Sự ra đời của chuyên ngành Ngữ dụng học đánh dấu một bước phát triển mới trong ngành Ngôn ngữ học, đã chuyển hướng nghiên cứu từ chính bản thân ngôn ngữ sang sự hành chức của ngôn ngữ tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ MAI HƯƠNG
HÀNH ĐỘNG “MỜI” TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DẠY HÀNH ĐỘNG MỜI
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Việt Hùng
Hà Nội-2012
Trang 301 NVH1 : Nguyễn Việt Hương – Cơ sở tiếng Việt, Q.I
02 NVH2 : Nguyễn Việt Hương – Cơ sở tiếng Việt, Q.II
03 NVH3 : Nguyễn Việt Hương – Tiếng Việt nâng cao, Q.I
04 NVH4 : Nguyễn Việt Hương – Tiếng Việt nâng cao, Q.II
05 NCH : Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
06 TH : Tô Hoài – Chuyện cũ Hà Nội, tập I
07 CL : Truyện ngắn Chu Lai
08 LHN : Lữ Huy Nguyên – Ca dao trữ tình chọn lọc
09 TNVN : Nhiều tác giả – Truyện ngắn Việt Nam 1930 – 1945
10 TNH : Nhiều tác giả – Truyện ngắn hay 1980 – 2000
11 TNT : Nhiều tác giả – Truyện ngắn trẻ 1997
12 TNHTGN: Nhiều tác giả – Truyện ngắn hay các tác giả nữ
13 TV : Nhiều tác giả – Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam 1975 – 2007
14 TNĐS : Nhiều tác giả – Truyện ngắn đặc sắc 2009
15 VNP : Vũ Ngọc Phan – Tục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam
16 VVT : Vũ Văn Thi – Tiếng Việt cơ sở
17 ĐTT1 : Đoàn Thiện Thuật – Thực hành tiếng Việt C
18 ĐTT2 : Đoàn Thiện Thuật – Thực hành tiếng Việt B
19 VNQĐ : Tổng cục Chính trị – Văn nghệ Quân đội
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG VIẾT TẮT VÀ QUY ƯỚC VIẾT TẮT
MỤC LỤC
Mở đầu……… ……… ………….03
1 Đặt vấn đề……… ……… ………….03
2 Lý do chọn đề tài….……… ……… ………….04
3 Mục đích, ý nghĩa đề tài……… ……… ….……… ……… 05
4 Phạm vi nghiên cứu…… ……… ……… ………06
5 Phương pháp nghiên cứu… ……… ………….07
6 Bố cục luận văn……… ……… ……….………08
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LÀM CƠ SỞ LÝ LUẬN …………09
1.1 Lý thuyết về giao tiếp……… ……… ………09
1.2 Lý thuyết về lịch sự……… ……….……….15
1.3 Lý thuyết về hành động ngôn trung……… 18
Chương 2: CÁC KIỂU MỜI TRONG GIAO TIẾP NGƯỜI VIỆT………….……….20
2.1 Những hoàn cảnh giao tiếp của lời mời………20
2.1.1 Ngữ cảnh rộng của lời mời……… ………….………21
2.1.2 Ngữ cảnh hẹp của lời mời…… ……… ………24
2.1.3 Tiểu kết……… ……… ………27
2.2 Các kiểu mời trong văn hóa giao tiếp người Việt……….…………28
2.2.1 Phát ngôn mời trực tiếp có từ xưng hô……….……… ………30
2.2.2 Nhận xét……….38
2.2.3 Phát ngôn mời trực tiếp không có từ xưng hô………….………42
2.2.4 Nhận xét……….…………44
2.2.5 So sánh phát ngôn mời trực tiếp có từ xưng hô và không có từ xưng hô………45
Trang 52.2.6 Phát ngôn mời gián tiếp có từ xưng hô………… ……… ……46
2.2.6.1 Có ngữ cảnh hiển minh……….……47
2.2.6.2 Có ngữ cảnh ngầm ẩn……… ……54
2.2.6.3 Có ngữ cảnh ngữ nghĩa……… ……….62
2.2.7 Nhận xét……… ……… 71
2.2.8 Phát ngôn mời gián tiếp không có từ xưng hô……….….… 74
2.2.8.1 Có từ xưng……… ………74
2.2.8.2 Không có từ xưng hô……… ……….………….76
2.2.9 Nhận xét……… ……… 80
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DẠY HÀNH ĐỘNG MỜI CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI…… ……….……… ……… … 81
3.1 Một vài vấn đề lý luận liên quan đến phương pháp dạy tiếng… ….….81
3.2 Khảo sát tình hình dạy tiếng Việt trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài – trên cơ sở hành động ngôn từ mời … ……… 84
3.2.1 Tình hình dạy tiếng Việt qua khảo sát “Hành động mời” trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài……… ……….……… …… 84
3.2.2 Nhận xét……… ……….104
3.3 Một vài kiến nghị và đề xuất…….……… 107
3.4 Thử thiết kế bài giảng về dạy “Hành động mời” cho người nước ngoài……….………110
Kết luận……… 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….119
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN……….……… ………123 PHỤ LỤC
Trang 6Mở đầu
1 Đặt vấn đề
Trong các nhu cầu của con người thì nhu cầu giao tiếp vừa là thiết yếu, vừa
là bắt buộc Bởi con người không thể sống mà không giao tiếp với nhau
Trong hoạt động giao tiếp của mình, con người phải và cần thực hiện rất nhiều các hành động giao tiếp khác nhau Một trong những hành động đó chính là
hành động mời “Mời” là một nghi thức – nghi thức lời nói nhưng đồng thời nó
cũng là một hành động giao tiếp của con người trong cuộc sống Và có thể nói rằng, cuộc sống của con người không thể thiếu vắng những lời mời Xã hội ngày càng phát triển thì văn hóa mời càng được người ta coi trọng
Sự ra đời của chuyên ngành Ngữ dụng học đánh dấu một bước phát triển mới trong ngành Ngôn ngữ học, đã chuyển hướng nghiên cứu từ chính bản thân ngôn ngữ sang sự hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp thì rất nhiều các hành động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà Ngôn ngữ học, trong đó có hành động mời Nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng Dụng học đã kéo theo một loạt các nghiên cứu liên ngành, tạo tiền đề cho khoa học
xã hội phát triển
Hiện nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, học ngoại ngữ trở thành một nhu cầu thiết yếu và thiết thực Tiếng Việt trở thành ngoại ngữ đối với những người nước ngoài sang du lịch, nghiên cứu hay làm việc… tại Việt Nam Do đó, dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã và đang là một yêu cầu được đặt ra Đổi mới phương pháp trong việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ là vấn đề luôn luôn được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và hiệu quả học tập cho sinh viên
Do điều kiện thời gian và trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ xin đi tìm hiểu một trong số rất nhiều những hành động mà con người thực hiện
trong quá trình giao tiếp, đó là hành động mời Bên cạnh đó, chúng tôi cũng bước
Trang 7đầu đề cập đến vấn đề ứng dụng lý thuyết hành động ngôn từ để dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
2 Lý do chọn đề tài
Chúng tôi chọn đề tài “Mời trong giao tiếp người Việt và một số vấn đề về
dạy hành động mời cho người nước ngoài” vì những lý do sau:
Trong thực tiễn cuộc sống, hoạt động giao tiếp của một con người từ lúc sinh
ra cho đến lúc mất đi không thể không một lần thực hiện hành động mời “Mời”
một hành động ngôn ngữ và cũng là một hành động giao tiếp của con người Cho đến nay, nó cũng chưa được nghiên cứu và tìm hiểu nhiều Vì vậy, thiết nghĩ sẽ còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy
Cùng với những hành động khác, hành động mời góp phần làm cho bức tranh giao tiếp xã hội của người Việt thêm đa dạng và phong phú Đó là một bức tranh giao tiếp xã hội khác với các dân tộc khác Điều đó có được vì người Việt thực hiện những hành động mời mang đặc trưng văn hóa của dân tộc Việt với những cấu trúc ngữ pháp riêng có của ngôn ngữ Việt
Sự ra đời của Ngữ dụng học đã làm cho nghiên cứu ngôn ngữ mang một diện mạo mới, một màu sắc mới – nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp – trong sự hành chức của mình Tìm hiểu về lời mời của người Việt cũng như hành động mời trong tiếng Việt dưới góc độ Dụng học, biết đâu sẽ tìm thêm được những điều mới mẻ cho một đề tài không còn mới
Trong xu thế hội nhập và phát triển, hợp tác và giao lưu kinh tế – văn hoá giữa các quốc gia ngày càng tăng, nhu cầu học tiếng Việt của người nước ngoài cũng ngày càng nhiều Thiết nghĩ, trong quá trình dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài thì thông qua việc dạy học này có thể giới thiệu văn hóa Việt ra nước bạn nói chung; giúp người nước ngoài thấy và hiểu được văn hoá mời của người Việt nói riêng cũng như biết cách mời đúng và hay là một điều cần thiết và không
hề đơn giản
Trang 8Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong vấn đề dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ thì việc không ngừng tìm tòi, đổi mới và sáng tạo để tìm ra các phương pháp dạy và học là một điều tất yếu Xu hướng dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ theo hướng giao tiếp đang là xu hướng mới, được triển khai và áp dụng sâu rộng Trong đó, dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ lấy hành động ngôn từ làm
