1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt

244 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là thành tố phụ, CPT thường có các chức năng ngữ pháp khác nhau như làm chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ cho một danh từ trung tâm hay làm trạng ngữ cho động từ vị ngữ của câu chính

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ THÀNH CHUNG

CÚ PHÂN TỪ ĐỊNH NGỮ, TRẠNG NGỮ TIẾNG ANH

VÀ CÁC KẾT CẤU TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ ……… 1

Lời cam đoan ……… 2

Lời cám ơn ……… 3

Mục lục ……… 4

Danh mục các chữ viết tắt ……… 7

Danh mục các bảng ……… 8

MỞ ĐẦU ……… 9

Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm và tình hình nghiên cứu CPTĐN và CPTTN tiếng Anh … 15 1.1.1 Khái niệm CPTĐN và CPTTN ……… 15

1.1.2 Tình hình nghiên cứu CPTĐN và CPTTN tiếng Anh……… 19

1.2 Các kết cấu tương đương trong tiếng Việt ……… 23

1.2.1 Khái niệm NĐTĐN và NĐTTN ……… 23

1.2.2 Tình hình nghiên cứu NĐTĐN và NĐTTN ……… 26

1.3 Cơ sở lý thuyết ……… 30

1.3.1 Quan điểm của ngữ pháp truyền thống về cú pháp và cú phân từ …… 31

1.3.2 Nguyên lý nỗ lực ít nhất và Nguyên lý tiết kiệm ……… 37

1.3.3 Quan điểm ngữ pháp ngữ nghĩa của Wallace Chafe về cú pháp …… 42

1.3.4 Quan điểm ngữ pháp chức năng của Halliday về cú pháp ……… 45

1.3.5 Khái niệm về cận cảnh-hậu cảnh ……… 49

1.3.6 Quan điểm của Givón về mạch lạc liên cú ……… 51

1.3.7 Quan điểm ngữ dụng học về quy chiếu của G Yule và G M Green 55

1.3.8 Mô hình đánh giá chất lượng bản dịch của House ……… 57

1.4 Tiểu kết ……… ……… 60

Chương 2: CÚ PHÂN TỪ ĐỊNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ NGỮ ĐỘNG TỪ ĐỊNH NGỮ TIẾNG VIỆT 2.1 Cú phân từ định ngữ tiếng Anh ……… 62

2.1.1 Khái niệm, vị trí và cấu tạo ……… 62

2.1.2 Cú phân từ định ngữ và cú quan hệ ……… 63

2.1.3 Phân loại cú phân từ định ngữ ……… 64

2.1.4 Đặc điểm kết học ……… 66

2.1.4.1 Đặc điểm cấu trúc của CPTĐN ……… 66

2.1.4.2 Khả năng kết hợp của CPTĐN với danh từ trung tâm ……… 67

Trang 3

2.1.4.3 Khả năng rút gọn của CQH thành CPTĐN ……… 70

2.1.5 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng ……… 81

2.1.5.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ trung tâm……… 81

2.1.5.2 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của danh từ trung tâm ………… 83

2.1.5.3 Đặc điểm ngữ nghĩa liên cú ……… 87

2.1.5.4 Cú phân từ định ngữ trong các loại văn phong khác nhau ……… 89

2.2 Ngữ động từ định ngữ trong tiếng Việt ……… 91

2.2.1 Khái niệm và tiêu chí nhận diện ……… 91

2.2.2 Phân loại ……… 95

2.2.3 Đặc điểm kết học ……… 96

2.2.3.1 Đặc điểm cấu trúc của NĐTĐN ……… 96

2.2.3.2 Khả năng kết hợp giữa danh từ và NĐTĐN ……… 98

2.2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng ……… 99

2.2.4.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ trung tâm ……… 99

2.2.4.2 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của danh từ trung tâm………… 103

2.2.4.3 Đặc điểm ngữ nghĩa liên cú……… 112

2.2.4.4 Tần số sử dụng trong các văn phong khác nhau……… 112

2.3 Tiểu kết ……… 113

Chương 3: CÚ PHÂN TỪ TRẠNG NGỮ TIẾNG ANH VÀ NGỮ ĐỘNG TỪ TRẠNG NGỮ TIẾNG VIỆT 3.1 Cú phân từ trạng ngữ tiếng Anh ……… 116

3.1.1 Khái niệm và tiêu chí nhận diện ……… 116

3.1.2 Phân loại CPTTN ……… 116

3.1.3 Đặc điểm kết học ……… 124

3.1.3.1 Đặc điểm cấu trúc của CPTTN ……… 124

3.1.3.2 Vị trí của CPTTN……… 125

3.1.4 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng ……… 127

3.1.4.1 Mối liên kết ngữ nghĩa với cú chính ……… 127

3.1.4.2 Mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa với cú chính ……… 140

3.1.4.3 Mạch lạc quy chiếu và mạch lạc thời thể ……… 143

3.1.4.4 Cú phân từ trạng ngữ trong các loại ngôn bản khác nhau ……… 155

3.1.4.5 Xu hướng sử dụng CPTTN trong văn học Anh, Mỹ ……… 155

3.2 NĐTTN tiếng Việt (Đối chiếu với CPTTN) ……… 158

3.2.1 Khái niệm và tiêu chí nhận diện ……… 158

3.2.2 Phân loại NĐTTN ……… 158

3.2.3 Đặc điểm kết học ……… 162

Trang 4

3.2.3.1 Đặc điểm cấu trúc của NĐTTN ……… 162

3.2.3.2 Vị trí của NĐTTN ……… 164

3.2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng ……… 166

3.2.4.1 Mối liên kết ngữ nghĩa với cú chính ……… 166

3.2.4.2 Mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa ……… 172

3.2.4.3 Mạch lạc quy chiếu và mạch lạc thời thể ……… 172

3.2.4.4 NĐTTN và trong các loại văn phong khác nhau ……… 176

3.4 Tiểu kết ……… 179

Chương 4: CÁCH DỊCH CÚ PHÂN TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 4.1 Một số nhận xét về cách dịch CPT trong các tác phẩm văn học ……… 182

4.2 Các cách dịch CPTĐN ……… 186

4.2.1 Cách dịch CPTĐN không hạn định ……… 186

4.2.2 Cách dịch CPTĐN chủ động hạn định ……… 188

4.2.3 Các cách dịch CPTĐN bị động hạn định ……… 190

4.3 Các cách dịch CPTTN ……… 197

4.3.1 CPTTN đứng trước cú chính ……… 197

4.3.1.1 CPTTN bị động ……… 199

4.3.1.2 CPTTN chủ động diễn tiến ……… 200

4.3.1.3 CPTTN chủ động hoàn thành ……… 202

4.3.2 CPTTN đứng sau cú chính ………205

4.3.3 Cách dịch các động từ có liên quan đến bộ phận cơ thể ……… 208

4.3.4 Cách dịch CPTTN trong các câu dẫn hội thoại ……… 210

4.4 Tiểu kết ……… 216

KẾT LUẬN ……… 219

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ……….224

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 225

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPTĐN cú phân từ định ngữ CPTTN cú phân từ trạng ngữ CQH cú quan hệ

NĐT ngữ động từ NĐTĐN ngữ động từ định ngữ NĐTTN ngữ động từ trạng ngữ

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Trang

Bảng 1.1: Các mối tương quan giữa thời-thể-tình thái và tiền cảnh/

hậu cảnh của ngôn bản……… 50

Bảng 2.1: CQH bị động hạn định rút gọn thành CPTĐN bị động hạn định 66

Bảng 2.2: CPTĐN trong tác phẩm văn học thuộc các giai đoạn khác nhau 91

Bảng 2.3: CPTĐN trong các văn phong khác nhau……… 91

Bảng 2.4: NĐTĐN trong các tác phẩm văn học ……… 113

Bảng 2.5: NĐTĐN trong các văn phong khác nhau……… 113

Sơ đồ 1: Mối tương quan giữa CQH, CPT tiếng Anh và NĐT tiếng Việt …… 114

Bảng 3.1: Cú trạng ngữ rút gọn thành CPTTN……… 126

Bảng 3.2: Những dấu hiệu chính của các cú tăng cường phụ thuộc……… 142

Bảng 3.3: Phân bố CPTTN trong các loại ngôn bản khác nhau………… 155

Bảng 3.4: CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ ……… 156

Bảng 3.5: Phân bố các loại CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ 157

Bảng 3.6: Thống kê NĐTTN trong các tác phẩm văn học ……… 177

Bảng 3.7: NĐTTN trong các văn phong khác nhau ……… 177

Bảng 3.8: So sánh tần số xuất hiện của NĐTTN và CPTTN ……… 177

Bảng 3.9: NĐTTN trong các tác phẩm văn học Việt Nam ……… 178

Bảng 3.10: Các mối liên kết ngữ nghĩa……… 181

Sơ đồ 2: Các cách dịch CPTĐN và CPTTN sang tiếng Việt ……… 218

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Trong tiếng Anh, cú phân từ (CPT) là một kết cấu có động từ ở dạng phân từ làm trung tâm, thường được dùng làm thành tố phụ của một câu phức Với tư cách

là thành tố phụ, CPT thường có các chức năng ngữ pháp khác nhau như làm chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ cho một danh từ trung tâm hay làm trạng ngữ cho động từ vị ngữ của câu chính Mặc dù được dùng khá phổ biến trong tiếng Anh (trong các bài viết có phong cách trang trọng, mang tính học thuật, hoặc trong các tác phẩm văn học), nhưng cho đến nay các CPT vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống, đặc biệt là từ góc độ lý thuyết

Qua tham khảo các tài liệu nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy loại cú này chủ yếu được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh nói chung hoặc các sách dạy tiếng Anh cho người nước ngoài như “A Comprehensive Grammar of the English Language” của R Quirk và một số tác giả khác,

“Advanced Grammar in Use” của Martin Hewings, “Longman English Grammar” của L.G Alexander, “Practical English Usage” của Michael Swan v.v Trong những công trình này, theo quan sát của chúng tôi, chưa có sự thống nhất về định nghĩa và thuật ngữ đối với CPT Hơn nữa, các tác giả cũng chỉ mô tả khái quát CPT ở một số khía cạnh nhất định như cấu trúc, ngữ nghĩa chức năng hay cách sử dụng (chẳng hạn, trường hợp nào chúng xuất hiện và trường hợp nào thì không thể sử dụng) theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống hay ngữ pháp cấu trúc mà không xem xét chúng một cách toàn diện và có hệ thống từ góc độ của các lý thuyết ngữ pháp học hiện đại, đặc biệt là ngữ pháp ngữ nghĩa - chức năng Nói một cách khác, cho đến nay, có rất ít các công trình đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ CPT tiếng Anh trên

cả ba phương diện kết học, nghĩa học và dụng học

Tiếng Việt mặc dù không có loại CPT như tiếng Anh nhưng cũng có những kết cấu có động từ làm trung tâm với chức năng ngữ pháp tương tự Chẳng hạn, đó

