Những bài thơ của họ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đã được in lại trong từng tập thơ của mỗi tác giả.. 4 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi sử d
Trang 1
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THU PHƯƠNG
THƠ TRÊN BÁO NHÂN VĂN VÀ TẬP SAN GIAI PHẨM
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TƯ DUY NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Hà Nội -2012
Trang 2
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THU PHƯƠNG
THƠ TRÊN BÁO NHÂN VĂN VÀ TẬP SAN GIAI PHẨM
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TƯ DUY NGHỆ THUẬT
Trang 3
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Công trình khoa học này là của riêng tôi Kết quả luận văn của tôi là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin sử dụng và trích dẫn trong luận văn đều chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2012
Lê Thu Phương
Trang 4Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo tổ Văn học Hiện đại Việt Nam, các thầy cô giáo Khoa Văn học, phòng tư liệu Khoa Văn học, thư viện Quốc gia Hà Nội, Đại tá Thái Kế Toại, nhà văn Trần Hoàng Bách
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và học tập Xin cảm ơn tất cả mọi người đã dành cho tôi sự ưu ái, sự quan tâm giúp đỡ
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 04 năm 2012
Lê Thu Phương
Trang 5từ Nhân văn - Giai phẩm người ta đều nghĩ tới một vụ án văn chương mang tính chất
chính trị Nhiều nhà thơ có tên trên mặt báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đã đi con
đường sáng tạo thăng trầm “Những đứa con tinh thần” của họ “chào đời” chẳng mấy
khi được bình yên kể từ sau khi báo Nhân văn và tập san Giai phẩm bị đóng cửa Không những thế có nhà thơ phải đi tù vì những sáng tạo của mình Báo Nhân văn và tập san Giai phẩm bị cấm lưu hành ngay sau vụ Nhân văn - Giai phẩm Nhưng trong
các diễn đàn văn học chính thống và phi chính thống, trong nước và ngoài nước độc
giả vẫn chưa thôi hi vọng tìm hiểu thơ, giải mã thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
Giá trị sáng tạo của các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm đã từng bước được ghi
nhận Những bài thơ của họ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đã được in lại trong từng tập thơ của mỗi tác giả Tuy nhiên, các ấn phẩm Nhân văn, Giai phẩm thì
còn lại rất ít và chưa được khôi phục Việc đánh giá, nhìn nhận lại giá trị của thơ trên
báo Nhân văn và tập san Giai phẩm là việc cần thiết Giải quyết được vấn đề này
chúng ta sẽ hiểu hơn về thơ văn một giai đoạn, một hiện tượng văn chương và dòng chảy của Văn học Việt Nam hiện đại
Thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm giữ một vị trí quan trọng, đặc biệt là ở các tập san Giai phẩm, số lượng thơ lớn hơn văn xuôi Vì vậy, chúng tôi chọn tất cả các bài thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm làm đối tượng cho đề tài
nghiên cứu của mình
Sáng tác thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm là một đối tượng mới
mẻ, phức tạp Tìm hiểu thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm để tránh những
Trang 6
6
kết luận chủ quan và phiến diện, người nghiên cứu phải tự trang bị cho mình kiến thức mới khi mà bảng giá trị thẩm mỹ cũ không đủ để đánh giá thơ ca của họ Thách thức đó lại mở ra cho người viết cơ hội thẩm thấu những giá trị hiện đại của thơ ca từ những năm năm mươi của thế kỷ XX
Tất cả khó khăn và sự hấp dẫn của đối tượng thôi thúc người viết lựa chọn đề
tài luận văn: “Thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật”
2 Lịch sử vấn đề
Trong suốt một thời gian dài từ năm 1955 cho tới nay, tư liệu báo Nhân văn và tập san Giai phẩm bị rơi rụng gần hết bởi bị tịch thu hoặc phải đem giao nộp cho nhà
nước Thư viện Quốc gia có bảo tồn tư liệu thì cũng không phục vụ bạn đọc Ấn phẩm
Nhân văn và tập san Giai phẩm còn lại rải rác trong một số cá nhân, người chơi sách, người bán sách cũ từ thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm Khi nghiên cứu đề tài “Thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật” chúng tôi phải
tìm đến người bán sách cũ từ thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm
Tại miền Bắc, cuốn Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận là tài liệu
duy nhất tập hợp các bài viết phê phán chính thống về Nhân văn - Giai phẩm Người đọc muốn tìm hiểu về Nhân văn - Giai phẩm thì chỉ có thể thông qua cuốn sách này hoặc đọc các giáo trình của Đại học Tổng hợp Hà Nội hoặc Đại học Sư phạm những năm 1960 Ngoài những ý kiến phê bình tổng thể đó, thơ Nhân văn – Giai phẩm chưa được hiểu một cách toàn diện và hệ thống Vì vậy, việc hiểu đúng hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm đã khó thì đánh giá đúng đắn toàn diện về giá trị nghệ thuật trong thơ văn của họ còn khó hơn trăm vạn lần
Tại miền Nam, công trình sớm nhất về Nhân văn - Giai phẩm là cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí, một người cháu rể của Phan Khôi
Trang 7
7
Cuốn sách này lưu hành ở miền Nam trước năm 1975 Chúng tôi có tham khảo cuốn sách này từ trang Web talawas thì thấy tác giả của cuốn sách cũng nhìn nhận một
chiều khi phê bình báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
Như vậy, trong nước chưa có một cơ quan nghiên cứu, một nhóm nghiên cứu, một nhà nghiên cứu nào bắt tay vào nghiên cứu hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm một cách toàn diện và hệ thống Dù hiện tượng này kéo dài chỉ trong 3 năm từ 1955 đến
1958 nhưng nó có ảnh hưởng tới văn học nghệ thuật khá lâu sau đó
Năm 1992, tại Paris, Nhà xuất bản Quê mẹ của Võ Văn Ái in cuốn hồi kí bằng
tiếng Pháp của luật sư Nguyễn Mạnh Tường Un Excommunie (Kẻ bị khai trừ) với tiểu
tựa Hanoi 1954 – 1991: Proces d’ un intellectual (Hà Nội 1954 – 1991: Kết án một nhà trí thức
Năm 2001, Nhà xuất bản Văn nghệ California Hoa Kỳ xuất bản cuốn Nhật kí Trần Dần ghi Cuốn sách là những ghi chép của Trần Dần về thời kỳ cải cách ruộng
đất và về hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm
Ở Paris vào cuối năm 2004, nhà nghiên cứu Thụy Khuê viết bài Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm và công bố hàng loạt bài phỏng vấn Nguyễn Hữu Đang, Lê
Đạt, Hoàng Cầm, Trần Duy Từ giữa năm 2009, bà công bố từng phần trên website
đài RFI như một công trình nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh với tựa đề Tìm hiểu phong trào Nhân văn - Giai phẩm
Công trình mới nhất xuất bản năm 2009 tại Berlin, Funfzig Jahre Danach: Hundert Blumen in Vietnam 1954 – 1960 (Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954 – 1960) của nhà nghiên cứu Heinz Schutte giảng dạy tại khoa Đông
Nam Á, Đại học Hamburger
Ngoài ra có một số bài viết khác đề cập tới hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm
như: Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên (do Nhà xuất bản Văn nghệ ở Hoa Kỳ), Website của Trần Hữu Dũng, bài Vụ Nhân Văn Giai Phẩm một trào lưu dân chủ một
Trang 8
8
cuộc cách mạng tân văn không thành của Lê Hoài Nguyên, các bài trên Talawas, một
số bài viết của nhân vật chủ chốt trong Nhân văn - Giai phẩm về chính họ
Còn có thể nhắc đến Nhật kí của Nguyễn Huy Tưởng, Nhà xuất bản Thanh
Niên, năm 2006; hai cuốn hồi kí của Tô Hoài là Cát bụi chân ai và Chiều chiều của
Nhà xuất bản Hội Nhà văn Ba cuốn sách này có nhắc tới không khí cuộc sống văn nghệ sĩ giai đoạn 1955 – 1960
Gần đây, các nhà sách phối hợp với Nhà xuất bản trong nước đã in các tác
phẩm của Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm như cuốn: Phùng Quán ba phút sự thật của Nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản năm 2010, Trần Dần Những ngã tư và những cột đèn của Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2011, Thơ Hoàng Cầm của Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2011, Hoàng Cầm một hồn thơ độc đáo
của Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2011
Nói tóm lại, cho đến nay, người ta còn quá e dè khi nói tới Nhân văn - Giai phẩm Trong các cuốn sách từ điển văn học, thuật ngữ từ điển văn học người viết cũng không thấy xuất hiện cụm từ “Nhân văn Giai phẩm”, ngay cả việc tìm đọc báo
Nhân văn và tập san Giai phẩm còn hết sức khó khăn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn này có tên là Thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật Bởi vậy, chúng tôi sẽ khảo sát bộ phận thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Chúng tôi chọn tất cả các bài thơ đó làm đối tượng
nghiên cứu chính cho đề tài của mình Ngoài ra, chúng tôi sẽ tham khảo thơ trên báo
Văn năm 1957, năm 1958, các tập thơ như: Bài thơ trên ghế đá của Lê Đạt, Cửa biển của Văn Cao, Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm, Cổng Tỉnh, Đi đây Việt Bắc của Trần Dần, Ô mai, Bến lạ của Đặng Đình Hưng
Trang 9Thứ hai, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình
trong thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Từ đó có thể nhận thấy những nét
gần gũi và khác biệt với cảm hứng và cái tôi trữ tình của văn học cách mạng chính thống
Cuối cùng, chúng tôi đi sâu tìm hiểu các biểu tượng và ngôn ngữ thơ trong
những thử nghiệm mới của các nhà thơ có tên trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Hiểu đúng và đánh giá được những sáng tạo nghệ thuật mà các bậc tiền bối đã
để lại
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Chúng tôi khảo sát và đánh giá các vấn đề về thơ Nhân văn – Giai phẩm trong sự soi chiếu với hoàn cảnh lịch sử Việt
Nam những năm 1954 – 1960, đặt thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm trong
dòng chảy văn học dân tộc Việt Nam, trong tình hình kinh tế xã hội đất nước và thế giới lúc bấy giờ Từ đó, chúng ta sẽ thấy được tác động của lịch sử lên thơ không chỉ một đời thơ mà cả một hiện tượng thơ và cách thức mà các nhà thơ phản ứng
Phương pháp thống kê: Khi khảo sát thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm, chúng tôi sẽ phải dùng phương pháp thống kê để bạn đọc tiện theo dõi và dùng
nó làm tư liệu cho những công trình nghiên cứu tiếp theo
Trang 10Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi so sánh thơ của
các tác giả trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm để tìm ra những điểm chung và
những nét khác biệt của họ đối với thơ được gọi là chính thống Phương pháp này giúp chúng tôi nhận thấy những thử nghiệm mới trong thơ của các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm, ảnh hưởng của những thử nghiệm ấy đến các tác phẩm sau này của họ
Phương pháp nghiên cứu loại hình: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những đặc trưng về thể loại để nghiên cứu những đặc điểm về ngôn ngữ, về biểu tượng trong thơ Nhân văn – Giai phẩm
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn này là công trình nghiên cứu nghiêm túc, khách quan, khoa học dựa
vào văn bản thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm theo tinh thần đổi mới Luận văn sẽ giúp bạn đọc có được tư liệu chính xác về thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm, hi vọng kết quả sẽ góp phần trả lời cho câu hỏi về những nhà thơ Nhân
văn - Giai phẩm đồng thời xác định chân giá trị sáng tạo và những đóng góp cũng như những hạn chế của họ trong dòng chảy của Văn học Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai theo 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
Trang 12
12
PHẦN NỘI DUNG
Chương1: Khái quát về thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
1.1 Bối cảnh ra đời của tác phẩm thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
Trong những năm 1950, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, một số văn nghệ sĩ trí thức miền Bắc đã có những ngộ nhận về tự do dân chủ tuyệt đối Trên thế giới, đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô đặt vấn đề về việc chống sùng bái cá nhân, chống bệnh hình thức, bệnh chủ quan giáo điều; ngày 26 – 5 – 1956, Mao Trạch Đông phát động phong trào Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng Sau khi cuộc cải cách ruộng đất ở nước ta kết thúc thì tháng 9 Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp Hành Trung ương có những đánh giá, nhìn nhận về sai lầm trong cải cách ruộng đất Đời sống xã hội đã có những thay đổi, tự do báo chí và ngôn luận cởi mở hơn, công tư hợp doanh trong xuất bản đã được chấp nhận
Đầu năm 1955, trong quân đội Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Hoàng Cầm đã lên tiếng đòi tự do ngôn luận, tự do sáng tác Họ yêu cầu tự do dân chủ từ địa hạt thi ca
Một mặt, họ lên tiếng phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu; mặt khác, họ đòi quyền
lãnh đạo văn nghệ về tay nghệ sĩ, đòi thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội, đòi thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội, đòi thành lập trong quân đội một chi hội Văn nghệ trực thuộc Hội Văn nghệ, không qua Cục tuyên huấn và Tổng cục Chính trị
Việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu diễn ra theo hai khuynh hướng trái
ngược nhau: một phía chê và một phía khen hết lời Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê Đạt,
Trần Dần là những người chê tập thơ Việt Bắc Hoàng Yến viết: “Ta thấy thơ Tố Hữu
ngày nay còn bé hơn thơ Tố Hữu trước kia Bé vì Tố Hữu chưa thổi được vào thơ ngọn lửa hừng hực chiến đấu của thời đại để đốt cháy lòng người đọc Bé vì chất sống chưa thật sâu sắc nên ý thơ nhiều đoạn còn giả tạo công thức [53] Hoàng Cầm chê
tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu thiếu chất sống thực tế, nhạt nhẽo, hời hợt “Đa số bài
Trang 13
13
thơ trong tập Việt Bắc thường là đi từ từ, nhẹ nhàng vào lòng người đọc, rồi đi vòng
quanh, lởn vởn bên ngoài chứ không đột phá vào một khía cạnh nào của tâm hồn cho
thật sắc bén…” [53] Theo Hoàng Cầm thì tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu chỉ phản ánh một chiều “Hình ảnh bộ đội trong tập thơ Việt Bắc là hình ảnh đẹp một cách mỏng
manh, mờ nhạt như là dáng dấp một người lẫn trong sương, trong một bức tranh chấm phá Con người bằng xương, bằng thịt có bao nhiêu tình cảm, lúc bồng bột, lúc vui buồn, hờn giận, lúc vào bộ đội, lúc nhớ quê hương ruộng đồng, cha mẹ vợ con, khi tác chiến anh dũng, khi nhịn đói hành quân, lúc chia sẻ ngọt bùi cay đắng với cán bộ, với
đồng đội tôi chưa tìm thấy trong tập thơ Việt Bắc Chỉ thấy những hình ảnh chung
chung gặp bất cứ chỗ nào, thoáng qua và mờ dần vì không nhìn rõ nét, không “thực” đến độ in sâu vào lòng người” [53] Lê Đạt cho rằng “Tố Hữu cố gắng đi tới công nông nhưng vì sự thâm nhập thực tế của tác giả còn thiếu sót nên trong thơ của Tố Hữu còn rơi rớt nhiều tính chất tiểu tư sản biểu hiện ở tính chất ngậm ngùi, buồn buồn, ít hành động, nó là cơ sở của điệu tâm hồn Tố Hữu… Thơ Tố Hữu thuộc đấy,
dễ hiểu thật đấy nhưng vẫn xa quần chúng, vì quần chúng tính của một tác phẩm căn bản là có nói lên được đúng những băn khoăn mơ ước hàng ngày của quần chúng hay không Thơ Tố Hữu mới phần nào quần chúng ở hình thức Nội dung của thơ Tố Hữu chưa theo sát được cuộc đời… Tính chất tiểu tư sản và xa thực tế là hai khuyết điểm căn bản nó cản trở khả năng hiện thực của Tố Hữu Nó là nguyên nhân của cái buồn,
cái công thức, cái hời hợt rải rác trong tập thơ” [53] Trong Trần Dần ghi, tác giả viết:
