Sở dĩ có điều này là bởi lẽ lời xin lỗi có những đặc tính tự quy chiếu self-referential tức là động từ trong câu quy chiếu đến điều mà người nói đang thực hiện, tự xác nhận self-verifyin
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI, 2006
Trang 21
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Mục đích và nội dung của luận văn 4
4 Tư liệu và phương pháp phân tích 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1 Xin lỗi với tư cách là một hành động ngôn từ 8
1.1.1 Lí thuyết hành động ngôn từ 8
1.1.2 Hành động ngôn từ xin lỗi 18
1.2 Hành động xin lỗi trong cấu trúc đoạn thoại 34
1.2.1 Cấu trúc hội thoại 34
1.2.2 Hành động xin lỗi đặt trong cấu trúc đoạn thoại 38
1.3 Hành động xin lỗi và thể diện 43
1.3.1 Thể diện và hành động đe doạ thể diện 43
1.3.2 Hành động xin lỗi và thể diện 46
1.4 Tiểu kết 50
CHƯƠNG 2: CÁC CÁCH THỨC THỰC HIỆN HÀNH ĐỘNG XIN LỖI TRONG TIẾNG VIỆT 52
2.1 Tình hình nghiên cứu các cách thức thực hiện hành động xin lỗi 52
2.1.1 Ở nước ngoài 52
2.1.2 Ở Việt Nam 55
2.2 Các cách thức thực hiện hành động xin lỗi trong tiếng Việt 58
2.2.1 Xin lỗi trực tiếp 58
2.2.2 Xin lỗi gián tiếp 70
2.3 Tiểu kết 96
CHƯƠNG 3: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HIỆN THỰC HOÁ HÀNH ĐỘNG XIN LỖI 98
3.1 Các nghiên cứu đi trước 98
3.2 Giới tính và hành động xin lỗi 99
Trang 32
3.2.1 Sự phân bố giới tính của người xin lỗi và người nhận 99
3.2.2 Giới tính người xin lỗi và việc hiện thực hoá hành động xin lỗi 101
3.3 Mức độ tương thân và hành động xin lỗi 104
3.3.1 Sự phân bố hành động xin lỗi trong các quan hệ tương thân 104
3.3.2 Mức độ tương thân và việc hiện thực hoá hành động xin lỗi 107
3.4 Quyền lực và hành động xin lỗi 109
3.4.1 Sự phân bố hành động xin lỗi trong các quan hệ tương thân 110
3.4.2 Quyền lực và việc hiện thực hoá hành động xin lỗi 112
3.5 Mức độ lỗi lầm và hành động xin lỗi 114
3.6 Tiểu kết 118
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 128
Trang 4là chúng ta đang thực hiện một hành động, chẳng hạn như: thông báo, chào, cảm ơn, xin lỗi, đề nghị Từ đó, một hướng nghiên cứu mới được mở ra, tập
trung vào việc phân tích những loại hành động ngôn từ cụ thể
Nằm trong số đó, hành động xin lỗi cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Sở dĩ có điều này là vì trong thực tế dụng ngôn, xin lỗi là một hành động ngôn từ khá thông dụng và quan trọng Nó thông dụng vì
nó tiềm tàng khả năng xuất hiện trong nhiều tình huống giao tiếp Dường như trong bất cứ một nền văn hoá nào thì xin lỗi cũng được xem như là những
phát ngôn cửa miệng, mang tính chất nghi thức cao Nó quan trọng ở chính
chức năng sửa chữa của nó Xã hội luôn hướng đến một thế cục tích cực và hợp tác mà lời xin lỗi là một trong những phương tiện hữu hiệu để biểu thị mong muốn khôi phục sự hài hoà trong xã hội Về phương diện lí thuyết, xin lỗi, ngay từ thời kì ngữ dụng học sơ khai, đã được xem là một trong những ví
dụ kinh điển của hành động ngôn từ Sở dĩ có điều này là bởi lẽ lời xin lỗi có
những đặc tính tự quy chiếu (self-referential) tức là động từ trong câu quy chiếu đến điều mà người nói đang thực hiện, tự xác nhận (self-verifying) tức
là chúng chứa đựng những điều kiện chân thực của riêng mình và bất khả nguỵ (non-falsifiable) tức là chúng không bao giờ nhận giá trị sai theo các
điều kiện mệnh đề logic
Trang 54
Ở Việt Nam, đã có một số tác giả tìm hiểu về hành động xin lỗi (Phạm Thị Thành 1996, Nguyễn Văn Lập 2005) Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ hạn định trong khuôn khổ của nghi thức lời nói và còn tương đối sơ lược
Do vậy, những nghiên cứu sâu hơn là điều cần thiết nhằm tìm hiểu những đặc điểm mang tính chất phổ quát đồng thời cũng thấy rõ những nét đặc trưng riêng của hành động xin lỗi trong một ngôn ngữ cụ thể Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài "Hành động xin lỗi: một nghiên cứu về dụng học - văn hoá" cho luận văn này
2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các phát ngôn có chứa hành động ngôn từ xin lỗi trong tiếng Việt Để nhận diện và phân tích các phát ngôn này một cách hiệu quả nhất, chúng tôi không xem xét lời xin lỗi như là một phát ngôn riêng lẻ mà đặt nó trong một khuôn khổ lớn hơn, đó là đoạn thoại Từ đoạn thoại chứa những yếu tố cần viện đến lời xin lỗi, ta sẽ thấy rõ hơn tình huống và những vận động hội thoại để đi đến hành động xin lỗi đồng thời cũng thấy rõ phản ứng của người bị phạm lỗi thông qua lời hồi đáp Hành động xin lỗi nghiên cứu ở đây thuộc cả hai dạng thức là trực tiếp và gián tiếp
3 MỤC ĐÍCH VÀ NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Mục đích của luận văn là phân tích các đặc điểm của hành động ngôn
từ xin lỗi trong tiếng Việt dưới góc độ dụng học- văn hoá Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung vào giải quyết ba nội dung cơ bản như sau:
a Tìm hiểu bản chất của hành động xin lỗi trên cơ sở các lí thuyết hành động ngôn từ, lịch sự và hội thoại
b Tìm hiểu các cách thức thực hiện hành động ngôn từ xin lỗi trong tiếng Việt
c Tìm hiểu tác động của các nhân tố giới tính, quyền lực, mức tương thân và mức độ lỗi lầm ảnh hưởng đến việc hiện thực hoá hành động xin lỗi như thế nào
Trang 6từ ba nguồn sau:
- Nguồn thứ nhất là tư liệu giao tiếp thực tế được thu thập trong
khuôn khổ của công trình Ngôn ngữ giao tiếp giữa người lớn – trẻ em ở Hoài Thị (Đề tài của Viện Ngôn ngữ học hợp tác với
Đại học Toronto, Canada 2000 – 2002)
- Nguồn thứ hai là những đoạn thoại xin lỗi trong một số bộ
phim của Việt Nam được phát sóng trên Truyền hình Việt Nam VTV từ tháng 4/2005 đến tháng 5/2006
- Nguồn thứ ba là một số tác phẩm văn học của Việt Nam trong
thế kỉ XX
(Danh sách phim truyện và tác phẩm văn học được dùng làm tư liệu trong luận văn được thống kê trong phần Phụ lục 1)
4.2 Phương pháp phân tích
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp phân tích sau:
1 Phương pháp phân tích định tính: được sử dụng để phân loại và mô
tả tư liệu đã thu thập được Cụ thể, chúng tôi thực hiện thao tác so sánh các ngữ cảnh thu thập được, từ đó tách chúng thành hai siêu
chiến lược xin lỗi trực tiếp và xin lỗi gián tiếp Trong hai siêu chiến
Trang 76
lược này, chúng tôi phân chia nhỏ chúng thành các chiến lược xin lỗi cụ thể
2 Phương pháp phân tích định lượng: được sử dụng để phân tích
thống kê tư liệu thu thập được sau khi đã được mã hoá nhờ sự hỗ trợ của phần mềm SPSS (Về bảng mã, xin xem phần Phụ lục 2)
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
có được một góc nhìn toàn diện về hành động ngôn từ này Đây là điều mà hầu hết các nghiên cứu về hành động xin lỗi chưa chú ý tới
5.2 Về mặt thực tiễn
Xin lỗi, cùng với những hành động như chào, cảm ơn… là những chiếc
chìa khoá đầu tiên để người học thâm nhập vào một ngoại ngữ mới Bất kì một người học ngoại ngữ nào cũng cần thiết phải quan tâm ngay đến nó Cho nên, hầu như các giáo trình dạy tiếng đều đặt hành động xin lỗi ngay trong những bài học đầu tiên Song, cái hành động ngôn từ tưởng chừng đơn giản này lại có muôn hình vạn trạng các cách hiện thực hoá, hàm chứa trong đó rất nhiều những nhân tố dụng học và văn hoá, đòi hỏi cả người dạy và người học phải lưu tâm nếu không muốn vấp phải những cú sốc văn hoá Do vậy, việc hiểu rõ bản chất, chức năng, các cách thức thực hiện cũng như các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến hành động này là một điều cần thiết vì nó sẽ hỗ trợ hiệu quả và thiết thực cho việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ
Trang 87
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết Chương này có nội dung tìm hiểu bản chất
của hành động ngôn từ xin lỗi thông qua các lí thuyết: Lí thuyết hành động ngôn từ, lí thuyết lịch sự và lí thuyết hội thoại
Chương 2: Các cách thức thực hiện hành động xin lỗi trong tiếng Việt
Chương này có nội dung là phân loại và mô tả các cách thức thực hiện của hành động xin lỗi trong tiếng Việt trên cơ sở tư liệu thu thập được
Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hiện thực hoá hành động xin lỗi Chương này có nội dung là phân tích sự tác động của bốn nhân tố
giới tính, quyền lực, mức tương thân và mức độ lỗi lầm đến việc hiện thực hoá hành động xin lỗi
Trang 91.1 XIN LỖI VỚI TƢ CÁCH LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ 1.1.1 Lí thuyết hành động ngôn từ
Lí thuyết hành động ngôn từ được khởi nguồn từ nhà triết học và ngôn ngữ học người Mĩ Austin Sau đó, nó được tiếp thu và phát triển ở rất nhiều các nhà nghiên cứu sau này và trở thành một trong những lí thuyết cơ bản nhất của chuyên ngành ngữ dụng học
Hoa hậu Việt Nam đẹp nhất thế giới
hoặc:
Monet là hoạ sĩ tài năng hơn Manet (ví dụ của Lyons)
Có thể thấy ngay là không thể áp dụng những tiêu chuẩn chân nguỵ của
logic cho những phát ngôn kiểu này Chúng là những phát ngôn giả phán đoán, tức là phản ánh những cảm nhận, quan điểm của người nói về hiện thực
Trang 10Tôi hứa sẽ thi đấu trung thực
thì rõ ràng, ta không phải đang nói một điều gì đó có thể đúng sai so với hiện thực mà chính là ta đang thực hiện một hành động nhất định, ở đây là hành
động xin lỗi hoặc hành động hứa
Từ những xuất phát điểm trên, Austin đã đưa ra một sự phân biệt giữa
phát ngôn tường thuật (constative) và phát ngôn ngôn hành (performative),
theo đó, phát ngôn tường thuật là phát ngôn nêu nhận định, còn phát ngôn ngôn hành là phát ngôn mà khi nói ra chúng cũng chính là ta đang thực hiện một hành động nhất định
Những chuyên đề sau này, Austin lại tiến hành phân biệt giữa phát ngôn ngôn hành tường minh và phát ngôn ngôn hành nguyên cấp Từ đây, sự
phân biệt giữa phát ngôn tường thuật và phát ngôn ngôn hành không còn nữa Theo Austin, tất cả các phát ngôn mà người ta nói ra đều là ngôn hành Có điều, chúng hàm ẩn hay được tường minh hoá ra mà thôi
Austin xác định ba cấp độ hành động nằm trong bản thân hành động phát ngôn Nói khác đi, đằng sau một lời nói cụ thể là ba hành động nằm
trong một hành động Ba hành động đó lần lượt là: Hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn Hành động tạo ngôn là hành động
sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết cấu để tạo nên một phát ngôn hoàn chỉnh Hành động ngôn trung là những hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói năng Hành động xuyên ngôn là hành động gây nên những hiệu quả tâm lí nào đó đối với người nghe
Ngôn ngữ học, nhất là ngữ dụng học rất quan tâm đến hành động ngôn trung Hành động ngôn trung là cái lõi của hành động ngôn từ Do vậy, ngày
Trang 1110
nay, theo Thomas (1995:51), thuật ngữ hành động ngôn trung cũng được dùng
để chỉ hành động ngôn từ Lí thuyết về hành động ngôn từ được xem là một đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng giao tiếp
Phát triển quan điểm của Austin, Searle (1969) cho rằng khi chúng ta
nói, chúng ta đang thể hiện những hành động ngôn từ như: nhận định, ra lệnh, hỏi, hứa hẹn Tác giả cũng cho rằng những hành động ngôn từ này được biểu
hiện là do sự tương hợp với những quy tắc nhất định cho việc sử dụng các thành tố ngôn ngữ (1969:16) Theo tác giả, mục đích của cuộc giao tiếp là để truyền tin đến người nghe bằng cách làm cho người nghe nhận thấy được ý định của người nói Người nói sau đó phải đạt tới được những hiệu quả có chủ
ý đến người nghe bằng cách cho phép người nghe nhận ra ý định là muốn đạt đến cái hiệu quả ấy Khi mà người nghe nhận ra được ý định của người nói muốn đạt tới một hiệu quả nào đó thì tức là giao tiếp diễn ra thông suốt
Những nghiên cứu có tính chất khai sáng của Austin và Searle về lí thuyết hành động ngôn từ thực sự là những bước tiến quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học Nó giúp ta hiểu được bản chất hành động của ngôn ngữ Nói cách khác, với lí thuyết này, nói cũng được xem là một hành động với phương tiện để thực hiện là ngôn ngữ Lí thuyết này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tiếp thu và phát triển (Ducrot 1972; Bach và Harnish 1979; Brown
và Levinson 1987; Wierzbicka 1987; Thomas 1995; Yule 1996…) Song hành với quá trình nghiên cứu về bản chất của hành động ngôn từ, nhiều nhà ngôn ngữ cũng triển khai việc nghiên cứu những hành động ngôn từ cụ thể, trong
đó có hành động xin lỗi
Ở Việt Nam, lí thuyết hành động ngôn từ bắt đầu được giới thiệu từ cuối những năm 1980 và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi với một số tác phẩm của Đỗ Hữu Châu (1995, 2002); Nguyễn Đức Dân (1998); Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Thị Kim Liên (2005)… Dưới ánh sáng của lí thuyết này, một số các hành động ngôn từ cụ thể trong tiếng Việt cũng đã được
Trang 1211
nghiên cứu như: lời khen và tiếp nhận lời khen (Nguyễn Quang 1998); thỉnh cầu (Nguyễn Văn Độ 1999), cầu khiến (Vũ Thị Thanh Hương 2000; Chu Thị Thuỷ An 2002); từ chối (Nguyễn Phương Chi 2004; Trần Chi Mai 2005)… đã góp phần áp dụng lí thuyết này trong bối cảnh một ngôn ngữ cụ thể là tiếng Việt
1.1.1.2 Điều kiện sử dụng của các hành động ngôn từ
Các hành động ngôn từ không thể được thực hiện một cách tuỳ tiện mà phải hội tụ đủ một tập hợp những điều kiện sử dụng làm cơ sở cho việc hiện thực hoá chúng Việc tìm hiểu điều kiện sử dụng của hành động ngôn từ là một công việc rất quan trọng vì nó giúp ích cho việc khám phá bản chất cũng như cơ chế vận hành chúng Song bên cạnh đó, công việc này cũng không hề đơn giản vì sự đa dạng của thực tế dụng ngôn Nhận thức được điều này, ngay
từ thời kì đầu, các nhà ngữ dụng học đã xem việc tìm hiểu điều kiện sử dụng
là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu về hành động ngôn từ
Theo Đỗ Hữu Châu (2002:111), đây là “những điều kiện mà một hành động ngôn từ phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” Thực chất của việc nghiên cứu điều kiện sử dụng là tìm hiểu
cơ chế vận hành của một hành động ngôn từ Theo Austin (1965:14-5), một hành động ngôn từ muốn thành công thì phải thoả mãn điều kiện may mắn
Những điều kiện may mắn đó được xác định như sau:
(A.1) Phải có thủ tục quy ước và thủ tục này phải có một hiệu quả quy ước, tức là bao gồm việc phát ra một số từ nào đó, bởi một số người nào đó trong những cảnh huống nào đó, và hơn nữa,
(A.2) Hoàn cảnh và con người cụ thể trong trường hợp đã cho phải phù hợp với những thủ tục cụ thể được đưa ra
(B.1) Thủ tục này phải được tất cả những người tham gia thực thi chuẩn xác và
Trang 13có trước”, chẳng hạn các quy tắc về tính lễ độ điều chỉnh các quan hệ liên nhân dù rằng những quan hệ liên nhân này tồn tại từ khi chưa có các quy tắc
lễ độ Từ sự phân biệt này, tác giả cho rằng để có thể thành công được, các hành động ngôn từ cũng phải tuân thủ một bộ các quy tắc cấu thành Ý định của Searle là muốn phân tích nhằm tiến tới việc xác lập một cơ chế vận hành
có tính ổn định cho các hành động ngôn từ này thông qua những quy tắc cấu thành nhất định Những quy tắc cấu thành này “tạo ra (và cũng có tác dụng điều chỉnh) một hoạt động mà sự tồn tại của nó phụ thuộc một cách logic vào các quy tắc đó” (1969:617) Bằng cách phân tích hành động hứa hẹn (promising), Searle đã đề xuất bốn điều kiện sử dụng cho một hành động
ngôn từ bao gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản Về nguyên tắc, đây là những điều kiện cần
và đủ để có thể áp dụng cho bất kì một hành động ngôn từ nào Nội dung cụ thể của bốn điều kiện sử dụng đó như sau:
a Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành
động Đó có thể là một mệnh đề đơn giản (trong các hành động khảo nghiệm, miêu tả), một hàm mệnh đề (như các câu hỏi có/không?) Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của
Trang 1413
người nói (như hứa hẹn), có thể là một hành động của người nghe (như ra lệnh)
b Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người nói về
năng lực lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe Chẳng hạn khi ra lệnh, người nói phải tin rằng người nghe có khả năng thực hiện lệnh đó, đồng thời cũng phải nắm bắt rõ tương quan vị thế xã hội giữa hai người
c Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của
người nói Chẳng hạn, ra lệnh đòi hỏi lòng mong muốn của chủ thể
d Điều kiện căn bản: là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà
người nói hoặc người nghe bị ràng buộc vào khi hành động được phát ra
Hệ điều kiện sử dụng hành động ngôn trung của Searle có giá trị cao vì
nó đã khái quát hoá những điều kiện thiết yếu để một hành động ngôn từ có thể diễn ra Đề xuất các quy tắc này là hữu ích cho việc định hướng tương tác,
là cơ sở cho việc thực thi các nguyên tắc hội thoại nhằm dẫn tới những kết cục thành công trong các giao tiếp thực tế Tuy vậy, thực tế tương tác lại rất
đa dạng và phức tạp, cho nên, theo Thomas (1995), việc áp dụng chúng đối
với những hành động ngôn từ cụ thể đã gặp phải những lỗ hổng (gap) Những
quy tắc này dường như là tĩnh so với cái thực tế sống động của diễn ngôn Đương nhiên, mọi quy tắc dường như là không thể bao quát được tất cả các trường hợp như chính Searle cũng từng thừa nhận khi tiến hành phân tích
hành động hứa hẹn (promising): “khái niệm hứa hẹn, cũng giống như hầu hết
các khái niệm trong ngôn ngữ thông thường, đều không có những quy tắc tuyệt đối nghiêm ngặt” (1969:623)
1.1.1.3 Phân loại các hành động ngôn từ
Trang 1514
Các hành động ngôn từ không phải tách rời nhau mà giữa chúng có những mối dây liên hệ nhất định Việc tìm hiểu sự ràng buộc lẫn nhau giữa các hành động này được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Austin (1965), Vendler (1972), Searle (1975), Bach và Harnish (1979), Allan (1986) đã quy chúng vào những phạm trù nhất định
a Hướng phân loại của Austin
Trên cơ sở các động từ ngôn hành trong tiếng Anh, Austin đã tiến hành phân loại các hành động ngôn từ thành năm phạm trù như sau:
- Phán xử (verditives) gồm có xử trắng án, tính toán, miêu tả, phân tích, trù định Đây là những hành động đưa ra những lời phán xét về một sự
kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào những lí lẽ vững chắc
- Hành xử (exercitives) gồm có ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu, đặt hàng, giới thiệu, van xin, khuyến cáo, bổ nhiệm, đặt tên, tuyên bố khai mạc, bế mạc, cảnh cáo, tuyên ngôn… Đây là những hành động
đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó
- Cam kết (commissives) gồm có hứa hẹn, bày tỏ mong muốn, giao ước, bảo đảm, thề nguyền Đây là những hành động ràng buộc người nói
vào chuỗi những hành động nhất định
- Trình bày (expositives) gồm có khẳng định, phủ định, chối, trả lời, phản bác, nhượng bộ Đây là những hành động được dùng để trình
bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ
- Ứng xử (behabitives) gồm có xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, ban phước, nguyền rủa Đây là những hành
động phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác
Trang 16phân tích nghĩa tường minh của 270 động từ nói năng (speech act verb), đã nhóm chúng lại thành 37 loại
b Hướng phân loại của Searle
Không đồng tình với hướng phân loại mà Austin đề xướng, Searle cho rằng trước hết phải phân loại các hành động ngôn trung chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng Việc phân loại này muốn thành công được thì trước hết phải định ra được bộ tiêu chí Searle đã đề xuất 12 điểm khác biệt giữa các hành động ngôn từ và sử dụng 4 điểm như là các tiêu chí để phân loại Đó là:
1 Đích ngôn trung (illocutionary point)
2 Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến (direction
of fit)
3 Trạng thái tâm lí được thể hiện (expressed psychological state)
4 Nội dung mệnh đề (propositional content)
Từ 4 tiêu chí này, tác giả phân loại thành 5 phạm trù như sau:
- Tái hiện (representatives): đích ngôn trung là việc miêu tả một sự tình
đang được nói đến Hướng khớp ghép là lời – hiện thực, trạng thái tâm
lí là niềm tin vào điều nói ra, nội dung mệnh đề là một mệnh đề p Ví
dụ: miêu tả, khẳng định, tường thuật, kết luận, suy diễn
- Điều khiển (directives): đích ngôn trung đặt người nghe vào trách
nhiệm phải thực hiện một hành động trong tương lai; hướng khớp ghép
là hiện thực – lời, trạng thái tâm lí là sự mong muốn của người nói rằng
Trang 1716
người nghe thực hiện hành động A, nội dung mệnh đề là hành động của
người nghe trong tương lai Ví dụ: ra lệnh, yêu cầu, hỏi, xin phép
- Cam kết (commissives): đích ngôn trung là trách nhiệm phải thực hiện
hành động tương lai mà người nói bị ràng buộc, hướng khớp ghép là hiện thực – lời, trạng thái tâm lí là ý định của người nói về việc thực hiện hành động A; nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người
nói Ví dụ: hứa hẹn, tặng, biếu
- Biểu cảm (expressives): đích ngôn trung là bày tỏ thái độ của người nói
trước một sự tình cụ thể nào đó Trạng thái tâm lí thay đổi tuỳ theo hành động, nội dung mệnh đề là một hành động hay một tính chất nào
đó của người nói hay người nghe, không có hướng khớp ghép Ví dụ:
chào, cám ơn, xin lỗi, chia buồn, chúc mừng
- Tuyên bố (declarations): đích ngôn trung là nhằm thực thi nội dung của
hành động, hướng khớp ghép là cả là lời – hiện thực lẫn hiện thực – lời, nội dung mệnh đề là một mệnh đề, không có trạng thái tâm lí Ví dụ:
tuyên bố, buộc tội
1.1.1.4 Hành động ngôn từ gián tiếp
Không phải một phát ngôn chỉ có duy nhất một lực ngôn trung Các tương tác thực tế luôn rất phức tạp Người ta có thể nói một đằng song nghĩ một nẻo, hoặc giả người ta có thể thuyết giải không chuẩn xác ý định của người nói dẫn đến những hiểu lầm Cho nên, trong thực tế giao tiếp, đại bộ phận các phát ngôn được xem như là đồng thời có thể tiềm tàng thực hiện một
số hành động Hành động ngôn từ gián tiếp là hành động có hình thức là một hành động ngôn từ loại này nhưng lại có đích ngôn trung của một hành động
khác Nói khác đi, đó là vấn đề của điều nói ra (what is said) và điều hàm nghĩa (what is meant) Hành động ngôn từ gián tiếp đã được Austin nói đến
và được Searle nghiên cứu kĩ Đó là một trong những phương thức tạo ra tính
mơ hồ về nghĩa trong lời nói
Trang 1817
Việc sử dụng và nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp là kết quả của một quá trình hai chiều: tạo lập và tiếp nhận Tạo lập là quá trình thuộc về người nói, là mong muốn, mục đích thực sự của họ khi thực hiện một hành động ngôn từ Tiếp nhận là quá trình thuộc về người nghe, là khả năng có thể thuyết giải được điều mình nghe được ở mức độ như thế nào Trong những nghiên cứu có tính chất khai sáng của mình, Austin và Searle dường như đã quá chú tâm đến ý định của người nói mà quên mất đi vai trò của người nghe
Vì giao tiếp là một quá trình hai chiều, trong đó mức độ tương tác giữa người nói và người nghe giữ một vai trò rất lớn trong cả quá trình này nên nếu chỉ quan tâm đến một chiều của người nói thì không thể tránh khỏi những cách nhìn phiến diện
Hành động ngôn từ gián tiếp phụ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh Chẳng
hạn, một cậu học sinh nói với thầy giáo: Em hứa với thầy từ lần sau em không
đi học muộn nữa là một lời hứa tường minh xong cũng được xem là một lời
xin lỗi gián tiếp trong ngữ cảnh người nói đã vi phạm một lỗi lầm về mặt thời gian và cậu ta đã nhận thức đồng thời mong muốn được khắc phục lỗi lầm đó của mình
Chính do sự phức tạp trong việc thuyết giải lực ngôn trung của phát ngôn nên muốn nhận biết được chính xác hành động ngôn từ gián tiếp thì phải nhận biết và hiểu đích ngôn trung của hành động trực tiếp Mặt khác, cần phải xét đến cơ chế vận hành của hành động gián tiếp, cụ thể là những điều kiện cần và đủ (các quy tắc) Nếu một phát ngôn thoả mãn đầy đủ tất cả các điều kiện đặt ra cho một hành động ngôn từ thì phải xem nó là sự thể hiện của hành động đó, dù rằng về hình thức bề mặt, nó thuộc về một kiểu hành động ngôn từ khác
Tính phức tạp và mơ hồ của hành động ngôn từ gián tiếp vừa là một gợi
mở nhưng đồng thời cũng là một thách thức không nhỏ đối với những người nghiên cứu về hành động ngôn từ
Trang 1918
1.1.2 Hành động ngôn từ xin lỗi
1.1.2.1 Các nghiên cứu đi trước về hành động ngôn từ xin lỗi
