1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp

216 765 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả luận án chọn nghiên cứu về « Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp » với mong muốn g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN PHÚC TRUNG

HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG NGÔN NGỮ PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH

(TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV, CÓ SO SÁNH VỚI

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 9

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN 10

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 12

1.1 Giao tiếp và giao tiếp hội thoại 12

1.1.1 Khái quát về giao tiếp 12

1.1.2 Giao tiếp ngôn ngữ 17

1.1.3 Giao tiếp hội thoại trên bình diện giao tiếp ngôn ngữ 20

1.1.4 Giao tiếp và giao tiếp hội thoại trên truyền hình 27

1.2 Hành động ngôn từ 35

1.2.1 Về hành động ngôn từ 35

1.2.2 Phân loại hành động ngôn từ 36

1.2.3 Hành động hỏi 38

1.3 Phỏng vấn báo chí và ngôn ngữ phỏng vấn 41

1.3.1 Phỏng vấn báo chí 41

1.3.2 Phân loại phỏng vấn 45

1.3.3 Ngôn ngữ phỏng vấn 46

1.3.4 Một số yếu tố kèm lời và phi lời ảnh hưởng đến hoạt động phỏng vấn 51

1.4 Văn hóa trong giao tiếp và giao tiếp hội thoại trên truyền hình 53

1.4.1 Phép lịch sự và quan điểm của G.N.Leech, P.Brown và S.Levinson 53

1.4.2 Phép lịch sự trong hoạt động phỏng vấn truyền hình 57

Tiểu kết 58

Trang 3

CHƯƠNG 2: HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH

TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV 60

2.1 Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình 60

2.1.1 Dẫn nhập 60

2.1.2 Nhận diện hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn trên truyền hình 60

2.1.3 Mối quan hệ giữa câu hỏi và hành động hỏi trong giao tiếp ngôn ngữ

trên truyền hình 61

2.1.4 Hỏi trong hoạt động phỏng vấn truyền hình 65

2.2 Nghiên cứu điển hình (Case Study) về hỏi trong một số dạng phỏng vấn truyền hình trên VTV 70

2.2.1 Hỏi trong phỏng vấn của các chương trình thời sự 70

2.2.2 Hỏi trong phỏng vấn của các thể loại chân dung 76

2.2.3 Hỏi trong phỏng vấn của các chương trình trò chơi, giải trí 78

2.2.4 Một số dạng câu hỏi hay được sử dụng trong các chương trình

truyền hình của VTV 78

2.3 Một số yếu tố ngoài ngôn ngữ chi phối giao tiếp ngôn ngữ trong

phỏng vấn truyền hình của VTV 97

2.3.1 Thể phát và thể nhận 99

2.3.2 Hoàn cảnh, bối cảnh trong giao tiếp phỏng vấn truyền hình 103

2.3.3 Yếu tố tâm lí 104

2.3.4 Yếu tố phi ngôn ngữ 106

2.4 Tiểu kết 109

CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ - VĂN HÓA TRONG PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV 111

3.1 Dẫn nhập 111

3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 112

3.2.1 Về khái niệm văn hóa 112

3.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và ngôn ngữ 115

Trang 4

3.3 Một số vấn đề về văn hóa của người Việt thông qua hành động hỏi 116

3.3.1 Về khái niệm văn hóa ngôn từ 116

3.3.2 Đặc trưng văn hóa trong giao tiếp của người Việt 117

3.3.3 Một số đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt qua hành đông hỏi 121

3.4 Văn hóa ứng xử trong giao tiếp phỏng vấn trên VTV 124

3.4.1 Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp phỏng vấn truyền hình 124

3.4.2 Nghiên cứu điển hình về ứng xử ngôn ngữ trong phỏng vấn truyền hình qua hành động hỏi trên sóng VTV 128

3.5 Tiểu kết 148

CHƯƠNG 4: BƯỚC ĐẦU SO SÁNH HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG PHỎNG VẤN TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV-VIỆT NAM VÀ KÊNH TV5-PHÁP 150

4.1 Dẫn nhập 150

4.2 Giới thiệu cứ liệu 151

4.2.1 Tổng quan về TV5 Monde 151

4.2.2 Tổng quan về VTV 152

4.2.3 Cứ liệu dẫn xuất 154

4.3 Phân tích cứ liệu 155

4.3.1 Về mặt hình thức 155

4.3.2 Về mặt nội dung 163

4.3.3 Về hành động hỏi và kỹ năng đặt câu hỏi 164

4.4 Nhận xét và đề xuất 190

4.4.1 Nhận xét chung 190

4.4.2 Một số ý kiến đề xuất 191

4.5 Tiểu kết 197

KẾT LUẬN 198

TÀI LIỆU THAM KHẢO 202

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 211

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 GTNN Giao tiếp ngôn ngữ

2 THVN Truyền hình Việt Nam

3 VTV Đài Truyền hình Việt Nam

4 TV5 Kênh truyền hình quốc tế TV5 của Pháp

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Truyền hình bắt đầu phát triển từ sau thế chiến lần thứ II Trong hơn

50 năm qua truyền hình giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị, xã hội của người dân trên khắp thế giới

Ngày nay, truyền hình không chỉ đóng vai trò là nhà cung cấp thông tin, giải trí mà còn có tác dụng rút ngắn không gian và thời gian giữa con người với con người Hơn thế, truyền hình còn được coi là cửa sổ mở ra thế giới, nó thể hiện khát vọng về một thế giới chung cho tất cả mọi người ở tất cả mọi nơi, đem lại cho khán giả tấm gương phản chiếu cuộc sống của chính họ Hay nói như Anthony Gidden (2001): Truyền hình không chỉ « thể hiện » thế giới cho chúng

ta, nó ngày càng xác định thế giới mà chúng ta đang sống là gì?

Như vậy, truyền hình không đơn thuần là truyền hình mà còn là cầu nối, giao lưu giữa người làm chương trình với khán giả, đồng thời nó còn là một phương tiện giao tiếp đáng tin cậy

1.2 Hiện nay, truyền hình đã và đang phát triển không ngừng cả về chất

lượng và số lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả Trong sự lớn mạnh chung đó không thể không nói đến vai trò đặc biệt quan trọng của phỏng vấn truyền hình

1.2.1 Phỏng vấn là một hoạt động quan trọng Với việc kết hợp giữa ngôn

ngữ (mà ở đây là ngôn ngữ lời nói) và những yếu tố phi ngôn ngữ, phỏng vấn truyền hình được coi là « cuộc nói chuyện nguyên chất, sống động và hấp dẫn nhất » mà khán giả là người được « tận mắt » chứng kiến

1.2.2 Phỏng vấn hướng đến việc lấy được thông tin dễ hiểu và rõ ràng từ

« đối tác » trong thời gian ngắn nhất bằng cách đối thoại trực diện, trong đó SP1

sẽ là người chủ động nêu câu hỏi và « đối tượng » - SP2 trả lời nhằm cung cấp thông tin cho « một người thứ ba » - chính là khán giả

Trang 7

1.2.3 Thông qua trao đổi hỏi - đáp giữa người phỏng vấn với người được

phỏng vấn, khán giả sẽ có được những thông tin, đồng thời biết được rõ nét phong cách, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật ứng xử của những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp này Như vậy, phỏng vấn truyền hình vừa là một thể loại báo chí vừa là một thủ pháp, trong đó việc sử dụng ngôn từ được coi như là một chiến lược của giao tiếp phỏng vấn

1.3 Tuy nhiên, khi nghiên cứu về truyền hình, các nhà nghiên cứu mới chỉ

quan tâm nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học, công nghệ Và nếu có nghiên cứu

về mặt nội dung thì cũng mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu nghiệp vụ báo chí, đó là các quy trình, cách thức và kỹ năng về tổ chức, sản xuất tin, phóng sự, phim tài liệu và các chương trình giao lưu, giải trí v.v mà chưa chú ý một cách đúng mức đến việc sử dụng ngôn ngữ trên truyền hình, đặc biệt là ngôn ngữ phỏng vấn

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả luận án chọn nghiên cứu về « Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp) » với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả các cuộc phỏng vấn trên sóng truyền hình Việt Nam

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Nếu tính từ tờ báo « Presse Hollandaise » (báo người Hà Lan) tại

Amsterdam năm 1620 của Willem Janszoon Bleau thì truyền hình là một loại hình báo chí còn rất non trẻ Xét về lịch sử, truyền hình chỉ được biết đến vào năm 1927 khi tín hiệu truyền hình lần đầu tiên được Công ty phát triển truyền hình của Baird phát đi giữa Washington DC và New York (mặc dù tín hiệu này

đã không được phát sóng ra công chúng)

2.2 Về công nghệ truyền dẫn phát sóng của truyền hình, nó bắt đầu được

biết đến từ những năm 1929 tại Đức, nhưng ban đầu chỉ là hình ảnh phát đi mà không có âm thanh, cho mãi đến năm 1934 khi công nghệ phát triển thì truyền hình mới có cả « hình » lẫn « tiếng »

Trang 8

Tại Pháp, đến tháng 11 năm 1929, khi Bernard Natan thành lập Công ty truyền hình đầu tiên có tên Truyền hình - Baird - Natan, người ta mới biết đến sự hiện diện của truyền hình, nhưng cũng phải tới ngày 14 tháng 4 năm 1931 chương trình đầu tiên mới được phát sóng Và đến tháng 12 năm 1932 chương trình thử nghiệm bằng màu đen trắng được phát mỗi tuần một giờ, sau đó được phát hàng ngày từ đầu năm 1933

2.3 Ở Việt Nam, truyền hình được thành lập vào ngày 07 tháng 9 năm

1970 Tuy là « thế hệ sinh sau » nhưng vì là một tờ báo điện tử hiện đại, THVN

đã có những kế thừa và phát huy những thành tựu của báo chí trước đó, đặc biệt

là ngôn ngữ của báo in và phát thanh để trở thành một tờ báo quan trọng và hữu hiệu nhất hiện nay

2.4 Như vậy, từ khi ra đời đến nay truyền hình thế giới đã có hơn 100

năm và truyền hình Việt Nam đã có 41 năm xây dựng và phát triển, nhưng việc nghiên cứu về các vấn đề thuộc nội dung chương trình, đặc biệt là nghiên cứu về

