Tiểu kết chương 2 Chương 3: Tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây Một số kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước DAN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO VĂN THÙY
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH THỰC THI
TẠI VÙNG TÂY BẮC TRONG NHỮNG NĂM
GẦN ĐÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO VĂN THÙY
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH THỰC THI
TẠI VÙNG TÂY BẮC TRONG NHỮNG NĂM
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6 Cấu trúc của luận văn
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1 Một số cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1.1 Khái niệm “chính sách”
1.1.2 Khái niệm chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.2 Kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của
một số quốc gia trên thế giới
1.2.1 Xu thế chung
1.2.2 Những kinh nghiệm cụ thể trong chính sách ngôn ngữ
dân tộc của một số nước trên thế giới
1.3 Các văn bản trực tiếp và gián tiếp liên quan đến chính sách
ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước thời gian gần đây
1.4 Tiểu kết chương 1
Chương 2: Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.1 Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ
2.2 Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.2.1 Khái quát về vùng Tây Bắc
Trang 42
2.2.2 Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.2.3 Cảnh huống ngôn ngữ tỉnh Sơn La
2.3 Tiểu kết chương 2
Chương 3: Tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng
và Nhà nước tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây
Một số kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngôn ngữ dân tộc là vấn đề nhạy cảm , phức tạp trong công tác hoạch định và thực thi chính sách của mỗi nhà nước Nó có khả năng tác động đến sự an - nguy của chế độ Trong một đất nước đa dân tộc, giải quyết tốt vấn đề ngôn ngữ dân tộc sẽ góp phần giúp nhà nước điều hoà được các mâu thuẫn xã hội, duy trì được sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước
Để tham mưu cho Đảng và Nhà nước đưa ra những hiệu chỉnh cần thiết, kịp thời trong giải quyết những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ dân tộc, việc khảo sát , đánh giá công tác thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc trong những năm qua là rất quan trọng Đây là nhiệm vụ không chỉ của các cơ quan chính quyền, mà còn của các nhà khoa học chuyên nghiên cứu vấn đề này
Việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trên phạm vi cả nước là một công việc to lớn, phức tạp và công phu, đòi hỏi những người khảo sát, nghiên cứu phải tiến hành khối lượng công việc khổng lồ trải dọc theo chiều dài đất nước Trong những năm qua, đã có một số cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học tiến hành phân tích, đánh giá chung về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, do mỗi vùng có cảnh huống ngôn ngữ riêng , nên cùng một chính sách ngôn ngữ dân tộc nhưng lại phát huy và có những tác động, ảnh hưởng khác nhau Vì vậy, việc đánh giá phân tích quá trình thực thi chính sách ngôn ngữ tại những vùng cụ thể, xuất phát từ khía cạnh ngôn ngữ học xã hội, còn nhiều bỏ ngỏ Trong khi đó, Tây Bắc là một vùng có
Trang 6cảnh huống ngôn ngữ phức tạp Công tác thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc ở đây trong những năm gần đây mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập, dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp khác làm ảnh hưởng tới công tác đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn Đây chính
là lý do tôi chọn đề tài luận văn “Khảo sát tình hình thực thi chính sách
ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là thông qua việc khảo sát tình hình
thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây, nhằm góp phần tham mưu cho Đảng và Nhà nước mà cụ thể là các nhà hoạch định chính sách có được cái nhìn toàn diện về việc này và đưa ra những hiệu chỉnh về chính sách ngôn ngữ dân tộc phù hợp hơn trong thời gian tới