“Tố Hữu nhìn sự vật nó chính trị quá, công thức quá, lười tìm tòi quá Chỗ nào hay thì lặp lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca dao Tố Hữu chưa đem tới một cách nhìn mới mẻ gì Nói chung, thơ Tố Hữu rất nhiều cái lười biếng Ý, lời tầm thường Tầm thường chứ không phải giản dị, phong phú Cá tính thơ Tố Hữu còn mờ Sự thiếu sót thực tế làm cho Tố Hữu chưa thoát khỏi cái nhìn tầm thường và ảnh hưởng thơ xưa” [3]
Trang 14
14
Đến tháng 6 năm 1956, một số văn nghệ sĩ trí thức ở miền Bắc mới thực sự lên tiếng công khai phê phán đường lối lãnh đạo của Đảng mà họ cho là chưa đúng
đắn, là sai lầm Giai phẩm mùa xuân ra đời do Hoàng Cầm, Văn Cao, Lê Đạt, Trần
Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Sáng, Tô Vũ Lập chủ biên Ngoài
những bài phê phán lãnh đạo văn nghệ của Đảng còn có bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu ngay lập tức Trong tập tài liệu của Nhà xuất bản Sự thật Bọn Nhân văn Giai phẩm trước tòa án dư luận, Hồng Cương viết:
“Nhân cơ hội đó, tất cả các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội đều ngóc đầu dậy chống lại sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ Bọn phản động trong Công giáo hành động phá rối trật tự ở Nghệ An, Nam Định Bọn phản động trong các dân tộc thiểu số
“xưng vua” ở một vài miền dẻo cao…” [83, 17]
Ba tháng sau khi Đảng phát động chính sách sửa sai sau cuộc cải cách ruộng
đất, Giai phẩm mùa thu tập 1 ra đời vào ngày 29 – 8 - 1956 Ngoài hai bài văn xuôi Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, Tiếng sáo tiền kiếp của Trần Duy còn lại
là thơ
Tiếp đó ngày 15 – 9 – 1956, báo nguyệt san Nhân văn số 1 ra đời và cuối tháng 10 năm 1956, tờ báo Đất mới của sinh viên ra được một số thì bị đình bản Cuối tháng 11 – 1956, Đảng hạ lệnh đóng cửa tờ Nhân văn và Nhân văn số 6 bị tịch thu Số phận của tập san Giai phẩm, báo Nhân văn, Đất mới, Trăm hoa đã kết thúc nhưng khi báo Văn ra đời các cây bút trên trang báo Nhân văn - Giai phẩm lại thấy xuất hiện với những bài phê phán các hiện tượng tiêu cực, đồi trụy trong xã hội đương đại Báo Văn
số 36 ra ngày 10 – 1 – 1958 đăng bài Ông năm chuột của Phan Khôi thì ngay sau đó
bị đình bản hẳn
Tại Hà Nội, ngày 5 – 6 – 1958 hơn 800 văn nghệ sĩ họp hội nghị và ra nghị quyết theo tinh thần phê phán Nhân văn – Giai phẩm của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam Từ 21 – 6 cho đến 3 – 7 – 1958 lần lượt các ban chấp hành hội
Trang 15
15
Nhạc sĩ, hội Nhà văn, hội Mỹ thuật tiến hành kỷ luật đối với các thành viên của hội có
tên trên báo Nhân văn - Giai phẩm Hội Nhà văn khai trừ Hoàng Cầm, Hoàng Tích
Linh khỏi ban chấp hành; hội Mỹ thuật cảnh cáo Sỹ Ngọc, chấp nhận Nguyễn Sáng,
Sỹ Ngọc rút khỏi ban chấp hành; hội Nhạc sĩ chấp nhận Văn Cao, Nguyễn Văn Tý rút khỏi ban chấp hành và cả ba hội nghị quyết định khai trừ Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An ra khỏi hội Nhà văn, Trần Duy ra khỏi hội Mỹ thuật, khai trừ trong thời hạn
ba năm, Trần Dần, Lê Đạt khỏi hội Nhà văn, Tử Phác, Đặng Đình Hưng ra khỏi hội Nhạc sĩ và cảnh cáo một số hội viên khác
Trong tập tài liệu “Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận”, Nguyễn Đình Thi đề cập chủ yếu đến sáu vấn đề về báo Nhân văn và tập san Giai phẩm, “Báo Nhân văn và các tập Giai phẩm rõ ràng là đối địch với chế độ, với chủ nghĩa xã hội”
Nguyễn Đình Thi cho rằng luận điệu phản động của các tác giả Nhân văn - Giai phẩm được biểu hiện ở sáu điểm sau:
Thứ nhất, họ bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản, cho rằng chủ nghĩa cộng sản là không nhân văn, là chà đạp con người, bôi nhọ những đảng viên cộng sản là không tim, không phải cộng sản chân chính Họ phê phán văn học xã hội chủ nghĩa là công thức, là giả tạo, đã đẻ ra những thi sĩ máy Họ dùng chiêu bài “đề cao con người, chống công thức” để đề cao chủ nghĩa cá nhân tư sản, tự do cá nhân, đòi tự do cho lối sống và tình cảm ích kỷ trụy lạc
Thứ hai, trong lúc bọn tư sản đang âm mưu phá hoại và tấn công ta thì các tác giả Nhân văn - Giai phẩm lại đòi tự do dân chủ tuyệt đối về mọi mặt: chính trị, kinh
tế, văn hóa, đả kích vào bộ máy nhà nước, đòi tự do đối lập với chính phủ
Thứ ba, các tác giả Nhân văn - Giai phẩm dùng chiêu bài “chống sùng bái cá nhân” để xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, cho sự lãnh đạo của Đảng là Đảng trị, là độc đoán, là chuyên quyền, đem đối lập quần chúng với lãnh đạo
Trang 16
16
Thứ tư là họ đề cao chủ nghĩa tư sản, đả kích Liên Xô, cho rằng sự giáo dục con người ở Liên Xô là rập khuôn, là máy móc Dựa vào khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”
để xuyên tạc đường lối văn học của Trung Quốc
Thứ năm, các tác giả Nhân văn - Giai phẩm đã phủ nhận thành tích to lớn mà nhân dân và Đảng ta đã làm được trong công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, phủ nhận những kết quả của cuộc cải cách ruộng đất, những thành tích trong khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, phủ nhận những thành tích mà văn nghệ đã đạt được từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thổi phồng những khuyết điểm về mọi mặt của ta, gieo rắc hoài nghi, hoang mang và bôi đen chế độ
Điểm thứ sau, Nguyễn Đình Thi cho rằng văn nghệ Nhân văn - Giai phẩm chủ trương cho phát triển “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” theo lối tự do vô chính phủ, chối bỏ sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao khẩu hiệu “trả văn nghệ về cho văn nghệ”, “văn nghệ và chính trị vỗ vai nhau cùng đi”
Từ đó, Nguyễn Đình Thi đi đến kết luận “Báo Nhân văn và các tập sách Giai phẩm là rêu rao lừa bịp “phấn đấu cho chủ nghĩa Mác – Lê Nin chân chính, tự nguyện
đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng nhưng trên thực tế thì xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đả kích sự lãnh đạo của Đảng, bới móc, xỏ xiên, bóp méo sự thật để bôi đen đời sống chế độ ta Trong Nhân văn - Giai phẩm có những hơi hướng, nhắc ta nhớ lại những thứ luận điệu “muốn cộng sản chân chính thì phải chống lại Đảng cộng sản của bọn Tơ-rốt-kít ngày trước [83,113 - 114]
Trong Báo cáo Tổng kết cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân văn - Giai phẩm, Tố Hữu đã đưa ra những kết luận sau: “Bọn cầm đầu nhóm phá hoại
Nhân văn - Giai phẩm, những kẻ từ lâu đã nuôi sẵn trong lòng sự hằn thù đối với chế
độ ta và những người cộng sản, tất nhiên cũng hoạt động theo hướng đó Học kinh nghiệm của bọn phản động quốc tế, bọn phá hoại ở nước ta cũng áp dụng cái thuật đánh từ mặt trận văn nghệ là một miếng đất còn sơ hở của cách mạng, và phối hợp
Trang 17
17
“nội công” với “ngoại kích”… Cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc là do cái bè phái ấy
sắp đặt, để đánh vào sự lãnh đạo và đường lối văn nghệ của Đảng, đường lối phục vụ cách mạng, phục vụ công nông binh, và đề xướng “điệu hồn” ruỗng nát của chủ nghĩa
cá nhân tư sản, mở cửa cho lối tự do sa đọa” [83, 22-23]
Tố Hữu gọi Trần Dần, Tử Phác là những đứa con hư hỏng của Hà Nội cũ, nay lại trở về với những “cảnh cũ người xưa” bỗng cảm thấy đời sống quân đội “nghẹt thở” chỉ vì thiếu cái tự do nay trở lại đời sống trụy lạc cũ
Tình hình xã hội nước ta lúc đó đang gặp muôn vàn khó khăn, Đảng ta phát hiện những sai lầm trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, đời sống nhân dân cơ cực, đói kém Trình độ nhận thức của nhân dân ta có hạn, sự hiểu biết về thế giới bên ngoài vẫn còn mơ hồ Trong khi đó, trên thế giới còn nhiều sóng gió và biến động: từ những vụ lộn xộn ở Ba Lan đến cuộc biến động phản cách mạng ở Hung-ga-ri, chiến tranh Anh – Pháp xâm lược Ai - Cập Bọn phản động trong và ngoài nước tìm mọi cách phá hoại cách mạng
Trong hoàn cảnh đó, Giai phẩm mùa xuân ra đời, rồi tái bản và liên tiếp xuất bản các tập Giai phẩm mùa thu, Giai phẩm mùa đông, Đất mới với các báo Nhân văn