1 Thiết bị thu đĩa - lớn và những điều khiển truyền hình sử dụng vào ngày 7 tháng 4 năm 1927 tại Mỹ

2 Tổng thư ký Thương mại Herbert Hoover phát biểu

3 Lãnh đạo cao cấp và những nhà nghiên cứu của AT&T

Trang 9

phỏng vấn mãi đến những năm gần đây mới được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm

2.4.1 Trên thế giới, có thể nói, các công trình nghiên cứu về phỏng vấn

truyền hình ở các nước khá đồ sộ nhưng chủ yếu nó được đề cập đến như là một thể loại báo chí và các kỹ năng cơ bản để thực hiện một cuộc phỏng vấn trên

sóng, đơn cử như: «Giao tiếp trên truyền hính - Trước ống kình và sau ống kình camera» của tác giả X.A Muratốp (Nga), «Nghệ thuật phỏng vấn các nhà lãnh đạo» của tác giả Samy Cohen (Pháp), «Công nghệ phỏng vấn» của Maria Lukina (Nga), hay «Nhà báo hiện đại» của The Missouri Goup cũng có một chương nói

về phỏng vấn v.v

2.4.2 Tại Việt Nam, từ hơn một thập kỷ nay, cũng đã có những nhà

nghiên cứu chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng chủ yếu vẫn chỉ tập trung vào các lĩnh vực như báo in hay phát thanh, nơi mà yếu tố ngôn ngữ đóng vai trò quyết định đến nội dung cần chuyển tải Còn về lĩnh vực truyền hình nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cần đi sâu nghiên cứu về mặt hình ảnh hơn là ngôn ngữ Vì vậy, họ đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ hình ảnh trong truyền hình và không chú trọng nhiều đến các yếu tố của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ phỏng vấn Tuy vậy, cũng đã có một số tác giả nghiên cứu đến các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ trong phỏng vấn truyền hình như luận văn thạc sĩ của Hà Nguyên Sơn Nghiên cứu của Hà Nguyên Sơn đã tìm hiểu diễn tiến ngôn ngữ trong các chương trình thời sự, thể loại chân dung, thể loại « trò chơi, gặp gỡ »5

và chi phối của ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình trong quá trình tác nghiệp, nghệ thuật đặt câu hỏi đối với các vị khách mời

2.4.3 Cũng ở cấp độ luận văn thạc sĩ tác giả Hoàng Lê Thúy Nga đã khảo

sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên Huế Khác với Hà Nguyên Sơn, Hoàng Lê Thúy Nga không phân chia theo từng chuyên mục, chương trình mà nghiên cứu một cách tổng quát Tác giả cũng đã tập trung

Trang 10

nghiên cứu cấu trúc cuộc thoại, câu hỏi phỏng vấn, các phương tiện ngôn ngữ v.v trong giao tiếp truyền hình

2.4.4 Ở cấp độ luận án tiến sĩ cũng đã có tác giả đề cập đến yếu tố lời nói

trong truyền hình như luận án của Nguyễn Thế Kỷ (2005) với «Dạng thức nói trên truyền hính» Trong công trình nghiên cứu này, Nguyễn Thế Kỷ đã nêu lên

những đặc điểm cơ bản của dạng thức nói trên truyền hình, chỉ ra sự khác nhau giữa dạng nói trên truyền hình với nói trên đài phát thanh, giao tiếp trên báo viết, điện thoại có hình, Internet6 Đồng thời, khảo sát một số hoạt động lời nói trên truyền hình, phong cách ngôn ngữ trên truyền hình

2.5 Đối tượng của luận án là hành động hỏi nên dĩ nhiên phát ngôn hỏi,

một phương tiện hình thức chuyền tải chủ yếu của nội dung hành động hỏi, không thể không được đề cập đến Phát ngôn hỏi đã được các nhà Việt ngữ học tìm hiểu kỹ, một số công trình gần đây nhất, chú ý tới nhân tố con người và hoạt động ngôn ngữ ở trạng thái động, trạng thái hành chức của nó Các tác giả này đã

đi sâu nghiên cứu câu hỏi ở bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng như các nhân tố: vai giao tiếp, ngữ cảnh, ý đồ… gắn với một kiểu diễn ngôn nhất định như Nguyễn

Thị Thìn (1994) nghiên cứu về «Câu nghi vấn tiếng Việt: một số kiểu nghi vấn thường không dùng để hỏi»; Lê Đông (1996) với «Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chình danh»; Nguyễn Việt Tiến (2002) là «Hỏi và câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng học»; và Đào Thanh Lan (2010) với «Ngữ pháp - Ngữ nghĩa của lời cầu khiến Tiếng Việt» cũng đã đề cập đến đặc điểm của lời hỏi trong mối tương

quan với lời cầu khiến Theo Đào Thanh Lan, về mặt hình thức, trong tiếng Việt,

có những lời hỏi nhưng lại mang trong nó đặc điểm nội dung của lời cầu khiến Đây là kiểu lời trung gian giữa hai kiểu lời hỏi và lời cầu khiến Nó tạo nên tính

6

Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên

kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao

thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người

sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), tìm dữ liệu (search engine), chuyển tải tin tức v.v Thuật ngữ internet còn được hiểu đó là trang báo điện

tử, một loại hình báo chí mới ra đời từ sự kết hợp của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 11

đa dạng và tinh tế trong thực tiễn dùng lời nói của người Việt nhưng đồng thời cũng gây nên sự phức tạp trong việc nhận diện chúng

2.6 Kế thừa và phát huy những thành quả đã đạt được trong nghiên cứu

của các tác giả nêu trên, luận án sẽ đi sâu khảo sát hành động hỏi, tức là hành động được thực hiện thông qua việc đặt các câu hỏi với mục đích khai thác thông tin từ phía khách mời/ người được hỏi trong phỏng vấn truyền hình Thông qua việc nghiên cứu các hành động hỏi, luận án sẽ đưa ra một số kiến giải về việc làm như thế nào hay nói đúng hơn là hỏi như thế nào để có một cuộc phỏng vấn

tự nhiên, hiệu quả, tức là để người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái, chủ động bộc lộ tư tưởng, quan điểm của mình

3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình trên các kênh của VTV (Việt Nam) và TV5 (Pháp) - với tư cách

là kênh đối chiếu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Như đã trình bày, đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động

hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình nên trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi sẽ tập trung vào giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau:

1 Nhận diện giao tiếp và giao tiếp trong hoạt động phỏng vấn truyền hình

2 Hành động hỏi và phân loại hành động hỏi

3 Nghiên cứu hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn truyền hình

4 Nghiên cứu các nhân tố giao tiếp ảnh hưởng đến hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn truyền hình

5 Nghiên cứu các phương tiện ngôn ngữ diễn tả hành động hỏi

6 Nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa và ứng xử ngôn ngữ đối với hành động hỏi và phương pháp đặt câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình

7 Thử nghiên cứu, đối chiếu về hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn trên các kênh của VTV của Việt Nam và kênh TV5 của Pháp

Trang 12

3.2.2 Tuy nhiên, do dung lượng của luận án và khả năng cá nhân chưa cho

phép nên luận án sẽ không tiến hành so sánh, đối chiếu một cách hệ thống hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn ở tiếng Pháp và tiếng Việt Nhưng trong quá trình phân tích các cứ liệu bằng tiếng Việt trên các kênh của VTV và trên kênh TV5 của Pháp, luận án sẽ đưa ra một số kiến giải, nhận xét sự tương đồng và khác biệt của hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên kênh VTV và TV5 Điều này sẽ giúp làm rõ hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình trên VTV, đồng thời sẽ

là tiền đề cho đề tài nghiên cứu so sánh, đối chiếu một cách hệ thống, toàn diện hơn

về hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình Pháp và Việt Nam

3.2.3 Cũng cần nói thêm rằng, nghiên cứu hành động hỏi nói chung và

nghiên cứu hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn nói riêng chính là nghiên cứu những ứng dụng của ngôn ngữ trong xã hội Đây là một nghiên cứu có tính liên ngành, liên quan đến hai địa hạt chính, đó là ngôn ngữ truyền thông (trên truyền hình) và giao tiếp trong hoạt động truyền thông Vì thế, chỉ có người bản ngữ mới hiểu hết được các ngữ cảnh sử dụng cũng như các sắc thái ngữ nghĩa mang tính riêng biệt của chúng Với lí do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn nguồn ngữ liệu chính là tiếng Việt, ngôn ngữ mẹ đẻ Và tiếng Pháp, chỉ mang tính thứ yếu nhằm bổ sung thêm nguồn ngữ liệu cho công tác nghiên cứu,

để từ đó những kết luận mà chúng tôi đưa ra sẽ có cơ sở và phổ quát hơn

Chúng tôi cũng không cho rằng những phân tích đưa ra đã khái quát hết được những khả năng biểu đạt của hành động hỏi trong tiếng Việt và tiếng Pháp

mà chỉ khẳng định rằng đó là những biểu hiện thường gặp và được các phóng viên, nhà báo Việt Nam và Pháp hay sử dụng trong những chương trình mang tính tiêu điểm của kênh VTV và TV5

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận án sẽ kế thừa và vận dụng các thành tựu về lí luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học và truyền hình có liên quan đã được sử dụng trong và ngoài nước Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, luận án này sẽ đề cập đến hành

Trang 13

động hỏi với tư cách là một hành động ngôn từ được thực hiện trong hoạt động phỏng vấn trên truyền hình nên để tiếp cận được một đối tượng như vậy chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

4.1 Phương pháp nghiên cứu

4.1.1 Phương pháp chung: Trên thực tế, để luận án có được những nhận

xét cụ thể và các kết luận đưa ra có tính khái quát thì việc nghiên cứu khoa học phải thực hiện theo quy trình quy nạp và diễn dịch Phương pháp quy nạp tức là

đi từ những dẫn chứng cụ thể để đúc, rút ra những luận điểm mang tính kết luận Còn việc đưa ra một nhận định về một vấn đề nào đó và sau đó chứng minh bằng những ví dụ cụ thể được gọi là phương pháp diễn dịch

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cả hai phương pháp trên nhằm tạo nên những lập luận vững chắc, chặt chẽ, đồng thời để kết luận đưa ra có sức thuyết phục

