1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt

112 3,4K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta đang không chỉ coi nỗ lực tiếp nhận cũng như chấp nhận thực tế này trong phạm vi một nước như là một mắt xích cần thiết cho sự phát triển đất nước mà giờ đây, khi tiếng Anh đã t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

JOU YOUN HEE

KHẢO SÁT TỪ MƯỢN TIẾNG ANH

TRONG TIẾNG HÀN (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)

CHUYÊN NGÀNH : NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ : 60.22.01

LUẬN ÁN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học :

GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG

Hà Nội - 2008

Trang 2

3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5 Chương 1 Tình hình sử dụng từ tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt) ……… 9

1.1 Khái niệm từ vay mượn 9

1.2 Hiện trạng về sử dụng từ ngữ tiếng Anh hiện nay trong tiếng Hàn

13 1.2.1 Tiếng Anh ở Hàn Quốc: Phổ biến hóa tiếng Anh 13

1.2.2 Từ tiếng Anh tràn lan trên phương tiện phát sóng và sách báo Hàn Quốc

14 1.2.3 Từ ngữ tiếng Anh trong công nghệ thông tin Hàn Quốc 21

1.2.4 Từ ngữ tiếng Anh trong đời sống giao tiếp bằng tiếng Hàn… 22

1.3 Đối chiếu với tiếng Việt 23

1.3.1 Nhận định chung 23

1.3.2 Sự vay mượn từ ngữ tiếng Anh có nguyên nhân từ việc học tiếng Anh với tư cách là ngoại ngữ

24 1.3.3 Từ tiếng Anh được sử dụng khi giao tiếp bằng tiếng Việt … 27

1.4 Những nhận xét rút ra 34

Chương 2 Diễn tiến từ tiếng Anh du nhập vào tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt) ……… 36

2.1 Quá trình từ Anh du nhập vào tiếng Hàn……… … 36

2.1.1 Khái quát quá trình du nhập 36

2.1.2 Con đường du nhập qua tiếng Nhật 39

2.2 Đối chiếu với tiếng Việt 41

2.3 Phong trào “se ma ul un dong” (phong trào “làng mới”) và phong trào “Làm trong sáng chữ Quốc ngữ” của Hàn Quốc………

43 2.4 Đối chiếu với tiếng Việt về phong trào “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” và từ sau chính sách “Đổi mới” của Việt Nam……… …

52

Trang 3

Chương 3 Khảo sát sự đồng hoá từ tiếng Anh trong tiếng

Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt) ………

54 3.1 Đôi nét về tiếng Hàn 54

3.1.1 Giới thiệu chung 54

3.1.2 Nhận xét 55

3.2 Khảo sát hiện tượng đồng hoá ngữ âm đối với từ mượn tiếng Anh

57 3.3 Khảo sát hiện tượng đồng hoá về hình thái học đối với từ mượn tiếng Anh

59 3.4 Khảo sát hiện tượng rút gọn các từ mượn Anh trong tiếng Hàn

60 3.5 Khảo sát hiện tượng từ viết tắt tiếng Anh trong tiếng Hàn 62

3.6 Tiểu kết 63

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 70

Trang 4

sẽ bị biến đổi về mặt hình thái và nội dung Theo đó, những yếu tố mang tính văn hóa, kinh tế, chính trị của khu vực sử dụng ngôn ngữ này cũng ảnh hưởng tới khu vực sử dụng ngôn ngữ đi vay

Mỗi quốc gia đều sở hữu một ngôn ngữ có tính chất kế thừa Nói như vậy tức là ngôn ngữ của mỗi một quốc gia chính là gốc rễ cơ bản nhất của quốc gia đó Vì vậy thật chẳng quá lời khi ta nói rằng, mỗi lời văn viết ra đã làm nên và thể hiện dòng chảy văn hóa

Hướng tới sự phát triển của quốc gia mình, ngày nay các nước trên thế giới đang sống trong môi trường học tập song ngữ do nhận thức được yêu cầu cần phải làm quen với một thứ ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ quốc tế Thứ ngôn ngữ quốc tế tiêu biểu cho thời đại này đã đi vào nhận thức chúng ta một cách vô ý thức chính là tiếng Anh Chúng ta đang không chỉ coi nỗ lực tiếp nhận cũng như chấp nhận thực tế này trong phạm vi một nước như là một mắt xích cần thiết cho sự phát triển đất nước mà giờ đây, khi tiếng Anh đã tạo lập được cho mình vị trí thống trị trong hàng ngũ các ngôn ngữ khiến cho cả những quốc gia không sử dụng Anh ngữ là ngôn ngữ

mẹ đẻ hay ngôn ngữ quốc gia cũng bị cuốn vào dòng chảy đó Hàn Quốc với tiếng Hàn là ngôn ngữ quốc gia cũng không ngoại lệ Vì thế, luận văn này khảo sát từ vay mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt) - hai quốc gia không sử dụng Anh ngữ như là ngôn ngữ mẹ đẻ,

Trang 5

và không sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ quốc gia, nhưng vẫn có sử dụng tiếng Anh Bằng việc đối chiếu, so sánh chúng tôi hi vọng có thể đạt được một cuộc điều tra mang tính thời đại về từ vay mượn của tiếng Anh trong tiếng Việt Về mặt ngôn ngữ xã hội học, chúng ta có thể so sánh cục bộ sự biến đổi các từ vựng đã được vay mượn Đó chính là nội dung của luận văn này

2 Mục đích và nội dung nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là thông qua khảo sát từ vay mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn và có đối chiếu với sự vay mượn của từ tiếng Anh trong tiếng Việt, nhằm chỉ rõ mức độ đồng hóa của từ tiếng Anh cũng như mức độ vay mượn từ ngữ Anh ở các ngôn ngữ khác nhau và trong bối cảnh

xã hội khác nhau

Từ mục đích này, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ như sau:

1/ Chỉ ra quan niệm về từ vay mượn của giới Hàn ngữ học

2/ Tình hình sử dụng từ vay mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn và có đối chiếu với tiếng Việt

3/ Khảo sát từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hàn, từ góc độ ngữ âm hình thái học và có đối chiếu với tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng khảo sát chủ yếu là các từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hàn hiện nay

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội về từ vay mượn

- Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học đối chiếu

- Phương pháp quy nạp diễn dịch

Trang 6

7

5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

Ý nghĩa lí luận: Khảo sát từ ngữ vay mượn tiếng Anh trong tiếng

Hàn có đối chiếu với tiếng Việt, góp phần vào việc nghiên cứu hiện tượng vay mượn ở hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau: tiếng Hàn thuộc ngôn ngữ chắp dính (agglutinative language) và tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập (isolating language) ngôn ngữ trong thời đại quốc tế hóa hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần giúp người Việt Nam học tiếng Hàn và

người Hàn học tiếng Việt, cũng giúp cho người dân hai nước hiểu thêm về tình hình ngôn ngữ văn hóa của nhau trong quan hệ hợp tác hữu nghị

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội

dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tình hình sử dụng từ tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt)

Chương 2: Diễn tiến của từ tiếng Anh du nhập vào tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt)

Chương 3: Khảo sát sự đồng hoá từ tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt)

Trang 7

CHƯƠNG 1

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ TIÊNG ANH TRONG TIẾNG HÀN

( CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)

1.1 Khái niệm từ vay mượn

Ngôn ngữ phản ánh văn hóa, xã hội và đồng thời thống trị cả tư tưởng, tình cảm, phương thức sinh hoạt của một dân tộc Vì vậy sự biến chất của ngôn ngữ cũng có thể gây nên sự hỗn loạn về tư tưởng của một dân tộc Vì thế, đối với các yếu tố ngôn ngữ của một dân tộc, quốc gia khác thâm nhập vào trong hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc, quốc gia này thì cần phải được nghiên cứu đầy đủ Trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu định nghĩa về từ vay mượn, đối tượng trọng tâm của nghiên cứu định hướng ở trên

Theo từ điển, định nghĩa cơ bản nhất về từ vay mượn là từ được mượn từ một hệ thống từ vựng của ngôn ngữ khác mà trong nhiều trường hợp, hệ thống ngôn ngữ khác đó chính là ngoại ngữ Theo nghĩa rộng, từ vay mượn là từ ám chỉ toàn thể từ vựng mượn từ ngoại ngữ để sử dụng, cho nên nó là từ ngoại lai Tuy nhiên với ý nghĩa rộng hơn, những từ cổ được du nhập trở lại để cùng sử dụng với ngôn từ hiện đại, hay trường hợp tuyển chọn từ vựng từ hệ thống ngôn ngữ địa phương nào đó cũng chính là từ vay mượn (Trích từ điển tra cứu điện tử Naver) Từ vay mượn là một trong ba loại từ: từ du nhập, từ vay mượn, từ ngoại lai Có nhiều từ ngữ, tuy được vay mượn rồi sử dụng lâu dài, đã được phổ biến, nhưng vì vẫn chưa quen sử dụng nên nhiều người vẫn coi đó như là một thứ tiếng nước ngoài Ví dụ:

잉크 Ing-khư (tiếng Anh: Ink)

택시 Théc-si (tiếng Anh: Taxi)

크레용 Khư-rê-giông (tiếng Pháp: Crayon)

Trang 8

9

컵 Khóp (tiếng Hà Lan: kop)