Tiếng thơ của các tác giả Nhân văn - Giai phẩm nói riêng và tiếng nói của một vài nghệ sĩ khác là đòi tự do dân chủ tuyệt đối đã không được chấp nhận
Bộ phận thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm cũng ra đời trong hoàn cảnh đó, manh nha từ các tập: Cửa biển của Văn Cao, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, tập thơ Bài thơ trên ghế đá của Lê Đạt, tập thơ Đi! Đây Việt Bắc của Trần Dần, phê bình tập Việt Bắc của Tố Hữu
Trang 18
18
1.2 Vị trí, vai trò của bộ phận thơ trên báo Nhân văn - Giai phẩm trong
hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm
Hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm khởi nguồn từ địa hạt thi ca từ năm 1955 Thơ là tiếng nói cá nhân, là tiếng tâm tình của con người Thông qua thơ, các tác giả Nhân văn - Giai phẩm muốn bộc lộ khát vọng được làm nghệ thuật chân chính, được làm nghệ thuật một cách tự do Có lẽ thơ là nơi bắt đầu và cũng là nơi còn ghi lại yêu cầu tự do dân chủ tuyệt đối của một số nghệ sĩ Nhân văn – Giai phẩm
Bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần bị coi là bài thơ bôi đen chế độ đăng trong tập san Giai phẩm mùa xuân Tác giả của bài thơ không hề biết Nhất định thắng
có tên trên tập sách này Tố Hữu thì cho bài thơ ấy mang những tiếng chửi tục tằn,
chửi bóng gió cán bộ Tuy rằng, sau này Trần Dần đã thú nhận “Nhất định thắng làm
với dụng ý xuyên tạc sự thật, bôi đen chế độ miền Bắc… nêu cảnh thất nghiệp, hàng
ế, đi Nam, hai năm không thống nhất… luôn luôn lặp lại cái điệp khúc “mưa sa trên mầu cờ đỏ” để nhấn mạnh Đảng là nguyên nhân của cái xã hội thê thảm này…” [83, 25], nhưng những câu thơ ấy của Trần Dần lại nhanh chóng nhập vào trí nhớ nhiều người
“…Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ…”
Những câu thơ chân thật về những khó khăn mà cách mạng cần phải vượt qua,
những câu thơ gan ruột về “Những ngày ấy bao nhiêu thương xót” lại là minh chứng
sống động nhất cho thế hệ trẻ hôm nay biết về đất nước ta ngày ấy sống trong thương đau như thế nào Thơ chính là địa hạt đầu tiên và cũng là nơi cuối cùng thể hiện tinh
Trang 19tự do dân chủ tuyệt đối của một số nghệ sĩ Nhân văn – Giai phẩm
Hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm mở đầu bằng việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu Việc phê bình tập thơ Việt Bắc manh nha cho yêu cầu đòi tự do dân chủ
tuyệt đối trong sáng tạo nghệ thuật của các văn nghệ sĩ trí thức miền Bắc Bộ phận thơ
trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm chính là tiếng nói tự do, dân chủ tuyệt đối
trong sáng tạo nghệ thuật về cả nội dung và hình thức văn chương Về hình thức, thơ của các tác giả Nhân văn - Giai phẩm chủ yếu là thể thơ tự do Đây là hình thức không phổ biến trong thơ ca đương đại Bởi vì theo quan niệm truyền thống thì lối thơ không vần khiến quần chúng khó đọc, khó nhớ, khó hiểu Nhưng hình thức thơ tự do lại nói lên được nhiều cung bậc, nhiều sắc thái trong tình cảm con người Với hình thức thơ tự do, các nhà thơ có thể thoải mái bộc lộ những xúc cảm của mình
Về nội dung, thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm thể hiện rõ tinh thần
Nhân văn - Giai phẩm Trước hết, đó là những vần thơ bộc lộ mọi cảm xúc, cung bậc tình cảm cá nhân Tiếng nói cá nhân đòi tự do dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật là
tiếng nói tâm tình chủ đạo của thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Ý thức
đổi mới thơ có ở tất cả các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm Lê Đạt nhận thức được rằng thơ của mình bị cuộc đời lãng quên vì nó toàn tô hồng Thơ không phải là tiếng nói xót xa, đau đớn trong tâm hồn con người nên nó không có tác dụng thanh lọc tâm hồn
“Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ
Vẽ phấn, bôi son tô toàn mầu đỏ
La liệt đầy đường hoa nở
Trang 20Qua thơ tôi
cuộc đời như hết chuyện…”
(Nhân câu chuyện mấy người tự tử, Lê Đạt)
Trong bài thơ Cửa biển, Văn Cao đánh giá cao vai trò của tuổi trẻ Tuổi trẻ là
sáng tạo Và nhiệm vụ của nhân dân là ươm những mầm non ấy và tiêu triệt những con sâu hại Đảng, hại dân
Chủ nghĩa nhân văn được thể hiện rất sâu sắc trong các bài thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm cho rằng, mạng người
không phải là cỏ rác Mất một con người như mất một phần xương thịt của chính mình Vì vậy, nhà thơ Lê Đạt phải gào thật to cho đến khi lạc giọng
“Không gì đau thương
bằng mất một con người”
(Nhân câu chuyện mấy người tự tử, Lê Đạt) Tinh thần này trái ngược với luật 10/59 của bọn Ngô Đình Diệm khi chúng lê máy chém đi khắp miền Nam với tuyên bố “giết nhầm còn hơn bỏ sót”
Hiện thực đời sống được phản ánh trong thơ Nhân văn – Giai phẩm từ góc nhìn cá nhân, từ góc nhìn trần trụi Dĩ nhiên đó là hiện thực được phản ánh dưới một hình thức nghệ thuật có cách tân Điều này cũng được thể hiện trong các sáng tác văn
xuôi trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
Trang 21
21
Vai trò của thơ được thể hiện rõ hơn khi hầu hết các bài viết trên báo chí đương đại chú ý tới các sáng tác thơ của Nhân văn – Giai phẩm nhiều hơn là các thể loại khác
Số lượng nhà thơ và tác phẩm thơ có trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm nhiều hơn so với các thể loại khác Trong năm số tập san Giai phẩm (Giai phẩm mùa xuân, Giai phẩm mùa thu tập 1, 2, 3 và Giai phẩm mùa đông) có tới 28 bài thơ trên 26
bài văn xuôi, 4 bài nhạc, 1 bài kịch thơ Các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm có ý thức cao về vai trò, trách nhiệm của người làm thơ Họ không chỉ sống cho riêng mình mà sống vì nghệ thuật, vì cái đẹp, vì con người Khi đất nước gặp thương đau thì trách
nhiệm của nhà thơ càng lớn “Đất nước hôm nay trĩu đầu ngòi bút Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người” (Làm thơ, Lê Đạt) Các nhà thơ xưa đã dạy: mỗi dòng thơ
phải được viết bằng máu Nếu thiếu đi chất men cảm xúc chân thành thì thơ dễ dàng rơi vào sáo rỗng, hời hợt, lặp đi lặp lại những danh từ đã có sẵn, một số tình cảm đã có
rồi Thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm chưa thực sự cách tân nhưng việc
đòi hỏi đổi mới trong thơ của các tác giả Nhân văn - Giai phẩm lại rất mạnh mẽ
1.3 Diện mạo chung về thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
Về tác giả
Hầu hết các nhà thơ có tên trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đều là
những nhà thơ xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Quang Dũng, Hữu Loan… đều là những thi sĩ mới nổi trong
và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Hầu hết các tác giả Nhân văn – Giai phẩm đều là những người gắn bó với cuộc Cách mạng tháng Tám và đóng góp sức mình cho kháng chiến, riêng Phan Khôi và Nguyễn Bính đã nổi tiếng từ thời kỳ Thơ Mới
và đã sáng tác được nhiều bài thơ để đời Trong nhiều nhà thơ Nhân văn – Giai phẩm, chúng tôi chỉ đi sâu vào các tác giả chính sau đây:
Trang 22
22
Tháng 9 năm 1945, Hoàng Cầm và Hoàng Tích Chù thành lập ban kịch phương Đông đi trình diễn khắp các vùng Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh Ngày mùa
Đông 26 – 11 – 1946, vở kịch thơ Kiều Loan được trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội
lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, bởi ngay sau đó tháng 12 – 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đoàn kịch phải rời Hà Nội đến các vùng lân cận Từ năm
1948 đến năm 1952, Hoàng Cầm phụ trách đội văn nghệ tuyên truyền giải phóng quân đầu tiên trong quân đội Ông chỉ đạo và phát triển văn nghệ liên khu Việt Bắc Tháng 7 năm 1953, ông được giao làm trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị
Năm 1946, Hoàng Cầm viết vở kịch Người điên Năm 1948, ông viết bài thơ Bên kia sông Đuống Năm 1951, ông viết kịch Ông cụ điên Năm 1952, ông viết kịch Lên đường và Cô gái nước Tần đăng trên báo Tân Dân Năm 1955, ông chuyển sang Nhà
xuất bản Văn nghệ và làm việc ở đó Cũng trong năm ấy, Hoàng Cầm xuất bản hai tập
sách: Quê hương (thơ, Nxb Văn nghệ) và Mẹ tôi kể lại (truyện thơ, Nxb Văn nghệ)
Với kháng chiến, Hoàng Cầm là một trong những người đã đóng góp nhiều công sức: chín năm sáng tác, trình diễn và máu xương gia đình: một vợ, một con và một em trai chết trong kháng chiến Những bài thơ của Hoàng Cầm lúc đó có khả năng diệt giặc hơn cả những võ khí tối tân như SKZ (súng không giật) Trong thời kỳ Nhân văn –
Giai phẩm, Hoàng Cầm đã viết Tiếng hát quan họ, Mùa xuân đến rồi đây, Thơ qua đài phát thanh, Em bé lên sáu tuổi và kịch thơ Tiếng hát Trương Chi
Trần Dần cùng với Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng Dạ Đài với tuyên ngôn 16 – 11 – 1946
“Chúng tôi, một đoàn vong gia thất thổ, đã đầu thai nhằm lúc sao mờ…” Đến ngày
19 – 12 – 1946, ông cùng nhóm Dạ Đài cho ra báo Dạ Đài 2 khi cuộc kháng chiến
chống Pháp vừa bùng nổ Ông về Nam Định tham gia công tác thông tin tuyên truyền Cách mạng ở Huyện Vụ Bản Năm 1948, ông ở Ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn
La (nay thuộc Sư đoàn 316), làm công tác tuyên truyền cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng
Trang 23
23
Địch, sau đó làm báo ở mặt trận Tây Bắc và phụ trách văn công Trung đoàn 148 Sơn
La Trần Dần cùng Trần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng lập nhóm văn nghệ quân đội đầu tiên - Nhóm Sông Đà Thời gian này ông bắt đầu làm thơ bậc thang và vẽ tranh lập thể, bị cho là khó hiểu Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc ấy có tên
là Đảng Cộng sản Đông Dương) từ năm 1949 Năm 1954, cùng với Đỗ Nhuận, Tô
Ngọc Vân, Trần Dần tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và viết truyện dài Người người lớp lớp Chiến dịch kết thúc, ông được cử sang Trung Quốc viết thuyết minh phim Chiến thắng Điện Biên Phủ Tuy nhiên do bất đồng với người cán bộ chính trị
đi cùng nên ông "nhường" cho người này viết thuyết minh Năm 1955, ông tham gia
phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu và là cây bút trụ cột trong các tập san Giai phẩm và báo Văn với bài thơ Nhất định thắng và truyện ngắn Lão Rồng
Nhà thơ Hữu Loan tham gia Việt Minh từ năm 1936 Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra Trước năm
1945, ông từng làm cộng tác viên của các tập san văn học tại Hà Nội Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ
trong Đại đoàn 304 Sau năm 1954, ông làm việc tại báo Văn nghệ một thời gian Từ năm 1956-1957, ông tham gia viết cho báo Nhân văn - Giai phẩm Ông sáng tác
những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ
cộng sản nịnh hót, đố kỵ, ám hại nhau v.v như tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót, Đêm và truyện ngắn Lộn sòng
Như các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm khác Lê Đạt cũng tham gia cách mạng ngay sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công Gần như trong suốt quá trình hoạt động ông đều công tác ở ngành Tuyên huấn, sau lên Tuyên huấn Trung ương, trực tiếp theo dõi phong trào văn nghệ, văn hóa và giáo dục Vì vậy, ông có dịp tiếp
Trang 24
24
xúc với gần như tất cả giới văn nghệ Cách mạng Việt Nam Hòa bình lập lại năm
1954, ông về Hà Nội làm biên tập viên, bí thư chi bộ của báo Văn Nghệ, rồi được học
lớp tiếp quản để về tiếp quản khu 300 ngày ở Quảng Ninh, trước khi Nhân văn - Giai
phẩm bùng nổ Bài thơ Mới đăng trên tập san Giai phẩm mùa xuân có những câu như
“Có những người sống lâu trăm tuổi/ Y như chiếc bình vôi/ Càng sống càng tồi/ Càng sống càng bé lại” mà nhiều người cho là ám chỉ Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Đảng,
Lê Đạt bị lên án là phản động
Phùng Quán tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát trong trung đoàn 101, sau đó ông tham gia thiếu sinh quân Liên khu IV thuộc Đoàn văn công Liên khu IV Đầu năm 1954, ông làm việc tại cơ quan sinh hoạt văn nghệ thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam Tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo” của ông được tặng
giải thưởng Hội Nhà văn năm 1955 Sau đó, ông tham gia viết cho báo Nhân văn, tập san Giai phẩm và báo Văn với các bài thơ Chống tham ô lãng phí, Thi sĩ và công nhân, Lời mẹ dặn và tác phẩm văn xuôi Con ngựa già của chúa Trịnh
Phan Khôi là cháu ngoại của Hoàng Diệu, vị Tổng đốc đã tuẫn tiết khi thành
Hà Nội rơi vào tay Pháp năm 1882 Ông giỏi cả chữ Pháp và chữ Nho Năm 1906, ông đỗ tú tài và ra Hà Nội tiếp tục nền tân học Tháng 3 năm 1908 vì tham gia bạo động xin giảm sưu thuế cho dân Phan Khôi bị giặc Pháp bắt giam Năm 1917, ông
cùng Phạm Quỳnh lập tạp chí Nam Phong Sau đó, ông vào Sài Gòn viết cho tờ Lục tỉnh tân văn Năm 1920, ông lại ra Hà Nội viết cho tờ Thực nghiệp dân báo và Hữu thanh Ông tiếp tục tham gia học Pháp văn và cộng tác viết bài cho nhiều tờ báo khác nhau tại Hà Nội và Sài Gòn Năm 1929, Phan Khôi trở thành chủ bút sáng lập tờ Phụ
nữ tân văn Năm 1934, ông vào Huế làm chủ bút tờ tạp chí Tràng An, dạy học cho trường tư thục Hồ Đắc Hàm và tiếp tục viết bài cho báo Phụ nữ tân văn Năm 1936, Phan Khôi làm chủ bút sáng lập tờ Sông Hương Tháng 3 năm 1946, tại Hội An, Phan
Khôi được bầu làm Chủ nhiệm tượng trưng Đảng bộ Việt Nam Quốc dân đảng Năm
Trang 25
25
1946, Việt Minh tấn công các cơ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng Phan Thao (con của Phan Khôi) và Phan Bôi (em của Phan Khôi) đưa Phan Khôi lên vùng chiến khu Việt Bắc của Cộng sản sống biệt lập, không có gia đình và người thân Phan Khôi được giao việc dịch chữ Nho và dạy chữ Pháp Đời sống thiếu thốn, đói khổ, bị gò bó nên Phan Khôi tâm sự
“… Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ta,
Mối sầu như tóc bạc,
Cứ cắt lại dài ra…”
Ngày 20 tháng 9 năm 1956, báo Nhân văn số 1 ra đời do Phan Khôi làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Sau khi báo Nhân văn – Giai phẩm bị đình bản, một số văn nghệ
sĩ bị bắt giam, bị kỷ luật nhưng Phan Khôi không bị bắt mà bị giam lỏng Năm 1957,
1958, ông tiếp tục viết bài cho báo Văn Số phận của báo Văn cũng chấm dứt khi đăng bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi
Số đông các nhà thơ có tên trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đều
tham gia Cách mạng và giữ chức vụ chủ chốt trong các đoàn văn công, văn nghệ của Đảng Họ là những nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp lại được học tập và tiếp thu văn hóa phương Tây Vì vậy, ý thức về tự do cá nhân, tự do sáng tạo và đấu tranh cách mạng đã hình thành trong con người của
họ từ rất sớm Khi lầm tưởng có được sự tự do tuyệt đối, các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm đã bộc lộ hết mọi cung bậc của tình cảm cá nhân và nhìn nhận xã hội
ở mặt đen tối
Quan niệm về thơ và thực tiễn sáng tác
Các thi sĩ Nhân văn – Giai phẩm là những người sớm có nhiều băn khoăn trong việc đổi mới thơ Nếu như nhà thơ Tố Hữu cho rằng thơ không vần của Nguyễn
Trang 26
26
Đình Thi khó hiểu, câu thơ dài ngắn không đều, khó đọc thì các thi sĩ Nhân văn - Giai phẩm trước hết lại thử nghiệm bằng những dòng thơ không vần Họ là những nhà thơ mới nổi tiếng, trưởng thành trước, trong và sau thời kỳ kháng chiến chống Pháp Nhưng họ đã sớm có nhiều băn khoăn trong việc đổi mới thi ca Vấn đề đổi mới thi ca
trở thành nỗi nhức nhối trong thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Trần Dần
quan niệm: “Tôi muốn một thứ thơ giải quyết được giữa tôi với người ta và giữa tôi với tôi” Ông không chấp nhận “những hình ảnh có sẵn, lối tạo hình dễ dãi, tầm thường… sự dối trá, công thức trong đời sống và nghệ thuật” Nhiệm vụ mà nhà thơ
