, dạy bảo, sai bảo, khen, tán tỉnh,…

- Vị từ thông tin: nói, bảo, thông báo, kể, báo cáo, thầm thì, tuyên bố,…

- Vị từ phát ngôn: lên tiếng, to tiếng, bập bẹ, lí nhí,…

- Vị từ ngôn hành: nói, chào, chúc mừng, hứa, hỏi, bảo, xin lỗi, cho phép, ra

lệnh, tuyên bố,…

1.2 Khái niệm động từ nói năng

1.2.1 Tiếng Anh

Trong các tài liệu ngôn ngữ học thế giới, vị từ nói năng là một khái niệm có

ít nhất 2 cách hiểu Theo nghĩa rộng, nó bao gồm tất cả các vị từ được dùng để miêu tả hoặc đôi khi thực hiện các kiểu hành động ngôn ngữ hoặc các kiểu ứng xử bằng lời Do đó, “The Encyclopedia of Languages and Linguitics” (“Từ điển bách

khoa về các ngôn ngữ và ngôn ngữ học”) (Asher R.E ed.1994, Dẫn theo Nguyễn

Trang 19

Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011) cho rằng thuật ngữ thích hợp với nó là “vị từ hành động ngôn ngữ”

(linguistic action verbs) Thuật ngữ này bao gồm những vị từ như độc thoại (soliloquize), bảo (talk), xin lỗi (apologize),… Theo nghĩa hẹp, vị từ nói năng là những vị từ có thể dùng miêu tả, hoặc đôi khi thực hiện, hành động ngôn từ (theo nghĩa hành động ngôn từ của Searle J.), tức là liên quan đến lực ngôn trung (illocution force) Theo nghĩa này, vị từ nói năng được gọi là “speech act verbs‟", bao gồm những vị từ như kết án (sentence), xin lỗi (apologize), dự đoán (predict), thề (swear), xác nhận (assert), biện hộ (plead), ra lệnh (command), cấm (ban) (Asher 1994, 4138) Hai danh sách này khác xa nhau và có thể dự đoán rằng danh sách thứ nhất sẽ lớn gấp nhiều lần danh sách thứ 2 [15, Tr.23]

1.2.2 Tiếng Việt:

Theo Nguyễn Vân Phổ, vị từ nói năng là toàn bộ các vị từ có liên quan đến quá trình/hoạt động nói năng của chủ thể người, được thực hiện thông qua phương tiện vật chất là lời nói hoặc ngôn ngữ nói chung (tức là kể cả dạng thức chữ viết)

Vị từ nói năng gồm các tiểu loại sau:

- Vị từ cầu khiến: Là nhóm vị từ nói năng có thể tham gia vào kết cấu cầu

khiến như: bảo, dặn, sai, nhờ, ra lệnh, đề nghị, yêu cầu, …

- Vị từ nói năng-tác động: dạy, dạy bảo, sai bảo, khen, tán tỉnh,…

- Vị từ thông tin: nói, bảo, thông báo, kể, báo cáo, thầm thì, tuyên bố,…

- Vị từ phát ngôn: lên tiếng, to tiếng, bập bẹ, lí nhí,…

- Vị từ ngôn hành: nói, chào, chúc mừng, hứa, hỏi, bảo, xin lỗi, cho phép, ra

lệnh, tuyên bố,… [15, Tr.23]

1.2.3 Quan niệm của tác giả luận văn:

Hành động nói năng là những từ dùng để chỉ hành động phát ra thành tiếng thành lời nhằm mục đích diễn đạt một nội dung nhất định trong giao tiếp hay để chỉ một ngôn ngữ cụ thể nào đó được sử dụng làm phương tiện giao tiếp

1.3 Lí thuyết trường nghĩa:

1.3.1 Quan niệm thế giới

Trang 20

Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thiện Giáp, ông đã dẫn ra những quan điểm của thế giới về lí thuyết trường nghĩa như sau:

“Lí thuyết trường nghĩa ra đời mấy chục năm gần đây Tư tưởng cơ bản của

lí thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa, nhưng nhìn chung có hai khuynh hướng chủ yếu:

Khuynh hướng thứ nhất: Người ta quan niệm rằng trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện Những người đại diện cho khuynh hướng này là L Weisgerber và J Trier, đây là hai người chịu ảnh hưởng của học thuyết về “hình thái bên trong của ngôn ngữ” của H Humbold mà theo H Humbold “hình thái bên trong của ngôn ngữ” đó là cái phản ánh “tinh thần” của một dân tộc nào đó L Weisgerber và J Trier là những người đại diện của phái Humbold mới trong ngữ nghĩa học-đây là phái chủ trương sự phân chia từ vựng của ngôn ngữ bị quy định bởi “hình thái bên trong” của ngôn ngữ Cơ sở ngôn ngữ học của L Weisgerber là khái niệm thế gới trung gian (Zwischenwelt) của ngôn ngữ ông đã thay thế sự phân tích các từ bằng sự phân tích các khái niệm nằm trong

“tinh thần” của một ngôn ngữ nào đó L Weisgerber thừa nhận sự thống nhất giữa mặt bên ngoài (ngữ âm) và mặt bên trong (khái niệm) của ngôn ngữ, nhưng ông lại coi sự thống nhất đó là có tính chất song song hoàn toàn và đơn giản Do đó, ông

đã phủ nhận hiện tượng đa nghĩa và đồng nghĩa của các đơn vị từ vựng, nhiều từ ví

dụ như các tên riêng là ở ngoài ngôn ngữ L Weisgerber không giải thích sự khác nhau của những mô hình cấu tạo từ mà coi đó là kết quả của sự khác nhau trong tư duy của các dân tộc Ví như, L Weisgerber coi sự phát triển của các từ ghép trong tiếng Đức là dấu hiệu của tính chất cụ thể của tư duy, khác với tính chất trừu tượng của tư duy ở người Pháp gắn liền với hiện tượng phổ biến trong tiếng Pháp các phụ

tố “Thế giới khái niệm” của ngôn ngữ phụ thuộc vào quy luật của trường, tức là phụ thuộc vào hệ thống các tư tưởng thuần tuý nằm ở bên ngoài sự phản ánh thực

tế

Lí thuyết trường nghĩa (Begriffsbezirk, Sinnbezirk, Begriffsfeld) của J Trier phù hợp với luận điểm của Weisgerber về sự tồn tại trong ngôn ngữ những phạm vi khái niệm được tổ chức một cách hệ thống Lí thuyết trường nghĩa xuất phát từ

Trang 21

những tiền đề của trường phái Humbold mới và phần nào từ những tư tưởng của F Saussure về tính hệ thống của ngôn ngữ và những phương pháp kết cấu trong việc nghiên cứư mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ Theo quan điểm của J Trier và những người kế tục ông, mặt nghĩa của ngôn ngữ là một kết cấu chặt chẽ, được phân chia thành những trường hoặc những phạm vi khái niệm một cách rõ ràng Những phạm vi đó tồn tại trong ý thức ngôn ngữ của một cồng đồng ngôn ngữ nào