4.1.2 Phương pháp riêng

 Điền dã tư liệu cho đối tượng: Đây là phương pháp nhằm thu thập các

tư liệu cụ thể về hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn trên truyền hình của VTV và TV5 Mặc dù, hàng ngày, hàng giờ trên sóng truyền hình luôn có những chương trình phỏng vấn, nhưng để có được ngữ liệu người nghiên cứu phải dùng phương pháp lưu chương trình sang đĩa DVD, sau đó chuyển từ văn bản ở dạng thức nói sang văn bản viết Trên cơ sở các cứ liệu đã thu thập, tác giả luận án sẽ đánh dấu các phát ngôn chứa hành động hỏi để lập hồ sơ xử lý

 Khảo sát: Đây là quy trình tiếp theo của việc thu thập tư liệu Mục đích

chính là để xử lý các tư liệu hiện có theo bốn công việc sau đây: 1/ Mô tả chi tiết hành động hỏi; 2/ Phân tích hành động hỏi trên bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa - ngữ dụng; 3/ Phân tích hành động hỏi trên bình diện văn hóa; 4/ Phân tích hành động hỏi trên bình diện của các giao diện giao tiếp

 Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học và truyền thông:

Bên cạnh các phương pháp nêu trên, trong luận án này chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác của ngôn ngữ học và truyền thông như: Đối với

Trang 14

ngôn ngữ học đó là : 1/ Phương pháp phân tích hội thoại, phương pháp phân tích diễn ngôn ; 2/ Phương pháp phân tích dụng học - văn hóa; Với truyền thông học, chúng tôi

sử dụng phương pháp mô hình truyền thông giao tiếp và phương pháp tiếp thị xã hội (hay còn gọi là phương pháp tiếp cận công chúng)

4.2 Thủ pháp nghiên cứu

 Thống kê, quy loại và phân loại: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả

luận án tiến đã hành thống kê ngữ liệu, chủ yếu là các cuộc phỏng vấn trong các chương trình thời sự - chính trị - xã hội, văn hóa - thể thao - giải trí trên VTV và TV5 trong những năm gần đây Sau đó, chúng tôi phân loại theo dạng câu hỏi và mục đích của hành động hỏi Kết quả thống kê được sử dụng để rút ra các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Đồng thời, đó là những căn cứ thực tiễn giúp cho các cứ liệu khoa học có tính xác thực cao

 So sánh: Căn cứ vào cứ liệu của các cuộc phỏng vấn trên VTV và

TV5, chúng tôi sẽ đưa ra một số so sánh về hành động hỏi trong giao tiếp phỏng vấn của các phóng viên, nhà báo của hai đài

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

5.1 Ý nghĩa lí luận

5.1.1 Về mặt lí luận, luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng lí luận

ngôn ngữ kết hợp với lí luận báo chí và dụng học Việt ngữ, vì vậy thông qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn góp phần làm rõ thêm về giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn truyền hình

5.1.2 Luận án cũng muốn vận dụng lí thuyết hội thoại trong ngữ dụng học

để làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu phỏng vấn báo chí Đây là một phương pháp tiếp cận liên ngành Nhìn từ góc độ nào đó, sự tiếp cận này sẽ làm gia tăng phạm vi nghiên cứu, phạm vi ứng dụng của lí thuyết hội thoại nói riêng

và ngữ dụng học nói riêng

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

5.2.1 Về mặt thực tiễn, luận án sẽ góp thêm vào kho tư liệu, góp phần hữu

ích cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, học sinh, sinh viên chuyên ngành báo chí

Trang 15

và ngôn ngữ quan tâm đến việc ứng dụng ngôn ngữ trong cuộc sống nói chung

và báo chí nói riêng

5.2.2 Công trình nghiên cứu này cũng sẽ giúp cho những người làm

truyền hình và những người quan tâm đến giao tiếp trên truyền hình có thêm một

số kinh nghiệm trong khai thác thông tin thông qua hành động đặt câu hỏi cũng như khai thác triệt để chiến lược giao tiếp, nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong hoạt động phỏng vấn

5.2.3 Kết quả của luận án cũng sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng

chương trình, nhất là việc giao tiếp và ứng xử ngôn ngữ sao cho có văn hóa trong các chương trình phỏng vấn trên sóng Đài THVN trong bối cảnh hội nhập, giao lưu quốc tế hiện nay

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục luận án gồm 4 chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày những khái niệm mang tính lí thuyết làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài Các vấn đề đó là: Hành động ngôn từ; Giao tiếp và giao tiếp hội thoại trên truyền hình; Phỏng vấn và phỏng vấn trên truyền hình; Văn hóa trong giao tiếp

CHƯƠNG 2: HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV

Đây là một trong những chương cơ bản của luận án Nội dung của chương này sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề sau: 1/ Hành động hỏi trong giao tiếp trên truyền hình; 2/ Nghiên cứu điển hình (case study) về một số dạng phỏng vấn trên truyền hình; 3/ Đánh giá về thực trạng của phỏng vấn trên truyền hình: Các nhân tố của cuộc phỏng vấn

CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ - VĂN HÓA TRONG PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV

Với chương III, luận án sẽ tập trung vào việc khảo sát, đánh giá các yếu tố

văn hóa - ngôn ngữ trong phỏng vấn truyền hình Chúng tôi chú ý hai vấn đề:

Trang 16

 Văn hóa giao tiếp và giao tiếp trên truyền hình

 Yếu tố lịch sự, truyền thống dân tộc

CHƯƠNG 4: BƯỚC ĐẦU SO SÁNH HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG PHỎNG VẤN TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV-VIỆT NAM VÀ KÊNH TV5-PHÁP

Nội dung của chương IV sẽ bước đầu tiến hành so sánh hành động hỏi bằng tiếng Việt trên các kênh của VTV và hành động hỏi trên kênh TV5

Việc phân tích cứ liệu, các đoạn phỏng vấn được phát trên các kênh của VTV-Việt Nam và kênh TV5-Pháp, sẽ giúp cho tác giả luận án có dịp đưa ra các nhận định, đánh giá trong việc ứng dụng ngôn ngữ vào công nghệ cho một số chương trình tiêu biểu Ở chương này, chúng tôi sẽ vận dụng việc nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn nghiên cứu để so sánh theo ba vấn đề sau: 1/ Nội dung của cuộc phỏng vấn; 2/ Hình thức, phương pháp và cách thức tổ chức các cuộc phỏng vấn; 3/ Các kiểu dạng câu hỏi được sử dụng trong phỏng vấn

Với việc phân tích những ví dụ cụ thể sẽ cho thấy việc nghiên cứu không chỉ dừng lại ở phương diện lí thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong hoạt động phỏng vấn trên VTV nói riêng và trên các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam nói chung

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Giao tiếp và giao tiếp hội thoại

1.1.1 Khái quát về giao tiếp

1.1.1.1 Quan niệm và phân loại

Giao tiếp là hoạt động trao đổi, tiếp xúc giữa con người với con người trong

xã hội được thiết lập một cách tự giác, qua đó con người truyền đạt những thông tin, nhận thức, tư tưởng và biểu lộ những tình cảm, thái độ với nhau Xét về mặt triết học, giao tiếp là nhờ đó mà cái « Tôi » được biểu lộ ở người khác, « biện pháp để xác lập sự giao tiếp là tranh luận » [62, tr.213]

Một hoạt động giao tiếp được hình thành cần những nhân tố như: nội dung giao tiếp, nhân vật giao tiếp (người phát, người nhận), hình thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp, kênh giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp v.v Các nhân tố này có mối quan hệ hữu cơ với nhau cùng hướng tới mục đích giao tiếp Có tác giả đã đề xuất một sơ đồ giao tiếp như sau :

S

Sơ đồ 1.1 [24], [35]

Sơ đồ trên đã thể hiện một cái nhìn khá khái quát về hoạt động giao tiếp Tuy nhiên, những thành tố như nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện và kênh giao tiếp lại chưa được thể hiện tường minh Chúng tôi thấy cần bổ sung thêm một số thành tố khác theo sơ đồ dưới đây:

A: Người nói (Speaker) B: Người nghe (Hearer) C: Mã (Code)

E: Chu cảnh (Environment) N: Nhiễu (Noise)

Trang 18

Sơ đồ 1.2 Hoạt động giao tiếp được chia thành nhiều loại theo những căn cứ khác nhau Căn cứ vào vào chất liệu của phương tiện giao tiếp, có thể chia ra một bên

là việc sử dụng những vật thể để truyền đạt các thông điệp (như các dạng vật lưu niệm, quà tặng v.v ) còn một bên thì sử dụng vật chất theo một kiểu khác nghĩa

là có thể giao tiếp nhờ vào các yếu tố như âm thanh, ánh sáng, ngôn ngữ v.v để truyền tải thông điệp

Nếu lấy khoảng cách giữa các nhân vật tham gia giao tiếp làm căn cứ phân loại, có giao tiếp trực tiếp và gián tiếp Giao tiếp trực tiếp là sự tiếp xúc trực diện, đối mặt (hiện diện đầy đủ) giữa người « phát » và người « nhận » , tín hiệu giao tiếp thường được phản hồi tức thì; Giao tiếp gián tiếp là loại giao tiếp không

có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người phát và người nhận, các thông tin truyền đi phải thông qua một phương tiện trung gian ví dụ như thư từ, báo chí, sách vở truyền thanh, truyền hình v.v

Căn cứ vào mục đích giao tiếp, có giao tiếp công việc, giao tiếp nhân cách, giao tiếp nhận thức Giao tiếp công việc là loại giao tiếp trong đó người ta hợp tác với nhau cùng tham gia vào một công việc gì đó nhằm đạt tới mục đích chung v.v ; Giao tiếp nhân cách là loại giao tiếp trong đó con người tiếp xúc với nhau với tư cách là những nhân cách, đánh giá lẫn nhau trên cương vị là những

Bối cảnh giao tiếp

Phương tiện giao tiếp

Người phát

Người nhận

Nội dung

Kênh giao tiếp

Trang 19

thành viên xã hội theo quy tắc, luật lệ, phong tục, tập quán của xã hội; Còn loại giao tiếp mà ở đó con người tìm hiểu lẫn nhau và tìm hiểu thế giới bên ngoài là giao tiếp nhận thức

Giao tiếp cũng được phân chia ra thành giao tiếp có nghi thức và giao tiếp không có nghi thức Hoạt động giao tiếp được diễn ra theo một chương trình, kế hoạch tổ chức nhất định trong một không gian, thời gian được ấn định gọi là giao tiếp có nghi thức Giao tiếp có nghi thức thường được thực hiện bởi mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với nhau, ví dụ: diễn đàn, hội thảo, mít tinh hay lớp học v.v Giao tiếp không có nghi thức thường được hình thành bởi mối quan hệ giữa cá nhân không bị ràng buộc bởi những nghi thức định sẵn Những cuộc trò chuyện, tâm sự, những hoạt động đối thoại hàng ngày đều thuộc loại giao tiếp này