Thực chất, việc phân biệt từ vay mượn và từ ngoại lai dựa theo mức

độ mà người sử dụng ngôn ngữ đang nhận thức, có đặc điểm mập mờ nhưng có thể kiểm soát được tùy theo trình độ tri thức hoặc nghề nghiệp của người nói

Vay mượn (borrowing) là việc một hệ thống ngôn ngữ tiếp nhận các yếu tố ngôn ngữ từ một hệ thống ngôn ngữ khác để sử dụng một phần có tính hệ thống của hệ thống ngôn ngữ đó Đặc biệt, một từ có trong một ngôn ngữ được du nhập vào một ngôn ngữ khác và được viết y nguyên như vậy thì từ đó gọi là “từ vay mượn” (loanword) Lúc này ngôn ngữ cho vay mượn được gọi là ngôn ngữ gốc (source language) và ngôn ngữ tiếp nhận được gọi là ngôn ngữ đích (target language) Ví dụ, cà-phê, gêm, gôn, sport, sport car là những từ vay mượn từ tiếng Anh Và tiếng Anh lúc này chính là ngôn ngữ gốc, từ vay mượn từ tiếng Anh được viết sang tiếng Hàn Quốc và tiếng Việt chính là ngôn ngữ đích

Đối tượng trọng tâm của luận văn này là từ việc vay mượn giữa các ngôn ngữ sẽ tiến hành xem xét và so sánh từ vay mượn tiếng Anh được du nhập vào tiếng Hàn Quốc và tiếng Việt Tuy nhiên có mấy điểm cần phải cân nhắc đối với việc vay mượn giữa các ngôn ngữ

Trước hết, khi tiếng Anh được du nhập vào tiếng Hàn thì phải làm rõ tiếng tiếng Anh đó là thứ tiếng Anh nào Trong luận văn này sẽ không chia riêng rẽ “tiếng Anh Mỹ” và “tiếng Anh Anh” mà sẽ ghi hết tất cả từ vay mượn tiếng Anh được phổ biến hóa tại Hàn Quốc (và Việt Nam) đang được

sử dụng trong hiện tại lẫn đã được sử dụng trước đây Tất nhiên khi nghiên cứu về từ vay mượn tiếng Anh, việc diễn đạt kí hiệu phát âm của mỗi từ chủ yếu đều được sử dụng theo cách phát âm của người Mỹ Ví dụ , phát âm của một từ tiếng Anh được vay mượn vào tiếng Hàn, từ “pop” có hai cách phát

âm, một là cách phát âm của người Anh thì là [pops ], hai là cách phát âm

Trang 9

của người Mỹ thì là [paps] Trong hai cách phát âm như vậy ngôn ngữ gốc

sẽ được phát âm theo tiếng Anh Mỹ

Thứ hai, vẫn còn một vấn đề khác không thể giải quyết được dù chúng ta có xây dựng hình thức ngữ âm của ngôn ngữ gốc một cách chính xác Điều đó có nghĩa là khi một ngôn ngữ gốc cho vay, chúng ta phải biết được đó là “vay mượn trực tiếp” (direct borrowing) hay “vay mượn gián tiếp” (indirect borrowing) Cụ thể:

- “Vay mượn trực tiếp” là sự chuyển tiếp từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ đích mà trạng thái ngôn từ không chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ trung gian Lúc này khoảng cách tiếp xúc giữa ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích là trực tiếp Ví dụ, các từ tiếng Anh là ngôn ngữ gốc như “spray”, “spring”,

“strike” khi được vay mượn vào trong tiếng Hàn thì vẫn được phát âm như vậy, tức là “spray” phát âm là [s-p-rei ], “spring” phát âm là [s-p-ri ], và

“strike” phát âm là [s-t-raik] Cũng cần nhấn mạnh là, người ta nói tiếng Hàn có nhận thức về tiếng Anh rất chuẩn xác nên khi phát âm cũng phát âm được khá giống với phát âm gốc của tiếng Anh

- “Vay mượn gián tiếp” nhiều khi được hiểu, là ngay trước khi ngôn ngữ gốc được du nhập sang ngôn ngữ đích thì nó phải trải qua ngôn ngữ trung gian Ngay khi qua trung gian thì ngữ âm và hình thái của từ đó cũng

đã bị thay đổi Điều đó có nghĩa rằng, hình thái cuối cùng tại ngôn ngữ trung gian ngay trước khi du nhập sang ngôn ngữ đích chính là cơ sở mang tính ngữ âm cho từ vay mượn Ví dụ, theo Park Gap Su (1995:286), :

Từ “cup” (tiếng Anh) đã du nhập vào tiếng Hàn trước đây thông qua tiếng Nhật đã được phát âm thành [kopp‟u] giống như tiếng Bồ Đào Nha [kopp‟u] trong tiếng Nhật không phải là là “cup” trong tiếng Anh mà đầu tiên được vay mượn từ từ „copo [kopp‟u] trong tiếng Bồ Đào Nha, rồi tiếp

đó lại được vay mượn lại thành từ [kopp‟u] trong tiếng Hàn Như vậy có

Trang 10

11

nghĩa là từ “cup” trong tiếng Anh và từ [kopp‟u] được sử dụng trong tiếng Hàn trước đây không có cùng gốc rễ ngôn ngữ

Các từ sê-mên-tô (cerment), pêng-ki (pek) là những trường hợp tiếng

Hà Lan du nhập vào tiếng Nhật rồi lại tiếp tục du nhập vào tiếng Hàn

Cũng có những trường hợp từ tiếng Anh là từ gốc thông qua tiếng Nhật mà du nhập vào tiếng Hàn Ví dụ, theo Seo Jae Won (1992:352), từ

“ham-pak sư-thê-i-kư” được vay mượn trong tiếng Hàn chính là từ

“hamburg steak” [hmb :rgsteik] trong tiếng Anh, nhưng khi du nhập vào tiếng Nhật thì từ này lại được phát âm theo phong cách tiếng Nhật thành

“ham-pa-ku-sư-tê-ki” và khi được vay mượn trong tiếng Hàn thì cách phát

âm đó vẫn được giữ nguyên Những trường hợp vay mượn gián tiếp khác, ta

có thể tìm được những ví dụ là từ tiếng Hàn vay mượn thông qua tiếng Nhật như “ma-hu-ra” (muffler), “a-pa-tô” (apartment), “ếch-ki-sư” (extract)

Luận văn này chú trọng tới các từ vay mượn tiếng Anh được chính tả hóa bằng tiếng Hàn Ví dụ , “gas” [gæs ] và “bus” [b  s ] khi sang tiếng Hàn

sẽ được chính tả hóa thành “ga-sư” và “ bo-sư” Thực tế những từ này có thể phát âm là “po-sư” và “ka-sư” nhưng người ta vẫn chọn hình thức vay mượn thành “ga-sư” và “bo-sư” Những ví dụ về từ vay mượn trong luận văn này được tập hợp từ các ví dụ trong báo viết, tạp chí, biển hiệu, theo tuyển tập các ví dụ về từ ngoại lai của Viện nghiên cứu chữ quốc ngữ (xuất bản năm 1988) và quy tắc cách biểu hiện từ ngoại lai trong Phương pháp Hangul hóa, ngoài ra còn bao gồm cả các lời nói mang tính cố định đã trở thành quán dụng ngữ hoặc trở nên thông dụng trong xã hội (Tham khảo: Trung tâm thông tin Ka Uh Ri, tìm kiếm Naver)

Ngoài ra, luận văn này tập trung vào tất cả những lời nói với khởi nguồn là tiếng Anh được dùng làm ngôn ngữ vay mượn, và tập trung vào tất

cả các từ ngoại lai và từ tiếng nước ngoài hiện đang được sử dụng làm ngôn ngữ vay mượn Giống như việc các địa danh và tên người Hàn Quốc là một

Trang 11

phần của tiếng Hàn Quốc, địa danh và tên người các nước khác trên thế giới

do vẫn được sử dụng trong đời sống sinh hoạt ngôn ngữ nên cũng trở thành một phần của tiếng quốc ngữ Tất nhiên không phải tất cả từ ngữ được in ấn trong quyển từ điển tiếng Anh đều được nhận định là từ vay mượn nhưng những từ tiếng Anh vẫn được thấy trên ngôn ngữ viết giống như báo chí đều được coi là từ vay mượn

1.2 Hiện trạng về sử dụng từ ngữ tiếng Anh hiện nay trong tiếng Hàn

1.2.1 Tiếng Anh ở Hàn Quốc: Phổ biến hóa tiếng Anh

Bước vào năm 2000, xã hội Hàn Quốc từng dấy lên cơn sốt tranh luận với hai thái cực khác nhau là, đồng tình và phản đối việc phổ biến sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ chính

Năm 1998, ý tưởng về việc “phổ biến hóa” tiếng Anh như là ngôn ngữ chính do tiểu thuyết gia Pok Keo Il đề xuất, ngay khi đó đã mang tính đột phá rất lớn và làm nổi lên cuộc tranh luận gay gắt, nóng hổi Và nó cũng

