ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CHU THỊ PHONG LAN HÀNH ĐỘNG DẪN NHẬP TRONG PHẦN MỞ ĐẦU CUỘC THOẠI MUA BÁN Trên cứ liệu ghi âm tại các chợ và một số t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ PHONG LAN
HÀNH ĐỘNG DẪN NHẬP TRONG PHẦN MỞ ĐẦU CUỘC THOẠI MUA BÁN
(Trên cứ liệu ghi âm tại các chợ và một số trung tâm mua sắm ở Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ PHONG LAN
HÀNH ĐỘNG DẪN NHẬP TRONG PHẦN MỞ ĐẦU CUỘC THOẠI MUA BÁN
(Trên cứ liệu ghi âm tại các chợ và một số trung tâm mua sắm ở Hà Nội)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ 5
2.1 Mục đích 5
2.2 Nhiệm vụ 6
3 Tư liệu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1 Những vấn đề lý thuyết hội thoại liên quan đến đề tài 8
1.1.1 Khái niệm hội thoại 8
1.1.2 Cặp thoại 9
1.1.3 Tham thoại 10
1.1.4 Hành động ngôn ngữ 12
1.1.4.1 Khái niệm 12
1.1.4.2 Phân loại 12
1.2 Cuộc thoại và hành động dẫn nhập 13
1.2.1 Khái niệm và cấu trúc cuộc thoại 13
1.2.1.1 Khái niệm cuộc thoại 13
1.2.1.2 Cấu trúc cuộc thoại 15
1.2.2 Hành động dẫn nhập 16
1.2.2.1 Khái niệm 16
1.2.2.2 Vị trí và vai trò của hành vi dẫn nhập trong cuộc thoại và trong phần mở thoại 16
1.3 Hành động dẫn nhập trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán 18
Trang 41.3.1 Hội thoại mua bán 18
1.3.1.1 Khái niệm 18
1.3.1.2 Các nhân tố tham gia vào cuộc thoại mua bán 19
1.3.1.3 Cấu trúc và phân loại (Dựa vào tư liệu thu thập) 20
1.3.2 Hành động dẫn nhập mua bán trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán 29
1.3.2.1 Vị trí và ý nghĩa của phần mở đầu trong cuộc thoại mua bán 29 1.3.2.2 Hành động dẫn nhập mua bán 31
CHƯƠNG 2: HÀNH ĐỘNG DẪN NHẬP CỦA NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA TRONG PHẦN MỞ ĐẦU CUỘC THOẠI MUA BÁN 37
2.1 Hành động dẫn nhập của người mua 38
2.1.1 Dẫn nhập bằng sự thăm dò hoặc nghi vấn về hàng hóa 39
2.1.2 Dẫn nhập bằng việc đưa ra những đề nghị 43
2.1.3 Dẫn nhập bằng việc nêu nhu cầu, mong muốn 49
2.2 Hành động dẫn nhập của người bán 54
2 2.1 Dẫn nhập bằng chào mời khách hàng 54
2.2.2 Dẫn nhập bằng việc đưa ra lời khen với Sp1 hay xác tín mặt hàng của Sp2 58
2.2.3 Dẫn nhập bằng việc đưa ra gợi ý cho người mua 60
2.3 Một vài so sánh về cách sử dụng hành động dẫn nhập của người mua và người bán 64
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ XƯNG HÔ TRONG HÀNH ĐỘNG DẪN NHẬP CỦA NGƯỜI MUA VÀ NGƯỜI BÁN 68
3.1 Các vấn đề về xưng hô 68
3.1.1 Khái niệm xưng hô 68
3.1.2 Phân biệt xưng hô và hô gọi 70
3.1.3 Xưng hô trong tiếng Việt 71
Trang 53.1.4 Mối quan hệ giữa xưng hô và lịch sự 72
3.2 Cách xưng hô trong hành động dẫn nhập của người mua 73
3.2.1 Kiểu xưng hô có cả xưng của sp1 và gọi sp2 73
3.2.2 Kiểu xưng hô sp1 không tự xưng nhưng gọi sp2 75
3.2.3 Kiểu xưng hô có phần hô gọi sp2 và sp1 tự xưng 76
3.2.4 Kiểu xưng hô: sp1 không xưng, không gọi sp2 nhưng có thể có ạ (nhé) ở cuối hành động 78
3.2.5 Kiểu xưng hô sp1 tự xưng (không gọi Sp2) đi cùng cấu trúc: Cho + tự xưng trong các hành vi dẫn nhập đề nghị hoặc mong, muốn + tự xưng trong các hành vi dẫn nhập mong muốn 79
3.2.6 Kiểu xưng hô có phần hô gọi nhưng sp1 không gọi sp2 cũng không tự xưng 81
3.3 Cách xưng hô trong hành động dẫn nhập của người bán 84
3.3.1 Kiểu xưng hô có cả tự xưng của sp2 và gọi sp1 84
3.3.2 Kiểu xưng hô sp2 không tự xưng và gọi sp1 (cô, em, cháu …) 85
3.3.3 Kiểu xưng hô có phần hô gọi, không gọi sp1, sp2 tự xưng 87
3.3.4 Kiểu xưng hô sp2 không tự xưng cũng không gọi sp1 mà chỉ ngay đến mặt hàng 88
3.3.5 Các kiểu khác 89
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hội thoại là một hình thức phổ biến trong giao tiếp của tất cả các ngôn ngữ Thông qua đó con người có thể truyền tải và tiếp nhận những nội dung, thông tin cần thiết Hội thoại là nơi các yếu tố ngôn ngữ ở dạng trừu tượng được cụ thể hóa và thể hiện rõ vai trò của nó Từ trước đến nay, nghiên cứu hội thoại là một vấn đề được các nhà ngữ dụng học cũng như các nhà ngôn ngữ học xã hội rất quan tâm Việc nghiên cứu hội thoại do đó không chỉ vận dụng đơn thuần các kiến thức của ngôn ngữ học mà còn cần đến cả những kiến thức của các ngành xã hội khác như: tâm lý học, xã hội học, văn hóa học… Hội thoại là hình thức hoạt động ngôn ngữ trong giao tiếp của con người với nhau Ở đó có sự tương tác giữa các lời nói trong hoàn cảnh nhất định từ phía người nói và người nghe
Mua bán là một hoạt động giao tiếp mà thông qua việc sử dụng ngôn ngữ người bán và người mua muốn truyền đi các thông điệp của mình Hiện nay, nghiên cứu ngôn ngữ trong hội thoại mua bán được nhiều người quan
tâm với một số công trình đã công bố Trong luận văn “Bước đầu tìm hiểu
cấu trúc hội thoại: Cuộc thoại - đoạn thoại (Trên cơ sở tìm hiểu một số cuộc thoại mua bán ngày nay và thời bao cấp)”, tác giả Nguyễn Thị Đan đã xác
lập các tiêu chí về một cuộc thoại mua bán, đồng thời tiến hành phân loại các kiểu thoại mua bán tiêu biểu Từ những cơ sở lý thuyết đó, Nguyễn Thị Đan trong hai chương của luận văn tiến hành miêu tả cấu trúc của cuộc thoại và
đoạn thoại mua bán Với “Tham thoại trong giao tiếp mua bán hiện nay”,
Nguyễn Thị Lý tìm hiểu về cấu trúc, chức năng của các tham thoại trong ba
phần mở, thân và kết của cuộc thoại mua bán Đến với “Cặp thoại trong giao
tiếp mua bán ngày nay”, tác giả Dương Tú Thanh đi vào tìm hiểu cặp thoại
Trang 7trong các cuộc mua bán Tác giả này đã phân loại các cặp thoại, nêu hiệu quả giao tiếp của các cặp thoại Sau đó, Dương Tú Thanh phân tích cụ thể cặp thoại trong các phần mở thoại, thân thoại và kết thoại trên tiêu chí số lượng các cặp thoại cũng như hình thức tổ chức lượt lời của cặp thoại Hà Thị Sơn
trong “Đoạn dẫn nhập trong hội thoại mua bán hiện nay” đã tìm hiểu riêng
đoạn dẫn nhập trong hội thoại mua bán đồng thời ở cả người bán và người mua với các vấn đề: vị trí, tiêu chí phân loại Cũng thuộc nhóm đề tài này, tác giả Mai Thị Kiều Phượng lại đi vào chi tiết hơn khi quan tâm đến ngôn ngữ song thoại của người mua và người bán trong luận văn thạc sĩ năm 1996
“Những đặc điểm của cấu trúc ngôn ngữ song thoại giữa người mua và người bán”
Có thể nói, hội thoại mua bán là một phạm vi được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trên cơ sở những vấn đề các tác giả đi trước đã đặt ra, chúng tôi nhận thấy để hiểu sâu hơn một cuộc thoại mua bán thì có lẽ nên bắt đầu từ đơn vị nhỏ nhất là hành động ngôn ngữ - đơn vị cơ sở tạo lập hội thoại Với mong muốn góp phần làm cho bức tranh về cuộc thoại mua bán thêm toàn