Trang 8

là những kết cấu tương đương với cú phân từ định ngữ mà Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp gọi là vị từ làm định ngữ, hoặc những kết cấu tương đương với

cú phân từ trạng ngữ được gọi là vị ngữ thứ yếu hay vị ngữ phụ Tuy nhiên, cũng như CPT trong tiếng Anh, các kết cấu tương tự trong tiếng Việt cũng chỉ mới được

đề cập một cách sơ lược trong các sách ngữ pháp tiếng Việt và các nhà Việt ngữ học cũng có những quan điểm khác nhau về loại kết cấu này

Những điểm luận sơ bộ trên đây cho thấy việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt là hết sức cần thiết Ngoài ý nghĩa lý thuyết là góp phần làm sáng rõ thêm đặc điểm của loại kết cấu này trên tất cả các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, kết quả nghiên cứu của đề tài còn có đóng góp hữu ích cho các hoạt động thực tiễn liên quan đến việc giảng dạy và dịch thuật tiếng Anh và tiếng Việt như những ngoại ngữ, trong đó việc nghiên cứu CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương tiếng Việt là một bộ phận không thể thiếu

Thực tế giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ trong nhiều năm cũng như thực tế dịch thuật và giảng dạy môn thực hành dịch trong trường đại học cho thấy nguời học và người dịch gặp không ít khó khăn khi xử lý các văn bản có sử dụng CPT Việc hiểu chính xác nghĩa của các CPT tiếng Anh trong các trường hợp cụ thể

đã khó, nhưng chuyển tải các kết cấu này sang tiếng Việt như thế nào cho hiệu quả còn khó hơn nhiều Người học tiếng Anh như một ngoại ngữ thường hay lúng túng khi gặp các cấu trúc này, đặc biệt là khi họ cố gắng dịch CPT sang tiếng Việt

Ví dụ: trong câu “ any further attempts to prevent voices of concern from

making themselves heard by negotiators” người học do nhiều lý do có thể dịch cú

phân từ định ngữ „heard by negotiators‟ thành „được nghe bởi các nhà thương thuyết‟, một hình thức dịch khó có thể được chấp nhận trong tiếng Việt Việc tìm ra một phương án dịch tối ưu là không đơn giản Để có được đáp án dịch thuần Việt chúng ta phải tìm đến những phương tiện biểu thị khác, chẳng hạn có thể dịch là “ bất kỳ một nỗ lực tiếp theo nào nhằm ngăn không cho các tiếng nói bày tỏ mối quan

ngại đến được tai các nhà thương thuyết”

Trang 9

Qua nghiên cứu bản dịch các tác phẩm văn học bằng tiếng Anh sang tiếng Việt đã được ấn hành trong những năm gần đây, chúng tôi còn nhận thấy rằng việc

xử lý các câu có chứa CPT của các dịch giả nhiều khi chưa thỏa đáng Chính vì vậy, ngoài việc nghiên cứu các đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa - chức năng và ngữ dụng của các CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt, chúng tôi thấy cần thiết phải khảo sát cả cách dịch các cú này từ tiếng Anh sang tiếng Việt Việc làm này sẽ giúp ích rất nhiều cho người học tiếng Anh như một ngoại ngữ cũng như cho các dịch giả

2 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt, được khảo sát theo 3 hướng chủ đạo:

- Mô tả đồng đại

- So sánh đối chiếu

- Khảo sát cách chuyển dịch

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu về CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt, trên cơ sở đó xác định hướng tiếp cận và cơ sở lý thuyết cho

- Khảo sát cách dịch CPT tiếng Anh sang tiếng Việt

3 Cơ sở lý thuyết của luận án

Để tiếp cận đối tượng nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, luận án

sẽ dựa vào những cơ sở lý thuyết chủ yếu sau:

Trang 10

- Nguyên lý tiết kiệm của André Martinet (1963) dựa trên cơ sở “quy luật nỗ lực ít nhất”, theo đó con người chỉ bỏ ra sức lực vừa đủ cần thiết để đạt được mục đích nhất định nào đó Ngôn ngữ cũng không nằm ngoài quy luật này

- Luận điểm của Wallace L Chafe (1970) về các câu có 2 động từ trở lên, về

“mối quan hệ ngữ nghĩa bộ phận” và khả năng có thể lược bỏ cả chủ thể cấu trúc

nổi của cú quan hệ và động từ be

- Lý thuyết của ngữ pháp truyền thống về CPT, đại diện là R Quirk và các tác giả của cuốn “Ngữ pháp tiếng Anh đương đại” (1972) và “Ngữ pháp tiếng Anh tổng hợp” (1985)

- Quan điểm ngữ pháp chức năng của Halliday (1985, 2005) về cú pháp và mối quan hệ giữa các cú trong câu phức

- Quan điểm ngữ pháp chức năng của Givón (1990) về cú quan hệ và tính mạch lạc liên cú

- Quan điểm ngữ dụng học về cận cảnh - hậu cảnh của P Hopper

- Quan điểm ngữ dụng học về quy chiếu (reference) của George Yule (1996)

và Georgia M Green (1989)

- Lý luận về dịch thuật, chủ yếu là về các phương pháp dịch và cách đánh giá bản dịch của các nhà lý luận dịch thuật nổi tiếng như Peter Newmark (1984, 1988), Wolfram Wills (1982), Juliane House (1981)

4 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình viết luận án này, chúng tôi đã áp

dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp thống kê

Thống kê là phương pháp “tập hợp có hệ thống các hiện tượng riêng lẻ để so sánh, phân loại và nhận định về tình hình chung” [131, tr 791] CPT được sử dụng rất rộng rãi trong các tác phẩm văn học nên chúng tôi đã thống kê tần xuất sử dụng của các cấu trúc này trong các tác phẩm văn học Anh và Mỹ ở các thời kỳ khác nhau của các tác giả khác nhau để có được những nhận định về cách sử dụng các kết cấu này Chúng tôi cũng thống kê cách các CPT này được dịch sang tiếng Việt

như thế nào để có thể đưa ra được những phương án dịch tối ưu nhất

Trang 11

4.3 Phương pháp đối chiếu

Đối chiếu là phương pháp nghiên cứu dựa trên sự so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ để “phát hiện ra những nét giống nhau về cấu trúc, chức năng và hoạt động của các phương tiện ngôn ngữ được nghiên cứu”, đồng thời cũng “chú ý cả cái khác nhau, hạn định, nhận diện chúng…” [48, tr 48] Đối chiếu được tiến hành trên nhiều bình diện và phạm vi khác nhau Phạm vi đối chiếu được chúng tôi áp dụng là đối chiếu dấu hiệu “Đây là sự đối chiếu đi vào bên trong những liên hệ cụ thể của ngôn ngữ” [11, tr 74] Trong luận án này, đơn vị ngôn ngữ được đem ra đối chiếu

là các kết cấu dưới câu Việc đối chiếu các kết cấu này liên quan đến cả 4 bình diện

là phạm trù, hệ thống cấu trúc, chức năng hoạt động và phong cách [11, tr 74]

5 Tư liệu nghiên cứu: Nguồn tư liệu của luận án gồm:

(1) Các CPT xuất hiện trong các văn phong khác nhau, chủ yếu là trong tiểu thuyết của các nhà văn Anh và Mỹ tiêu biểu thế kỷ XIX và XX và cách dịch chúng sang tiếng Việt trong các bản dịch của các dịch giả Việt Nam

(2) Các kết cấu tương đương tiếng Việt trong các văn phong khác nhau, chủ yếu là trong tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam tiêu biểu từ trước cách mạng đến nay

(3) Tư liệu của các nhà nghiên cứu đi trước ở trong và ngoài nước

Trang 12

6 Đóng góp của luận án

Chúng tôi được biết đã có rất nhiều luận án tiến sỹ nghiên cứu đối chiếu các phạm trù khác nhau của tiếng Anh như giới từ, thuật ngữ v.v Tuy nhiên cho đến nay chưa có luận án nào đối chiếu cú phân từ tiếng Anh và các kết cấu tương đương tiếng Việt Đây là điểm mới của luận án và chúng tôi mong muốn có những đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:

6.1 Về lý luận

- Hệ thống và sắp xếp lại các kiến giải của các nhà Anh ngữ học và của các nhà Việt ngữ học về các vấn đề lý luận có liên quan đến CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt dựa trên các nguồn tư liệu gốc thu thập được Trên cơ sở đó tìm hiểu các đặc trưng về cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các kết cấu này và đưa ra những kiến giải mới, đóng góp vào việc nghiên cứu vấn đề này cùng với các nhà Anh ngữ và Việt ngữ học

- Thông qua việc so sánh đối chiếu CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương tiếng Việt, chỉ ra những điểm giống nhau và những đặc thù riêng của từng ngôn ngữ trong việc cấu tạo và sử dụng các kết cấu trên

- Áp dụng lý luận hiện đại về dịch thuật để đánh giá cách dịch các CPT tiếng Anh trong các tác phẩm văn học sang tiếng Việt của các dịch giả Việt Nam, phát hiện những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp hữu hiệu

6.2 Về thực tiễn

- Kết quả của nghiên cứu sẽ được áp dụng vào việc giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ cho người Việt, chủ yếu là trong giảng dạy môn Lý thuyết dịch và Thực hành dịch cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh năm thứ 3 và thứ 4, nâng cao thêm chất lượng dạy và học tiếng Anh tại Đại học Ngoại ngữ Quân sự

- Kết quả nghiên cứu cũng sẽ được áp dụng vào việc dịch các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh sang tiếng Việt, góp phần làm cho các bản dịch vừa đạt độ chính xác cao, vừa có cách diễn đạt rõ ràng, trong sáng và thuần Việt mà vẫn giữ được những nét phong cách đặc trưng của nguyên tác

Trang 13

7 Cấu trúc của luận án

Luận án được chia làm 4 chương Trong chương 1, chúng tôi nêu lên lịch sử vấn đề và trình bày những cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài Chương 2 nghiên cứu kỹ về cú phân từ định ngữ và đối chiếu chúng với các kết cấu tương đương tiếng Việt là ngữ động từ định ngữ Chương 3 nghiên cứu về cú phân từ trạng ngữ tiếng Anh và đối chiếu chúng với ngữ động từ trạng ngữ tiếng Việt Chương 4 khảo sát cách dịch CPT trong các tác phẩm văn học bằng tiếng Anh sang tiếng Việt, đề xuất giải pháp cho các vấn đề còn tồn tại

Trang 14

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Khái niệm và tình hình nghiên cứu CPTĐN và CPTTN