cơ sở cũng nằm trong xu hướng mới trên và là một trong những phương pháp được chúng tôi quan tâm trong luận văn này
Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài về “Mời trong văn hoá giao
tiếp người Việt và một số vấn đề dạy hành động mời cho người nước ngoài”
3 Mục đích, ý nghĩa đề tài
Mục đích
Tìm hiểu về đề tài này, chúng tôi có ba mục đích chính:
- Thứ nhất tìm hiểu về lời mời trong văn hoá giao tiếp người Việt – những vấn đề về môi trường văn hoá giao tiếp ảnh hưởng và quy định đến cách mời mọc của người Việt
- Từ đó, chúng tôi tìm và phát hiện ra những đặc điểm riêng có trong cách mời (cấu trúc mời) của người Việt
- Trên cơ sở ứng dụng lý thuyết hành động ngôn từ để nghiên cứu hành động mời, cũng có thể ứng dụng lý thuyết này vào việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ (lấy hành động ngôn từ làm cơ sở) cho người nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
Ý nghĩa
Đề tài có hai ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Bổ sung thêm những quan điểm, ý kiến về hành động ngôn
từ nói riêng và những ý kiến về vấn đề lý thuyết cho ngành Ngữ dụng nói chung
- Về mặt thực tiễn:
+ Giúp người Việt Nam hiểu sâu hơn về văn hoá giao tiếp mời của dân tộc
Trang 9+ Giúp người Việt biết cách mời phù hợp với mỗi hoàn cảnh giao tiếp bằng cách tạo được những lời mời đúng và hay, đạt hiệu quả giao tiếp
+ Góp phần giới thiệu văn hoá giao tiếp mời của người Việt đến những người nước ngoài cũng như giúp họ biết cách tạo và sử dụng hành động mời khi học tiếng Việt
+ Góp phần đưa thêm nội dung giảng dạy (dạy các hành động ngôn ngữ) vào các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
4 Phạm vi đề tài
Nhận thấy đây là một đề tài rất rộng vì vậy trong khuôn khổ một luận văn
Thạc sĩ, tư liệu chủ yếu của chúng tôi là: tư liệu văn học – chủ yếu là các truyện
ngắn tiêu biểu của các tác giả được nhiều người biết đến trên sách, báo Cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát ca dao, truyện ngắn ở một số tuyển tập, Tạp chí Văn nghệ quân đội và một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, như sau:
Văn học dân gian: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan), Ca
dao trữ tình chọn lọc (Lữ Huy Nguyên – chủ biên);
Tuyển tập truyện ngắn: Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan; Truyện ngắn Việt
Nam 1930 – 1945; Truyện ngắn hay 1980 – 2000; Truyện ngắn trẻ 1997; Truyện ngắn hay các tác giả nữ; Tuyển văn các tác giả nữ Việt Nam 1975 – 2007; Truyện ngắn đặc sắc 2009; Tô Hoài – Chuyện cũ Hà Nội, tập I; Truyện ngắn Chu Lai;
Tạp chí Văn nghệ Quân đội các năm 2004, 2005, 2006, 2007, 2008;
Sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Tiếng Việt cơ sở (Vũ Văn Thi);
Tiếng Việt cơ sở Quyển I và II, Tiếng Việt nâng cao Quyển I và II (Nguyễn Việt Hương), Thực hành tiếng Việt B, C (Đoàn Thiện Thuật chủ biên);
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê, phân loại
Từ việc thu thập các nguồn tư liệu khác nhau, chúng tôi tiến hành thống kê
và phân loại các tư liệu để tiện sử dụng cho việc trích dẫn khi nghiên cứu đề tài
Trang 10Phương pháp mô tả
Từ việc thống kê, phân loại tư liệu, chúng tôi sẽ tiến hành mô tả lại một cách
cụ thể và chi tiết hơn tư liệu mà chúng tôi có
Ngoài phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết làm cơ sở lý luận
Chương 2: Các kiểu mời trong giao tiếp người Việt
Chương 3: Một số vấn đề về dạy hành động mời cho người nước ngoài
Mỗi chương được chia thành các mục và các tiểu mục khác nhau
Trang 11Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LÀM CƠ SỞ LÝ LUẬN Bất cứ một đề tài nghiên cứu nào cũng phải có lý luận Chọn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lấy những vấn đề lý thuyết sau làm cơ sở lý luận:
1 1 Lý thuyết giao tiếp
Lý thuyết về giao tiếp là cơ sở đầu tiên giúp chúng tôi tìm hiểu đề tài này
Bởi “mời” cũng là một cách giao tiếp của con người – hay nói một cách khái quát thì “mời” là một trong rất nhiều nghi thức giao tiếp của con người Nghi thức này
tồn tại và không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người nói chung Vì vậy
tìm hiểu về “lời mời” không thể tách rời nó với lý thuyết về giao tiếp Lời mời sẽ
được nghiên cứu như một hành vi ngôn ngữ giao tiếp của con người dùng để giao tiếp giữa người với người trong xã hội
Chúng ta nhận thấy người Mỹ có cách mời khác với người Trung Quốc, người Hàn Quốc có cách mời khác với người Úc, người Việt có cách mời khác với người Anh… Sự khác nhau giữa các cách mời ấy là ở chỗ mỗi con người sống ở mỗi dân tộc khác nhau mang những đặc điểm văn hóa xã hội khác nhau; mỗi một dân tộc lại là một môi trường giao tiếp văn hóa xã hội rộng lớn nên khi giao tiếp với nhau, các thành viên giao tiếp chịu ảnh hưởng bởi môi trường giao tiếp mà mình sinh sống Vì lẽ đó, trong môi trường giao tiếp là môi trường văn hóa xã hội Việt, lời mời của người Việt sẽ mang những đặc trưng riêng có được quy định bởi những đặc điểm của môi trường văn hoá xã hội con người Việt
Có rất nhiều cách hiểu về giao tiếp Giao tiếp, trên bình diện khái quát, đó là
“sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” Theo cách hiểu này, giao tiếp ngôn ngữ là “sự thông báo hay truyền đạt một số nội dung trong
tư duy bằng ngôn ngữ” Chi tiết hơn, “giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa hai chủ thể giao tiếp diễn ra trong một ngữ cảnh và tình huống nhất định, bằng một
hệ thống tín hiệu nhất định” Và cũng theo cách hiểu này, giao tiếp bằng lời là quá
Trang 12trình tương tác giữa hai hay một số người bằng ngôn ngữ Ở nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu về một hành động ngôn ngữ – hành động mời, vậy nên chúng tôi chỉ quan tâm đến vấn đề giao tiếp ngôn ngữ – giao tiếp bằng lời (trong sự phân biệt với giao tiếp phi ngôn ngữ – phi lời)
Theo những cách hiểu về giao tiếp như trên thì một cuộc giao tiếp bao gồm
các nhân tố: nhân vật giao tiếp, thực tế được nói đến, hoàn cảnh giao tiếp, hệ thống
tín hiệu được sử dụng làm công cụ
Chúng tôi xin trích dẫn lược đồ tổng hợp các yếu tố và các chức năng trong giao tiếp của Jakobson mà chúng tôi cho là đầy đủ nhất:
Ngữ cảnh Chức năng quy chiếu
Chức năng biểu cảm Chức năng thi học Chức năng tác động
Tiếp xúc Chức năng đưa đẩy
Mã Chức năng siêu ngôn ngữ
Nhìn vào lược đồ trên chúng ta nhận thấy, để đảm bảo một cuộc giao tiếp hiệu quả, cần tính đến rất nhiều yếu tố Hay nói cách khác, lý thuyết về giao tiếp quan tâm đến những vấn đề sau:
1.1.1 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp hay còn gọi là vai giao tiếp bao gồm người phát và người nhận Người phát được gọi là vai người nói, người nhận được gọi là vai người nghe; trong quá trình giao tiếp sẽ có sự luân phiên thay đổi vai trò người nói và người nghe giữa các nhân vật giao tiếp
Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ có những đặc điểm về văn hóa, kinh nghiệm sống, hoàn cảnh giao tiếp, thói quen… đặc biệt là có chung
Trang 13với nhau những tri thức về đề tài sẽ được nói tới trong cuộc giao tiếp Và cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp đều có ý định (mục đích), có niềm tin giao tiếp – tin rằng cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả như mình mong muốn
Nhưng trong cuộc giao tiếp ấy, không phải nhân vật giao tiếp muốn nói gì thì nói Để cuộc giao tiếp diễn ra có hiệu quả thì nhân vật giao tiếp phải tiến hành lựa
chọn theo cách trả lời cho được những câu hỏi như: nói cái gì, nói như thế nào – sử
dụng loại câu gì, từ ngữ gì, âm thanh gì, ngữ điệu thế nào… trong đó nói gì và nói
như thế nào là quan trọng như nhau (trong thực tế cuộc sống, nhiều khi nói như thế nào còn khó khăn và quan trọng hơn cả nói gì)