đó Tất cả thành phần từ vựng được phân bố theo những phạm vi hoặc những trường đó J Trier đã giả định sự song song hoàn toàn giữa trường khái niệm và trường từ vựng, tức là bình diện nội dung và bình diện biểu hiện Theo ông, trường

từ vựng bao phủ lên trường khái niệm như một cái áo khoác hay tấm vải phủ Một

từ chỉ có ý nghĩa khi nằm trong trường, nhờ những quan hệ của nó với các từ khác cũng thuộc trường ấy Trong hệ thống, tất cả các từ chỉ nhận được ý nghĩa thông qua cái toàn thể Có nghĩa là từ trong ngôn ngữ nào đấy không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, trái lại, mỗi một từ có ý nghĩa là ví có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó Những ý kiến về trường của hai ông đã bị phê phán kịch liệt về mặt triết học cũng như về phương pháp, bởi vì cách quan niệm trường nghĩa như vậy là duy tâm, thoát li thực tế và quy luật nhân thữ thế giới, thoát li bản chất của ngôn ngư là phương tiện giao tiếp của con người Đây là quan niệm sa vào các tư tưởng thuần tuý, vì ý nghĩa của từ không đồng nhất với khái niệm, các trường nghĩa được phân xuất trên cơ sở lôgíc thuần tuý chứ không phải dựa trên tài liệu ngôn ngữ Trong thực tế, cũng không có biên giới rõ ràng và bất biến giữa các trường khái niệm và trường từ vựng như J Trier đã cố gắng chứng minh Hơn nữa, trong khi miêu tả hệ thống của một ngôn ngữ hiện đại, và ghi nhận những quan hệ giữa các yếu tố của

nó, J Trier đã không chú trọng tới tính năng động của bản thân hệ thống Nghiên cứu lịch sử từ vựng chỉ được thừa nhận là so sánh những nhát cắt đồng đại riêng biệt, vì vậy mà lịch sự ngôn ngữ chỉ đơn thuần là sự thống kê, so sánh Nếu ý nghĩa của từ mà chỉ phụ thuộc vào vị trí của nó ở trong trường thì lịch sử hình thành và phát triển của từ, mối liên hệ của từ với các từ thân thuộc, yếu tố ngữ nghĩa của từ

đã không được xem trọng một cách cần thiết đúng như vai trò của nó Sau hai nhà nghiên cứu này, người ta cũng đã đưa ra thêm nhiều quan niệm khác nhau về trường dựa trên các tiêu chí khác nhau để tập hợp các đơn vị từ vựng

Trang 22

Khuynh hướng thứ hai thì đi xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Theo khuynh hướng này thì trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi của tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về mặt ý nghĩa Và như vậy, những trường nghĩa được xây dựng trên cơ sở những ngôn ngữ khác nhau cũng có nhiều kiểu khác nhau Ipsen đã căn cứ vào hình thái và chức năng của các từ để xây dựng trường nghĩa Ipsen quan niệm răng trường nghĩa gồm những từ có họ hàng với nhau về hình thức và ý nghĩa Người ta thường gọi đây là những trường nghĩa từ vựng – ngữ pháp

Konradt - Hicking lại xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các từ ghép, trong

đó từ rời với tư cách là thành tố của từ ghép đóng vai trò thành viên của trường Theo ông, trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là trong các từ ghép, chỉ

có thể tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu tượng

Một kiểu trường nghĩa khác gọi là “trường từ vựng - cú pháp” do Muller và Porzig nêu ra Hai ông xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các ý nghĩa ngữ pháp của các quan hệ, ý nghĩa của các từ lệ thuộc vào những liên hệ cú pháp Vì vậy, trường theo quan niệm của hai ông là những quan hệ đơn giản gồm động từ hành động và

và danh từ chủ thể hành động hay danh từ bổ ngữ, tính từ và danh từ, … và cho rằng những quan hệ này là “những trường cơ bản về nghĩa” Tuy nhiên giữa hai ông cũng có những điểm khác biệt, Porzig chỉ xét những quan hệ ít nhiều đã vững chắc của động từ (hoặc tính từ) với danh từ, tức là chỉ xét những cú đoạn vị ngữ, còn Muller thì xét cả những quan hệ ý nghĩa có tính chất cú pháp trong những cấu trúc hết sức đa dạng

A Mel‟cuk và một số nhà ngôn ngữ học khác phân biệt rõ trường nghĩa (champ semantique) và trường từ vựng (champ lexical): Các ông định nghĩa trường như sau: Trường nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố nghĩa

có giá trị nhận diện một trường nghĩa Trong đó, các đơn vị từ vựng được hiểu là một từ vị (lexeme) hay một đơn vị thành ngữ (pharaseme) Từ vị được định nghĩa

là một từ xét theo một nghĩa duy nhất được xác định rõ, đi kèm với tất cả các thông tin về sự hoạt động của nó trong một văn bản; đơn vị thành ngữ được định nghĩa là

Trang 23

một ngữ (locution) xét theo một nghĩa duy nhất được xác định rõ, đi kèm với tất cả các thông tin về hoạt động của nó trong một văn bản

Khái niệm trường từ vựng của một trường nghĩa là tập hợp các từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc trường nghĩa này

Đối với Mel‟cuk, cách xử lí theo trường nghĩa là một trong những nguyên tắc cơ sở để biên soạn từ điển Trong từ điển giải thích và kết hợp của ông, việc miêu tả các đơn vị từ vựng bắt buộc phải được thực hiện theo trường nghĩa hay trường từ vựng Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng khái niệm trường nghĩa không chặt chẽ như người ta tưởng, điều đó thể hiện ở 3 điểm:

1, Ranh giới không được xác định cụ thể

2, Các từ vị có thể thuộc nhiều trường nghĩa

3, Sự chồng chéo của các trường nghĩa.”

1.3.2 Quan niệm Việt Nam

1.3.2.1 Đỗ Hữu Châu

Khái niệm trường cũng là một khái niệm có tính thứ bậc, có nghĩa là một trường có thể chia thành nhiều trường nhỏ hơn Trong một trường, các đơn vị sẽ bộc lộ rõ ràng các quan hệ với nhau và giá trị của chúng Và như vậy, trường từ vựng và hệ thống nội bộ của đơn vị có quan hệ mật thiết với nhau Theo Đỗ Hữu Châu, trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa Có thể có hai loại trường từ vựng: trường ý niệm (trường

sự vật, trường đề mục) và trường ngữ nghĩa (trường nghĩa vị)

+ Việc xác lập các trường nghĩa phụ thuộc vào thủ tục xác lập các nghĩa vị + Nên phân biệt rõ ràng giữa nghĩa vị và ý nghĩa Không phải một từ có bao nhiêu ý nghĩa thì có bấy nhiêu nghĩa vị, mà một ý nghĩa là do một số nghĩa vị phối hợp lại tạo nên