1.1.1 Khái niệm CPTĐN và CPTTN

1.1.1.1 Sơ lược về phân từ và cú phân từ

Động từ tiếng Anh có hai dạng biến hình là dạng động từ có đuôi -ing như

breaking, going, drinking, making, beginning, opening thường được gọi là phân từ

hiện tại (present participle) và dạng động từ như broken, gone, drunk, made, begun,

và một số lớn có đuôi -ed được gọi là phân từ quá khứ (past participle) Ngoài chức

năng chính là kết hợp với các trợ động từ để tạo nên các ngữ động từ (verb phrase) đóng vai trò làm vị ngữ trong câu, hai loại phân từ này còn có thể kết hợp với những thành tổ phụ khác tạo nên những cú phân từ (participle clause) (CPT) Các CPT này

có chức năng cú pháp khá đa dạng và các nhà Anh ngữ học có quan điểm không giống nhau về vấn đề này R Quirk và các tác giả cuốn “A Comprehensive Grammar of the English Language - CGEL” (Ngữ Pháp tiếng Anh tổng hợp) cho

rằng cú -ing (-ing clause) hay CPT hiện tại có 6 chức năng cú pháp [110, tr 1063],

còn D Biber và các tác giả cuốn “Longman Grammar of Spoken and Written English” cho rằng con số đó là 9 [157, tr 199-200] Kết hợp cả hai quan điểm trên, chúng tôi thấy CPT hiện tại có 8 chức năng cú pháp như sau: chủ ngữ (1a), bổ ngữ trực tiếp (1b), bổ ngữ của chủ ngữ (subject complement) (1c), phần xen (appositive) (1d), bổ ngữ của tính từ (adjectival complementation), bổ ngữ của giới từ (prepositional complement) (1f), trạng ngữ (1g), một phần của cụm danh từ (part of noun phrase) hay định ngữ (1h) Ví dụ:

(1) a) Watching television keeps them out of mischief

b) He enjoys playing practical jokes

c) Her first job had been selling computers

d) His current research, investigating attitudes to racial stereotypes, takes up

most of his time

e) They are busy preparing a barbecue

Trang 15

f) I‟m responsible for drawing up the budget [110, tr 1063]

g) Having established the direction of the line, we now wish to find some

point on the line

h) The man making the bogus collections was described as middle aged

[157, tr 200]

Cú -ed (-ed clause) hay CPT quá khứ có chức năng cú pháp hẹp hơn so với

CPT hiện tại Chúng chỉ có thể đóng vai trò làm bổ ngữ trực tiếp (2a), trạng ngữ (2b) hay định ngữ (2c) Ví dụ:

(2) a) Two-year-old Constantin will have his cleft palate repaired

b) Taken in the order shown they provide propulsive jets increasing mass

flow and increasing jet velocity

c) There wasn‟t a scrap of evidence to link him with the body found on the

Thames foreshore at low tide [157, tr 200]

Ở đây cần bàn thêm về thuật ngữ clause và cách dịch nó sang tiếng Việt Từ

“clause” được “Oxford Advanced Learner‟s Dictionary” định nghĩa là “một nhóm

từ gồm chủ ngữ, động từ tạo thành một câu hoặc phần của một câu” (a group of words that includes a subject and a verb, and forms a sentence or part of a sentence) Trong các từ điển song ngữ hiện đang lưu hành tại Việt Nam, “clause” được dịch là mệnh đề “với sự ngầm định rằng đó là mệnh đề dùng trong ngôn ngữ” [6, tr 15] Cách gọi này có phần hơi bất tiện vì cần phải phân biệt nó với khái niệm

“mệnh đề” của lôgic Chính vì vậy, chúng tôi chọn cách dịch “clause” là “cú”, một khái niệm được hai nhà ngữ pháp Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đề xuất dùng thay cho “mệnh đề ngôn ngữ” và được sử dụng ngày càng rộng rãi trong giới Việt ngữ học

Vì CPT có chức năng cú pháp đa dạng như vậy nên trong khuôn khổ của luận án này chúng tôi chỉ xem xét hai loại CPT là CPT định ngữ (adjectival participle clause) (3a,b) và CPT trạng ngữ (adverbial participle clause) hay còn được gọi là các trạng ngữ tự do (free adjunct) (3c,d), lấy chúng làm đối tượng để so sánh với các kết cấu tương đương trong tiếng Việt Ví dụ:

Trang 16

(3) a)We stood on the bridge connecting the two halves of the building

b) The weapon used in the murder has now been found [83, tr 148]

c) Opening her eyes, the baby began to cry

d) Faced with a bill for $10,000, John has taken an extra job [83, tr 150]

Để cho ngắn gọn và tiện theo dõi, từ đây chúng tôi sẽ viết tắt các kết cấu này

là CPTĐN (cú phân từ định ngữ) và CPTTN (cú phân từ trạng ngữ)

CPT là các kết cấu có dạng phân từ của động từ còn giữ được nhiều đặc điểm

của động từ nhất, đặc biệt là đối với các cú -ing Dạng -ing của động từ trong các ví

dụ (1a-f) có nhiều đặc điểm của danh từ và có thể sẽ là đối tượng của một nghiên cứu khác

Về CPTTN, ngoài hai loại CPTTN trong các ví dụ (3c) và (3d), tiếng Anh còn

có một loại CPTTN nữa được đa số các nhà nghiên cứu gọi là cú tuyệt đối (absolutes) Đây là CPTTN có 2 thành phần làm trung tâm là chủ ngữ và phân từ Ví dụ:

(4) The Dean turned and went out, his gown billowing darkly behind him [69, tr

(4) {Ông trưởng khoa quay phắt người và đi ra, chiếc áo choàng tung bay thành

vệt thẫm sau lưng}

Chính vì có sự khác biệt cơ bản trên nên trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi chỉ xem xét các CPTTN có một thành phần chính là động từ làm trung tâm và lấy chúng làm đối tượng để nghiên cứu và so sánh đối chiếu với các kết cấu tương đương cũng chỉ có một thành phần duy nhất là động từ làm trung tâm trong tiếng Việt

Trang 17

Ngoài ra, trong tiếng Anh còn có các kết cấu vắng chủ ngữ, có phân từ làm trung tâm mà L.G Alexander (1992) gọi là kết cấu phân từ (participle construction)

Đó là 1) các kết cấu có phân từ đứng sau liên từ (5a,b); 2) các kết cấu có phân từ

đứng sau giới từ như after, before, since, on và in (5c,d); 3) các kết cấu phân từ có it

và there (5e,f); 4) các kết cấu phân từ đứng sau with/without (5g,h) Ví dụ:

(5) a) Although built before the war, the engine is still in perfect order

b) If travelling north, you must change at Leeds

c) After/On being informed the fight would be delayed, we made other

arrangements

d) Since phoning you this morning, I have changed my plans

e) It being a bank holiday, all the shops were shut

f) There being no further business, I declare the meeting closed

g) With the crowds cheering, the royal party drove to the palace

h) They debated for hours without a decision being taken [58, tr 31-33]

Trong các câu loại 1), nghĩa của các kết cấu phân từ phụ thuộc một phần lớn

vào các liên từ như although, if, unless Người ta không thể lược bỏ các liên từ

này đi được Còn các kết cấu có cú trong các câu loại 2) là những cụm giới từ và nghĩa của các câu này phụ thuộc nhiều vào ý nghĩa ngữ pháp của các giới từ như

after, on, since, Trong các kết cấu có phân từ của các câu loại 3) và 4) có mặt cả

chủ ngữ là một thành phần không thể thiếu tạo nên ngữ nghĩa của cú Tất cả bốn loại trên cũng không phải là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này

1.1.1.2 Cú phân từ định ngữ và trạng ngữ tiếng Anh

Trước hết chúng ta xem xét khái niệm cú trong tiếng Anh Cú (clause), theo

“Oxford Advanced Learner‟s Dictionary”, là một nhóm từ gồm có một chủ ngữ và một động từ, tạo thành một câu hoặc một phần của câu R A Jacobs (1995) định nghĩa cú “là những kết cấu với một thành tố cụm từ, thường là cụm danh từ, mang mối quan hệ chủ thể (chủ ngữ) và một thành tố khác, ngữ động từ, mang mối quan

hệ vị ngữ.” [88, tr 72] Ví dụ:

(6) Clara delayed her graduation

Trang 18

Chủ ngữ của cú trên là Clara và ngữ động từ là delayed her graduation

Hai định nghĩa trên cho thấy cú trong tiếng Anh là những kết cấu bao gồm các từ được gắn kết với nhau bằng mối quan hệ chủ-vị, trong đó vị ngữ luôn là động

từ Các kết cấu phân từ trong các ví dụ chúng tôi vừa đưa ra tuy chỉ có mặt động từ, tức là chỉ có một vế của cú nhưng vẫn được coi là những cú thực sự vì chúng ẩn chứa mối quan hệ chủ vị Chủ ngữ ở đây không được thể hiện ra rõ nét như trong một cú bình thường mà được hiểu ngầm, hay gọi là “chủ ngữ ẩn” (covert subject) [88, tr 72] Chúng ta có thể dễ dàng phục nguyên được chủ ngữ và thấy rõ mối quan hệ chủ vị đó Có thể phục nguyên chủ ngữ của các câu trong ví dụ (3) như sau:

(3‟) a) We stood on the bridge (which connects/connected) connecting the two

halves of the building

b) The weapon (that was used) used in the murder has now been found c) (When she opened her eyes) Opening her eyes, the baby began to cry

d) (Because he is faced) Faced with a bill for $10,000, John has taken an

extra job

Trong những kết cấu phân từ trên, ai cũng hiểu là [cái cầu] nối hai nửa ngôi

nhà (3‟a), [khẩu súng] dùng trong vụ giết người (3‟b), hay đứa bé bắt đầu khóc [khi

nó] mở mắt ra (3‟c) và John kiếm việc làm thêm [vì anh ta] phải đối mặt với cái

hóa đơn 10.000 đô la (3‟d)

Như vậy, có thể định nghĩa CPT như sau:

CPT định ngữ và trạng ngữ là các kết cấu cú có chủ ngữ ẩn, chỉ hiển ngôn phần động từ ở dạng phân từ, đóng vai trò làm định ngữ hay trạng ngữ trong câu

Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể nhận diện được CPT định ngữ và trạng ngữ dựa trên ba tiêu chí như sau:

- Về hình thái: CPTĐN/TN có động từ ở dạng phân từ hiện tại -ing hay phân

từ quá khứ làm trung tâm

- Về cấu trúc: CPTĐN/TN có chủ ngữ ẩn và chủ ngữ ẩn này có thể phục nguyên được

Trang 19

- Về chức năng: CPTĐN/TN có thể đóng vai trò làm định ngữ hay trạng ngữ

trong câu

1.1.2 Tình hình nghiên cứu CPTĐN và CPTTN tiếng Anh

1.1.2.1 Cú phân từ định ngữ (adjectival participle clause)

CPTĐN là một hiện tượng ngữ pháp không gây nhiều tranh luận trong Anh ngữ học Các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng CPTĐN hạn định là dạng rút gọn của cú quan hệ (CQH) (reduced relative clause) Xét về khả năng hạn định cho danh

từ, có hai loại CPTĐN là hạn định và không hạn định CPTĐN không hạn định được tách khỏi cú chính bằng các dấu phẩy trên văn bản Trong một số trường hợp, chúng có mối liên kết ngữ nghĩa nhất định với cú chính và có chức năng gần giống như trạng ngữ CPTĐN hạn định có chức năng làm hậu bổ tố (postmodifier) trong cụm danh từ phức (complex noun phrase) Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái ngữ pháp cải biến-tạo sinh (Fillmore 1963, Katz và Postal