diện, luận văn này lấy “Hành động dẫn nhập trong phần mở đầu cuộc thoại
mua bán” làm đối tượng nghiên cứu Trong khuôn khổ có giới hạn của luận
văn, chúng tôi mới chỉ tìm hiểu được về hành động dẫn nhập trong phần mở đầu với mục đích từ cơ sở này tương lai chúng tôi sẽ mở rộng để triển khai tiếp ở các phần còn lại của hội thoại mua bán
Trang 8- Xem xét ý nghĩa của các yếu tố tác động đến hành động dẫn nhập trong phần mở đầu hội thoại mua bán
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được các mục đích trên, luận văn đề ra một số nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những lý luận về hội thoại và các vấn đề liên quan
- Xác lập thế nào là hành động dẫn nhập đồng thời phân tích các kiểu cấu trúc đã có trên cơ sở tư liệu thu thập
- Phân tích ý nghĩa của nhân tố tác động đến hành động dẫn nhập
3 Tư liệu
Toàn bộ tư liệu của luận văn được thu thập tại các chợ của Hà Nội như chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Da, chợ Ngã Tư Sở … và các trung tâm thương mại lớn của thành phố chẳng hạn: Tràng Tiền plaza, Big C …
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp khoa học cơ bản là quy nạp và diễn dịch Ngoài ra, chúng tôi cũng vận dụng các phương pháp của phân ngành ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội trong đó phân tích hội thoại là phương pháp chủ đạo
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số, phương pháp và thủ pháp khác như:
Trang 9Chương 2: Hành vi dẫn nhập của người mua và người bán trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán
Chương 3: Vấn đề xưng hô trong hành vi dẫn nhập của người mua và người bán ở phần mở đầu cuộc thoại mua bán
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Những vấn đề lý thuyết hội thoại liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm hội thoại
Ngữ dụng học là một lĩnh vực đang phát triển, mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà ngôn ngữ học Nhiệm vụ của ngành này là nghiên cứu mối quan hệ của ngôn ngữ và xã hội, chức năng giao tiếp của ngôn ngữ trong xã hội Do đó, ngữ dụng học sẽ đi sâu tìm hiểu các hình thức ngôn ngữ được dùng để hiện thực hóa hành động ngôn từ và ngược lại các hành động ngôn từ được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ như thế nào Để làm được điều này, các nhà ngữ dụng học đã chọn cách phân tích hội thoại làm phương pháp khoa học của mình
Hội thoại là “hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”1 Các cuộc hội thoại có thể khác nhau về thoại trường, số lượng người tham gia, tư cách và vị trí của những người tham gia hội thoại hay tính có đích của cuộc thoại, tính hình thức của cuộc thoại nhưng đều có điểm chung thống nhất đó là sự tương tác giữa người nói và người nghe
Tính phổ biến thường xuyên và căn bản trong giao tiếp của hội thoại thể hiện ở tính hai chiều tức là sự tương tác giữa người nói và người nghe với
sự luân phiên lượt lời Hội thoại có thể chỉ gồm hai người đó là song thoại, gồm ba người đó là tam thoại và nhiều người tham gia đó là đa thoại
Hội thoại cũng như các đơn vị cú pháp với tổ chức tôn ti gồm:
Cuộc thoại Đoạn thoại
Trang 11
Cặp trao đáp
Các đơn vị này được hình thành trong quá trình vận động trao - đáp của các đối tượng tham gia giao tiếp nên có tính chất lưỡng thoại Hai đơn vị khác là:
Tham thoại Hành vi ngôn ngữ lại có tính chất đơn thoại bởi do một người nói ra (có thể là người nói hoặc người nghe)
Tựu chung lại, trong ngữ dụng học, hội thoại là một mảnh đất màu mỡ,
mà ở đó, có thể xem xét sự hành chức của ngôn ngữ dưới nhiều góc độ khác nhau Sự khác nhau ấy khiến cho lĩnh vực hội thoại càng trở nên có sức thu hút mạnh mẽ đối với các nhà nghiên cứu, đồng thời mở ra nhiều triển vọng phát triển của các chuyên ngành mới liên quan
1.1.2 Cặp thoại
Trong một cuộc thoại có thể có nhiều đoạn thoại Nói đến đoạn thoại không thể không nói tới cặp thoại - đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất gồm một hành vi mang tính chất mở đầu và một hành vi có ý nghĩa hồi đáp hoặc hơn hai hành vi Cặp thoại là “hai phát ngôn có quan hệ trực tiếp với nhau”2
, chẳng hạn như chào - chào, hỏi - trả lời, trao - nhận, xin lỗi - chấp nhận…… Cặp thoại hay cặp trao đáp là do những người nói khác nhau nói ra, mà có thể gọi là vế thứ nhất và vế thứ hai Bình thường hai vế trong cặp thoại liền kề nhau
Ví dụ:
Người mua (Sp1): Rau hôm nay thế nào hả bác?
Người bán (Sp2): Rau tươi đấy em ạ Lấy đi 3500 đồng một mớ
Tuy nhiên, có những trường hợp hai cặp thoại chủ hướng lại bị tách ra bằng hai hoặc nhiều cặp thoại chêm xen khác
2
Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG, 2000, tr70
Trang 12Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm đến cặp thoại, vì khi xét hành
vi dẫn nhập để cho trọn vẹn còn phải chú ý đến hành vi hồi đáp nhằm tạo nên tính chỉnh thể cho một cặp thoại Trên cơ sở dẫn nhập có thể tìm hiểu được các cách hồi đáp và ngược lại
1.1.3 Tham thoại
Có thể nói, nòng cốt của hội thoại chính là những cặp trao - đáp Đơn vị tạo nên cặp trao - đáp là các tham thoại Mỗi cặp thoại bình thường chỉ cần hai tham thoại là đủ, tuy nhiên, có những cặp thoại lại được cấu tạo trên hai tham thoại
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, tham thoại là “phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [2, tr316] Tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên Có hai loại hành vi ngôn ngữ tạo nên khung của tham thoại là hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc Tham thoại
có thể có một hành vi chủ hướng và một, hay một số hành vi phụ thuộc Tuy nhiên, có những tham thoại có hơn một hành vi chủ hướng nên người nghe lúc đó phải nhận diện được hành vi chủ hướng nào mạnh hơn để hồi đáp vào
đó Hành vi chủ hướng ở tham thoại “quyết định hướng của tham thoại cũng như hành vi hồi đáp thích hợp của người đối thoại”4 Như vậy, hành vi chủ
3
Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG, 2000, tr71
Trang 13hướng là hành vi có hiệu lực ở lời và người tiếp nhận phải có chiến lược để hồi trả
Khi nói đến tham thoại, chúng ta cũng cần phân biệt nó với lượt lời Tham thoại và lượt lời đều là phần đóng góp của một người vào cuộc thoại nhưng chúng không phải là một Lượt lời “là một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói”5 Như vậy, một lượt lời có thể có nhiều tham thoại và một tham thoại có nhiều lượt lời
Ví dụ: Một lượt lời có nhiều tham thoại:
Sp2 [1]: Bác ơi, mua gì vào đây em bán cho!
Sp1 [2]: Cô bán cho tôi cái bật lửa tốt nhé!