Các nhà ngữ dụng học thời kì đầu như Austin hay Searle, dù không tập trung phân tích lời xin lỗi, nhưng đã cố gắng sắp đặt hành động này vào những phạm trù nhất định trong bảng phân loại các hành động ngôn từ của
mình Xin lỗi được Austin (1962) xếp vào nhóm hành động ứng xử (behabitives) cùng với các hành động khác như chúc mừng, cảm ơn, chia buồn Đó được xem là các hành vi mang tính xã hội, biểu thị những phản
ứng của chủ ngôn với các hành động và vận mệnh của người khác Còn Searle
(1975) lại xếp xin lỗi vào nhóm hành động mà tác giả gọi là bày tỏ
(expressives) Đây là hành động biểu thị thái độ tới người nghe trước một sự kiện mà người nói thừa nhận có phần liên quan, và chúng thường là nhằm để thoả mãn những chờ đợi mang tính xã hội nào đó
Các nghiên cứu chuyên sâu về hành động xin lỗi của các nhà ngôn ngữ sau đó đã tập trung chú ý nhiều hơn đến chức năng của hành động này Xin lỗi được Goffman (1971) xem như là một kiểu hoạt động sửa chữa, một thành
tố trong một cặp thoại sửa chữa (remedy exchange) Nó liên quan đến việc
phân chia bản thân người nói thành hai phần, đầu tiên là nhận thức rõ về việc xúc phạm người nhận; kế đó, người xin lỗi sẽ hướng mình đến người nhận và đến chuẩn mực bị vi phạm Tiếp thu tinh thần này, Holmes (1995:155) cho rằng: “xin lỗi là một hành động ngôn từ hướng tới những nhu cầu thể diện của
B và nhằm cứu vãn một lỗi lầm mà A có trách nhiệm trong đó, và do đó để khôi phục sự cân bằng giữa A và B”
Fraser (1981) cho rằng một lời xin lỗi phải thể hiện được hai mục đích Thứ nhất, nó truyền đạt sự thừa nhận những trách nhiệm của người xin lỗi về
sự việc xúc phạm, đồng thời, nó phải thể hiện sự hối tiếc của người xin lỗi về
sự việc đó Hai mục đích này phải song hành với nhau, thiếu đi một mục đích,
đó sẽ không phải là lời xin lỗi nữa
Trang 20đi kèm với điều đó là sự tự hạ thấp mình
Olshtain và Cohen (1983) nhận định rằng xin lỗi là một hành động ngôn từ được đưa ra khi các chuẩn mực xã hội đã bị vi phạm Sự vi phạm chuẩn mực đó có thể là hiện thực hay tiềm tàng Blum-Kulka và Olshtain
(1984) nhấn mạnh rằng xin lỗi là một hành động hậu sự kiện (post-event -
theo thuật ngữ của Leech) nghĩa là nó biểu hiện rằng một kiểu sự kiện nào đó
đã diễn ra hoặc đã nằm trong dự liệu của người nói Mặt khác, người nói nhận
ra rằng đã có một sự xâm phạm vào chuẩn mực xã hội và người nói ít nhiều liên đới đến nguyên nhân của nó
Trosborg (1987) đặt hành động xin lỗi trong một cặp thoại gọi là than phiền – xin lỗi Trong cặp thoại này, có ba vai liên quan là người than phiền (Complainer), người bị than phiền (Complainee) hoặc người xin lỗi (Apologiser) và sự kiện than phiền (Complainable - tức là lỗi lầm được nói
đến) Trosborg phân biệt rõ ràng việc giữa người bị than phiền và người xin
lỗi Nếu trong tình huống than phiền – xin lỗi, chủ thể không nhận thức được trách nhiệm và không cất lời xin lỗi, họ được xem là người bị than phiền
Ngược lại, nếu chủ thể nhận thức được trách nhiệm và cất lời xin lỗi, họ sẽ là
người xin lỗi Theo Trosborg, khi nhận một lời than phiền, chủ thể cảm thấy
rằng năng lực xã hội của mình bị thách thức Do vậy, lời hồi đáp của họ nhắm đến hai mục đích: phải làm dịu người than phiền nhằm khôi phục sự hài hoà
xã hội và phải khôi phục địa vị xã hội của chính mình Tác giả chỉ ra rằng hai mục đích này mâu thuẫn nhau Hệ quả là, một lời than phiền không phải lúc nào cũng theo sau bởi một lời xin lỗi Đến lượt nó, người tiếp nhận một lời
1 Dẫn theo Trosborg (1987)
Trang 2120
xin lỗi có thể hoặc có thể không đang than phiền Bởi vậy, mặc dù hành động than phiền/ xin lỗi giống với một cặp kế cận điển hình nhưng một hành động
có thể diễn ra mà không có hành động kia
Deutschmann (2003) đã nghiên cứu lời xin lỗi tiếng Anh trong luận án của mình Tuy nhiên, tác giả chỉ hạn định nghiên cứu trong khuôn khổ của những phát ngôn xin lỗi tường minh (tức là các phát ngôn có chứa các cấu
trúc sorry, apologize, afraid, pardon, excuse và regret) Vấn đề quan tâm của
luận án này là dạng thức và chức năng của lời xin lỗi Deutschmann đã tiến hành tìm hiểu tần số của những dạng thức xin lỗi trong những bối cảnh giao tiếp khác nhau, các nhân vật giao tiếp khác nhau Tác giả đi đến kết luận rằng xin lỗi là một hành động đa diện, rất phức tạp và có thể được thảo luận ở trên nhiều phương diện khác nhau
Bên cạnh việc tìm hiểu bản chất của hành động xin lỗi, các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm đến khía cạnh giao tiếp liên văn hoá của hành động này Những nghiên cứu của Blum-Kulka, House và Kasper (1989); Cohen và Olshtain (1989); Vollmer và Olshtain (1989); Holmes (1990); Orecchioni (1994); Ide (1998), Sbisà (1999) thông qua những khối tư liệu phong phú của tiếng Do Thái, Pháp, Đức, Nhật, Italia đã chỉ ra rằng hành động xin lỗi không phải dễ dàng gì để có thể biểu đạt trong một ngôn ngữ thứ hai bởi những ràng buộc về hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ và những chuẩn văn hoá trong ngôn ngữ thứ hai đó Rất khó có sự tương đương một đối một giữa một biểu thức xin lỗi của ngôn ngữ này trong sự đối chiếu với các ngôn ngữ khác,
mà thông dụng nhất là tiếng Anh, ngôn ngữ luôn được xem là cơ sở cho các công việc đối chiếu Như vậy, rõ ràng xin lỗi ngoài những đặc điểm chung, mang tính phổ quát thì lại có những mô hình hiện thực hoá ra khác nhau trong các ngôn ngữ và văn hoá Nhận định này là rất quan trọng cho sự thành công cuả các cuộc giao tiếp liên văn hoá và cả hoạt động dạy và học ngoại ngữ
Trang 2221
Trong tiếng Việt, Phạm Thị Thành (1996) và Nguyễn Văn Lập (2003) cũng dành một phần trong luận án của mình để miêu tả về hành động xin lỗi Hướng tiếp cận chung của cả hai luận án này đều là từ góc độ nghi thức lời nói Xin lỗi được xem là một hành vi nằm trong một nhóm nghi thức khá cao
và có những công thức cố định để nhận diện Phạm Thị Thành cho rằng những phát ngôn nghi thức kiểu này “hướng đến chức năng thiết lập tiếp xúc, xác định quan hệ thân thiện, bộc lộ thái độ lịch sự đối với đối tượng giao tiếp, làm cho đối tượng giao tiếp có phản ứng đối đáp tích cực và hoạt động giao tiếp theo ý định mong muốn của chủ thể giao tiếp (1996:125) Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này chỉ phác thảo ra những nét sơ lược về lời xin lỗi trong hàng loạt các kiểu loại phát ngôn nghi thức khác
1.1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động xin lỗi
a Quan điểm của Austin
Austin là người đầu tiên quan tâm đến việc thiết lập những điều kiện cho các hành động ngôn từ Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu hành động xin lỗi nhưng Austin vẫn thường sử dụng hành động này như là một ví dụ điển
hình của hành động ngôn từ Theo Austin, các phát ngôn biểu thị hành động xin lỗi có một cơ chế rất đặc biệt Đó là những phát ngôn tự quy chiếu (self-
referential) tức là động từ trong câu quy chiếu đến điều mà người nói đang
thực hiện, tự xác nhận (self-verifying) tức là chúng chứa đựng những điều kiện chân thực của riêng mình và bất khả nguỵ (non-falsifiable) tức là chúng
không bao giờ nhận giá trị sai theo các điều kiện mệnh đề logic Như vậy, một
khi ta nói ra một phát ngôn, chẳng hạn Em xin lỗi vì đã đi học muộn thì cái
phát ngôn ấy luôn nhận giá trị đúng, bất kể trong ngữ cảnh nào Austin cho rằng những loại phát ngôn ngôn hành siêu ngôn ngữ này luôn có được “điều kiện may mắn” và do vậy luôn thành công
b Quan điểm của những nhà nghiên cứu hành động xin lỗi
Trang 2322
Fraser (1981) cho rằng “một lời xin lỗi có thể được diễn ra chỉ trong trường hợp hai điều kiện căn bản gặp nhau: Thứ nhất, người nói thừa nhận trách nhiệm vì đã thực hiện hành động nào đó, thứ hai người nói truyền đạt sự hối tiếc về lỗi lầm do hành động đó gây nên” Do vậy, một lời xin lỗi được xem là phương tiện để thực hiện hai việc này cùng lúc và thiếu một trong hai điều kiện này thì cũng sẽ không có hành động xin lỗi Theo cách hiểu của tác giả, nếu người nói không chịu thừa nhận, hoặc “đánh trống lảng” về trách nhiệm của mình đối với lỗi lầm thì lời xin lỗi phát ra không phải là “xin lỗi”