đã trở thành đề tài xuất hiện trên các phương tiện thông tin địa chúng, các

cơ quan ngôn luận, báo chí

Pok Keo Il đã đưa ra chủ trương rằng, tiếng Anh ngữ đang có vị trí tuyệt đối, là một thứ ngôn ngữ quốc tế Khi mạng thông tin càng phát triển thì tiếng Anh càng trở thành công cụ quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt của chúng ta Trước tình hình đó, Hàn Quốc nên bắt đầu bằng việc phổ biến

sử dụng rộng rãi tiếng Anh rồi dần thay thế ngôn ngữ thông dụng bằng tiếng Anh Chủ trương đã tạo ra ảnh hưởng to lớn của tiếng Anh trong xã hội Hàn Quốc Đây cũng là vấn đề luôn được quan tâm Từ đó, hiện tượng vay mượn các từ tiếng Anh trong tiếng Hàn đã liên tục xảy ra

Trang 12

13

Nhiều nhà ngôn ngữ học đã bắt đầu lên tiếng rằng, việc lạm dụng từ vay mượn tiếng Anh đã trở thành vấn đề rất nghiêm trọng, và đề nghị chấn chỉnh

1.2.2 Từ tiếng Anh tràn lan trên phương tiện phát sóng và sách báo Hàn Quốc

Người hưởng ứng đầu tiên là ủy ban phát sóng Ủy ban này đã đứng

ra yêu cầu sửa chữa các tiêu đề chương trình phát sóng bằng tiếng nước ngoài và những từ ngữ mới chẳng rõ gốc gác từ bất kỳ quốc tịch nào như

“ Star Survival Meeting”, “Cult Nara” Thống kê cho thấy, trong bốn đài truyền hình phổ biến nhất thì chỉ ngoại trừ đài KBS 1TV và EBS, còn hơn 1/3 số các chương trình là có sử dụng tiêu đề tiếng nước ngoài Trước tình hình này, Ủy ban phát sóng yêu cầu các đài truyền hình phải hạn chế sử dụng các tiêu đề bằng tiếng nước ngoài và từ ngữ mới không rõ gốc gác quốc tịch vào các chương trình phát sóng mùa thu

Ủy ban phát sóng cho biết:

“Trong tổng số 69 chương trình của đài KBS 2TV, 28 chương trình (chiếm 40,6%) là có sử dụng tiêu đề và phụ đề tiếng nước ngoài, đài MBC

là 28/74 chương trình (chiếm 37,8%), và đài SBS là 22/66 chương trình (chiếm 33,3%)” (Nhật báo Choson ngày 5 tháng 9 năm 2000)

„Tiếng nước ngoài chiếm lĩnh 60% tên chương trình phát sóng‟

Diễn đàn thảo luận của liên đoàn văn hóa Hangeul “Cần phải kiểm soát tình trạng lạm dụng ngay từ những người làm nghề ngôn luận”

“ɎewsȠline”," “Star Golden Jѥll”, “Rainâow Romance㰝, “ࡂravo Well-being Lifm”, “Science Magazine N”, “Hello$Music Shake”ࡂ là

Trang 13

những chương trình TVࡂmà chúng ta có thể thường xuyên dễ dàng bắt gặp Tất cả đều được viết theo từ ngoại lai và tiếng nước ngoài

60% chương trình hiện nay đang phát sóng đều xuất hiện với tiêu đề

là tiếng nước ngoài bao gồm cả từ ngoại lai Để hưởng ứng lễ kỷ niệm

“Ngày chữ Hangeul” tròn 560 tuổi, tại diễn đàn thảo luận “đối sách trước hiện tượng lạm dụng tiếng nước ngoài của ngôn luận” do liên đoàn văn hóa Hangeul tổ chức tại hội quán giáo dục Seoul Cheong Dong Francisco, ủy viên học thuật Kim Hyeong Bae đã chia sẻ kết quả khảo sát tình hình lạm dụng tiếng nước ngoài khi phát sóng trên TV thông qua những bản khảo sát

đã phân phát trước đó

Như vậy, trong 412 chương trình được phát sóng thông qua 6 kênh truyền hình thì có 246 chương trình (chiếm 59.7%) có tên là tiếng nước ngoài trong có cả tiếng ngoại lai; 123 chương trình (chiếm 29.9%) có tên hoàn toàn là tiếng nước ngoài là tiếng nước ngoài thuần túy ngoại trừ danh

từ riêng tiếng nước ngoài hoặc từ ngoại lai (Tiêu chuẩn ngày 25/9, đối tượng là KBS-1TV, KBS-2TV, MBC, SBS, EBS, YTN)

Ủy viên học thuật Kim chỉ trích rằng, “trong 20 chương trình phát sóng của YTN, ngoại trừ một chương trình ra thì tất cả số còn lại đều là tên tiếng nước ngoài và tên từ ngoại lai”, và “KBS2 cũng vậy, trong 59 chương trình phát sóng thì tận 72.9% với 43 chương trình là có tên bằng tiếng nước ngoài bao gồm cả từ ngoại lai, như thế so với các đài truyền hình khác, chỉ

số sử dụng tiếng nước ngoài này là rất cao”

Theo nội dung phát sóng, từ cuối tháng 6/2006 đến cuối tháng 7/2006, kết quả điều tra chỉ ra rằng trong hơn 150 chương trình có loại trừ chương trình nước ngoài hoặc kịch dã sử của 6 đài truyền hình, đài YTN sử dụng tiếng nước ngoài thường xuyên nhất (cứ 1,73 phút lại có 1 chương trình), trái lại đài KBS-1TV có mức độ sử dụng tiếng nước ngoài thấp nhất

Dưới đây là những con số cụ thể:

Trang 14

Số lượng từ ngoại ngữ được

sử dụng

Tần số thường xuyên (bao nhiêu phút/1 chương trình)

Nói về lý do lạm dụng tiếng Anh khi phát sóng, phó đại biểu liên đoàn văn hóa Hangeul, ông Jeong Jae Hwan đã phân tích như sau:

“Đó là vì khi ngôn từ tiếng nước ngoài được du nhập vào, nhưng đúng lúc đó lại không có sự chuẩn bị ngôn từ thay thế, và lại do chúng ta bàng quan khoanh tay đứng nhìn mà không có bất kỳ đối sách nào thích hợp nên những “dụng ngữ chuyên môn” được giữ lại y nguyên hình thái vốn có”

“Trước việc ngôn từ tiếng Anh được sử dụng đối với cả tên các chính sách, thì để giải thích cho điều này khi phát sóng truyền hình, chúng ta chỉ

có thể nói, đó là điều không tránh khỏi”

Trang 15

Ông Jeong Jae Hwan cũng nói thêm rằng, tình trạng lạm dụng tiếng Anh trong xã hội công chức, khi đến cả chính phủ còn sử dụng ngôn từ tiếng Anh một cách lộn xộn vào tên các chính sách của mình thì đương nhiên cũng đã và đang gây cho người dân sự hỗn loạn

Phó đại diện Jeong bày tỏ nỗi lo lắng nghiêm trọng trước tình hình lạm dụng tiếng Anh vào các chương trình giải trí – hài kịch:

“ Một bộ phận người xem cảm thấy thích thú trước cách biểu đạt bằng tiếng Anh của những người xuất hiện trên truyền hình nên đã bắt chước mô phỏng theo lối nói đó, bằng cách đó cuộc sống sinh hoạt ngôn ngữ đang thực sự “lâm bệnh”, và “Chúng ta nên sửa đổi “quy định cân nhắc khi phát sóng” mới chỉ đang dừng lại ở tiêu chuẩn quy định và khuyên bảo, trở thành quy định buộc hạn chế có tính chất thực tế, hoặc nên xem xét về việc lập ra một quy định liên quan mới”

Giám đốc sản xuất đài SBS Min In Sik thì chỉ ra rằng, tiếng Hàn phải được sử dụng nhiều hơn nữa đối với trường hợp là tin tức hoặc chương trình thời sự so với chương trình giải trí hoặc phim truyền hình, và người xuất hiện trên các chương trình giải trí phải nhận thức được rằng mục đích gây cười và có vẻ đẳng cấp hơn khi sử dụng tiếng Anh, ngoài ra những lối diễn đạt theo phong cách Anh ngữ một cách sai lệch để trông có vẻ ngờ nghệch hơn đang trở thành trào lưu sẽ làm thoái hóa, làm hỏng phong cách ngôn ngữ của những người trẻ tuổi ở lứa tuổi đôi mươi Sau đó ông còn nói thêm:

“Điều quan trọng hơn cả là tôi muốn tạo một không khí cảm thấy yêu thích tiếng Hàn và mọi nỗ lực được đặt ra là để nhằm mục đích đó”

Tính chất nghiêm trọng của việc lạm dụng tiếng Anh trong báo chí cũng giống như vậy Đại diện liên đoàn văn hóa Hangeul Kim Yeong Myeong chỉ trích rằng, báo chí đang lạm dụng từ vựng tiếng Anh một cách không cần thiết và đang kết hợp, sử dụng lộn xộn các ký tự chữ viết Anh ngữ một cách không cần thiết, ngoài ra còn lạm dụng quá mức ngôn từ

Trang 16

17

Konglish ( là loại từ ngoại lai và từ phức hợp không rõ quốc tịch xuất xứ được kết hợp với tiếng Hàn), các từ viết tắt của tiếng Anh, có khi người ta còn không thèm kết hợp Hangeul với tiếng Anh mà chỉ sử dụng mỗi tiếng Anh mà thôi Nói về lý do tại sao ngôn luận lại lạm dụng tiếng Anh, đại diện Kim cho rằng, đó là vì các nhà báo và những người trong ngành đã bị thấm nhuần ý thức Elite Đại diện Kim nhận xét:

“ Trong khi sẽ phải đối mặt với sự phát triển của tiếng Hàn, các phương tiện thông tin báo chí ngôn luận lại đang đối mặt với hành động quay ngược lại, giết chết sự phát triển đó.” và ông yêu cầu, “ Mong rằng những người làm nghề báo chí sẽ nhận thức được tính chất nghiêm trọng của vấn đề để hạn chế tình hình lạm dụng ngoại ngữ thiếu phân biệt và hãy tìm ra phương án thúc đẩy tiếng Hàn của chúng ta được tiếp tục phát triển hơn.”