Sp2 [3]: Vâng, bác chờ em tý nhé… Của bác đây ạ
Trong cả hai lần người bán nói, lượt lời của người này đều có trên hai tham thoại trở lên Trong lượt đầu tiên, có hai tham thoại là: tham thoại gọi và tham thoại mời mua hàng Trong lượt lời thứ ba, có ba tham thoại Đó là tham thoại đồng ý, tham thoại đề nghị và tham thoại xác nhận mặt hàng đưa cho khách
Ví dụ: Một tham thoại gồm nhiều lượt lời:
Sp1[1]: Cái bật lửa này bao nhiêu tiền hả cô?
Sp2[2]: Đồ tốt, giá rẻ Chỉ tám nghìn thôi bác ạ
Sp1[3]: Đắt thế, bốn nghìn nhé…
Sp2[4]: Không được đâu ạ Bác trả hơn cho em đi
Sp1[5]: Sáu nghìn nhé
Sp2[6]: Thôi được, còn một cái bán nốt cho bác vậy
Trong ví dụ trên, ta thấy tham thoại mặc cả của người mua được tách ra làm hai lượt lời [3] và [5]
5
Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học T1, NXBGD, 1998, tr87
Trang 14Như vậy, tùy thuộc vào mục đích, hoàn cảnh của cuộc thoại mà giữa tham thoại và lượt lời có sự thể hiện một cách linh hoạt và sinh động
Trong ngữ pháp hội thoại, hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, khi nói năng là chúng ta đã thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện biểu đạt bằng ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ theo đó là hành động được thực hiện khi người nói (hoặc viết) nói ra phát ngôn U cho người nghe (người đọc) trong ngữ cảnh
Hành động ngôn ngữ nằm trong mạng lưới hội thoại với vai trò và chức năng không chỉ giới hạn trong quan hệ một lần giữa người nói và người nghe
mà hơn thế nằm trong quan hệ giữa lời thoại tổ chức nên cặp thoại, tham thoại…và tác động đến các nhân vật hội thoại ở từng thời điểm của cuộc thoại
Trang 15- Hành vi tạo lời sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, từ…để tạo ra một phát ngôn đúng về hình thức và nội dung
- Hành vi mượn lời là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ, hay nói cách khác là mượn các phát ngôn để gây ra tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ với người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói
- Hành vi tại lời là hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, nghĩa là chúng gây
ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với người nghe
Có thể nói, lý thuyết hành vi quan tâm nhiều đến hành vi tại lời bởi người ta luôn cố gắng tìm cách truyền đạt được nhiều nhất cái người ta muốn
đề cập
Trong giao tiếp nói chung, hay trong các cuộc thoại nói riêng, hành vi ngôn ngữ là một nhân tố giúp duy trì, phát triển cuộc thoại, giúp cho các nhân vật giao tiếp truyền đi thông điệp của mình, giúp người ngoài cuộc thoại hiểu được đích giao tiếp là gì
1.2 Cuộc thoại và hành động dẫn nhập
1.2.1 Khái niệm và cấu trúc cuộc thoại
1.2.1.1 Khái niệm cuộc thoại
Trang 16Cuộc thoại là “đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất”6
Trong quá trình giao tiếp của con người đã sản sinh ra một số lượng rất lớn những lời đối đáp
về các chủ đề Mặc dù, những lời đối đáp ấy có thể có mối liên hệ logic nào
đó với nhau nhưng rõ ràng người ta không thể để chúng tồn tại ở dạng những chuỗi dài bất tận Việc phân tách các lời đối đáp và hợp chúng thành các đơn
vị gọi là cuộc thoại là việc làm cần thiết được giới nghiên cứu quan tâm Như vậy, cuộc thoại được hình thành do sự vận động trao - đáp giữa các nhân vật tham gia quá trình giao tiếp
b Tiêu chí xác định cuộc thoại
Để xác định một cuộc thoại, có nhiều cách phân chia khác nhau, nhưng tựu chung đều phải thỏa mãn các tiêu chí sau đây:
- Một đơn vị trong hội thoại chỉ được gọi là cuộc thoại khi ít nhất phải có từ hai người trở nên tham gia
- Cuộc thoại có thể kéo dài hoặc rút ngắn nhưng quan trọng là phải có chung một chủ đề, phải có sự thống nhất về đề tài diễn ngôn từ mở đầu cho đến khi kết thúc Cuộc thoại phải đạt đến điều đó thì mới đạt được mục đích giao tiếp của mình
- Thông thường, mỗi cuộc thoại sẽ diễn ra ở một địa điểm nhất định trong một thời gian cụ thể Tuy nhiên, không phải bao giờ điều này cũng cứng nhắc, vì tùy từng trường hợp cụ thể do ảnh hưởng của một nhân tố khách quan nào đó, cuộc thoại có thể chuyển không gian hoặc tạm gác lại về thời gian
- Khi số lượng hay tính chất của người tham gia hội thoại thay đổi thì thường làm cho cuộc thoại thay đổi chủ đề và đây là một cơ sở cho ta cuộc thoại mới
Như vậy, rõ ràng là, các tiêu chí đưa ra nhằm phân lập ranh giới cuộc thoại chỉ có tính tương đối và nhiều khi không tránh khỏi sự cứng nhắc C.K.Orecchioni đưa ra một định nghĩa về cuộc thoại khá mềm dẻo: “để có
Trang 17
một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian
có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu)7
Nói chung để phân định ranh giới cuộc thoại đến nay chưa có những tiêu chí đủ tin cậy và xác đáng được dùng mang tính phổ niệm Thế nhưng các cuộc thoại trong giao tiếp hàng ngày là có thật và việc phân định chúng phục vụ trong nghiên cứu là cần thiết dù có thể sự phân định đó vẫn còn mang tính võ đoán
1.2.1.2 Cấu trúc cuộc thoại
Mặc dù việc phân chia một cuộc thoại vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi, nhưng tổng quát chung, một cuộc thoại thường có ba phần:
Đoạn thân thoại thực hiện đích chính của cuộc thoại Các nhân vật tham gia hội thoại đều cố gắng trao - đáp để thiết lập mối quan hệ giao tiếp tốt nhất cũng như đạt được mục đích giao tiếp của mình Nếu hai bên đều đạt được đích như mong muốn thì phần thân thoại sẽ kết thúc để chuyển sang phần kết thoại
7
Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học (tập 2, ngữ dụng học), NXB Giáo dục, 2001, tr313
Trang 18Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, đoạn kết thúc cuộc thoại không những có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ mà còn tìm cách xác định cái cách
mà người ta phải chia tay Trong giao tiếp thường đề cao tính lịch sự nên ở phần kết thoại người ta cố gắng tránh những cách kết đột ngột, bất ngờ, nhưng không loại trừ nhiều trường hợp có cách kết thúc khiến người đối diện phải ngỡ ngàng
Một cuộc thoại, từ khi bắt đầu cho đến kết thúc, muốn thành công không chỉ đơn giản dựa vào ngôn ngữ mà còn chịu sự chi phối của các yếu tố phi lời như: cử chỉ, thái độ, động tác để các bên tham gia giao tiếp thể hiện những xúc cảm của mình
1.2.2 Hành động dẫn nhập
1.2.2.1 Khái niệm
Bất cứ một vấn đề gì, trước khi đi vào những nội dung chính, ngoài phần đưa đẩy, vòng vo thì cần có phần dẫn dắt trực tiếp đến nội dung chính Cái đó người ta gọi là dẫn nhập Như vậy, trong hội thoại, dẫn nhập luôn là phần quan trọng và dường như không thể thiếu Tối thiểu nhờ nó, cả hai bên giao tiếp tránh việc bị “sốc” khi đi vào nội dung chính
Dẫn nhập là lượt lời đặc biệt với chức năng dự báo trực tiếp về một hành động hoặc sự việc sắp xảy ra trong cuộc thoại Dẫn nhập không chỉ xuất hiện và tồn tại trong phần mở đầu Các thành phần khác của cuộc thoại cũng
có thể có phần dẫn nhập
Dẫn nhập là hành động có ý nghĩa trọng tâm trong một phần hoặc toàn