Và cũng để cuộc giao tiếp diễn ra, duy trì và phát triển theo chiều hướng dự định, nhân vật giao tiếp (người nói) phải nhận thức được chính bản thân mình trong quan hệ với người nghe (là quan hệ vị thế hay thân hữu), đồng thời phải đoán nhận được hình ảnh của người đối thoại – người nghe với tất cả thuộc tính về động cơ, mục đích, nhân cách, địa vị xã hội, học vấn và hoàn cảnh trong đó giao tiếp diễn ra Bởi trong giao tiếp luôn luôn là người nói và người nghe cụ thể gắn với một tình huống, thời gian, không gian cụ thể Vì vậy để có một phát ngôn thỏa đáng, nhân vật giao tiếp không những phải xác định được vị thế của mình mà còn phải xác định được vị thế của người tham gia giao tiếp với mình Khi đã xác định được vị thế của mỗi bên tham gia giao tiếp, nhân vật giao tiếp sẽ có cách xưng hô phù hợp với nhau – sự có mặt của các từ xưng hô là một trong những yếu tố hình thức quan trọng làm cho lời nói nói riêng và cuộc giao tiếp nói chung có tính lịch sự (trong sự
đối lập với cách nói “trống không” – trong đa số trường hợp thường được coi là bất
lịch sự)
Cũng như vậy, khi ai đó muốn mời một ai đó, thì mời như thế nào chính là điều mà người mời phải quan tâm đầu tiên Đó là việc nhân vật giao tiếp (người mời) phải tính đến vị thế của mình và của người được mời để từ đó có sự lựa chọn
từ xưng hô cho phù hợp, đảm bảo tính lịch sự cho lời mời và hành động mời của mình để đạt kết quả giao tiếp cuối cùng là được người được mời đón nhận lời mời
Trang 14của mình với thái độ vui vẻ, niềm nở và thoải mái, chân thành Việc mời ở đâu và vào thời gian nào cũng góp phần tăng hiệu quả mời mọc
1.1.2 Hiện thực được nói tới
Hiện thực được nói tới chính là nội dung của các thông điệp trong lược đồ
mà Jakobson đã đưa ra
Ở cái nhìn khái quát, hiện thực chính là cuộc sống, mà cuộc sống thì muôn hình muôn vẻ Vậy có phải tất cả cái muôn hình muôn vẻ ấy đều có thể trở thành nội dung của các thông điệp hay nói cách khác, có phải tất cả cái muôn hình muôn
vẻ đều trở thành nội dung của các cuộc giao tiếp? Thực tế thì, bất cứ cái gì, chuyện
gì cũng có thể là cái được nói tới Điều quan trọng là cái gì ấy, chuyện gì ấy được nói như thế nào – nói với ai, lúc nào và ở đâu
Vì theo lý thuyết lịch sự thì có những nội dung, đề tài chỉ có thể đưa ra nói với người ngang hàng hoặc người dưới mà không thể nói với người trên Mặt khác, lại có những hiện thực liên quan đến người trên, dù không muốn nhưng người ở vị thế dưới vẫn phải nói tới trong cuộc thoại Trong trường hợp đó, hiện thực được nói tới rất dễ vi phạm tính lễ phép, lịch sự Lúc này, người ở vị thế dưới lại phải tính toán, cân nhắc lời ăn tiếng nói của mình sao cho lời nói vẫn biểu thị được sự lễ phép, lịch sự hoặc nó bị vi phạm ở mức độ thấp nhất Chẳng hạn như việc phê bình, nhắc nhở một đồng nghiệp lớn tuổi hơn, có vị trí xã hội cao hơn so với mình thì
việc “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” là cần thiết
Còn ở đề tài mà chúng tôi nghiên cứu, hiện thực được nói tới chính là những nội dung liên quan đến việc mời mọc
Khi người ta mời nhau nghĩa là người ta giao tiếp với nhau, và mời nhau về
chuyện gì, mời nhau làm gì chính là nội dung của những lời mời Đó có thể là mời
ăn, mời uống, mời chơi, mời xem, mời mua hàng, mời tham gia chương trình, mời tham dự hội thảo…; đơn giản hơn, có thể đó là những lời mời như: “mời anh vào nhà”, “mời anh ngồi xuống”, “mời anh uống nước”, “mời ở lại ăn cơm”, “mời ngày quay lại”… của chủ nhà khi có khách đến chơi
Trang 15Khi xã hội ngày càng phát triển, khi mà nhu cầu giao tiếp của con người trở thành một điều thiết yếu thì những lời mời cũng sẽ trở thành cầu nối làm tăng thêm mối quan hệ giữa người với người, và nội dung mời mọc cũng sẽ được mở rộng thêm
1.1.3 Hoàn cảnh giao tiếp
Bất cứ một cuộc giao tiếp bằng lời nào cũng phải diễn ra trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định Và tất cả những hiện thực nằm ngoài diễn ngôn tạo nên môi trường cho một cuộc giao tiếp được gọi là hoàn cảnh giao tiếp
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hoàn cảnh giao tiếp còn được gọi là ngữ cảnh văn hóa, bao gồm điều kiện xã hội, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng… ở thời điểm diễn ra cuộc giao tiếp
Còn hiểu theo nghĩa hẹp, hoàn cảnh giao tiếp còn được gọi là ngữ cảnh tình huống – tình huống giao tiếp hay thoại trường
Tình huống giao tiếp có thể hiểu là môi trường xã hội và tâm lí mà ở một thời điểm nhất định, một không gian nhất định người ta tiến hành hoạt động giao tiếp Nếu diễn xuôi thì một cuộc giao tiếp sẽ có sự tham gia của các thành tố:
ai – cho ai – về cái gì – ở đâu – khi nào (– để làm gì) *
(tương ứng với: người phát/ người nói – người nhận/ người nghe – chủ đề giao tiếp/ nội dung giao tiếp – địa điểm – thời gian (– động cơ, mục đích))
Áp dụng vào nghiên cứu hành động mời thì (*) sẽ tương ứng với:
người mời – người được mời – nội dung mời – ở đây – bây giờ
Chúng ta biết rằng, phát ngôn mời được hình thành trong giao tiếp đối thoại trực tiếp giữa người nói và người nghe, nội dung giao tiếp – chủ đề giao tiếp được đưa ra vào thời điểm và tại thời điểm đang diễn ra giao tiếp – đối thoại Hai thành
tố “ở đây” và “bây giờ” có giá trị hạn định tình huống giao tiếp trong một bối cảnh
cụ thể Và đây cũng là một đặc điểm riêng có của các phát ngôn ngôn hành nói chung (trong sự phân biệt với các phát ngôn thông thường khác)
Trang 16Tính hạn định của tình huống giao tiếp đã rất có ích trong việc lý giải một số vấn đề Ngữ dụng nói chung và trong nghiên cứu hành động mời nói riêng Bởi có những phát ngôn chỉ được coi là phát ngôn mời nếu được xuất hiện tại thời điểm nói đó – trong tình huống giao tiếp đó; còn xuất hiện tại thời điểm nói khác trong tình huống giao tiếp khác thì sẽ thuộc vào những loại phát ngôn khác
Một số tác giả có sự phân tích tỉ mỉ hơn về tình huống giao tiếp và họ cho rằng trong tình huống giao tiếp còn có các thoại trường Đó là một bộ phận nhỏ, hiện hữu của hoàn cảnh giao tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc giao tiếp Đó là không gian, thời gian cụ thể với những con người, sự vật… tạo thành không gian, thời gian đó – đây cũng là một cách nhấn mạnh đến tính thời điểm của các phát ngôn ngôn hành nói chung và phát ngôn mời nói riêng
Trong một cuộc giao tiếp, cái động chính là ngôn ngữ – ngôn ngữ liên tục được thay đổi do các vai giao tiếp luân phiên giao tiếp với nhau; còn cái ở trạng
thái tĩnh hơn chính là hoàn cảnh giao tiếp Nếu chúng ta càng “chia nhỏ” hoàn cảnh
ra thì chúng ta càng nhìn thấy rõ hơn sự thay đổi của hoàn cảnh giao tiếp Bởi nếu ở góc độ khái quát thì rất khó nhận ra sự biến động của hoàn cảnh giao tiếp vì mỗi cuộc giao tiếp chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, thậm chí là rất ngắn nếu đặt nó vào hoàn cảnh giao tiếp theo nghĩa rộng là điều kiện xã hội, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng… – những nhân tố mà sự thay đổi của nó phải tính bằng năm, thậm chí hàng chục năm…
Tuy nhiên, nhiều khi để giải thích cho một hiện tượng ngôn ngữ, người ta cần mượn đến rất nhiều cách hiểu của một khái niệm Vận dụng lý thuyết này khi nghiên cứu lời mời – hành động mời, chúng tôi cũng làm theo cách đó
1.2 Lý thuyết lịch sự
Vấn đề lịch sự chỉ thực sự bước vào lĩnh vực của Ngôn ngữ học một cách chính thức khi ngành Ngữ dụng học ra đời Giờ đây, nó trở thành cái không thể thiếu để góp phần giải thích, phân tích một cách thấu đáo các hành động ngôn ngữ Lịch sự như một cái thang để đánh giá các hành vi ứng xử của con người Soi chiếu
Trang 17điều này vào lĩnh vực ngôn ngữ học, các hành động ngôn từ sẽ được phóng chiếu trên thang độ lịch sự Vì vậy, nghiên cứu về lời mời trong giao tiếp người Việt cũng như hành động mời trong tiếng Việt, chúng tôi không thể không cần đến vấn đề lý thuyết này