1964, Chomsky 1965), các kết cấu này được gọi là các bổ tố chêm (embedded modifiers) Thuật ngữ này ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi trong giới Anh ngữ học

Vì chỉ là dạng rút gọn của CQH nên CPTĐN hạn định vẫn có tất cả những đặc điểm của CQH Một trong những đặc điểm đó là sự chuyển đổi cấp độ (rank shift) Chuyển đổi cấp độ ở đây được hiểu là “đơn vị của một cấp độ nào đó có thể

bị giáng cấp để hành chức trong khuôn khổ của một đơn vị có cùng cấp độ như nó hay thấp hơn một bậc” [79, tr 9-10] CPTĐN là một bộ phận của cụm danh từ, như vậy, tuy là cú nhưng nó lại hành chức trong một kết cấu có cấp độ thấp hơn cú một bậc Sự rút gọn trên, theo chúng tôi, cũng chính là nguyên nhân làm phát sinh những kiến giải khác nhau về cấp độ cú pháp của CPTĐN Đa số các nhà Anh ngữ học (M Swan 1980, R A Thompson 1984, T Givón 1984, R Quirk 1985, D Biber 1999, M Hewings 1999, J Eastwood 1999, M.A.K Halliday 2005) … đều cho rằng kết cấu có phân từ làm trung tâm đóng vai trò làm định ngữ trong cụm danh từ là cú phân từ (participle clause) Tuy nhiên, một số các nhà nghiên cứu khác (C E Eckersley và J M Eckersley 1960, A Oshima và A Hogue 1998, B S Azar

Trang 20

2001) lại cho rằng đó chỉ là những cụm phân từ (participle phrase) L G Alexander thì không xác định cấp độ cú pháp của các kết cấu trên mà chỉ gọi chúng là những kết cấu phân từ thay thế cho CQH (participle constructions in place of relative clauses) [58, tr 31-33]

Hai đặc điểm nữa của CQH được các nhà ngữ pháp học theo trường phái chức năng nghiên cứu khá kỹ là quy chiếu của danh từ được CQH bổ nghĩa và mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa giữa CQH và cú chính T Givón đã nghiên cứu rất kỹ về quy chiếu của danh từ được CQH bổ nghĩa trong cuốn “Cú pháp: Dẫn luận loại hình học-chức năng” Còn M A K Halliday trong cuốn “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” đã xác định mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa giữa CQH và cú chính có thể là bành trướng chi tiết hóa (elaboration) hay bành trướng chêm chi tiết hóa (embedded expansion)

Có hai vấn đề mà các nhà Anh ngữ học tuy đã đề cập đến nhưng chưa có những kiến giải chi tiết Thứ nhất là tại sao trong tiếng Anh lại song song tồn tại cả CQH và CPTĐN, nguyên nhân gì dẫn đến sự rút gọn của CQH thành CPTĐN Thứ hai là trong những trường hợp nào CQH có thể rút gọn thành CPTĐN và trong trường hợp nào không xảy ra hiện tượng trên Chúng tôi sẽ nghiên cứu kỹ những vấn đề này trong chương 2

1.1.2.2 Cú phân từ trạng ngữ (adverbial participle clause)

CPTTN là một hiện tượng ngữ pháp khá đặc biệt Mặc dù có rất nhiều vấn đề cần bàn liên quan đến kết cấu này, cho đến những năm 70 của thế kỷ 20, CPTTN hoàn toàn chỉ được nghiên cứu trong khuôn khổ của ngữ pháp truyền thống Phải mãi đến những năm 1980, chúng mới được các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh chú trọng một cách thỏa đáng trên cả ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng

Những khảo sát đầu tiên về CPTTN xuất hiện vào những năm 1930-1940, trong các công trình nghiên cứu của O Jespersen (1931, 1954), E Kruisinga (1932)

và G.O Curme (1947) Vào thời gian này, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung miêu tả cấu trúc của các kết cấu nói trên và sự khác biệt trong các quan điểm mà họ đưa ra về cơ bản chỉ liên quan đến tên gọi của chúng CPTTN được gọi theo hai

Trang 21

cách khác nhau E Kruisinga (1932) thì coi CPTTN là một dạng của trạng ngữ tự

do (free adjunct) Còn các nhà nghiên cứu khác như O Jespersen và G.O Curme (1947) thì gọi chúng là phân từ đồng vị ngữ (predicate appositive/appositional participles), là dạng rút gọn của cú trạng ngữ Các cú trạng ngữ có thể rút gọn thành phân từ đồng vị ngữ là cú thời gian, phương thức, cảnh huống, nguyên nhân, điều kiện và phương tiện [67, tr 179-192]

Những người có đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu CPTTN theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống là Quirk và các tác giả của “A Grammar of Contemporary English” (1972) và “A Comprehensive Grammar of the English Language” (1985) Họ gọi CPTTN là các cú bổ sung vô chủ (subjectless supplementive clause) Có thể nói họ là những tác giả duy nhất của ngữ pháp truyền thống thảo luận khá chi tiết vấn đề kiểm soát (problem of control), hay nói cách khác là vấn đề xác định chủ ngữ ẩn của các CPTTN

Vì đa số các sách ngữ pháp được viết theo hướng miêu tả là chính nên các tác giả chủ yếu đưa ra rất nhiều ví dụ minh họa mà không có những sự giải thích mang tính khái quát Ví dụ, các nhà Anh ngữ học đã đưa ra một loạt các mối liên kết ngữ nghĩa tồn tại giữa CPTTN và cú chính như thời gian, nguyên nhân/lý do, điều kiện, nhượng bộ …, nhưng rất ít người trong số họ đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc diễn giải các mối liên kết này Jespersen [89, tr 62-4; 404-7] có

đưa ra một số nhận định như CPTTN hiện tại có being thường được hiểu là có mối

liên kết nguyên nhân với cú chính; có mối liên hệ giữa vị trí của CPTTN và mối liên kết ngữ nghĩa với cú chính … Quirk và các tác giả cuốn “A Comprehensive Grammar of the English Language” [110, tr 1124] còn thận trọng hơn trong các nhận định của mình về các yếu tố ảnh hưởng đến sự diễn giải cụ thể mối liên kết ngữ nghĩa giưa CPTTN và cú chính Họ chỉ đề cập đến vấn đề này trong phần chú thích Theo họ, các động từ chỉ hành động (dynamic verbs) có xu hướng biểu thị mối liên kết thời gian, còn động từ chỉ trạng thái (stative verbs) - mối liên kết nguyên nhân Còn lại là tùy ở người đọc hay người nghe suy luận để có được sự hiểu đúng về mối liên kết này

Trang 22

Cho đến trước năm 1985, việc nghiên cứu các CPTTN vẫn chỉ giới hạn trong khuôn khổ của các sách ngữ pháp, có rất ít các bài báo viết riêng về vấn đề này, các chuyên luận thì hoàn toàn không có Chuyên luận đầu tiên về CPTTN là của G.T Stump, xuất bản năm 1985 Trong chuyên luận này, Stump đã cố gắng xác định

“những yếu tố ngữ nghĩa và ngữ dụng cùng tham gia vào việc xác định mối quan hệ

có thể cảm nhận được giữa trạng ngữ tự do hay cú tuyệt đối và cú chính” (semantic and pragmatic factors jointly determine the relation felt to hold between a free adjunct or absolute and its superordinale clause) [69, tr 26] Các ví dụ Stump đưa ra cho thấy việc xác định chủ yếu dựa vào thông tin ngôn ngữ, suy luận của người sử dụng ngôn ngữ, hay sự kết hợp của cả hai yếu tố trên

Người có đóng góp quan trọng nhất, theo chúng tôi, trong việc nghiên cứu CPTTN là Bernd Kortmann Ông đã có những nghiên cứu khá chi tiết về CPTTN trên cả ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Các quan điểm của ông được trình bày trong hai công trình nghiên cứu chính Thứ nhất là chuyên luận “Trạng ngữ tự do và cú tuyệt đối trong tiếng Anh” (Free Adjuncts and Absolutes in English) (1991), được viết trên cơ sở Luận án tiến sỹ bảo vệ tại trường Đại học tổng hợp Hannover Thứ hai là bài viết “Cú phân từ trạng ngữ trong tiếng Anh” (Adverbial Participlial Clauses in English) được in trong kỷ yếu hội thảo quốc tế

Converbs in Cross-Linguistic Perspectives năm 1995

Đóng góp thứ nhất của Kortmann là ông đã nghiên cứu kỹ chủ ngữ ẩn trong CPTTN hay theo cách gọi của ông là trạng ngữ tự do Ông đã xác định các nhóm CPTTN có chủ ngữ ẩn của hành động không liên quan đến chủ ngữ của cú chính (unrelated free adjunct), xác định các mức độ không liên quan và có thể chấp nhận được của các CPTTN này Trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng của CPTTN, ông đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chủ thể của hành động trong các kết cấu này

Đóng góp thứ hai của Kortmann liên quan đến các mối liên kết ngữ nghĩa giữa CPTTN và cú chính Ông đã xác định những mối liên kết ngữ nghĩa tồn tại

Trang 23

giữa CPTTN và cú chính, trên cơ sở đó đưa những yếu tố cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải mã các mối liên kết này

Một hướng nghiên cứu nữa về ngữ nghĩa của các CPTTN được các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái ngữ pháp chức năng mà đứng đầu là M.A.K Halliday khởi xướng Trong quá trình xác định mức độ phụ thuộc lẫn nhau cũng như mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa giữa các cú trong câu phức, Halliday đã dành một phần đáng kể để khảo sát các cú vô định mà CPTTN là một bộ phận cấu thành Những nghiên cứu của ông về mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa giữa CPTTN và cú chính có thể làm cơ sở để xác định mối liên kết ngữ nghĩa giữa các thành phần này của câu phức

1.2 Các kết cấu tương đương trong tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm NĐTĐN và NĐTTN

1.2.1.1 Tiêu chí nhận diện

Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình nên không có các dạng phân từ khác nhau của động từ Chính vì vậy, xét về mặt cấu tạo, tiếng Việt không có khái niệm “cú phân từ” như tiếng Anh Tuy nhiên, tiếng Việt cũng có những kết cấu tương đương như những CPT tiếng Anh mà ở đây chúng tôi tạm gọi là những “ngữ động từ” hay “động ngữ” đóng vai trò làm trạng ngữ hay định ngữ trong câu Chúng

ta có thể thấy rõ điều này khi dịch các câu có chứa CPTĐN và CPTTN tiếng Anh sang tiếng Việt

(7) a) The boys being chosen for the team are under 9

{Những cậu bé được chọn vào đội đều chưa đến 9 tuổi}

b) Feeling tired, Louise went to bed early

{Cảm thấy mệt mỏi, Louise đi ngủ sớm}

Để hiểu rõ các kết cấu tương đương, trước hết, cần xem xét chi tiết khái niệm ngữ và ngữ động từ trong tiếng Việt

Đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu được nghiên cứu rất kỹ trong

các sách ngữ pháp và mang những tên gọi khác nhau như “ngữ”, “đoản ngữ”, “cụm từ”