bộ cuộc thoại mà ở đó người ta liệu đoán được cái gì sắp xảy ra, cũng như dẫn nhập hầu như đảm bảo được sự hợp tác của người tiếp nhận Đưa ra lời dẫn nhập, chắc chắn sẽ có lời hồi đáp (có thể bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ)
1.2.2.2 Vị trí và vai trò của hành vi dẫn nhập trong cuộc thoại và trong phần
mở thoại
Trang 19Một cuộc thoại luôn luôn có ba phần, trong mỗi phần trước khi đi vào vấn đề chính, hầu như sẽ luôn có cái gọi là dẫn nhập Dẫn nhập của những người giao tiếp đều có ý nghĩa chung là chuẩn bị về tinh thần, khả năng tiếp nhận của các bên Chính vì điều đó nên trong giao tiếp, hành động dẫn nhập
có vai trò quan trọng Mỗi hành động dẫn nhập được tạo lập trong từng phần của cuộc thoại, giúp cuộc thoại tự nhiên và uyển chuyển hơn Mặt khác, tạo điều kiện cho cuộc thoại có cơ sở phát triển sau này
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, lời dẫn nhập có chức năng quy định “quyền lực và trách nhiệm đối với nhân vật hội thoại”8 Dẫn nhập có thể là yêu cầu về thông tin, yêu cầu được tán đồng… Quan trọng hơn, ngoài việc dẫn người giao tiếp đi vào nội dung sắp được bàn luận, thì dẫn nhập còn ngầm quy định việc phải (nên) hồi đáp lại Đó là trách nhiệm của người tiếp nhận lời dẫn nhập Vì thế, dẫn nhập thường thuộc về các tham thoại chủ hướng trong mỗi phần của cuộc thoại Tuy nhiên, không phải cứ là tham thoại chủ hướng thì coi nó có vai trò dẫn nhập và ngược lại Vấn đề đến đây đặt ra là, trong cuộc thoại, mỗi phần thường có dẫn nhập
Mở thoại cũng không phải là trường hợp đi ngược lại điều đã nói trên
Mở đầu là bộ phận quan trọng trong cấu trúc cuộc thoại Nó cho phép các nhân vật giao tiếp có thể tiếp xúc với nhau, gợi ra chủ đề chính cần bàn luận Việc bắt đầu đi vào chủ đề chính cần bàn luận đó gọi là hành động dẫn nhập Theo E.Goffman (1973) “mọi diễn biến của tương tác chủ yếu phụ thuộc vào thời điểm đầu tiên này ” Hay như Kallmeyer (1986) cũng nhìn nhận đoạn mở đầu như sau: “tất cả các bình diện cơ bản của tương tác được xác định một cách chặt chẽ hay ít ra là lâm thời để tạo ra một cơ sở cho sự tiến triển của sự kiện” [Dẫn theo Thanh Hương]9
Trang 20Qua những ý kiến trên, có thể thấy rằng, phần mở đầu rất quan trọng trong cả cuộc thoại Một điều là, không phải tự nhiên hành động nào của phần
mở đầu cũng gọi tên là hành động dẫn nhập Hành động dẫn nhập là khi nó phải trực tiếp gợi đến vấn đề chính của đề tài để các nhân vật trên cơ sở đó xây dựng và phát triển cuộc thoại
1.3 Hành động dẫn nhập trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán
1.3.1 Hội thoại mua bán
1.3.1.1 Khái niệm
Mua bán là một hoạt động giao tiếp hàng ngày của con người ở các chợ, các cửa hàng hay các trung tâm mua sắm lớn Từ lý thuyết hội thoại nói chung, hiểu một cách đơn giản, cuộc thoại mua bán là kiểu hội thoại được hình thành do sự vận động trao - đáp giữa hai nhân vật: người mua hàng và người bán hàng
Trong cuộc thoại mua bán, hoạt động ngôn ngữ của các nhân vật tham gia giao tiếp xoay quanh nội dung chào mời, xem xét chất lượng, mẫu mã sản phẩm, hỏi giá, mặc cả, thỏa thuận hoặc không và kết thúc mua bán Nếu cuộc mua bán thành công thì sau khi thỏa thuận người mua - người bán sẽ trao tiền
- trao hàng cho nhau Những cuộc mua bán kiểu như vậy gọi là tích cực Ngược lại khi thỏa thuận về giá cả không được ngã ngũ người bán và người mua sẽ kết thúc cuộc thoại một cách tiêu cực, mục đích hội thoại không hoàn thành
Cuộc mua bán có thể được kéo dài hay rút ngắn tùy thuộc vào sự thương lượng giữa người bán và người mua Tuy nhiên, mỗi cuộc thoại dù dài hay ngắn vẫn phải hướng về một chủ đề chung từ khi bắt đầu cho đến diễn biến và kết thúc lần mua bán hàng hóa
Hội thoại mua bán cũng giống như bất kỳ cuộc giao tiếp nào, để đạt được mục đích của mình, những người tham gia không chỉ sử dụng phương
Trang 21tiện là ngôn ngữ mà còn kèm theo các động tác, cử chỉ, nét mặt… Tất cả những vấn đề này nhằm đi đến một điều quan trọng là sao cho đích của cuộc thoại được thực hiện
Mua bán là hoạt động thường xuyên và phổ biến, cần thiết trong đời sống của con người Chính vì vậy, các dạng mua bán có rất nhiều, để phân loại chúng người ta thường căn cứ vào đích chính của cuộc mua bán, vào mặt hàng được đưa ra để chào mời, thương lượng Theo tác giả Nguyễn Thị Đan10
có thể có các kiểu thoại mua bán sau thường xuất hiện:
Mua bán lương thực (gạo, mì, khoai, sắn… )
Mua bán thực phẩm (thịt lợn, thịt gà, thịt bò… )
Mua bán các loại vải
Mua bán các loại quần áo may sẵn
Mua bán các loại hàng giải khát
Mua bán các loại hoa quả
Mua bán đồ dùng gia đình
Mua bán đồ dùng cá nhân
Mua bán các loại văn phòng phẩm
Mua bán vật liệu xây dựng…
Có thể nói, để phân loại các cuộc thoại mua bán là rất khó Người ta chỉ
có thể đưa ra các dạng thoại phổ biến, thường xuyên có mặt trong đời sống con người
1.3.1.2 Các nhân tố tham gia vào cuộc thoại mua bán
Để một cuộc thoại mua bán được tiến hành ít nhất cần phải có các nhân
Trang 22- Mặt hàng được đưa ra để trao đổi mua - bán
- Không gian mua - bán (chợ, siêu thị, trung tâm mua sắm, cửa hàng…) Nếu thiếu một trong các nhân tố này thì cuộc thoại mua bán không thể diễn ra được
Trong cuộc thoại mua bán, quan hệ giữa người mua và người bán là sòng phẳng, bình đẳng, công bằng, theo phương châm “thuận mua vừa bán” Người mua được quyền lựa chọn sản phẩm, mặt hàng, tự do trả giá theo xu hướng thị trường Người bán luôn cố gắng chiều khách, giữ “chữ tín” nhưng làm sao vẫn thu được mức lợi nhuận trong chuẩn cho phép Do chất lượng mặt hàng, giá cả thỏa thuận chi phối nên nếu người bán - mua nắm được điều này thì cuộc mua bán thường diễn ra nhanh chóng, đích của cuộc thoại kết thúc tích cực, thành công Tuy nhiên, nếu người bán - mua không nắm được giá cả, chất lượng, người bán nói thách quá cao, người mua trả giá quá thấp thì dù cuộc thương lượng kéo dài nhưng mục đích cuộc thoại vẫn không được thực hiện, cuộc thoại kết thúc mang tính chất tiêu cực
1.3.1.3 Cấu trúc và phân loại (Dựa vào tư liệu thu thập)
a Cấu trúc
Một cuộc thoại mua bán đầy đủ bao giờ cũng gồm ba phần (cấu trúc giống như một cuộc thoại bất kỳ):
Phần mở đầu Phần thương lượng Phần kết thúc Tuy nhiên, không phải cuộc thoại nào cũng đầy đủ ba phần trên, hoặc chỉ có phần mở đầu - thương lượng, hoặc thương lượng - kết thúc, hoặc chỉ có phần mở đầu, hoặc nhiều khi mua bán bắt đầu từ thương lượng hay thương lượng và kết thúc không tách bạch rõ ràng
Trang 23Phần mở đầu được giới hạn từ chỗ bắt đầu cuộc mua bán cho đến khi người mua đồng ý với mặt hàng mình cần và bước sang hỏi giá
Phần thương lượng bắt đầu từ phần hỏi giá cho đến khi giá cả mặt hàng được cả hai bên chấp nhận
Phần kết thúc là phần người mua trả tiền, người bán trao hàng và kèm một số câu kết thúc (mời ghé lại lần sau, cảm ơn….)
b Phân loại
Sự phân chia cấu trúc trên chắc chắn cũng chỉ mang tính tương đối Trên cơ sở tư liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy có các kiểu cấu trúc hội thoại mua bán sau:
Cuộc thoại đầy đủ ba phần
Ví dụ:
(1)
Sp2: Xem vải gì đi em?