<Thông tin trong ngày, ngày 10/12/2006> Tiếng Anh đang xâm phạm ranh giới lĩnh vực của tiếng Hàn và bị lạm dụng theo cách mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các tên chương trình được phát sóng trên TV vốn được coi là đại diện của phương tiện thông tin đại chúng

Tất nhiên, những từ vay mượn giống như “News Programme” khi du nhập cũng làm phong phú thêm tiếng Hàn, nhưng những ngôn từ, cách biểu hiện với ý nghĩa không rõ ràng và thực ra là có thể thay thế được bằng tiếng Hàn lại đang không chỉ giết chết ngôn từ thuần Hàn mà những từ ngữ bị sử dụng sai lệch còn làm cho chúng ta khó có thể hiểu được nội dung chương trình

Nêu ra một vài dẫn chứng trên đây để thấy rằng, tư tưởng trọng tiếng Anh trong xã hội Hàn Quốc đang tràn lan khắp nơi không chỉ qua các kênh truyền hình mà là khắp cả xã hội, điều này gây ảnh hưởng không ít tới công tác giáo dục

Trang 17

Tờ The Washington Post của Mỹ có nói, các ngành giáo dục bổ túc, đào tạo bổ túc đối với công nhân viên chức, du học thời kỳ đầu, nghiên cứu ngôn ngữ học, v.v… chiếm phần lớn trong xã hội Hàn Quốc, đặc biệt là đối với hoạt động kinh tế, và cơn sốt giáo dục đào tạo Anh ngữ đang vượt quá

cả trí tưởng tượng Thực tế là từ năm 2004 ~ 2005, khoảng 20% số người tham gia thi Toefl dành cho người nước ngoài nói tiếng Anh là người Hàn Quốc; và năm ngoái số người Hàn Quốc tham gia ứng thi chứng chỉ Toefl là 130.000 người với tổng kinh phí là 23 triệu đôla Mỹ (tương đương 21 tỷ Won) Theo khảo sát điều tra của Viện nghiên cứu SamSung, năm ngoái người Hàn Quốc đã dành khoảng 15.000 tỷ Won để đi học thêm tiếng Anh Thậm chí gần đây còn xuất hiện tổ chức chuyên môn giáo dục tiếng Anh tiền sinh cho các bà mẹ để tạo sự thích thú học tiếng Anh cho các em bé ngay từ trong bụng mẹ qua những bài hát đồng dao và câu chuyện thần tiên bằng tiếng Anh Không chỉ có vậy, thành phố Pusan đang xúc tiến dự án đến năm 2020 sẽ “xây dựng cơ sở hạ tầng tiếng Anh”, nhằm “làng hóa Anh ngữ” toàn vùng

Dự đính sẽ đầu tư với chi phí dự án là 2.775 tỷ Won vào 100 dự án nhỏ lẻ được chia ra làm 4 lĩnh vực như dẫn đầu lĩnh vực công cộng và xây dựng môi trường sử dụng Anh ngữ có liên quan tới dự án giáo dục như cải thiện công tác giáo dục tại các trường tiểu học và trung học cơ sở Đến năm

2009 sẽ xây dựng xong làng Anh ngữ tại khu Pu Jeon Dong cùng với các ngân hàng, bệnh viện chuyên dùng tiếng Anh và cả khu mua sắm chuyên dùng tiếng Anh như hiệu sách tại khu vực lân cận, ngoài ra còn có kế hoạch chỉ định chọn “Ngày cả nước sử dụng Anh ngữ” Anh ngữ vẫn chưa được chỉ định là ngôn ngữ phổ biến như một thứ quốc ngữ để cùng đồng hành với tiếng Hàn trên toàn quốc nhưng những “làng Anh ngữ” cũng đang ngày càng mọc lên như nấm tại nhiều vùng trong cả nước

Tại “Làng Anh ngữ”, người ta phải sử dụng duy nhất tiếng Anh trong cuộc sống thường nhật; kiểu làng này đã bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên vào

Trang 18

19

mùa hè năm 2004 tại vùng ven biển khu Dae Bu Do - thành phố An San – tỉnh Kyeong Ki Do rồi sau đó đã kéo theo một loạt các địa phương khác như Pa Ju, Seoul, Kang Bok, Song Pa, Jeon Ju, Kyeong Ju, Dae Gu, Su Won, Cheju, Jang Hueng, Yeong Gwang, và tính ra đã có đến hơn 40 nơi khác đang có dự định sẽ thành lập

< Sport Seoul, ngày 20/7/2007 > Khi đọc các bài phóng sự trên báo chí hay căn cứ vào kết quả điều tra như trên, có thể thấy Hàn Quốc đã vượt qua ranh giới đồng hoá từ vay mượn và đang từng bước nguy hiểm hóa hiện tượng vay mượn tiếng Anh nguyên dạng tiếp thu từ phạm vi văn hoá tiếng Anh Đồng thời, theo các nhà ngôn ngữ, tính nghiêm trọng của việc lạm dụng từ vay mượn đã ăn sâu vào gốc rễ của tiếng mẹ đẻ và đang bành trướng đến mức nguy hiểm

Dưới đây là thống kê (1989) do Hwang Hee Yong khảo sát 2.130 danh từ và thuật ngữ mới xuất hiện từ sau giải phóng:

- Từ ngoại lai gốc gồm 91 từ, chiếm 43%

Ví dụ: Nylon, Nitron, DDVP

- Từ kết hợp từ ngoại lai và từ Hán gồm 28 từ, chiếm 13%

Ví dụ: rocket+포, carving+총, fascio+주의

- Từ kết hợp từ ngoại lai và từ cổ gồm 2 từ

- Ví dụ: 레이져+빛, 게-지+마당

Qua tài liệu điều tra của năm 1989 trên đây, có thể xác định được rằng khoảng 60% (43%+13%) từ mới được cấu tạo bởi từ ngoại lai Hai tài liệu đưa ra ở trên nhằm điều tra thực trạng sử dụng từ ngoại lai mà trung tâm là ngôn ngữ văn tự

Trang 19

1.2.3 Từ ngữ tiếng Anh trong công nghệ thông tin Hàn Quốc

Dưới đây là các nghiên cứu về mức độ sử dụng từ ngoại lai dễ thấy

trong lĩnh vực công nghệ thông tin, lĩnh vực sử dụng rất nhiều lời lẽ của

giao tiếp thường ngày

Bảng 2 Tỷ lệ sử dụng từ ngoại lai của những người điều hành công

nghệ thông tin

Phân loại

Từ cổ (Bao gồm cả Hán tự)

Từ ngoại lai

(tiếng nước ngoài)

Tổng cộng Phiên âm

tiếng Hàn Phiên âm tiếng Anh

(Nguồn: Lee Jung Boc 1998)

Nếu quan sát bảng 2 ở trên có thể thấy được trong số toàn bộ 1.787

ngữ tiết thì từ ngoại lai (tiếng nước ngoài) được phiên âm bằng Hangul có

237 từ, chiếm 13.3% và từ được phiên âm bằng tiếng Anh gồm 179 từ,

chiếm 10.0% Hơn nữa, toàn bộ các từ sử dụng được sử dụng trong tài liệu

lên tới 416 từ, chiếm 23.3%

Sự thật là cứ 100 ngữ tiết thì có khoảng 23 từ là từ ngoại lai, riêng

điều này cũng đã chỉ ra tính nghiêm trọng của việc lạm dụng từ tiếng Anh

vay mượn trong ngành công nghệ thông tin Tuy nhiên, ngoại trừ các tiểu từ

thì đa số các cuộc hội thoại trong cuộc sống hàng ngày cũng đã chỉ ra một

Trang 20

21

số lượng đáng kể những từ ngoại lai được vay mượn và để dùng trong văn nói

1.2.4 Từ ngữ tiếng Anh trong đời sống giao tiếp bằng tiếng Hàn

Một câu hỏi đặt ra là, sử dụng một cách thông thường các từ vay

mượn diễn ra như thế nào?

Xem xét một phần các đoạn hội thoại trong cuộc sống, để có thể thấy được việc sử dụng từ vay mượn đứng ở vị trí nào trong đời sống hàng ngày, người viết xin được trích dẫn một ví dụ như sau:

“미스김! 어제오후에 브리핑 해 놓은 자료들 팀장님께 제출했나?”

예 아침에 팀장님 책상에 올려 놨습니다.”

“아~ 그래? 땡큐~, 미스김 오늘 스타일 죽이는데… 오늘 데이트 있나봐?”

오늘 친구가 소개팅 시켜 준데서 옷에 신경 좀 썼어요 근데 컬러가 촌스러워 보여서요…”

“노,노,노,노~ 아주 굳이야 굳~ 베리 나이스!”

“Ms Kim! Chiều hôm qua cô đã nộp mấy tài liệu briefing cho trưởng team chưa?”