tự đặt ra cho mình là “phải làm cho giàu có kho văn tự sần sùi, cát bụi, bùn lầy, gân gồ… Mặc! Tôi chỉ còn một nguyên tắc mà thôi Sống và viết để tránh bọn giả mạo, bọn ì ạch, bọn mốc xì, bọn người bệnh Tôi không có khả năng công chức, khả năng người ụ Khả năng tôi là khả năng người khám phá Tôi cứ thế mà tiến Lù lù như quả
đất” [Theo 43, 23] Dù việc đổi mới thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm chỉ
mới là thử nghiệm những dòng thơ không vần nhưng vấn đề này trở thành nỗi nhức nhối, ám ảnh đối với các thi sĩ Nhân văn - Giai phẩm
Bài thơ dịch của Trần Dần Một cuộc kỳ ngộ của Mai–a–cốp-ski ở thôn quê, mùa hè nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của nhà thơ trước cuộc đời Nhà thơ Mai-a-
cốp-ski kêu gọi bạn hãy bay cao, bay xa bằng đôi chân của mình, nỗ lực xác lập một cái tôi độc đáo, một cá tính sáng tạo riêng
“Hỡi nhà thơ, ta hãy bay lên
tận tầng không bay liệng cánh chim bằng,
Trang 27
27
Lê Đạt không có được cái may mắn như Trần Dần, người bạn thơ cùng thời của ông Trong giai đoạn Nhân văn - Giai phẩm, có lúc Lê Đạt đã phải dừng lại tự xỉ
vả “Nhưng hôm nay tôi chỉ oán mình Thơ tôi bị cuộc đời ruồng bỏ”; “mặc cảm tội
lỗi” là nhà thơ vô dụng và “tự tu lập” để vượt qua chính mình, Lê Đạt bước vào hành trình của một “người phu chữ”
“Người làm thơ nắng mưa thiêu đốt
Ăn nằm với cuộc đời
Thai nghén đất trời
Sinh ra sự sống
Nặng tâm tư của trăm ngàn quần chúng
Đau xót hơn bao nhiêu”
(Làm thơ, Lê Đạt)
“Cuộc tìm “bóng chữ”, “đường chữ”, “vân chữ” của Lê Đạt là cuộc tự nhận thức sau sự cố Nhân văn - Giai phẩm Ông đã đi từ trong sương mù bất định của nhận thức, đến giải quyết cho cái câu hỏi da diết từ nội tại được đặt ra: Đâu là điểm tự do xa nhất chữ có thể đạt tới, đâu là điểm cực hạn nhất thiết không được bước qua” Sau giai đoạn Nhân văn - Giai phẩm, cái tôi Lê Đạt vẫn đề cao vai trò của đổi mới thơ Đổi mới thơ đối với Lê Đạt là vấn đề coi trọng chữ trong thơ “Nhà thơ không coi rẻ chữ như những vật vô tri, vô giác, những công cụ quăng đi khi đã hết tác dụng mà tôn trọng chữ như những sinh vật có hồn, lắng nghe tiếng nói của chữ và trò chuyện với thế giới bên kia” [29, 14] Theo Lê Đạt “Với đa số chữ là tình nghĩa/ Với nhà thơ chữ
là tình yêu” nên ông xác quyết rằng “Một nhà thơ có kinh nghiệm là một nhà thơ biết
im lặng để nghe chữ phát biểu”
Văn Cao là một nhạc sĩ, một họa sĩ nhưng ông vẫn dành nhiều thời gian cho
thơ Trong bài Mấy ý nghĩ về thơ đăng trên báo Văn nghệ tháng 7 năm 1957, Văn Cao
đã viết: “Đến với cuộc đời, nhà thơ không chịu sự may rủi mà phải chủ động thành
Trang 28
28
lập nên sự thẩm mỹ mới cho người đọc, chủ động xây dựng những con người biết tư tưởng, cảm xúc và cảm giác tinh tế như mình trong xã hội đương thời và cả xã hội sau này.” [72, 1] Quan niệm thơ phải đa nghĩa đã khiến Văn Cao có lối ví von rất hay về thơ, từ đó thấy được sự khác nhau giữa thơ ca cách mạng với thơ Nhân văn - Giai phẩm “Cuộc đời và nghệ thuật của mỗi nhà thơ phải là những dòng sông lớn càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng rộng Mỗi chữ, mỗi câu, mỗi lời mở ra cái quãng ngược, quãng xuôi, những cái không nói tới mà người đọc tìm thấy mãi Sự thất bại trong một bài thơ là sự khép lại: khép tất cả sự muốn nghĩ và muốn nói” [72,1] Văn Cao cũng nhấn mạnh tới cá tính sáng tạo trong thơ và đề cao những người can đảm mở đường cho thơ “Người làm thơ biết thành lập cho mình một cá tính trong suy nghĩ, trong tình cảm, trong cảm giác những điều mới lạ bao nhiêu là làm phong phú thêm cho người đọc về mặt tư tưởng, cảm xúc hay cảm giác Người đọc bị cuốn sau cùng vào cái khuynh hướng của nhà thơ… Người làm thơ phải đi tìm những tư tưởng, cảm xúc và cảm giác ở trên kia trong thực tế ở những con người đang hàng ngày túi bụi xây dựng Càng tới gần cái cuộc sống đầy mâu thuẫn đấu tranh là càng như đi gần lại một kho thuốc nổ Nhưng cũng có người can đảm nổ để mở đường” [72,1] Quan niệm nghệ thuật này đã ứng vào những sáng tác của Văn Cao Người thơ ấy đã vĩnh viễn ra đi vào 4 giờ sáng ngày 10 – 7 – 1995 chỉ để lại những tác phẩm ghi dấu ấn
một thời Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, tập thơ Những người trên cửa biển, tập thơ Lá
Hoàng Cầm là người đã tạo ra một trường thẩm mỹ riêng Thơ của Hoàng Cầm mang cốt cách văn hóa của vùng quê Kinh Bắc hòa trong không gian rộng lớn của văn hóa dân gian Việt Nam “Phải chăng chính vì Hoàng Cầm không cố tình cách tân nên thơ ông mới cách tân đến thế, Hoàng Cầm không cố tình làm hay nên thơ ông mới hay đến thế? Tài năng ông là chỗ tìm tòi mới thơ mà bản ngã truyền thống vẫn
Trang 29cá tính riêng bởi thơ không phải là tiếng ru êm, trăm người như một, trăm điệu sáo rỗng Thơ không phải là tiếng nói của các nhà cầm quyền Trách nhiệm và vai trò của nhà thơ có khi còn lớn lao hơn của nhà cầm quyền
Đối với các thi sĩ Nhân văn - Giai phẩm, thơ là nguồn sống, là ước mơ, nguyện vọng, là nơi truyền tải tất cả những điều mong ước của họ đối với người thân, với đất nước, với nhân dân Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Quang Dũng, Hữu Loan… đều là những thi sĩ sống vì thơ, suốt đời gắn mình với nghiệp thơ Họ làm thơ
và nói nhiều về thơ Đọc “Trần Dần ghi 1954 – 1955”, chúng ta không khỏi bồi hồi
xúc động “Tôi nói về thơ nhiều Vì đối với tôi đó là vấn đề sinh tử, ước mơ và nguyện vọng, chủ nghĩa và lí tưởng, đời sống và nghệ thuật Thơ đối với tôi có nghĩa của chữ cách mạng, chữ đấu tranh, chữ cuộc đời, chữ Giai cấp của tôi Cho nên thơ tôi thế nào, làm được hay bế tắc, làm hay hay làm dở, đó tức là trả lời những câu hỏi: tôi đã làm gì trong chiến tranh? Tôi đã được và mất những gì? Cơ quan văn nghệ chưa có
gì thay đổi Vẫn những tư tưởng coi rẻ lao động nghệ thuật, “đơn giản coi văn nghệ
bộ đội là bộ đội”, “không tin văn nghệ” Vẫn những chính sách gò bó, mệnh lệnh và máy móc “quân sự hóa văn nghệ” Đời tôi đã chìm chết trong chính sách này, cũng như những anh em khác.” [53] Đó là những tâm sự của Trần Dần về thơ, những ước nguyện của ông về tự do sáng tạo thơ Những thi sĩ ấy đã gánh cái phần đau khổ của người thơ để trả cho những đam mê chữ nghĩa của mình Cuối cùng, họ vẫn tự hào
mà nói “Tôi đã làm đúng thiên chức thi sĩ của mình” (Đời người đời chữ, Phùng
Cung)
Trang 30Trong năm số báo Nhân văn chỉ có 4 bài thơ trên 67 bài văn xuôi Trong năm
số tập san Giai phẩm (Giai phẩm mùa xuân, Giai phẩm mùa thu tập 1, 2 và 3 và Giai phẩm mùa đông) có tới 28 bài thơ trên 26 bài văn xuôi, 4 bài nhạc, 1 kịch thơ, 2 bài
thơ dịch nhưng số lượng thơ của các nhà thơ cũng rất khác nhau Chúng tôi đã lập bảng thống kê so sánh số lượng thơ như sau:
STT Tên nhà thơ Số bài thơ Báo Nhân văn Giai phẩm Số lượng thơ
Trang 31trong bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần in trên tập Giai phẩm mùa xuân
“Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Họ lếch nhếnh ôm nhau đi từng mảng
…
Họ kêu những thiếu tiền, thiếu gạo
Thiếu cha, thiếu chúa, thiếu vân vân
…
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ”
(Nhất định thắng, Trần Dần)
Đề tài đấu tranh chống Mỹ Diệm, chống tham ô lãng phí, phê phán đói nghèo, lạc hậu, trì trệ, đấu tranh chống bệnh hình thức, bệnh thành tích là đề tài xuyên suốt
các bài thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
“Cuộc sống đòi hỏi người làm thơ phải can đảm
Trang 32(Nhân câu chuyện mấy người tự tử, Lê Đạt)
“Những con sói lãng phí quan liêu
Nhe răng cắt rứt thịt da cách mạng”
(Chống tham ô lãng phí, Phùng Quán)
Đương thời, người ta cho rằng bài thơ Chống tham ô lãng phí là bôi đen chế
độ Đến ngày 27 – 9 – 1957, tên tuổi Phùng Quán lại xuất hiện trên báo Văn số 21 với bài thơ Lời mẹ dặn Bài thơ chỉ là một lời tự sự rất dễ nhớ, dễ thuộc, không có gì mới
lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ nhưng lại gây xôn xao dư luận bởi tính nhân văn lớn lao
và qua thơ thể hiện một bản lĩnh kiên cường của tác giả trước cuộc đời nhiều trái ngang Sau tiếng cười, tiếng khóc hồn nhiên trẻ thơ là một thái độ yêu ghét rõ ràng, một cấp độ cao của nhận thức và ứng xử xã hội
Ngoài đề tài đấu tranh chống Mỹ Diệm, chống các tệ nạn xã hội thì đề tài về
tự do, dân chủ, tình yêu đất nước cũng là đề tài xuyên suốt trong các báo Nhân văn và các tập san Giai phẩm Thơ Nhân văn – Giai phẩm thể hiện tình yêu đất nước qua
việc ca tụng mùa xuân trở về (cách mạng thành công) sẽ mang lại ấm no và công bằng cho con người Có lẽ đây là điểm gặp gỡ của thơ Nhân văn – Giai phẩm với thơ
ca cách mạng chính thống
“Dòng sông Nhị ơi! Mùa Xuân đến rồi đây
Mẹ con được chia hai gánh thóc đầy”
(Mùa xuân đến rồi đây, Hoàng Cầm)
Đó là những bài ca “chiêu hồi” những người em ở bên kia giới tuyến:
“Tôi tìm em trên sóng điện bao la
Trang 33
33
Thơ tôi đã đứng lên, vút đi, cao lớn
Ống nói như môi em chờ đón
Trầm ngâm, ấm một nụ cười
Tôi sung sướng truyền thơ tôi
Cho những Người yêu khắp nước”
(Thơ qua đài phát thanh, Hoàng Cầm)
Đó là tiếng thơ đòi tự do, lên án sự bưng bít của chế độ và kêu gọi mọi người đứng dậy đấu tranh chống cái xấu Thơ của Văn Cao bao giờ cũng vậy nhẹ nhàng nhưng đanh thép, phê phán sự mất tự do, đóng cửa tự cung tự cấp với sự lạc điệu của tâm hồn
“Cửa đóng lại từ chín giờ
Không một cuốn sách chờ đợi
Dù những ngôi sao đang nở trên trời
Dù đêm mùa xuân bắt đầu trở lại
…
Chúng nó còn ở lại
Trong những áo dài đen nham hiểm
Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người”
(Anh có nghe thấy không, Văn Cao)
Lê Đạt nhìn quanh một xã hội công thức, giả tạo, với những ông bình vôi hủ lậu kéo dài cuộc sống và nhìn lại chính mình, còn trẻ, nhưng đã tự đánh mất mình, vì khôn ngoan, nên không dám đứng thẳng làm người Cuối cùng, nhà thơ mạnh dạn đứng lên kêu gọi đổi mới toàn diện thi ca, xã hội và con người
Nhìn chung, các đề tài trong thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đề
cập đến đều không mới, ngay cả khi nói về tình yêu, tự do trong sáng tạo nghệ thuật cũng vẫn là đề tài không có gì mới Tuy nhiên, khi viết về đề tài này, các tác giả Nhân
Trang 34phận thơ Nhân văn – Giai phẩm để bạn đọc có thể so sánh và đối chiếu, đặt bối cảnh
ra đời của bộ phận thơ trong bối cảnh chung của hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm
Từ đó, chúng ta sẽ thấy được vị trí, vai trò của bộ phận thơ trong hiện tượng Nhân văn
- Giai phẩm Bằng phương pháp thống kê, so sánh, chúng tôi thấy được diện mạo chung về thơ Nhân văn – Giai phẩm và những quan niệm về thơ của các thi sĩ ấy Những khái quát chung đó sẽ là tiền đề để chúng tôi triển khai viết chương tiếp theo:
“Cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình trong thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm”
Trang 35
35
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình trong thơ trên báo
Nhân văn và tập san Giai phẩm
2.1 Cảm hứng phê phán trong thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
2.1.1 Phê phán hiện thực xã hội
Hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm chớm nở từ việc đòi hỏi tự do sáng tác của
nhóm các nhà văn quân đội và chính thức bắt đầu với Giai phẩm mùa xuân (1/1956) Nhưng manh nha từ hai vụ việc: Phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu và Bản dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hóa, những người khởi xướng là Trần Dần, Tử Phác, với sự cộng tác của Hoàng Cầm, Lê Đạt Việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố
Hữu lan rộng trên nhiều báo khác nhau và kéo dài trong nhiều tháng Những tác giả ca
tụng tập thơ Việt Bắc là Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Xuân
Diệu Phía chê có ba người: Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê Đạt Đến tháng 4 năm 1955, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Hoàng Tích Linh và Trúc Lâm ký bản
Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hóa Nội dung yêu cầu cải cách chính sách
văn nghệ trong quân đội, đòi quyền tự do sáng tác Xuất phát từ quan điểm dân chủ hóa đất nước, tự do sáng tác, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Hoàng Yến… đã thể hiện mong muốn đó trên mảnh đất nghệ thuật, đặc biệt là địa hạt thi ca
Hòa bình lập lại trên miền Bắc, bên cạnh những bài thơ ca ngợi đất nước, lãnh
tụ, chế độ xã hội chủ nghĩa của các nhà thơ như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu… thì thơ Nhân văn – Giai phẩm lại trăn trở với giọng điệu khác, đòi hỏi được biểu hiện những phương diện khác của tâm hồn Họ trăn trở trước những trì trệ trong suy nghĩ và việc làm, trong nghệ thuật và đời sống Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt… là lớp thế hệ thanh niên “chín sớm”, một thế hệ đầy tài năng và tâm huyết với thơ ca nghệ thuật Họ đều là những người có tri thức, sớm tham gia cách mạng và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp
Ở tuổi 18, Trần Dần đã đỗ tú tài Tây, ông lên Hà Nội học với ước mơ về nghệ thuật
Trang 36
36
Thần tượng của ông là Rimbaud, một nhà thơ có đời sống phiêu bạt, tính tự do vượt ngoài khuôn khổ Vì thế, con người Trần Dần luôn sống sục sôi, thẳng thắn, quyết liệt đến cực đoan và ôm ấp một dự định quá cỡ về thi ca là điều không tránh khỏi Những năm học ở bậc Thành Trung, Hữu Loan cũng là một học sinh xuất sắc, ông đã nhận
được học bổng toàn phần của Pháp Ông có cách tân từ những bài thơ đầu tay: Đèo cả
và Màu tím hoa sim Hữu Loan tham gia Việt Minh từ rất sớm Và khi nhắc đến ông,
người ta đều nhớ về một cuộc đời trầm luân, gian lao nhưng luôn được sống với mình, là chính mình Hoàng Cầm được sinh ra trên vùng quê Kinh Bắc giàu truyền thống hiếu học Năm 1940, ông đã đỗ tú tài toàn phần Tình yêu văn chương đã khuyến khích ông viết thơ, viết kịch phục vụ kháng chiến…
Các thi sĩ Nhân văn - Giai phẩm đều hăm hở đi tìm những nẻo đường mới cho
nghệ thuật và đã có những thử nghiệm trong thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Tuy nhiên, bởi được tiếp thu văn hóa văn minh nhân loại thêm cả sự nhiệt
huyết với cách tân trong văn chương nghệ thuật, các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm đã
tự đặt mình đứng cao hơn hoàn cảnh xã hội Trần Dần tham gia nhóm thơ Dạ Đài với
tuyên ngôn “Chúng tôi, một đoàn vong gia thất thổ, đã đầu thai nhằm lúc sao mờ…”
Những nhà thơ Dạ Đài muốn dứt bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn bởi vì theo
họ nó đã đi tới cuối con đường sáng tạo Họ muốn đằng sau những từ ngữ bình thường phải chứa ẩn cả thế giới huyền diệu bên ngoài và bên trong, không chỉ nắm bắt được hiện thực mà còn cảm được sự huyền diệu, bí ẩn, khoảng trống giữa thế giới
vô hình và hữu hình Trần Dần yêu cầu các nhà thơ thế hệ ông phải là những người
“chôn thơ tiền chiến” “Hơn 40 năm sau, Trần Dần có giải thích cụm từ này: “Thơ văn tiền chiến là thành tựu Không thể phủ nhận Nhưng thế hệ mình phải có cái của mình chứ Bắt chước tiền chiến là một loại bệnh Tôi gọi đó là một loại bệnh đèm đẹp Giống như người trồng hoa mỗi sớm lại đi rưới nước hoa vào những luống hoa… Nếu không có sự khai phá, dấn thân của một cá nhân, một nhóm, một thế hệ, thì cả
Trang 37
37
nhân loại chỉ có tự do sống trong cái cũ Vì thế, tôi luôn chủ trương đổi mới Đọc
Trần Dần ghi, ta thấy ông luôn nhưng nhức về việc đổi mới thi ca “Tôi muốn một
thứ thơ giải quyết được những mâu thuẫn giữa tôi với người ta và giữa tôi với tôi” Là một người trong cuộc, Trần Dần nhận thức rõ được bối cảnh văn chương đương đại