Sp1: Em đang tìm vải may áo mùa đông, kiểu kaki ấy
Sp2: Màu xanh này thế nào?
Sp1: Xanh này á Cũng được chị rút ra cho em đi
Sp2: Xanh này mặc đẹp, chọn áo cũng dễ Vải Nhật đấy em ạ
Sp1: Ừ, em cũng muốn mua vải tốt, mất công may rồi
Sp2: Em cứ yên tâm
Sp1: Bao nhiêu đây chị?
Sp2: Hơi đắt đấy nhé Bảy mươi nghìn một quần
Sp1: Không, năm lăm thôi
Sp2: Thế này cưa đôi hai chị em nhé Sáu mươi được chưa? Chị cũng chuẩn
bị dọn hàng rồi
Sp1: Dọn sớm thế chị?
Trang 24Sp2: Mùng 2 tháng 9 phải về sớm chứ
Sp1: Thôi được rồi, cắt cho em đi
Sp2: Hai quần hả em?
Sp2: Mua gì nào? Vào đây đi! Em chọn cho!
Sp1: Cái áo trắng kia sai (size) bao nhiêu hả chị?
Sp2: Anh tinh mắt quá Hàng đấy em vừa lấy về hôm qua đấy Có hai chiếc thôi Anh hợp với kiểu áo đó đấy Cái đó size L Vừa với anh đấy
Sp1: Bao nhiêu tiền vậy?
Sp2: Giá hãng ba trăm nghìn Em giảm cho anh hai mươi nghìn
Sp1: Gói lại hộ nhé
Sp2: Vâng Lần sau lại qua shop em nhé
(Shop thời trang Cầu Giấy)
Một cuộc thoại đầy đủ sẽ gồm có ba phần Trong đó mở thoại có chào hàng, giới thiệu về sản phẩm của người mua hoặc hỏi về đặc điểm, tính chất của sản phẩm người bán cần Trong các ví dụ trên, ở (1), mở đầu cuộc mua
bán bắt đầu từ tham thoại: Xem vải gì đi em? - [Sp2] cho đến Em cứ yên tâm - [Sp2]; ở (2) từ tham thoại: Mua gì nào? Vào đây đi! Em chọn cho! – [Sp2] đến Anh tinh mắt quá Hàng đấy em vừa lấy về hôm qua đấy Có hai chiếc
thôi Anh hợp với kiểu áo đó đấy Cái đó size L Vừa với anh đấy - [Sp2]
Phần thân thoại hay chính là phần thương lượng được tính từ khi người mua hỏi giá cả cho đến khi giá được chấp nhận từ hai phía Trong cuộc thoại
(2), phần này bắt đầu từ Bao nhiêu tiền vậy - [Sp1] đến Gói lại đi nhé [Sp1]
Trang 25Phần kết thúc mua bán là trao - nhận hàng, có thể kèm cảm ơn, mời lần sau
ghé thăm của người bán Ở cuộc mua bán (1) là trao hàng và cám ơn: Ừ, quần
em đây - [Sp2] và Vâng, em xin - [Sp1] còn trong cuộc mua bán (2) là lời cảm
ơn và mong muốn khách hàng nhớ tới cửa hàng: Vâng, lần sau lại qua shop
em nhé - [Sp2 - cuộc thoại (2)] Như vậy, một cuộc thoại đầy đủ sẽ có phần
mở đầu cho việc mua bán sau đó đến phần chính của việc mua bán (thương lượng giá cả, đánh giá tính chất mặt hàng, chấp thuận giá cả) và cuối cùng là trao - nhận hàng, cảm ơn, hứa hẹn
Cuộc thoại chỉ có hai phần: mở thoại và thương lượng
Sp2: Một trăm mười nghìn cháu ạ
Sp1: Thế thì hơi đắt, bọn cháu là sinh viên có thể giảm giá được không ạ? Sp2: Vậy cô giảm giá mười nghìn nhé, cháu mua mở hàng cho cô đi
Sp1: Vẫn đắt quá cô ạ, thôi để khi khác cháu quay lại
(Chợ Nhà xanh – Cầu Giấy)
(4):
Sp2: Cháu mua gì vậy?
Sp1: Cô cho cháu xem cái áo kia với ạ…
Trang 26(Xem một thời gian)
Cái áo này bao nhiêu ạ?
Sp2: Một trăm hai mươi nghìn
Sp1: Sao đắt vậy ạ Hôm nọ bạn cháu mua áo này chỉ bảy mươi nghìn thôi Sp2: Bảy mươi nghìn là loại khác rồi Áo chất đẹp thế này không có giá như vậy đâu
Sp1: Thế cô không định bớt cho cháu đồng nào sao?
Sp2: Đúng giá áo này là một trăm nghìn đồng
Sp1: Áo này làm gì đến một trăm, chín mươi thôi cô nhá
Sp2: Chín lăm nghìn là giá cuối cùng đấy
Sp1: Thôi được cô lấy cho cháu cái đấy
(Cửa hàng quần áo trên đường Chùa Bộc)
Những cuộc thoại trong dạng này chỉ có hai phần: mở thoại và thương lượng Phần thương lượng có thể kết thúc thành công hoặc thất bại, cái này tùy thuộc vào sự chấp nhận giá cả của người mua và khả năng thuyết phục của người bán Những cuộc thương lượng thành công được báo hiệu bằng việc người mua chấp nhận giá người bán đưa ra bằng một hành động có ý
nghĩa đồng ý Ví dụ ở hội thoại mua – bán (4) là tham thoại: Thôi được cô lấy
cho cháu cái đấy [Sp1]
Cuộc thoại có hai phần: thương lượng và kết thúc
Ví dụ:
(5):
Sp1: Cô ơi, cái váy đỏ này giá bao nhiêu?
Sp2: Giá của nó là hai trăm năm mươi nghìn
Sp1: Có thể giảm giá được không cô?
Trang 27Sp2: Đây là giá gốc đấy cháu à? Giá nhập vào đã hai trăm tư rồi Đây là bán
mở hàng cho cháu đấy
Sp1: Đắt quá Giảm đi cô Hai trăm thì cháu mua
Sp2: Không được cháu ạ Như vậy thì cô lỗ vốn mất à?
Sp1: Cháu thấy giá đó là hợp lý rồi Cô có bán với giá đó thì cháu mua Sp2: Thôi được, mở hàng cho cháu, lỗ một chút vậy Từ sau nhớ mua hàng cho cô nhé
Sp1: Vâng Cô gói lại hộ cháu luôn nhé
Sp2: Ừ, của cháu đây
Sp1: Cháu chào cô
Sp2: Ừ, chào cháu
(Chợ Nghĩa Tân)
(6):
Sp1: Chị ơi, cái cặp này giá bao nhiêu?