Chẳng hạn, Fraser cho rằng phát ngôn: I apologize for Xing, but I deny that I did it (Tôi xin lỗi về việc này, nhưng tôi phủ nhận là tôi đã làm nó) không thể
được sử dụng với tư cách là một lời xin lỗi vì điều kiện đầu tiên bị vi phạm dù rằng nó có sự hiện diện của động từ ngôn hành siêu ngôn ngữ Ngược lại, một
phát ngôn kiểu Tôi xin lỗi về những việc đã diễn ra nhưng tôi thực ra đó chỉ
là vô tình thôi thì lại được xem là xin lỗi
Blum-Kulka và Olshtain (1984) xác định lời xin lỗi là một hành động hậu sự kiện (post-event act) với một cách hiểu khá rộng Hậu sự kiện tức là
một loại sự kiện nào đó đã xảy ra hoặc người nói nhận thức được việc nó sắp xảy đến Trong khi xác lập các mô hình hiện thực hoá hành động ngôn từ xuyên văn hoá (CCSARP), Blum-Kulka và Olshtain đưa ra ba điều kiện tiên quyết để cho một hành động xin lỗi được diễn ra:
a Người nói S đã thực hiện hành động X hoặc cố tránh việc thực hiện X (hoặc chuẩn bị thực hiện nó)
b Hành động X được S hoặc H, hoặc cả hai, hoặc một thành phần thứ ba nhận thức như việc vi phạm (breach) đến một chuẩn mực xã hội
c X được ít nhất một trong những thành phần hữu quan nhận thức như là một việc phạm lỗi, xâm hại hay làm ảnh hưởng đến người nghe theo những cách nào đó (1984:206)
Trang 2423
Ba điều kiện tiên quyết này được xem là cơ sở, là tiền đề để một hành động xin lỗi diễn ra Theo Blum-Kulka và Olshtain, để lời xin lỗi được hiện thực hoá, người nói S phải lĩnh hội đủ cả ba điều kiện tiên quyết này và tự thấy mình có nhu cầu phải xin lỗi Bằng việc xin lỗi, S bày tỏ sự tôn trọng đối với những chuẩn mực của xã hội (tức là thừa nhận điều kiện (b)) và cố gắng làm người nghe nguôi ngoai (tức là thừa nhận điều kiện (c))
Cách hiểu rộng của hai tác giả này về cái gọi là hậu sự kiện đã giúp cho việc bao quát toàn bộ những ngữ cảnh tiềm tàng cho một hành động xin lỗi Hậu sự kiện vẫn có thể hướng đến một hành động đe doạ thể diện trong tương lai song nó vẫn được quan niệm là “hậu” vì nó đã được người nói hình dung
từ trước Và họ cũng chỉ rõ rằng: “Nếu việc xúc phạm chưa diễn ra hoặc H chưa nhận ra, S có rất nhiều cách khác nhau để báo tin cho tới H” (1984:206) Điều đáng chú ý của Blum-Kulka và Olshtain là họ đã quy nhận thức của S khi thực hiện hành động A là một sự vi phạm vào chuẩn mực xã hội Chuẩn
mực xã hội thuộc về những quy tắc điều chỉnh (regulative rule) mà Searle đưa
ra nhằm điều phối các quan hệ liên nhân và do đó, nó mang tính chất linh hoạt Nhiều khi, không phải S xin lỗi vì nhận thức được những thiếu sót nào
đó với H mà chính chuẩn mực xã hội đòi hỏi cần phải có một lời xin lỗi như vậy Đề cập đến chuẩn mực xã hội như một điều kiện tiên quyết cho lời xin lỗi đã tạo thuận lợi cho việc lí giải sự xuất hiện của lời xin lỗi trong cả một số ngữ cảnh đặc biệt Song nếu như chỉ có người nghe hay một thành phần thứ
ba nào khác nhận thức được sự vi phạm chuẩn mực xã hội của hành động X thì có lẽ sẽ không có một lời xin lỗi diễn ra Người nói phải là nhân tố bắt buộc trong việc nhận thức sự vi phạm chuẩn mực ấy, từ đó, thông qua việc xin lỗi, S mới bày tỏ “sự tôn trọng đối với những chuẩn mực của xã hội (tức
là thừa nhận điều kiện (b))” được
Điều kiện tiên quyết (c) mà Blum-Kulka và Olshtain đưa ra hướng đến việc thừa nhận những lỗi lầm nào đó của người xin lỗi hoặc người xin lỗi cảm
Trang 2524
thấy có phần trách nhiệm đối với người nghe Việc thừa nhận này mang tính
cá nhân nhiều hơn là tính chuẩn mực, song cũng có thể thấy trong phương diện cá nhân ấy cũng có cả phương diện chuẩn mực và ngược lại Do vậy, hai điều kiện (b) và (c) có liên quan đến nhau, vì chúng cùng đề cập tới nhận thức của người nói Từ cách hiểu này, chúng tôi cho rằng có thể đập nhập hai điều kiện này thành một Trong một tình huống lí tưởng, cả hai điều kiện (b) và (c) cùng xảy ra song thực chất chỉ cần ít nhất một điều kiện xảy ra là đủ Cũng giống như điều kiện tiên quyết (b), điều bất cập trong điều kiện (c) này là hai tác giả cũng không xem người nói như một nhân tố bắt buộc
Dù chưa giải quyết được hoàn toàn những điều kiện cần có cho một hành động xin lỗi nhưng những điều kiện tiên quyết mà Blum-Kulka và Olshtain đưa ra đã khắc phục được một số những nhược điểm trong quan điểm của Searle Một điểm nữa cần lưu ý là Blum-Kulka và Olshtain đã giới hạn nghiên cứu của mình vào những trường hợp mà lỗi lầm đã được cả người nghe và người nói nhận biết
Một tác giả khác cũng đưa ra hệ điều kiện sử dụng cho hành động xin lỗi là Thomas Trên cơ sở phê phán các điều kiện của Searle được vận dụng vào hành động xin lỗi, Thomas (1995) đã thử xác lập các điều kiện của riêng mình Theo tác giả, một hành động xin lỗi cần có hai điều kiện như sau:
Hành động mệnh đề: Người nói biểu thị hay ngụ ý hay bằng một cách nào đó chỉ ra sự hối tiếc về một hành động trong quá khứ, hiện tại hay tương lai do người nói, hoặc do một ai đó, một điều gì đó mà người nói có trách nhiệm hoặc có thể được xem như là có trách nhiệm (chứ không có trách nhiệm gì hết) thực hiện
Điều kiện chuẩn bị: Người nói có thể hoặc không cần tin rằng hành động đó đã, đang hay sẽ đi ngược lại những điều mà người nghe ưa thích nhất và v.v (1995:102)
Trang 2625
Những dấu chấm lửng trên đã biểu thị những lúng túng của Thomas Điều này dẫn đến việc tác giả phủ nhận tính hiệu quả của các điều kiện đối với tất cả các hành động ngôn từ chứ không riêng gì hành động xin lỗi Thomas nhận định: “Khi chúng tôi cố thử mở rộng các quy tắc của Searle nhằm phản ánh cách thức hành động xin lỗi diễn ra trong đời thường thì những điều kiện ấy trở nên phức tạp, mơ hồ và không khả thi một cách vô vọng” Các quy tắc đó, theo bà, chỉ được hiện thực trong những ngữ cảnh rất hẹp Và mở rộng các quy tắc sẽ khiến những hiện dạng của lời xin lỗi càng bị thu hẹp hơn nữa, mà không chắc đã loại trừ được những trường hợp bất thường Chính có lẽ vì băn khoăn trước vấn đề phải bao quát được hết tất cả những lời xin lỗi mà có thể thấy ngay rằng điều kiện chuẩn bị theo đề xuất của Thomas không còn là một điều kiện nữa Từ đó, theo tác giả, không nên nghiên cứu hành động ngôn từ trên cơ sở những quy tắc hay hệ điều kiện mà phải là các nguyên tắc (nguyên lí ngữ dụng học)
c Quan điểm những nhà nghiên cứu xin lỗi dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội
Đi theo hướng nghiên cứu lời xin lỗi dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội
là những tác giả như Trosborg (1987), Tannen (1990, 1994), Holmes (1990, 1995) Theo Trosborg (1987), một tình huống xin lỗi được giả định gồm có hai hai tham tố: một người xin lỗi và một người tiếp nhận lời xin lỗi Lời xin lỗi sẽ diễn ra khi một người biểu hiện một hành động hay một phát ngôn (hoặc thất bại trong việc thực hiện nó) xúc phạm đến người khác, và với nó, anh ta có thể có phần trách nhiệm
Thông qua 183 cuộc trao đổi “cứu vãn” (remedy) được thu thập tại New Zealand, Holmes đã xác định rằng hành động ngôn từ xin lỗi phải có những điều kiện sau:
a Một hành động đã xảy ra
b A tin rằng hành động đã xúc phạm B
Trang 2726
c A có trách nhiệm về hành động này
(trong đó, A là người phạm lỗi, còn B là người bị phạm lỗi)
Tất cả những cuộc trao đổi thực tế có lời xin lỗi mà Holmes thu thập và phân tích đều thoả mãn ba điều kiện trên Phải có một lỗi lầm gì đó đã xảy ra (chẳng hạn như những lỗi lầm về thời gian, không gian, điều kiện dịch vụ, của cải ) thì mới xuất hiện một lời xin lỗi Cũng như thế, người nói đều đạt được
cả hai điều kiện (b) và (c) Những tương tác thực tế này là rất có giá trị, và mặc dù nó không điền đầy được tất cả các trường hợp giả định về lời xin lỗi ở trên, song nó cũng gợi mở được nhiều điều Quan trọng nhất là nó đã góp phần kiểm nghiệm những lí thuyết về hành động xin lỗi trên một tư liệu có tính chất dân tộc học Có thể thấy rằng những điều kiện mà Holmes đưa ra là phù ứng với đa phần các hiện dạng tương tác Nói cách khác, nó gợi ý cho chúng ta về những điều kiện quan yếu nhất mà một lời xin lỗi cần phải có