Lịch sự được coi là một phạm trù ứng xử của con người trong giao tiếp Và đồng thời nó cũng là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội Lịch sự không những chi phối đến quá trình phát triển của cuộc thoại mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giao tiếp
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, chúng tôi tìm hiểu những khía cạnh sau của lý thuyết lịch sự:
1.2.1 Thể diện
Thường được hiểu đó là hình ảnh của bản thân ở nơi công cộng (hay là hình ảnh cái tôi trước công chúng của một con người), nó liên quan đến tình cảm và ý thức xã hội của bản thân mà ai cũng có mong muốn mọi người nhận ra Đây là một khái niệm mang ý nghĩa xã hội vì nó liên quan đến sự tồn tại về phương diện xã hội – tâm lý của cá nhân trong giao tiếp Khái niệm này gồm hai bình diện có quan hệ với nhau:
Thể diện dương tính (thể diện tích cực) là hình ảnh cái tôi nhất quán và tích
cực mà các thành viên tương tác muốn có cho mình, đó là sự mong muốn được người khác chấp nhận, quan tâm như: mong muốn được nhận lời khen, lời chúc mừng, lời mời…
Thể diện âm tính (thể diện tiêu cực) đòi hỏi cơ bản về sự riêng tư cá nhân,
quyền không bị quấy phá – quyền tự do hành động và tự do từ chối sự áp đặt Điều
đó có nghĩa là con người không muốn bị người khác “động chạm” hay “xía vào”
chuyện của mình, bị ngăn cản hay bị bắt buộc… Phần lớn mọi người trong xã hội đều nghĩ đến thể diện tiêu cực trong trường hợp giao tiếp chính thức nơi công cộng
Cách dùng các biểu thức rào đón bằng các từ như “làm ơn”, “xin lỗi”… khi muốn
Trang 18ai đó làm gì đó cho mình… chính là cách để không làm mất thể diện tiêu cực trong giao tiếp
Tất cả những con người khi đã tham gia vào giao tiếp đều có thể diện âm tính và thể diện dương tính Một sự vi phạm nào đó làm mất thể diện âm tính thì đồng thời cũng làm ảnh hưởng hay mất thể diện dương tính Như vậy, giữ thể diện
là một yêu cầu có tính nguyên tắc trong giao tiếp đối với cả người nói và người nghe
Hành động giao tiếp mời hướng đến thể diện tích cực của người được mời nhưng đồng thời lại tiềm ẩn nguy cơ đe dọa thể diện âm tính của người mời
1.2.2 Chiến lược lịch sự
“Chiến lược lịch sự” trong giao tiếp, hiểu một cách đơn giản là “không làm
mất lòng” nhau, là việc “lựa lời mà nói” để “cho vừa lòng nhau” Sử dụng thuật
ngữ ngôn ngữ học, đó là phải biết cách “giữ thể diện” và tránh “đe dọa thể diện” của người tham gia giao tiếp Biết cách để “giữ thể diện” và tránh “đe dọa thể diện” chính là biết về các “chiến lược lịch sự” trong giao tiếp
Chiến lược lịch sự dương tính (phép lịch sự tích cực): Chiến lược này hướng
đến thể diện tích cực của người nghe Đó là chiến lược giao tiếp làm cho người nghe vui lòng, thể hiện lòng ngưỡng mộ, tình tương thân tương ái, sự chia sẻ, sự quan tâm và sự đền đáp của người nói đối với người nghe Chiến lược này hướng người nói và người nghe đến mục đích chung
Chiến lược lịch sự âm tính (phép lịch sự tiêu cực): Chiến lược này hướng
đến thể diện tiêu cực của người nghe Đó là chiến lược giao tiếp làm cho người
nghe không cảm thấy bị ngăn cản hay ép buộc Nó được coi là “trái tim” của hành
động tôn trọng” [21, tr.78]
Chiến lược lịch sự gián tiếp (chiến lược lịch sự tàng ẩn) là chiến lược giao
tiếp mà người nói “cố tình” không nói thẳng ra mà để cho người nghe “tự hiểu” để rồi “tự hành động” Cách nói này làm cho người nói không phải chịu trách nhiệm
Trang 19về lời nói của mình để làm giảm đi khả năng động chạm đến thể diện của người nghe
Về bản chất, “mời” là một nghi thức xã hội – một hành vi lịch sự của con
người trong giao tiếp xã hội, nên tính lịch sự đã tiềm ẩn sẵn trong nó Tuy nhiên, nếu biết và nắm được các chiến lược lịch sự thì sẽ phát huy được hơn nữa tính lịch
sự trong giao tiếp nói chung và trong hành vi mời nói riêng, tô đẹp hơn nét văn hóa vốn có trong giao tiếp xã hội của dân tộc Việt
1.3 Lý thuyết về hành động ngôn trung
Trong lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, có thể hiểu một cách nôm na, đơn giản rằng, hành động ngôn trung là một hành vi ngôn ngữ, là một hành vi nói năng với động từ nói năng; cụ thể hơn đó là một phát ngôn ngữ vi với biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi
Một phát ngôn ngữ vi, thực chất đó là một biểu thức ngữ vi có hiệu lực ở lời trực tiếp, có thể có hoặc không có động từ ngữ vi Và Austin đã gọi các biểu thức ngữ vi có động từ ngữ vi là biểu thức ngữ vi tường minh và những biểu thức không
có động từ ngữ vi là những biểu thức ngữ vi nguyên cấp hay hàm ẩn
“Mời” cũng là một hành động ngôn ngữ – hành động nói năng hay hành
động ngôn trung Vì nó cũng có và đảm bảo đầy đủ các điều kiện để trở thành một hành động ngôn trung chính thức bởi khi thực hiện hành động này:
- người nói (người mời) bao giờ cũng ở ngôi thứ nhất;
- người nghe (người được mời) ở ngôi thứ hai;
- khi người mời thực hiện hành động mời, người mời có thể sử dụng hoặc
không sử dụng từ “mời” – có nghĩa là từ “mời” có thể xuất hiện hay
không xuất hiện trong phát ngôn mời tùy vào từng tình huống giao tiếp cũng như mục đích mời của người mời
Do đó, dựa theo cách phân chia của Austin về biểu thức ngữ vi và dựa vào
đặc điểm hoạt động riêng có của từ “mời” khi hành chức, chúng tôi cũng chia các phát ngôn mời ra thành hai loại lớn: phát ngôn có từ mời và không có từ mời
Trang 20Những phát ngôn mời có từ “mời” là những phát ngôn mời tường minh và những phát ngôn mời không có từ “mời” là những phát ngôn mời nguyên cấp hay mời
hàm ẩn
Sự xuất hiện hay thiếu vắng của từ “mời” trong các phát ngôn mời, cũng như
sự có mặt hay vắng mặt của từ xưng hô trong các phát ngôn mời cùng những nhân
tố khác ảnh hưởng đến nó sẽ đem lại những sắc thái ý nghĩa mời mọc khác nhau, góp phần làm nên nét văn hóa mời riêng có của người Việt cũng như góp phần vào
sự đa dạng của bức tranh giao tiếp của người Việt
Trang 21Chương 2
CÁC KIỂU MỜI TRONG GIAO TIẾP NGƯỜI VIỆT
“Mời” trong giao tiếp người Việt là mời trong bối cảnh giao tiếp văn hoá xã
hội Việt – trong hiện thực cuộc sống đa dạng và muôn màu muôn sắc
Lẽ thường, khi con người thực hiện bất kỳ một hành động nào cũng đều có lý
do và mục đích “Mời” cũng vậy, đây là một hành động có chủ đích của con người,
nghĩa là không tự nhiên mà người ta đi mời nhau Vì vậy, người ta sẽ thực hiện hành động mời này trong những hoàn cảnh giao tiếp xã hội nhất định
2.1 Những hoàn cảnh giao tiếp của lời mời
Hoàn cảnh giao tiếp là một trong những nhân tố của quá trình giao tiếp Đây
là một nhân tố ngoài ngôn ngữ nhưng lại quy định đến sự lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để biểu đạt
Ở góc độ khái quát, chúng tôi dùng thuật ngữ “hoàn cảnh giao tiếp” còn ở góc độ cụ thể, chúng tôi dùng thuật ngữ “tình huống giao tiếp”
Với thuật ngữ “hoàn cảnh giao tiếp”, chúng tôi quan niệm đó là ngữ cảnh
rộng, là bối cảnh văn hóa xã hội của đất nước, là những hiểu biết về điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, sinh lý, tâm lý, khoa học… mà những người giao tiếp có được khi giao tiếp Chúng hợp thành tiền giả định bách khoa của các nhân vật giao tiếp trong quá trình giao tiếp Đó chính là tri thức nền của bất cứ một người nào đã sinh
ra, lớn lên và trải qua môi trường học tập ở trường lớp hay xã hội
Do đó, khi nghiên cứu về hoàn cảnh giao tiếp của lời mời, chúng tôi nhận thấy, ngữ cảnh rộng chính là bối cảnh văn hóa xã hội với những phong tục tập quán
như cưới xin, ma chay, giỗ chạp…, với những sự kiện văn hóa, lịch sử mang dấu ấn
thời đại… mà trong đó làm xuất hiện vô số những kiểu lời mời
Với thuật ngữ “tình huống giao tiếp”, chúng tôi quan niệm đó là ngữ cảnh
hẹp, là cái môi trường xã hội và tâm lý mà trong đó, ở một thời điểm nhất định, một không gian nhất định người ta tiến hành hoạt động giao tiếp
Trang 22Như vậy, ngữ cảnh giao tiếp hẹp của lời mời chính là hiện thực có thể cảm nhận được bằng các giác quan hướng ngoại của nhân vật tham gia trong quá trình giao tiếp Đó là hiện thực của một không gian và thời gian cụ thể với những con người, sự vật cụ thể… tạo thành không gian, thời gian đó (nhiều người gọi đó bằng
