Mục tiêu nghiên cứu trong luận văn này là so sánh đối chiếu kiểu câu nghi vấn đích thực trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra các phương tiện tạo lập câu hỏi với các đặc điểm tương ứng v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THU HIỀN
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CÂU HỎI
TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ
VĂN BẢN DỊCH ANH - VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ: NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Thị Thuận
Hà Nội – 2009
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1.Giới thiệu 5
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3 Mục đích ý nghĩa 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
CÂU NGHI VẤN, CÂU NGHI VẤN ĐÍCH THỰC 9
1.1 Các khái niệm liên quan 9
1.1.1 Câu 9
1.1.2 Phân loại câu 10
1.1.3 Hành vi ngôn ngữ 10
Hành vi tạo lời 10
“Là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một mệnh đề phát ngôn về hình thức và nội dung” [4-tr.88] 10
Hành vi tại lời (hành vi ngôn trung) 10
Hành vi mượn lời 11
‟‟Hành vi mươn lời là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ ( cụ thể là các phát ngôn) để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.” [4- tr.88] 11
1.1.4 Tiền giả định 11
1.1.5 Hàm ngôn 11
Trang 31.1.7 Ngữ cảnh 12
1.1.8 Phương pháp dịch thuật 12
1.2 Câu nghi vấn đích thực tiếng Anh và tiếng Việt 15
1.2.1 Định nghĩa chung về câu nghi vấn và câu nghi vấn đích thực (theo cách nói thông thường là câu hỏi) 15
1.2.2.Các kiểu câu nghi vấn đích thực 20
1.2.2.1 Câu nghi vấn đích thực trong tiếng Anh 20
1.2.2.2 Câu nghi vấn đích thực trong tiếng Việt: 34
CHƯƠNG 2 46
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CÂU NGHI VẤN ĐÍCH THỰC 46
TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 46
2.1 Yes/ No questions – Câu hỏi lựa chọn 46
2.1.1.Câu hỏi lựa chọn sử dụng trợ từ ngữ khí 48
2.1.1.1 À / Hả: 48
2.1.1.2 Ư / Sao 51
2.1.1.3 Nhé / nhỉ 53
2.1.1.4 Liệu 54
2.1.1.5 Chắc 54
2.1.1.6 Hình như … thì phải 55
2.1.1.7 Chẳng lẽ / Chẳng nhẽ / có lẽ 55
2.1.1.8 Chứ 55
2.1.2 Câu hỏi lựa chọn xác định dùng tác tử hỏi 56
2.1.2.2 Hay /Hay là 59
2.1.2.3 Hay không 59
2.1.2.4 …chưa / đã … chưa 60
2.1.2.5 Chăng 61
2.1.3 Các dạng câu hỏi lựa chọn đặc biệt 62
2.1.3.1 Tag question - Câu hỏi đuôi 62
Trang 42.1.3.2 Câu hỏi có/không trong tiếng Anh chuyển dịch
sang câu hỏi tiêng Việt không có tiểu từ mang tín hiệu
nghi vấn 64
2.1.3.3 Câu hỏi có/không trong tiếng Anh ngầm ẩn đại từ nghi vấn 64
2.2 WH questions – Câu hỏi không lựa chọn ( Câu hỏi có chứa đại từ nghi vấn) 64
2.2.1 Hỏi về người 65
2.2.2 Hỏi về vật và đối tượng của hành động 67
2.2.3 What dùng trong câu hỏi phân loại 72
2.2.4 Hỏi về sở hữu 73
2.2.5 Hỏi về nguyên nhân 74
2.2.6 Hỏi về thời gian 76
2.2.7 Hỏi về địa điểm - Hỏi về hướng chuyển động 77
2.2.8 Hỏi thăm, hỏi về cách thức hành động, tính chất hay đặc trưng của sự vật 79
2.3 Alternative questions – Câu hỏi lựa chọn 83
CHƯƠNG 3 86
NHỮNG LƯU Ý KHI CHUYỂN DỊCH CÂU NGHI VẤN ĐÍCH THỰC 86
TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 86
3.1.Những nét tương đồng và khác biệt về cấu trúc và ngữ nghĩa của câu nghi vấn đích thực giữa hai ngôn ngữ 86
3.1.1Những nét tương đồng 88
3.1.2 Những nét khác biệt 89
3.2 Câu hỏi có /không và câu hỏi có từ hỏi Wh- 91
3.3 Về việc chuyển dịch nghĩa dụng học của câu hỏi 92
3.4 Hư từ và cách sử dụng khi chuyển dịch câu hỏi 93
Trang 53.5.1 Dịch đại từ nhân xƣng 96
3.5.2 Dịch tên riêng 99
3.5.3 Yếu tố văn hoá 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 108
Trang 6MỞ ĐẦU 1.Giới thiệu
Dịch thuật mà một hoạt động có tầm quan trọng trong mọi thời đại, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về giao lưu trao đổi thông tin văn hoá toàn cầu khi thế giới bước sang thế kỷ 21 Các ngôn bản được chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia ngày càng nhiều, phong phú và đa dạng Ngoài việc dịch các tác phẩm văn chương, văn hoá nghệ thuật, các dịch giả còn dịch nhiều loại hình ngôn bản khác nhau như phóng sự, hợp đồng kinh tế thương mại, đặc biệt là các ngôn bản khoa học kỹ thuật Dịch thuật ngày càng được quan tâm đặc biệt do kết quả của những phát triển nhanh chóng về kinh tế, khoa học và công nghệ Thực tế cho thấy hiện này người Việt học tiếng Anh khi tiến hành chuyển dịch một văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc ngươc lại đã gặp rất nhiều rắc rối, đặc biệt là khi chuyển dịch các kiểu câu nghi vấn (câu hỏi) Có thể thấy câu nghi vấn là loại câu có mức độ sử dụng trong giao tiếp rất cao Điều đó lý giải tại sao loại câu này là phần không thể thiếu trong các sách hướng dẫn học hội thoại Anh- Việt và cũng như trong trong các tác phẩm văn học Người tham gia hoạt động giảng dạy tiếng Anh và hoạt động dịch thuật chắc chắn sẽ có nhiều lúng túng khi hướng dẫn cho sinh viên chuyển dich câu hỏi trong giao tiếp hoặc khi thực hiện việc chuyển dịch câu hỏi từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên văn bản để làm sao câu dịch được sát nghĩa nhất Thực tế này gợi ý và thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Những nghiên cứu đối chiếu đầu tiên trong ngôn ngữ học xuất hiện từ rất lâu Nổi rõ hơn cả là vào thời kỳ có nhiều phát kiến mới về địa lý, thời kỳ hình thành nhiều quốc gia, dân tộc độc lập, thời kỳ phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật, và đặc biệt là
Trang 7Phạm vi đối chiếu câu nói chung và câu hỏi nói riêng giữa các ngôn ngữ là rất lớn Việc nghiên cứu đối chiếu câu hỏi tiếng Anh và tiếng Việt cũng nằm trong phạm
vi đó Nếu nói đến nét riêng, vị trí đặc trưng đối chiếu câu Anh- Việt thì có thể có nhiều điều Song ít nhất có một số điểm mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ khi tiến hành đối chiếu đã rấtt quan tâm bao gồm một số điểm dưới đây:
Một là, đối chiếu câu tiếng Việt và tiếng Anh là đối chiếu câu của hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau Tiếng Việt thuộc loại hình đơn lập, tiếng Anh thuộc loại hình hoà kết phân tích hay còn gọi là ngôn ngữ biến hình Nếu nói ngôn ngữ cụ thể là câu liên hệ chặt chẽ với văn hoá thì đối chiếu câu cũng liên hệ sự thể hiện nét đặc sắc
Hai là, tiếng Anh là ngôn ngữ có mức độ phổ biến rộng rãi, có thể nói hiện nay
là một trong số các ngôn ngữ phổ biến nhất trên thế giới Ngày càng nhiều người Việt học và dùng tiếng Anh Mặt khác, tiếng Việt và Việt Nam ngày nay cũng được nhiều người biết đến, nhiều người học và dùng tiếng Việt Vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu câu nói chung và câu hỏi nói riêng hứa hẹn nhiều gợi mở và ứng dụng thực tế rộng rãi Việc nghiên cứu đối chiếu câu, ngoài những lợi ích lý luận và thực tiễn chung, còn trực tiếp giúp cho việc học nói, học cách diễn đạt, giúp nâng cao hiệu quả của việc giao tiếp, dịch thuật Việt- Anh, Anh- Việt
Có thể thấy rằng đã có nhiều công trình nghiên cứu đối chiếu Anh – Việt về từ loại, về thành ngữ Trong cuốn Nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ của Lê Quang Thiêm cũng có một phần trình bày ngắn gọn về câu nghi vấn Anh- Việt Tuy nhiên về vấn đề khảo sát tình hình chuyển dịch câu hỏi Anh - Việt thì chưa có nghiên cứu nào về vấn
đề này
3 Mục đích ý nghĩa
Hỏi là một dạng hành vi ngôn ngữ phổ biến, một thành tố tham gia thường xuyên vào các cấu trúc đối thoại Câu hỏi được con người sử dụng liên tục trong giao tiếp vì nó là công cụ quan trọng để xác định đối tượng nhiệm vụ và định hướng tư duy Mặt khác, nhờ sự tác động của hoàn cảnh, tình huống và thông qua các vòng chuyển
Trang 8hoá khác nhau, câu hỏi có thể thực hịên những kiểu chức năng giao tiếp, những hành vi tại lời rất đa dạng Có thể xem nghiên cứu câu hỏi là một trong những vấn đề rất đáng quan tâm của ngữ dụng hoc Vì thế việc nghiên cứu tình hình chuyển dịch câu hỏi từ Tiếng Anh sang tiếng Việt chẳng những góp phần vào việc nghiên cứu miêu tả lời nói đối thoại nhằm hình thành kỹ năng giao tiếp nói chung, hình thành kỹ năng dịch thuật câu hỏi Anh -Việt nói riêng mà còn góp phần giải đáp rất nhiều vấn đề có ý nghĩa lý thuyết của ngôn ngữ dụng học
4 Phạm vi đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát tình hình chuyển dich câu hỏi từ tiếng Anh sang tiếng Việt Mục tiêu nghiên cứu trong luận văn này là so sánh đối chiếu kiểu câu nghi vấn đích thực trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra các phương tiện tạo lập câu hỏi với các đặc điểm tương ứng và không tương ứng trong tiếng Anh
và tiếng Việt Cũng thông qua khảo sát, chúng tôi xin đóng góp thêm một vài ý kiến về một số điểm cần lưu ý khi tiến hành chuyển dịch
5 Phương pháp nghiên cứu
Để có thể làm được như trên, chúng tôi tiến hành phân tích câu hỏi trên cơ sở dựa vào những nhân tố như mục đích, ý đồ giao tiêp, vốn tri thức sẵn có … để từ đó có thể xây dựng những định hướng thích hợp như so sánh, thay thế Việc phân tích này đòi hỏi một sự phối hợp linh hoạt giữa các mặt sau:
- Quan sát các loại hình câu nghi vấn đích thực một cách khách quan
- Phân tích và so sánh câu nghi vấn đích thực giữa tiếng Anh và tiếng Việt quan sự phân tích và tổng hợp qua các đặc trưng của đối tượng, lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ gốc, và tiếng Việt làm ngôn ngữ đích
- Sử dụng công cụ miêu tả ngôn ngữ học một cách có định hướng
- So sánh một số các sách hướng dẫn học tiếng Anh song ngữ, tiểu thuyết văn học và truyện cười thời kỳ hiện đại bao gồm bản gốc tiếng Anh và bản dịch tiếng
Trang 9- Khảo sát các câu hỏi qua các giáo trình giảng dạy tiếng Anh hiện đang thịnh hành và trong thực tế giao tiếp hàng ngày với người nói tiếng Anh và tiếng Việt
Tài liệu dùng để khảo sát, miêu tả là các câu được trích dẫn từ một số tác phẩm
là truyện đọc song ngữ, sách học tiếng Anh song ngữ và một số tác phẩm văn học
6 Bố cục của luận văn
Luận văn sẽ được cấu trúc thành ba chương với những nội dung có bản như sau:
Chương 1: Các khái niệm liên quan đến đề tài Câu nghi vấn đích thực tiếng
Anh và tiếng Việt
Chương 2: Khảo sát tình hình chuyển dịch câu nghi vấn đích thực từ tiếng Anh
sang tiếng Việt
Chương 3: Một số vấn đề cần lưu ý khi tiến hành chuyển dịch câu nghi vấn
Anh- Việt
Ngoài ba chương chính, luận văn còn có phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục các bảng thống kê, phụ lục về ngữ liệu so sánh, các nguồn tư liệu trích dẫn và tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CÂU NGHI VẤN, CÂU NGHI VẤN ĐÍCH THỰC
1.1 Các khái niệm liên quan
Đây là các khái niệm sẽ được sử dụng trong khi trình bày, mô tả và phân tích
chuyển dịch trong luận văn
1.1.1 Câu
Theo Mai Ngọc Chừ- Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến “Câu là đơn vị của ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn và kèm theo thái độ của người nói hoặc cử chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất." [1 - tr.285]
Còn Nguyễn Thiện Giáp cũng nêu ra một định nghĩa ngắn gọn “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc” [2 – tr 266]
Cả hai định nghĩa nêu trên về câu đều nêu ra hai đặc điểm cơ bản của câu về mặt chức năng và mặt cấu tạo
Xét về mặt chức năng, câu là đơn vị có khả năng thông báo và do vậy có thể phân biệt câu với đơn vị bậc dưới nó là từ Xét về mặt cấu tạo, câu là đơn vị có chức năng thông báo nhỏ nhất Câu có thể bao gồm các mệnh đề hay chỉ đơn thuần là một từ nhưng lại khác với từ ở chỗ khi phát ngôn, một từ có thể trở thành một câu nếu nó đi kèm với một ngữ điệu nhất định và nhằm thông báo một tin nhất định, bộc lộ một tình cảm hay cảm xúc nhất định của người nói Khả năng thông báo về hiện thực khách quan hay về tình cảm chủ quan của người nói được gọi là tính tình thái của câu
Trang 11Nếu đơn thuần chỉ là một từ “What” khi chuyển dịch sang tiếng Việt sẽ có nghĩa
là “cái gì” Nhưng nếu nó nằm trong một ngữ cảnh cụ thể đi kèm với các yếu tố tinh thái thì có thể được hiểu là “Cái gì cơ?” “Anh bảo cái gì?”