Các loại quan hệ trên thường tác động quan lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau làm cho mối quan hệ giao tiếp của con người vô cùng đa dạng và phong phú

1.1.1.2 Giao tiếp với hoạt động nhận thức

Một hoạt động giao tiếp bao giờ cũng là tổng hợp của các quá trình tri giác, hoạt động, tương tác, thông tin, tâm lí v.v Giao tiếp là tri giác, khởi đầu của hoạt động nhận thức « phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan » [18, tr.100] Mức độ nhận thức sẽ tuỳ thuộc vào khả năng tri giác của con người đối với các sự vật và hiện tượng mà họ muốn hiểu biết

Giao tiếp là quá trình hoạt động, một quá trình xác lập và duy trì sự tiếp xúc

có mục đích, trực tiếp hoặc gián tiếp bằng phương tiện này hay bằng phương tiện khác làm cho các nhân vật cùng tham gia có những biến đổi nhất định Hoạt động giao tiếp bao giờ cũng là sự liên kết hai chiều giữa bên « phát » và bên «nhận », cái « tôi » của mỗi vai có sự luân phiên theo lượt lời Trong suốt quá trình này, vai giao tiếp luôn thay đổi, các nhân vật giao tiếp thay phiên nhau giữ vai trò là người « phát » và người « nhận » Đó là sự tương tác giao tiếp Hoạt động tương

Trang 20

tác chú trọng đến sự tác động và sự biến đổi của đối tượng sau tác động Mối quan

hệ tương tác trong giao tiếp có thể được khái quát bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.3 Tuy nhiên, hai yếu tố trên chưa đủ để thiết lập một sơ đồ giao tiếp theo lí thuyết hiện đại Năm 1960 trong tác phẩm « Ngôn ngữ và thi pháp »(7)

, R Jacobson đã đưa ra sơ đồ giao tiếp với 6 yếu tố: Người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc, mã Chúng được tập hợp trong một sơ đồ:

Ngữ cảnh Người phát - Thông điệp - Người nhận

ô S

P STV

MC mời

B

Người phát

A

Người nhận

Trang 21

ngôn ngữ hoặc qua các tín hiệu) thì người ta gọi lí thuyết thông tin là « lí thuyết giao tiếp » [60]

Khi thông điệp đã được « mã » hóa nó sẽ truyền từ người phát đến người nhận qua một kênh dẫn Đối với giao tiếp hội thoại kênh đó là sóng âm, với trên phát thanh, truyền hình kênh đó được chuyển thành sóng điện từ, còn trong giao tiếp viết kênh đó là không gian con chữ (văn tự) Và, bất kỳ một hành động giao tiếp nào cũng diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định

1.1.1.3 Các giai đoạn của quá trình giao tiếp

Quá trình giao tiếp bao gồm một chuỗi các hoạt động kế tiếp nhau, được chia thành nhiều giai đoạn có mở đầu có kết thúc Người ta phân chia quá trình giao tiếp thành bốn giai đoạn: Giai đoạn định hướng cho hoạt động giao tiếp; Giai đoạn mở đầu của quá trình giao tiếp; Giai đoạn điều khiển, phát triển và điều chỉnh quá trình giao tiếp; Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp [1, tr.182-183] Sự phân chia như vậy là hợp lí, dưới đây chúng tôi xin làm rõ hơn các hoạt động cụ thể của từng giai đoạn giao tiếp:

- Giai đoạn định hướng cho hoạt động giao tiếp: là giai đoạn xác định

được đặc điểm của đối tượng giao tiếp, mục đích và nhiệm vụ giao tiếp, các phương tiện sử dụng làm công cụ giao tiếp v.v

- Giai đoạn mở đầu của quá trính giao tiếp: là giai đoạn tạo tâm thế cho

hoạt động giao tiếp từ việc xây dựng kế hoạch, các bước cụ thể hoá cho việc thực hiện kế hoạch giao tiếp và những điều kiện đảm bảo cho hoạt động giao tiếp có kết quả

- Giai đoạn điều khiển, phát triển và điều chỉnh quá trính giao tiếp: ở giai

đoạn này các chủ thể giao tiếp được bộc lộ hướng tới mục đích và nhiệm vụ giao tiếp, đòi hỏi sự tích cực, chủ động, linh hoạt của chủ thể giao tiếp Đây cũng là giai đoạn thường nảy sinh những yếu tố bất ngờ ngẫu nhiên, cần đến sự chú ý điều chỉnh của chủ thể giao tiếp

- Giai đoạn kết thúc quá trính giao tiếp: lúc này hoạt động giao tiếp đã

được thực hiện, chủ thể giao tiếp phải đánh giá được hiệu quả giao tiếp Hiệu quả

Trang 22

của hoạt động giao tiếp trước sẽ làm tiền đề và góp phần điều chỉnh hoạt động giao tiếp sau đó

Để thực hiện giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp cơ bản, cũng là phương tiện giao tiếp có nhiều ưu thế nhất Chính vì vậy khả năng ứng dụng của giao tiếp ngôn ngữ rất cao, nhất là trong lĩnh vực truyền thông

1.1.2 Giao tiếp ngôn ngữ

1.1.2.1 Khái niệm

Giao tiếp ngôn ngữ (GTNN) hay giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người Nó lấy ngôn ngữ (nói và viết) làm phương tiện Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt vừa có tính đơn trị vừa có đa trị Đồng thời, ngôn ngữ là loại phương tiện vừa có khả năng miêu tả đúng với hiện thực lại vừa có thể chuyển tải được chính xác kể cả những tư tưởng, tình cảm vốn rất khó xác định của con người

Mỗi tín hiệu ngôn ngữ vừa truyền tải nội dung sự vật, hiện tượng vừa có khả năng biểu hiện các sắc thái tình cảm (yêu, ghét, hờn, giận…) của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng mà nó biểu hiện Và, vì là một hệ thống tín hiệu có tính xã hội cao, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện tư duy, giao tiếp của những con người trong cùng một thời đại mà còn ở các thời đại khác nhau, lứa tuổi và nền văn hoá khác nhau

Hoạt động GTNN có hai quá trình: tạo lập văn bản và lĩnh hội văn bản Văn bản (hay ngôn bản) vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp Tác giả Phạm Văn Nam (2009) đã khái quát hóa hoạt động GTNN qua sơ đồ:

Sơ đồ 1.5 [40]

Tạo lập văn bản là hoạt động của người phát tin Một văn bản (nói và viết)

ra đời nghĩa là một thông điệp đã được người phát « mã » hoá bằng ngôn ngữ

Người nhận Người phát Tạo lập (Văn bản) Ngôn bản Lĩnh hội

Trang 23

Lĩnh hội văn bản là hoạt động giải « mã » ngôn ngữ do người nhận tin thực hiện

Có được tín hiệu ngôn ngữ từ người phát, người nhận phải dựa vào năng lực ngôn ngữ cùng với thói quen giao tiếp trong một hoàn cảnh cụ thể mà chiếm lĩnh được nội dung ý nghĩa của văn bản Hiệu quả của việc chuyển tải thông điệp phụ thuộc chính vào năng lực « mã » hoá thông tin của người phát và giải « mã » thông tin của người nhận

Việc lĩnh hội thông tin từ văn bản ngôn ngữ nhiều khi không giản đơn, nhất là đối với các văn bản có nhiều tầng nghĩa, các nhân vật giao tiếp lại khác nhau về văn hoá, đặc điểm tâm lí lứa tuổi, thói quen sử dụng ngôn ngữ v.v Chúng ta thường thấy xuất hiện không ít những hiện tượng giao tiếp không hiệu quả Có nghĩa là người nói nói một đằng, người nghe nghe một nẻo; nội dung văn bản đáng lẽ phải được hiểu thế này, nhưng lại bị hiểu theo nghĩa hoàn toàn khác theo kiểu « ông nói gà, bà nói vịt » Điều này không chỉ có nguyên do từ văn bản, từ việc lập « mã » và giải « mã » thông tin, mà còn do trạng thái tâm lí, sức khoẻ, khả năng chú ý, sự tương đồng về kinh nghiệm sống, về văn hoá của các bên tham gia giao tiếp Chúng tôi khái quát hóa nguyên nhân của quá trình giao tiếp không hiệu quả theo sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ 1.6

Trang 24

Như vậy, muốn hoạt động giao tiếp ngôn ngữ có hiệu quả, các nhân vật giao tiếp không chỉ căn cứ vào bản thân văn bản mà còn cần chú ý đến các yếu tố khác trong quá trình giao tiếp có ảnh hưởng chi phối nội dung thông điệp

1.1.2.2 Mục đích, hiệu quả của giao tiếp ngôn ngữ

- GTNN không chỉ nhằm mục đìch thông tin mà chủ yếu là tác động tới người nhận về tư tưởng, tính cảm và hành động:

Chức năng cơ bản của ngôn ngữ là thông báo, biểu hiện và tác động v.v

có khi thể hiện riêng rẽ, lại có khi được hoà trộn chặt chẽ trong một đơn vị ngôn ngữ Vì vậy, người nhận chỉ ở trong một ngữ cảnh cụ thể, đối mặt trực tiếp, cảm nhận được đầy đủ nét mặt, cử chỉ, giọng điệu v.v của người phát mới có thể lĩnh hội đầy đủ thông điệp mà người phát muốn gửi đến Nhiều khi ý nghĩa thông báo của hoạt động GTNN được ẩn đi mà chỉ còn sự tác động đến người nhận về

tư tưởng, tình cảm và hành động Hành động là chức năng thông qua giao tiếp, nói đúng hơn là với mục đích thông qua các diễn ngôn mà các đối ngôn tự ràng buộc mình và ràng buộc nhau vào một hành động nào đó Theo Đỗ Hữu Châu

(2003): « Có lẽ hành động là chức năng đầu tiên của con người đặt ra cho việc

giao tiếp bằng ngôn ngữ và bằng những phương tiện khác » [5, tr.135]

- « Mã » hoá đúng quy tắc ngôn ngữ là điều kiện cần thiết để đạt đến mục đìch giao tiếp chứ không phải là mục đìch giao tiếp:

Các đơn vị ngôn ngữ được hình thành bởi những quy tắc từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa Hoạt động GTNN không phải nhằm mục đích chuyển tải các quy tắc đó, trừ khi quy tắc ngôn ngữ chính là nội dung giao tiếp Một GTNN thông thường chỉ thật sự thành công khi cả người phát và người nhận đều lĩnh hội thông điệp theo cùng một nội dung Sử dụng đúng các quy tắc ngôn ngữ chính là điều kiện căn bản để chuyển tải đúng nội dung giao tiếp mà người phát mong muốn Ví dụ: dấu thanh trong tiếng Việt là một quy tắc, các phép hoán dụ,

ẩn dụ v.v là những quy tắc để chuyển nghĩa của từ Nhưng người nhận tin nhiều khi không quan tâm đến những quy tắc ấy, mà chỉ cần biết người « phát » muốn nói gì, mong muốn gì

Trang 25

- Hiệu quả của GTNN tỉ lệ thuận với sự hiểu biết về đối tượng giao tiếp:

Đối tượng giao tiếp trong thực tế rất đa dạng, có thể là một người hoặc nhiều người, có người chủ động, hào hứng, có người bị động, khiên cưỡng Nếu người nói đón được thị hiếu, sở thích của người nghe thì sẽ chủ động lựa chọn được nội dung nói, cách nói phù hợp làm cho người nghe thấy « lọt tai » hơn Hiểu biết đối tượng giao tiếp bao gồm nhiều mặt: tâm lí lứa tuổi, giới tính, sở thích, mối quan tâm, nghề nghiệp, vị trí xã hội v.v Sự hiểu biết về đối tượng giao tiếp càng kĩ bao nhiêu thì hiệu quả giao tiếp cũng theo đó mà tăng lên bấy nhiêu

Thực tế chứng minh rằng các đối tượng giao tiếp khác nhau sẽ quan tâm đến nội dung giao tiếp khác nhau, theo những yêu cầu, mức độ khác nhau, và họ cũng đòi hỏi những cách diễn đạt khác nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời

đã từng rất chú trọng đến đặc điểm này khi người nhắc nhở những người làm báo phải cân nhắc kĩ Viết cho ai? Viết như thế nào?

1.1.3 Giao tiếp hội thoại trên bình diện giao tiếp ngôn ngữ

1.1.3.1 Khái niệm, phân loại

Khi bàn về hội thoại, Đỗ Hữu Châu cho rằng: Hội thoại là một hoạt động căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này [dẫn theo 33]

Từ điển tiếng Việt (1997) định nghĩa: Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ

để nói chuyện với nhau [46, tr.444]

Theo chúng tôi, hội thoại là dạng thức giao tiếp bằng khẩu ngữ (tức là dùng ngôn ngữ lời nói) giữa các nhân vật tham gia giao tiếp nhằm trao đổi thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm v.v theo một mục đích xác định Trong hội thoại, ngoài ngôn ngữ là công cụ chính, các bên tham thoại còn có thể sử dụng các phương tiện kèm ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, nét mặt v.v để hỗ trợ

Hiện nay có nhiều cách phân loại hội thoại, nhưng phổ biến nhất là dựa vào số lượng người tham gia Theo đó, sẽ có các hình thức hội thoại giữa hai

Trang 26

người, hay còn gọi là song thoại (dialogue); giữa ba người, hay còn gọi là tam thoại (trilogue) và giữa nhiều người, đó là đa thoại (multilogue/ polylogue)

Căn cứ vào cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại, có hội thoại mang tính chủ động hay bị động của người nghe, hội thoại với sự có mặt hay vắng mặt của người nghe (như trên phát thanh hay truyền hình), hội thoại có người điều khiển và hội thoại không có người điều khiển

Dựa vào mục đích hội thoại, có hội thoại có mục đích, hội thoại không có mục đích Hội thoại có mục đích là những cuộc hội thoại có đích được các bên tham thoại xác định rõ ràng, ví dụ hội thoại trong các buổi thương thuyết, ngoại giao, hội thảo khoa học, phỏng vấn v.v Hội thoại không có mục đích thường là những cuộc thoại mà các bên tham gia giao tiếp không xác định mục đích một cách rõ ràng Những cuộc trò chuyện, tán gẫu đều thuộc loại này

Nếu lấy tiêu chí nghi thức để phân loại thì có hội thoại có quy thức và hội thoại không có quy thức Hội thoại có quy thức là hội thoại mà trong đó hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng theo một chương trình, kế hoạch định sẵn đến mức thành nghi thức; Còn trong cuộc nói chuyện, tâm sự, những hoạt động đối thoại hằng ngày thường không cần một hình thức bắt buộc nào cả được gọi là hội thoại không có quy thức

1.1.3.2 Các yếu tố của hội thoại

a Lượt lời

Lượt lời do những hành động ở lời tạo nên Nó là đơn vị cơ bản nhất của hội thoại Mỗi lượt lời sẽ được xây dựng trên cơ sở lượt lời trước đó Trong giao tiếp hội thoại, lượt lời được xem như một hoạt động xã hội, nó nằm trong một hệ thống thống nhất với những quy ước đối với việc giành lời, giữ lời, nhường lời (trao lời)

và đáp lời Hệ thống này thực sự cần thiết ở những thời điểm có khả năng chuyển lời cho người khác và đó chính là cơ chế của quá trình luân phiên trao - đáp

Tổ chức các hành động ở lời trong hội thoại gồm: cặp kế cận, cặp kế cận chêm xen, sự kiện lời nói, đơn vị hội thoại

Trang 27

- Cặp kế cận và cặp kế cận chêm xen:

Hành động ở lời nói ra, còn gọi là hành động dẫn nhập hay bộ phận thứ nhất, như đã biết thường gợi ra hành động ở lời đáp lại, tức hành động hồi đáp hay bộ phận thứ hai Hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp thích ứng với nó lập thành một cặp kế cận Căn cứ vào tính thỏa mãn đích của hành động có cặp

kế cận tích cực, là những cặp có hành động hồi đáp thỏa mãn đích của hành động

dẫn nhập (ví dụ: Q: - Đi chơi đi!?/ A: - Sẵn sàng!) và cặp kế cận tiêu cực, là cặp

có hành động ở lời không thoả mãn đích của hành động dẫn nhập (ví dụ: Q: - Đi chơi đi!?/ A: - Không được Tớ phải làm bài tập đã.)

Đôi khi giữa hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp của một cặp kế cận có một hoặc một số cặp kế cận xen vào giữa và người ta gọi đó là cặp kế cận chêm xen

- Sự kiện lời nói:

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về sự kiện lời nói Ở đây chúng tôi quan niệm rằng một sự kiện lời nói là một hoạt động, trong đó những người tham gia giao tiếp dùng những hành động ở lời tác động lẫn nhau nhằm đạt đến một mục đích nào đấy Mỗi sự kiện lời nói được tạo nên bởi một cặp thoại trung tâm, trong cặp thoại đó đích của hành động ở lời dẫn nhập quyết định đích của

sự kiện lời nói chứa nó Tên gọi của hành động ở lời dẫn nhập của cặp thoại trung tâm cũng là tên gọi của sự kiện lời nói đó

Trong một sự kiện lời nói tối thiểu chỉ có một cặp kế cận Tuy nhiên, sự kiện lời nói mở rộng là sự kiện lời nói ngoài cặp trung tâm còn có những cặp làm thành phần thứ nhất và thành phần thứ hai Trong phần thứ nhất đáng chú ý là cặp tiền dẫn nhập, trong phần thứ hai là cặp kết thúc

Ở sự kiện lời nói tối thiểu, người nói đưa ngay đích của mình ra bằng hành động dẫn nhập Nhưng do lịch sự, người nói đưa ra hành động dẫn nhập trung tâm của mình ngay có thể làm tổn hại đến thể diện của người nhận và cũng sợ mình sẽ

bị « mất mặt » nếu bị từ chối nên thường dùng những hành động tiền dẫn nhập hành

Trang 28

động trung tâm, gọi tắt là tiền dẫn nhập, để thăm dò phản ứng của người nhận trước khi nói ra hành động dẫn nhập trung tâm Thông thường, có các hành động tiền dẫn nhập như: tiền - thỉnh cầu; tiền - hỏi; tiền - mời; tiền - trần thuật v.v

b Đơn vị của hội thoại

Hội thoại cũng có cấu trúc, tôn ti tương tự như một đơn vị cú pháp Các đơn vị của cấu trúc hội thoại là: cuộc thoại; đoạn thoại; cặp thoại; tham thoại; hành động ngôn ngữ Trong đó, cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại là ba đơn vị lưỡng thoại (do hai thoại nhân tạo nên do vận động trao đáp) Tham thoại (bước thoại) và hành động ngôn ngữ là đơn vị đơn thoại (do một thoại nhân tạo ra)

- Cuộc thoại (cuộc tương tác): Cuộc thoại là đơn vị lớn nhất bao trùm, tính

từ khi các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói cho đến lúc chấm dứt

- Đoạn thoại: Đoạn thoại là một đoạn của cuộc thoại do một hoặc một số

cặp thoại liên kết với nhau về đề tài và về đích có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng các đoạn thoại khác làm cho cuộc thoại thành công (đạt được đích) Cũng có thể nói một đoạn thoại là một lập luận bộ phận (có kết luận tường minh hoặc hàm ẩn) góp phần vào lập luận chung của cuộc thoại Trong một cuộc thoại

có cấu trúc tổng quát: đoạn mở thoại - thân thoại - kết thoại Theo đó, đoạn mở

và kết thoại có cấu trúc tương đối ổn định, dễ nhận ra hơn các đoạn thoại tạo nên thân thoại

- Cặp thoại: Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất tạo nên đoạn thoại

và qua đoạn thoại mà góp phần tổ chức nên cuộc thoại Có các loại cặp thoại sau: Cặp thoại tối thiểu; Cặp thoại một tham thoại; Cặp thoại chủ hướng; Cặp thoại phụ thuộc Cặp thoại tối thiểu tương đương với sự kiện lời nói tối thiểu, tức là tối thiểu cặp thoại phải là một cặp kế cận với hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp Cặp thoại một tham thoại xảy ra khi người nghe thực hiện một hành động vật lí (gật đầu, lắc đầu, xua tay…) thay cho hành động ngôn ngữ hay người nghe

im lặng, không có hành động gì cả (còn gọi là cặp thoại hẫng)