thuật ngữ “thoại trường”) Chẳng hạn, anh đến gõ cửa nhà tôi vào một buổi chiều,
và tôi nói: “Mời anh vào nhà” thì tình huống giao tiếp ở đây được xác định rất cụ thể với không gian giao tiếp là “nhà tôi”; với thời gian giao tiếp là vào “buổi
chiều”; với nhân vật giao tiếp là “tôi và anh”; với nội dung giao tiếp là “mời anh vào nhà”; với mục đích giao tiếp là “anh vào nhà”
Vì tình huống giao tiếp nằm trong hoàn cảnh giao tiếp rộng hơn, nên trong quá trình giao tiếp, người ta vẫn sử dụng cái tiền giả định của ngữ cảnh rộng như một lẽ đương nhiên
2.1.1 Ngữ cảnh rộng của lời mời
Ngữ cảnh rộng của lời mời, như trên đã nói là bối cảnh văn hóa xã hội mang tính cộng đồng Vì mang tính cộng đồng nên bất kỳ người nào sống trong cộng đồng văn hóa xã hội ấy cũng phải tuân theo như một lẽ tất nhiên
Dấu ấn văn hóa xã hội của một giai đoạn lịch sử nào đó được phản ánh rõ rệt
ở ngôn ngữ Những lời mời xuất hiện trong giai đoạn 1930 – 1945 có những từ ngữ
mà đến ngày nay không còn dùng nữa như “rước”, “xin rước” (tương đương với từ
“mời”): “Xin rước các quan xơi rượu.” (NCH:78), “Xin rước quan về nhà nghỉ cho
đỡ nắng.” (NCH: 292), “Rước bà vào.” (TNVN: 471)… hoặc ít dùng như “xơi”,
“xơi tạm”… (tương đương với từ “ăn”); những từ xưng hô như: cậu (người đàn ông còn trẻ) “Mời cậu Tú vào xơi cháo cho nóng” (TNVN: 463); bà phó “Mời bà phó”
(TNVN: 643)… cũng không còn phù hợp với thời nay
Những ứng xử tương ứng với hoàn cảnh văn hóa xã hội được cả cộng đồng
xã hội chấp nhận trong một thời gian dài tạo thành những phong tục tập quán của người Việt Những phong tục ấy có thể bền vững với thời gian hoặc tồn tại trong một thời gian dài sẽ quy định lại những ứng xử của con người với con người Sẽ bị
Trang 23coi là lệch chuẩn khi những ứng xử của con người với nhau vi phạm vào những khuôn mẫu, phép tắc xã hội
“Mời” là một nghi thức xã hội, đồng thời cũng là một kiểu ứng xử của con
người sống với nhau trong cuộc đời này Vì mang bản chất của một nghi thức nên lối ứng xử này – hành động này luôn được thực hiện ở cấp ứng xử trang trọng và lịch sự và được cả cộng đồng xã hội thừa nhận và thực hiện
Trong văn hóa Việt Nam, khi gia đình có công việc như đám cưới, đám hỏi,
ma chay, giỗ chạp…, người ta không thể không mời nhau Dù thân hay sơ thì
người ta vẫn phải có lời với nhau Nhỡ khi vì quá bận rộn mà quên mất không mời
ai thì họ sẽ áy náy cho đến mãi sau này
Bình thường, ứng xử giữa những người cùng làng cùng xóm được thể hiện trong sinh hoạt thường ngày, và được thể hiện ở mức độ cao hơn trong những dịp gia đình có công việc Dù là thân thiết, gần gũi với nhau như anh em hay ở mức độ bạn bè xã giao thì người Việt Nam cũng không bao giờ coi thường hoặc hạ thấp những ứng xử với nhau Ngược lại những ứng xử đó càng được chau chuốt hơn trong những dịp như thế (Ngay cả việc giỗ chạp hàng năm, người Việt cũng luôn luôn luôn có những lời mời dù đối tượng mời chủ yếu là anh am họ hàng, láng giềng thân thiết) Chính điều đó càng làm tăng thêm mối quan hệ làng xóm vốn đã gắn bó khăng khít với nhau từ trước Một nét đẹp trong văn hóa ứng xử ấy thể hiện
ở hành vi ứng xử mời Chẳng thế mà người Việt có câu: “Lời chào cao hơn mâm
cỗ”
Đối với gia đình có con cái đến tuổi dựng vợ gả chồng, ngoài đăng ký kết hôn có xác nhận của chính quyền địa phương thì việc tổ chức đám cưới theo truyền thống là một phong tục bắt buộc Bên cạnh việc lo toan cỗ bàn thì việc lên danh sách khách mời là một việc không kém phần quan trọng Mời ai, và mời như thế nào để thể hiện được nhã ý của người đi mời và để người được mời cảm thấy sự trân trọng và chân thành của lời mời đó là những điều mà người mời phải suy nghĩ khi thực hiện hành vi mời Một đám cưới càng có sự hiện diện của nhiều người thì
Trang 24càng thể hiện sự quan tâm, gắn bó của hàng xóm đối với gia đình có công việc và đồng thời cũng thể hiện lối ăn ở của gia đình đó với láng giềng
Trước đây, khi hình thức thiếp mời chưa xuất hiện, khi phương tiện đi lại chưa thuận tiện như bây giờ, người ta vẫn đi bộ hàng chục cây số để đến từng nhà
để mời miệng Nếu là hàng bố mẹ đi mời, chúng ta thường thấy những lời mời như:
“Đến ngày…, gia đình tôi cho cháu đi ở riêng (nếu là con gái)/ xây dựng gia đình
cho cháu (nếu là con trai), gia đình có lời mời ông/ bà/ bác… hôm này đúng … giờ, ngày…, tháng… đến uống rượu mừng hạnh phúc cho cháu”…
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, hình thức thiếp mời ngày càng phổ biến, việc đi lại cũng thuận tiện hơn và suy nghĩ của con người cũng thoáng hơn, nhưng một số người vẫn giữ thói quen đi hàng trăm cây số để đến tận nhà nhau để mời, đặc biệt là những người lập nghiệp ở nơi đất khách thì khi con cái đến tuổi lấy vợ lấy chồng, họ vẫn về tận quê để mời Còn bạn bè thân thiết, ở khoảng cách không xa lắm, người ta cũng có thể bỏ qua lệ đến tận nhà đưa thiếp mời để mời mà có thể mời qua điện thoại
Nhưng dù là chỉ mời miệng hay có thiếp mời, dù là đến tận nhà mời hay mời
qua điện thoại thì cũng không bao giờ bỏ qua được những lời mời kiểu: “Hôm này
bố mẹ tớ cho tớ đi ở riêng (nếu là con gái)/ xây dựng gia đình cho tớ (nếu là con trai), mong bạn bớt chút thời gian để đến chung vui với gia đình tớ/ đến mừng hạnh phúc cho tớ…”; hay “Hôm này tôi cho cháu đi ở riêng/ xây dựng gia đình cho cháu, mời hai bác thu xếp thời gian đến dự bữa cơm thân mật với gia đình chúng tôi”…
Những phong tục tập quán như ăn hỏi, cưới xin, giỗ chạp, mừng tân gia, lễ
đầy tháng, lễ thôi nôi… là những sinh hoạt cộng đồng trong đó không thể vắng mặt
những lời mời Những lời mời chính là những ứng xử văn hóa của con người với con người nói riêng và của con người đối với truyền thống dân tộc nói chung Lời mời càng chân thành, lịch sự càng thể hiện được tình cảm của người đi mời thì càng dễ được chấp nhận
Trang 25Rõ ràng, lời mời là một nghi thức xã hội của Việt Nam, đồng thời cũng là một hành vi giao tiếp xã hội của người Việt nên nó thuộc về văn hóa ứng xử Đó chính là nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt Như vậy, những gì thuộc
về phong tục tập quán, ứng xử văn hóa của người Việt liên quan đến nghi thức này chính là ngữ cảnh rộng bao trùm lên những phát ngôn mời
2.1.2 Ngữ cảnh hẹp của lời mời
Ở đây, chúng tôi đề cập đến ngữ cảnh ít mang tính chất nghi thức hơn Đó là những lời mời xuất hiện trong những ngữ cảnh có không gian và thời gian hạn định, nghĩa là chúng ta có thể xác định được không gian và thời gian giao tiếp với những nhân vật giao tiếp và nội dung giao tiếp cụ thể, do đó chúng tôi dùng thuật
ngữ “tình huống giao tiếp” để gọi nó
Trong truyện ngắn “Hai anh học trò có vợ” (Bùi Hiển) có đoạn:
“Quả vậy, đôi bạn vừa tới cổng, Vịnh chưa kịp lên tiếng mắng con Vàng
đương sủa ầm ĩ, vợ anh đã chạy ra đuổi chó, đon đả chào chồng và chào khách, đoạn mời:
- Hai anh vào trong nhà”
(TNVN: 764)
Hay trong truyện ngắn “Ngôi nhà trên cát” (Dương Thu Hương) có đoạn:
“Tôi đứng dậy cáo từ
Quý hốt hoảng giằng chiếc túi du lịch:
- Sao lại thế? Em ở lại ăn cơm đã… Vợ anh sắp về bây giờ.”
(TNH: 44) Nhìn vào những đoạn văn trên, chúng ta dễ dàng xác định được tình huống
giao tiếp của hai lời mời “Hai anh vào trong nhà.” và “Em ở lại ăn cơm đã…” có không gian là “cổng nhà Vịnh và trong nhà Quý”, có thời gian là “vừa tới cổng và
vợ anh sắp về”, với nhân vật là “Vịnh, bạn Vịnh và vợ Vịnh cùng Quý và bạn Quý”
và cùng với nội dung giao tiếp là mời “vào nhà” và mời “ở lại ăn cơm”
Trang 26Rõ ràng, dù là ngữ cảnh hẹp, ít mang tính chất nghi thức nhưng những tình huống giao tiếp ấy vẫn dựa trên cái phông nền là văn hóa xã hội Việt Từ cái phông nền chung ấy, ta quy chiếu vào từng tình huống giao tiếp cụ thể và nhìn thấy được
rõ hơn ý nghĩa của những lời mời
Cái phông nền văn hóa xã hội chung (như đã đề cập ở mục 2.1.1) ấy là gì?