Hay chỉ đơn giản là một cái tên “Jane” nếu đi kèm ngữ điệu và trong cảnh
huống mang yếu tố tình thái nhất định cũng lại có thể dịch là “Là Jane ư?” “Có phải Jane không em?”
1.1.2 Phân loại câu
Người ta có thể phân loại câu theo hai tiêu chí : theo hình thức ngữ pháp và theo mục đích nói năng Nếu phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp thì câu sẽ gồm hai loại lớn
là câu đơn và câu ghép Phân loại câu theo mục đích nói sẽ gồm bốn loại:
- Câu tường thuật
- Câu nghi vấn
- Câu cầu khiến
- Câu cảm thán Đây là luận văn khảo sát tình hình chuyển dịch câu nghi vấn Anh- Việt nên chúng tôi
sẽ đi theo hướng phân loại câu theo mục đích nói năng
1.1.3 Hành vi ngôn ngữ
Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách
sử dụng ngôn ngữ Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ C.Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn:
Hành vi tạo lời
“Là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp
từ thành câu… để tạo ra một mệnh đề phát ngôn về hình thức và nội dung” [4-tr.88]
Hành vi tại lời (hành vi ngôn trung)
Trang 12Là những hành động được thực hiện ngay trong lời nói và bằng việc sử dụng ngôn ngữ, phát ngôn
Thường có các động từ ngữ vi tương ứng để gọi tên
Ví dụ: Hỏi, mời, chào, chúc, khuyên, ra lệnh, khẳng định
Hành vi mượn lời
‟‟Hành vi mươn lời là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ ( cụ thể là các phát ngôn) để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.” [4- tr.88]
1.1.5 Hàm ngôn
”Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định của ý nghĩa tường minh Nếu không có ý nghĩa tường minh và tiền giả định của nó, không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp Hàm ngôn lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh giao tiếp” [2- tr 367]
1.1.6 Hư từ
Hư từ là “những từ rỗng nghĩa, tức không có ý nghĩa chân thực (không nhằm chỉ các sự vật, hiện tượng” mà là những từ có giá trị ngữ pháp, ngữ dụng Hư từ có vai trò như một thứ “nhựa” gắn kết các dạng cấu trúc phát ngôn
Trang 13Trong khi khảo sát tình hình chuyển dịch câu nghi vấn đích thực trong luận văn này, chúng tôi thấy một thực tế là hư từ à, ư , nhỉ, nhé, chứ được sử dụng với tần suất cao trong các câu hỏi tổng quát
1.1.7 Ngữ cảnh
Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo lời nói ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình tạo lập và quá trình lĩnh hội lời nói
1.1.8 Phương pháp dịch thuật
Dịch là quá trình chuyển đổi từ một ngôn ngữ nguồn (SL) dạng văn bản hoặc lời nói thành ngôn ngữ đích (TL) dạng văn bản hoặc lời nói tương ứng Mục đích chính của quá trình dịch thuật là tái sinh các loại văn bản khác nhau, như các tác phẩm văn học, các văn bản liên quan tới tôn giáo, khoa học, triết học,… bằng một ngôn ngữ khác, nhờ đó tiếp cận được lượng người đọc lớn hơn, chính vì thế lượng độc giả mục tiêu
cũng sẽ lớn hơn và đưa thế giới lại gần nhau hơn
Tuy nhiên dịch hoàn toàn không phải là một công việc đơn giản Nếu ngôn ngữ chỉ là việc giải thích các khái niệm chung hoặc tổng quát thì tất nhiên quá trình dịch từ một ngôn ngữ nguồn sang một ngôn ngữ đích sẽ rất dễ dàng Nhưng dịch không chỉ là việc chuyển đổi từng từ, mà còn bao gồm rất nhiều yếu tố khác Các khái niệm của một ngôn ngữ này có thể sẽ rất khác biệt với các khái niệm của một ngôn ngữ khác, bởi vì mỗi ngôn ngữ có cách tổ chức lời nói khác nhau Khoảng cách giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích càng lớn thì việc chuyển đổi sẽ càng khó khăn hơn Sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ và hai văn hóa khiến quá trình dịch thực sự là một thách thức lớn Có thể lấy một số yếu tố trở ngại trong vấn đề dịch như hình thức, văn phong, ý nghĩa, thành
ngữ, tục ngữ, vân vân
Một số câu hỏi thường gặp trong quá trình dịch:
Trang 14 Một biên dịch viên có thể lược bỏ một số phần trong văn bản hay không?
Biên dịch viên nên coi trọng ý nghĩa hay hình thức hơn?
Biên dịch viên nên ẩn danh hay hiện danh?
Biên dịch viên nên trung thành hay không cần phải trung thành?
Văn bản dịch nên biến đổi tương ứng ngôn ngữ đích hay duy trì sắc thái ngôn ngữ nguồn?
Có khả năng dịch thành các văn bản tương đương?