- Tham thoại: Tham thoại là phần đóng góp của một thoại nhân vào một

cặp thoại Tham thoại do hành động ở lời tạo nên Về tổ chức nội tại, tham thoại

Trang 29

do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên Một tham thoại có một hành vi chủ hướng (hành động quyết định đích của tham thoại, cùng với hành động chủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại lập thành một cặp kế cận) và có thể có hành vi phụ thuộc (làm rõ lí do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủ hướng) Hành động chủ hướng của một tham thoại hoặc đòi hỏi hành động chủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại hồi đáp hoặc hồi đáp cho hành động chủ hướng của tham thoại ấy Không nên đồng nhất lượt lời và tham thoại Lượt lời

có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn một tham thoại

c Tính chất, đặc điểm của hội thoại

Những tính chất của hội thoại, theo C Kerbat Orecchioni (1998) gồm:

- Các quy tắc hội thoại có bản chất hết sức đa dạng, khó xác định và không thật chặt chẽ;

- Có những quy tắc hội thoại chung cho mọi cuộc thoại nhưng cũng có những quy tắc riêng cho mỗi loại hình, mỗi kiểu hội thoại;

- Các quy tắc hội thoại gắn rất chặt với ngữ cảnh;

- Các quy tắc hội thoại thể hiện rất khác nhau tùy theo từng xã hội và từng nền văn hóa;

- Nhìn chung, quy tắc hội thoại khá mềm dẻo, linh hoạt (thí dụ các quy tắc

cú pháp);

- Các quy tắc này được con người tiếp thu một cách tuần tự từ thuở nhỏ nhưng không được truyền thụ một cách hệ thống mà phần lớn chúng được vận dụng một cách tự phát

Chính C K Orecchioni đã chia các quy tắc hội thoại thành mấy nhóm sau đây: Nhóm thứ nhất gồm các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời; nhóm thứ hai gồm các quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại; nhóm thứ ba gồm các quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại; và nhóm cuối cùng là các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại (dẫn theo [4], [31])

Chúng tôi cho rằng cách phân chia đó là hợp lí và đầy đủ Tuy nhiên, để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, ở đây chúng tôi chỉ xin trình bày về các

Trang 30

nguyên tắc của hội thoại, đó là nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu

Trong quá trình giao tiếp, các bên tham gia giao tiếp phải tuân thủ một nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc đó được gọi là nguyên tắc hợp tác hay có người gọi

là nguyên tắc cộng tác (Principe de coopération) Nguyên tắc cộng tác hội thoại do H.P Grice đề cập đến vào năm 1967 và được ông gọi là các phương châm hội thoại (Maximes conversationnelles) Các phương châm hội thoại đó bao gồm:

 Phương châm về lượng:

Phương châm này được chia làm hai vế:

Một là, hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng tin đúng như đòi

hỏi của đích của hội thoại

Hai là, đừng làm cho lượng tin của mình lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi

 Phương châm về chất:

Phương châm về chất được phát biểu tổng quát như sau: « Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của mình là đúng, đặc biệt là:

Thứ nhất, đừng nói điều gì mà mình tin rằng không đúng

Thứ hai, đừng nói điều gì mà mình không có đủ bằng chứng »

 Phương châm quan hệ (phương châm quan yếu):

Hãy làm cho phần đóng góp của mình quan yếu (pertinent) tức có « dính líu » đến câu chuyện đang diễn ra C K Orecchioni cho rằng, một phát ngôn có thể quan yếu về các phương diện như: quan yếu về ngữ dụng, quan yếu về lập luận, quan yếu về hứng thú, quan yếu về đề tài v.v

Trang 31

 Phương châm cách thức:

Dạng tổng quát của phương châm này là hãy nói cho rõ ràng, đặc biệt là:

- Một, hãy tránh lối nói tối nghĩa

- Hai, hãy tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa

- Ba, hãy nói ngắn gọn

- Bốn, hãy nói có trật tự

Nguyên tắc cộng tác hội thoại và phương châm của Grice đúng cho những cuộc hội thoại chân thực nhưng nó cũng có những hạn chế nhất định Mặt khác, khi giao tiếp, ta không chỉ phải tuân thủ các phương châm hội thoại mà còn phải nắm được các đặc điểm của tình huống giao tiếp: Nói với ai? Nói ở đâu? Nói khi nào? Nói nhằm mục đích gì?

Wilson và Sperber đã đưa ra lí thuyết về quan yếu và được gọi là lí thuyết quan yếu của Wilson và Sperber:

Sơ đồ 1.7 [26]

Theo đó:

 Khái niệm một phát ngôn có tình quan yếu:

- Một phát ngôn có tính quan yếu là một phát ngôn có tác động đối với ngữ cảnh

 Tình quan yếu của phát ngôn:

- Một phát ngôn càng quan yếu khi nó càng làm giàu thêm hoặc làm thay đổi càng nhiều hiểu biết và quan niệm của người nghe

Lí thuyết quan yếu của Wilson và Sperber

Tính quan yếu của phát ngôn

Khái niệm một phát ngôn

có tính quan yếu

Cách xác định tính quan yếu của phát ngôn

Trang 32

- Tất cả các phát ngôn đều có tính quan yếu bất kể nó xuất hiện ở vị trí nào trong cuộc hội thoại

 Cách xác định tình quan yếu của phát ngôn:

- Xác định tính quan yếu của phát ngôn là nhiệm vụ của người giao tiếp Đối chiếu với ngữ cảnh (tri thức nền), người nghe suy ra ý từ nghĩa của phát ngôn và từ đó tìm ra tính quan yếu của phát ngôn tiếp nhận được

1.1.4 Giao tiếp và giao tiếp hội thoại trên truyền hình

1.1.4.1 Giao tiếp trên truyền hình

Theo quan niệm của những nhà nghiên cứu báo chí, giao tiếp báo chí nói chung và giao tiếp truyền hình nói riêng là một loại hình giao tiếp mang tính nghề nghiệp nhằm trao đổi thông tin giữa nhà báo, nhà đài với mọi đối tượng trong xã hội Giao tiếp báo chí, truyền hình, vì thế đòi hỏi nhà báo, nhà đài cần có những phẩm chất, năng lực nhất định: phẩm chất chính trị (quan điểm, bản lĩnh, ý chí ), năng lực giao tiếp, nghệ thuật nói năng, kỹ năng báo chí [dẫn theo 31]

Xét theo quan điểm của lí thuyết giao tiếp, chúng tôi cho rằng giao tiếp truyền hình là một quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ và các phương tiện, yếu tố phụ trợ để tạo ra các hoạt động lời nói nhằm trao đổi thông tin giữa nhà báo, nhà đài với công chúng khán giả

1.1.4.2 Hội thoại trên truyền hình

Như đã trình bày, hội thoại là hình thức giao tiếp hai chiều, có sự tương tác bằng lời, hai bên tham gia luân phiên đổi vai nhau, mỗi bên vừa là người nói vừa là người nghe Để có hội thoại, phải có hai bên tham thoại, tức là có ít nhất hai người trở lên Trong truyền hình, các cuộc hội thoại cũng không nằm ngoài các quy tắc chung này

Tuy nhiên, xét đến cùng thì các cuộc thoại lại nhằm mục đích chuyển tải tới người xem những tư tưởng, mục tiêu (về chính trị, văn hóa, giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ ) của đài truyền hình, cao hơn là của giai cấp cầm quyền Đây cũng là chức năng báo chí của truyền hình Vì vậy, hoạt động giao tiếp hội thoại

Trang 33

trên truyền hình không còn chỉ « bó gọn » trong mối tương quan hai chiều giữa hai « nhân vật » giao tiếp trên truyền hình mà còn có một « nhân vật thứ ba » vô tình tham gia vào quá trình này, đó chính là khán giả xem đài

Sơ đồ 1.8 Quan sát sơ đồ 1.8 ta thấy, thực chất của giao tiếp hội thoại trên truyền hình là một giao tiếp hội thoại « tay ba », ở đó « nhân vật thứ ba » là khán giả không hề xuất hiện trực tiếp và trực diện trong cuộc thoại nhưng lại là « nhân vật » tham gia tích cực nhất và có ảnh hưởng nhất, chi phối mọi hoạt động của quá trình giao tiếp hội thoại trên truyền hình

1.1.4.3 Các nhân tố giao tiếp hội thoại trên truyền hình

Đỗ Hữu Châu (2003) cho rằng: « Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động diễn ra khi có ít nhất hai người sử dụng một ngôn ngữ tự nhiên để tác động lẫn nhau Các câu hỏi: Ai nói với ai? Ai nói và nói cho ai? Anh nghĩ tôi là ai để có thể nói với tôi như vậy? đề cập đến các nhân tố tham gia vào một hoạt động giao tiếp Các nhân tố giao tiếp là ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn »[5, tr.96] Điều này cũng đúng với cả giao tiếp hội thoại trên truyền hình

a Ngữ cảnh và hoàn cảnh giao tiếp hội thoại trên truyền hình

Trang 34

là chức năng ngữ dụng - tức là chức năng điều khiển (direct), kiểm soát (control)

và liên kết hoạt động của con người - thì hiển nhiên không một sự nghiên cứu ngôn ngữ nào tách khỏi ngữ cảnh (context of situation) lại được xem là một nghiên cứu hợp lí » [dẫn theo 4, tr.8]

Như vậy, khi nói đến giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp trên truyền hình không thể không đề cập đến khái niệm ngữ cảnh Khái niệm ngữ cảnh được hiểu không đồng nhất ở các tác giả khác nhau

Từ điển tiếng Việt (1997) định nghĩa: « Ngữ cảnh: Tổng thể nói chung những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói »

Theo từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (2003) thì: « Bối cảnh ngôn ngữ học gồm một đoạn trích của văn bản trong đó có mặt để phân tích, cần

và đủ để xác định ý nghĩa của đơn vị này; còn gọi là văn cảnh Nói cách khác, ngữ cảnh là một trích đoạn văn bản có chứa đơn vị được xác định để phân tích;

là điều kiện, đặc điểm sử dụng của một ngôn ngữ trong lời nói »

Các định nghĩa trên đây là cách quan niệm ngữ cảnh trong phạm vi hẹp, ngữ cảnh ở đây đồng nghĩa với chu cảnh ngôn ngữ