+ Sắp xếp các đơn vị từ vựng vào trường để xác lập các nghĩa vị không phải

là sự phân loại chúng Vấn đề cơ bản ở đây là việc xác lập sự tồn tại của bản thân nghĩa vị và tổ chức của chúng trong trường và trong đơn vị

Trang 24

+ Sau khi xác lập các trường và phân lập được các nghĩa vị trong trường, công việc tiếp theo là vạch ra quan hệ giữa các nghĩa vị và miêu tả sơ đồ cấu trúc nghĩa vị của trường

+ Công việc cuối cùng là so sánh các nghĩa vị trong các trường và tìm ra quan hệ giữa các trường ngữ nghĩa với nhau trong toàn bộ từ vựng

+ Đặt đơn vị từ vựng trong các trường ngữ nghĩa và làm bản liệt kê các nghĩa

vị được chứa đựng trong từng ý nghĩa của nó, như thế là đã miêu tả giá trị của đơn

vị về mặt nội dung [1, Tr.34-38]

1.3.2.2 Nguyễn Thiện Giáp

Nguyễn Thiện Giáp cũng phân biệt rõ trường nghĩa và trường từ vựng Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là “nhóm từ vựng-ngữ nghĩa” Tiêu chuẩn để thống nhất các từ vào một nhóm có thể không giống nhau Có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất và trung hoà Từ này được dùng như một cái máy để đo đạc và phát hiện ý nghĩa phạm trù chung, trên cơ sở đó, tập hợp tất cả các thành phần còn lại của trường Vì vậy

mà khi tập hợp các từ vào một trường thì người nghiên cứu không chỉ dựa vào sự hiểu biết của mình mà còn có thể dựa vào trực giác tập thể của những người biên soạn từ điển

Những loạt từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa thực chất cũng là một kiểu đặc biệt của nhóm từ vựng - ngữ nghĩa Ngoài ra, trường nghĩa còn được coi là cả những kết cấu ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa Giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa thì thường có một yếu tố ngữ nghĩa chung, tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa Toàn

bộ các yếu tố nghĩa khác nhau của một từ tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất

Lí thuyết trường nghĩa là một trong những lí thuyết ngữ nghĩa đang được vận dụng một cách rộng rãi để nghiên cứu từ vựng của rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới

Lí thuyết trường nghĩa chẳng những giúp chúng ta miêu tả từ vựng của các ngôn ngữ một cách hệ thống mà còn cho phép các nhà ngôn ngữ học dễ dàng so sánh các ngôn ngữ với nhau, tìm ra những đặc trưng phổ quát, cũng như những nét đặc thù của từng ngôn ngữ [7, Tr.108]

1.3.3.3 Quan niệm của tác giả luận văn

Trang 25

1.3.3.3.2 Trường từ vựng

Khái niệm trường từ vựng của một trường nghĩa là tập hợp các từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc trường nghĩa này

1.4 Phân tích nghĩa của từ

1.4.1 Cơ cấu nghĩa của từ

Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là một tổ chức lộn xộn Trong từng nghĩa của mỗi từ, chúng bao gồm những thành tố nhỏ hơn, có thể phân tích ra được thành các nghĩa tố và các nghĩa tố này cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó

Nghiên cứu kết cấu ý nghĩa của từ, một mặt chúng ta cần phải tách ra thành các ý nghĩa khác nhau của nó, mặt khác phải làm sáng tỏ những mối liên hệ và sự quy định lẫn nhau giữa các nghĩa đó

Như vậy, xét cơ cấu nghĩa của từ là xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn; và tất cả những thành tố này được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào

Với quan điểm đồng đại, tức là quan điểm xem xét cấu trúc nghĩa theo một tình trạng tương đối, chúng ta có thể tìm thấy những điểm giống nhau và khác nhau của các từ đồng nghĩa Điểm giống nhau đó là các nghĩa tố chung cho cả một nhóm các từ đồng nghĩa, những nghĩa tố này không loại trừ lẫn nhau, chính nhờ những nghĩa tố này mà người ta có thể tập hợp được nhóm các từ đồng nghĩa và lập nên

Trang 26

các trường nghĩa Điểm khác nhau đó là một hoặc một vài nghĩa tố của các từ trong cùng một nhóm, một trường nghĩa khác nhau, khu biệt với các từ khác trong nhóm

và cách sử dụng của từng từ phụ thuộc vào từng nghĩa tố đó sao cho phù hợp với từng ngữ cảnh cụ thể khác nhau

Những nghĩa tố riêng có thể là sự có mặt hay vắng mặt một nghĩa tố cụ thể nào đó Những nghĩa tố cụ thể là sự đối lập giữa nét bao trùm (nét chỉ loại lớn) và các nét cụ thể Những nét riêng có thể là kết quả của sự phân hoá một nghĩa tố chung Có tính khách quan hoặc chủ quan cũng tạo nên những nghĩa tố riêng cho các từ đồng nghĩa, ý nghĩa của các kiểu cấu tạo từ cũng có thể giúp chúng ta phân biệt các sắc thái ý nghĩa khác nhau của các từ đồng nghĩa

1.4.2 Phương pháp phân tích trường nghĩa

Phân tích và miêu tả cho được kết cấu ngữ nghĩa của một từ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của việc nghiên cứu từ vựng-ngữ nghĩa

Các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để phân tích trường nghĩa, nhưng đáng chú ý là những phương pháp sau đây: phương pháp phân tích nghĩa tố, phương pháp phân bố và cải biên, phương pháp so sánh

Tuy nhiên trong luận văn này, phương pháp mà chúng tôi sử dụng chủ yếu

đó là phương pháp phân tích nghĩa tố Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp, thủ pháp miêu tả, so sánh đối chiếu và thống kê ngôn ngữ học

1.4.2.1Phương pháp phân tích nghĩa tố

1.4.2.1.1 Định nghĩa phương pháp phân tích nghĩa tố

Khái niệm nghĩa tố: Hiện nay vẫn chưa có một thuật ngữ thống nhất để chỉ

khái niệm này Chúng ta có thể hiểu nghĩa tố là đơn vị ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ, nó là sự phản ánh trong ý nghĩa các tiêu chí riêng biệt của sự vật, hiện tượng hay quan hệ của thực tế Nói cách khác, nghĩa tố là bộ phận nhỏ nhất trong thông báo của một đơn vị ngôn ngữ Nghĩa tố là đơn vị một mặt (nội dung) tương ứng với các tiêu chí khu biệt âm vị học Các nghĩa có thể phân biệt với nhau nhờ các yếu tố khu biệt nghĩa (nghĩa tố) Những nghĩa giống nhau hoặc tương tự nhau phải chứa đựng một phức thể các nghĩa tố như nhau Hiện tượng đồng nghĩa xuất phát từ một

Trang 27

hạt nhân giống nhau và cộng thêm các nghĩa tố khu biệt Nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ chứa đựng một hoặc một vài nghĩa tố Cùng một nghĩa tố có thể tham gia vào nghĩa của những đơn vị khác nhau Kết quả là không có sự song song hoàn toàn giữa nhóm các đơn vị được phân tích và số các nghĩa tố tham gia vào nhóm