Các câu hỏi này chính là những tranh luận lý thuyết thường xuyên được đưa ra xem xét trong các buổi Nghiên cứu Dịch thuật
Quy trình dịch thuật
Quy trình dịch thuật nghĩa là toàn bộ quá trình một biên dịch viên chuyển từ một văn bản hoặc một phần văn bản thành các văn bản tương ứng bằng một ngôn ngữ khác
Quy trình dịch thuật có thể miêu tả như sau:
Giải mã ý nghĩa văn bản nguồn, và
Mã hóa lại hoặc dịch ý nghĩa đó thành ngôn ngữ đích
Trong quy trình đơn giản đó chứa rất nhiều hoạt động khác nhau như kiểm tra ngữ pháp, cú pháp, thành ngữ, nghĩa từ vựng và các yếu tố tương tự của ngôn ngữ nguồn, cũng như văn hóa của tác giả văn bản đó Biên dịch viên cần có kiến thức sâu rộng để
có thể giải mã và sau đó mã hóa lại ý nghĩa văn bản bằng một ngôn ngữ khác Trong nhiều trường hợp, có thể kiến thức ngôn ngữ đích của biên dịch viên quan trọng hơn
kiến thức ngôn ngữ nguồn của người đó
Sau đây là quy trình mà tất cả các biên dịch viên cần tuân thủ nhằm đảm bảo tính chính
xác và hợp lý của văn bản dịch:
Trang 15 Tài liệu cần dịch (ngôn ngữ nguồn) phải được giao cho người thông thạo ngôn
ngữ đích mà văn bản đó cần được dịch ra
Tài liệu phải được người thông thạo cả về ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích hiệu đính Trong quá trình hiệu đính phải đảm bảo tính chính xác, ngữ pháp,
chính tả và văn phong của văn bản
Tài liệu cần được người thành thạo cả hai ngôn ngữ đọc lại một lần nữa Chính
tả và hình thức văn bản cần được kiểm tra lại trong quá trình này
Cuối cùng, trước khi giao tài liệu cho khách hàng, tài liệu phải được kiểm tra một lần nữa để đảm bảo rằng bản dịch chính xác và không có bất kỳ đoạn văn
bản nào bị bỏ sót cũng như văn bản được trình bày một cách hoàn hảo
Quy trình dịch thuật có thể chia thành hai nhóm:
Quy trình kỹ thuật: Quy trình này là việc phân tích ngôn ngữ nguồn và ngôn
ngữ đích và tìm hiểu toàn diện ngôn ngữ nguồn trước khi bắt tay vào dịch thuật
Quy trình tổ chưc: Quy trình này là việc thường xuyên đánh giá lại bản dịch
Công việc này cũng bao gồm việc so sánh bản dịch hiện tại với bản dịch văn bản tương ứng của các biên dịch viên khác Bên cạnh đó, quy trình tổ chức cũng kiểm tra hiệu quả truyền đạt của văn bản dịch thông qua việc lấy ý kiến của độc giả ngôn ngữ nguồn nhằm đánh giá tính chính xác và hiệu quả của bản dịch cũng như xem xét phản ứng của họ
Phương pháp dịch thuật
Một số phương pháp dịch thuật phổ biến là:
Dịch từng từ: Trong phương pháp này, các từ trong ngôn ngữ nguồn được dịch
sang một ngôn ngữ khác theo nghĩa phổ biến nhất Phương pháp này đôi khi gây
ra tình trạng sai văn bản, đặc biệt với các thành ngữ, tục ngữ
Trang 16 Dịch hàm nghĩa từ vựng: Với phương pháp này, các cấu trúc ngữ pháp của
ngôn ngữ nguồn được dịch sáng ngôn ngữ đích gần nhất Tuy nhiên, các từ có nghĩa từ vựng được dịch riêng biệt, không phụ thuộc vào bối cảnh
Dịch trung thành: Phương pháp này đòi hỏi biên dịch viên dịch chính xác
nghĩa văn cảnh của văn bản gốc với các đòi hỏi về cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nguồn
Dịch sát nghĩa: Dịch sát nghĩa là một phương pháp dịch quan tâm tới cả giá trị
thẩm mỹ của văn bản ngôn ngữ nguồn
Dịch tùy ứng: Dịch tùy ứng là cách dịch thường được sử dụng trong khi dịch
thơ ca hoặc kịch bản Văn bản được tái hoàn chỉnh về mặt văn hóa ngôn ngữ nguồn và sau đó được chuyển thành văn hóa ngôn ngữ đích trong khi vẫn giữ nguyên các yếu tố liên quan tới nhân vật, đề tài, bối cảnh
Dịch tự do: Phương pháp dịch này tạo nên các bản dịch mà văn phong, hình
thức và nội dung không đồng nhất với văn bản nguồn
Dịch văn cảnh: Phương pháp này thể hiện chính xác thông điệp của văn bản
nguồn, nhưng đôi khi có xu hương làm thay đổi nghĩa gốc của văn bản bằng việc sử dụng các thành ngữ hay tục ngữ
Dịch truyền đạt thông tin: Phương pháp này chuyển thể chính xác nghĩa văn
cảnh của văn bản gốc mà người đọc có thể dễ dàng chấp nhận và hiểu được cả nội dung và ngôn ngữ của bản dịch đó
1.2 Câu nghi vấn đích thực tiếng Anh và tiếng Việt
1.2.1 Định nghĩa chung về câu nghi vấn và câu nghi vấn đích thực (theo cách nói thông thường là câu hỏi)
Câu hỏi là loại câu đóng vị trí quan trọng trong mọi hoạt động giao tiếp Khi con người thực hiện hành động giao tiếp, người ta có thể thể hiện mục đích giao tiếp của mình ở ba hình thức câu:
Trang 172 Nghi vấn ( hỏi)
3 Cầu khiến ( nhờ vả hoặc ra lệnh)
Nếu xét ở góc độ ngữ pháp thì hình thức ngữ pháp của ba kiểu câu này được phân biệt rất rõ ràng Còn nếu xét trên góc độ ngữ nghĩa ngữ dụng thì rõ ràng là ba kiểu câu này có thể được dùng để truyền tải cùng một nội dung thông tin Trong cuốn “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” tập 1- Tác giả Cao Xuân Hạo đã nêu một ví dụ rất điển hình:
a Anh có thể ra hành lang đợi tôi một lát được không?
b Chúng tôi mời anh ra hành lang đợi một lát
c Phiền anh ra hành lang đợi một lát
Nếu theo sự phân loại thông thường thì cả ba câu trên đều có thê sắp xếp vào loại câu cầu khiến Nhưng theo cách nhìn hành vi ngôn ngữ thì câu (a) là một câu nghi vấn (hay câu hỏi), còn hai câu sau là câu kể, tuy giữa chúng có sự phân biệt sắc thái nghĩa
Dưới đây, chúng tôi tập trung trình một số quan niệm tiêu biểu về câu hỏi trong tiếng Việt của hai tác giả Cao Xuân Hạo và Diệp Quang Ban và quan niệm về câu hỏi trong tiếng Anh của tác giả Simon C.Dik và đồng tác giả Kazt and Postal
Quan niệm của tác giả Cao Xuân Hạo:
“Câu hỏi của tiếng Việt cũng như nhiều tiếng khác, ngoài các giá trị hỏi (yêu cầu thông báo) là giá trị tại lời trực tiếp của nó, còn có thể có một (hay nhiều) giá trị tại lời phát sinh khác như phủ định, khẳng định, nghi ngờ…”[14 – tr.212]
Như vậy, theo tác giả Cao Xuân Hạo, câu hỏi có giá trị đưa một ẩn số, một cái chưa biết trong mệnh đề, giá trị tại lời của câu hỏi chỉ là một hình thức thuần tuý Mỗi câu hỏi còn có một giá trị tại lời phái sinh, và đây lại chính là một công dụng Theo tác giả thì trong khi giao tiếp, câu hỏi có thể được cảm nhận bằng nhiều yếu tố khác nhau như ngữ điệu câu, trọng âm và tiêu điểm nghi vấn, các cung bậc chuyển từ mục đích hỏi thuần tuý sang các sắc độ khác như gợi ý, ngờ vực, phủ định, khẳng định với những cảm xúc của người hỏi
