Chúng tôi khảo sát từ ngữ địa phương Hậu Lộc cũng trên tinh thần cố gắng tìm ra sự ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ toàn dân đối với một phuơng ngữ cụ thể thông qua việc tìm hiểu những đặ
Trang 1Luận văn ThS Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn: GS TS Nguyễn Thiện Giáp
Trang 2
MỤC LỤC
I Lý do chọn đề tài 6
II Mục đích nghiên cứu 7
III Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 9
1 Đối tượng nghiên cứu 9
2 Phương pháp nghiên cứu 11
Nội dung 13 Chương I Địa phương Hậu Lộc và lịch sử nghiên cứu
tiếng địa phương Thanh Hoá 13
I Vài nét về địa phương huyện Hậu Lộc 13
II Lịch sử nghiên cứu phương ngữ, đặc biệt là phương ngữ Thanh Hoá 18 Chương II Miêu tả từ ngữ địa phương Hậu Lộc trong sự so sánh với từ ngữ toàn dân 22
I Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt 23
II Từ địa phương Hậu Lộc 24
1 Những đơn vị từ vựng khác âm so với từ toàn dân 25
2 Những đơn vị từ vựng khác nghĩa so với từ toàn dân 27
2.1 Ngữ định danh 30
2.2 Ngữ láy âm 34
3 Những đơn vị từ vựng khác biệt về ngữ pháp so với từ toàn dân 35
Chương III Đặc trưng ngữ âm của từ ngữ địa phương Hậu Lộc 43 I Những đặc trưng khác biệt về mặt ngữ âm giữa ba vùng Bắc, Trung, Nam 44
1 Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Bắc 44
2 Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung 45
3 Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam 46
II Đặc trưng ngữ âm của từ ngữ địa phương Hậu Lộc 48
1 Hệ thống phụ âm đầu 48
1.1 Đặc điểm chung của phụ âm đầu 48
1.2 Hệ thống phụ âm đầu trong phương ngữ Hậu Lộc 49
2 Hệ thống vần 58
2.1 Đặc điểm chung của vần 58
Trang 32.2 Vần trong phương ngữ Hậu Lộc 61
3 Hệ thống thanh điệu 66
3.1 Đặc điểm chung của thanh điệu 66
3.2 Hệ thống thanh điệu trong phương ngữ Hậu Lộc 70
Trang 4MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Mỗi cộng đồng cư dân đều có một ngôn ngữ nhất định để giao tiếp Tiếng Việt là ngôn ngữ đặc biệt quan trọng đối với người Việt Nó không chỉ là ngôn ngữ mẹ đẻ mà còn là một công cụ tư duy hữu ích để người Việt phát triển cộng đồng xã hội
Từ trước đến nay các nhà ngôn ngữ thường giới thiệu tiếng Việt như một thực thể thống nhất trong đa dạng Mỗi vùng miền là một sự thể hiện tương đối riêng của tiếng Việt Bất kể người Việt nào trên lãnh thổ Việt Nam, nghe người miền Bắc, người miền Trung hay người miền Nam nói họ đều có thể hiểu được và giao tiếp được Đó là do tính thống nhất rõ rệt của tiếng Việt trên dải đất hình chữ S Tuy nhiên khi trò chuyện với một người, có những yếu tố làm chúng ta cảm thấy ở
người đối thoại có nét nào đó khác biệt, hình như họ không cùng một
địa phương với mình hay hình như họ từ tận miền cực Nam của tổ quốc Rất nhiều lý do để chúng ta có thể nhận ra rằng tiếng Việt trên
mỗi miền đất nước có những thay đổi và khác biệt Đó là nét đa dạng
mà nhiều nhà nghiên cứu đã dày công khảo sát và nghiên cứu
Tiếng địa phương là nơi lưu giữ những dấu ấn văn hoá đặc trưng của từng vùng miền Trên thực tế, tiếng địa phương là một biểu hiện rất sinh động của ngôn ngữ toàn dân Khi người nghiên cứu nắm được diện mạo, đặc điểm, ý nghĩa của từng địa phương cũng có nghĩa là đã
có một cái nhìn thấu đáo về ngôn ngữ dân tộc
Trang 5Dưới sự tác động, phát triển của xã hội, quá trình giao lưu tiếp xúc ngày càng mở rộng, vai trò của ngôn ngữ văn hoá đối với phương ngữ ngày càng lớn, quá trình thống nhất ngôn ngữ đang diễn ra nhanh chóng Có một vấn đề đặt ra, liệu phương ngữ có rơi vào quá trình giải thể để tạo nên một ngôn ngữ thống nhất hay không? Bộ mặt phương ngữ sẽ ra sao? Vốn từ và vai trò của bộ phận từ trong phương ngữ sẽ thế nào? Việc dùng từ địa phương trong ngôn ngữ văn học có cần thiết không? Phương ngữ có phát huy được vai trò giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc? Nhiều câu hỏi được đặt ra đối với sự tồn tại và phát triển của phương ngữ Chúng tôi khảo sát từ ngữ địa phương Hậu Lộc cũng trên tinh thần cố gắng tìm ra sự ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ toàn dân đối với một phuơng ngữ cụ thể thông qua việc tìm hiểu những đặc điểm về ngữ âm và từ vựng ngữ nghĩa của từ ngữ địa phương Hậu Lộc
Phương ngữ Hậu Lộc là một phương ngữ nhỏ của phương ngữ Thanh Hoá, nơi có nhiều dấu ấn địa phương rõ rệt Có thể nghiên cứu phương ngữ trên nhiều bình diện Ở đây chúng tôi lần lượt khảo sát hệ thống từ ngữ địa phương trong phương ngữ Hậu Lộc để tìm ra sự khác biệt về ngữ âm và từ vựng ngữ nghĩa Từ ngữ địa phương ở đây là những từ được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày của cư dân Hậu Lộc,
nó bao gồm một bộ phận từ trong ngôn ngữ toàn dân và một bộ phận từ chỉ có trong phương ngữ Hậu Lộc Qua quá trình khảo sát chúng tôi sẽ
có được một cái nhìn khái quát về ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa trong phương ngữ Hậu Lộc Trên tinh thần đó chúng tôi đã chọn đề tài
“Khảo sát từ ngữ địa phương huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá” để
làm mục tiêu khảo sát
Trang 6II Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phương ngữ nhằm phát hiện ra những điểm mạnh của từng phương ngữ góp phần giúp cho phương ngữ nhích dần lại ngôn ngữ toàn dân theo con đường ngắn nhất, hợp lý nhất đối với cấu trúc nội bộ của từng phương ngữ
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vùng phương ngữ trên khắp các miền đất nước Từ Bắc vào Nam, hầu hết những vùng phương ngữ lớn và nổi bật đã được các học giả quan tâm bằng nhiều công trình nghiên cứu cụ thể Phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung là hai vùng phương ngữ lớn còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ hơn cả Vì thế cho nên người ta thường tìm về cội nguồn của tiếng Việt bằng cách dựa vào những bằng chứng về ngôn ngữ còn được lưu giữ lại trong vốn từ địa phương Địa bàn Thanh Hoá thuộc vùng phương ngữ Trung, hầu hết các nhà phương ngữ nghiên cứu về địa bàn này đều có cái nhìn thống nhất về tổng quan phương ngữ Thanh Hoá Những đặc điểm về thanh điệu, sự nhầm lẫn giữa thanh ngã và thanh hỏi đã được nhiều người biết đến Tuy nhiên khảo sát cụ thể từng vùng thổ ngữ, phương ngữ nhỏ hơn trên địa bàn lại chưa được nghiên cứu nhiều, kỹ lưỡng Nếu so với tiếng địa phương Nghệ Tĩnh thì tiếng địa phương Thanh Hoá ít được nghiên cứu khảo sát hơn Có lẽ cũng vì một phần là do đặc điểm lưu giữ yếu tố cổ, yếu tố khác biệt ở đây chưa rõ rệt và nổi trội như những thổ ngữ, vùng phương ngữ nhỏ trên địa bàn Nghệ Tĩnh Tuy nhiên nếu có nhiều hơn nữa những công trình đầu tư nghiên cứu về tiếng địa phương Thanh Hoá, chắc chắn các nhà phương ngữ cũng sẽ tìm thấy nhiều tư liệu thú vị và quý giá, góp phần làm phong phú hơn diện mạo của các vùng phương ngữ trên đất nước Việt Nam