Trang 24

Đoản ngữ (hay ngữ) theo Nguyễn Tài Cẩn là những “tổ hợp gồm một trung

tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ” [10, tr 148]

Cụm từ theo định nghĩa của Diệp Quang Ban “là những kiến trúc gồm hai từ

trở lên kết hợp “tự do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định

và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)”

Theo quan niệm này, cụm từ được hiểu rất rộng, bao gồm các tổ hợp từ có quan hệ chủ - vị, quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập, trong đó cụm từ có quan

hệ chính phụ tương đương với khái niệm đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi sẽ dùng thuật ngữ ngữ của Nguyễn Tài Cẩn vì đối

tượng nghiên cứu của chúng tôi chỉ là những kết cấu có quan hệ chính phụ Có ba loại tổ hợp từ dạng này Đó là ngữ danh từ (danh ngữ), ngữ động từ (động ngữ) và ngữ tính từ (tính ngữ)

Ngữ động từ theo Nguyễn Tài Cẩn là những đoản ngữ có động từ làm trung tâm Ngữ động từ ở dạng đầy đủ nhất gồm ba phần là phần trung tâm, phần phụ

trước và phần phụ sau Ví dụ: đã (phần phụ trước) làm (phần trung tâm) bài tập về

nhà (phần phụ sau)

Ngữ động từ có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp khác nhau như chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ hay trạng ngữ trong câu Trong luận án này, chúng tôi chỉ quan tâm đến các ngữ động từ định ngữ (NĐTĐN) và ngữ động từ trạng ngữ (NĐTTN) Ngữ động từ đứng sau và bổ nghĩa cho danh từ được gọi là NĐTĐN, có cấu tạo chung và chức năng ngữ pháp tương đương với CPTĐN tiếng Anh Ví dụ: (8) Người mặc comple còn trẻ nhưng đã sớm có cái dáng oai vệ, … [149, tr

235]

Ngữ động từ đứng trước nòng cốt câu được gọi là NĐTTN, có cấu tạo chung

và chức năng ngữ pháp tương đương với CPTTN tiếng Anh Ví dụ

(9) a) Nghe xong, mặt Hai Tính đỏ gằn lên, nói rít qua kẽ răng: [149, tr 193]

b) Ngồi trong nhà nhìn ra, thoáng thấy ông, tôi không tin [149, tr 176]

Trang 25

Các ví dụ trên cho thấy việc nhận diện NĐTTN không mấy khó khăn vì chúng là các kết cấu thường được bắt đầu bằng động từ và có vị trí khá đặc biệt là đứng ở đầu câu, được tách khỏi nòng cốt câu bằng dấu phẩy

Việc nhận diện NĐTĐN có phần phức tạp hơn, nhất là đối với các NĐTĐN

bổ nghĩa cho danh từ làm chủ ngữ chính trong câu vì chúng có vị trí hoàn toàn giống như các NĐT vị ngữ Tiêu chí để nhận diện là cùng với danh từ chúng chưa tạo thành một câu hoàn chỉnh Sự kết hợp giữa danh từ và động từ vẫn chỉ là một

ngữ đoạn dang dở (chúng tôi sẽ đề cập kỹ đến vấn đề này trong chương 2)

1.2.1.2 Phân biệt với các kết cấu khác

a Phân biệt NĐTĐN với các ngữ động từ có chức năng khác

Ngữ động từ có những chức năng cú pháp khác nhau trong câu Ngoài chức

năng chính là làm vị ngữ, nó có thể đứng trước từ là và đóng vai trò làm chủ ngữ

trong câu (10a) hay đứng sau động từ và bổ nghĩa cho động từ đó (10b) Ví dụ:

(10) a) Ăn cắp vặt là một hành vi xấu

b) Tôi thích xem đá bóng

Các NĐT làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ không phải là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi

b Phân biệt NĐTĐN với các định ngữ khác

Ngoài khả năng dùng từ và NĐT, tiếng Việt còn có khả năng dùng cả một cú làm định ngữ đặt ở phần cuối của danh ngữ Ví dụ:

(11) a) Một người đàn ông đầu đội nón, vai mang tơi lá [10, tr 243]

b) hàng chúng tôi làm ra [2, tr 183]

Cú định ngữ khác hẳn với NĐTĐN vì nó bao giờ cũng có 2 thành phần chính

là chủ ngữ và động từ, còn NĐTĐN chỉ có 1 trung tâm là động từ Hơn nữa, NĐTĐN có thể có chủ thể của hành động là danh từ được nó bổ nghĩa, còn cú định ngữ có chủ ngữ hoàn toàn khác so với chủ ngữ của cú chính Cú định ngữ không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án

c Phân biệt NĐTTN với các trạng ngữ tình thái khác

Trang 26

Đa số các nhà Việt ngữ học đều cho rằng NĐTTN là một dạng của trạng ngữ tình thái hay vị ngữ phụ gồm 3 loại như sau:

(12) a) Dứt lời lí trưởng, quan phủ giương đôi mắt trắng dã nhìn vào mặt anh Dậu

(…) [2, tr 167] (kết cấu có động từ làm trung tâm)

b) Thướt tha, cô Lan bước đi trên đường phố [51, tr 268] (tính từ song âm tiết) c) Chân nọ đá chân kia, chị lại trở về ngồi ở đầu phản [2, tr 168] (kết cấu chủ vị)

Các trạng ngữ tình thái có tính từ (12b) hay cụm chủ vị (12c) làm trung tâm không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án

Như vậy, trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các kết cấu có động từ làm trung tâm đóng vai trò làm định ngữ hay trạng ngữ được gọi là các NĐTĐN và NĐTTN

(13) a) cái bác thợ mộc đang vác cưa, cầm đục cái bác thợ mộc vai đang vác

cưa, tay đang cầm đục

b) Bức thư viết hôm nọ Bức thư (của) tôi viết hôm nọ [10, tr 244]

Ngữ pháp tiếng Việt của UBKHXHVN coi đó là một trong những phụ tố hạn định thuộc khu vực sau của danh ngữ Ví dụ:

(14) a) người thanh niên Mỹ mặc áo lính ấy

b) chiếc áo dài lụa trắng mới may đó [55, tr 112-113] Cao Xuân Hạo thì coi đó là “những định ngữ có dạng một động ngữ chỉ một hành động đã hoàn thành hay có tính chất nhất điểm trong thời gian” Ví dụ: gặp người (lính thủy) đã cứu nó; [23, tr 338]

Trang 27

Đinh Văn Đức có cùng quan điểm với Nguyễn Tài Cẩn và cho rằng trong trường hợp định ngữ của danh từ là một động từ hoặc một đoản ngữ động từ, các

“cấu trúc danh ngữ có “dáng dấp” một mệnh đề, ví dụ:

(15) a) Cái áo rách vai (là của tôi)

b) Quả chuối chín nẫu (đâu rồi)

c) Người bạn đến ban sáng (là một cô gái)

d) Chiếc đồng hồ treo trên tường (vẫn chạy tốt) [15, tr 94-95]

Ông cũng nhận rõ tính phức tạp của các cấu trúc này và nhận định rằng “do

sự vắng mặt quan hệ hình thái, việc tách bạch các trường hợp động từ làm vị ngữ và làm định ngữ, trong tiếng Việt, đôi khi phải nhờ vào ngữ cảnh, các thao tác ngôn ngữ học (lược, thế, chen, cải biến)” [15, tr 159]

Diệp Quang Ban (1998) gọi thành tố phụ của từ “đứng sau danh từ – thành tố chính và nêu lên đặc trưng chất lượng (hiểu rộng) của vật nêu ở danh từ thành tố chính là “định ngữ miêu tả” Chúng “có thể là một từ hoặc cụm từ, kể cả cụm chủ vị” Ví dụ:

(16) a) người mặc áo trắng

b) hàng chúng tôi làm ra [2, tr 181-183]

Trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (2005) ông gọi tất cả các loại kết cấu đứng sau danh từ trong cụm danh từ gồm có giới ngữ, cụm động từ, dạng câu đơn hay câu ghép là “tổ hợp từ dùng với chức năng chỉ định hạn định” Ví dụ:

(17) Người bác sĩ trẻ nổi tiếng làm việc tại bệnh viện X đó (vừa thực hiện thành

công một ca mổ khó.) [6, tr 437]

Có thể thấy các nhà Việt ngữ học đều thống nhất ở một điểm là tiếng Việt có một loại kết cấu có động từ làm trung tâm có chức năng hạn định cho danh từ Tuy nhiên, các tác giả chỉ đề cập đến loại kết cấu này một cách rất sơ lược Họ cũng không có quan điểm thống nhất về tên gọi và chưa đi sâu nghiên cứu những điều kiện cụ thể để các kết cấu này xuất hiện trong câu

Trang 28

Chúng tôi nhất trí với quan điểm của các nhà Việt ngữ học như Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban và gọi các kết cấu trên là ngữ động từ định ngữ

1.2.2.2 Ngữ động từ trạng ngữ (NĐTTN)

Việc nghiên cứu các kết cấu có động từ làm trung tâm đóng vai trò làm trạng ngữ trong câu được các nhà Việt ngữ học chú trọng hơn Đây là một loại kết cấu lần đầu tiên xuất hiện trong các tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ đầu thế kỷ 20 Chúng có vị trí đứng ở đầu câu và được gọi bằng nhiều tên khác nhau Một số nhà Việt ngữ xếp chúng vào cùng một loại với tính từ đứng ở đầu câu

Các nhà Việt ngữ học như Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban coi các kết cấu trên là một tiểu loại của trạng ngữ là trạng ngữ chỉ tình thái [45, tr 219] hay trạng ngữ chỉ tình hình [2, tr 167] Trong cuốn „Ngữ pháp tiếng Việt” xuất bản gần đây nhất, Diệp Quang Ban đã dùng khái niệm “gia ngữ” hay

“trạng gia ngữ” để thay cho tên gọi cũ là “trạng ngữ” hay “bổ ngữ cảnh huống” mà ông đưa ra trước đây [6, tr 60-61] Đây là một tên gọi đã được Nguyễn Lân dùng trong “Ngữ pháp Việt Nam” lớp 5 (1956) với cách hiểu là “Khi người ta dùng một từ hoặc một ngữ để bổ nghĩa cho một động từ, hoặc một tính từ hoặc một trạng từ, thì từ hoặc ngữ ấy gọi là trạng gia ngữ (nghĩa là một thành phần thêm vào và dùng như một trạng từ)” [6, tr 625] Theo Nguyễn Kim Thản, “Những trạng ngữ này có một địa vị đặc biệt quan trọng trong tiếng Việt hiện đại vì tần số sử dụng của nó rất cao Loại trạng ngữ này là kết quả của sự phát triển mới của tiếng Việt Có lẽ tiếng Việt đã chịu ảnh hưởng của những kết cấu trạng động từ trong các tiếng Ấn-Âu” [45, tr 219]