Trang 18Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban:
“Câu nghi vấn thường được dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi
và chờ đợi sự trả lời, sự giải thích của người tiếp nhận câu đó” [6 – tr 226]
Theo tác giả Diệp Quang Ban, câu nghi vấn đã cho thấy rõ ràng mục đích là tìm kiếm một câu trả lời cho những thông tin còn thiếu hay chưa rõ
“Về mặt hình thức câu nghi vấn cũng có các dấu hiệu đặc trưng nhất định” Tác giả đã nêu những phương tiện chủ yếu để cấu tạo và nhận diện câu nghi vấn trong tiếng Việt ( trong sự đối chiếu với câu tường thuật) bao gồm:
- Các đại từ nghi vấn,
- Kết từ hay ( với ý nghĩa lựa chọn),
- Các phụ từ nghi vấn,
- Các tiểu từ nghi vấn chuyên dụng,
- Ngữ điệu thuần tuý ( trong trường hợp không xuất hiện các phương tiện nêu trên)
Quan niệm của Katz và Postal
Thế nào là một câu hỏi? Tiếng Anh cũng như rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới đều có khái niệm chung về kiểu câu được gọi bằng một cái tên chung là “Câu hỏi” Theo Katz và Postal (Katz và Postal – 1964) : “Về mặt ngữ nghĩa và trong một chừng mực nào đó, chúng tương đồng với những câu cầu khiến, vì các câu hỏi và một loại yêu cầu đặc biệt Song câu hỏi khác câu cầu khiến là những câu đòi hỏi hình thức của hành
vi hoặc của hành động phi ngôn ngữ nào đó Quá trình hỏi chủ yếu gắn liền với phản ứng ngôn ngữ.” Tuy nhiên, trên thực tế có thể thấy có một số câu cầu khiến lại yêu cầu phản ứng ngôn ngữ Thí dụ: “Hãy cho biết tên anh?” Với kiểu câu cầu khiến như thế này thì nhất định là phải có một câu trả lời chứ không dùng hình thức phi ngôn ngữ Bên cạnh đó lại có một số câu trả lời cho câu hỏi theo kiểu dùng các cử chỉ như nhếch mép, cười nhạt, nhún vai, lắc đầu và chúng đều là các hành vi phi ngôn ngữ Tuy
Trang 19câu hỏi là kiểu câu mà người nói nêu ra chúng nhằm gây ra một phản ứng ngôn ngữ từ phía người nghe và khi phát ngôn thì người hỏi không sử dụng các hình thức cầu khiến với các động từ say, tell
Một phương tiện khác để biểu hiện câu hỏi là ngữ điệu của lời nói Trong tiếng Anh, các kiểu câu hỏi khác nhau sẽ mang theo nét ngữ điệu điển hình Ngữ điệu lời nói
sẽ đi lên trong các kiểu câu hỏi trong thí dụ dưới đây:
a Have you seen him recently? Gần đây cậu có gặp anh ta không?
b Will you keep secret? Cậu sẽ giữ bí mật chứ?
Nhưng trong các kiểu câu hỏi có từ để hỏi thì ngữ điệu sẽ bắt đầu từ cao ở đầu câu hỏi xuống thấp giọng ở câu hỏi trong các thí dụ:
a What are you going to do this weekend ? Cuối tuần này cậu có kế hoạch gì chưa? / cậu định làm gì?
b Who can explain this situation for me?
Em nào có thể giúp cô giải thích hiện tượng này?
Như vậy để có thể nhận diện ra đâu là câu hỏi với kiểu ngữ điệu này thì người ta
có thể xét đến từ để hỏi trong câu và trọng âm nhấn trong câu bên cạnh ngữ điệu hỏi
Quan niệm của Simon C.Dik
S.C.Dik đề cập đến chức năng câu hỏi và đề cấp đến các kiểu trả lời khác nhau
có thể áp dụng trả lời cho câu hỏi Các kiểu câu hỏi có thể phân biệt theo:
1 Loại thông tin được hỏi
2 Kiểu trả lời có thể áp dụng cho câu hỏi
Tác giả S.C.Dik cho rằng: “câu hỏi có đại từ hỏi bộc lộ những đặc tính nổi bật nhất, cụ thể là trong mối tương quan, một mặt với động từ hạn định, còn mặt khác với các cấu trúc khuyết, có thể tách ra được, có thể biến đổi được…” [17– tr.258]
Những câu hỏi có đại từ hỏi có mối quan hệ với các động từ hạn định theo kiểu chúng có thể hiểu được theo nghĩa của một hoạt động cấu trúc của câu hỏi này, có thể
Trang 20là một cấu trúc trung tâm, một cấu trúc chính, trong đó thành tố nghi vấn trong câu hỏi
có từ hỏi mang chức năng chính, xét về bản chất
S.C.Dik mô tả cấu trúc chung của câu hỏi như sau:
Int: X: Extended Predication
(Int: câu hỏi; Extended Predication: vị ngữ mở rộng)
Trong đó tác tử (Operator - /OP/) nghi vấn, về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp thể chuyển hoá thành câu cầu khiến, câu hỏi tu từ hay câu cảm thán…
Để trả lời cho một câu hỏi thi đáp án đưa ra có thể ở hai dạng: hoặc là câu trả lời (answer), hoặc là một câu đáp ( response) Theo ông, khi nêu ra một câu hỏi, chắc chắn câu hỏi đó sẽ có một lời đáp nhưng không nhất thiết phải có một câu trả lời
Thí dụ:
Câu hỏi: Where does his girl friend live? – Bạn gái anh ta sống ở đâu thế? Lời đáp: 1 Who knows? (Ai mà biết được)
2 I don‟t know (Tôi không biết)
3 I can‟t tell you (Tôi không thể nói cho cậu biết được)
4 Why do you want to know? (Anh biết để làm gì? )
5 That‟s none of you business.( Không phải việc của anh) Trả lời: 6 She lives in a Van Quan residential area
(Cô ấy sống ở đô thị văn Quán)
7 It‟s at the street‟s corner (Ở góc phố ấy)
Có thể thấy: tất cả những câu trả lời đều là lời đáp, nhưng không phải lời đáp nào cũng là câu trả lời Những lời đáp (1) (2) (3) (4) (5) cho câu hỏi trên mang một chừng mục nào đó mang tính giao tiếp vì nó liên quan đến sự phù hợp khả năng trả lời hoặc trong những hoàn cảnh nhất định đổi với khả năng trả lời Còn câu (6) và (7) là câu trả lời mang thông tin mà người hỏi đang muốn biết.Như vậy câu hỏi là hành vi lời nói ban đầu điển hình và câu trả lời hành vi đáp lại cần thiết Câu hỏi có thể tạo ra môi
Trang 21trường cho bước giao tiếp tiếp theo, và câu trả lời là thành viên của cập đi đôi với nhau: hỏi – trả lời
Từ bốn quan điểm nêu trên, có thể thấy các tác giả đều nhận diện câu nghi vấn trên cơ sở gắn liên với mục đích giao tiếp, mà không đề cập đến cấu trúc hình thức, dấu hiệu hình thức của câu hỏi như ta thấy trong định nghĩa của ngôn ngữ học nhà trường
Từ các định nghĩa khác nhau nêu trên, chúng tôi ra quan niệm chung về câu nghi vấn như sau:
“Câu nghi vấn là loại câu có hành động ngôn trung đi kèm một trong các yếu tố nghi vấn đặc trưng ( đại từ nghi vấn, hư từ, ngữ điệu ) được phát ngôn với mục đích tìm kiếm một câu trả lời về một sự tình được tiền giả định là hiện thực.”