đó

Phương pháp phân tích nghĩa tố tỏ ra có nhiều ưu thế Việc phân tích ra các nghĩa tố là cơ sở để biết các từ chứa đựng bao nhiêu những nghĩa tố giống nhau trong một trường Quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố trong trường nghĩa bộc lộ rõ ràng ở mức độ trùng nhau của các nghĩa tố

Mỗi ý nghĩa của từ được gọi là một nghĩa vị Từ đa nghĩa là từ có nhiều nghĩa vị khác nhau Mỗi lần sử dụng từ chỉ một nghĩa vị của nó được hiện thực hoá

“Nghĩa vị chưa phải là đơn vị nhỏ nhất về mặt nội dung Người ta có thể chia nghĩa vị ra thành những yếu tố nhỏ nhất, không thể chia nhỏ hơn được nữa Những yếu tố ngữ nghĩa như vậy gọi là nghĩa tố Nghĩa tố là bộ phận nhỏ nhất trong thông báo của một đơn vị ngôn ngữ” [7, Tr.92]

Mỗi nghĩa vị có hình thức biểu hiện của nó (từ hoặc hình vị), còn nghĩa tố không có hình thức biểu hiện riêng Nó là đơn vị một mặt (nội dung) tương tự như tiêu chí khu biệt âm vị học cũng là những đơn vị một mặt - mặt biểu hiện Nếu như khả năng khu biệt nghĩa của âm vị là dựa vào tính khu biệt về ngữ âm thì các nghĩa

vị cũng có thể phân biệt nhau nhờ các yếu tố phân biệt nghĩa - các nghĩa tố Nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ chứa đựng một hoặc một vài nghĩa tố Sự sắp xếp của các nghĩa tố theo cách thức nào đó tạo nên thông báo của đơn vị ngôn ngữ ấy Cùng một nghĩa tố có thể tham gia vào nghĩa của những đơn vị khác nhau

Ví dụ, chúng ta có thể miêu tả nghĩa tố của bốn từ chỉ người trong quan hệ với gia đình như sau:

Cha: đàn ông - đã có con – được đặt trong quan hệ với con

Me: đàn bà - đã có con – được đặt trong quan hệ với con

Vợ: phụ nữ - đã kết hôn – được đặt trong quan hệ với chồng

Trang 28

Chồng: đàn ông - đã kết hôn – được đặt trong quan hệ với vợ [7, Tr.92]

1.4.2.1.2 Cách xác định nghĩa tố trong ngôn ngữ học

Có nhiều cách xác định các nghĩa tố Các nghĩa tố có thể được xác định bằng đối chiếu từng cặp từ, hoặc là có thể tách các nghĩa tố ra bằng trực giác trên cơ sở

so sánh các câu đồng nghĩa Thông thường các nghĩa tố được tách ra trên cơ sở của

từ điển giải thích Nếu trong phần giải thích của từ điển, một từ tham gia vào việc định nghĩa từ khác được so sánh với nó thì nghĩa là hai từ này có những nghĩa tố chung [7, Tr.92]

Khi xác định thành phần nghĩa tố của một đơn vị từ vựng, người ta đụng chạm đến những loại nghĩa tố khác nhau, bởi vì từ vừa là đơn vị từ vựng, vừa là đơn vị ngữ pháp, nó cũng có thể bao hàm cả một số sắc thái tu từ đặc biệt nữa Do

đó trong một từ, cần phải chia ra nghĩa tố từ vựng, nghĩa tố từ vưng - ngữ pháp, nghĩa tố ngữ pháp và nghĩa tố tu từ Để miêu tả nghĩa của từ, cái quan trọng không những là bản thân tập hợp các nghĩa tố mà còn là kết cấu của các phức thể các nghĩa tố đó

Phương pháp phân tích nghĩa tố không sử dụng đối với các từ cô lập Kết cấu của nghĩa tố chỉ có thể rõ ràng nếu chúng ta xem xét từ trong mối quan hệ với những đơn vị ngôn ngữ khác

Phương pháp phân tích nghĩa tố đã mở ra nhiều triển vọng mới trong việc giải quyết các vấn đề lí luận trong ngữ nghĩa học và từ điển học Nó cho phép có thể miêu tả một số lớn các từ của ngôn ngữ tự nhiên bằng một số lượng không lớn lắm các nghĩa tố Nó tạo khả năng trình bày một cách đầy đủ và rõ ràng tất cả dung lượng nghĩa và kết cấu nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, quan sát sự biến đổi của các đơn vị này xảy ra như thế nào, xác định những mối liên hệ về nghĩa giữa các nghĩa

vị khác nhau của một đơn vị, thậm chí giữa các đơn vị khác nhau Ngoài ra, vì các nghĩa tố ít nhiều có tính liên ngữ cho nên theo phương pháp phân tích nghĩa tố, chúng ta có thể xây dựng lí thuyết về loại hình học ngữ nghĩa

1.4.2.1.3 Cách xác định nghĩa tố trong luận văn

Dựa vào các định nghĩa trong Từ điển giải thích Anh - Anh và từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) để làm gợi ý, cơ sở chiết xuất ra các nghĩa tố của từ; trên cơ sở

Trang 29

đó đối chiếu so sánh nghĩa tố của các từ thuộc nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong tiếng Việt, qua đó chỉ ra được sự tương

đồng cũng như khác biệt về nghĩa tố của các từ chỉ hành động nói năng

1.4.2.2 Phương pháp miêu tả:

Phương pháp miêu tả là hệ thống những thủ pháp nghiên cứu được vận dụng

để thể hiện đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạn phát triển nào

đó của nó Đây là phương pháp phân tích đồng đại Phương pháp miêu tả có ý nghĩa to lớn đối với thực tiễn học tập và giảng dạy ngôn ngữ Bất cứ phương pháp phân tích khoa học nào cũng đòi hỏi phải phân xuất đối tượng thành những mặt, những bộ phận và đơn vị để nghiên cứu riêng, thông qua đó mà nhận thức những thuộc tính khác nhau của đối tượng được nghiên cứu Những thủ pháp của phương pháp miêu tả rất đa dạng, có thể phân chúng thành 2 kiểu cơ bản: những thủ pháp giải thích bên ngoài và những thử pháp giải thích bên trong [6, Tr.19-20]

1.4.2.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Trong phương pháp so sánh - đối chiếu, một ngôn ngữ là trung tâm chú ý còn ngôn ngữ kia là phương tiện nghiên cứu Phương pháp so sánh - đối chiếu nghiên cứu những tương ứng có tính quy luật của hai ngôn ngữ, phát hiện những tương đồng và khác biệt trong các phương tiện biểu đạt những ý nghĩa đồng nhất từ văn bản nguồn ra văn bản dịch Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phương pháp so sánh - đối chiếu có thể chỉ ra được những hình thức ngôn ngữ tương ứng trong ngôn ngữ, chứ không đủ sức chỉ ra hết được các giá trị tương ứng trong phát ngôn cụ thể [6, Tr.191-192]