Trang 7Tiến hành nghiên cứu được ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa của từ ngữ địa phương Hậu Lộc chúng tôi đã chọn một số xã có giọng nói tiêu biểu đại diện cho mỗi vùng để tiện cho việc điều tra và miêu tả
Với đề tài này chúng tôi cố gắng tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa tiếng địa phương Hậu Lộc với ngôn ngữ toàn dân, góp phần miêu tả bức tranh toàn cảnh về phương ngữ Thanh Hoá Đồng thời đây cũng là một trong những nguồn tư liệu để các tác giả khác có thể nghiên cứu sâu hơn hoặc nghiên cứu những vấn đề có liên quan Qua quá trình khảo sát những nét dị biệt về ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa, cụ thể là sự biểu hiện trong từng thổ ngữ cũng thêm một lần nữa khẳng định rằng yếu tố bất biến là cái mã của tiếng Việt và cuối cùng các biến thể cũng trở về cái bất biến trong ngôn ngữ Phương ngữ là một bộ phận thống nhất của ngôn ngữ toàn dân nhưng không đồng nhất bởi nó luôn có quá trình tự vận động và phát triển Quá trình phát triển liên tục đó đã tạo nên sự đa dạng, phong phú của tiếng Việt trên các vùng miền khác nhau
III Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện yêu cầu của đề tài chúng tôi đã tiến hành điều tra vốn từ được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày của cư dân vùng Hậu Lộc Do giới hạn của đề tài nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát từ ngữ địa phương Hậu Lộc trên bình diện ngữ âm, từ vựng kỹ lưỡng hơn, còn một bộ phận từ mang nghĩa ngữ pháp thì tương đối khái quát
Địa bàn Hậu Lộc là một địa bàn tương đối rộng bao gồm nhiều làng xã Địa bàn cũng là nơi cộng cư của nhiều thành phần cư dân khác
Trang 8nhau Trên địa bàn có nhiều làng cổ nhưng cũng có nhiều làng đã có sự pha trộn, cư dân mới đến sinh sống cùng với cư dân gốc ở đây Ngôn ngữ là bộ phận gắn liền với dân cư nên cũng chịu một số ảnh hưởng từ quá trình pha trộn này Tuy nhiên sự pha trộn về dân cư là không đáng
kể, không gây ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ trên địa bàn vốn lâu nay là nơi cội nguồn của cư dân Hậu Lộc Trong quá trình điều tra cũng vì giới hạn của thời gian và mức độ thực sự cần thiết cho quá trình điều tra trên diện rộng nên chúng tôi đã quyết định phân vùng điều tra và chọn những nơi có nhiều đặc trưng điển hình làm vùng đại diện Việc chọn các xã đại diện cho giọng nói của mỗi vùng dựa trên hai căn cứ sau:
1) Dựa vào sự thẩm nhận của người địa phương đó là những xã
có giọng nói đặc biệt hơn cả
2) Dựa vào những đặc diểm về địa lý, lịch sử, dân cư chúng tôi chọn những xã trung tâm chính trị – văn hoá, xa đường quốc lộ, tỉnh lộ Theo tiêu chí này, chúng tôi đã chọn được một số xã đại diện cho mỗi vùng khảo sát sau:
- Xã Ngư Lộc (vùng 1)
- Xã Hoa Lộc (vùng 2)
- Xã Văn Lộc (đại diện cho các xã còn lại của vùng 3)
Ba xã này là những điểm điền dã chính cho những đợt điều tra của chúng tôi Sau khi thu thập tư liệu, một vấn đề đặt ra là chọn điểm điều tra nào là tiêu điểm cho việc miêu tả Nếu lấy giọng được coi là phổ biến cho giọng Hậu Lộc thì phải lấy giọng của người Văn Lộc, khảo sát từ ngữ địa phương mà người Văn Lộc sử dụng trong giao tiếp Nếu lấy giọng tiêu biểu điển hình cho sự khác biệt, thậm chí là khác
Trang 9biệt đến mức khó nghe của giọng Hậu Lộc thì phải chọn giọng Hoa Lộc (đặc biệt là giọng của người trong thôn Hoa Trung hay còn gọi là thôn Hoa Trường), giọng Ngư Lộc Nếu khảo sát vốn từ địa phương về mặt từ vựng có sự khác biệt về nghĩa thì phải điều tra toàn diện, thu thập được càng nhiều tư liệu càng tốt, lúc đó mới có cơ sở để thống kê
số lượng từ vựng của riêng địa phương Hậu Lộc Như vậy tuỳ vào mục đích nghiên cứu trong từng phần mà chúng tôi sẽ chọn đại diện để khảo sát miêu tả
Các nhân chứng mà chúng tôi đã điều tra và ghi âm:
Cụ Phạm Thị Thanh, 68 tuổi, xã Hoa Lộc
Cụ Nguyễn Văn Tất, 62 tuổi, xã Ngư Lộc
Chú Nguyễn Hải Nam, 45 tuổi, xã Ngư Lộc
Cô Lê Thị Hạt, 41 tuổi, xã Văn Lộc
Anh Hà Văn Hải, 35 tuổi, xã Hoa Lộc
Chị Phạm Thị Huyền, 30 tuổi, xã Minh Lộc
2 Phương pháp nghiên cứu
Để có được nguồn từ liệu cho quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành điều tra trên nhiều đối tượng dân cư, điều tra qua bảng từ, điều tra trên tư liệu được ghi lại bằng băng ghi âm ngôn ngữ giao tiếp sinh hoạt hàng ngày Sau khi thu thập được tư liệu chúng tôi đã tiến hành khảo sát, so sánh, đối chiếu từ trong hai hệ thống, giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ, từ đó tìm ra những đặc điểm cơ bản về ngữ
âm, từ vựng ngữ nghĩa
Với mục đích có được sự hình dung tương đối cụ thể và đầy đủ các nét ngữ âm địa phương, đặc biệt là trong phần miêu tả thanh điệu chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích miêu tả ngữ âm học và âm vị
Trang 10học kết hợp với so sánh đối chiếu Do không có điều kiện sử dụng máy móc thực nghiệm nên trong quá trình xử lý đề tài, bằng quan sát trực tiếp, chúng tôi dựa trên phân tích phương ngữ của người bản ngữ (sử dụng thính giác của người phân tích)
Đối với phần khảo sát các đơn vị từ vựng (đơn vị từ và những đơn vị tương đương với từ) chúng tôi sử dụng chủ yếu là phương pháp
so sánh đối chiếu nhằm đưa ra được hệ thống bảng từ địa phương có sự khác biệt với từ trong ngôn ngữ toàn dân
Đối với phần khảo sát những hiện tượng từ vựng mang ý nghĩa ngữ pháp chúng tôi dựa trên tinh thần sử dụng phương pháp thống kê
là chủ yếu Những trường hợp có tần số xuất hiện cao sẽ được quy vào những hiện tượng điển hình Vì thế trong quá trình thống kê các đơn vị
ngữ pháp như ngữ khí từ, đại từ xưng hô, đại từ chỉ định và nghi vấn
chúng tôi đưa ra những trường hợp điển hình nhất được sử dụng nhiều nhất Tiếp đó là quá trình đối chiếu với hệ thống tương đương trong phương ngữ Bắc Kết quả của quá trình đối chiếu chính là kết luận chúng tôi rút ra được trong quá trình làm việc Mục đích cuối cùng của luận văn là tìm ra được một cách miêu tả về diện mạo của một phương ngữ ít được quan tâm và chú ý
Trang 11NỘI DUNG
Chương I ĐỊA PHƯƠNG HẬU LỘC VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG THANH HOÁ
I Vài nét về địa phương huyện Hậu Lộc