“Vâng, sáng nay tôi đã đặt lên bàn làm việc của trưởng team rồi ạ”

“À, thế à? Thank you, Ms Kim! Hôm nay trông style của cô được lắm… Chắc hôm nay cô có buổi date à?”

“Hôm nay bạn tôi có tổ chức buổi meeting (làm quen) cho tôi nên tôi cũng để ý đến áo xống một chút Nhưng color trông có vẻ hơi quê…”

“No, no, no, no… Rất good đấy chứ! Good~ Very nice!”

Chúng ta hãy cùng quan sát các từ vay mượn trong từng câu ở đoạn hội thoại trên

Ms + Kim, Briefing, Trưởng + team

Thank you, style, date

Meeting, color

Good

Very nice

Trang 21

Chỉ trong một câu ngắn, chúng ta cũng có thể tìm ra 1,2 từ vay mượn Những từ này đóng vai trò chủ đạo trong câu và nhờ việc sử dụng cách biểu hiện các từ vay mượn này, người nói vừa muốn tăng thêm phần giá trị của cuộc hội thoại Đồng thời những từ vay mượn đó giúp tạo thêm sự thân mật với đối phương và đóng vai trò là công cụ để nâng cao vị trí của người nói bằng cách thể hiện năng lực vận dụng trí óc của bản thân

1.3 Đối chiếu với tiếng Việt

1.3.1 Nhận định chung

Một sự khác biệt dễ thấy nhất so với Hàn Quốc là ở Việt Nam việc sử dụng từ tiếng Anh vay mượn vẫn được hoạt tính hoá, tuy nhiên thực trạng này cũng chưa đến mức bị coi là lạm dụng từ vay mượn Những từ vay mượn này chủ yếu du nhập từ nước ngoài vào hoặc là các từ vay mượn được sử dụng một cách sinh động từ các thương phẩm (Mango, Espirit, Nike, Adidas…) nhằm tạo mục đích tìm kiếm sự thừa nhận của khách hàng, hay các từ chuyên ngành, thuật ngữ (kg, cm, aseton, 3D…) là đơn vị được

sử dụng trong học thuật và chuyên môn

1.3.2 Sự vay mượn từ ngữ tiếng Anh có nguyên nhân từ việc học tiếng Anh với tư cách là ngoại ngữ

Chúng ta hãy cùng tham khảo một số tài liệu điều tra dưới đây để thấy được tầm quan trọng của việc học tiếng Anh thông qua một số nguyên nhân ảnh hưởng đến việc sử dụng tiếng Anh vay mượn như trên cũng như

từ vay mượn trong xã hội Việt Nam

Bảng 3 Số sinh viên học ngoại ngữ tại các trường Đại học Việt Nam

Tình trạng

học ngoại

Số người Tiếng Tiếng Tiếng Tiếng Tiếng Tiếng

Trang 22

(Nguồn: Đỗ Huy Thịnh, 1999, Chính sách giáo dục ngoại ngữ tại Việt Nam:

Sự nổi lên của tiếng Anh và ảnh hưởng của nó đối với một nền giáo dục cao hơn)

Bảng số liệu trên dựa vào một nghiên cứu của Đỗ Huy Thịnh được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn, quan sát tham gia và phát phiếu điều tra với đối tượng là 641 sinh viên đang học tập tại các trường đại học chuyên nghiệp ở 6 thành phố lớn của Việt Nam (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ) Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào những sinh viên học từ 1 đến 4 ngoại ngữ và kết quả điều tra các ngoại ngữ của những sinh viên này cho thấy, trong các thứ tiếng Anh, Đức, Trung, Nga, Nhật, Pháp thì tiếng Anh vẫn có một sự khác biệt nổi bật so với các ngoại ngữ khác với số sinh viên học tiếng Anh là 621 sinh viên trong tổng

số 641

Trang 23

Như vậy, điều này cho thấy ngay cả ở Việt Nam, tiếng Anh cũng trở thành ngôn ngữ đầu tiên mở ra một thời đại ngôn ngữ quốc tế và ngay cả những sinh viên có ý định học tiếng Anh cũng thấy rõ được sự khác biệt nổi bật giữa tiếng Anh với các ngoại ngữ khác

Ngoài ra chúng ta cũng có thể hiểu thêm một điều nữa là xét ở góc độ lịch sử, tuỳ từng hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam mà số lượng học sinh lựa chọn học một ngoại ngữ nào đó là do chịu ảnh hưởng nền văn hoá của đất nước đó vào thời điểm bấy giờ

Dựa vào bảng trên có thể thấy, sau tiếng Anh là lần lượt đến các thứ tiếng Pháp, Trung, Nga, Nhật, Đức Điều đó chỉ ra rằng việc tiến hành học ngoại ngữ cũng rất phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam

Quan sát bảng 4 dưới đây được trích từ nghiên cứu của Lee Jee Seon dựa trên cơ sở nghiên cứu của Đỗ Huy Thịnh, chúng ta có thể đoán được mục đích học tiếng Anh của các sinh viên đã điều tra ở bảng 3

Dưới đây là bảng điều tra về lý do học tiếng Anh của các sinh viên

Bảng 4 Lý do học tiếng Anh của người Việt

Rất quan trọng

Quan trọng

Không quan trọng lắm

Hoàn toàn không quan trọng

Trang 24

Theo như bảng điều tra trên, trong số 621 người tham gia trả lời câu hỏi thì có khoảng 570 người học tiếng Anh với mục đích tìm một công việc tốt, với các câu trả lời là “Rất quan trọng” và “Quan trọng” Con số này chiếm 91.8% và có thể coi là một số liệu rất cao Nó chỉ ra cho thấy năng lực tiếng Anh ảnh hưởng rất nhiều đến việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên trong xã hội Việt Nam Đây cũng có thể được coi là một chứng cứ về

sự thay đổi của xã hội Việt Nam nói chung và phương diện xã hội ngôn ngữ của Việt Nam nói riêng từ sau giải phóng (tr 103, Lee Jee Seon, 2001)

1.3.3 Từ tiếng Anh được sử dụng khi giao tiếp bằng tiếng Việt

Trang 25

Như vậy, việc sử dụng từ vay mượn ở Việt Nam có diện mạo như thế nào?

Dưới đây là một ví dụ có chứa các câu sử dụng từ vay mượn tại Việt Nam

Ví dụ:

1-1) Có money không?

1-2) Phone cho em đi!

1-3) Cần tuyển nhân viên marketing

<Nguyễn Xuân Tú, 1999:143>

1-4) Chuẩn bị tham dự festival

1-6) Cuốn sách này thuộc loại best-seller

<Lee Jee Seon, 2001:109> 1-7) Thank you vina milk

1-8) Tôi đã đi part time(job) về

Quan sát những ví dụ trên đây, là những câu nói có chứa từ vay mượn Anh thường xuyên được sử dụng và dễ dàng nghe thấy ở Việt Nam thì có thể tìm ra được những điểm tương đồng với các cách biểu hiện ở Hàn Quốc Chỉ trong một câu nhưng cách biểu hiện trung tâm và hơn nữa là tự bản thân từ đó cũng đã tạo cho người nghe một cảm giác cao cấp Như ở ví

dụ 1-1), sử dụng từ “money” để nhấn mạnh thay cho từ “tiền”, ở ví dụ 1-2),

sử dụng từ “phone” để nhấn mạnh thay cho từ “gọi điện” không chỉ đóng vai trò nâng cao tư thế của câu lên một tầng nữa mà còn đóng vai trò giúp

Trang 26

27

người nghe nhận thức về người nói là một người tri thức có học vị cao, đã biết vay mượn từ tiếng Anh để tạo ra các cách biểu hiện của câu một cách chuyên nghiệp Xét ví dụ 1-6), việc sử dụng từ vay mượn bằng cách tóm lược ý nghĩa hàm súc của câu vào thuật ngữ ngắn gọn “best – seller” vừa để

đề cập đến “một cuốn sách bán rất chạy”, vừa muốn nhấn mạnh cũng như thể hiện được sự cao cấp của thuật ngữ đó

Ở ví dụ 1-7), “thank you vinamilk” được sử dụng trong cùng một câu

có thể khiến cho đa số những người nước ngoài sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ sẽ cho rằng đây là một câu nói bao hàm ý nghĩa vừa buồn cười vừa khó hiểu khi dịch đúng nghĩa đen là “Cảm ơn sữa Vina” Tuy nhiên, giữa các thanh niên Việt Nam lại tìm thấy điểm chung khi sử dụng từ ngữ này (đương nhiên những người bản ngữ sử dụng tiếng Anh sẽ không thấy được hai từ này có điểm tương đồng gì với nhau) Việc liên kết phát âm của thank you và vinamilk để tạo thành một câu mang ý nghĩa “cảm ơn” cho thấy tiếng Anh không còn bị coi là tiếng nước ngoài nữa mà đã dần dần bước vào quá trình được tiếp thu và đồng hoá trong nền văn hoá chung

Không những vậy, theo quá trình toàn cầu hoá sau công cuộc đổi mới, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các từ vay mượn tiếng Anh được sử dụng trên nhiều phương diện như văn hoá, giáo dục, kinh tế… Tuy nhiên, chỉ cần nhìn các biển hiệu quảng cáo cũng thấy được các cửa hàng đồ ăn nhanh như McDonald hay các thương hiệu thời trang nước ngoài như Bossini, Espirit, Louis Vuition, Nike, Adidas đang trở nên rất phổ biến ở Việt Nam Tuy con người không nhận thức được nghĩa của các từ này nhưng nó được coi là các

từ ngoại lai và được sử dụng một cách phổ biến

Dưới đây là một phần các từ tiếng Anh vay mượn có liên quan đến

âm nhạc và công nghệ thông tin được sử dụng thường xuyên trong giới trẻ Việt Nam hiện nay