“Quanh tôi là những công thức tuyên truyền Cả một tục lệ, một xã hội, một tập quán
nó đè Khổ cái là nó đang thịnh hành, nó khoác áo cách mạng ngang nhiên sống, tác quái trong nghệ thuật Nghệ sĩ phải phát huy can đảm tột độ - đúng như một mình đứng trước Sự Thực và Chân Lý trần truồng khắc nghiệt” Đặt mình trên hoàn cảnh
xã hội đương đại, Trần Dần nỗ lực xác lập cho mình một bảng giá trị riêng Ông tự đặt cho mình nhiệm vụ “Phải làm cho giàu có kho văn tự sần sùi, cát bụi, bùn lầy, gân gồ… Mặc! Tôi chỉ còn một nguyên tắc mà thôi Sống và viết để tránh bọn giả mạo, bọn ì ạch, bọn mốc xì, bọn người bệnh Tôi không có khả năng công chức, khả năng người ụ Khả năng tôi là khả năng người – khám phá Tôi cứ thế mà tiến Lù lù như quả đất!” [theo 43,17] Theo quan niệm chính thống thì thơ phải phản ánh thực tại Thơ phải là vũ khí tuyên truyền, phục vụ chính trị, phục vụ sự nghiệp cách mạng Còn nhà thơ Lê Đạt thì cho rằng thơ là “cuộc chơi” Ông căm ghét lối thơ tuyên truyền, làm chính trị một cách đơn giản, theo những công thức tầm thường giả tạo Ông đòi hỏi bản thân mình và các nhà thơ phải bứt khỏi cách đồng phẳng lặng, yên ổn đó để xác lập cho mình một cá tính sáng tạo độc đáo
“Người làm thơ nắng mưa thiêu đốt
Ăn nằm với cuộc đời
Thai nghén đất trời
Sinh ra sự sống”
Hầu hết các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm đều có những thử nghiệm mới trong thơ Sự dấn thân của họ đã góp phần hình thành nên diện mạo thơ hôm nay Xuất phát từ việc nhận thức rõ đời sống nghệ thuật đương đại và mong muốn đổi mới
Trang 38
38
thơ, các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm đã lấy cảm hứng phê phán xã hội làm cảm
hứng chủ đạo trong những thử nghiệm trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm
Tuy nhiên, những dự cảm trong thơ của họ đã bị cho là “bôi đen chế độ”,
“phản động”, “chống Đảng”, “đi ngược lại với lợi ích của quần chúng” Đổi mới văn chương nghệ thuật là một điều tốt nhưng cuộc kháng chiến của dân tộc ta lúc đó lại đòi hỏi người nghệ sĩ ở một phương diện khác, gần gũi thiết thực và đơn giản hơn Có như vậy người dân ta phần đông ít chữ mới hiểu được Những “rối rắm nghệ thuật” dẫu là đam mê của các thi sĩ Nhân văn - Giai phẩm không phù hợp với thơ ca cách mạng chính thống Ở thời điểm đó bày tỏ quan điểm về thơ và làm thơ như vậy không phải là phản động nhưng rõ ràng đã tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử, khi mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu Văn nghệ sĩ nói chung và thơ ca nói riêng không thể chối bỏ phục vụ cách mạng Các nghệ sĩ buộc phải đặt cái tôi xuống dưới tập thể, đặt quần chúng, đặt Đảng lên địa vị cao nhất chứ không thể tự do sáng tác theo ý mình
2.1.2 Phê phán quan niệm văn học chính thống
Trong tập tài liệu Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận có nhiều bài
viết đã cho rằng các tác giả Nhân văn - Giai phẩm là “bất mãn” với chế độ, là “phản động”, là phong trào đối kháng về quan điểm chính trị Hầu hết những bài viết ấy đều
lấy cớ là báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đã “bôi nhọ” chế độ miền Bắc, chống lại
các nước xã hội chủ nghĩa, chống Liên Xô Nhưng trên thực tế thì hiện tượng Nhân văn - Giai phẩm là những hành động tự phát, không có một tổ chức chính trị nào trực
tiếp đứng ra điều khiển Báo Nhân văn, Đất mới, Sáng tạo, Trăm hoa, tập san Giai phẩm… đều thể hiện chung một mục đích là đòi tự do dân chủ, chống độc đoán cá
nhân, xây dựng một ý thức hệ “nhân văn” bình đẳng Manh nha từ việc phê bình tập
thơ Việt Bắc của Tố Hữu, các nhà thơ Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm… đã đệ trình
Trang 39
39
lên Tổng cục Chính trị bản Dự thảo cho một chính sách văn hóa Bản dự thảo thể hiện
ý thức của người nghệ sĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và chính trị, giữa người nghệ
sĩ và các chính sách trong văn nghệ Các nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao… cảm thấy đời sống văn nghệ nhiều bí bách Người nghệ sĩ chưa được “cởi trói”, chưa có tự do tuyệt đối trong sáng tạo nghệ thuật Chức năng, vai trò của nghệ thuật chưa được đánh giá đúng mức Việc phê bình này trước tiên được thể hiện trong
Bản dự thảo cho một chính sách văn hóa với những nội dung sau: yêu cầu tự do sáng
tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, thủ tiêu hệ thống chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội, sửa đổi chính sách văn nghệ trong quân đội Thứ hai, trên địa hạt thi ca, tiếng thơ Nhân văn - Giai phẩm đề cao vai trò của nhà thơ, đề cao sáng tạo nghệ thuật và xác định trách nhiệm của nhà thơ với cuộc đời, với nhân dân Thơ phải có giá trị vượt thời gian Nhà thơ phải có nhân cách cao hơn nhà cầm quyền Từ đó có thể thấy được quan niệm của các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm là làm nghệ thuật và chính trị không được đồng nhất, nghệ thuật không phục vụ chính trị
mà phục vụ cái đẹp, phục vụ con người
Quan niệm này không có gì là mới cả, từ xưa, vua Phổ đã cầm tay Môra và nói: “Ngươi đại diện cho cái đẹp còn ta đại diện cho quyền lực Biết đâu sau khi ta và ngươi chết đi, hậu thế sẽ quên ta và mãi mãi nhớ tới ngươi” Con người có thể chết đi nhưng chỉ còn lại trên đời là “những dòng thơ xanh”
Chỉ tiếc rằng đời sống chính trị nước ta lúc đó không cho phép người nghệ sĩ
có được sự tự do tuyệt đối trong sáng tạo, tự do cá nhân Quan điểm của các nhà thơ Nhân văn – Giai phẩm là văn học không phục tùng chính trị mà ngang hàng với chính trị Dù ở vào thời đại nào thì văn học chính thống vẫn phải gắn bó với chính trị nhưng
là một thứ chính trị khác Chính vì quan niệm trái chiều này mà bản án văn chương treo trên đầu các nhà thơ Nhân văn – Giai phẩm mấy chục năm trời Mãi cho tới năm
1986, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có
Trang 40
40
những lời tâm huyết với anh em văn nghệ sĩ: “Là những văn nghệ sĩ chân chính, các đồng chí phải giữ gìn sự trung thực của ngòi bút, giữ gìn tư duy trong sáng của mình” [4] Giờ đây, những “đứa con tinh thần” của các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm chính
là minh chứng cho tấm lòng nghệ sĩ trung chinh của họ, mãi thắp sáng cho những tài năng chân chính ấy
2.1.3 Phê phán “chủ nghĩa tô hồng” trong văn chương
Cảm hứng phê phán trong thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm còn
một đặc điểm nữa là phê phán chủ nghĩa tô hồng trong văn chương Manh nha từ việc
phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu “Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không?” các
nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm đang xác lập một hướng đi mới trên con đường thi ca
Những thử nghiệm về thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đã phê phán mạnh
mẽ chủ nghĩa tô hồng trong văn chương Vấn đề này mãi cho đến năm 1986 mới được Đảng, Nhà nước và các văn nghệ sĩ Việt Nam nhìn nhận một cách cởi mở Hơn
30 năm sau, một số tác phẩm văn chương của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh… mới có những đổi mới về nghệ thuật, tránh được cách nhìn nhận về chiến tranh một chiều Trong khi đó, từ đầu những năm năm mươi
của thế kỷ XX, các nghệ sĩ viết cho báo Nhân văn - Giai phẩm đã lên tiếng phê phán
chủ nghĩa tô hồng trong văn chương
Đặc điểm của thơ ca cách mạng là ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ngợi ca chế độ xã hội chủ nghĩa và ngợi ca con người mới Thơ ca cách mạng có nhiều thành tựu đáng ghi nhận nhưng cũng có hạn chế do ngợi ca quá lộ liễu và vụng
về đã làm phản tác dụng và giảm đi vẻ đẹp của các đối tượng Do quan niệm thơ như vậy nên các nhà thơ cách mạng thường vụng về khi nói về cái riêng Ngay cả khi âu yếm người yêu, các nhà thơ cách mạng cũng sống trong không gian chung:
“Trái tim anh đó