1.4.2.4 Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học

Đây là một thủ pháp quan trọng trong miêu tả ngôn ngữ Khi muốn so sánh 2 hay nhiều yếu tố ngôn ngữ, người ta phải thống kê được tần số của yếu tố đó so với các yếu tố cần so sánh Số lần xuất hiện của một yếu tố nào đó trong văn bản được khảo sát được gọi là tần số của yếu tố ấy, yếu tố nào có tần số lớn hơn thì có hạng lớn hơn [6, Tr.121] Như vậy, thủ pháp thống kê ngôn ngữ học cho biết mức độ phổ biến, khả năng xuất hiện cũng như mức độ sử dụng của một yếu tố

Trang 30

1.4.3 Nhận xét

Hiện chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích chi tiết cụ thể các hành động nói năng cũng như so sánh các ngôn ngữ với nhau đặc biệt là chưa có công trình nào đề cập đến nhóm động từ (say, tell, talk, speak) này trên bình diện so sánh đối chiếu với tiếng Việt cả về mặt lí thuyết cũng như thực hành Chính vì vậy chúng tôi tập trung đi nghiên cứu 1 nhóm từ Say, speak, tell, talk trong tiếng Anh

có so sánh với tiếng Việt Đây chính là khía cạnh mà luận văn này quan tâm nghiên cứu hành động nói năng

Trang 31

Chương 2: CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ CHỈ HÀNH ĐỘNG

NÓI NĂNG SPEAK, SAY, TELL, TALK TRONG TIẾNG ANH

2.1 Nhóm từ Say, speak, tell, talk là một trường nghĩa

Cả 4 từ say, tell, talk, speak đều biểu thị ý nghĩa chung - là phương tiện giao tiếp hàng ngày có “sử dụng hành động nói phát ra thành tiếng thành lời” Đây là cơ

sở đầu tiên để tập hợp 4 từ này vào cũng một nhóm thuộc nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh Cả 4 từ đều thỏa mãn mô hình A nói X với B, nghĩa là có

đủ 3 tham tố của quá trình nói năng: Phát ngôn thể, Tiếp ngôn thể và Ngôn thể Bốn từ say, tell, talk, speak là một nhóm đồng nghĩa bởi nó có yếu tố ngữ nghĩa chung là đều để chỉ hành động nói phát ra thành tiếng thành lời Như vậy, cấu trúc nghĩa của 4 từ thuộc nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh là một trường nghĩa

4 từ này đều có cấu trúc nghĩa là các từ đa nghĩa gồm nhiều hơn 1 nghĩa vị: Ngoài nghĩa gốc là đều chỉ hành động nói năng thì cả 4 từ còn có những nghĩa khác nữa như sử dụng để thảo luận, bài phát biểu, hứa, khuyên, chào,… Chính các nghĩa

tố khác nhau của 1 từ thuộc nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh cũng tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất

Đây là nhóm đồng nghĩa, cả 4 từ đều có sự giống nhau đó là cùng biểu thị ý nghĩa là hành vi nói năng, cùng xuất hiện trong ngữ cảnh A nói X với B, nghĩa là ngữ cảnh mà 4 từ này xuất hiện đều có đầy đủ 3 tham tố A (phát ngôn thể), B (tiếp ngôn thể) và X (ngôn thể) nhưng tại sao trong một ngữ cảnh cụ thể người Anh lại dùng từ này chứ không phải là 3 từ còn lại Điều đó chúng tỏ rằng, 4 từ cùng biểu thị ý nghĩa hành vi nói năng này phải có sắc thái khác nhau và khi xuất hiện sẽ có những cấu trúc khác nhau, cụ thể sự khác nhau đó như thế nào, đó là nhiệm vụ chúng tôi phải làm sáng tỏ trong phần dưới đây:

2.1.1 Cấu trúc nghĩa từ Say

Ví dụ 1:

She said nothing to me about it

Cô ấy không nói gì với tôi về nó

Trang 32

Ở ví dụ trên xuất hiện ngữ cảnh mà trong đó, người phát ngôn là “tôi” “kể

lại” cho người nghe là nhân vật thứ 3 về với nội dung “Cô ấy không nói gì với tôi

về nó” Như vậy, ở đây Say nhấn mạnh nghĩa tố “sử dụng giọng nói nhằm mục

đích kể lại” với nhân vật thứ 3 về nội dung “ về nó” với “tôi” - là chủ thể của phát ngôn này Ở đây có đầy đủ 3 tham tố A – phát ngôn thể, B – tiếp ngôn thể và X – ngôn thể (nội dung phát ngôn) Trong đó, A sử dụng hành động nói có âm thanh phát ra thành tiếng, thành lời để diễn đạt một nội dung nhất định trong giao tiếp; hoặc nói một cách có đầu có đuôi từng điều cho người khác biết rõ Như vậy, ở trong ngữ cảnh này, Say biểu thị nghĩa vị: Dùng để nói hoặc kể cho ai đó về việc

gì Có thể thấy trong ngữ cảnh này Say có nghĩa vị bao gồm các nghĩa tố sau: Sử dụng giọng nói, mục đích nói/kể về 1 vấn đề cho ai đó

Say1: Sử dụng giọng nói (1) + mục đích nói/kể về 1 vấn đề cho ai đó (2)

Ví dụ 2:

―That was marvellous,‖ said Daniel

Daniel nói ―Thật kỳ diệu‖

Ở ví dụ trên, chúng ta có thể thấy Say xuất hiện trong ngữ cảnh mà phát ngôn thể truyền đạt nội dung, phản ánh thông qua thực thể âm thanh (hay chữ viết) dưới hình thức lời dẫn trực tiếp mà nó được nhận diện thông qua dấu ngoặc kép (“”) Lời dẫn trực tiếp này chính là bổ ngữ cho động từ nói, nó chứa nội dung thông tin mà người nói cần truyền tải và nhấn mạnh: “Thật kỳ diệu”

Nếu ở nghĩa vị 1 của từ Say nhấn mạnh đặc trưng mục đích thực hiện phát ngôn “nói/kể” thì ở ngữ cảnh này, mục đích người nói dùng để “Nhắc (lại)” lời nói, câu nói, có nghĩa là ở đây người nói sử dụng Say với mục đích trích dẫn lại nguyên văn, chính xác lời nói/câu nói của một ai đó nhằm nhấn mạnh nội dung nói ra Ở đây, người tiếp nhận hành động nói thường là người đối diện và vai này có thể xuất hiện cũng có thể khuyết Như vậy, nghĩa vị 2 của từ Say biểu thị ý nghĩa “Dùng để nhắc lại lời nói, câu nói (thường được dùng để đưa ra lời nói chính xác của ai đó)”,

gồm 2 nghĩa tố: Sử dụng giọng nói, mục đích nhấn mạnh nội dung nói Nghĩa vị 2

của Say có thể được khái quát thành cấu trúc như sau:

Say2: Sử dụng giọng nói (1) + mục đích nhấn mạnh nội dung nói ra (3)