Khái niệm câu nghi vấn bao gồm cả hai loại câu nghi vấn đích thực và câu nghi vấn không đích thực
Câu nghi vấn đích thực là câu chỉ có giá trị ngôn trung là hỏi để yêu cầu một lời đáp, hỏi người khác hoặc hỏi chính mình để được trả lời hoặc tự giải đáp
Câu nghi vấn không đích thực là kiểu câu có các giá trị ngôn trung khác, thực chất là câu có giá trị cầu khiến, giá trị cảm thán, khẳng định, phủ định, bác bỏ hoặc chối cãi, ngờ vực, thanh minh, hy vọng mong manh , phân vân lo lắng Kiểu câu hỏi này không có giá trị để hỏi Về mặt cú pháp, chúng hoàn toàn giống câu hỏi nhưng ngữ điệu của những câu này có âm vực thấp hơn Những câu hỏi kiểu này chỉ là hình thức
để người nghe tự biết ra việc phải đáp ứng Tuy nhiên do khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ nên chúng tôi không xét đến trường hợp câu nghi vấn không đích thực trong luận văn này
1.2.2.Các kiểu câu nghi vấn đích thực
1.2.2.1 Câu nghi vấn đích thực trong tiếng Anh
Các dạng câu nghi vấn đích thực truyền thống:
Trang 22Hầu hết các sách ngữ pháp truyền thống khi xét đến các dạng câu hỏi trong tiếng Anh đều có một cách phân chia chung khá đơn giản căn cứ trên nội dung và hình thức của phát ngôn Ngữ pháp truyền thống phân loại các câu hỏi tiếng Anh ra làm ba loại
cơ bản dưới đây
Loại 1: Yes/No question: Câu hỏi tổng quát
Kiểu câu hỏi này có ngữ điệu lời nói lên cao ở cuối câu và chúng yêu cầu câu trả lời có hoặc không Loại câu này gồm hai loại nhỏ:
- Để tạo thành câu hỏi, một phần của vị ngữ được gọi tên là “ trợ động từ” hoặc
“ động từ tình thái” sẽ được đưa vào câu và đứng trước chủ thể gây ra hành động Thí dụ:
a Does she like eating ice-cream?
b Is she working in this hospital?
Có một số động từ như Be, Have, Can làm chức năng động từ hoặc động từ tình thái Kiểu câu này đôi lúc lược bỏ HAVE hoặc HAS nhưng vẫn được xem là câu hỏi Thí dụ:
Your mother got many houses in this city?
Khi muốn thể hiện sự ngạc nhiên hay nghi ngờ, người ta có thể sử dụng dạng phủ định trong câu hỏi.Thí dụ:
Hasn‟t she married yet?
- Câu hỏi đuôi (Tag question) là kiểu câu hỏi gồm hai vế trong một câu Nếu như vế thứ nhất của câu là một dạng câu khẳng định thì vế còn lại là một trợ động từ
để ở dạng phủ định đi kèm các đại từ nhân xưng Đối với kiểu câu này, ngữ điệu luôn
đi lên ở vế trước và sau đó sẽ xuống giọng ở vế sau
- You are very hungry, are you?
- She can swim, can‟t she?
Trang 23Đây là kiểu câu hỏi có kết cấu đứng đầu câu là là các đại từ nghi vấn, tiếp sau
đó hoặc là các tác tử của vị ngữ hay còn gọi là trợ động từ, hoặc là động từ tình thái, hoặc là động từ BE trực tiếp làm vị ngữ rồi đến các chủ ngữ và các thành phần khác Ngữ điệu của câu hỏi này sẽ đi xuống ở cuối câu
- Where do you live?
- When did he go there?
Trong trường hợp đại từ nghi vấn thay thế vào vị trí chủ ngữ của câu thì trật tự
từ trong loại câu hỏi này giống trật từ của câu trần thuật và không có hiện tượng từ đảo
vị trí trong trật tự câu, và cũng không cần mượn các trợ động từ hay động từ tình thái đưa lên trước chủ ngữ để hỏi
- Who lives in this room?
- Whose pen is on the table?
Loại 3: Alternative question : Câu hỏi lựa chọn
Gọi là câu hỏi lựa chọn vì kiểu câu này nêu lên sự lựa chọn một trong hai đối tượng trong câu Ngữ điệu câu lên giọng ở phần đầu, xuống giọng ở phần kết thúc câu
Do you live in the town or in the country?
A- Cấu trúc và phương tiện biểu hiện câu nghi vấn đích thực trong tiếng Anh
Loại 1: Yes/No question: Câu hỏi tổng quát
* Cấu trúc
Đây là kiểu câu hỏi thường được hình thành bằng cách đặt tác tử đứng trước chủ thể gây ra hành động, kèm theo ngữ điệu câu hỏi (hoặc lên cao giọng ở cuối câu (Rise), hoặc giọng đi từ thấp lên cao ( Fall + Rise)
So sánh hai nhóm cấu trúc sau: (S- subject: chủ thể gây ra hành động, Op- operator: tác tử, P- predication: vị từ):
Câu trần thuật (Statement) Câu hỏi (Question)
Trang 24Sơ đồ biểu diễn:
Subject + Op + Predication
a We are studying English at school
b These students have finished their
reports
c You should go to the dentist‟s twice a
year
Op+ Subject + predication
a Are you studying English at school?
b Have these students finished their reports?
c Should I go to the dentist‟s twice a year?
Có một đặc điểm cần lưu ý là đối với hai thì hiện tại đơn và quá khứ đơn trong tiếng Anh, do hình thức câu trần thuật thường không có tác tử đi kèm nên khi chuyển đổi thành câu hỏi thì sẽ bổ sung thêm tác tử là trợ động từ do/ does cho thì hiện tại đơn
và did cho thì quá khứ đơn
Câu trần thuật( Statement) Câu hỏi (Question)
Sơ đồ biểu diễn:
Subj – Predication
a He does his homework everyday
b The plane took off at 5.30
c His methods bring success
Op/do/-Subj- Predication./ did Does he do his homework everyday? Did I plane take off at 5.30?
Do his method success?
Có hai loại động từ vừa đóng vai trò vị ngữ và đóng vai trò tác tử trong câu hỏi
trong tiếng Anh là Be và Have Hai động từ này bản thân chúng đóng luôn vai trò động
từ chính trong câu nên khi đặt câu hỏi, chúng sẽ được đưa lên vị trí trước chủ thể gây ra hành động
Trang 25Câu trần thuật Câu hỏi
a He is at home today
b The girls have the exact change
Is he at home today?
Have the girls the exact change?
Dĩ nhiên, trường hợp (b) có thể có câu hỏi:
Do the girls have the exact change?
Đối với động từ Have, xảy ra hai khả năng khi đặt câu hỏi Bản thân Have vừa
là động từ chính vừa là tác tử trong câu nên có thể chuyển Have lên trước chủ thể gây
ra hành động để hỏi Đây là kiểu cú pháp thường gặp trong tiếng Anh- Anh Còn với
ngôn ngữ Anh- Mỹ hiện đại, Have được coi như một động từ thường và tác tử hay còn
gọi là trợ động từ do/ does/ did sẽ được đưa lên trước vị trí chủ thể gây ra hành động
Hiện tượng thường gặp trong tiếng Anh - Mỹ (American English) và tiếng Anh – Anh (British English) hiện đại trong câu hỏi, các ngôi nhân xưng được đảo chỗ cho nhau để bảo đảm bảo vai giao tiếp của các đại từ nhân xưng thứ I và thứ II Thí dụ:
- Do you love him? (Anh yêu cô ấy phải không?)