Sp2: Hai trăm thôi em ạ
Sp1: Dạ, những hai trăm cơ ạ Hình như hơi đắt Đúng giá bao nhiêu hả chị? Sp2: Tính rẻ cho em đấy, một trăm rưỡi nhé
Sp1: Vậy em lấy cái này
Sp2: Ừ, cảm ơn em Lần sau nhớ ghé chỗ chị đấy nhé
Sp1: Vâng ạ
(Cửa hàng bán cặp, túi, xách – Cầu Giấy)
Trong những cuộc thoại chỉ có phần thương lượng và phần kết thúc, mở đầu cuộc giao tiếp thường bao giờ cũng là người mua Bất kỳ người mua hàng nào cũng vậy, điều quan tâm lớn nhất là giá cả của hàng hóa Cho nên, cuộc thoại mua bán chỉ có thương lượng và kết thúc thì một điều gần như là tất yếu, người mua sẽ là người bắt đầu trước và hành động ở đây theo một khuôn
Trang 28định sẵn là hỏi giá cả mặt hàng Việc hỏi giá cả, thông thường có một cấu trúc
chung phổ biến: Mặt hàng + bao nhiêu tiền + (đại từ nhân xưng)?
Cuộc thoại chỉ có phần mở đầu
Đây là những cuộc thoại được coi là thất bại vì mục đích của cả bên mua và bên bán đều không được thực hiện Trong những cuộc thoại này, người bán cũng như người mua chỉ mới đề cập đến sản phẩm, hoặc một chút phẩm chất của sản phẩm, sau đó vì lý do nào đó từ phía người mua mà các phần hỏi giá cả, thương lượng không được tiếp tục thực hiện
Ví dụ:
(7):
Sp1: Cô cho cháu một nghìn rau thơm
Sp2: Lấy hai nghìn đi cháu, một nghìn ăn không đủ đâu
Sp1: Nhà cháu ăn thế thôi ạ
Sp2: Cô còn nốt hai nghìn mua cho cô đi
Sp1: Cháu còn có nghìn rưởi lẻ Thế thôi ạ (Đi)
(Chợ Nghĩa Tân)
(8):
Sp2: Chào cô, cô cần mua gì ạ?
Sp1: Cô đang tìm một chiếc áo xuân cho con gái
Sp2: Bạn bao nhiêu tuổi cô nhỉ?
Sp1: Nó mười tám tuổi Nó thích màu vàng
Sp2: Cô thử xem cái này xem có hợp với bạn không?
Sp1: Kiểu dáng đẹp đấy Màu hơi đậm một chút Cho cô cái màu nhạt hơn, sáng hơn một chút, cỡ nhỏ nhé
Sp2: Vâng, chờ cháu một lát….Cô coi đi, giá là một trăm hai Hàng đẹp đấy
cô ạ, cô mua đi
Trang 29Sau khi xem thêm Sp1 bỏ đi
(Chợ Nghĩa Tân)
Cuộc thoại có cả ba phần nhưng đoạn kết của phần thương lượng
và phần kết thúc nằm chung trong lượt lời của người bán
Sp1: Cô ơi! Thế áo này bao nhiêu tiền?
Sp2: Áo đó trăm hai Mở hàng cô lấy cháu một trăm
Sp1: Cô ơi, tám mươi nghìn được không cô?
Sp2: Không được đâu cháu ạ Giá đúng đó
Sp1: Thế thôi ạ
Sp2: Này cháu ơi, chín mươi cháu lấy không?
Sp1: Dạ không Cô lấy tám chục thì cháu mua
Sp2: Này cháu, quay lại đây cô gói cho nào Mở hàng cô bán rẻ cho đấy Đi
cả chợ này, không ai bán cho cháu cái áo này tám chục đâu Lần sau nhớ đến hàng nhà cô nhé
(Chợ Xanh Cầu Giấy)
(10):
Sp2: Vào xem hàng đi em!
Sp1: Vâng Chị lấy cho em xem cái kia được không ạ?
Sp2: Cái trên cùng kia à?
Trang 30Sp1: Vâng
Sp2: Ừ, chờ chị một lát
Sp1: Cái này bao nhiêu tiền hả chị?
Sp2: Em có con mắt thẩm mỹ đấy Áo này chỉ cửa hàng chị mới có, trăm tám em ạ
Sp1: Một trăm chị bán không?
Sp2: Em trả hơn đi
Sp1: Áo kiểu đẹp, nhưng chất không đẹp chị ạ
Sp2: Một trăm nghìn chị không bán được đâu
Sp1: Thế thêm mười nghìn nữa đấy Chị không bán thì em chịu
Sp2: Thôi được bán cho em Ưu ái lắm đấy Lần sau đến nhé
(Chợ Hàng Da)
Trong những cuộc thoại này, khi người bán đưa hàng đồng thời sẽ kèm theo một lời mời trở lại mua hàng Chẳng hạn ở hai cuộc thoại mua bán (9) và (10), người mua hàng đều mong muốn và hy vọng người mua sẽ trở lại cửa
hàng của mình: “Này cháu, quay lại đây cô gói cho nào Mở hàng cô bán rẻ
cho đấy Đi cả chợ này, không ai bán cho cháu cái áo này tám chục đâu Lần sau nhớ đến hàng nhà cô nhé.” - [Sp2 - 9]; Thôi được bán cho em Ưu ái lắm đấy Lần sau đến nhé - [Sp2 - 10]
Đoạn kết phần thương lượng và phần kết thúc đều nằm trong lượt lời của người bán mà không phân tách như những cuộc thoại đầy đủ ba phần tách biệt
Tóm lại, cấu trúc một cuộc thoại mua bán khá linh hoạt và không phải lúc nào cũng cố định Cấu trúc một cuộc thoại diễn biến như thế nào còn phụ thuộc vào hoàn cảnh mua bán, vào nhu cầu của các bên tham gia mua bán
Trang 311.3.2 Hành động dẫn nhập mua bán trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán
1.3.2.1 Vị trí và ý nghĩa của phần mở đầu trong cuộc thoại mua bán
Theo lý thuyết hội thoại, đoạn mở thoại bao giờ cũng đậm chất đưa đẩy, phần lớn đã được nghi thức hóa, với chức năng mở đầu cho một cuộc giao tiếp, tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia giao tiếp, bắt đầu những điều kiện cần để có thể phát triển cuộc giao tiếp đi xa hơn…
Phần mở đầu hội thoại mua bán cũng không nằm ngoài những điều đã nói ở trên Tuy nhiên, xuất phát từ hoàn cảnh giao tiếp đặc biệt là mua bán nên phần mở thoại cũng có những khác biệt Ngoài các phần có thể đã trở thành nghi thức hóa đối với nhiều phần mở thoại thì mở thoại của mua - bán còn cần phải thực hiện một số những nhiệm vụ khác: mời chào khách, giới thiệu sản phẩm, thăm dò khả năng mua của khách Hơn thế nữa, để cuộc thoại thành công, trong phần mở thoại cả hai bên mua - bán còn cố gắng thiết lập mối quan hệ giữa họ sao cho tốt nhất để chuẩn bị bước vào thương lượng giá
cả
Như vậy, trong phần mở thoại sẽ có một hoặc trên một cặp trao đáp với chức năng gợi mở, dẫn nhập để phần thân thoại có điều kiện tiếp tục phát triển
Trong phần mở thoại, ngoài hành vi chào hỏi thông thường, quen thuộc của người Việt còn có các hành động khác Đó có thể là mời mua hàng, gợi ý, thăm hỏi nhu cầu của người mua để biết khả năng đáp ứng Đó cũng có thể là hỏi về giá trị, phẩm chất, đặc điểm của mặt hàng nào đó từ người mua, xác nhận sự tồn tại của mặt hàng
Xác định ranh giới của phần mở đầu không phải lúc nào cũng dễ dàng Tuy nhiên một phần mở đầu bình thường sẽ bao chứa các nội dung sau:
- Xác lập được quan hệ bán – mua
Trang 32Không phải tất cả các phần mở thoại đều được phân chia rõ ràng hay đứng tách biệt Có những mở thoại được lồng ghép vào trong phần thân thoại
Đó là khi người ta không cần thăm dò về mặt hàng mà đi đến ngay việc hỏi giá Lúc này tham thoại hỏi giá cả thông thường bắt đầu cho phần thương lượng cũng chính là phần mở thoại
Ví dụ:
(11)
Sp1: Cô ơi, quýt này bao nhiêu tiền một cân?