Theo các sách địa chí và địa danh được viết trong thời Lê và thời Nguyễn thì từ thời Trần về trước, huyện Hậu Lộc có tên là huyện Thống Bình, thời thuộc Minh (thế kỷ XIV) đổi là Thống Ninh (thuộc
Ái Châu, phủ Thanh Hoá) sang thời Lê đã được gọi là huyện Thuần Hữu thuộc phủ Hà Trung Đến thời Lê Trung Hưng do tránh tên huý của vua Lê Chân Tông mà huyện Thuần Hữu được đổi thành Thuần Lộc Về sau lại đổi chữ Thuần thành chữ Phong và gọi là huyện Phong Lộc Đến năm Minh Mệnh thứ hai (1821) mới thay chữ Phong bằng chữ Hậu và gọi là huyện Hậu Lộc Như vậy có tên Hậu Lộc chỉ mới
gần 200 năm nay Trong tên này, Hậu có nghĩa là “đầy đặn” trái nghĩa với “bạc” là mỏng, cùng nghĩa với chữ Hậu trong các từ “hậu tạ”,
“hậu đãi”, “phúc hậu”…
Bờ biển Hậu Lộc vừa lở vừa bồi rất nhanh Trong khi bờ biển vùng Đa Lộc ngày càng tiến ra biển thì bờ biển vùng Hải Lộc, Ngư Lộc lại càng ngày càng sụt lở sâu vào đất liền, khiến cho các làng xóm nơi đây phải di dân nhiều lần Hiện tại, để chống lại sự xâm thực của biển, Nhà nước đã cùng với nhân dân Hậu Lộc xây dựng Kè Vích chạy dọc bờ biển từ làng Vích (thuộc xã Hải Lộc) đến làng Diêm Phố (thuộc
xã Ngư Lộc) dài đến 4 km Biển đông không phải lúc nào cũng chung
Trang 12sống hoà bình với bờ biển Hậu Lộc Những năm có bão to lụt lớn,
ngoài biển cả có nước dâng, thường gọi là “hồi đông” Chính vì những
hiện tượng phá huỷ của tự nhiên nên trong vốn từ của cư dân Hậu Lộc khá nhiều những đơn vị từ chỉ những hiện tượng thiên tai của biển cả
Ví dụ như từ “hồi đông” chỉ hiện tượng dâng nước trong bão hoặc
trong những trận động đất mạnh mà trong ngôn ngữ toàn dân chúng ta
gọi là sóng thần Sóng biển phá lở ruộng đồng làng mạc, làm cho đoạn
bờ biển phía Nam cứ lui dần, lùi mãi vào bên trong
Xét trong phạm vi Thanh Hoá thì Hậu Lộc là một huyện đồng bằng ven biển ở phía đông bắc tỉnh lỵ Tính theo đường chim bay thì từ thành phố Thanh Hoá đến huyện Hậu Lộc, điểm gần nhất (cầu Sài xã Thuần Lộc) chỉ hơn 10 km, điểm xa nhất (mõm Gãnh thuộc đầm cói
Đa Tân, xã Đa Lộc) cũng chỉ ngoài 30 km Đến huyện lỵ hiện tại (thị trấn Hậu Lộc, chợ Dầu, xã Thịnh Lộc) khoảng 16 km Hậu Lộc nằm ở vùng trung tâm của phủ Hà Trung cũ
Xét trong phạm vi Việt Nam thì Hậu Lộc là một trong những huyện ven biển nằm ở cực Bắc Trung Bộ, trên tuyến đường sắt xuyên Việt và trục đường quốc lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội khoảng 100 km về phía đông nam
Nhìn chung địa giới Hậu Lộc được phân định phù hợp với diên cách tự nhiên của sông núi Về phía Bắc, con sông Lèn, một nhánh của sông Mã chảy từ ngã ba Bông đến cửa Lạch Sùng là đường biên giới tự nhiên giữa Hậu Lộc với hai huyện Hà Trung và Nga Sơn
Phía Tây và Nam Hậu Lộc giáp với huyện Hoàng Hoá bởi núi Sơn Trang, Đồi Gai, sông Ấu và sông Lạch Trường Phía đông giáp biển, từ bờ biển Hậu Lộc đến đường hải giới Việt Nam – Trung Quốc
Trang 13dài 200 km Xét theo kinh độ và vĩ độ trên mặt địa cầu thì phần đất liền Hậu Lộc nằm sát vĩ tuyến 20 độ Bắc, điểm cực Bắc của Hậu Lộc ở vị trí 19o59‟ 20‟‟ Đó là mũi nhọn Làn thuộc xứ Đồng Bản, một bãi bồi của sông Lèn ở địa phận làng Thiều Xá, xã Cầu Lộc (giáp với xã Hà Lâm, Hà Trung) Điểm cực Nam của Hậu Lộc ở vĩ tuyến 19o52‟ 50‟‟
Đó là mũi Xương Cá thuộc đồng muối Nam Tiến xã Hoà Lộc (giáp thôn Đôn Nghĩa ở chân núi Trường) xã Hoằng Yên, Hoằng Hoá Như vậy từ Bắc tới Nam đất đai Hậu Lộc chỉ rộng 6‟30 giây vĩ độ khoảng
12 km
Điểm cực Tây Hậu Lộc là Eo Hàn, thôn Phong Mục xã Châu Lộc gần làng Chè, xã Hoằng Khánh, Hoằng Hoá Nằm trên đường kinh tuyến 105o59‟ 50‟‟ Điểm cực đông của Hậu Lộc là Mõm Gánh, nhô ra biển của đồng cói Đa Tân, xã Đa Lộc nằm trên kinh tuyến 105o59‟ 50‟‟
Như vậy chiều ngang từ tây sang đông của Hậu Lộc kéo dài 13‟30‟‟ kinh độ (gần 24 km) gấp đôi chiều dọc từ bắc xuống nam
Quan sát địa hình của Hậu Lộc, một thầy giáo địa lý lâu năm của huyện này đưa ra một số so sánh như sau: phần đất liền của Hậu Lộc giống như một con chim đang bay ra Vịnh Bắc Bộ Đầu và mỏ chim là vùng bãi bồi đồng cói Đa Tân (Đa Lộc), cổ chim vươn dài về phía đông là các xã Minh Lộc, Hưng Lộc, Đa Lộc Ức chim nở rộng là các
xã Hải Lộc, Hoà Lộc, Xuân Lộc Chân chim quặp lại về phía tây nam
là các xã Văn Lộc, Thuần Lộc Cánh chim sải dài về phía tây (từ Quang Lộc đến Châu Lộc)
Hậu Lộc là địa bàn của cư dân sống từ lâu đời Tên làng xã trong huyện trải qua thời gian lịch sử lâu dài cũng có nhiều thay đổi Từ thời
Trang 14Gia Long (1802 - 1820) về trước đơn vị Hậu Lộc cũng như nhiều huyện khác trong nước, các đơn vị cư dân cơ sở gồm nhiều loại lớn nhỏ khác nhau và nhìn chung đều hình thành một cách tự phát Những đơn vị cư dân mới hình thành còn nhỏ và chưa có quy củ thường được
gọi là trang, ấp, sở, trại, chòm, xóm hoặc van (nếu là dân đánh cá ở ven sông ven biển) Cũng có khi được gọi là xá nghĩa là nhà Ví dụ: Vũ
Xá (nhà họ Vũ), Trương Xá (nhà họ Trương)
Những đơn vị cư dân tương đối đông (gồm nhiều chòm, xóm,
trang, trại …) có tổ chức tương đối quy củ mới được gọi là xã Ví dụ:
xã Lục Trúc thường được gọi tắt là xã Lục, bao gồm 6 chòm (Chòm
Trước, Chòm Giữa, Chòm Hậu, Chòm Ngu, Chòm Nhất, Chòm Da)
Đơn vị kẻ cũng được dùng từ lâu đời ở Hậu Lộc nhưng không tồn tại lâu dài Vì thế, về sau chỉ những làng tương đối cổ mới gọi là kẻ Ví
dụ, Kẻ Sơn, Kẻ Ngọ (nay thuộc xã Tiến Lộc), Kẻ Lãi (nay thuộc xã Lộc Sơn) Ngày nay danh từ kẻ thường ít dùng và chỉ có thể tìm thấy trong
những sáng tác dân gian cổ truyền Ví dụ:
Rượu ngon Kẻ Năn
Khi đơn vị thôn được áp dụng phổ biến và chính thức, ở Hậu
Lộc cũng như nhiều nơi khác đều có hiện tượng đáng chú ý là một số
Trang 15danh từ chung chỉ đơn vị như trang, trại, bái, xá … trước gắn với tên riêng, nay biến thành tên địa danh Ví dụ thôn Do Trang, thôn Bái
Trung, thôn Vũ Xá, thôn Trương Xá … Các từ trang , bái, xá trong các
địa danh trên đây đều vốn là danh từ chung chỉ đơn vị được chuyển thành danh từ riêng
Tuy Hậu Lộc không phải là một huyện lớn (xét về diện tích và dân số) nhưng Hậu Lộc có một bề dày lịch sử, một thiên nhiên phong phú đa dạng, một cộng đồng xã hội có tổ chức truyền thống từ lâu đời Xét trên nhiều phương diện, Hậu Lộc vừa có những nét riêng mang tính địa phương độc đáo vừa có những đặc điểm chung mang tính phổ biến, tiêu biểu cho nhiều huyện đồng bằng ven biển ở Thanh Hoá và nhất là các huyện ven biển miền Bắc và miền Trung
Hậu Lộc có đồi núi và đồng bằng, có sông biển và hải đảo cho nên con người và giọng nói ở đây cũng có nhiều nét phong phú Trên