Từ mục đích trên luận văn có nhiệm vụ như sau:
- Hệ thống hóa những lí luận cơ sở về chính sách ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam liên quan đến luận văn
- Giới thiệu, phân tích cảnh huống ngôn ngữ ở vùng Tây Bắc
- Khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện và chính sách ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây
- Từ kết luận về tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại Tây Bắc, đề xuất kiến nghị, giải pháp trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu, đánh giá việc thực thi những chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây, gồm địa bàn 12 tỉnh như Yên Bái, Lào
Trang 7Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hoà Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng và các huyện phía Tây của 2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An - một trong những vùng có tình hình an ninh dân tộc tương đối phức tạp
Tuy nhiên, do địa bàn rất rộng nên luận văn này chỉ khảo sát điểm, tức là khảo sát trường hợp ở một số địa bàn nhất định trong vùng
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội như điền dã, phỏng vấn, nghiên cứu trường hợp…, phương pháp diễn dịch, quy nạp và các thủ pháp xử lí tư liệu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung cho lý luận ngôn ngữ học xã hội nói riêng và cho ngôn ngữ học nói chung trong việc nghiên cứu, đánh giá, đề xuất giải pháp cho các vấn đề thực tiễn liên quan đến hoạch định chính sách xã hội
Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần nghiên cứu, khảo sát, đánh giá
và đề xuất các kiến nghị nhằm giải quyết tốt vấn đề ngôn ngữ dân tộc cho Đảng và Nhà nước tại vùng chiến lược Tây Bắc
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
3 chương:
Chương I - Cơ sở lý thuyết: trình bày một số khái niệm cơ bản về
chính sách ngôn ngữ làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài Đồng thời, giới thiệu một số mô hình chính sách ngôn ngữ dân tộc của một vài quốc gia trên thế giới Ngoài ra, chương này cũng dành một phần đáng kể nhằm giới
Trang 8thiệu các văn bản trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời gian gần đây
Chương II - Cảnh huống ngôn ngữ ở vùng Tây Bắc: trên cơ sở
lý thuyết cảnh huống ngôn ngữ, chương này tập trung giới thiệu những nét cơ bản về cảnh huống ngôn ngữ ở vùng Tây Bắc (gồm lượng, chất
và thái độ ngôn ngữ) Trong đó chú trọng tới sự thay đổi cảnh huống ngôn ngữ ở vùng Tây Bắc trong những năm gần đây Để có những nhận xét, đánh giá cụ thể hơn về cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc, luận văn tiến hành khảo sát cụ thể cảnh huống ngôn ngữ ở Sơn La - tỉnh có cảnh huống ngôn ngữ điển hình trong vùng này
Chương III - Tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước ta tại vùng chiến lược Tây Bắc trong những năm gần đây: khảo sát tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại tỉnh
Sơn La, kết hợp với những số liệu về thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc vùng Tây Bắc để đưa ra đánh giá, kết luận về những thành tựu đã đạt được, tồn tại, bất cập cũng như phân tích nguyên nhân của những tồn tại, bất cập đó trong thực thi các chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước tại vùng này Kết hợp với xu thế thay đổi cảnh huống ngôn ngữ , luận văn đưa ra những kiến nghị , đề xuất, giải pháp với Đảng và Nhà nước nhằm giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ dân tộc, đảm bảo thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy bản sắ c văn hóa dân tộc kết hợp với đảm bảo an ninh quốc gia , giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại vùng chiến lược Tây Bắc trong thời kỳ công nghiệp hóa , hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
Trang 9NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1 Một số cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1.1 Khái niệm “chính sách”