Đó là bất cứ người quen lạ hay thân sơ, người đến chơi với mình thì mình là chủ, người ta là khách Khách đến nhà thì phải ân cần mời vào nhà, mời ngồi, mời uống nước, ăn trầu, mời hút điếu thuốc và nói vài ba câu chuyện; thân thiết hơn thì mời cơm rượu, có điều kiện thì mời ra nhà hàng, quán xá; xa xôi lâu ngày mới gặp lại thì mời ở lại ăn bữa cơm hoặc chơi với gia chủ vài hôm cho dù cuộc sống có khó khăn như một phép lịch sự tối thiểu Nếu khách chỉ ghé qua cổng nhà hay bậc
cửa để “tào lao” dăm lời, hay nói bâng quơ đôi điều chứ không có ý định đến chơi
thì chủ nhà vẫn cứ phải mời khách vào nhà với thái độ niềm nở; nếu khách vì nể
“cái lời mời ấy quá nhiệt tình” mà “đành phải” bước chân vào nhà thì chủ nhà phải
mời khách ngồi, mời khách uống chén nước cho phải phép ; khi tiễn khách ra về
sẽ không quên mời khách ghé lại thăm nhà lần sau
Đó là khi mối quan hệ đã nên thân thì không thể không mời nhau đến nhà chơi cho biết nhà biết cửa; không thể không mời nhau đến nhà dùng bữa cơm thân mật với gia chủ cho tăng thêm tình thân hữu; rồi những khi gia đình có công có việc, không thể lại không đến từng nhà, gặp từng người để mời tham dự hay chia xẻ công việc
Đó là thói quen mời nhau trước khi ăn trong các gia đình Việt Ai là người cao tuổi thì được mời trước rồi theo thứ bậc mà mời tiếp từ lớn đến bé Người được mời thì cũng phải đáp lại lời mời Khi ăn cơm xong mà bố mẹ hay ông bà chưa ăn xong thì cũng phải mời thêm một lần nữa Bất kỳ bữa cơm nào (không kể bữa sáng,
bữa trưa, bữa tối), “cái sự mời mọc” này cũng được diễn lại tạo thành một nét văn
hóa mời trong bữa cơm của người Việt Văn hóa mời này làm tăng thêm tính cộng
Trang 27đồng của dân tộc, làm đẹp thêm văn hóa giao tiếp gia đình vốn chân thành, giản dị, mộc mạc nhưng chan chứa tình của người Việt
Đó là khi nhu cầu giao tiếp, trao đổi công việc không còn bó hẹp trong phạm
vi giữa cá nhân với cá nhân, mà đã mở rộng ra giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với tập thể, giữa các quốc gia với nhau thì những lời mời còn mang nhiểu ý nghĩa khác nữa Tùy vào tính chất công việc mà người ta có thể mời nhau bằng điện thoại, bằng thư, bằng thiếp hay đến gặp trực tiếp để mời; tùy vào đối tượng được mời (trong tương quan với người mời về tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội…)
mà người ta có thể mời nhau bằng những ngôn từ đơn giản, mộc mạc hay bằng những từ ngữ chau chuốt, bóng bẩy…; tùy vào tình huống mà người ta có thể mời nhau một cách dân dã, suồng sã hay trang trọng, lễ nghi… Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng trở nên hiện đại thì văn hóa mời của người Việt lại càng được phát huy Đôi khi, trong một số tình huống, nó không còn
là một hành vi giao tiếp bình thường mà trở thành một trong những chiến lược giao tiếp trong các cuộc đối thoại
Đó là rất nhiều những điều khác nữa mà mỗi thành viên sống trong cộng
đồng văn hóa xã hội ấy đều được dạy, được học hay “được” tự nhận thức một cách
tự nhiên, tạo nên các “thói quen của người bản ngữ” mà đã có một nhận định rất hay cho rằng “người bản ngữ luôn đúng”; để trong những tình huống giao tiếp cụ
thể, trước khi thực hiện bất kỳ một hành động nào, dù là chào hỏi, cảm ơn… hay mời mọc, như một lẽ đương nhiên, người nói sẽ phải suy nghĩ đến những quy ước,
phép tắc, luật lệ… xã hội như những điều “luật bất thành văn” để “nói cho phải
phép”
Tất cả những điều đó sản sinh ra các lời mời… với nhiều kiểu loại khác nhau Nên có thể nói, các phát ngôn mời phản ánh văn hóa giao tiếp mời và ngược lại có những yếu tố bên ngoài tác động lên lối mời mọc
Trang 28Hơn hết, nhìn nhận lời mời trong giao tiếp của người Việt dưới góc độ là những tình huống giao tiếp cụ thể trên cái phông nền ấy, chúng ta càng cảm nhận được sâu sắc hơn nét đẹp trong văn hóa giao tiếp ứng xử của người Việt
2.1.3 Tiểu kết
Không phải ngẫu nhiên mà người ta mời nhau, dù là những lời mời “ngẫu
hứng” thì nó cũng nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm nào đó Vì vậy, lời
mời luôn xuất hiện trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định nào đó
Về mặt hình thức, chúng tôi phân chia hoàn cảnh giao tiếp thành ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp Nhưng khi phân tích các phát ngôn mời thì vẫn phải đặt nó đồng thời trong cả hai loại ngữ cảnh rộng và hẹp
Mời là một nghi thức của người Việt Hành vi mời tạo ra những lời mời một mặt thể hiện nét văn hóa giao tiếp lịch sự, trang trọng của người Việt; mặt khác phản ánh hành vi ứng xử đẹp giữa người với người trong bất kỳ hoàn cảnh giao tiếp nào
Hoàn cảnh giao tiếp nào sản sinh ra các lời mời ấy Nói như Tạ Thị Thanh
Tâm “…có bao nhiêu biến thể hoàn cảnh, bao nhiêu quan hệ giao tiếp, có bấy
nhiêu lời mời khác nhau” [39, tr.132] Ngược lại nhìn vào các phát ngôn mời,
người ta cũng có thể nhận diện được các tình huống giao tiếp
Trong những hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất nghi thức, hành vi mời – lời mời không thể thiếu Sự vắng mặt của những lời mời trong những hoàn cảnh giao tiếp này sẽ làm mất đi tính nghiêm túc, trang trọng, lịch sự của nó
Nghi thức – hành vi mời góp phần bổ sung, phát triển thêm nét đẹp vốn có trong văn hóa giao tiếp của người Việt và chúng ta có thể nâng nó lên thành văn hóa mời của người Việt
Trong một số ngữ cảnh đặc biệt, lời mời được hiện thực hóa bởi những hành
động cụ thể như: viết và gửi thiếp, viết và gửi mail (Rất tiếc là chúng tôi chưa có
điều kiện lấy tư liệu ở dạng này để nghiên cứu)
Trang 29Trong bất kỳ hoàn cảnh giao tiếp nào thì người Việt luôn có những lời mời tương ứng với mỗi hoàn cảnh Từ đó sản sinh ra rất nhiều những lời mời với những kiểu cấu trúc mời góp phần làm phong phú bức tranh giao tiếp xã hội của người Việt và kho tàng ngôn ngữ của dân tộc
2.2 Các kiểu lời mời trong văn hóa giao tiếp người Việt
“Mời là tỏ ý mong muốn, yêu cầu người khác làm việc gì một cách lịch sự,
trang trọng” [38, tr.645] Ngay trong bản thân cách định nghĩa này, từ “mời” đã
hàm chứa trong mình tính lịch sự rất cao Xuất hiện trong hành động ngôn từ để tạo các phát ngôn mời mọc tham gia vào giao tiếp, sự có mặt hay không có mặt của nó
có làm cho tính lịch sự bị giảm đi không; trong văn hóa mời, người ta hay sử dụng
những phát ngôn mời với cấu trúc có từ “mời” hay không có từ “mời” hay cấu trúc
ngữ pháp khác; nó hoạt động như thế nào trong quan hệ với từ loại khác và trong các biểu thức biểu đạt, vai trò của từ xưng hô trong các phát ngôn mời này như thế nào… là những điều mà chúng tôi đề cập trong luận văn này
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy người Việt sử dụng rất nhiều các dạng biểu thức khác nhau để thực hiện hành động mời Trên diện khái quát và căn cứ vào
mặt hình thức, chúng tôi thấy có hai kiểu lời mời chính: kiểu lời mời có từ “mời” và
kiểu lời mời không có từ “mời” Chúng tôi gọi kiểu thứ nhất là những phát ngôn
mời tường minh hay còn gọi là mời trực tiếp; kiểu còn lại là những phát ngôn mời ngầm ẩn hay còn gọi là mời gián tiếp
Căn cứ vào sự có mặt hay thiếu vắng từ xưng hô (*Chúng tôi quan niệm từ
xưng hô là từ chỉ người được mời ở ngôi thứ hai, cũng có thể bao gồm cả người mời như: ta, mình, chúng mình…), chúng tôi phân loại và nghiên cứu phát ngôn