Ngoài tên gọi là trạng ngữ, chúng còn có hai tên gọi khác Các nhà Việt ngữ như Hoàng Tuệ, Bưxtrôp, Nguyễn Tài Cẩn và Xtankêvich, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp chủ trương xếp tất cả các trường hợp “ngữ đoạn” ở đầu câu vào thành phần gọi là vị ngữ thứ yếu hay vị ngữ phụ Ví dụ:

(18) a) Hằn học, nó nhìn tôi

b) Rất ngạc nhiên, Roda hỏi ông Nguyễn

Trang 29

c) Là một nhà văn, Hoài Thanh cũng là một nhà phê bình, một giáo sư, một

nhà nghiên cứu văn học

(19) Vào đến sân, con mẹ cởi phăng áo ra

Theo các tác giả này, vị ngữ thứ yếu có những đặc điểm sau:

- Có thể cùng với chủ ngữ tạo nên một câu độc lập

- Có thể cải biến vị trí: đứng trước hay đứng sau chủ ngữ

- Biểu thị hoặc một tính chất nào đó của chủ thể đóng vai chủ ngữ, hoặc một hành động xảy ra đồng thời hay xảy ra trước hành động được biểu thị bằng vị ngữ (và cả hai hành động này phải có cùng chủ thể) [51, tr 269-270]

Tác giả Đào Thanh Lan (2002) gọi thành phần phụ thuộc này của câu là

“minh xác ngữ”, thuật ngữ do Lưu Văn Lăng đề xuất Đó là “một thành phần phụ thuộc thường đứng trước nòng cốt câu để minh xác cho danh từ làm Đề ngữ trong nòng cốt câu về hành động, trạng thái, đặc trưng bổ sung bằng vị từ, ngữ vị từ, hoặc các kết cấu có tính chất như một vị từ nhằm chú giải cho hành động, trạng thái, đặc trưng chính được nêu ở Thuyết ngữ” [32, tr 215-219]

Trong lập luận của mình về tên gọi cho loại kết cấu này, Nguyễn Kim Thản (1997) viết: “Có thể cho rằng đây là hiện tượng rút gọn chủ ngữ ở phía trước hay là một vị ngữ phụ Ý kiến này có phần chính xác Quả là trong nhiều trường hợp chủ ngữ của câu có thể được coi là chủ ngữ của kết cấu này Ví dụ:

(20) Đập hai bàn chân vào nhau, giũ cho sạch bụi, rồi co chân lên ngồi vào

chiếu, lý trưởng vớ luôn lấy cái điếu cày và sai tuần phủ lấy đóm thổi lửa

[NTT, tr 17]

Ý kiến này còn một cái lợi nữa là nó chỉ ra cho người ta một quy tắc quan trọng: hoạt động hay trạng thái do vị từ ở vị trí trước chủ ngữ biểu thị phải phù hợp với kẻ hoạt động hay kẻ mang đặc trưng do chủ ngữ biểu thị

Ngoài ra, có khi khôi phục chủ ngữ cho vị từ, ý nghĩa của câu sẽ khác đi:

(21) Đến Mác Xây, chúng tôi lĩnh lương [TDT, tr 17]

Nếu đổi thành: Chúng tôi đến Mác Xây lĩnh lương thì hoạt động chính sẽ là

đến Mác Xây và mục đích là lĩnh lương” [45, tr 219-221]

Trang 30

Và theo ông, “Tốt nhất là coi đó là trạng ngữ biểu thị tình thái của câu nói” [45, tr 221]

Để chứng minh cho tính trội của vị ngữ so với chủ ngữ, các tác giả của

“Thành phần câu tiếng Việt” đã đưa ra các ví dụ sau:

(22) a) Hôm trước uống rượu với bác ở chợ Nước Hai, bác có hỏi thăm sức khoẻ

thằng cả nhà tôi (Văn Nghệ)

b) Vừa dứt câu thì địch phía trước xung phong tới

Hai câu này đều có chủ ngữ của vế câu đầu trong các câu ghép bị rút bỏ, nhìn

bề ngoài, chúng “giống loại câu có một trong các vị ngữ đẳng lập đứng trước chủ

ngữ (kiểu Vào đến sân con mẹ cởi phăng áo ra (Nguyễn Công Hoan)” [51, tr 153] Nhưng ở đây có sự khác biệt về quy chiếu Không thể coi dứt câu và uống rượu là

vị ngữ phụ vì chúng không đồng chủ ngữ với vế chính của câu Trong (22a) chủ

ngữ bị rút bỏ không phải là bác mà là tôi, còn ở (22b) chủ ngữ không phải là địch

mà là một người nào đó đã được nhắc đến trong câu trước

Còn theo định nghĩa của Đào Thanh Lan, minh xác ngữ phải có liên quan mật thiết với danh từ làm chủ ngữ hay đề ngữ trong nòng cốt câu Nó không bao hàm được loại cấu trúc đứng đầu câu, có động từ làm trung tâm nhưng không bổ

nghĩa cho danh từ làm chủ ngữ trong cú chính kiểu dứt câu và uống rượu như

chúng tôi vừa đưa ra ở trên

Như vậy, các thuật ngữ “vị ngữ phụ” hay “minh xác ngữ” nêu trên bao hàm

cả những kết cấu không phải là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi Chúng cũng không bao hàm các kết cấu có động từ làm trung tâm đứng ở đầu câu nhưng có chủ thể không hải là chủ ngữ của hành động chính Vì vậy, chúng tôi chọn cách gọi các

kết cấu có động từ làm trung tâm đứng ở đầu câu là các ngữ động từ trạng ngữ, một

khái niệm vừa nói lên cấu trúc, vừa nói lên chức năng ngữ pháp của các kết cấu này

1.3 Cơ sở lý thuyết

CPT là một loại kết cấu khá đặc biệt được các nhà ngữ pháp học thuộc nhiều trường phái khác nhau đề cập đến, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, trong các nghiên cứu của mình Những người có những khảo sát chi tiết về CPT là các nhà Anh ngữ

Trang 31

học thuộc các trường phái ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng Còn các nhà Anh ngữ học thuộc các trường phái khác chỉ đưa ra những nhận định gián tiếp

có thể làm cơ sở để phân tích CPT Ví dụ, các nhà nghiên cứu thuộc trường phái ngữ pháp cải biến - tạo sinh đã phân tích rất chi tiết về các loại kết cấu chêm (embedding construction) mà CPTĐN là một đại diện (Huddleston 1979) Còn các nhà nghiên cứu thuộc trường phái ngữ pháp tri nhận, khi bàn về nghĩa của từ, cũng

đã nhấn mạnh sự phi phạm trù hóa (decategorization) của động từ khi chúng xuất hiện dưới dạng vô định trong các cú phụ thuộc (Taylor 1995)

Sau đây, chúng tôi sẽ nêu lên những quan điểm của các tác giả mà theo chúng tôi có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của luận án này và có thể làm cơ sở cho những kiến giải tiếp theo

1.3.1 Quan điểm của ngữ pháp truyền thống về cú pháp và CPT

Để có được một cái nhìn tổng thể về CPT, trước hết chúng ta cần xem xét quan điểm của các nhà ngữ pháp học truyền thống mà đại diện là R Quirk, S Greenbaum, G Leech và J Startvik Những quan điểm của họ được thể hiện rõ trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Anh đương đại” (A Grammar of Contemporary English gọi tắt

là GCE) (1972) Có một điều cần bổ sung, như chính các tác giả này đã viết trong Lời nói đầu của cuốn sách, là khuôn khổ ngữ pháp của cuốn sách “chủ yếu dựa trên truyền thống lâu đời và những hiểu biết sâu sắc của một số trường phái ngôn ngữ đương đại” (108, tr vi] Tuy nhiên, các tác giả không tuân thủ lý thuyết ngôn ngữ của bất kỳ trường phái nào vì mặc dù “tất cả các lý thuyết được đề xuất tính từ thời của Saussure và Jespersen cho đến nay đều có những giá trị không nghi ngờ của mình, và một số (nổi bật là các cách tiếp cận cải biến-tạo sinh) đã tạo nên động lực rất lớn cho chúng tôi cũng như các nhà ngữ pháp học khác”, “dường như không có lý thuyết nào

có đủ sức để tính đến tất cả các hiện tượng ngôn ngữ, và những xu hướng gần đây cho thấy vị trí thỏa hiệp mà chúng tôi tự tạo cho mình là sự phản ánh công bằng cái cách trong đó các lý thuyết chính đáp lại sự ảnh hưởng từ các lý thuyết khác” [108, tr vi]

Trang 32

Trên cơ sở những nghiên cứu mới của chính các tác giả về cấu trúc ngữ pháp cũng như những nghiên cứu và đóng góp của rất nhiều học giả khác trên thế giới, năm 1985, R Quirk, S Greenbaum, G Leech và J Startvik đã xuất bản cuốn “Ngữ Pháp tiếng Anh tổng hợp” (A Comprehensive Grammar of the English Language gọi tắt là CGEL) Cuốn sách có nội dung phong phú và sâu sắc hơn so với cuốn GCE, là đỉnh cao của sự hợp tác giữa các tác giả Nó đã đề cập đến hầu như tất cả các hiện tượng ngữ pháp tiếng Anh dựa trên khuôn khổ của ngữ pháp truyền thống

về phân chia từ loại và câu Sau đây, chúng tôi sẽ tổng hợp những quan điểm của các tác giả GCE và CGEL về CPT, CPT định ngữ và trạng ngữ tiếng Anh

Theo quan điểm của Quirk và các tác giả của GCE và CGEL, CPT (participle clause) là một loại cú vô định (non-finite clause), có nghĩa là một cú có chứa một

động từ vô định (non-finite verb) như to work, having worked, given …) [108, tr 722] Xét về cấu trúc, CPT có 2 loại là CPT -ing (-ing participle clause) và CPT -ed (-ed participle clause) Xét về chức năng ngữ pháp, CPT cũng có hai loại là cú bổ

sung và CPT hậu bổ ngữ (postmodifying participle clause)

CPTĐN (adjectival participle clause) [113, tr 454] được Quirk và các tác giả

của CGEL gọi là CPT -ing và CPT-ed hậu bổ ngữ (postmodifying -ing và -ed

participle clauses) [110, tr 1263] Theo quan điểm của các nhà Anh ngữ học này,

CPT hiện tại như trong câu “The man writing the orbituary is my friend” có thể là

dạng rút gọn của một trong các cú quan hệ xác định (hay hạn định (restrictive relative clause) dưới đây tùy theo ngữ cảnh

will write

will be writing (23) The man who writes is writing the orbituary is my friend

wrote was writing

Để minh họa thêm, Quirk đã đưa ra một số ví dụ khác: cú vô định barking

next door trong câu “The dog barking next door sounded like a terrier” sẽ được hiểu

là “which was barking next door”; còn hậu bổ tố falling from a roof trong câu “A

Trang 33

tile falling from a roof shattered into fragents at his feet” phải được hiểu là “which

fell from a roof”; và hậu bổ tố carrying a large umbrella trong câu “Tomorrow you

will meet a man carrying a large umbrella” “who will be carrying a large

umbrella” [110, tr 1263]