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ; bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường
1.1.2 Khái niệm chính sách ngôn ngữ
CSNN là chủ trương chính trị và các biện pháp thực hiện chủ trương đó về ngôn ngữ của nhà nước hoặc các tổ chức chính trị trong phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia
1.1.3 Khái niệm chính sách ngôn ngữ dân tộc
CSNNDT là chủ trương chính trị và các biện pháp thực hiện chủ trương đó về ngôn ngữ các dân tộc của nhà nước hoặc các tổ chức chính trị trong phạm vi q.gia hoặc xuyên q.gia
1.2 Kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của một số quốc gia trên thế giới
1.2.1 Xu thế chung
Hội nhập về kinh tế nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc ; ủng hộ
đa dạng ngôn ngữ trên cơ sở có một ngôn ngữ quốc gia
1.2.2 Giới thiệu kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của một số nước trên thế giới có cảnh huống ngôn ngữ tương tự Việt Nam: Australia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc
Trang 101.3 Giới thiệu các văn bản trực tiếp và gián tiếp liên quan đến chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước thời gian gần đây
Từ việc nắm được các lớp khái niệm liên quan đến chính sách ngôn ngữ dân tộc, giúp hiểu rõ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về ngôn ngữ dân tộc trong thời gian qua Những kiến thức cơ bản đó giúp đưa ra định hướng đúng đắn và cơ sở đánh giá khoa học khi tiến hành khảo sát tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước tại những vùng cụ thể
Phải nói rằng, không có chính sách ngôn ngữ chung cho mọi dân tộc, bởi vì mỗi ngôn ngữ tồn tại trong một cảnh huống khác nhau Tuy nhiên, nhờ nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia, dân tộc có cảnh huống ngôn ngữ tương tự với nước ta, chúng ta có thể rút ra được những bài học quý báu để áp dụng vào giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ dân tộc trong nước Thông qua tìm hiểu chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua, cũng như kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của các nước trên thế giới, có thể nói rằng, quan điểm, chủ trương, chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay hoàn toàn phù hợp với xu thế hiện đại là tôn trọng quyền bình đẳng về ngôn ngữ của mọi dân tộc trên cơ sở chỉ có một ngôn ngữ quốc gia Điều này giúp điều hòa tốt các mối quan hệ xã hội trong một quốc gia đa dân tộc trong khi vẫn giữ được sự thống nhất về mọi mặt của đời sống trong nước, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, tạo tiền đề tốt cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vì sự thịnh vượng chung của đất nước và cộng đồng quốc tế
Trang 11Chương 2: Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.1 Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ
Cảnh huống ngôn ngữ được hiểu là toàn bộ các ngôn ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có các quan hệ tương
hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với nhau về mặt chức năng trong phạm vi một vùng địa lí hoặc một thể thống nhất về chính trị - hành chính nhất định
2.2 Giới thiệu cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
Theo quan điểm hiện nay của Đảng và Nhà nước, vùng Tây Bắc gồm 12 tỉnh miền núi, trung du phía Bắc: Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hoà Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng và các huyện phía Tây của 2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An Tây Bắc có hai tuyến biên giới: Việt - Trung dài 1.460km, Việt - Lào dài 1.221km Địa hình có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180km, rộng 30km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2.800m đến 3.000m Dãy núi Sông Mã dài 500km, có những đỉnh cao trên 1.800m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà) Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã Trong địa máng sông Đà có một dãy cao nguyên đá vôi chạy từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Thanh Hóa , và chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình , Mộc Châu, Nà Sản Tây Bắc có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh
Tây Bắc có khoảng hơn 30 dân tộc anh em cùng chung sống , tương đương với khoảng trên 30 ngôn ngữ khác nhau Trong đó, phổ biến nhất vẫn là ngôn ngữ của dân tộc Kinh - tiếng Việt với 37% dân số Số
Trang 12còn lại, tuy chiếm 63% là người dân tộc thiểu số, nhưng tiếng Việt là ngôn ngữ mang tính quốc gia nên người dân ở vùng này giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng Việt Thậm chí, có rất nhiều người dân tộc thiểu
số không nói được tiếng dân tộc mình , mà chỉ biết nói tiếng Việt Tuy vậy, cơ cấu dân số dân tộc cũng nói lên tỷ lệ người nói tiếng dân tộc trong cộng đồng Tây Bắc Cũng theo số liệu của Cục An ninh Tây Bắc, tại vùng Tây Bắc, đứng sau tiếng Việt (với khoảng 4.253 triệu người sử dụng) là tiếng Tày (với 1.477.514 người); kế đến là tiếng Thái (1.328.725 người); tiếng Mường (1.137.515 người); tiếng Mông (875.604 người); tiếng Nùng (856.412 người); tiếng Dao (620.538 người)…
Tây Bắc là vùng có địa hình nhiều đồi núi hiểm trở, giao thông
đi lại còn nhiều khó khăn, nền kinh tế còn kém phát triển Chênh lệch giữa các vùng tập trung đông dân cư và các vùng hẻo lánh là khá lớn , cả
về kinh tế và trình độ dân trí Đặc biệt, tại nhiều vùng sâu, vùng xa, trình
độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp nên việc nắm và sử dụng tiếng Việt còn yếu dẫn đến tiếng Việt vẫn chưa thông dụng
Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc là đa ngữ, đan xen, phân tán
2.3 Cảnh huống ngôn ngữ tỉnh Sơn La
Tại địa bàn Sơn La cư dân thiểu số đông nhất là người Thái, do đó, tiếng Thái là ngôn ngữ thiểu số có vai trò khá quan trọng trong vùng
và trở thành công cụ giao tiếp chung cho nhiều dân tộc thiểu số khác, sau tiếng phổ thông (tiếng Việt) Tiếng Thái ở địa bàn này còn là ngôn ngữ của một dân tộc có nền văn hóa rất phát triển Họ đã có chữ viết cổ truyền từ xa xưa theo lối ghi âm Điều đặc biệt là chữ Thái cổ đã được dùng để ghi chép lịch sử cũng như nền văn học dân gian rất phong phú của người Thái Có thể nói, ở địa bàn dân tộc miền núi Sơn La, tiếng
Trang 13Thái đã được hỗ trợ bằng một thứ văn tự cổ ghi âm có truyền thông văn hóa rất lâu đời Khi xem xét tình trạng giáo dục ngôn ngữ nơi đây, chúng ta không thể không tính đến cảnh huống ngôn ngữ khá đặc biệt nói trên ở vùng lãnh thổ này
Ngoài hai đặc điểm ngôn ngữ vừa trình bày, ở địa bàn dân tộc miền núi Sơn La còn có một đặc điểm nữa đó là tình trạng có nhiều ngôn ngữ thuộc các tộc người có số người nói quá ít ỏi (Tày, Lào, Hoa, Kháng) Ngoài tiếng Thái về cơ bản là ngôn ngữ được hầu hết các dân tộc chấp nhận như một ngôn ngữ phổ thông vùng ra, ở những địa bàn hẹp hơn như Bắc Yên, tiếng Mông có vai trò là ngôn ngữ vùng rõ hơn
Như vậy, qua những gì đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng, cảnh huống ngôn ngữ của tỉnh Sơn La là tương đối điển hình tại vùng Tây Bắc Hay nói cách khác, cảnh huống ngôn ngữ của tỉnh Sơn La là cảnh huống ngôn ngữ của vùng Tây Bắc thu nhỏ với những nét điển hình là: địa bàn đa ngữ, các dân tộc sống đan xen trên một địa bàn rộng lớn với mật độ dân số thấp nên khá phân tán Bên cạnh một số ngôn ngữ có đông người sử dụng như tiếng Mông, tiếng Tày, tiếng Thái, còn nhiều ngôn ngữ có lượng người nói rất ít, đang đứng trước nguy cơ biến mất như tiếng Kháng, Ơ Đu, Tại nhiều vùng dân tộc thiểu số, người dân nói tiếng phổ thông còn rất yếu, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, biên giới Do đó, trình độ dân trí nơi đây còn hạn chế, việc thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước ở nơi đây gặp nhiều khó khăn, bất cập
Như vậy, có thể thấy rằng, cảnh huống ngôn ngữ của tỉnh Sơn
La là điển hình tại vùng Tây Bắc Hay nói cách khác, cảnh huống ngôn
ngữ của tỉnh Sơn La là cảnh huống ngôn ngữ của vùng Tây Bắc thu nhỏ