Yes, I do (Vâng, tôi yêu cô ấy)
* Một số đặc điểm nữa cần phải lưu ý trong câu hỏi tiếng Anh Đó là:
- Câu hỏi kể (declarative question) là trường hợp ngoại lệ, là kiểu loại câu hỏi không đòi hỏi có tác tử đứng trước chủ ngữ
You have finished your report? [ĐTAV- tr.64]
- Người hỏi có thể đặt tiêu điểm nghi vấn vào từng thành phần thông tin của câu hỏi, và tiêu điểm nghi vấn sẽ được nhận ra qua nhấn giọng ở trọng âm câu Thí dụ:
a Was he a famous actor in those days?
Tác tử đứng trước chủ thể gây ra hành động có dạng phủ định:
1a Aren‟t you cleaning your room?
Con sẽ không dọn phòng phải không?
b Isn‟t he at home?
Trang 26Anh ấy không có nhà à?
- Khuynh hướng phủ định thực sự phức tạp khi sử dụng một thành tố mang sắc thái ngạc nhiên hoặc thiếu tin tưởng nhưng lại có tính khẳng định
- Isn‟t your car working?
Xe của bạn không nổ máy được à?
Sắc thái nghĩa của câu này có thể hiểu được là: “Anh có chắc là xe anh không
nổ được máy chứ? Tôi đã nghĩ rằng nó chạy rất tốt cơ đấy.Ở đây có hai quan điểm đan xen cần phân biệt, đó là:
- Giả thuyết cũ có tính khẳng định (Old assumption)
- Giả thuyết mới có tính phủ định (New assumpion)
Vì giả thuyết cũ hướng tới sự xác nhận niềm hy vọng hay mong muốn của người nói, nên câu hỏi có/không dạng phủ định thường được dùng để diễn đạt thái độ bực tức hay thất vọng, không hài lòng Thí dụ:
- Aren‟t you ashamed of yourself?
Anh không thấy xấu hổ à?
(Hàm ý: Lẽ ra anh phải biết xấu hổ nhưng anh đã không như vậy)
- Didn‟t you finish the report yesterday?
Hôm qua anh không hoàn thành bản báo cáo sao?
(Hàm ý: Tôi nghĩ là anh phải làm xong bản báo cáo ngày hôm qua nhưng không phải như vậy)
Kiểu câu hỏi có/không dạng phủ định này thường có tác tử được sử dụng gắn với –n‟t (can‟t, didn‟t don‟t, isn‟t…) Cũng có thể tiểu từ phủ định not đứng sau chủ ngữ Thí dụ:
- Don‟t you enjoy youself?
- Do you not enjoy yourself?
Dạng câu này thường dùng trong các trường hợp quan trọng, hoặc có tính nhấn
Trang 27* Câu hỏi đuôi (Tag Question)
Câu hỏi đuôi là kiểu câu hỏi gắn liền với câu trần thuật bao gồm động từ ở cả hai dạng khẳng định và phủ định
- He has garaduated university, hasn‟t he?
- Your friends aren‟t coming here, are they?
Muốn thiết lập câu hỏi đuôi, người ta phải tuân thủ theo các quy tắc như sau:
- Đuôi câu hỏi gồm các tác tử đứng trước chủ thể gây hành động theo trật tự Thí dụ:
is he? isn‟t he? can he? can‟t he? will he? couldn‟t he? could he not? did he not? …
- Khi mệnh đề trần thuật có hình thức trợ động từ (tác tử) như thế nào thì ở đuôi câu hỏi cũng sẽ sử dụng trợ động từ đó Thí dụ:
- I haven‟t meet you before, have I ?
- They are going to the cinema tonight, aren‟t they?
Đối với các kiểu câu hỏi đuôi được xác lập với phần thì của động từ để ở thì hiện tại đơn hoặc quá khứ đơn thì tác tử tương ứng lần lượt với hai thì này là do/ did sẽ được đưa vào vị trí đuôi câu hỏi trước chủ thể gây ra hành động Thí dụ:
- He knows you, doesn‟t he?
-The girls had lunch, didn‟t they?
- Chủ thể gây ra hành động được biểu hiện ở phần đuôi câu hỏi là một đại từ để nhắc lại, hoặc dùng thay thế một cách phù hợp với chủ thể gây ra hành động trong mệnh đề trần thuật
- Nếu mệnh đề trần thuật có động từ ở dạng khẳng định, thì tác tử ở phần đuôi câu hỏi ở dạng phủ định và ngược lại
- Trọng tâm của câu hỏi rơi vào phần trợ động từ, với ngữ điệu xuống (falling), đôi khi lên giọng, (rising) với những ý nghĩa hỏi khác nhau
Có bốn kiểu câu hỏi đuôi theo những nguyên tắc sau:
Trang 28Ngữ điệu lên Ngữ điệu xuống Khẳng định + phủ định (I) He likes his job, doesn‟t
Rõ ràng là những câu hỏi này có thường thừa nhận sự phủ định hoặc khẳng định
Một sự đối lập xuất hiện trong câu (III, IV), nhưng lại một lần nữa, có thể nhận
sự cần thiết tách rời hai nhân tố: Một giả thuyết (được diễn đạt bằng mệnh đề trần thuật) và một sự chờ đợi (được diễn đạt bằng phần hỏi) Dựa trên nguyên tắc này chúng ta có thể phân biệt được bốn loại như sau:
I Giả thuyết khẳng định + sự chờ đợi trung hoà
II Giả thuyết phủ định + sự chờ đợi trung hoà
III Giả thuyết khẳng định + sự chờ đợi khẳng định
IV Giả thuyết phủ định + sự chờ đợi phủ định
Phần đuôi câu hỏi với ngữ điệu xuống sẽ gây ra được sự chú ý, gợi ý sự khẳng định trong mệnh đề trần thuậtt, và có ảnh hưởng của một câu cảm thán hơn là một câu hỏi đích thực Trường hợp này với ngữ điệu câu xuống ở cuối cũng giống câu hỏi có/không biểu đạt sắc thái cảm thán Thí dụ:
Trang 29Ngoài ra, câu hỏi đuôi còn có một dạng không thông dụng với cả hai phần trần thuật và phần đuôi hỏi để ở dạng khẳng định Ví dụ:
- Your car is outside, is it?
-You have hone your homework, have you?