Sp2: Mười lăm nghìn, không mặc cả đâu cháu ạ
Sp1: Sao đắt thế hả cô? Thôi cô bán cho cháu mười nghìn nhé
Sp2: Thôi cô bán rẻ cho cháu mười hai nghìn một cân vậy
Sp1: Thế cũng được Cô bán cho cháu một cân ạ
Cô hàng quýt nhặt và cân
Sp2: Cháu ơi, chỗ quýt này mười bốn nghìn rồi, hay cháu lấy luôn nhé
Sp1: Không, cô bớt ra đi Cháu chỉ lấy một cân thôi
Cô bán hàng bỏ quýt ra rồi cân lại
Sp2: Đây, quýt của cháu đây
Sp1: Cho cháu gửi tiền Cháu cảm ơn
Trang 33Ở luận văn này, đối tượng chúng tôi khảo sát là hành động dẫn nhập trong phần mở đầu - nghĩa là chỉ tập trung xem xét dẫn nhập thuộc mở đầu chứ không phải phần dẫn nhập của giai đoạn khác trong mua bán Hành động dẫn nhập là tên gọi chung dẫn các bên giao tiếp đi vào nội dung chính và được cụ thể hóa bằng các hành động khác nhau
Ví dụ:
(12):
Sp1: Chị ơi táo này bán thế nào đấy?
Sp2: Táo chín nghìn một cân đấy! Em nhặt đi
Sp1: Chín nghìn cơ á Đắt thế Táo còn có vết mà
Sp2: Thì táo có vết mới có giá chín nghìn chứ Táo đẹp bình thường nó phải mười lăm nghìn cơ Chín nghìn là chị bán vốn cho em đấy
Sp1: Táo có vết thế này thì trong hỏng hết
Sp2: Ơ, có hỏng đâu Đây này, em xem quả táo chị vừa bổ ra đây này (đưa xem hàng mẫu) Đấy ở ngoài có vết mà ở trong có sao đâu Lấy mấy cân cho chị nhá Em lấy mấy cân?
Sp1: Cho em một cân thôi
(Chợ Dịch Vọng)
Như vậy, lời của Sp1 Chị ơi táo này bán thế nào đấy? và Sp2 Táo chín
nghìn một cân đấy! Em nhặt đi trong đoạn thoại trên là những lượt lời mở
đầu đoạn thoại thương lượng hay cũng là mở đầu cho cả cuộc thoại Với một
Trang 34cuộc thoại được bắt đầu từ phần thương lượng thì hành động dẫn nhập nói chung được thực hiện bằng hành động hỏi về giá cả của người mua và được đáp lại bằng hành động xác nhận giá cả có thể kèm mời mua, hay gợi ý mua
từ người bán
Nhìn chung lại, dẫn nhập trong mua bán được hiểu là hành động mà ở
đó hai bên mua bán bắt đầu tiến hành mua bán Dẫn nhập trong mua bán tùy theo từng phần mà có những chức năng và sự khác biệt nhất định
b Hành động dẫn nhập mua bán trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán
Phần mở đầu cuộc thoại mua bán, nhiều tác giả như Dương Tú Thanh, Nguyễn Thị Đan, Hà Thị Sơn cho rằng đó là phần dẫn nhập, gợi mở bắt đầu một cuộc mua bán Hiểu như vậy thì những hành động có trong phần mở đầu đều có thể coi là dẫn nhập liệu chính xác và toàn diện? Trên cơ sở tư liệu và dựa vào lý thuyết hội thoại, chúng tôi cố gắng xác lập và phân chia sao cho tương đối rõ ràng cái gọi là hành động dẫn nhập trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán Đây cũng chính là đối tượng của luận văn
Theo tác giả Hà Thị Sơn, đoạn dẫn nhập là “những đoạn của người bán hoặc người mua, bằng các tham thoại của mình xác định mục đích hoặc mua bán hàng hoặc giới thiệu hàng….Chỉ sau khi đoạn này kết thúc thì người bán
và người mua mới bắt tay vào việc thảo luận, mặc cả nhằm đạt được hiệu quả
là bán hoặc mua được hàng với giá thỏa thuận nào đó hoặc không đạt được hiệu quả”11 Qua cách hiểu trên, đoạn dẫn nhập theo quan điểm của Hà Thị Sơn trùng khít với phần mở đầu của một cuộc hội thoại Tuy nhiên, toàn bộ phần mở đầu, không phải bất cứ hành vi nào trong đó cũng được gọi bằng cái tên dẫn nhập
Xét ví dụ sau:
Trang 35
(13)
Sp1: Cửa hàng chị này di chuyển làm em tìm mãi
Sp2: Thế dạo này đi đâu?
Sp1: Dạo này em chuyển về Giáp Bát
Sp2: Thì tìm đúng chủ thôi quan tâm đến cửa hàng ở đâu làm gì
Sp1: Chị xem có đôi dép nào không cho em em với
Sp2: Em đi kiểu giày hở mõm này nhé?
Sp1+: Cho em xem nào Đen quá chị ạ
Sp2: Thì thứ màu khác Nhiều màu mà em ưng kiểu là được
Sp1: Vừa mua cái cặp cho con trai giờ qua đây mua dép cho em gái
(nói với Sp1+): Kiểu này được đấy Sơn móng chân vào nữa đẹp phải biết Thôi lấy đi
Sp1+: Em nghĩ đã
Sp2 (nói với Sp1): Cứ để em thoải mái đi
Sp1+: Thôi cho em kiểu này màu bạc
(Chợ Nghĩa Tân)
Trong cuộc thoại này, từ [Sp1] - Cửa hàng chị này di chuyển làm em
tìm mãi đến [Sp2] - Cứ để em thoải mái đi là phần mở đầu cuộc thoại Tuy
nhiên, trong phần mở đầu này không phải cặp thoại hay hành vi nào cũng có thể coi là dẫn nhập Chẳng hạn như:
Sp1: Cửa hàng chị này di chuyển làm em tìm mãi
Sp2: Thế dạo này đi đâu?
Sp1: Dạo này em chuyển về Giáp Bát
Sp2: Thì tìm đúng chủ thôi quan tâm đến cửa hàng ở đâu làm gì
Trong đoạn thoại trên, cặp thoại chủ hướng Sp1 mở đầu và Sp2 kết thúc cũng như cặp chêm xen có hành vi hỏi thăm, nhưng chưa đi vào nội dung chính của cuộc mua bán mà có ý nghĩa thiết lập mối quan hệ giữa người mua
Trang 36- người bán Như vậy, rõ ràng là, trong đoạn thoại này không chứa hành động dẫn nhập một cách chính xác Đoạn thoại này nằm ở phần mở đầu song chỉ đơn thuần là giới thiệu, gây một hiệu ứng nhất định về quan hệ mua - bán
Cho đến khi Sp1 nói: Chị xem có đôi dép nào không cho em em với, cũng chỉ xác định là tiền dẫn nhập và chỉ đến khi Sp2 nói: Em đi kiểu giày hở mõm này
nhé mới được gọi là hành động dẫn nhập vì trong tham thoại này có chỉ ra
một cách trực tiếp và cụ thể đối tượng (giày hở mõm này) sẽ trở thành nhân tố
để phát triển cuộc thoại mua bán Thêm vào đó, hồi đáp của lượt lời này Cho
em xem đã tạo sự hoàn chỉnh về cách đưa và tiếp nhận đối tượng Mặt khác,
xét trong chỉnh thể của cấu trúc phần mở đầu, chúng ta thấy cặp thoại:
Sp2: Em đi kiểu giày hở mõm này nhé?