Tương tự như vậy, cú phân từ quá khứ hay bị động như trong câu “The car

(being) repaired by that mechanic …” có thể là sự thay thế cho một trong các câu sau:

will be repaired (24) The car that is (being) repaired by that mechanic …

was (being) repaired [110, tr 1264]

Tùy theo ngữ cảnh, CPT -ed trên có thể được diễn giải tương đương với một

trong các cú hữu định sau:

being repaired by that mechanic now …

(24‟) The car repaired by that mechanic when it breaks down …

repaired by that mechanic before he left …

Một điểm cần lưu ý ở đây là vì không đi sâu vào ngữ nghĩa nên trong cuốn GCE cũng như CGEL, Quirk và các tác giả đã chỉ nêu lên hiện tượng mà không đi sâu và giải thích chúng một cách thấu đáo Chẳng hạn, họ đã nhấn mạnh rằng không

phải tất cả các dạng -ing trong các hậu bổ tố vô định đều tương ứng với các dạng

diễn tiến trong các cú quan hệ Ví dụ, động từ trạng thái không thể có dạng diễn tiến trong các ngữ động từ hữu định vẫn có khả năng xuất hiện dưới dạng phân từ:

(25) a) He is talking to a girl resembling Joan („who resembles Joan chứ không

phải là „*who is resembling Joan‟)

b) It was a mixture consisting of oil and vinegar („that consisted …‟ chứ

không phải là „*that was consisting …‟) [108, tr 876]

Bên cạnh các cú phân từ hạn định, các tác giả của GCE và CGEL cũng đề cập đến CPT không hạn định được họ gọi với cái tên là hậu bổ tố không hạn định (non-restrictive postmodification) Hậu bổ tố không hạn định cũng có hai loại tương đương với hai loại phân từ Ví dụ:

(26) The apple tree, swaying gently in the breeze, was a reminder of old times

Trang 34

(27) The substance, discovered almost by accident, has revolutionized medicine

[108, tr 1270]

Các cú vô định loại này tương đương với các cú quan hệ không hạn định sau:

(26a) The apple tree, which was swaying gently in the breeze, was a reminder of

(27b) Discovered almost by accident, the substance has revolutionized medicine

CPT Discovered almost by accident khi được đưa lên đầu câu đã không còn

đóng vai trò là một định ngữ không hạn định nữa mà có chức năng như một trạng ngữ

Trong một số trường hợp khác, có thể thấy CPT không hạn định có mối liên

hệ tiềm ẩn khác nhau với cú chính Ví dụ, cú vô định trong câu “The man, wearing

such dark glasses, obviously could not see clearly” có thể là dạng rút gọn của cú

quan hệ “who was wearing …”, cũng như là dạng rút gọn của cú trạng ngữ chỉ nguyên nhân “because he was wearing …”, hay thời gian “whenever he wore …”

Tương tự như vậy, nếu rút gọn cú quan hệ trong câu “The cost, which includes

meals, is ninety francs” thành cú vô định, chúng ta buộc phải thừa nhận rằng kết

quả có được là including meals có thể được người đọc hay người nghe coi là sự rút gọn của cú quan hệ “if we include meals”, hay đơn thuần coi including là giới từ

CPTTN (adverbial participle clause - thuật ngữ do M Swan (1994) đề xuất) được Quirk và các tác giả của GCE và CGEL gọi là các cú bổ sung vô chủ (subjectless supplementative clause) [110, tr 1123] Các nhà ngữ pháp học đã tập trung nêu lên một số hiện tượng có liên quan đến các cú bổ sung này

Vấn đề đầu tiên mà các nhà ngữ pháp học đưa ra là quy tắc gắn kết (attachment rule) để xác định chủ ngữ Khi chủ ngữ không xuất hiện trong cú hữu

Trang 35

định, đặc biệt trong các cú phân từ, quy tắc gắn kết cho rằng chủ ngữ đó có cùng tham chiếu với chủ ngữ trong cú chính Ví dụ:

(28) a) Persuaded by our optimism, he gladly contributed time and money to the

scheme [„Since he was persuaded‟]

b) Driving home after work, I accidentally went through a red light [„While I

was driving home …‟]

Khi chủ ngữ ẩn trong cú hữu định không đồng nhất với chủ ngữ trong cú chính hoặc có thể hoàn toàn không xuất hiện trong câu thì câu đó được xem là sai ngữ pháp Ví dụ:

?Driving to Chicago that night, a sudden thought struck me

?Walking down the boardwalk, a tall building came into view [110, tr 1121] Trong các ví dụ trên, chủ ngữ ẩn trong các cú hữu định có thể là I (tôi), nhưng I lại không phải là chủ ngữ của cú chính Để có được các câu đúng ngữ pháp

mà vẫn giữ được nguyên trạng các cú hữu định, chúng ta phải sửa lại các cú chính,

đưa I vào làm chủ ngữ Ví dụ:

(29) a) Driving to Chicago that night, I was struck by a sudden thought

b) Walking down the boardwalk, I saw a tall building

Các CPT trong các câu trên không gắn kết với cú chính, nhưng vẫn có những manh mối nhất định để xác định chính xác chủ ngữ ẩn của các CPT và câu văn còn

có thể chấp nhận được ở một khía cạnh nào đó Câu văn sẽ hoàn toàn không thể chấp nhận được khi không có phương tiện nào để xác định chủ ngữ ẩn Ví dụ:

*Reading the evening paper, a dog started barking

*Using these techniques, a wheel fell off [110, tr 1122]

Đôi khi, những lỗi tương tự như trên có thể tạo nên những diễn giải vừa phi

lý, vừa nực cười Ví dụ:

*Opening the cupboard, a skeleton fell out

*Grilled on charcoal, everyone enjoyed the fish they caught

*Having eaten our lunch, the steamboat departed [110, tr 1122]

Quy tắc gắn kết không áp dụng trong một số trường hợp nhất định

Trang 36

a Khi chủ ngữ ẩn của cú hữu định là chủ thể của lời nói, thường là I Ví dụ: (30) Putting it mildly, you have caused us some inconvenience [110, tr 1122]

b Khi chủ ngữ ẩn là là toàn bộ cú chính Ví dụ:

(31) Unknown to his closest advisers, he had secretly negotiated with an enemy

emissary [„It was unknown to his closest advisers that …‟]

c Khi chủ ngữ ẩn là đại từ không xác định hay đại từ nhân xưng it Ví dụ: (32) Being Christmas, the government offices were closed [„Since it was …‟]

Vấn đề thứ hai là mối liên kết ngữ nghĩa giữa cú bổ sung và cú chính Theo các tác giả của CGEL, có sự không xác định trong việc diễn giải mối liên kết ngữ nghĩa này Mối liên kết liên cú có thể chỉ được hiểu là mối liên kết về thời gian, về nguyên nhân và cũng có thể được hiểu theo cả hai hướng Ví dụ:

(33) a) Jason, told of his son‟s accident, immediately phoned the hospital”

b) Julia, being a nun, spent much of her life in prayer and meditation [110, tr

1123]

Đối với câu (33a), người đọc có thể suy luận là giữa các cú chỉ có mối liên

hệ về thời gian theo trình tự trước sau, còn trong câu (33b) giữa các cú chỉ có mối liên kết nguyên nhân

Trong trường hợp khác, mối liên kết lô-gic giữa cú bổ sung và cú chính có thể được hiểu theo cả hai hướng Ví dụ:

(34) John, knowing that his wife was expecting a baby, started to take a course on

baby care [110, tr 1123]

Chúng ta có thể diễn giải câu này như sau:

(34a) John, because he knew that his wife was expecting a baby, started to take a

course on baby care

(34b) John, when he knew that his wife was expecting a baby, started to take a

course on baby care

Quirk và các tác giả của CGEL cho rằng cú bổ sung ngụ ý một cảnh huống đi kèm (accompanying circumstance) cho tình huống được miêu tả trong cú chính Người đọc hay người nghe phải dựa trên ngữ cảnh để suy ra bản chất thực sự của

Trang 37

cảnh huống đi kèm này Họ cũng đưa ra một nhận định mang tính khái quát là trong

các cú -ing, động từ hành động có xu hướng chỉ mối liên kết về thời gian, còn các

động từ trạng thái có xu hướng chỉ mối liên kết nguyên nhân Ví dụ:

(35) a) Reaching the river, we pitched camp for the night [„When we reached the

(36) a) The manager apPROACHED us, SMILing

b) The manager approached us SMILing [110, tr 1126]

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc viết liền như trong (36b) có thể làm cho người tiếp nhận phát ngôn khó xác định chủ thể của hành động trong cú có chứa phân từ Ví dụ:

(37) I saw Pam going home [110, tr 1126]

Chủ ngữ ẩn của going home có thể là I nếu coi nó là cú bổ sung Còn nếu coi

going home là bổ ngữ của động từ (verb complementation) thì chủ ngữ ẩn của nó là Pam

Trong trường hợp bổ ngữ của động từ trong cú chính không phải là một danh

từ riêng như ví dụ trên mà là một danh từ chung, việc diễn giải cú hữu định còn khó khăn hơn Ví dụ:

(38) I caught the boy waiting for may daughter

Ngoài hai cách diễn giải như câu (37), chúng ta còn có cách diễn giải thứ ba

là coi cú hữu định waiting for may daughter là một cú hậu bổ ngữ:

(38a) I caught the boy while I was waiting for may daughter [cú bổ sung]

(38b) I caught the boy in the act of waiting for may daughter [bổ ngữ của động từ] (38c) I caught the boy who was waiting for may daughter [cú hậu bổ ngữ] [110, tr

1126]

Trang 38

1.3.2 Nguyên lý nỗ lực ít nhất và Nguyên lý tiết kiệm

Việc sử dụng CPTĐN và CPTTN trong tiếng Anh là một cách nói rút gọn

Nó liên quan đến những quy luật hay những nguyên lý hành chức chung của ngôn ngữ Đó là nguyên lý nỗ lực ít nhất và nguyên lý tiết kiệm “Nguyên lý nỗ lực ít nhất” (Principle of least Effort) được G K Zipf đưa ra năm 1949 Zipf cho rằng đây

là nguyên lý đầu tiên duy nhất chi phối bất kỳ hành động nào của con người, bao gồm cả giao tiếp bằng lời nói Nội dung của nguyên lý được Zift miêu tả như sau:

“Nói một cách đơn giản, Nguyên lý nỗ lực ít nhất có nghĩa là, chẳng hạn, một người trong quá trình giải quyết các vấn đề trước mắt của mình sẽ xem xét chúng trên nền của các vấn đề trong tương lai có thể nảy sinh, theo tính toán của anh ta Hơn nữa, anh ta sẽ cố gắng giải quyết những vấn đề của mình theo cách nào đó để giảm thiểu tối đa toàn bộ công sức mà anh ta phải

bỏ ra để giải quyết cả những vấn đề trước mắt cũng như những vấn đề tương lai có thể xảy ra của mình Có nghĩa là người đó sẽ cố gắng giảm thiểu tối đa cường độ trung bình sức lực mà anh ta có thể sẽ phải bỏ ra Và khi làm như vậy, anh ta sẽ giảm thiểu tối đa nỗ lực của mình … Như vậy, Nỗ lực ít nhất

là một biến thể của công sức ít nhất [69, tr 207]