cơ sở của những điều kiện tự nhiên người Hậu Lộc đã sớm tạo ra những hoạt động kinh tế phong phú, đa dạng với rất nhiều ngành nghề
cổ truyền khác nhau (chăn nuôi, trồng trọt, đánh cá, làm muối, nấu mắm, nghề rèn, nghề kim hoàn, nghề mộc, nghề gốm, nghề đóng thuyền, khai thác lâm sản, đi bè, làm đồ tre mây, đay cói )
Trước cách mạng tháng Tám, Hậu Lộc rất nghèo và không biết
từ bao giờ đã sinh ra câu phương ngôn coi Hậu Lộc là huyện nghèo
“thứ ba” ở Thanh Hoá: “Nhất Xương, nhì Gia, thứ ba Hậu Lộc” Ngày
nay đời sống cư dân đã khá hơn, đều hơn nhưng nhìn chung vẫn chưa giầu Người Hậu Lộc vừa phải tiếp thu những cái mới, xây dựng và phát triển kinh tế địa phương, vừa phải đấu tranh với những tư tưởng,
nhận thức hạn chế như: “Đèn nhà ai rạng nhà nấy”, “Mõ làng nào,
Trang 16làng ấy đánh – Thánh làng nào làng ấy thờ – Cờ làng nào làng ấy kéo”, “Khôn ngoan ở đất nhà bay – Dù xe ngựa cỡi đến đây cũng hèn” …
Sự phát triển của nghề nghiệp đã gắn liền với điều kiện tự nhiên
và khả năng khai thác, sử dụng cải tạo để thoả mãn những nhu cầu khác nhau của con người Từ lâu Hậu Lộc đã nổi tiếng với nhiều loại sản vật, đặc biệt là những sản phẩm từ ngư nghiệp Thiên nhiên đã đem đến cho con người Hậu Lộc khá nhiều ưu đãi và thuận lợi đồng thời cũng gây cho họ không ít khó khăn trở ngại và tai hoạ, nhiều khi rất dữ dội và khủng khiếp Tuy vậy người Hậu Lộc vẫn lạc quan với cuộc sống, gìn giữ truyền thống, phát triển kinh tế địa phương và bảo lưu những nét riêng trong đó phương ngữ là một dấu ấn quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của cư dân Hậu Lộc
II Lịch sử nghiên cứu phương ngữ, đặc biệt là phương ngữ Thanh Hoá
Ngay từ đầu thế kỷ XX một vài công trình nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt của một số học giả như L Cadière (1902, 1911*), H Maspéro (1912*) đã xuất hiện với những vấn đề được nêu
ra là việc phân vùng phương ngữ tiếng Việt và những đặc điểm cụ thể
của một phương ngữ / vùng phương ngữ nào đó
Nửa sau thế kỷ XX, vị thế của tiếng Việt được nâng lên, vấn đề phương ngữ được các học giả trong và ngoài nước quan tâm nhiều hơn Nhiều công trình nghiên cứu xuất hiện, khảo cứu nhiều vùng phương ngữ từ Bắc tới Nam Đối tượng và thủ pháp nghiên cứu ngày càng được mở rộng và đa dạng, tập trung vào hai vấn đề lớn sau:
Trang 171/ Vấn đề phân vùng phương ngữ
2/ Vấn đề mô tả các thổ ngữ hay một vùng phương ngữ nào đó Khi bàn về việc phân vùng phương ngữ tiếng Việt đã có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến chia tiếng Việt làm 2 vùng phương ngữ tuy ranh giới của họ không như nhau (M Gordina và các đồng sự, 1970; Hoàng Phê, .), có ý kiến chia tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ (Hoàng Thị Châu, 1989; Võ Xuân Trang, 1997 và nhiều người khác),
có ý kiến chia tiếng Việt thành 4 vùng phương ngữ (Nguyễn Kim Thản, 1982), lại có ý kiến chia tiếng Việt làm 5 vùng phương ngữ (Nguyễn Bạt Tuỵ, 1950; Huỳnh Công Tín, 1999) và thậm chí lại có nhà nghiên cứu cho rằng không nên phân chia tiếng Việt thành các vùng phương ngữ bởi vì sự khác biệt giữ chúng là không rõ ràng
` Như vậy khi bàn về vấn đề phân vùng phương ngữ đã có nhiều ý kiến khác nhau, mỗi ý kiến lại căn cứ trên những tiêu chí riêng và nhấn mạnh vào từng tiêu chí riêng Trong luận văn này chúng tôi theo quan điểm chia tiếng Việt làm ba vùng phương ngữ (Hoàng Thị Châu, 1989;
Võ Xuân Trang, 1997 và nhiều người khác), cụ thể như sau:
Vùng Phương ngữ Bắc: toàn bộ các tỉnh phía Bắc
Vùng Phương ngữ Trung: từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân
Vùng Phương ngữ Nam: từ đèo Hải Vân đến hết miền cực Nam của Tổ quốc
Theo sự phân chia này thì phương ngữ Thanh Hoá thuộc vùng phương ngữ Trung Tuy nhiên do vị trí địa lý, Thanh Hoá là tỉnh tiếp giáp với phần đất cuối cùng của miền Bắc đồng thời là điểm mở đầu của miền Trung nên phương ngữ Thanh Hoá ít nhiều sẽ mang tính chất chuyển giao giữa hai vùng phương ngữ Điều này đã được một số công
Trang 18trình khảo cứu và công bố Luận văn này chúng tôi bước đầu khảo sát
từ ngữ địa phương huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá cũng một phần là trên tinh thần đó
Giống như các vùng khác của địa bàn Bắc bộ, địa bàn Trung bộ, phương ngữ Thanh Hoá cũng tồn tại khá nhiều thổ ngữ, thậm chí là tương đối dày đặc Tuy nhiên các công trình nghiên cứu một cách đầy
đủ và cụ thể về từng thổ ngữ trên địa bàn không nhiều, có thể nói là rất
ít Nguồn tư liệu chúng tôi thu thập được và được biết như sau:
1) Phạm Văn Hảo, Về một số đặc trưng của tiếng Thanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc bộ và Trung bộ Những vấn
đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông, Hà Nội, 1986
2) Phạm Văn Hảo, Về đặc trưng một số đường đồng ngữ trong các phương ngữ tiếng Việt tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á,
Ngoài ra trong hoạt động nghiên cứu một số nhà ngôn ngữ cũng
có một số công trình tìm hiểu về tiếng địa phương Thanh Hoá hoặc có tìm hiểu về một vài đặc trưng nổi bật của tiếng Thanh Hoá như Trần Trí Dõi, Đoàn Thiện Thuật Các tác giả này đã góp phần nhiều trong
Trang 19việc nhận diện tiếng địa phương Thanh Hoá như một phương ngữ có đặc điểm riêng và khác biệt so với các tiếng địa phương khác
Nguồn công trình nghiên cứu trước đây không nhiều cũng gây một số khó khăn cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu như vấn đề
kế thừa, vấn đề so sánh đối chiếu Tuy nhiên nếu vùng phương ngữ này chưa được cày xới nhiều thì điều đó cũng có nghĩa đây là vùng đất màu
mỡ để chúng tôi có thể khảo sát với nhiều nguồn tư liệu phong phú Cũng xuất phát từ quan điểm lấy tư liệu làm phương tiện chính để nghiên cứu nên chúng tôi đã tiến hành điều tra thực địa trên toàn địa bàn Hậu Lộc, khảo sát tư liệu phương ngữ trên nhiều đối tượng khác nhau Kết quả của quá trình khảo sát, chúng tôi đã phân vùng từ ngữ địa phương huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá thành 3 vùng thổ ngữ tương đối khác nhau Trên cơ sở đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu Thổ ngữ Ngư Lộc, thổ ngữ Hoa Trường và các vùng còn lại (Sở dĩ chúng tôi tách riêng hai thổ ngữ Ngư Lộc và Hoa Trường ra thành đối tượng nghiên cứu độc lập bởi vì trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy hai thổ ngữ này có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với các vùng còn lại Chỉ cần nghe cách phát âm là người Hậu Lộc có thể biết được rõ ràng đó là người Hoa Trường, người Ngư Lộc hay không) Tuy nhiên kết cấu luận văn cũng đi theo mạch chính là miêu tả hệ thống từ vựng, tiếp đến là miêu tả hệ thống ngữ âm Với những kết luận được rút ra từ những vấn đề được nghiên cứu như trên, chúng tôi tiến hành so sánh với một số vùng thổ ngữ lân cận như thổ ngữ Hoằng Hoá, thổ ngữ Quảng Xương, góp phần vào công việc mô tả đặc trưng phương ngữ Thanh Hoá nói chung