d Đề xuất một hệ điều kiện sử dụng cho hành động xin lỗi
Có một thực tế là việc đề xuất ra một tập hợp những điều kiện cần để một hành động xin lỗi có thể diễn ra là khá phức tạp và dường như là khó có khả năng hiện thực Mọi quy tắc dù là chặt chẽ thì đều tiềm tàng khả năng sẽ
có những ngoại lệ Thế nhưng, nếu gạt bỏ những ngoại lệ đó thì chúng ta phải chấp nhận một khả năng rằng những điều kiện đó chưa phản ánh toàn thể các bình diện của sự kiện Mặt khác, cũng có thể thấy rằng các hành động ngôn từ nói chung và hành động xin lỗi luôn được biểu thị khác nhau tuỳ theo các ngôn ngữ và các nền văn hoá Do vậy, các đặc trưng của những trường hợp
cốt lõi và điển hình nhất mới có thể được xem là phổ quát
Trong luận văn này, chúng tôi xây dựng hệ điều kiện cho hành động ngôn từ xin lỗi dựa theo hệ điều kiện mà Searle (1969) đưa ra và tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu kể trên Bốn điều kiện sử dụng mà Searle đưa ra được áp dụng cho hành động xin lỗi như sau:
Trang 2827
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Người nói S bày tỏ sự hối tiếc về một hành động trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai A do S, hoặc do một ai đó, một điều gì đó mà S nhận thấy có phần trách nhiệm
- Điều kiện chuẩn bị: A phải được S nhận thức như một sự vi phạm chuẩn mực xã hội và/hoặc việc phạm lỗi, xâm hại hay làm ảnh hưởng đến người nghe
- Điều kiện chân thành: Người nói S thật lòng cảm thấy hối tiếc về
hành động A
- Điều kiện căn bản: nhằm duy trì những nghi thức lịch sự hoặc/và bù đắp những lỗi lầm
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Người nói S bày tỏ sự hối tiếc về một
hành động trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai A do S, hoặc do một ai đó thực hiện mà S nhận thấy có phần trách nhiệm
Trước tiên, cần phải có được những điều kiện nhập ngôn bình thường (normal input) và những điều kiện xuất ngôn bình thường (normal output) như cách hiểu của Searle Theo đó, xuất ngôn bao gồm những điều kiện cho
việc phát ra những lời lẽ có thể hiểu được và nhập ngôn bao gồm những điều kiện cho việc hiểu đúng Cho nên, với người Việt Nam, ta vẫn thấy những
phát ngôn kiểu sorry để xin lỗi, miễn là các nhân vật tương tác có thể hiểu
được nó trong những ngữ cảnh cụ thể
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Blum-Kulka và Olshtain đã được diễn giải ở trên Theo đó, xin lỗi được quan niệm như một hành động hậu sự kiện Quan niệm này có lẽ là phù hợp với phần lớn các tương tác, ở đó, lời xin lỗi sẽ đi sau một hành động phạm lỗi ở trước
Tuy nhiên, hành động xin lỗi rõ ràng là không thể chỉ biểu thị một sự hối tiếc về một hành động đã diễn ra trong quá khứ Dù rằng phần lớn lời xin lỗi là nhằm hướng tới một hành động trong quá khứ song thực tế dụng ngôn
Trang 29A: Chào chị Xin lỗi, chị là công an?
B: Dạ, vâng ạ Cháu muốn gặp bác và chị Trà có việc cần ạ
(Phim: Cảnh sát hình sự) Trong ví dụ trên, có thể thấy A nhận thức một điều rằng việc sắp hỏi lai lịch của B có thể xâm hại đến lĩnh vực riêng tư của B, sẽ là một hành động xúc phạm thể diện B ở một chừng mực nào đó Bởi vậy, để rào đón cho một hành động đe doạ thể diện trong tương lai đối với B, A đã phải viện đến lời xin lỗi dù rằng trước đó, A và B chưa hề quen biết nhau và A càng không có
“một hành động trong quá khứ” gây hại đến B Sự “mào đầu” xin lỗi này dường như có tính nghi thức trong tiếng Việt Trong tập tư liệu này, lời xin lỗi
có mục đích rào đón một lỗi lầm chiếm 17,6% tổng số tình huống
Trong khi phê phán những kiến giải cho điều kiện nội dung mệnh đề của Searle, Thomas (1995:100) đã dẫn ra một ví dụ về việc chúng ta có thể xin lỗi đối với một hành động trong hiện tại:
I’m sorry about the noise
(Tôi xin lỗi/ lấy làm tiếc vì tiếng ồn)
Song, chúng ta có thể hiểu cái hành động làm dẫn đến việc phải xin lỗi
ở đây (liên quan đến việc tạo ra tiếng ồn) cần phải tri nhận như một quá trình tiếp diễn, mà điểm mốc của quá trình đó phải thuộc về quá khứ, và do vậy cũng có thể được nhìn nhận như một hành động thuộc về quá khứ Trong những trường hợp mà hành động dẫn đến lời xin lỗi ở hiện tại hay tương lai thì nó cũng đã phải nằm trong nhận thức của người nói từ trước Nói khác đi,
Trang 30trả lời là không Ngay trong ví dụ trên I’m sorry about the noise, người xin lỗi
không nhất thiết phải là người tạo ra tiếng ồn, tức là không thực hiện hành động A Khi nói ra câu này, người nói rất có thể chỉ cảm thấy mình có một phần trách nhiệm trong việc tồn tại những tiếng ồn như vậy Cũng như thế, trong dịp kỉ niệm 60 năm chiến thắng phát xít (5/2005), Thủ tướng Nhật Bản Koizumi đã công khai xin lỗi những nạn nhân của quân đội nước này trong Thế chiến II Trong thực tế dụng ngôn hàng ngày, theo Holmes (1995:156),
có một số trường hợp, một lời xin lỗi được thiết lập “để thay mặt cho một ai
đó mà người xin lỗi cảm thấy có phần trách nhiệm” Việc xin lỗi ở đây dường như còn gắn với những nền văn hoá cụ thể Chẳng hạn, ở Anh quốc, theo Thomas thì ta vẫn được nghe người ta xin lỗi khi bị một ai đó va vào người mình, hoặc giả người dân Anh quốc rất hay xin lỗi về điều kiện thời tiết ở nước mình Trong tư liệu tiếng New Zealand, tình hình cũng tương tự Holmes nhận xét rằng khi hai người phụ nữ va vào nhau thì cả hai thường có khuynh hướng cùng cất lời xin lỗi
Như vậy, hành động phạm lỗi có thể không cần phải do chính người xin lỗi thực hiện Người đó có thể thay mặt cho một người khác, một tập thể mà
họ nhận thấy có phần trách nhiệm
Mặt khác, cái gọi là người nghe (hearer) cũng là một đối tượng tương đối phức tạp Người nghe trong một số trường hợp không phải là “người” Ta
có thể xin lỗi với một đồ vật, một con vật mà ta đã phạm lỗi với chúng
Chẳng hạn, nhân vật Tùng trong tập chuyện Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh đã xin lỗi chú chó của mình sau khi cậu ta ruồng rẫy nó: Xin lỗi mày, Tai
To Lại cũng có những trường hợp, người nghe là những bậc siêu nhiên như
Trang 3130
Trời, Phật, Chúa Jesus, Thánh Allah Thế cho nên, trong Đạo Thiên Chúa mới có chuyện rửa tội, ở đó, con chiên xưng tội với Đức Chúa Người nghe cũng có thể là một người đã quá cố Chẳng hạn, nhân vật Thoa trong bộ phim
Vị tướng tình báo và hai bà vợ khóc trước mộ mẹ chồng mình:
(2)
- U ơi, chồng con không có nhà để chống gậy đưa u về với tổ tiên U tha lỗi cho chúng con U sống khôn chết thiêng phù hộ độ trì cho con chóng nhận được tin tức của anh Bình
Như vậy, qua những phân tích sơ lược trên, có thể thấy được tính đa
dạng trong phạm trù người nghe (hearer) mà Searle nói đến Ở đây, cần thiết
phải có một cách hiểu rộng đối với phạm trù này Theo đó, người nghe là một (hoặc nhiều) thực thể khả tri (những người sống bình thường) hoặc được người nói xem như là những thực thể khả tri (những người đã quá cố, các đấng siêu nhiên hoặc những đồ vật, con vật )
Cũng cần phải nói rằng, việc biểu thị sự hối tiếc (regret) cũng không nhất thiết phải thông qua một dạng thức ngôn ngữ tường minh Chẳng hạn, ví
dụ sau được trích dẫn từ bộ phim truyền hình Chuyện phố phường:
Trang 3231
phát ngôn được vận hành theo cơ chế của hành động ngôn từ gián tiếp mà Searle đã khởi xướng
+ Điều kiện chuẩn bị: A phải được S nhận thức như một sự vi phạm
chuẩn mực xã hội và/hoặc việc phạm lỗi, xâm hại hay làm ảnh hưởng đến người nghe
Theo tinh thần quan điểm của Blum-Kulka và Olshtain (1984), chúng tôi cho rằng hành động A phải được người nói S nhận thức như một sự vi phạm chuẩn mực xã hội và/hoặc việc phạm lỗi, xâm hại hay làm ảnh hưởng đến người nghe Trong điều kiện này, sẽ không cần phải quan tâm đến những nhân tố như người nghe hay một nhân vật thứ ba nào khác bởi lẽ việc họ có nhân thức được hay không những vi phạm này không có một tác dụng gì nếu như chính người xin lỗi không nhận thức được nó Sự vi phạm chuẩn mực xã hội được hiểu rất rộng, vừa mang tính chất phổ quát lại vừa có những đặc trưng riêng đối với từng nền văn hoá cụ thể