mời trực tiếp ở hai dạng: phát ngôn mời trực tiếp có từ xưng hô và phát ngôn mời
trực tiếp không có từ xưng hô; còn phát ngôn mời gián tiếp cũng được chia thành: phát ngôn mời gián tiếp có từ xưng hô và phát ngôn mời gián tiếp không có từ xưng
hô
Trang 30Có thể nói, văn hóa mời của người Việt được thể hiện sinh động và phong phú chính là ở những phát ngôn mời gián tiếp Sự bóng gió xa xôi, sự tình tứ ý nhị trong trong cách mời mọc của người Việt cũng được thể hiện rõ nét ở đây Và ngữ cảnh có vai trò tối quan trọng đối với những phát ngôn mời gián tiếp
Qua khảo sát, chúng tôi có được bảng phân loại sau:
STT Phát ngôn mời Số lượng Tỉ lệ (%) Ghi chú
02 Mời trực tiếp có từ xưng hô 139 30,1
03 Mời trực tiếp không có từ xưng hô 07 1,5
04 Mời gián tiếp có từ xưng hô 228 47,7
05 Mời gián tiếp không có từ xưng hô 99 20,7
Tên: Bảng tỉ lệ phát ngôn mời (%)
2.2.1 Phát ngôn mời trực tiếp có từ xưng hô
Sử dụng từ xưng hô trong các phát ngôn là thể hiện nét lịch sự trong văn hóa giao tiếp mời của người Việt
“Phát ngôn mời trực tiếp có từ xưng hô” được hiểu là những phát ngôn mời
có từ “mời” kết hợp trực tiếp ngay sau nó từ xưng hô – chỉ chủ thể được mời trong
cấu trúc sử dụng để mời
Cấu trúc: M + TXH + ĐT là một cấu trúc cơ bản và phổ quát cho hành vi
ngôn ngữ mời (Thực ra, cấu trúc ở dạng đầy đủ là: Ai mời ai làm gì, nhưng một điều hiển nhiên là chủ thể mời luôn là người, nên bộ phận Ai trong cấu trúc trên
thường bị lược đi.) Đó là một trong những nội dung ngữ nghĩa và hình thức phản
ánh tính lịch sự trong văn hóa giao tiếp người Việt “ăn có mời, làm có khiến”
Nếu cấu trúc này được phân tích theo cấu trúc thông tin thì ở đây có hai
thông tin chính: mời ai và mời (làm) gì Thường thì cả hai thông tin trên đều cùng
Trang 31có mặt trong phát ngôn mời và khi thực hiện phát ngôn mời này, cả hai thông tin này đều cùng nhau thể hiện nội dung ngữ nghĩa mời Thông thường phải có mặt cả hai thông tin trên thì mới cấu thành một phát ngôn mời theo đúng dạng chúng ta thường gặp
Có một điều thú vị trong khi phân tích sâu hơn về cấu trúc ngôn ngữ này là
từ “mời” ngoài mang nội dung thông báo “mời” thì trong một số tình huống, nó chỉ
đơn thuần là một yếu tố lịch sự
Khảo sát mảng văn học dân gian Việt Nam, chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện
của những phát ngôn mời trực tiếp (có từ “mời” với vai trò động từ ngữ vi “mời”)
là rất ít Giải thích về điều này chúng tôi cho rằng: có lẽ do đặc điểm của thể loại
đặc biệt trữ tình này – cái thể loại thể hiện đậm nét “bản chất nói năng” của người
Việt với lối nói ẩn ý, bóng gió, vòng vo là một trong những lý do làm cho sự xuất hiện của những lời mời trực tiếp trong ca dao không nhiều
Dù xuất hiện với số lượng ít ỏi, nhưng các phát ngôn mời trực tiếp (trong
một bài ca dao có một hoặc nhiều hơn một câu lục và câu bát, phát ngôn mời có thể nằm ở câu lục hoặc câu bát) cũng hiện lên với nhiều dạng khác nhau:
Trước tiên, các phát ngôn mời ấy vẫn theo cấu trúc cơ bản của một phát ngôn mời trực tiếp mà chúng ta thường thấy, đó là:
M + TXH + ĐT
Cấu trúc đó có thể xuất hiện trong lời mời khách dùng thuốc khi nhà có khách đến chơi:
Đôi tay nâng lấy điếu bình
Mời chàng xơi thuốc, thấu tình cho em
(LHN: 225) Trong lời mời khách vào chơi trong nhà:
Chén ngà sánh giọng quỳnh tương
Mời chàng nho sĩ văn chương bước vào
(VNP: 461)
Trang 32Trong lời mời khách ăn trầu:
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu, mời anh xơi trầu
(VNP: 422) Một số các phát ngôn mời khác được cấu trúc theo dạng đầy đủ:
TXH + M + TXH + ĐT
Trong cấu trúc này, có sự xuất hiện của chủ thể mời và đối tượng được mời tạo thành một cặp từ xưng – hô mang đúng nghĩa
Như một lời mời trầu:
Trầu xanh, cau trắng, chay vàng
Cơi trầu bít bạc, thiếp mời chàng ăn chung
(LHN: 196) Hay cũng trong một lời mời trầu khác:
Trầu têm sáu miếng rõ ràng
Bỏ ra cơi thiếc, thiếp mời chàng ăn đi
(LHN: 196)
Sự xuất hiện của từ xưng hô trong những câu ca dao trên làm tăng thêm tính lịch sự, trang trọng vốn có của các phát ngôn mời
Khảo sát mảng văn học viết (truyện ngắn) chúng tôi nhận thấy, bản thân từ
“mời” được kết hợp và xuất hiện trong sự đa dạng của những từ xưng hô Tuy
nhiên, cấu trúc mời mọc về cơ bản vẫn tuân theo cấu trúc:
M + TXH + ĐT
Về hình thức, cấu trúc này có thể được mở rộng hoặc giữ nguyên cấu trúc lõi tùy thuộc vào nội dung hay cách mời mọc của chủ thể mời Sự dài ngắn có thể được mở rộng ở phần sau động từ (mở rộng về bên phải), có thể được mở rộng ở
trước từ “mời” (mở rộng về bên trái) hoặc mở rộng đồng thời cả hai bên
Mở rộng về bên phải:
“…Rồi quay lại bảo Hai Nhiêu:
Trang 33- Nào, bây giờ mời ông vào hàng, xơi với tôi chút cơm rồi tôi lại tiễn ông lên
đường không giám giữ.”
(TNVN: 227)
Mở rộng về bên trái:
“…đại tá Bảy Lê xách bình toong ra đứng liêu xiêu trước mũi tàu
-…Có ly rượu nhạt, mời các anh em về cùng hưởng.”
(VNQĐ: 19, số 690)
Mở rộng cả hai bên:
“…Cụ Sáu tiễn khách ra cổng với một câu:
- Thỉnh thoảng có đi qua tệ ấp, xin mời ông khách ghé thăm tôi như một
người bạn cũ…”
(TNVN: 387) Môi trường văn hóa xã hội đa sắc đa thanh đã làm nảy sinh và xuất hiện rất nhiều những kiểu mời mọc khác nhau tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa mời nói chung và các phát ngôn mời nói riêng
Đối với những người làm nghề chạy xe kiếm sống, lịch sự trong cách cư xử với khách là một điều tối thiểu Điều đó cũng góp phần thể hiện nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt Trong cuộc sống đời thường, chúng ta vẫn hay nghe thấy những lời mời khách của các anh phu xe/ lái xe, dù vất vả, mệt nhọc nhưng vẫn rất lịch sự:
Như: “Này, mời bà lên xe!” / “Mời bà lên.”
Người Việt Nam có câu “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, “lời chào” ở câu tục
ngữ này chính là lời chào mời trong văn hóa ăn uống của người Việt Những lời
Trang 34mời ăn uống có khi để thể hiện sự hiếu khách của gia chủ; có khi để thể hiện lòng biết ơn vì ai đó đã giúp đỡ mình; có khi đơn giản chỉ là thể hiện sự quan tâm của mình đến người khác… Nhiều khi những lời mời đó là những lời nói hết sức giản
dị, chân thành nhưng biểu hiện sâu sắc tình cảm giữa con người với con người trong xã hội
Có thể là lời mời bình dị nhưng chân thành của cái Ve đối với thầy giáo:
“Mời thầy xơi.”
(NCH: 173) Hay một lời mời tha thiết của Hai Nhiêu đối với người đã giúp đỡ mình:
“Nào, bây giờ mời ông vào hàng, xơi với tôi chút cơm rồi tôi lại tiễn ông
lên đường không dám giữ”
(TNVN: 227) Hoặc một lời mời rất bình thường nhưng chứa đựng sự lễ phép, quan tâm của người ở đối với cậu chủ Tú:
“Mời cậu Tú vào xơi cháo cho nóng”
(TNVN: 463) Đối với các gia đình Việt, khách đến chơi nhà là một điều rất quý Lòng hiếu khách của người Việt đã trở thành truyền thống Những lời mời khách khi nhà có khách đến chơi cũng góp phần thể hiện truyền thống đó
Thường khi khách đến chơi nhà, xưa thì người Việt thường đem trầu, thuốc,
nước ra mời vì “miếng trầu là đầu câu chuyện”:
“Mời bà cứ ngồi chơi thư thả xơi nước, xơi trầu đã.”
(TNVN: 666) Khi khách đến chơi nhà, kèm theo những hành động ra mở cửa, mở cổng là những lời mời vào nhà:
(a) “Mời bạn vào.”
(TNH: 58)
(b)“Mời bác vô đây.”