Trang 20Chương II MIÊU TẢ TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG HẬU LỘC TRONG SỰ SO SÁNH
VỚI TỪ NGỮ TOÀN DÂN
Từ vựng là một trong những bộ phận quan trọng của một ngôn ngữ Nếu như ngữ âm là thành phần dễ nhận diện ra một phương ngữ, thổ ngữ thì từ vựng, đặc biệt là ngữ pháp là bộ phận khó nhận diện hơn Tuy nhiên, bằng kinh nghiệm sống, tri thức nhất định về phương ngữ, thổ ngữ người ta cũng có thể nhận diện ra người nói thuộc vùng nào trên đất nước Việt Nam
Mỗi ngôn ngữ có một vốn từ nhất định Vốn từ cũng là nơi phản ánh được những đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp của ngôn ngữ, đồng thời cũng là nơi lưu giữ bản sắc văn hoá của từng vùng dân cư Qua vốn từ trong từng phương ngữ, người ta có thể khu biệt tiếng nói của vùng này với các vùng khác, với ngôn ngữ toàn dân Vốn từ địa phương cũng là phương tiện đặc biệt giúp lựa chọn từ ngữ, hiệp vần, bắt nhịp tạo nên
âm hưởng, giọng điệu riêng của mỗi vùng Tính cách của người dân địa phương Hậu Lộc đã được thể hiện phần nào qua vốn từ địa phương của nó Tuy nhiên, dù có những khác biệt với vốn từ toàn dân nhưng từ địa phương vẫn nằm trong một thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với từ toàn dân Tìm hiểu vốn từ địa phương của phương ngữ Hậu Lộc
là góp phần tìm hiểu thêm về từ địa phương Thanh Hoá, một bộ phận quan trọng của phương ngữ Trung
Phương ngữ Hậu Lộc có vốn từ tương đối đa dạng Hệ thống từ vựng trong phương ngữ Hậu Lộc có thể chia làm hai loại, từ và những đơn vị tương đương với từ Sự khác biệt giữa từ trong phương ngữ Hậu
Trang 21Lộc với từ toàn dân cũng được xem xét trên hai mặt âm và nghĩa Chính vì vậy có thể phân chia từng bộ phận từ vựng thành các loại khác nhau như sau:
- Từ khác với toàn dân về ngữ âm: tời (trời), lả (lã), …Những
biến đổi ngữ âm đã tạo nên những từ khác âm bộ phận Các từ này chỉ khác nhau ở một hoặc hai bộ phận, có thể ở phụ âm đầu, nguyên âm, ở phụ âm cuối hay ở thanh điệu Một từ biến đổi về ngữ âm không phải biến đổi tất cả các bộ phận cùng một lúc mà phần lớn chỉ biến đổi một trong những bộ phận này, trong khi các bộ phận kia vẫn còn nguyên
Vì thế đây là cơ sở để khẳng định rằng các bộ phận đó là âm vị, rằng
âm tiết có thể phân đoạn được Một người thuộc phương ngữ khác có thể hiểu được những từ này không khó lắm, chỉ bằng cách đối chiếu với cái vỏ ngữ âm na ná trong óc mình để chỉ hiện tượng đó Còn đối với nhà ngữ âm lịch sử thì không những nhận diện được, mà còn qua chúng phát hiện được những quy luật ngữ âm của tiếng Việt
Tuỳ theo bộ phận khác âm ta có thể chia ra những từ khác phụ
âm đầu, những từ khác nguyên âm và những từ khác phụ âm cuối
- Từ khác với toàn dân về ngữ nghĩa: có thể chia ra các trường nghĩa khác nhau như trường nghĩa chỉ công cụ gia đình, chỉ thực vật, chỉ nghề cá, chỉ bộ phận cơ thể, cách xưng hô
- Về ngữ nghĩa, các từ trong phương ngữ Hậu Lộc khó có thể đối chiếu với từ trong tiếng Việt văn hoá một cách đơn giản Chẳng hạn
cặp từ hòm – quan tài, trong phương ngữ Hậu Lộc hòm không chỉ tương đương với quan tài mà còn có thể dùng như một số đồ dùng trong gia đình như cái hòm đựng đồ, cái rương, hòm tiền … Tính đa
nghĩa cũng là một đặc trưng của từ trong phương ngữ Hậu Lộc
Trang 22I Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt
Trong tiếng Việt những tiếng như: ba, bốn, ta, đó, tôi, nhà, cười,
đẹp, …, và, với, tuy, nhưng, ối, ái, à, nhỉ, nhé … đều được mọi người
Thứ ba, chúng đều tham gia cấu tạo câu nói
Vì những lý do như trên nên từ tiếng việt có những đặc điểm: từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm, trong từ tiếng Việt, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn
bó chặt chẽ với nhau
II Từ địa phương Hậu Lộc
Từ trong hệ thống từ địa phương bao giờ cũng có những khác biệt nhất định với hệ thống từ trong ngôn ngữ toàn dân Sự khác biệt này được đánh giá và nghiên cứu trên nhiều phương diện, nhưng tựu trung người ta thường đánh giá sự khác biệt đó trên hai phương diện ngữ âm và ngữ nghĩa Cũng trong bối cảnh chung đó, từ trong tiếng địa phương Hậu Lộc được chúng tôi khảo sát trên hai phương diện ngữ âm
và ngữ nghĩa để thấy rõ hơn đặc điểm về mối quan hệ giữa từ địa phương với từ toàn dân, sự vận động của từ địa phương trong quan hệ với từ toàn dân, sự chuyển hoá, đồng nhất và khác biệt của từ trong hai
hệ thống Các đơn vị từ địa phương được xét dựa vào tiêu chí ngữ âm, ngữ nghĩa của từ trong sự đối sánh với vốn từ trong ngôn ngữ toàn dân
Trang 23Trong khoảng 1600 đơn vị từ chúng tôi sử dụng làm bảng từ điều tra đã bao gồm những đơn vị từ khác biệt về ngữ âm và những đơn vị từ khác biệt về ngữ nghĩa so với những đơn vị từ tương đương trong ngôn ngữ toàn dân
1 Những đơn vị từ vựng khác âm so với từ toàn dân
So với từ toàn dân, từ địa phương có hai loại, biến đổi ngữ âm
và biến đổi ngữ nghĩa Như vậy xét trong quan hệ với từ toàn dân về ngữ âm và ngữ nghĩa, từ ngữ địa phương Hậu Lộc sẽ có hai lớp từ lớn
là lớp từ khác âm và lớp từ khác nghĩa
Trước hết là lớp từ biến âm:
Căn cứ vào bảng từ điều tra chúng tôi đã tiến hành phân loại các đơn vị từ Trước hết chúng tôi tách riêng những đơn vị từ khác âm với
từ toàn dân Đây là bộ phận từ có số lượng tương đối nhiều so với những từ đơn loại khác
Xét trong quan hệ với từ toàn dân, có hai loại đơn vị từ khác âm với từ toàn dân:
Thứ nhất là loại có quan hệ tương ứng ngữ âm 1/1 giữa một từ địa phương với một từ toàn dân Ví dụ:
Trang 24Thứ hai là những đơn vị có quan hệ tương ứng 1/>1, một từ toàn dân có thể tương ứng với 2 từ địa phương
từ địa phương khác trong cùng hệ thống
Ví dụ:
Cấn (địa phương) tương ứng với cặn (toàn dân) đồng thời lại có
quan hệ với cắn (địa phương)
Bên cạnh đó còn có những đơn vị từ có biến thể ngữ âm không tương ứng với từ toàn dân mà chỉ tương ứng ngữ âm có tính chất nội
bộ trong phương ngữ
Ví dụ:
đốn – vặc (chặt)…
Dạng thức tương ứng 1/1 (một từ địa phương tương ứng với một
từ toàn dân) còn xảy ra ở những trường hợp sau đây:
Ví dụ:
vần cơm - ghế cơm ngũ lang – ngủ nhờ
bù lào – bí đỏ …
Dạng thức tương ứng 1/>1 (hơn 1 đơn vị từ địa phương tương ứng với 1 đơn vị từ toàn dân) còn xuất hiện trong những đơn vị từ sau đây:
Trang 25Ví dụ:
dao cau, dao nem – dao thái chuối
co quạy, cọ quậy – cựa quậy …
Xét trong quan hệ nội bộ từ địa phương còn có thêm một loại biến âm nữa, đó là dạng tương ứng giữa từ địa phương với từ địa phương
Ví dụ:
kiến hôi, kiến hoi - kiến đen giữ trâu, thả trâu, thả tru – chăn trâu ken, nhờm – dử mắt
Hiện tượng từ biến âm là hiện tượng rất phổ biến trong các phương ngữ Đồng thời đây cũng là dấu hiệu để nhận diện các phương ngữ khác nhau, nhận diện sự khác biệt giữa phương ngữ với từ toàn dân Thậm chí cũng dựa vào những trường hợp của các đơn vị từ biến
âm này người ta còn có thể tìm thấy nhiều quy luật biến âm lịch sử trong ngôn ngữ Đó là là những cứ liệu ngôn ngữ lịch sử đang được lưu giữ lại trong vốn từ địa phương
2 Những đơn vị từ vựng khác nghĩa so với từ toàn dân
Đây là lớp từ có âm và nghĩa giống như từ toàn dân tương ứng nhưng đã có sự phát triển về nghĩa khi chúng được hoạt động trong nội
bộ phương ngữ Đó là những nét nghĩa riêng biệt, tạo ra sự khác biệt nhất định so với từ toàn dân Bên cạnh lớp từ này còn có một lớp từ khác, những từ cổ, cũ trong từ toàn dân được lưu giữ trong phương ngữ
đã có sự chuyển nghĩa, tạo nên một số yếu tố nghĩa khác biệt nên nó có một lượng nghĩa khác với từ toàn dân đồng nghĩa đã thay thế nó
Trang 26Ví dụ: bạo so với khoẻ
năng so với bồ(bồ thóc)
Trải qua thời gian sử dụng lâu dài trong lịch sử, từ có sự biến đổi
và phát triển về âm, nghĩa và phạm vị hoạt động Trong các lớp từ của tiếng Việt, có một bộ phận biến đổi ngữ âm cũ dần lui về hoạt động trong một vùng dân cư nào đó, có một bộ phận từ khác được dùng trong phương ngữ, có thêm nghĩa mới hoặc nghĩa khác biệt so với dùng trong hệ thống ngôn ngữ toàn dân
Bộ phận từ địa phương khác biệt về nghĩa đã tạo ra sự khác nhau giữ hai hệ thống vốn từ (toàn dân và địa phương) Từ trong phương ngữ có tính chất ổn định, khó thay thế và đã trở nên quen thuộc với người dân trong vùng
Nhìn chung cơ cấu nghĩa của từ đa nghĩa địa phương Hậu Lộc chuyển nghĩa chủ yếu dựa vào hai cơ chế là ẩn dụ và hoán dụ (giống như cơ chế chuyển nghĩa chung trong từ toàn dân) Dưới đây là một số dẫn chứng về sự phát triển nghĩa địa phương của từ trong phương ngữ Hậu Lộc
Ví dụ 1:
Từ được chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ:
Nín: - Nghĩa 1: làm cho vật nén lại (Nín cho chắc – Nén cho chặt)
- Nghĩa 2: Trạng thái bị nén chặt của vật (Đất nín - Đất chắc
không xốp)
Ví dụ 2:
Những từ được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ:
Dạn: - Nghĩa 1: Không rụt rè, không e ngại (Trẻ con nhưng dạn lắm-
Trẻ em nhưng mạnh dạn lắm)
Trang 27- Nghĩa 2: Chỉ động vật, không sợ người (Con cáo này dạn lắm,
bắt gà giữa ban ngày, nơi có người)
Ví dụ 3:
Núm: - Nghĩa 1: nắm (Bàn tay nắm lại thành một khối – Nắm tay lại)
- Nghĩa 2: Lượng được nắm trong lòng bàn tay (Một núm gạo –
Một nắm gạo)
- Nghĩa 3: Lượng sự vật không đáng kể (Người được một núm
còn cậy khoẻ – Người nhỏ)
Ở ví dụ này nghĩa 1 và nghĩa 2 được chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ, nghĩa 3 lại phát triển theo phương thức ẩn dụ
Trong phương ngữ Hậu Lộc, loại từ được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ chiếm số lượng lớn hơn so với chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ Chuyển nghĩa là phương thức phát triển vốn từ dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng Tuỳ theo đặc điểm tư duy, văn hoá, thói quen của từng dân tộc, từng vùng mà sự phát triển nghĩa của
từ có thể mang những nét riêng Trong hai loại chuyển nghĩa, chuyển nghĩa ẩn dụ mang tính chất chủ quan của con người nhiều hơn, chuyển nghĩa hoán dụ mang tính khách quan rõ hơn vì nó dựa trên mối quan
hệ gắn bó có thực giữa các sự vật, hiện tượng Nếu như tư duy ẩn dụ,
tư duy về sự tương đồng cho phép con người dễ dàng liên tưởng phát triển nghĩa của từ trong vốn từ vựng thì tư duy hoán dụ lại có tính cụ thể, trực quan làm hạn chế ít nhiều sự liên tưởng phóng túng tự do của con người Có lẽ người Hậu Lộc thiên về kiểu tư duy so sánh hình thức tương đồng hơn là đi tìm mối quan hệ có thực bên trong
Trang 28Xét về nguồn gốc thành phần, từ khác nghĩa so với từ toàn dân trong vốn từ địa phương Hậu Lộc tạm chia làm hai loại Loại thứ nhất
là những từ không có quan hệ tương ứng ngữ âm với từ toàn dân:
STT Từ phổ thông Từ địa phương
bồ gạo (nhịn) đói bảo
về
/ṭo:k1/ /măn2/ /năỗ1/ (gạo) (nhịn) /tɔỗ1
/ biew
vien
Loại thứ hai là những từ vừa được dùng trong ngôn ngữ toàn dân vừa được dùng trong phương ngữ nhưng cơ cấu nghĩa có một ít thay đổi
Ví dụ:
Nóng:
- Nghĩa 1 (trong ngôn ngữ toàn dân và trong tiếng địa phương
Hậu Lộc): Nhiệt độ thời tiết tăng lên cao hơn mức bình thường (Hôm
nay trời nóng, Nước nóng)
- Nghĩa 2 (chỉ trong phương ngữ Hậu Lộc): Tình trạng nhiệt độ
cơ thể tăng cao quá mức bình thường, Nghĩa này tương ứng với nghĩa
của từ sốt trong ngôn ngữ toàn dân (Thằng bé nóng đã ba ngày –
Thằng bé sốt đã ba ngày)
Qua thống kê phân tích nghĩa, chúng tôi nhận thấy từ trong phương ngữ khác nghĩa với từ toàn dân có số lượng tương đối lớn
Trang 29Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển biến đổi chung của
từ trong ngôn ngữ
Khi nhu cầu giao tiếp ngày một nhiều hơn, nhu cầu diễn đạt những khái niệm mới ngày càng cao đã đòi hỏi sự gia tăng cần thiết của vốn từ vựng, trong đó quá trình đa tiết hoá bằng con đường cấu tạo các đơn vị từ càng được đẩy nhanh và mạnh hơn
Dưới đây chúng tôi sẽ khảo sát hai loại đơn vị từ là ngữ định danh và ngữ láy âm
2.1 Ngữ định danh
Một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự tiến hoá của loài người là sự mở rộng bất thường của thế giới khái niệm Sự phát triển này có quan hệ chằng chéo, phức tạp với sự tăng trưởng vũ bão về
số lượng và sự đa dạng của tư tưởng mà con người có thể truyền đạt được Bằng ngôn ngữ con người thông báo không chỉ cảm xúc, tri thức
mà cả một số lượng vô hạn các trạng thái, quan hệ, đối tượng và sự kiện bên trong cũng như bên ngoài con người Hệ thống các từ trong tiếng Việt không đủ để biểu thị một số lượng lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau Nhu cầu tất yếu là phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng trên cơ sở những từ đã có Nhưng đơn vị như thế