+ Điều kiện chân thành: Người nói S thật lòng cảm thấy hối tiếc về hành động A
Đưa ra điều kiện này, Searle có lẽ muốn quy các hành động ngôn từ về những phạm trù ổn định và chính danh, và loại bỏ những phạm trù “kì quặc, lệch lạc, nhập nhằng” Và để phục vụ đắc lực cho công việc đó, Searle chỉ xem xét đến những trường hợp hoàn toàn rõ ràng và loại bỏ những cách nói bị tỉnh lược, nói bóng gió và không chân thành Thế nhưng, cái khó là ở việc xác định mức độ chân thành của một phát ngôn cụ thể Trong hành động xin lỗi, hẳn sẽ có một số phát ngôn mà điều kiện chân thành bị vi phạm Người ta
có thể cất lời xin lỗi một ai đó trong khi lại nghĩ trong đầu mình rằng lời xin lỗi ấy là không cần thiết, thậm chí là vô ích Nói ra một lời xin lỗi trong những ngữ cảnh cụ thể nhiều khi chỉ là cực chẳng đã Không thể có một phương tiện gì hoàn toàn hữu hiệu để đo được mức chân thành ấy, cho nên tính chân thành tự thân nó đã trở thành một phạm trù khá mơ hồ Chỉ có chính
Trang 3332
bản thân người nói mới có thể xác định chuẩn xác mức độ chân thành, thông qua lăng kính của người nghe hay nghiên cứu thì đã có những xiên lệch nhất định Và những xiên lệch này sẽ tạo ra những lúng túng trong việc nhận diện những lời xin lỗi Trong tiếng Anh, người ta nói đến một phương tiện hình
thức: có hai dạng thức cơ bản để bày tỏ hành động xin lỗi là (a) I’m sorry và (b) I apologise that Cảm thức của người bản ngữ chỉ ra rằng dạng thức (a)
mang tính chân thành cao hơn, ngược lại (b) mang tính quy thức nhiều hơn Song cái phương tiện hình thức ấy không thể là chiếc chìa khoá vạn năng để thẩm định mức độ chân thành trong ý nghĩ của người xin lỗi Điều này một phần cũng là do xin lỗi là một hành động nhạy cảm: nó đe doạ thể diện tích cực của người thực hiện
Tuy nhiên, theo chúng tôi, điều kiện chân thành vẫn là một điều kiện cốt yếu để hành động xin lỗi là nó chứ không phải là một hành động khác Việc thẩm định tính chân thành của một phát ngôn xin lỗi vẫn phải dựa nhiều
vào các phương tiện hình thức Chẳng hạn, trong tiếng Việt, cấu trúc Xin lỗi mày đi luôn luôn thể hiện thái độ tiêu cực của người nói Mặt khác, ngữ điệu của lời xin lỗi cũng có thể biểu thị mức độ chân thành Cụ thể, nếu âm tiết lỗi
được phát âm kéo dài, lời xin lỗi sẽ không còn tính chân thành nữa Cũng có thể chính tình huống giao tiếp sẽ quyết định tính chân thành của một lời xin lỗi Chẳng hạn, phát ngôn sau đây của nhân vật Lân với người chủ đang thuê nhà anh ta làm cửa hàng là một ví dụ về việc điều kiện chân thành không diễn ra:
(4)
Lân: Ông đã đi quá xa rồi đấy Xin lỗi nhá Bất quá ông cũng chỉ là một thằng buôn bán vặt mà thôi, hiểu làm sao được nhẽ đời Rồi ông sẽ thấy tôi sẽ làm được điều tôi muốn
(Phim: Chuyện phố phường)
Trang 3433
Phát ngôn Xin lỗi nhá của Lân dường như là đề rào đón sự mất thể diện
của người nghe do hành vi chê bai đi liền ngay sau đó Như thế, điều kiện chuẩn bị đã được đảm bảo: S thẩm định được rằng hành vi tương lai của mình
sẽ xúc phạm thể diện của H Song tính chân thành của chuỗi phát ngôn trên không được đảm bảo Dường như, Lân nói ra lời xin lỗi này là không phải
“chân thành” vì nó làm gia tăng khoảng cách với người đối thoại Lời xin lỗi vẫn là sắm vai trò như một sự rào đón, che chở một lỗi lầm nhưng đồng thời
nó cũng có vẻ giống với một lời mỉa mai, trịch thượng của kẻ có nhiều quyền thế hơn Do đó, nó ít hướng đến việc khôi phục mối quan hệ đã bị rạn nứt Mục đích giảm thiểu những tác động tiêu cực đến người nghe của phát ngôn trên là không rõ, cho nên ở góc độ người tiếp nhận, chắc chẳng có ai cảm thấy hài lòng nếu nhận được những lời xin lỗi kiểu này vì rất có thể họ sẽ cảm thấy thể diện của mình bị thách thức và đe doạ Nói cách khác, đó chính là những phát ngôn tấn công thể diện của người nghe Với những lời xin lỗi mà điều kiện chân thành không được thoả mãn thì chúng sẽ không có tác dụng bù đắp các hành động đe doạ thể diện mà chúng sẽ có những đích ngôn trung khác:
hoặc là mỉa mai (như ở ví dụ 3), hoặc là bác bỏ (như trường hợp kiểu: Xin lỗi mày đi) Và như thế, chúng sẽ mất đi chức năng của một lời xin lỗi dù cho có dạng thức của hành động này
+ Điều kiện căn bản: nhằm duy trì những nghi thức lịch sự hoặc/và
bù đắp những lỗi lầm
Thông qua lời xin lỗi, người xin lỗi biểu thị sự hối tiếc với những lỗi lầm của mình hoặc bày tỏ sự hối tiếc vì đã vi phạm vào những chuẩn mực xã hội nào đó Fahey (2005) cho rằng xin lỗi là một hành động ngôn từ có tỉ lệ dùng khá cao nhằm duy trì những nghi thức lịch sự đến việc bù đắp những lỗi lầm nghiêm trọng Quan điểm này đã bổ sung cho những nhận định mang tính tiên nghiệm rằng lời xin lỗi nhìn chung là để cứu vãn những lỗi lầm Duy trì những nghi thức lịch sự phải được xem là một trong những mục đích cơ bản
Trang 3534
của hành động xin lỗi Điều đáng lưu ý là những nghi thức này là khác nhau giữa các nền văn hoá Như thế, mục đích của hành động xin lỗi được dàn trải theo một phổ khá rộng Đương nhiên, như một số tác giả chỉ ra (Holmes 1995; Fahey 2005…), mục đích căn bản nhất, điển hình nhất của hành động xin lỗi là nhắm tới một lỗi lầm do người nói gây nên
Người ta có thể thực hiện hành động xin lỗi bằng nhiều phương tiện khác nhau, mà ngôn ngữ cũng chỉ là một trong số đó Những hành động bù đắp kiểu lau hộ nhà, gửi tặng một bó hoa, một món quà bất ngờ cũng có thể hiểu là một hành động nhằm để khắc phục hay sửa chữa mỗt lỗi lầm nào đó Song, dưới góc độ ngôn ngữ học, các nghiên cứu hầu như chỉ hạn định lại và tập trung đến những phương tiện bằng lời (verbal), những hiện dạng ngôn ngữ chứ ít có điều kiện quan tâm đến những dạng thức khác của hành động
Đến đây, luận văn đưa ra cách hiểu sau về hành động xin lỗi để nhận diện và mô tả:
Xin lỗi là hành động ngôn từ thể hiện sự hối tiếc của người nói S (người xin lỗi) đến người nhận về hành động A mà S nhận thức được phần trách nhiệm của mình trong đó nhằm duy trì những nghi thức lịch sự và/hoặc bù đắp những lỗi lầm
1.2 HÀNH ĐỘNG XIN LỖI TRONG CẤU TRÚC ĐOẠN THOẠI
Hội thoại được xem là hình thức giao tiếp phổ biến của con người Theo Đỗ Hữu Châu (2002), hội thoại bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ đầu thập kỉ 70 của thế kỉ trước tại Hoa Kì và sau đó được tiếp nhận ở Anh với tên gọi phân tích diễn ngôn Những năm 80, hội thoại đã nhận được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Pháp và các nước cựu lục địa khác
1.2.1 Cấu trúc hội thoại
Theo Đỗ Hữu Châu (2002), lí thuyết hội thoại của Thuỵ Sĩ – Pháp cho rằng hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp gồm có 5 đơn vị như sau:
Trang 361.2.1.1 Cuộc thoại: là đơn vị lớn nhất của hội thoại Trong một chuỗi
rất dài những tương tác bằng lời, việc tách ra một đơn vị gọi là cuộc thoại là một công việc cần thiết song cũng rất khó khăn Người ta thường dựa vào các tiêu chí như nhân vật hội thoại, tính thống nhất về thời gian và địa điểm, tính thống nhất về đề tài diễn ngôn để xác định ranh giới của một cuộc thoại Song thực chất, do tính chất thiên biến vạn hoá và phạm vi rộng lớn của các giao tiếp của con người mà những tiêu chí trên chưa đủ tính chặt chẽ và đáng tin cậy
1.2.1.2 Đoạn thoại: là đơn vị cấu thành nên một cuộc thoại Đó là
“một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng” Về mặt ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề: một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng, đó là tính duy nhất về đích Tuy thế, cái ranh giới xác định của đoạn thoại cũng không mấy sáng tỏ hơn cuộc thoại là bao nhiêu dù rằng nó là một đơn vị có thực
1.2.1.3 Cặp thoại: (hay cặp trao đáp) là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất
của cuộc thoại được cấu thành từ các tham thoại Người ta có thể căn cứ vào
số lượng các tham thoại để phân loại các cặp thoại
Cặp thoại một tham thoại xuất hiện trong trường hợp tham thoại của
Sp1 không được Sp2 hồi đáp bằng một hành vi tương ứng Đó là cặp thoại hẫng
Trang 3736
(5)
Hiển: Nghiệp ơi cho chị mượn!