Bảng 5 Từ vay mượn tiếng Anh trên internet

Trang 27

Gần 60% website của các bộ, ngành bị

hacker (Cập nhật, 8/7/2007 8:35:02 AM) Theo điều tra mới đây của Ban Cơ yếu Chính phủ về các vụ xâm phạm an ninh và bảo mật mạng tin học, gần 60%

website của các bộ, ngành có đuôi tên

miền "gov.vn

dịa chỉ của internet

sập một website thương mại điện tử khá

lớn Những virus khét tiếng mọi thời

đại: Khởi đầu từ năm 1982, mã độc như

virus, sâu, Trojan đã hoành hành thế

Mp3 M P

ba

Trang nhạc MP3 chất lượng cao được

thực hiện với sự trợ giúp về bản quyền, nguồn nhạc và kỹ thuật của Viết Tân

Studio Trang nhạc MP3 chất lượng cao

được thực hiện với sự trợ giúp về bản quyền, nguồn nhạc và kỹ thuật của Viết

Tân

USB U S

B

Virus lây qua USB đã trở nên quá phổ

biến hiện nay tại Việt Nam, nhất là khi chiếc ổ di động USB đã trở thành vật bất

ly thân của đại đa số học sinh, sinh viên,

nhân viên văn phòng Những con virus này tự động xâm nhập khi bạn cắm

USB

Click cơ

lích,

cờ lích

Bài viết: Click & Go 1.2 - Quản lý các

chương trình trên Desktop (Xem chi tiết trên "Khoa Học Phổ Thông" số 17, Bài

viết: Rèn luyện kỹ năng click chuột (Xem

chi tiết trên Chuyên trang @ Báo "Người Lao Động" số 2799, 18.09.03)

bấm chuột

Trang 28

chuyện phiếm, chuyện gẫu

game ghêm Chơi games trên mạng với tốc độ load

game, truy cập cực cao! Những trò chơi

mới, cập nhật hàng tuần và có hướng dẫn

tiếng việt đang chờ đón các bạn!

Các trò chơi

File Phai Chọn Overwrite existing files để giải nèn

chồng lên những file đã có sẵn - Chọn Skip older files để bỏ qua những file cũ - Chọn Selected files để chỉ giải nén những file đã chọn - Chọn All files để giải nén

tất cả các file có trong

hồ sơ, tài liệu

Âm

nhạ

c

rock rốc Vũ Đức Thắng, Việt kiều Mỹ, vì mê rock

Việt mà quyết tâm về VN làm hẳn một bộ

phim tài liệu dài 90 phút với mục Bên

cạnh hình ảnh đất nước, con người VN,

một thực tế đời sống của rock Việt hiện tại hiện ra khá nhiều màu sắc và

một loại nhạc của

mỹ

ballad balat Nhạc việt nam có Trịnh Công Sơn viết

nhạc ballad cũng rất hay đấy thôi và còn nhiều nhạc sĩ viết nhạc ballad lắm

Nhưng tôi ddặc biệt thích những nhóm metal chơi những bản ballad, …

Lip-sync

Việt Quang có hát lip-sync không? Thật

sự khi biết đến Việt Quang, tôi rất có cảm

tình với chàng ca sĩ này,

pop pốp Trong những năm gần đây, “Pop Idol” đã bài hát

Trang 29

trở thành một trong những cuộc thi âm nhạc được quảng bá nhiều nhất trên thế giới, với phiên bản xuất hiện tại hơn 70 quốc gia và đài truyền hình Tại Mỹ là

“American Idol”…

bình dân

R&B Khi R&B, hip-hop gia nhập vào Việt

Nam, nhiều người cho đó là dòng nhạc thời trang, mà đã thời trang thì sẽ có lúc lỗi “mốt” Nhìn vào số lượng các album phát hành gần đây thì dường như nhận

xét đó hoàn toàn có cơ sở

híp-Câu chuyện về cô bé 22 tuổi Honey Daniel vừa làm bartender trong night club

vừa mở lớp dạy Hip hop cho những ai yêu thích Những ai thích R&B và Hip

Hop thì không nên bỏ qua…

một loại nhạc của

mỹ

rap ráp Ngược dòng thời gian, nhạc Rap vốn

xuất xứ từ Mỹ, hay nói chính xác hơn là

từ tầng lớp người lao động nghèo, tầng lớp tận cùng của xã hội Họ bị gọi là tầng lớp Ghetto, không có tiếng nói, không có

những quyền công dân tối thiểu

một loại nhạc của

mỹ

jazz ja Một đĩa Jazz ballad rất hay, mặc dù chưa

biết tên

nhạc ja

(Nguồn: Công cụ tìm kiếm google)

Các ví dụ trên đây tuy chỉ là một phần nhỏ nhưng có thể nói rằng ở thời đại ngày nay cũng có những trường hợp đại đa số giới trẻ tiếp xúc với những từ ngữ trên một cách vô thức

Có thể những từ vay mượn này ban đầu được sáng tạo ở nước ngoài, nhưng khi nó được du nhập vào Việt Nam thông qua nền văn hoá của nước

đó thì dần dần nó được sử dụng rộng rãi hơn và do đó những từ ngữ biểu hiện văn hoá như vậy không còn là tiếng nước ngoài nữa mà là những từ vay mượn trực tiếp từ tiếng nước ngoài

Trang 30

31

Nếu xét những câu ví dụ có chứa từ vay mượn ở trên đây, có thể thấy cách đánh vần tiếng Anh vẫn được giữ nguyên ở trong câu Điều này có thể

dự đoán 2 lý do, thứ nhất là “để cho có vẻ chuyên nghiệp hơn”, thứ hai là

“đỡ bị Việt Nam hoá hơn” Tuy nhiên xu thế có vẻ nghiêng về lý do thứ nhất hơn, phải chăng vì điều tra ở bảng 3 và 4 về lý do chọn học tiếng Anh

ở Việt Nam đã chỉ ra rằng “do nhu cầu học tiếng Anh ngày càng tăng cao”

và do “xu thế dân số sử dụng tiếng Anh ngày càng tăng” nên họ muốn sử dụng ngoại ngữ một cách chuyên nghiệp hơn và cao cấp hơn?

Hơn nữa, quan sát các cách phát âm ở bảng 5) có thể thấy, khác với phiên âm trong tiếng Anh gốc như “virus” là ’v i s’ hay “ballad” là ‘b l d’, các từ này đã bị Việt Nam hoá và được đọc thành “virut”, “balat”

Lý do vì đây chỉ là hiện tượng xảy ra khi các từ trên nếu không phải

là cấu tạo phát âm của những người bản ngữ sử dụng tiếng Anh thì rất khó thể hiện, nên họ đã thuần hoá phát âm này theo tiếng mẹ đẻ và cách cấu tạo phát âm như vậy không phải chỉ có riêng người Việt Nam sáng tạo ra Sự khác biệt về cách phát âm như vậy cũng xảy ra đối với các từ vay mượn ở Hàn Quốc Ví dụ như trường hợp của từ “jazz” được phát âm thành “jê-z” chứ không phải theo như ký hiệu phiên âm là ’d z’, bởi cách phát âm theo người bản ngữ sử dụng tiếng Anh rất khó

Đối với trường hợp về phiên âm, do đặc thù của tiếng Hàn Quốc (không sử dụng bảng chữ cái latinh) nên để phiên âm một cách trực tiếp tiếng Anh bị hạn chế rất nhiều Do đó, nó được phiên âm bằng tiếng Hàn Quốc là “jê jư”

Tuy nhiên nếu tìm hiểu các khác biệt so với cách phát âm tiếng Anh gốc của các ví dụ trên và nắm bắt được hiện tượng phân hoá âm tiết thì với trường hợp là từ “ballad”, nếu ở Hàn Quốc được phát âm thành 3 âm tiết là

“bal-la-d” bằng cách đọc cả từ nối giữa phụ âm và nguyên âm thì ở Việt Nam nó được phát âm thành 2 âm tiết là “balat” bằng cách lược bỏ bớt 1 chữ “l” giữa 2 nguyên âm và phát âm chữ “d” thành chữ “t” để tạo nên âm tiết kết thúc

Trang 31

Với từ “jazz”, trong trường hợp của Hàn Quốc thì hai chữ “z” được phát âm rất rõ thành “jwu” là phụ âm sau nguyên âm, nhưng ở Việt Nam sau nguyên âm thì “zz” đã bị lược bỏ

1.4 Những nhận xét rút ra

Như vậy, khi so sánh việc sử dụng từ vay mượn Anh ở hai nước, có thể thấy nhiều trường hợp người Hàn Quốc lạm dụng đến mức từ vay mượn Anh thay thế cả vai trò tiếng mẹ đẻ

Và, việc lạm dụng như vậy chắc chắn sẽ làm phai nhạt ý nghĩa thực chất của từ vay mượn

Còn ở Việt Nam hiện nay, từ vay mượn Anh chưa bị lạm dụng hoá, tuy nhiên việc sử dụng từ vay mượn Anh sẽ dần được mở rộng Nếu nhìn vào nhu cầu cũng như xu thế học tiếng Anh đang tăng lên ở VN, thì dự báo tầm quan trọng của việc sử dụng tiếng Anh sẽ tăng tỉ lệ thuận với tốc độ phát triển kinh tế và giao lưu quốc tế của Việt Nam

Vậy thì, từ vay mượn Anh đã xuất hiện từ khi nào?