Trần Thị Thìn cho rằng: Ngữ cảnh (context) hiểu theo nghĩa rộng gồm: 1/ Bối cảnh không gian, thời gian; 2/ Quan hệ giữa các chủ thể đối thoại, trạng thái tâm lí của họ, những tri thức bách khoa của chủ thể đối thoại; 3/ Lời nói trước và sau lời xem xét [dẫn theo 33]

Trong một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài, các nhà nghiên cứu cho rằng ngữ cảnh là hiện tượng có quan hệ đến quá trình giao tiếp của lời nói Chẳng hạn như trong tác phẩm « Language and Context: A Functional linguistic theory of register »(8), sau khi phân tích các quan điểm của các tác giả như Halliday - Hasan, Lemke và Givon về ngữ cảnh, về vai trò, tác dụng của ngữ cảnh trong việc xác định, tiếp nhận nghĩa của văn bản, Helen L.T., đã khẳng

Trang 35

định ngữ cảnh là tất cả các điều kiện nằm trong và cả nằm ngoài ngôn ngữ cho phép tiếp nhận, cho phép hiểu một phát ngôn cụ thể trong bối cảnh giao tiếp cụ thể Theo Helen, ngữ nghĩa của văn bản được xác định, được tạo nên bởi ngữ cảnh; nghĩa thật - nghĩa thực tế (Actual - Occurrence Meaning), nghĩa thông dụng (Use - Meaning), nghĩa văn bản (Text Meaning) đều xác định chỉ ở trong ngữ cảnh Tác giả đã tổng kết lại 3 mức độ ngữ cảnh, đó là ngữ cảnh văn hoá (Context of Culture), ngữ cảnh tình huống (Context of Situation) và ngữ cảnh văn bản (Textual Context) Ngữ cảnh văn bản lại bao gồm hai tiểu loại, đó là ngữ cảnh liên văn bản và ngữ cảnh trong văn bản [xem thêm Helen L.T., 1995]

Chúng tôi cho rằng cách phân chia như thế là hợp lí và đầy đủ Tuy nhiên, theo một cách tiếp cận khác, một số nhà nghiên cứu cho rằng ngữ cảnh có quan

hệ với các đơn vị ngôn ngữ hay nói khác, nó cần có quy ước chung của ngôn ngữ giao tiếp Và nó là toàn bộ các điều kiện quy định nội dung đúng và thích hợp của các đơn vị ngôn ngữ Đó có thể là đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ hoặc có thể là một mảng hiện thực khách quan cho phép truyền đạt những thông tin ngoài ngôn ngữ Trong một số trường hợp ngữ cảnh là tri thức chung của những người tham gia đối thoại, nó cho phép họ hiểu đúng những phát ngôn được diễn đạt

Trên cơ sở cách hiểu như vậy, ngữ cảnh sẽ được phân chia thành 4 loại, đó là: 1/ Ngôn cảnh (có người gọi là ngữ cảnh hẹp) là ngữ cảnh gắn chặt với quá trình hội thoại Ngôn cảnh là điều kiện trước và sau phát ngôn để hiểu cho đúng nghĩa của từ hay phát ngôn cụ thể Trong giao tiếp hội thoại ngôn cảnh luôn tồn tại trên chuỗi các âm thanh của lời nói; 2/ Bối cảnh (hay ngữ cảnh rộng, cảnh huống giao tiếp, tình huống giao tiếp) là một mảng hiện thực khách quan tạo điều kiện cho việc xuất hiện phát ngôn và cho phép xác định ý nghĩa của chúng Nói khác đi, đó chính là khoảng không gian, thời gian bên ngoài cho phép một câu nói hay một phát ngôn trở thành hiện thực; 3/ Ngữ cảnh tri thức là những tri thức, những thói quen, tập tục văn hóa trong một phạm vi, chừng mực nhất định cho phép những người tham gia đối thoại hiểu được đúng phát ngôn; 4/ Ngữ

Trang 36

cảnh văn hóa là ngữ cảnh thể hiện nét khu biệt trong một ngôn ngữ cụ thể về văn hóa, bởi mỗi quốc gia, dân tộc có những nét văn hóa riêng và chỉ có thể hiểu được một phát ngôn khi đặt nó vào chính văn hóa của nó Trong giao tiếp khẩu ngữ, yếu tố ngữ cảnh nói chung và ngữ cảnh văn hóa nói riêng phải được xem xét một cách nghiêm túc, thận trọng và toàn diện Và, chỉ có trong ngữ cảnh phát ngôn (nói hoặc viết) mới «sống đúng bản chất của nó » và nếu tách chúng ra khỏi môi trường sống đó, tất nhiên chúng sẽ gây khó khăn không nhỏ cho việc hiểu đúng nghĩa của chúng Đây là đặc điểm hết sức quan trọng trong giao tiếp

xã hội nói chung và giao tiếp phỏng vấn truyền hình nói riêng Vì rằng, ngữ cảnh này liên quan đến tiền giả định (présupposition) hoặc kiến thức nền, không có điều này sẽ không hiểu thấu các phát ngôn hỏi - đáp

2 Hoàn cảnh

Bên cạnh yếu tố ngữ cảnh như đã xem xét ở trên, giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn truyền hình còn phải quan tâm đến một yếu tố khác nữa, đó là hoàn cảnh giao tiếp Có hai loại hoàn cảnh giao tiếp trên truyền hình là hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp

Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, lịch

sử v.v mà cuộc giao tiếp diễn ra Giao tiếp trên truyền hình liên quan chặt chẽ đến loại hoàn cảnh này Khi trao đổi, thông tin về một vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại v.v như chương trình « Thời sự », « Bình luận quốc tế », « Hành trình văn hóa », « Đường lên đỉnh Olympia » v.v người nói của đài và người được mời tham dự chương trình cần phải có phông kiến thức rộng và sâu về lĩnh vực được chọn làm chủ đề, đề tài

Cùng với hoàn cảnh giao tiếp rộng cần có, cuộc giao tiếp trên truyền hình còn gắn liền với ngữ huống - hoàn cảnh giao tiếp hẹp Đó là khung cảnh xã hội, tâm lí, môi trường không gian, thời gian diễn ra cuộc giao tiếp Giao tiếp trên truyền hình thường diễn ra trong trường quay, hội trường, hiện trường v.v với không gian rộng, hẹp và thời gian dài, ngắn khác nhau Tham gia cùng các nhân vật còn có các yếu tố khác chi phối cuộc giao tiếp như máy ghi hình, màn hình,

Trang 37

micro, ánh sáng, phông nền và sự bài trí ở trường quay, những người thực hiện chương trình (đạo diễn, tổ chức sản xuất, quay phim v.v ), người xem trực tiếp tại chỗ (trong trường quay hoặc ngoài hiện trường) và đông đảo khán giả xem đài qua máy thu hình Môi trường giao tiếp này tác động và chi phối rất mạnh đến các bên tham gia giao tiếp

b Nhân vật giao tiếp hội thoại trên truyền hình

Tham gia vào quá trình giao tiếp hội thoại, ngoài yếu tố ngữ cảnh và hoàn cảnh, nhân vật hội thoại đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu được Nhân vật hội thoại vừa đóng vai trò là chủ thể đánh giá chủ quan những hành vi giao tiếp

cụ thể để từ đó chọn ra những phương tiện ngôn ngữ tương ứng, vừa là chủ thể chủ động gây nên hoặc tiếp nhận hành vi giao tiếp với những thái độ khác nhau

Như đã trình bày, trong giao tiếp hội thoại, nếu A giữ vai ngôi thứ nhất, B

ở ngôi thứ hai thì đến lượt tiếp theo, B lại giữ ngôi thứ nhất và A giữ ngôi thứ hai Và, trong quá trình vận động trao - đáp ấy, các nhân vật giao tiếp tác động qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, từ đó tác động đến hành động của nhau

Sự tác động này biểu hiện trước hết qua các từ xưng hô, thay từ xưng hô và sau

đó là cách hiểu về nội dung thông tin do mỗi bên cung cấp dẫn đến sự điều chỉnh thích hợp theo hướng hiểu biết lẫn nhau, biết ơn, bực tức hay nghi ngờ v.v Đồng thời, mỗi nhân vật khi tham gia vào quá trình giao tiếp hội thoại cần phải

có sự nắm bắt thông tin về người kia như nghề nghiệp, tuổi tác, quan hệ xã hội, gia đình v.v để tránh rơi vào tình trạng lúng túng, khó xử Điều này còn đặc biệt

quan trọng khi đó là phỏng vấn truyền hình Bởi, trong truyền hình, ngoài « bên

phát » và « bên nhận » trực tiếp xuất hiện trên màn hình mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy họ « nói chuyện » theo kiểu « mặt đối mặt » như những cuộc trao đổi, tiếp xúc hàng, còn có các bên phát và bên nhận khác nữa Đó là chủ thể phát và chủ thể nhận và kèm theo đó là thể phát và thể nhận Những người này có thể là người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc thoại và đồng thời cũng chính là những người có tác động mạnh đến nội dung của cuộc phỏng vấn Chúng tôi sẽ

Trang 38

phân tích kỹ hơn vấn đề này khi đề cập đến những yếu tố ngoài ngôn ngữ ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn trong phần chương II

c Nội dung, đề tài cuộc giao tiếp hội thoại trên truyền hình

Đó là những chủ trương, chính sách, pháp luật, tin tức, sự kiện, vấn đề, tư tưởng, tình cảm v.v mà người của đài và khách mời, công chúng nêu ra để trao đổi với nhau Và, nó là « một mảng hiện thực ngoài diễn ngôn được các nhân vật giao tiếp (người nói, người nghe: SP1, SP2) thỏa thuận lấy làm đối tượng

để trao đổi trong cuộc giao tiếp đó » [dẫn theo 31] Nói một cách cụ thể hơn, đó

là các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới, trong nước, ở phạm vi một địa phương, một ngành, một đơn vị, một nhóm người

d Phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

Những người tham gia giao tiếp trên truyền hình dùng ngôn ngữ lời nói làm phương tiện chủ yếu để trao đổi thông tin, tình cảm với nhau Bên cạnh đó còn có các yếu tố khác như hình ảnh, chữ viết, thái độ, cử chỉ v.v Toàn bộ hệ thống tín hiệu này tác động qua lại giữa người nói - người nghe bằng đường kênh thính giác và thị giác Nội dung này sẽ được chúng tôi đề cập một cách rõ nét hơn ở mục 1.3.4