Như vậy, bản chất của “nguyên lý nỗ lực ít nhất” là con người chỉ bỏ ra sức lực vừa đủ cần thiết để đạt được mục đích nhất định nào đó Dựa trên nguyên lý này, André Martinet đã đề xướng Nguyên lý tiết kiệm trong cuốn “Các nguyên lý ngôn ngữ học đại cương” ra đời vào năm 1960 A Martinet cho rằng mâu thuẫn thường trực giữa nhu cầu giao tiếp và mong muốn giảm thiểu tối đa sinh lực và trí lực cần thiết cho nhu cầu đó của con người hiện hữu trong mọi giai đoạn phát triển của ngôn ngữ Nó có thể được xem là động lực cho những thay đổi trong qúa trình phát triển của ngôn ngữ Nếu như tất cả các ngôn ngữ cùng với thời gian đều thay đổi thì điều đó trước hết có nghĩa là chúng thường xuyên hướng tới đáp ứng nhu cầu giao tiếp của một cộng đồng ngôn ngữ nào đó một cách tiết kiệm nhất

Martinet cho rằng chính chức năng giao tiếp xác định bộ mặt của ngôn ngữ,

là nguyên nhân và điều kiện cho những biến đổi của ngôn ngữ Bất kỳ một phát

Trang 39

ngôn nào cũng đòi hỏi người nói phải tiêu tốn một số lượng trí lực và sinh lực nhất định Sự tiêu tốn này dường như là không đáng kể, vì trong những điều kiện bình thường, nó được cân bằng bởi mong muốn giao tiếp hay phát ngôn Tuy nhiên, trong tình trạng cơ thể mệt mỏi, thậm chí những người hay nói nhất cũng nhận ra rằng việc lựa chọn từ ngữ cho phù hợp hay đơn giản là sự chuyển động của các cơ quan phát âm đều làm tăng thêm đáng kể cảm giác mệt mỏi

Bất kỳ một cá nhân nào cũng sẵn sàng bỏ sức ra để thoả mãn những nhu cầu của mình Giao tiếp, như chúng ta biết, cũng đáp ứng một loạt những nhu cầu cá nhân Tuy nhiên, tất cả những nhu cầu này lại đòi hỏi một cách sử dụng ngôn ngữ thế nào đó sao cho tất cả các chức năng của nó đều được dùng vào mục đích giao tiếp

Ngôn ngữ là một công cụ mà cấu trúc của nó cho thấy công cụ này được dần dần hình thành nhằm đáp ứng những nhu cầu giao tiếp và việc thoả mãn nhu cầu giao tiếp này đảm bảo cho sự hoạt động thường xuyên của ngôn ngữ Sức lực bỏ ra trong khi giao tiếp bằng ngôn ngữ có xu hướng tỷ lệ thuận với khối lượng thông tin được truyền đạt Hay nói cách khác, trong giao tiếp con người chỉ bỏ ra những nỗ lực vừa

đủ để lời nói của anh ta được những người cùng tham gia giao tiếp hiểu được

Nguyên lý tiết kiệm trong ngôn ngữ được thể hiện trong việc con người thường xuyên hướng tới mục đích đạt được sự cân bằng giữa những nhu cầu mâu thuẫn nhau đều đang cần được thoả mãn Một mặt, đó là nhu cầu giao tiếp, còn mặt khác là sự trì trệ của bộ nhớ và sự trì trệ của các cơ quan phát âm Chính vì vậy trong quá trình phát triển của mình, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng hướng tới việc sử dụng một số lượng nhất định các âm vị, tránh không để cho các cơ quan phát âm làm việc quá tải, cũng như tạo ra những đơn vị ngôn ngữ mới một cách tiết kiệm và hợp lý nhất, tránh quá tải cho bộ nhớ

A Martinet đã nghiên cứu tính tiết kiệm của ngôn ngữ trên hai bình diện là ngữ đoạn và đối hệ, ứng với lý thuyết phân chia hai lần của ngôn ngữ do ông đề xuất Bản chất của sự phân chia lần một của ngôn ngữ loài người là bất kỳ một điều

gì thuộc về kinh nghiệm xã hội mà con người mong muốn hay thấy cần thiết phải thông báo cho người khác biết đều được chia thành những đơn vị kế tiếp nhau Mỗi

Trang 40

đơn vị đó đều có một vỏ âm thanh và ý nghĩa nhất định Sự phân chia lần một là một cách phân nhóm các sự vật hiện tượng đặc trưng cho một cộng đồng ngôn ngữ nhất định nào đó

Bản chất của sự phân chia lần hai nằm trong vỏ âm thanh của các đơn vị là kết quả của sự phân chia lần một Vỏ âm thanh này có thể tiếp tục được chia thành các đơn vị kế tiếp nhau nhỏ hơn nữa Các đơn vị này có chức năng khu biệt Ví dụ,

/t/ trong tree và /f/ trong free có thể kết hợp với một số đơn vị khác hoàn toàn giống

nhau để tạo ra các từ hoàn toàn khác nhau là “cây” và “rảnh rỗi” Sự phân chia lần hai tiết kiệm hơn nhiều so với sự phân chia lần một

Phải đến những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Nguyên lý nỗ lực

ít nhất hay nói cách khác là nguyên lý tiết kiệm của ngôn ngữ mới được các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Tân Grice nghiên cứu kỹ trên cả ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Họ đã tái khám phá và đưa vào sử dụng trong các cách tiếp cận mới để nghiên cứu các nguyên lý suy luận như Nguyên lý Hợp tác (Co-operative Principle) của Grice (1975) và Nguyên lý tính thông tin (Principle of Informativeness) của Atlas và Levinson (1981) Theo họ, nguyên lý nỗ lực ít nhất được thể hiện ở cả hai phía người nói và người nghe Nỗ lực ít nhất từ phía người nói (hay sự tiết kiệm của người nói) sẽ dẫn đến sự hình thành từ vựng trong đó một

từ có m số nghĩa khác nhau Ngược lại, sự tiết kiệm của người nghe lại có xu hướng hình thành từ vựng có m từ khác nhau với một nghĩa tách biệt cho mỗi từ Hai lực

đối lập nhau này thường xuyên xuất hiện trong ngôn ngữ: Lực hợp nhất hướng về người nói (the speaker-oriented Force of Unification) và Lực đa dạng hướng về người nghe (the hearer-oriented Force of Diversification) [69, tr 207]

Xét theo quan điểm ngữ dụng, khía cạnh trung tâm trong Nguyên lý Nỗ lực ít nhất là sự tiết kiệm của người nói, hay nói chung là cách người đưa ra phát ngôn và tác động của nó lên cách người tiếp nhận phát ngôn xử lý thông tin thu được Sự tối thiểu hóa cả đầu ra ngôn ngữ (số lượng các đơn vị tạo ra lời nói) và đầu vào ngữ nghĩa (mức độ cụ thể của thông tin được chuyển tải) từ phía người đưa ra phát ngôn dẫn đến sự đa dạng trong cách hiểu từ phía người tiếp nhận phát ngôn Theo

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Ảnh (2000), Tiếng Việt có “thái bị động” không?, Ngôn ngữ 5/2000, Hà Nội, tr. 36-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt có "“"thái bị động"”" không
Tác giả: Nguyễn Thị Ảnh
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban (1998), Ngữ pháp tiếng Việt Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
4. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1996) Ngữ pháp tiếng Việt Tập 1, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXBGD
5. Diệp Quang Ban (2005), Cú và việc ứng dụng vào ngữ pháp tiếng Việt, Ngôn ngữ 1/2005, Hà Nội, tr. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú và việc ứng dụng vào ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2005
6. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
7. Phan Mậu Cảnh (2000), Xung quanh kiểu phát ngôn tỉnh lược trong tiếng Việt, Ngôn ngữ 8/2000, Hà Nội, tr. 16-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh kiểu phát ngôn tỉnh lược trong tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2000
8. Nguyễn Tài Cẩn (1970), Ngữ Pháp Tiếng Việt Tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Pháp Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 1970
9. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1975
10. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ Pháp Tiếng Việt (Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ), NXBĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Pháp Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXBĐHQGHN
Năm: 1996
11. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á, ĐHSPNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1992
12. Nguyễn Hồng Cổn (2001), Về vấn đề tương đương trong dịch thuật, Ngôn ngữ 11/2001, Hà Nội, tr. 50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề tương đương trong dịch thuật
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2001
13. Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên (2004), Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt, Ngôn ngữ 7/2004, tr. 1-12; Ngôn ngữ 8/2004, tr. 10- 22, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên
Năm: 2004
14. Vũ Cao Đàm (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các mối tương quan giữa thời-thể-tình thái và cận cảnh/hậu cảnh  của ngôn bản [74, tr - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 1.1 Các mối tương quan giữa thời-thể-tình thái và cận cảnh/hậu cảnh của ngôn bản [74, tr (Trang 51)
Bảng 2.1: Phân loại cú phân từ định ngữ - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 2.1 Phân loại cú phân từ định ngữ (Trang 68)
Bảng 2.2: CPTĐN trong tác phẩm văn học thuộc các giai đoạn khác nhau - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 2.2 CPTĐN trong tác phẩm văn học thuộc các giai đoạn khác nhau (Trang 94)
Bảng 2.3: CPTĐN trong các văn phong khác nhau - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 2.3 CPTĐN trong các văn phong khác nhau (Trang 95)
Bảng 2.4: NĐTĐN trong các tác phẩm văn học - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 2.4 NĐTĐN trong các tác phẩm văn học (Trang 117)
Bảng 3.4: CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 3.4 CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ (Trang 162)
Bảng 3.5: Phân bố các loại CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 3.5 Phân bố các loại CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ (Trang 163)
Bảng  trên  cũng  cho  thấy  số  lượng  CPTTN  có  having+past  participle  và  being  cũng  được  giảm  thiểu  đến  mức  tối  đa  trong  các  tác  phẩm  văn  học  hiện  đại - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
ng trên cũng cho thấy số lượng CPTTN có having+past participle và being cũng được giảm thiểu đến mức tối đa trong các tác phẩm văn học hiện đại (Trang 163)
Bảng 3.6: Thống kê NĐTTN trong các tác phẩm văn học - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 3.6 Thống kê NĐTTN trong các tác phẩm văn học (Trang 184)
Bảng 3.8: So sánh tần số xuất hiện của NĐTTN và CPTTN - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 3.8 So sánh tần số xuất hiện của NĐTTN và CPTTN (Trang 185)
Bảng 3.9: NĐTTN trong các tác phẩm văn học Việt Nam - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 3.9 NĐTTN trong các tác phẩm văn học Việt Nam (Trang 185)
Bảng 3.10: Các mối liên kết ngữ nghĩa - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Bảng 3.10 Các mối liên kết ngữ nghĩa (Trang 189)
Sơ đồ 2: Các cách dịch CPTĐN và CPTTN sang tiếng Việt - Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Sơ đồ 2 Các cách dịch CPTĐN và CPTTN sang tiếng Việt (Trang 228)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w