Trang 35Như:
“Mời cậu ngồi xuống em thưa chuyện…”
(TNVN: 692)
Ngôn ngữ cũng phản ánh xã hội, có những ngôn ngữ chuyên biệt – lớp ngôn
từ chỉ riêng có cho một bộ phận nào đó của xã hội Những phát ngôn mời của những nhóm người đặc biệt trong xã hội mang một dáng dấp khác với những phát ngôn mời mà chúng ta thường gặp
Cũng là một lời mời ai đó ăn, nhưng ngôn từ dùng để mời ở chốn chùa chiền
sẽ khác với cách mời thông thường:
“Mời cô hưởng chút lộc Phật.”
(TNHTGN: 61)
Trang 36Chúng ta thường ít gặp, thậm chí không bao giờ thấy cách mời này trong cuộc sống thường ngày Nếu ai đó có sử dụng lối mời như vậy, chắc chắn là cố tình nhằm một mục đích nào đó
Trong rất nhiều các nhu cầu của con người thì nhu cầu giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu Không chỉ khi người ta cần nhau giúp đỡ thì mới tìm đến nhau đến nhau mà nhiều khi đến với nhau, đơn giản chỉ là đến chơi, đến thăm nhằm thỏa mãn đời sống tình cảm Những lời mời đến nhà nhau chơi phải chăng cũng xuất phát từ nhu cầu trao đổi tư tưởng tình cảm đó
Khi một người cất lời mời ai đó đến nhà chơi thì chắc chắn người đó phải có
ít nhiều tình cảm đối với người được mời.:
(a) “Mời Ái đến nhà anh chơi.”
(VNQĐ: 23, số 652) (b) “Rảnh rỗi mời bác sang phòng em chơi.”
(VNQĐ: 44, số 648)
Trong quá trình khảo sát và tìm hiểu đề tài này, chúng tôi nhận thấy những phát ngôn mời không chỉ xuất hiện trong giao tiếp giữa người với người đang sống
mà còn xuất hiện trong giao tiếp giữa người sống với người đã mất:
“…Thưa tất cả hương hồn anh em liệt sĩ Chúng tôi là Bảy Lê và Mười Đức
của anh em đây…Có ly rượu nhạt, mời các anh em về cùng hưởng.”
(VNQĐ: 19, số 690) giữa người sống với các bậc thần thánh, siêu nhiên:
“…kính mời thần về dự tiệc và ban cho điềm lành…”
(VNQĐ: 20, số 653) Điều này, một mặt nó khẳng định có một đời sống tâm linh trong xã hội Việt; mặt khác nó phản ánh một văn hóa ứng xử nhân văn của con người Thật thú vị vì những điều này được thể hiện bằng rất nhiều cách, trong đó có cách sử dụng hành động mời
Trang 37Sử dụng từ xưng hô trong giao tiếp là một trong những nhân tố góp phần làm nên sự hợp tác trong hội thoại Điều này lý giải tại sao vẫn nội dung ấy nhưng nếu biết cách sử dụng từ xưng hô một cách hợp lý có thể làm người nghe cảm thấy thoải mái, dễ chịu và ngược lại nếu không biết cách xưng hô thì sẽ gây ra sự bất hợp tác trong hội thoại Sử dụng từ xưng hô trong các phát ngôn mời cũng vậy,
nhiều khi là cả một nghệ thuật – nghệ thuật sử dụng ngôn từ Cách xưng hô “con”
trong phát ngôn mời dưới đây là một minh chứng cho điều đó
“Ông thông cảm, con nhiều việc quá Hôm nay con vào mời ông bà và chị
Quyên chiều ra ủy ban họp về việc tổ chức ngày giỗ tổ nghề sao cho long trọng,
đúng quy cách.”
(VNQĐ: 53, số 653) Trong quan hệ xã hội, đối với người già chúng ta thường hô (gọi) là ông, bà
và xưng “cháu” Nhưng ở đây, người đi mời đã mời rất khéo bằng cách xưng “con”
để làm tăng thêm mức độ gần gũi với người được mời, để mong người được mời nhận lời mời của mình – đối với những lời mời tham gia vào công việc Như vậy,
sử dụng từ xưng hô đúng chỗ, đúng cách không những tăng tính lịch sự cho phát ngôn mời mà còn tăng hiệu quả cho giao tiếp
2.2.2 Nhận xét
Trong các phát ngôn mời trực tiếp có sử dụng từ xưng hô, từ “mời” đôi khi
chỉ là một yếu tố lịch sự; vai trò động từ ngữ vi thuộc về một (các) động từ khác
Trường hợp: “Xin mời ông ở lại xem thi đã.”
Tương tự như các trường hợp dưới đây:
(a) “Mời bác vào xơi cơm.”
Trang 38Trong những cấu trúc cực ngắn – cấu trúc chỉ với một động từ thì sự có mặt
của từ “mời” là một yêu cầu bắt buộc để cho phát ngôn là một phát ngôn mời chân chính Việc bỏ đi động từ “mời” sẽ ảnh hưởng tới bản chất mời mọc của phát ngôn
Và trong trường hợp này, vai trò ngữ nghĩa lịch sự của động từ mời cũng sẽ không
còn nữa mà nhường chỗ cho vai trò của một động từ ngữ vi “mời” chân chính
Xét một số trường hợp:
(a) “Mời bạn vào.” (TNH: 58)
(b) “Mời ông tới.” (TNH: 90)
(c) “Mời thầy xơi.” (TNVN: 173)
Trang 39nếu chúng ta bỏ từ “mời” thì các phát ngôn trên, theo thứ tự:
phát ngôn mời vì nếu chúng ta chỉ nói: bạn vào, ông tới, thầy xơi… thì những phát
ngôn này chưa đủ nghĩa để xác định đó là hành động ngôn ngữ nào Nó đòi hỏi
phải có thêm những tác tử ngữ nghĩa kèm theo (ví dụ: thêm tác tử ngữ nghĩa “đi” vào phát ngôn: “Bạn vào đi!” sẽ làm cho nó trở thành phát ngôn mệnh lệnh, nài nỉ
hoặc mời mọc tùy theo ngữ cảnh); Tuy nhiên, trong một số ngữ cảnh cho phép nó
cũng có thể là những phát ngôn mời (Tuy nhiên, phát ngôn (c1) Thầy xơi có thể coi
là một phát ngôn mời vì do đặc điểm của hành động mời ăn quy định Đây là một hành động cơ bản và rất quen thuộc đối với con người, người ta nói nó hàng ngày trong đời sống, nên nhiều khi sự ngắn gọn hết mức của nó không thể gây ra hiểu lầm.)
Các từ xưng hô được dùng ở đây rất đa dạng và phong phú Ngoài những từ xưng hô thường dùng là những đại từ nhân xưng, còn có những từ xưng hô mà
ngày nay không còn dùng nữa như “chàng”, “nàng”… (trong ca dao); “cậu”, “bà
phó”… (trong văn học giai đoạn 1930 – 1945) đến những từ xưng hô theo tên
riêng, chức vụ: thượng tá,… Những từ xưng hô này ngoài đặc điểm góp phần làm
tăng thêm tính lịch sự cho các phát ngôn mời còn biểu thị những đặc điểm ngữ nghĩa khác trong từng phát ngôn mời cụ thể
Một điều hiển nhiên là chủ thể phát ngôn hành động mời luôn luôn là con người; nhưng trong phần lớn các phát ngôn mời mà chúng tôi khảo sát thì chủ thể này thường ẩn đi (điều này thể hiện bằng sự thiếu vắng của từ xưng hô là những danh/ đại từ, tên riêng… chỉ người – chủ thể mời) Để lý giải cho hiện tượng này,
viện đến lý lẽ “xưng khiêm hô tôn” trong văn hóa giao tiếp của người Việt thiết
Trang 40nghĩ cũng là điều hợp lý Nhưng ở hành động ngôn ngữ này, sự khiêm tốn trong cách mời mọc được giảm thiểu tới mức tối đa Tuy nhiên chính việc ẩn đi chủ thể
mời làm cho từ “mời” mang vai trò vừa là động từ ngữ vi “mời” vừa là yếu tố lịch
sự Vì nếu chủ thể mời luôn luôn xuất hiện theo dạng: Ai mời ai hoặc Ai mời ai làm
gì thì từ “mời” chỉ có vai trò duy nhất là vai trò của động từ ngữ vi “mời” chân
thân của cấu trúc thể hiện nghi thức đó Sự xuất hiện của từ “mời” dù trong vai trò
là yếu tố lịch sự hay là một động từ ngữ vi chân chính đều làm tăng thêm tính nghi thức của nó Trong một số ngữ cảnh trang trọng bắt buộc đòi hỏi chủ thể mời phải
có mặt bên cạnh từ “mời” theo cấu trúc: Ai mời ai làm gì Trong thực tế, những
phát ngôn mời sử dụng cấu trúc này thường gặp trong tình huống gia đình có con cái đến tuổi dựng vợ gả chồng, và bố mẹ thường đại diện cho con cái đi mời họ hàng, láng giềng đến tham dự lễ cưới Thậm chí, trong tình huống này, sự xuất hiện của chủ thể mời là bắt buộc
Hôm này ngày lành tháng tốt, gia đình chúng tôi mời ông/ bà/ cô/ dì/ chú/
bác… đến chung vui mừng hành phúc cho hai cháu ra ở riêng/ dự bữa cơm thân mật cùng với gia đình…
Cũng trong ngữ cảnh cho phép, và theo quy tắc tiết kiệm ngôn ngữ, nhiều khi trong một số tình huống, người mời không cần nhắc lại nội dung mời nên có những phát ngôn mời chỉ có cấu trúc:
M + TXH
Trường hợp:
(a) “Mời bà phó!”…