Và, trong hoàn cảnh nào việc sử dụng từ mượn Anh đã trở nên phổ biến ở cả 2 đất nước?

Để tìm hiểu nguyên nhân đó, chúng ta cần phải nghiên cứu bắt đầu từ thời kỳ du nhập, cho tới bối cảnh lịch sử liên quan đến từ mượn Anh của Hàn Quốc và Việt Nam

Trang 32

33

CHƯƠNG 2 DIỄN TIẾN TỪ TIÊNG ANH DU NHẬP VÀO TIẾNG HÀN

( CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)

2.1 Quá trình tiếng Anh du nhập vào tiếng Hàn

2.1.1 Khái quát quá trình du nhập

Hiện chưa có tài liệu ghi chính xác thời kỳ mà từ tiếng Anh du nhập vào Hàn Quốc Nhưng vào năm 1857, tại Hàn Quốc đã xuất hiện cuốn sách mang tên “Chigu chunyo”giới thiệu về tiếng Anh Cũng vào năm 1857, những cuốn sách về địa lý như “Hae guk doo chi” và “Yung hoan Chi ryak”

đã mang nội dung giới thiệu về hình thái và phát âm của tiếng Anh ngữ Ví

tự [丁] được biểu hiện giống với chữ cái “J”

Không chỉ thế, nếu xem xét một cách đơn giản từ vay mượn trong thời kỳ này, ta sẽ thấy có các từ vay mượn như “ Kum cha thap”, “Yong kil li”, “Mi ri kyon”, “A muk ri ca”.v.v Ở đây, từ “Kum cha thap” (ví dụ như: Xây “Kum cha thap” thì câu này có nghĩa là đạt được một thành tích to lớn),

từ “Kum cha thap” trong tiếng Hán tự sẽ là [金字塔 ] nhưng nó không có nghĩa giống với từ “Kum” trong từ “Hwang kum”(nghĩa là “Hoàng kim”)

mà nó muốn chỉ từ “Pyramid” (nghĩa là “Kim tự tháp”) bởi vì hình thái chữ Hán [金字塔 ] có hình tam giác rất giống hình kim tự tháp Và khi muốn nói

là “Nước Mỹ”, thì người ta sẽ dùng từ Hán tự [米利堅 ] được đọc là “Mi ri kyon” Trong chữ “America” thì trọng âm sẽ được nhấn vào âm tiết thứ hai

Trang 33

là “me” cho nên khi nghe thì ta chỉ nghe thấy các từ “merica” vì thế nó sẽ được biểu hiện là “My ri kyon” Tương tự với từ “Nước Anh” thì cũng được biểu hiện theo nguyên lý như trên và được viết là “英吉利(영길리 ) Yong kil li”.

Việc phổ cập học tiếng Anh chính thức được bắt đầu vào thời kỳ khai hoá cuối thế kỷ 19 và dần dần được mở rộng ra Đồng thời, nó cũng có quan

hệ mật thiết với sự du nhập của văn hoá, văn vật phương Tây bắt đầu từ năm 1880

Vào thời kỳ này, các giáo sĩ phương Tây đã bắt đầu đến Hàn Quốc

để thực hiện các hoạt động truyền giáo Đặc biệt, sau cuộc Cách mạng Giáp ngọ năm 1984, người ta càng đề cao tính cần thiết của việc giáo dục theo cách thức phương Tây, coi trọng các trường ngoại ngữ và việc dạy tiếng Anh

Khuynh hướng đề cao tiếng Anh trở thành một phong trào mạnh mẽ vào thời kỳ thực dân của Đế quốc Nhật Trong thời kỳ này, tiếng Anh được

sử dụng rộng rãi ngay cả trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Ví dụ, bài báo

điển hình “Yang ki toel pon teak orait(Yankee Allright): Đất nước con người vạn tuế”sau đây sẽ cho ta thấy điều này:

Yesư Pưriti! Bêry Pưriti (Yes pretty very pretty): Chà, đẹp, đẹp quá!

Nô Nô Bêry Ogưlli (No No very ugly): Không, không, xấu lắm!

Nô Nô Suyichư madam (No No….madam):Không, không,…cô ấy là Madam

Orait, Teng kyu, Tto tto mechuypoledu yakko domburi banana

(All right, thank you… )

Yesư Yesư o Yesư hiroisum endư mưtsorini

Hum Ai em Gulleđưpulokkư endư cha resưdansư rudessokkư endư

Trang 34

Chúng vừa ăn vừa uống “삐루 Piru” đen ( nghĩa là “bia” đen)

Chúng vừa ngắm bức tranh ớ “누드 nude” với ánh mắt đầy vẻ thích thú vừa tán dóc với nhau

Sau khi một “보이 Boi” (nghĩa là “đứa con trai”) mang đĩa đi, chúng lau miệng và mũi bằng giấy ăn

Mùa thu

Ừ, mùa thu

Khi lau cửa kính của toà nhà 30 tầng ở “뉴욕 nyu yok”(nghĩa là

“New york”), mình thấy muốn khóc khi nghĩ đến vợ

Khi còn ở “센프란 시스코 Sanfrancisco”, mình say rượu và có vào công viên ngồi trên “벤치 ben chi” (nghĩa là “chiếc ghế dài”) ở đó với một người con gái nhưng bỗng nghĩ đến những cái đánh đòn mà thấy việc này thật đáng xấu hổ

Một học sinh đã nói với mình rằng “hãy kể chuyện của bạn ở nước ngoài đi” thế là mình đã biến tấu câu chuyện đi và kể lại chứ nếu mà kể đúng như những gì mình đã trải qua thì…hahaha

Suỵt, xấu hổ quá!!!”

( Nguồn: Sin myong jic/11.10.1928-báo cho sun)

Những từ ngữ trên vừa miêu tả được thực trạng của xã hội đương thời mà ở đó tiếng Anh rất được phổ biến và ưa chuộng nhưng đồng thời cũng thể hiện sự phê phán quan điểm của những nhà tri thức-những người luôn thiên về văn hoá Mỹ

Với những người mà họ thích nói từ “Yes” hơn là từ “kư re”(nghĩa

là “vâng, thế nhé ”) và thích nói từ “Allright” hơn là từ “Cho a” (nghĩa là

Trang 35

“ tốt, tuyệt vời”) thì phải chăng một nửa trong tư tưởng của họ đã mang sự mỉa mai đối với những gì mà không thuộc về văn hoá Mỹ?

2.1.2 Con đường du nhập qua tiếng Nhật

Vào thời kỳ này, ngoài thực trạng thiên hướng về tiếng Anh, do tính chất của thời đại này là chịu ảnh hưởng bởi sự thống trị của Đế quốc Nhật nên nếu để ý đến nội dung giao tiếp hay cách biểu hiện từ ngoại lai của các tác giả thì sẽ thấy có nhiều từ là từ vay mượn tiếng Anh nhưng phát âm theo

cách phát âm của Nhật như “chikingasư”, “oyaco domburi”, “modonpoi”,

“sarada” = salad : sa lát (Món ăn Tây trộn các loại rau với gia vị)

“baku”= back up: lùi ( có nghĩ là khi muốn lùi về phía sau)

“bangku”= punk: thủng (xăm xe hay là áo có vết thủng, rách)

“mahura”= mufffler: thiết bị giảm tiếng nổ của khí thải xuất hiện từ các

thiết bị thông khí

“songưrasư”= sunglass: kính râm để bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời

“apatư”= apartment house: Nhà chung cư, nhà tập thể

“toransư” = electric transformer: Máy biến áp điện

“pama”= pernament(wave): cách tạo kiểu tóc hoặc làm tóc xoăn bằng

cách sử dụng nhiệt hoặc chất hoá học

“maikư”= microphone: máy phóng to lời nói

“mising”= sewing machine: Máy khâu

“memo”= memorandum: giấy nhắn để lại

“orait”= all right trong tiếng Anh nhưng bị phát âm sai

Trang 36

37

2) Sau Thế chiến thứ 2, tiếng Hàn vay mượn từ vựng thông qua biên dịch

từ Nhật

“nengchon” = cold war: chiến tranh lạnh

“chukum ui che” = sand of death: miền cát chết

“amnyok tanche” = pressure: áp lực

“kukmin chong sengsan” = GNP: tổng thu nhập kinh tế quốc dân

“聖火” =Olympic torch: ngọn đuốc Olimpic

“misichok” = micro: máy phóng to lời nói

3) Từ vay mượn là từ ghép từ tiếng Nhật

“sikpang” + (nghiã là “bánh mỳ dùng để ăn”) + “porutukaro” (nghĩa

là Pao) = bánh mỳ được làm để ăn như bữa ăn bình thường

“donkasu” = pork cutlet

“kurimu” “kuribu” = skin cream: mỹ phẩm

“serabok” (sailor+服 ): quần áo của phụ nữ và trẻ em mà giống với quần

áo của thuỷ thủ

Nếu quan sát ví dụ ở trên ta sẽ thấy cũng giống với Việt nam, từ vay mượn tiếng Anh của Hàn Quốc được chia âm tiết ra để phát âm, và từ vay mượn đó được sử dụng hệ thống phát âm của Nhật do chịu ảnh hưởng của