được gọi là ngữ, có giá trị tương đương với từ
Ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế Nó bao gồm những cụm từ thường
được gọi là từ ghép như: xe đạp, cá vàng, áo dài, … và những cụm từ thường được gọi là ngữ cố định như: đường đồng mức, phương nằm
ngang, máy hơi nước, …
Trang 30Tương tự như sự phân chia trong phần khảo sát những đơn vị từ, chúng tôi chia ngữ định danh thành 2 loại, ngữ định danh được tạo ra theo phương thức biến âm và ngữ định danh được tạo ra bằng phương thức chuyển nghĩa
* Ngữ định danh khác biệt về âm so với từ toàn dân
Trong phần khảo sát ngữ âm chung của phương ngữ Hậu Lộc chúng tôi đã ít nhiều đề cập đến hiện tượng biến âm này Loại đơn vị này chiếm gần 50% những đơn vị từ được tạo ra theo phương thức biến
bù lào – bí đỏ …
- Dạng thức tương ứng 1/>1 (hơn 1 đơn vị từ địa phương tương ứng với 1 đơn vị từ toàn dân)
Ví dụ:
dao cau, dao nem – dao thái chuối
co quạy, cọ quậy – cựa quậy …
Xét trong quan hệ nội bộ từ địa phương còn có thêm một loại biến âm tương ứng giữa từ địa phương với từ địa phương
Ví dụ:
kiến hôi, kiến hoi - kiến đen
Trang 31giữ trâu, thả trâu, thả tru – chăn trâu ken nhờm – dử mắt
Tuy những đơn vị biến âm này có số lượng không nhiều nhưng
nó cũng là một trong những hiện tượng đáng được chúng ta quan tâm khảo sát
Từ địa phương Hậu Lộc là một hệ thống nằm ngoài hệ thống vốn từ toàn dân nhưng lại chịu sự chi phối tác động của hệ thống từ toàn dân Nếu so sánh số lượng những đơn vị từ khác âm có cấu trúc đơn giản với những đơn vị khác âm có cấu trúc phức tạp, một điều rất
dễ nhận ra là những đơn vị từ có quy luật cấu trúc âm thanh đơn giản hơn sẽ dễ xảy ra hiện tượng biến đổi âm thanh hơn
* Ngữ định danh khác biệt về nghĩa so với từ toàn dân
Hiện tượng khác nghĩa trong những đơn vị tương đương với từ của phương ngữ Hậu Lộc xảy ra tương đối ít Cũng giống như từ những đơn vị ngữ định danh khác nghĩa cới từ toàn dân đều dựa vào hai quy luật , ẩn dụ và hoán dụ
Xét trong quan hệ ngữ nghĩa với từ toàn dân đáng lưu ý là loại không có tương ứng ngữ âm với từ toàn dân, chúng có kiểu chuyển nghĩa mà các nghĩa của nó đều nằm trong hệ thống vốn từ địa phương Hậu Lộc, không có nghĩa nào liên quan đến từ toàn dân Loại này có số lượng không đáng kể
Ví dụ:
Bầy hầy:
- Nghĩa 1: bẩn thỉu, không gọn gàng (ăn mặc bầy hầy - ăn mặc
bẩn thỉu, luộm thuộm)
Trang 32- Nghĩa 2: tính nết không trung thực (nói năng bầy hầy – nói
năng không trung thực)
Bên cạnh lớp từ trên còn có một lớp từ liên quan đến nghĩa của lớp từ toàn dân, lớp từ này có nghĩa gốc là nghĩa trong từ phổ thông, các nghĩa phái sinh là nghĩa được phát triển khi sử dụng từ phổ thông
đó ở địa phương Về âm có thể đồng nhất với từ toàn dân nhưng về nghĩa đã có sự xê dịch ít nhiều
Ví dụ:
Nói gian:
- Nghĩa 1: Nói dối (Đừng nói gian như thế)
- Nghĩa 2: Nói sai sự thực vì mục đích xấu (Hắn tâm tính xấu
nên giỏi nói gian – Nó xấu tính nên thường nói dối)
Nếu so sánh hai loại biến âm và biến nghĩa ta thấy hiện tượng biến âm xảy ra nhiều hơn, chiếm tỷ lệ cao hơn Điều này cũng là quy luật thường xảy ra trong vốn từ địa phương
Như vậy ở cả hiện tượng từ và những đơn vị tương đương với từ đều có hiện tượng biến âm Từ trong ngôn ngữ toàn dân so với từ trong phương ngữ Hậu Lộc tuy có cùng ý nghĩa nhưng ngữ âm lại có phần khác nhau Hiện tượng biến âm này là phổ biến trong các phương ngữ Nếu phương ngữ càng có nhiều nét khu biệt thì sự khác biệt về ngữ âm càng lớn Nếu phương ngữ có xu hướng phát âm càng ngày càng gần với ngôn ngữ toàn dân hơn thì sự khác nhau chỉ xảy ra lẻ tẻ và không
có nhiều Phương ngữ Hậu Lộc là một vùng không thuần nhất Cũng là người Hậu Lộc nhưng trên mỗi xã lại có những đặc trưng ngữ âm riêng Đó là nét đa dạng trong phương ngữ Hậu Lộc mà chúng ta đang quan tâm nghiên cứu
Trang 332.2 Ngữ láy âm
Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hoà về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả Tuy vậy, một bộ phận ngữ láy âm trong phương ngữ có lẽ ít được quan tâm nghiên cứu hơn
Trong phương ngữ Hậu Lộc, số lượng đơn vị láy âm được tạo ra theo phương thức láy không nhiều, ít hơn nhiều so với từ và ngữ định danh
* Ngữ láy âm khác biệt về âm so với từ toàn dân
Ngữ láy âm được tạo ra do sự hoà phối ngữ âm giữa các âm tiết,
có giá trị biểu trưng Trong đơn vị này, hầu hết yếu tố gốc và yếu tố láy đều có sự chuyển đổi ngữ âm kèm theo sự thay đổi ít nhiều về nghĩa so với yếu tố gốc ban đầu
Xét trong quan hệ với từ toàn dân có hai dạng thức tương ứng 1/1 và 1/>1 giữa ngữ láy âm địa phương với ngữ láy âm toàn dân
Trang 34Qua thống kê trên chúng ta thấy ngữ láy âm biến âm có quan hệ với từ toàn dân chiếm số lượng lớn hơn so với loại ngữ láy âm không
có quan hệ ngữ âm với từ toàn dân Điều này góp phần chứng tỏ phương ngữ Hậu Lộc là một bộ phận khăng khít của từ toàn dân
* Ngữ láy âm khác biệt về nghĩa so với từ toàn dân
Loại này có số lượng rất ít Tuy có số lượng ít nhưng nó cũng góp phần tạo nên sự phong phú cho nội bộ đơn vị ngữ láy âm trong phương ngữ Hậu Lộc
Ví dụ:
Ngao ngán:
- Nghĩa 1: (toàn dân) chán ngán, quá ngán
- Nghĩa 2: (Hậu Lộc) nhiều, đầy rẫy (Chợ ngao ngán cá)
Mặc dù ngữ láy âm khác biệt về nghĩa có số lượng không nhiều bằng ngữ láy âm biến âm nhưng chúng có một vị trí quan trọng trong phương ngữ, chúng tạo ra sắc thái riêng đậm nét Các hiện tượngkhác biệt về nghĩa ở các đơn vị tương đương với từ trong vốn từ địa phương rất phức tạp, những biểu hiện chỉ ra ở trên còn rất hạn chế nhưng phần nào sẽ góp phần chứng minh cho hiện tượng khác nghĩa Đồng thời nó phản ánh sự phong phú đa dạng của bức tranh từ vựng phương ngữ Sự khác biệt về ngữ nghĩa giữa vốn từ địa phương so với từ toàn dân mới
là khác biệt đáng kể
3 Những đơn vị từ vựng khác biệt về ngữ pháp so với từ toàn dân
Trong những phần trên chúng ta đã khảo sát hệ thống từ ngữ địa phương Hậu Lộc bao gồm những đơn vị từ và những đơn vị tương đương với từ Những đơn vị đó được khảo sát chủ yếu trên hai phương diện, biến đổi ngữ âm và biến đổi ngữ nghĩa Ngoài hai hệ thống trên
Trang 35trong vốn từ địa phương Hậu Lộc còn tồn tại một hệ thống những đơn