Trang 33

Ví dụ 3:

I'll say this for them, they're a very efficient company

Tôi sẽ nói điều này cho họ, họ là một công ty rất hiệu quả

Trong ví dụ này, Say dùng để đưa ra quan điểm cách đánh giá của người nói

– “tôi” về một công ty, nhân vật tôi này đánh giá “họ là một công ty rất hiệu quả”

Ở nghĩa vị thứ 3 của từ Say, người Anh dùng với mục đích nhằm “Giải thích/đưa ra

ý kiến” về việc gì đó, tức là người nói muốn làm cho người nghe hiểu rõ bằng cách giải thích hoặc đưa ra cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá riêng của mỗi người về

sự vật, sự việc, về một vấn đề nào đó Ở đây, cũng có đủ 3 tham tố xuất hiện: A – phát ngôn thể, B – tiếp ngôn thể và X – ngôn thể (nội dung phát ngôn) Như vậy ở

nghĩa vị 3 của từ Say có 2 nghĩa tố đó là: Sử dụng giọng nói; ―Giải thích‖ hoặc

―đưa ra quan điểm, cách đánh giá riêng‖ Nghĩa vị 3 của Say có thể được khái

quát thành cấu trúc như sau:

Say3: Sử dụng giọng nói (1) + giải thích/đánh giá riêng về ai/cái gì (4)

Ví dụ 4:

You could learn the basics in, let's say, three months

Người ta nói, bạn có thể học kiến thức cơ bản, chỉ mất 3 tháng

Ngữ cảnh trên nói về lời gợi ý cho người nghe về một khóa học cơ bản và dẫn chứng đưa ra để thuyết phục người nghe là thời gian khóa học này cũng không kéo dài quá lâu, người nói nhấn mạnh thời gian thực hiện khóa học chỉ mất 3 tháng

mà thôi Nghĩa vị 4 của từ Say bao gồm 2 nghĩa tố ―Sử dụng giọng nói‖; mục đích thực hiên phát ngôn (Gợi ý/ví dụ), ở đây, người nói không nhằm mục đích

“nói/kể”, “nhắc lại” hay “giải thích/đưa ra quan điểm” mà mục đích hướng đến là

“Gợi ra 1 vấn đề có đưa ra lí lẽ, dẫn chứng để người nghe tự suy nghĩ, tự có ý kiến hoặc tự quyết định làm một việc nào đó hoặc người nói dẫn ra một trường hợp cụ thể để minh họa để chứng minh” Nghĩa vị 4 cũng có đầy đủ 3 tham tố xuất hiện: A – phát ngôn thể, B – tiếp ngôn thể và X – ngôn thể (nội dung phát ngôn) Nghĩa vị

4 của Say có thể được khái quát thành cấu trúc như sau:

Say4: Sử dụng giọng nói (1) + mục đích gợi ý/ví dụ (5)

Ví dụ 5:

Trang 34

His angry glance said it all

Cái nhìn giận dữ của ông nói lên tất cả

Ở ví dụ 5 này, người nói nhằm mục đích đề cập đến suy nghĩ, cảm nghĩ của

ai đó bằng cách bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài hoặc bằng hành động thông qua các

bộ phận trên gương mặt mà cụ thể ở đây là ánh mắt - “cái nhìn‖ của người đàn ông Có nghĩa là nó nhấn mạnh đến sắc thái bộc lộ cảm xúc hơn là dùng lời nói để

bộc lộ 1 cách đơn thuần Trong ví dụ này, dựa vào ánh mắt toát lên vẻ giận dữ của người đàn ông đã cho người đối diện nhận biết được tâm trạng của người đàn ông

đó mà không cần người đó phải thể hiện ra bằng lời nói là tôi đang rất tức giận đây

Ở đây chính là sự chuyển nghĩa (hoán dụ) của từ Say, “nói” mà lại không dùng lời

nói, không sử dụng ngôn ngữ, hay nói cách khác nội dung người nói muốn thông

báo ở đây là người đàn ông đang giận dữ được “nói” lên (được thể hiện) qua “cái

nhìn giận dữ” Nghĩa vị 5 của Say có ý nghĩa dùng để đưa ra suy nghĩ, cảm nghĩ giải thích rõ ràng với ai đó bằng cái nhìn, hành động Như vậy, nghĩa vị 5 của Say

có thể được phân tích gồm các nghĩa tố: mục đích bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ,…;

cách thức thể hiện (Ánh mắt bộc lộ cảm xúc thay cho lời nói)

Say5: mục đích diễn đạt tư tưởng, tình cảm (6) + cách thức thể hiện tư

tưởng, tình cảm không phải bằng lời nói mà thông qua cái nhìn/hành động (-1)

Ví dụ 6:

The clock said three o'clock

Đồng hồ thông báo đã 3 giờ

Ở ngữ cảnh trên, Say có nghĩa vị 6 biểu thị ý nghĩa nhấn mạnh đến nghĩa tố thông báo và hướng dẫn Chủ ngữ ở đây không phải là người do vậy không có khả năng sử dụng ngôn ngữ mà là đồ vật - đồng hồ nên dựa trên hình ảnh, quy ước mặc định mà người ta hiểu được giá trị thông báo của nó Ví dụ, chuông đồng hồ phát ra

3 tiếng kêu hay kim giờ chỉ vào số 3 thì cho ta biết thời gian lúc này đã 3 giờ Như vậy, ở ngữ cảnh trên có những dấu hiệu gì đó nhằm mục đích thông tin cho một ai

đó biết về vấn đề gì hoặc chỉ bảo, dắt dẫn cho biết phương hướng, cách thức tiến hành một hoạt động nào đó Hoặc cũng có thể sử dụng ngôn ngữ để thông báo

Trang 35

hướng dẫn, ai làm việc gì đó Nghĩa vị 6 của Say có thể được khái quát thành cấu trúc như sau:

Say6: (±) Sử dụng giọng nói để thông báo về việc gì đó (± 1) + mục đích

nghĩa tố chung là “sử dụng giọng nói‖ và “mục đích thực hiện phát ngôn”, còn

từng mục đích như thế nào trong từng trường hợp sẽ được cụ thể hóa khi thực hiện phát ngôn, sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa mục đích thực hiện phát ngôn của người nói chính là yếu tố khu biệt 6 nghĩa của từ Say cũng như giúp khu biệt với nghĩa của 3 từ còn lại là tell, talk, speak

* Điểm riêng trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ Say:

Chúng ta có thể thấy, từ Say thuộc nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh được miêu tả với cấu trúc ngữ nghĩa gồm 6 nghĩa vị khác nhau Như vậy, có thể nói mối liên hệ giữa các nghĩa khác nhau của 1 từ đa nghĩa làm thành một cấu trúc Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy việc phân chia thành 6 nghĩa vị thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của từ Say được dựa trên cơ sở mục đích mà người nói (Phát ngôn thể) hướng đến 6 nghĩa vị là sự cụ thể hóa của 6 mục đích sử dụng khác nhau Cụ thể:

Ở nghĩa vị 1 là “Dùng để nói hoặc kể cho ai về việc gì.” Nhưng đến nghĩa vị

2 người nói tức Phát ngôn thể lại “Dùng để nhắc lại lời nói, câu nói (thường được dùng để đưa ra lời nói chính xác của ai đó)”, nghĩa vị 3 “Dùng để giải thích quan điểm, đưa ra ý kiến về việc gì (Nói về điều mà bạn thích (mặc dù bạn không tán thành) về ai đó)”; nghĩa vị 4 “Để gợi ý hoặc đưa ra ví dụ.”; nghĩa vị 5 “Dùng để đưa ra suy nghĩ, cảm nghĩ giải thích rõ ràng với ai đó bằng lời nói, cái nhìn, hành

Trang 36

động”; nghĩa 6 dùng để “Đưa ra thông tin về cái gì đó cụ thể hoặc sự hướng dẫn” Tóm lại, chúng ta có thể khái quát thành cấu trúc ngữ nghĩa của từ Say như sau:

Bảng 1: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Say

I've spoken to the manager about it

Tôi đã nói với giám đốc về việc đó

Ví dụ 1b:

Can I speak with you for a minute?

Tôi có thể nói chuyện với bạn trong một phút?

Ở ví dụ 1a, Speak được xuất hiện trong cấu trúc trúc “speak to some body about some thing” để biểu thị nghĩa vị dùng để nói với ai về việc gì, tức người nói

sử dụng ngôn ngữ, phát ra thành tiếng, thành lời để diễn đạt một nội dung nhất định

trong giao tiếp hội thoại với ai – “nói với giám đốc về việc đó” Như vậy, nhân vật tôi tức người nói muốn truyền tải nội dung thông tin là “Tôi đã nói với giám đốc về việc đó”, nói về một việc gì, một vấn đề gì đó đã xảy ra trong quá khứ Ở ví dụ 1b, speak được sử dụng trong câu với ý nghĩa: đưa ra một đề nghị có một cuộc “nói chuyện” với ―bạn”, tức là giữa 2 người sử dụng một ngôn ngữ cụ thể để thực hiện

cuộc hội thoại tức là có sự trao đổi, bàn bạc với nhau về 1 vấn đề nào đó Ở đây cũng có đầy đủ 3 vai, vai người nói, vai người nghe và nội dung nói, trong đó

Trang 37

người nói sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau Nghĩa vị 1 của Speak biểu thị ý nghĩa dùng để nói với ai về việc gì, hội thoại với ai có thể được chia

thành các nghĩa tố: Sử dụng giọng nói; mục đích thực hiện phát ngôn và tính chất trao đổi thông tin qua lại giữa các đối tượng tham gia giao tiếp, nghĩa vị 1 có thể

được khái quát thành cấu trúc như sau:

Speak1: Sử dụng giọng nói (1) + mục đích thực hiện phát ngôn (8) +

trao đổi thông tin qua lại (2 chiều) giữa 2 người (9)

Ví dụ 2:

Please speak more slowly

Làm ơn hãy nói chậm hơn

Trong ví dụ 2, Speak có nghĩa thiên về nhấn mạnh sử dụng giọng nói để nói điều gì đó; tức là ở đây nhấn mạnh đến yếu tố âm lượng/âm thanh của giọng nói -

Độ cao thấp, mạnh yếu của lời nói, tiếng hát hay nhấn mạnh cách thức diễn đạt bằng ngôn ngữ, biểu thị tình cảm, thái độ nhất định Cụ thể, người nói yêu cầu hãy nói chậm lại để quá trình trao đổi, giao tiếp có thể tiếp nhận thông tin được rõ ràng

nhất Như vậy ở nghĩa vị 2 của speak có 2 nghĩa tố: Sử dụng giọng nói; nhấn mạnh đặc trưng âm thanh của giọng nói; mục đích thực hiện phát ngôn (đưa ra yêu cầu)

Nghĩa vị 2 của Speak có thể được khái quát thành cấu trúc như sau:

Speak2: Sử dụng giọng nói (1) + mục đích yêu cầu ai đó làm việc gì (10)

+ đặc trưng âm thanh của giọng nói (11)

Ví dụ 3:

She still speaks about him with great affection

Cô ấy vẫn nói về anh ấy với vẻ đầy hứng khởi

Trong ví dụ này, nội dung của cuộc giao tiếp được người nói đang đề cập, tập trung hướng về nhân vật thứ 3 là “anh ấy”, với giọng điệu đầy hứng khởi cũng

là cách mà người nói nhằm mục đích gây được sự chú ý, thảo luận của người nghe

Ở nghĩa vị 3, Speak được dùng để đề cập hay mô tả ai/cái gì Tức là dùng ngôn ngữ

để nhằm được chú ý, xem xét, thảo luận về một vấn đề gì hoặc dùng ngôn ngữ hay một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người Nghĩa vị 3 của Speak có 3

Trang 38

nghĩa tố: Sử dụng giọng nói; mục đích thực hiện phát ngôn và nhấn mạnh cách thức diễn đạt – đề cập/mô tả Nghĩa 3 của Speak có đầy đủ 3 tham tố: A – phát

ngôn thể, B – tiếp ngôn thể và X – ngôn thể (nội dung phát ngôn)

Speak3: Sử dụng giọng nói (1) + mục đích thực hiện phát ngôn (8) + nhấn mạnh cách thức diễn đạt (đề cập/mô tả) (12)

Ví dụ 4a:

What language is it they're speaking?

Ngôn ngữ mà họ đang nói là gì vậy?

Ví dụ 4b:

Would you prefer it if we spoke in German?

Bạn sẽ thích hơn nếu chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Đức?

Ví dụ 4c:

French-speaking Canada

Người Pháp nói tiếng Canada

Ở cả 3 ví dụ trên, speak đều được sử dụng để nói về ngôn ngữ, tức là người nói sử dụng một số ngôn ngữ nào đó (Hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng môt cộng đồng) dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau (ví dụ 4a); còn ở ví dụ 4b thì lại để chỉ một ngôn ngữ cụ

thể (nói chuyện bằng tiếng Đức) được sử dụng để diến đạt suy nghĩ của bạn, ví dụ

4c thì lại nói về ngôn ngữ (thứ tiếng) được đề cập tới, đang sử dụng là ngôn ngữ

nước nào (tiếng Canada):

Speak4: Sử dụng giọng nói (1) + chỉ hành động nói đơn thuần nhất (ngôn ngữ/thứ tiếng) (13)

Như vậy, nghĩa tố làm nên sự khác biệt giữa Speak với 3 từ còn lại cũng như với các nghĩa vị khác của từ Speak là: speak chứa nghĩa tố nhấn mạnh đặc trưng ý nghĩa chỉ hành động nói đơn thuần nhất

Ví dụ 5:

Professor Wilson was invited to speak about the results of his research Giáo sư Wilson được mời phát biểu về kết quả nghiên cứu