Đế quốc Nhật

Sự phân hoá âm tiết, hình thức phát âm cũng thay đổi cùng với sự

biến đổi của thời đại Ví dụ như từ “sarada” (nghĩa là “salad”) thì sau đó được biến đổi phát âm thành “selodu”, từ “kurimu” và “kuribu” (nghĩa là

“skin cream”) được đổi phát âm thành “kurim”, từ “serabok” (sailor+服)

được phát âm thành “seilobok” Và cứ thế dần dần âm tiết và phát âm được

biến đổi sang một hình thái phát triển hơn

Trang 37

Năm 1930, khi thời kỳ thống trị của Đế quốc Nhật đang ở trong giai đoạn đỉnh điểm thì người Hàn Quốc bị bắt buộc học tiếng Nhật do chính sách tẩy chay chữ Quốc ngữ của Nhật Vì thế, việc sử dụng tiếng Hàn ngày một giảm đi nhanh chóng Thời kỳ mà tiếng Nhật lan rộng ra toàn đất nước Hàn Quốc có thể coi là thời kỳ đen tối của việc sử dụng tiếng Hàn do nó bị

phụ thuộc vào tiếng Nhật

Sau giải phóng năm 1945, để xoá sạch các tàn dư của thời kỳ Nhật thống trị, các phong trào dậy và “làm trong sáng” chữ Quốc ngữ khỏi các từ

vay mượn của Nhật đã diễn rộng rãi Trong đó việc quyết định bãi bỏ việc

sử dụng chữ Hán và cách viết chữ theo hàng ngang, đồng thời việc ban hành ra “Phương pháp ký tự hoá từ ngoại lai” là một nỗ lực nhằm hình thành khung chữ Quốc ngữ Nỗ lực này vẫn được tiếp tục ngay cả khi Hàn Quốc bị chia cắt sau cuộc chiến tranh hai miền

2.2 Đối chiếu với tiếng Việt

Theo tìm hiểu của chúng tôi, Việt Nam cũng chưa thể làm rõ được chính xác thời kỳ mà từ vay mượn tiếng Anh du nhập vào tiếng Việt

Trước hết, khi đối sánh nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và một số tài liệu ghi chép lại, ta có thể dự đoán rằng trong thời kỳ bị lệ thuộc vào nước Pháp, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng từ nước Pháp và có lẽ đó cũng

là thời kỳ mà từ vay mượn đã du nhập vào Việt Nam

Vào thời kỳ đầu thống trị của thực dân Pháp thì tiếng Pháp được quy định là tiếng phổ thông của Việt Nam Có thể thấy việc đất nước Việt Nam

bị cấm sử dụng tiếng Việt rất giống với đất nước Hàn Quốc trong thời kỳ thống trị mạnh mẽ của Đế quốc Nhật Trong thời kỳ này chỉ có 2% trong tổng số dân Việt Nam được dạy tiếng Pháp, số còn lại chỉ được biết đến qua truyền miệng vì thế rất nhiều người Việt chỉ nói tiếng Pháp một cách tuỳ ý theo kiểu bồi

Trang 38

39

Sau thời thuộc Pháp, ở Việt Nam, từ vay mượn Anh được sử dụng cùng với tiếng Pháp, và vốn từ gốc Âu Mỹ chỉ bắt đầu xuất hiện trong các

từ điển xuất bản vào thời gian cách đây khoảng 40-50 năm: “Việt Nam Tân

từ điển” của Thanh Nghị (xuất bản năm 1957), “Từ điển tiếng Việt” của Văn Tân chủ biên (xuất bản năm 1967) “ Việt Nam từ điển” của Lê Văn Đức (xuất bản năm 1970)

Như vậy, tiếng Anh du nhập vào Việt Nam vào giai đoạn sau cách mạng tháng Tám, và nhất là vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Vào những năm đó, đế quốc Mỹ đã đổ bộ vào Việt Nam để giúp quân Pháp thực hiện tham vọng đánh nhanh thắng nhanh Tại các thành phố lớn ở Nam Bộ, văn hoá Mỹ tràn vào qua phim ảnh, sách báo, hàng hoá… Ngoài ra, một số trường học đưa tiếng Anh vào giảng dạy

Từ năm 1960-1975, tiếng Anh chiếm một vị trí đặc biệt ở miền Nam Việt Nam, nhiều học sinh ở miền Nam chọn học tiếng Anh để làm việc cho các công ty Mỹ, hoặc chủ yếu để giao thiệp với người Mỹ Vì thế, trình độ tiếng Anh của họ không cao, sử dụng tiếng Anh bồi Từ vay mượn tiếng Anh phiên âm sang tiếng Việt Ví dụ:

Oẳn tù tì one two three

tơ nít/ten nít tennis

Trang 39

banh bong/binh bong ping pong

Trong hội nghị này, tổng thống Park Chung Hee đã đề xuất một dự

án “xây dựng làng mới” với tinh thần tự lực tự cường để bắt đầu cho phong trào tái thiết nông thôn và tìm ra phương án khắc phục cho những người dân

bị lũ lụt

Ban đầu phong trào này chỉ đơn thuần là phong trào tăng sản xuất lên gấp đôi của các nông trại nhưng qua đó đã đạt được rất nhiều thành quả nên từ sau đó phong trào này đã được lan rộng đến cả đô thị, nhà máy, công

sở, v.v và đã phát triển thành một phong trào “cách mạng đời sống” với khẩu hiệu “cần mẫn-tự lực-hợp tác” Có thể nói phong trào này là phong trào “cận đại hoá” mang tính dân tộc do chính phủ chỉ đạo đã tiếp thêm cho

Trang 40

41

nhân dân ý thức tự lập về kinh tế và phải nỗ lực để gia nhập vào hàng ngũ các nước phát triển Ta có thể nhận thấy rằng “phong trào làng mới” này có điểm tương đồng với “chính sách Đổi mới” của Việt Nam

Trong số các chính sách của thời kỳ này có phong trào “làm trong sáng chữ Quốc ngữ” Với vai trò là một chính sách ngăn chặn việc lạm dụng vay mượn từ tiếng Anh, phong trào “làm trong sáng chữ Quốc ngữ” này được bắt buộc thi hành nhằm làm trong sáng lại chữ Quốc ngữ khỏi các

từ vay mượn đang được sử dụng lúc bấy giờ

Phong trào này một mặt đã thuyết phục được người dân nhưng mặt khác vẫn còn nhiều điểm chưa thuyết phục được họ Ví dụ:

Tên của một nhóm nhạc rock là “bulek tetura” (nghĩa là “black Tetra”) mặc dù găp nhiều khó khăn nhưng đã đổi tên để cho “Quốc ngữ hoá” thành “yolteo”

Tên của con thỏ-nhân vật chính trong truyện tranh Disney)“banni golsu” (nghĩa là “banny girl”) được đổi tên thành “Tokisonyo”, “onionsu” (nghĩa là “onion”) được đổi thành “yangpatul”

Tên các chương trình như “kayo suteichi” (nghĩa là “stage”) đổi tên sang thuần Hàn là “kayo mute”

Từ chuyên môn thể thao như “bontu” ( nghĩa là “bunt”) được đổi thành “salchaktegi”

Từ “bolkauntu” (nghĩa là “ball count”) được đổi thành

“tonchinsem”

Từ “hedingsut” (nghĩa là “heading shoot”) được đổi thành

“morisori”

Từ “posutupullei” (nghĩa là “post play”) đổi thành “maltukpaki”

Chính sách này có mặt tích cực của nó là nhằm mục đích làm trong sáng lại tiếng Hàn Quốc nhưng mặt khác, vô hình nó đã tạo ra sự khác biệt với dòng chảy văn hoá nói chung

Từ trước khi phong trào “làng mới” diễn ra (tức là sau giải phóng) thì đã diễn ra phong trào “làm trong sáng chữ Quốc ngữ” và đây là một

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tần số thường xuyên sử dụng tiếng Anh trên các kênh của - Khảo sát từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt
Bảng 1. Tần số thường xuyên sử dụng tiếng Anh trên các kênh của (Trang 14)
Bảng  2.  Tỷ  lệ  sử  dụng  từ  ngoại  lai  của  những  người  điều  hành  công - Khảo sát từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt
ng 2. Tỷ lệ sử dụng từ ngoại lai của những người điều hành công (Trang 19)
Bảng  số  liệu  trên  dựa  vào  một  nghiên  cứu  của  Đỗ  Huy  Thịnh  được  tiến  hành  bằng  phương  pháp  phỏng  vấn,  quan  sát  tham  gia  và  phát  phiếu  điều tra với đối tượng là 641 sinh viên đang học tập tại các trường đại học  chuyên nghiệp ở 6 - Khảo sát từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt
ng số liệu trên dựa vào một nghiên cứu của Đỗ Huy Thịnh được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn, quan sát tham gia và phát phiếu điều tra với đối tượng là 641 sinh viên đang học tập tại các trường đại học chuyên nghiệp ở 6 (Trang 22)
Bảng 4.  Lý do học tiếng Anh của người Việt - Khảo sát từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt
Bảng 4. Lý do học tiếng Anh của người Việt (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w