vị từ có nhiều nét khác biệt về ngữ pháp so với từ tương đương trong ngôn ngữ toàn dân Nếu như khác biệt về ngữ âm là những khác biệt lớn nhất và dễ nhận biết nhất của một phương ngữ so với ngôn ngữ toàn dân thì những khác biệt về ngữ pháp lại ít rõ ràng hơn và khó nhận diện hơn Điều này cũng phản ánh một phần quy luật chung trong vốn từ của một ngôn ngữ Ngữ âm là bộ phận thay đổi nhanh nhất còn ngữ pháp là bộ phận ít thay đổi nhất, ít biến động nhất Bên cạnh những khác biệt có tính chất ngữ âm học và âm vị học như trong phần khảo sát ngữ âm và từ vựng ngữ nghĩa, còn có thể nhận ra một số đặc điểm khác nhau giữa các vùng phương ngữ về mặt ngữ pháp Ở đây chúng tôi không khảo sát hệ thống ngữ pháp của một phương ngữ mà chỉ khảo sát những đơn vị từ vựng có khác biệt về mặt ngữ pháp so với những đơn vị từ vựng trong ngôn ngữ toàn dân
Theo khảo sát của nhiều nhà ngôn ngữ học, những khác biệt về ngữ pháp nổi bật nhất là ở vùng phương ngữ Nam Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phương ngữ Bắc hay phương ngữ Trung vốn từ
ít có sự khác biệt về mặt ngữ pháp Đã có nhiều công trình khảo sát về
sự khác biệt này trên những vùng phương ngữ nhỏ của phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung và đã thu được nhiều kết quả đáng kể Cũng trên tinh thần tìm ra những nét khác biệt giữa phương ngữ Hậu Lộc, một vùng phương ngữ có quy mô rất nhỏ so với những vùng phương ngữ như Phương ngữ Nghệ Tĩnh, Phương ngữ Bình Trị Thiên với ngôn ngữ toàn dân Chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ hơn toàn diện hơn như đã khảo sát phần ngữ âm của từ ngữ địa phương Hậu Lộc, nhưng dưới đây cũng là những nét khu biệt
Trang 36điển hình trong hệ thống đại từ, một bộ phận dễ nhìn và dễ nhận diện nhất
3.1 Hệ thống đại từ chỉ định và đại từ nghi vấn
Hệ thống đại từ chỉ định và đại từ nghi vấn là một trong những biểu hiện về mặt ngữ pháp rõ rệt nhất của một phương ngữ Khảo sát
hệ thống đại từ này chúng tôi đã tiến hành thống kê và tìm ra những hiện tượng được sử dụng với tần số cao Đó là những hiện tượng điển hình và được đưa ra làm đại diện chung cho hệ thống đại từ chỉ định và đại từ nghi vấn trong phương ngữ Hậu Lộc Sau đây là bảng đối chiếu giữa hệ thống đại từ nghi vấn của phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung với hệ thống được sử dụng trong vốn từ ngữ địa phương Hậu Lộc, Thanh Hoá
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Từ ngữ địa phương Hậu Lộc
nầy (thổ ngữ Ngư Lộc)
ni (thổ ngữ Hoa Trường)
bằng nầy (nt) (ở)ri/(ở)ni (thổ ngữ Hoa Trường)
thế này, thế ni (các vùng còn lại)
Trang 37ta đã nhìn thấy ngay sự khác biệt nhiều hơn so với các vùng còn lại trên địa bàn Hậu Lộc Trong thổ ngữ Hoa Trường có nhiều đại từ chỉ định và đại từ nghi vấn giống với hệ thống trong phương ngữ Trung nói chung hơn Điều này cũng dễ hiểu bởi ngay từ phần khảo sát về ngữ âm chúng ta đã thấy sự tương đồng khá lớn giữa thổ ngữ Hoa Trường với hệ thống ngữ âm của phương ngữ Nghệ Tĩnh Các vùng còn lại của địa bàn Hậu Lộc, ngoài hai vùng thổ ngữ là Hoa Trường và Ngư Lộc có hệ thống đại từ chỉ định và nghi vấn có lúc tương đồng với
hệ thống của phương ngữ Bắc (sao – sao, gì - gì, này – này, ấy – ấy,
kia – kia …) Đây chủ yếu là những vùng gần thị trấn, thị tứ, gần trục
Trang 38đường giao thông chính, nơi có nhiều sự giao lưu tiếp xúc với ngôn ngữ toàn dân Ở đây vốn từ của người dân đã chịu nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ toàn dân, người dân ở đây cũng có xu hướng tiến gần đến ngôn ngữ toàn dân hơn Riêng hai vùng thổ ngữ Hoa Trường và Ngư Lộc, đặc biệt là thổ ngữ Ngư Lộc, bộ phận cư dân là chủ sở hữu thổ ngữ này phần lớn là những cư dân quanh năm chung sống với vùng biển Ngư Lộc Nghề duy nhất mà họ có là đánh cá và bán cá, người dân cũng ít có sự đi lại Nếu đây là bộ phận cư dân làm nghề như ở nông thôn các tỉnh miền Bắc thì khác (ở nông thôn nhiều tỉnh miền Bắc, khi gieo hạt xong vụ mùa thì hầu hết thanh niên, những người đang độ tuổi lao động đến những vùng khác để làm nghề, vì thế có nhiều sự giao lưu trao đổi với bên ngoài) Người dân Ngư Lộc hầu như không đi nơi khác làm ăn buôn bán, ít giao lưu tiếp xúc với bên ngoài
Có lẽ đây cũng là một lý do làm cho tính bền vững của các thổ ngữ trong phương ngữ Hậu Lộc càng thêm chắc chắn, nhất là về mặt ngữ
âm
3.2 Hệ thống đại từ xưng hô
Sau đây là bảng đối chiếu hệ thống đại từ xưng hô được sử dụng trong phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung với hệ thống được sử dụng trong vốn từ ngữ địa phương Hậu Lộc, Thanh Hoá
Trang 39chúng tao
mi (các vùng khác) chúng mày bây, bọn bây bọn bây/ bọn mi
bà ấy mệ, nớ, mụ bà ấy/ bà đó (các vùng còn lại)
mệ (thổ ngữ Hoa Trường)
cô ấy o nớ cô ấy/ cô đó/ cô đứa
anh ấy eng nớ anh đó/ anh đứa/ anh ấy
Nếu so sánh hệ thống đại từ xưng hô của phương ngữ Hậu Lộc với phương ngữ Trung thì có không nhiều lắm sự tương đồng Phương ngữ Hậu Lộc thuộc vùng phương ngữ Thanh Hoá, một bộ phận của phương ngữ Trung Tuy nhiên do đặc điểm địa hình nên phương ngữ Thanh Hoá mang nhiều tính chất chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam Phương ngữ Thanh Hoá là bộ phận mở đầu cho phương ngữ Trung, càng đi sâu vào miền Trung thì tính chất khác biệt với phương ngữ Bắc càng rõ rệt Hệ thống đại từ xưng hô trong phương ngữ Trung được đưa ra đối chiếu trên đây xuất hiện nhiều trong vùng phương ngữ từ Nghệ Tĩnh trở vào Chính vì thế chúng ta thấy sự tương ứng giữa phương ngữ Hậu Lộc với Phương ngữ Trung
và Phương ngữ Bắc xấp xỉ 50%/50%
Trang 403.3 Đại từ hoá danh từ
Hiện tượng này trong phương ngữ Nam được sử dụng khá phổ
biến, ví dụ như những đại từ nhân xưng ổng, bả, cổ, chỉ, ảnh, , đại từ chỉ không gian như trỏng (trong ấy), ngoải (ngoài ấy) ., đại từ chỉ thời gian như hổm (hôm ấy), nẳm (năm ấy), … Trong phương ngữ Hậu
Lộc không xuất hiện những hiện tượng như thế mà xuất hiện những
trường hợp như ấy thành đó, đứa (ví dụ: anh đó/ anh đứa, chị đó/ chị
đứa… ), với thành mấy (ví dụ: đi mấy tôi), chứ lại thành chứ răng…
Trên đây là những hiện tượng đơn giản và xảy ra không nhiều, chỉ có một vài hiện tuợng lẻ tẻ nên không hình thành xu hướng lớn trong phương ngữ Hậu Lộc Điều này cũng dễ hiểu vì đây chỉ là một vùng phương ngữ nhỏ, sự khác biệt về mặt ngữ pháp tương đối ít so với ngôn ngữ toàn dân Điều khác biệt lớn nhất là ở mặt ngữ âm và từ vựng chúng tôi đã tiến hành khảo sát kỹ lưỡng ở phần trên
3.4 Ngữ khí từ
Ngữ khí từ phụ hoạ với ngữ điệu tạo ra sắc thái địa phương rõ nét của từng vùng Với cấu trúc ngữ pháp và từ vựng giống nhau, chỉ cần thay đổi ngữ khí từ và giọng điệu sẽ thể hiện ngay sự khác nhau về phương ngữ
Ở đây vui quá nhỉ? Ở đây vui quá à?
Cho cháu ông nhé! Cho cháu vấy!
Thôi, tôi về nhé! Vậy, tôi về à!