1.1.4.4 Quan hệ liên nhân (interpersonal relation) trong giao tiếp hội thoại trên truyền hình

Vận động giao tiếp của ngôn ngữ thường bao gồm: sự trao lời, sự đáp lời

và sự tương tác Quan hệ tương tác là quan hệ giữa các đối ngôn chỉ xuất hiện trong cuộc giao tiếp Giữa con người trong xã hội còn có những quan hệ xã hội

Đỗ Hữu Châu cho rằng: Khi tham gia giao tiếp những quan hệ xã hội này cũng chi phối giao tiếp cả về nội dung, cả về hình thức và chuyển thành quan hệ liên

cá nhân (quan hệ liên nhân) trong giao tiếp [5, tr.104]

Như vậy, trong giao tiếp không phải những người tham gia giao tiếp muốn nói gì thì nói Trong phỏng vấn truyền hình cũng vậy, nhân vật giao tiếp nói gì

và nói như thế nào là tùy thuộc vào quan hệ xã hội của họ Và mỗi tương tác

Trang 39

ngôn ngữ ở đây nhất thiết phải là một tương tác xã hội Đó cũng chính là sự tương tác trong quan hệ xưng hô

Căn cứ vào những nhân tố liên quan đến khoảng cách xã hội và mức độ gắn

bó giữa những nhân vật giao tiếp, quan hệ liên nhân được xét trên hai trục dọc và ngang Quan hệ trục dọc (hay còn gọi là quan hệ trục tung, quan hệ vị thế) Đây là trục quan hệ tôn ti xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới, xếp thành các tầng bậc trên một trục dọc, còn được gọi là trục quyền lực do địa vị xã hội, tuổi tác, học thức v.v khác nhau quyết định Có thể nói, vai giao tiếp là cơ sở mà các nhân vật tham gia hội thoại dựa vào để tổ chức và biểu hiện vị thế xã hội của mình trong giao tiếp Vị thế xã hội có thể phụ thuộc vào giới tính và tuổi tác Dựa vào tuổi tác thì những người nhiều tuổi hơn ở bậc trên và những người ít tuổi hơn sẽ ở bậc dưới Trong tiếng Việt các cặp xưng hô như «ông - cháu », « chú - cháu », « anh -

em » v.v phản ánh sự khác biệt về tuổi tác của các nhân vật giao tiếp Ngoài ra,

để đánh dấu khoảng cách xã hội người ta còn dùng hình thức hô gọi gồm cả chức

vụ lẫn họ tên Quan hệ vị thế là quan hệ phi đối xứng, có nghĩa là giữa hai đối ngôn đã có qua hệ vị thế xã hội như thế nào thì quan hệ ấy vẫn không thay đổi trong suốt diễn tiến của quá trình giao tiếp

Quan hệ trục ngang hay còn gọi là trục thân cận (Solidarity), trục khoảng cách (Distance) Trục này được đặc trưng bởi hai cực thân tình và xa lạ Thân tình (hay thân hữu) là trục đối xứng, nghĩa là trong quá trình giao tiếp, hai bên tham gia đối thoại xích lại gần nhau hoặc là ngược lại Qua «thương lượng », các nhân vật giao tiếp có thể làm cho khoảng cách giữa họ thay đổi, hoặc theo hướng tích cực là gần nhau thêm hoặc theo hướng tiêu cực là xa nhau ra Hay nói khác đi, quan hệ thân cận là quan hệ đối xứng, nghĩa là có thể thay đổi «mức độ thân cận » theo hướng hoặc cùng dãn khoảng cách ra hoặc cùng thu hẹp khoảng cách lại

Quan hệ tương tác còn có một biểu hiện nữa mà Đỗ Hữu Châu cho rằng

đó là quan hệ vị thế giao tiếp Theo đó, vị thế giao tiếp là nói đến tác động khởi phát, duy trì, chuyển hướng đề tài, phân phát lượt lời v.v của các đối ngôn trong

Trang 40

giao tiếp Điều này là hết sức quan trọng đối với phỏng vấn truyền hình Bởi vì, một vị Bộ trưởng hay Thứ trưởng của một Bộ sẽ chỉ là người có vị thế giao tiếp mạnh khi mà họ điều hành một cuộc họp tại cơ quan, đơn vị của họ mà thôi Còn khi vị Thứ/Bộ trưởng đó tham gia vào một cuộc phỏng vấn trên báo, đài thì vai giao tiếp mạnh lại thuộc về phóng viên của báo, đài

1.2 Hành động ngôn từ

J L Austin (1962), người đã khởi xướng ra lí thuyết hành vi ngôn ngữ, cho rằng khi nói năng là hành động (How to do things with words - Quand dire c’est faire) Chúng ta « làm gì » bằng các câu nói? Hình thức của các phát ngôn là gì? v.v Hay nói khác đi, một lời nói bao giờ cũng được và phải được thực hiện thông qua các hành động ngôn từ (hành động nói)

Hiện nay, lí thuyết về « hành động ngôn từ »(9) được nói đến nhiều trong các công trình nghiên cứu dụng học giao tiếp và nhiều nhà nghiên cứu lấy đó làm

cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu hội thoại

Một thực tế không thể phủ nhận đó là cho dù đứng trên địa hạt nào để nghiên cứu ngôn ngữ mà ở đây là ngôn ngữ lời nói và hoạt động của chúng thì không thể không nói tới vấn đề hành động ngôn từ

1.2.1 Về hành động ngôn từ

Hành động là chức năng thông qua giao tiếp mà chúng ta thúc đẩy nhau hành động Không chỉ người nghe mới hành động mà người nói cũng phải hành động dưới sự thúc đẩy của lời nói trong giao tiếp [4, tr.36]

Theo đó, khi nói năng, chúng ta thực hiện những hành động như chúng ta thực hiện những hành động vật lí khác: Hỏi, sai khiến, cầu xin, hứa hẹn, cám ơn, xin lỗi v.v là những hành động như đi, chạy, đóng cuốn vở v.v

Như vậy, trong giao tiếp, mỗi câu nói, mỗi phát ngôn không chỉ là một bản thông báo mang thông tin mà còn là một hành động được xác định bởi những đặc tính nào đó Nó có lí do, có hướng đích và được thực hiện trong những tình huống

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2007), Hoạt động giao tiếp nhân cách, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
2. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
3. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tìch về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chứng tìch về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
4. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, Tập II (Ngữ dụng học), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, Tập II (Ngữ dụng học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học, tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
6. Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Ngọc Diệu (1996), Giản yếu về ngữ pháp văn bản, (in lần thứ hai), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Ngọc Diệu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
8. Lê Văn Chưởng (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
9. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chì - những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chì - những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Độ, “Lịch sự trong giao tiếp”, Ngôn ngữ, số 1/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sự trong giao tiếp”
12. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa - ngữ dụng Câu hỏi chình danh, Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa - ngữ dụng Câu hỏi chình danh
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1996
13. Đức Dũng (2004), Phóng sự báo chì hiện đại, Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự báo chì hiện đại
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2004
14. Phạm Vũ Dũng (1996), Văn hoá giao tiếp, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá giao tiếp
Tác giả: Phạm Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1996
15. Phạm Đức Dương (2000), Văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2000
16. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
17. Nguyễn Khánh Hà (2009), Câu điều kiện tiếng Việt (nhín từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu điều kiện tiếng Việt (nhín từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận)
Tác giả: Nguyễn Khánh Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
18. Phạm Minh Hạc (1999), Tâm lì học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lì học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
19. Cao Xuân Hạo (2004), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
20. Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng (2005), Thuật ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu Anh Việt - Việt Anh, Nxb Khoa học - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu Anh Việt - Việt Anh
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học - Xã hội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2  Hoạt  động  giao tiếp được chia  thành nhiều loại  theo những  căn  cứ  khác  nhau - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 1.2 Hoạt động giao tiếp được chia thành nhiều loại theo những căn cứ khác nhau (Trang 18)
Sơ đồ 1.4 [27, tr.15] - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 1.4 [27, tr.15] (Trang 20)
Sơ đồ 1.5 [40] - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 1.5 [40] (Trang 22)
Sơ đồ 1.6 - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 1.6 (Trang 23)
Sơ đồ 1.7 [26] - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 1.7 [26] (Trang 31)
Sơ đồ 1.8  Quan sát sơ đồ 1.8 ta thấy, thực chất của giao tiếp hội thoại trên truyền  hỡnh là một giao tiếp hội thoại ô tay ba ằ, ở đú ô nhõn vật thứ ba ằ là khỏn giả  khụng hề xuất hiện trực tiếp và trực diện trong cuộc thoại  nhưng lại là ô nhõn  vật ằ  - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 1.8 Quan sát sơ đồ 1.8 ta thấy, thực chất của giao tiếp hội thoại trên truyền hỡnh là một giao tiếp hội thoại ô tay ba ằ, ở đú ô nhõn vật thứ ba ằ là khỏn giả khụng hề xuất hiện trực tiếp và trực diện trong cuộc thoại nhưng lại là ô nhõn vật ằ (Trang 33)
Sơ đồ 2.1 [27] - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 2.1 [27] (Trang 103)
Sơ đồ 2.2 - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 2.2 (Trang 104)
Bảng 4.1: Kết quả thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Bảng 4.1 Kết quả thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình (Trang 170)
Đồ thị 4.1: Tỉ lệ thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
th ị 4.1: Tỉ lệ thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình (Trang 170)
Đồ thị 4.2: Tỉ lệ thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
th ị 4.2: Tỉ lệ thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình (Trang 174)
Bảng 4.2: Kết quả thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Bảng 4.2 Kết quả thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình (Trang 174)
Bảng tổng hợp kết quả thống kê dưới đây sẽ cung cấp một một cách đầy - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Bảng t ổng hợp kết quả thống kê dưới đây sẽ cung cấp một một cách đầy (Trang 180)
Bảng 4.3: Kết quả thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Bảng 4.3 Kết quả thống kê các dạng câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình (Trang 181)
Sơ đồ 4.1  Nhỡn vào cấu trỳc này, ta thấy, cỏc bờn tham gia giao tiếp ô cú vẻ ằ như đó - Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp
Sơ đồ 4.1 Nhỡn vào cấu trỳc này, ta thấy, cỏc bờn tham gia giao tiếp ô cú vẻ ằ như đó (Trang 194)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w