Nghiệp: (không trả lời và chạy lung tung)
(Tư liệu Hoài Thị) Song có rất nhiều trường hợp, cặp thoại hẫng xuất hiện khi mà không phải Sp2 bàng quan trước tham thoại của Sp1
(6)
Thành: Chào bác! Ông cháu bị mệt ạ?
Bà Ngọc: Ông ý đi ăn cỗ về, rượu rượu
(Tư liệu Hoài Thị)
Ở đây, bà Ngọc chỉ hồi đáp với tham thoại hỏi của Thành, còn tham thoại chào của Thành không có hồi đáp tương ứng Trong thực tế dụng ngôn, nhiều khi người ta chỉ cần đặt trọng tâm vào một tham thoại mà người đó cho
là quan yếu hơn cả để hồi đáp
Cặp thoại hai tham thoại (cặp thoại đôi): Gồm có một tham thoại dẫn
nhập và một tham thoại hồi đáp
(7)
Thành: Bố cháu tên là gì?
Dung: Bố cháu tên là Trọng
(Tư liệu Hoài Thị)
Cặp thoại ba tham thoại: Về nguyên tắc thì cặp thoại đôi với hai tham
thoại dẫn nhập và hồi đáp đã là hoàn chỉnh Nhưng như thế, trong một số trường hợp, cặp thoại thường trở nên cụt lủn Đây là cơ sở để một tham thoại thứ ba xuất hiện nhằm tạo đà, “bôi trơn” cho hội thoại tiếp diễn Tham thoại
thứ ba có thể là một tiếng vọng (écho), cũng có thể là một lời đánh giá, tán
đồng
(8)
Ứng: À Môn này con được mấy điểm?
Trang 3837
Khuyên: Con được sáu
Ứng: Sáu điểm á! Thế môn đấy thì học trung bình rồi
(Tư liệu Hoài Thị) Như vậy, cặp thoại được cấu thành nên từ phần đóng góp của hai nhân vật giao tiếp Trong một cặp thoại có các tham thoại có chức năng dẫn nhập
và hồi đáp Tham thoại dẫn nhập mở ra một vấn đề hay một đề tài cần hồi
đáp, chẳng hạn như mời, rủ, xin lỗi, chào, yêu cầu thông tin, khẳng định Nó
ràng buộc người nghe vào những trách nhiệm phải hồi đáp nhất định Tham thoại hồi đáp chính là tham thoại đáp ứng yêu cầu trên của hội thoại Có thể
có những hồi đáp tích cực và tiêu cực
Xét về mặt tính chất, theo quan điểm của Goffman, có thể chia cặp
thoại thành hai kiểu đặc biệt là cặp thoại củng cố và cặp thoại sửa chữa
Trong đó, cặp thoại sửa chữa nhằm khôi phục sự cân bằng trong giao tiếp mà một sự vi phạm nào đó đã làm nó bị mất đi Hành động xin lỗi được xem là một hành động điển hình trong cặp thoại sửa chữa
1.2.1.4 Tham thoại: là đơn vị đơn thoại Đó là phần đóng góp của từng
nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Tham thoại là một khái niệm tương ứng với bước thoại (move) trong lí thuyết phân tích diễn ngôn Trường phái phân tích hội thoại của Thuỵ Sĩ – Pháp cho rằng bất cứ hành vi nào tiềm tàng khả năng gợi mở một tham thoại phản hồi thì đều là hành vi chủ hướng của một tham thoại, tức là tự thân thiết lập thành một tham thoại riêng, chứ không phải là một bộ phận của tham thoại
1.2.1.5 Hành động ngôn ngữ: là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội
thoại, cấu thành nên các tham thoại Có thể liệt kê bản danh sách những hành
động ngôn ngữ được dùng trong cấu trúc hội thoại như dẫn khởi, tiếp tục, nhắc lại, láy lại, ngắt lời, củng cố, kết thúc, chú thích, đánh giá, bổ khuyết, chuyển dạng lời, tóm tắt… Đây là bản danh sách khá dài và tản mạn và chưa
thể đi đến chỗ thống nhất do thiếu những tiêu chí phân loại
Trang 3938
1.2.2 Hành động xin lỗi đặt trong cấu trúc đoạn thoại
Khi đi sâu vào tìm hiểu bản chất cũng như những công năng của các hành động ngôn từ, các nhà ngôn ngữ học nhận thấy một điều rằng không thể nghiên cứu các hành động ngôn từ một cách riêng lẻ mà phải đặt chúng trong những ngữ cảnh nhất định Từ đó, một số nhà nghiên cứu phê phán rằng Austin và Searle sử dụng các câu tách rời để minh hoạ lí thuyết của mình, trong số đó, Mey (1993) nhắc đến sự cần thiết phải bổ sung các nhân tố ngữ cảnh Wierzbicka (1985) và Koyama (1997) đã đề cập đến sự cần thiết phải nghiên cứu các hành động ngôn từ trong các ngữ cảnh văn hoá cụ thể của quốc gia đó Cũng như vậy, Cicourel (1987) cho rằng các nghiên cứu của Searle không xem xét đến các điều kiện dân tộc học Theo ông, thoại trường văn hoá (cultural setting) là rất quan trọng trong tiến trình tổng thể hiểu ý Ngược lại, Croft (1994) chỉ ra tầm quan trọng của việc xem xét trong phân tích các hành động ngôn từ không phải chỉ là biểu hiện của một phát ngôn mà còn là sự tương tác giữa người nói và người nhận1
Trong một trường ngữ cảnh rộng, việc xem xét sự tương hỗ giữa những hành động ngôn từ kế cận nhau trong một chuỗi hội thoại là cần thiết để phát hiện bản chất cũng như sự tác động qua lại giữa các hành động ngôn từ trong vận động hội thoại
Như đã đề cập ở phần trên, cặp thoại là đơn vị cơ sở của hội thoại Dựa trên tính chất của các cặp thoại, Goffman đề xuất ra hai kiểu cặp thoại đặc biệt là cặp thoại củng cố và cặp thoại sửa chữa Cặp thoại sửa chữa dựa trên khái niệm về sự sửa chữa lại một sự vi phạm lãnh địa của người đối thoại Nó
có tác dụng khôi phục sự cân bằng trong giao tiếp mà sự vi phạm lãnh địa đã làm cho nó mất đi Đây là một hoạt động cần thiết cho diễn tiến của hội thoại
vì nếu sự cân bằng không được khôi phục thì cuộc thoại có thể phải chuyển hướng, đứt quãng hoặc không thể tiến hành tiếp được
1 dẫn theo Fahey (2005)
Trang 40mà tác giả đưa ra cho cặp thoại sửa chữa đối với hành động xin lỗi chính là
một cặp liền kề (adjacent pair) bao gồm than phiền và xin lỗi Tham thoại thứ
nhất là tham thoại mà người than phiền đưa ra ý kiến của mình về lỗi lầm mà người bị than phiền vừa mắc phải Tham thoại thứ hai chính là lời xin lỗi của người bị than phiền với người than phiền Trosborg không chú ý đến phản ứng của người than phiền trước lời xin lỗi vừa nhận được
(9)
- Quý - Cô giận dữ gọi- Em đứng lên xem nào!
Phải đợi Tiểu Long lay đến bốn năm cái, Quý ròm mới choàng tỉnh và biết điều gì đang xảy ra Nó dụi mắt đứng dậy, sợ hãi nhìn cô
Cô Kim Anh lắc đầu:
- Cô không ngờ đến em mà cũng ngủ gục trong lớp
Quý ròm cúi đầu:
- Em xin lỗi cô ạ!
(Kính vạn hoa- Nguyễn Nhật Ánh) Holmes (1990) lại chú ý vào lời xin lỗi và hành vi hồi đáp đối với lời xin lỗi đó Như vậy, cặp thoại lí tưởng đối với hành động xin lỗi theo Holmes
là xin lỗi - chấp nhận lời xin lỗi
Thực tế, hướng đi này của Trosborg và Holmes đã giúp ích nhiều cho việc tìm hiểu cặn kẽ sự vận động của hành động xin lỗi Song cũng cần lưu ý một điều rằng việc xác lập thành phần các tham thoại trong cặp thoại xin lỗi không chỉ đơn giản như thế Trong những tình huống nói năng cụ thể, không phải lúc nào thành phần than phiền cũng là người mở đầu cho cặp thoại sửa