Sp1+: Cho em xem nào Đen quá chị ạ
trong đó lượt lời Sp2 được xác định có chứa hành động dẫn nhập vì những lượt lời đi trước lượt lời này chỉ có ý nghĩa thiết lập và mở ra quan hệ giữa người mua và người bán Những lượt lời đi sau hoặc đưa thêm thông tin về sản phẩm để củng cố tạo niềm tin cho khách hàng hoặc dẫn đến một sự việc
“ngoài lề” nào đó Hành động dẫn nhập trong tham thoại nêu trên đã chỉ ra một cách trực tiếp mặt hàng người bán gợi ý đưa ra và bằng tham thoại hồi đáp người mua thể hiện sự đồng tình để bắt tín hiệu này và tiếp tục phát triển cuộc thoại
Có thể thấy, hành động dẫn nhập trong phần mở thoại mà chúng tôi xét đến phải là hành động mà khi người mua hay người bán đưa ra lượt lời có tham thoại trực tiếp chỉ đến mặt hàng cần mua Nghĩa là ở đây, người mua hay người bán đã xác định được đối tượng mua bán
Ví dụ:
(14)
Sp1: Chị ơi, cho em xem cái áo kia với
Trang 37Sp2: Lấy đưa cho khách
Sp1: Cái này bao nhiêu chị?
Sp2: 60 nghìn em ạ
Sp1: Có ba lỗ thôi mà, 35 chị nhé
Sp2: Em cứ sờ chất xem áo hai lớp của chị đấy
Sp1: Mỏng tang ấy đáng bao nhiêu đâu
Sp2: Bọn chị đi mua người ta cũng tính vào tiền đấy hết Thôi mà em thích chị lấy 50
Sp1: Không, cuối mùa rồi chị bán cho em đi
Sp2: Không nói gì
Sp1: Thế bốn mươi chị nhé!
Sp2: Lắc đầu
Sp1: Thôi bán thì em lấy bốn lăm là hết đấy
Sp2: Ừ, thôi còn cái cuối bán cho em
(Cửa hàng ở Cầu Giấy)
Ở cuộc thoại này, phần mở thoại chỉ có một cặp thoại trong đó lượt lời của Sp1 có chứa hành động dẫn nhập giữa người mua và người bán và hồi đáp của người bán là hành động phi ngôn ngữ (lấy đưa cho khách) Chúng tôi xác
định lượt lời của Sp1 có tham thoại Cho em xem cái áo kia với là hành động
dẫn nhập vì về ý nghĩa tham thoại này đề cập đến đối tượng mua bán rất trực
tiếp, được biểu hiện bằng từ chỉ định đi kèm hàng hóa cái áo kia Ngoài ra hành vi này có thể cụ thể hóa bằng biểu thức ngôn ngữ là: cho + sp1 +hàng
Trang 38- Trong chỉnh thể của phần mở thoại: xem xét mối quan hệ của tham thoại chứa hành động dẫn nhập với những tham thoại đi trước và đi sau
để phân biệt được tương đối rõ ràng về mục đích liên quan đến mua bán Thông thường những phần mở thoại chỉ có một cặp thoại việc xác định hành động dẫn nhập trở nên dễ dàng hơn Thế nhưng với những phần mở thoại có trên hai cặp thoại, chúng tôi nhận thấy, những tham thoại đi trước tham thoại chứa hành động dẫn nhập thường thiên về việc xác lập quan hệ mua bán còn những tham thoại sau đó thì đi vào việc củng cố niềm tin khách hàng, tạo sự thu hút với khách bằng các
cách đưa thêm tính chất, đặc điểm của hàng hóa
- Yếu tố ngôn ngữ: đối tượng hàng hóa được đề cập trong hành động dẫn nhập được thể hiện qua ngôn từ cụ thể (có thể hàng hóa đi cùng các đại
từ chỉ định (kia, đó, này, đấy) hoặc hàng hóa cùng tính chất, đặc điểm)
- Biểu thức ngôn ngữ: Các hành động dẫn nhập được tường minh bằng
biểu thức ngôn ngữ như thế nào
Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi quan tâm đến các vấn đề lý thuyết hội
thoại liên quan đến đề tài Hơn nữa, chúng tôi cũng muốn làm rõ hơn khái niệm, vị trí của hành vi dẫn nhập trong cuộc hội thoại nói chung và trong phần mở đầu hội thoại mua bán nói riêng Theo đó, dẫn nhập đúng nghĩa chỉ khi người bán và người mua bắt đầu đề cập một cách cụ thể đến đối tượng mua bán
Trang 39CHƯƠNG 2 HÀNH ĐỘNG DẪN NHẬP CỦA NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA
TRONG PHẦN MỞ ĐẦU CUỘC THOẠI MUA BÁN
Trên cơ sở lí thuyết của chương 1, chúng ta thấy hành động dẫn nhập là khi người bán và người mua bắt đầu đề cập trực tiếp vào hàng hóa Sau dẫn nhập, hai bên giao tiếp mua bán có thể sẽ đi vào việc mặc cả, thảo luận hàng hóa Tùy vào mục đích cả hai bên có được thỏa mãn hay không mà việc thỏa thuận giá cả thành công và chuyển sang giai đoạn kết thúc mua bán
Trong phần mở đầu, những hành vi có tính chất đưa đẩy, thăm hỏi không phải là đối tượng chúng tôi quan tâm
Ví dụ:
(15)
Sp1 [1]: Cửa hàng chị này di chuyển làm em tìm mãi
Sp2 [2]: Thế dạo này đi đâu
Sp1 [3]: Dạo này em chuyển về Giáp Bát
Sp2 [4]: Thì tìm đúng chủ thôi quan tâm đến cửa hàng ở đâu làm gì
Sp1: Chị xem có đôi dép nào không cho em em với
Sp2: Em đi kiểu giày hở mõm này nhé?
Sp1+: Cho em xem nào Đen quá chị ạ
Sp2: Thì thứ màu khác Nhiều màu mà em ưng kiểu là được
Sp1: Vừa mua cái cặp cho con trai giờ qua đây mua dép cho em gái
(nói với Sp1+): Kiểu này được đấy Sơn móng chân vào nữa đẹp phải biết Thôi lấy đi
Sp1+: Em nghĩ đã
Sp2 (nói với Sp1): Cứ để em thoải mái đi
Sp1+: Thôi cho em kiểu này màu bạc
Trang 40(Chợ Nghĩa Tân)
Rõ ràng là, các hành động của Sp1, Sp2 từ [1] đến [4] mang tính chất đưa đẩy, không phải dẫn nhập trực tiếp đến đối tượng cụ thể của cuộc mua bán Tuy nhiên nếu dựa vào điều chúng tôi nói trên một cách cứng nhắc thì đôi khi có thể bỏ xót hành động dẫn nhập nào đó Vì vậy, mỗi khi xem xét, xác nhận hành động dẫn nhập nào chúng tôi nhất thiết phải dựa vào những lí
do đã đưa ở chương 1
Trong chương này, chúng tôi muốn tường minh, cụ thể hóa các phương thức và cấu trúc hành động dẫn nhập của người mua và người bán Để cho một hành động dẫn nhập được trọn vẹn, chúng tôi đồng thời vừa khảo sát hành động dẫn nhập (đối tượng chính) vừa tiếp cận đến hành động hồi đáp Mục đích cuối cùng là tạo ra một chỉnh thể dẫn nhập - hồi đáp với ý nghĩa có thể dựa vào hồi đáp lý giải được những khác biệt khi người nói hay người mua lựa chọn hành vi nào đó để dẫn nhập Từ đó, dẫn nhập chia ra làm hai loại: hành động dẫn nhập của người mua (kèm theo hồi đáp của người bán) và hành động dẫn nhập của người bán (kèm hồi đáp từ người mua)
2.1 Hành động dẫn nhập của người mua
Hành động dẫn nhập của người mua được xác định khi người mua bắt đầu trực tiếp nói đến mặt hàng theo mục đích của mình Mặt hàng đó sẽ trở thành đối tượng chính của cuộc mua bán Tuy nhiên cũng có trường hợp có dẫn nhập đầu tiên không thành công cần phải tái dẫn nhập, nhưng trong luận văn này chúng tôi chỉ quan tâm khảo sát đến hành động dẫn nhập đầu tiên Dẫn nhập của người mua có thể được biểu hiện ra bằng nhiều hành động khác nhau
Tùy thuộc vào hoàn cảnh, mục đích mua bán mà người mua lựa chọn những kiểu dẫn nhập thích hợp Dựa vào tư liệu thu thập được, có thể thấy dẫn nhập của người mua thường tập trung ở các dạng sau