Trang 39

Ở ví dụ 5 minh họa cho nghĩa vị 5 của từ speak; nghĩa vị 5 thì lại có sự chuyển nghĩa khá rõ rệt so với các nghĩa 4 nhưng lại khá gần với nghĩa 1, 2, 3 tức

là cũng sử dụng ngôn ngữ để nói lên, nêu lên ý kiến, và quan niệm, tình cảm của mình về vấn đề gì đó nhưng nó khác biệt ở chỗ nó nhấn mạnh cách thức trình bày - bài phát biểu và nhấn mạnh số lượng đông đảo tiếp nhận thông tin (khán giả, công chúng, đài, hội nghị) Trong ngữ cảnh này, trong bài phát biểu của giáo sư Wilson

về công trình nghiên cứu, ông sẽ phải trình bày một cách đầy đủ tất cả, lần lượt tất

cả các thông tin về quá trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của mình trước đông

đảo mọi người quan tâm Như vậy ở nghĩa vị 5 có 4 nghĩa tố: Sử dụng giọng nói; mục đích thực hiện phát ngôn và số lượng lớn tham gia tiếp nhận phát ngôn; cách thức trình bày (tính chất trang trọng) – bài phát biểu Như vậy có thể thấy speak

thường được “Sử dụng trong truyền thông 1 chiều”, đây cũng chính là nghĩa tố

đặc trưng tạo nên sự khác biệt về nghĩa với 3 từ còn lại trong nhóm chỉ hành động nói năng

Speak5: Sử dụng giọng nói (1) + mục đích thực hiện phát ngôn (8) + số lượng lớn tham gia giao tiếp (14) + thể hiện tính chất trang trọng (bài phát biểu) (15) + Sử dụng trong truyền thông 1 chiều (16)

Ví dụ 6:

She was clearly speaking the truth

Cô ấy nói sự thật một cách rõ ràng

Ví dụ trên, chủ thể phát ngôn cho biết “cô ấy” đã sử dụng ngôn ngữ, thực hiện hành động nói với mục đích tường thuật lại vấn đề gì đó đặc biệt nhấn mạnh

đến cách thức trình bày - Nói/tường thuật tức là kể lại rõ ràng, tường tận có đầu có

cuối về một việc gì đó đã xảy ra để người nghe có thể hiểu rõ nhất Đây chính là nghĩa tố làm cho nghĩa 8 của Speak khu biệt với các nghĩa còn lại trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ Speak

Speak6: sử dụng giọng nói (1) + mục đích thực hiện phát ngôn (8) + nhấn mạnh cách thức trình bày tường thuật 1 vấn đề (17)

Như vậy, chúng ta thấy từ Speak được miêu tả gồm 6 nghĩa khác nhau, trong

đó 6 nghĩa khác nhau này đều có điểm chung là “sử dụng giọng nói để giao tiếp”

Trang 40

còn cụ thể việc sử dụng ngôn ngữ đó như thế nào, với cách thức diễn đạt ra sao, mục đích để làm gì thì lại là các nghĩa tố khu biệt để cấu tạo nên từ Speak đa nghĩa

Chúng ta có thể nhận rõ sự khu biệt các nghĩa vị của speak dựa vào

bảng dưới đây: Cả 6 nghĩa vị của speak đều có chung nghĩa tố 1, nghĩa vị 1, 3, 5,

6 đều chung nghĩa tố 8, các nghĩa tố 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 ;à dùng để khu biệt các nghĩa vị

Bảng 2: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Speak

He told the news to everybody he saw

Anh ta nói về những tin tức mà anh ta đã thấy cho mọi người

Trong ngữ cảnh trên, phát ngôn thể là “anh ta” sử dụng ngôn ngữ để cung cấp thông tin cho một nhóm người Tell xuất hiện trong cấu trúc: tell some thing to some body, để biểu thị nghĩa vị - nói/cung cấp thông tin về nội dung gì đó với ai Như vậy ở nghĩa vị 1 của tell có thể phân tích thành các nghĩa tố: sử dụng ngôn ngữ; cung cấp thông tin; số lượng tiếp nhận thông tin lớn

Tell1: sử dụng giọng nói (1) + mục đích cung cấp thông tin (18) + số lượng tiếp nhận thông tin lớn (14)

Ví dụ 2:

The advertisement told us very little about the product

Bài quảng cáo cho chúng tôi biết rất ít thông tin về sản phẩm

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu - Đỗ Việt Hùng (Tuyển chọn và giới thiệu) (2005): Đỗ Hữu Châu tuyển tập, T1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
2. Mai Ngọc Chừ-Vũ Đức Nghiệu-Hoàng Trọng Phiến (2003): Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
5. Nguyễn Thiện Giáp, Các phương pháp nhiên cứu ngôn ngữ, NXB Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nhiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
10. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng, Tập I, Nxb KHXH, H., 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
17. Stepanov Ju. S, Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, Nxb ĐH&THCN, H., 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Stepanov Ju. S
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
Năm: 1977
25. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (2001): “Từ điển tiếng Việt thông dụng”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
27. Tài liệu trực tuyến http://www.ngonngu.net 28. http://hdl.handle.net/123456789/920 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Tiến Thắng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
38. “20 truyện ngắn song ngữ Anh – Việt” do Nguyễn Thị Ái Nguyệt - Cát Tiên biên dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 truyện ngắn song ngữ Anh – Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Ái Nguyệt, Cát Tiên
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
3. F. de.Saussure (1973): Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXBKHXH Khác
4. Nguyễn Thiện Giáp (1998): Cơ sở ngôn ngữ học. NXB Khoa học Xã hội Khác
6. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên) (1998): Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Khác
7. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên) (1996): Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Khác
8. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên) (2002): Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục Khác
9. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên) (2004): Lược sử Việt ngữ học, NXBĐHQGHN Khác
11. Đỗ Việt Hùng (2002): ý và nghĩa-hai quan niệm về ngữ nghĩa học. Tạp chí ngôn ngữ số 16 Khác
12. Vũ Đức Nghiệu, Về hiện tượng tương tự của từ vựng tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 1990 Khác
13. Hoàng Phê, Phân tích ngữ nghĩa, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, 1975 Khác
14. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ 1992 Khác
15. Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011 Khác
16. Solncev V.M., Về các huyền thoại ngôn ngữ học, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 1992 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Say - Kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong trong tiếng Việt
Bảng 1 Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Say (Trang 36)
Bảng 2: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Speak - Kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong trong tiếng Việt
Bảng 2 Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Speak (Trang 40)
Bảng 3: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Tell - Kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong trong tiếng Việt
Bảng 3 Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Tell (Trang 44)
Bảng 4: Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Talk - Kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong trong tiếng Việt
Bảng 4 Tóm tắt cấu trúc ngữ nghĩa của từ Talk (Trang 48)
Bảng 5: Bảng Ma trận tổng hợp các nghĩa tố của nhóm chỉ hành động  nói năng trong tiếng Anh say, tell, talk, speak - Kết cấu nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong trong tiếng Việt
Bảng 5 Bảng Ma trận tổng hợp các nghĩa tố của nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh say, tell, talk, speak (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w