Phần đuôi của câu hỏi luôn lên giọng, và đặc điểm của nó là tình huống xuất hiện sau Oh hay So, chỉ ra kết luận của người nói nhờ suy ý hoặc nhờ nhắc lại những gì
đã được đề cập tới Ngữ điệu câu đôi khi diễn đạt một sự nghi ngờ, châm chọc
-So that‟s your recent survey, is it? [ĐT AV – tr 65]
Vậy đấy là điều tra mới đây nhất của quý cô phải không? [ĐT AV- tr.66] Dạng câu hỏi đuôi với cả hai phần trần thuật và đuôi câu hỏi ở dạng phủ định, kiểu như:
Oh, so you didn‟t catch the bus again, didn‟t you? [ĐTAV- tr 92]
Ồ thế là lại lỡ xe buýt lần nữa rồi phải không? [ĐTAV- tr.93]
* Câu hỏi có/không có hình thức kể (Declartive Question)
Người ta cũng có thể sử dụng hình thức câu hỏi kể và như vậy không phải tất cả các câu hỏi có/không đều yêu cầu tác tử trước chủ thể gây ra hành động Để phân biệt câu hỏi kể với câu kể thông thường phải dự vào ngữ điệu lời nói lên giọng ở cuối câu là đặc điểm để phân biệt Bởi vì nếu xét về hình thức ngữ pháp thì câu hỏi dạng kể có hình thức của một câu trần thuật.Thí dụ:
- You have signed a new working contract?
Cậu vừa ký hợp đồng lao động mới à?
- You both spend your summer holiday in Florida?
Trang 30Năm nay các cậu đi nghỉ hè ở Florida chứ?
Câu hỏi dạng kể có xu hướng khẳng định hoặc phủ định một hiện tượng dựa trên cơ sở những gì quan sát được, và động từ được biểu đạt ở dạng câu khẳng định hoặc phủ định Thí dụ:
- We have something to eat?
Chúng ta (đã) có gì để ăn rồi phải không?
- We have nothing to eat?
Chúng ta không có gì để ăn hả?
Những câu hỏi này có lực ngôn trung giống câu hỏi đuôi dạng (I) hoặc (II), ngoại trừ ngữ điệu đặc biệt Ngữ điệu này đã gợi ý để người nói nhận được câu trả lời
có hoặc không cho một kết luận đã được giả thuyết trước
* Câu hỏi có/không có trợ động từ tình thái
Đông từ tình thái là một kiểu trợ động từ đặc biệt Các câu hỏi có/ không có sử dụng động từ tình thái khi được chuyển dịch luôn phải xem xét trong ngữ cảnh nhất định thì mới có thể chuyển tải đúng nội dung Động từ tình thái CAN, COULD, MAY được dùng với hàm nghĩa cho phép Động từ tình thái MUST, HAVE TO lại là các động từ tình thái hàm nghĩa nghĩa vụ, bắt buộc Ví dụ:
Can I use this computer a minute?
Xin phép cô cho tôi sử dụng chiếc máy này một phút
Yes, please
Vâng, mời cô cứ dùng
Must I/do I have to answer these questions?
Tôi phải trả lời những câu hỏi này sao?
Yes, you must/have to
Ừ, anh phải trả lời chúng đấy
Điều này có nghĩa là mỗi dạng hỏi mong đợi một dạng trả lời thích hợp nào đó
Trang 31từ tình thái SHALL SHALL hàm chỉ của người nói trong vế trần thuật, nhưng lại hàm chỉ của người nghe trong vế hỏi Thí dụ:
Shall I carry the case for you?
Tôi có thể xách giùm cái vali này cho bà chứ?
(Bà có muốn tôi xách hộ cái vali này không?) Cách sử dụng Shall trong câu trực tiếp đối với chủ thể ngôi thứ I số nhiều WE
Nó hàm cả hai nghĩa mục đích riêng và chung Thí dụ:
Shall we go somewhere for drink?
Chúng ta ra ngoài uống chút gì nhé?
NEED trong tiếng Anh – Anh là các trợ động từ tình thái mang sắc thái không khẳng định trong các mệnh đề, và có dạng khẳng định tương đối là MUST Do vậy trong các câu hỏi câu hỏi như:
Need it happen? Hoặc Does it need to have to happen?
Điều đó có cần xảy ra không?
Yes, it must/ has to
Có, cần đấy
thì MUST được dùng trong câu trả lời có giá trị tương ứng NEED
Mặt khác nếu MUST dùng trong vế hỏi của người nói thì nó sẽ có hướng khẳng định Thí dụ:
Is it a fact that must happen?
Có thực là nó cần phải xảy ra không?
Trang 32đại từ nghi vấn, thường giữ vị trí đầu câu hỏi, bao gồm:
Who, Whom, Whose, What, When,What time, Why, Where, How + Op+ Subject +
predication?
Theo qui tắc:
- Từ nghi vấn đứng ở vị trí đầu tiên của câu hỏi
Thí dụ:
- Who have you told the secret?
Thế cô đã nói bí mật đó cho ai?
- But who will help me if you leave earlier?
Nhưng ai sẽ giúp tôi nếu anh đi sớm?
Theo cách nói trang trọng thì giới từ đứng trước, trong khi đó, theo cách nói không trang trọng thì bổ ngữ xuất hiện ở vị trí đầu câu, còn giới từ đứng ở vị trí cuối câu
-On what did you base your prediction? (Cách nói trang trọng)
-What did you base your prediction on? (Cách nói không trang trọng)
* Những điểm lưu ý:
- Cũng có một nhóm từ hỏi nhấn mạnh nét nghĩa không trang trọng như: Whoever, Whatever, Whichever, Whenever, Whenever, Wherever, However Nhưng thường thì chúng được tách ra làm hai từ như Who ever trừ Why và ever
Why ever didn‟t she tell me?
Dưới đây là những câu có bộ phận nghi vấn hoạt động theo các chức năng mệnh
đề khác nhau:
1 Who ever opened the dooor? (Bộ phận hỏi làm chủ thể gây ra hành
động)
2 Which cars have you lent her? (Bộ phận hỏi làm bổ ngữ trực tiếp)
3 Whose nice books are there? (Bộ phận hỏi làm bổ ngữ)
Trang 335 When will she come back? (Bộ phận hỏi làm trạng ngữ chỉ thời gian)
6 Where shall I put my shoes? (Bộ phận hỏi làm trạng ngữ chỉ địa điểm)
7 Why is he always arguing? (Bộ phận hỏi làm trạng ngữ chỉ quá trình)
8 How did she make it? (Bộ phận hỏi làm trạng ngữ chỉ quá trình)
9 How much do they care? (Bộ phận nỏi làm trạng ngữ (nhấn mạnh,
tăng cường))
10 How long has he been waiting? (Bộ phận hỏi nói lên trạng ngữ chỉ quá
trình của hành động)
11 How often do you see her? (Bộ phận hỏi làm trạng ngữ chỉ tần số)
Qua các câu hỏi trên, chúng ta thấy rằng, trật tự của các thành phần trong câu trần thuật bình thường bị đảo trong câu hỏi Bộ phận hỏi được đặt ỏ vị trí đầu câu, tác
tử và chủ thể gây ra hành động cũng được đảo vị trí trong mọi trường hợp trừ khi chính
bộ phận hỏi làm chủ thể gây ra hành động
Việc đảo vị trí giữa chủ thể gây ra hành động và tác tử trong câu hỏi có từ hỏi cũng giống như trong câu có/không Nếu không có tác tử trong câu trần thuật tương ứng thì DO được dùng thay thế trong câu hỏi BE được coi như một tác tử trong khi nó
là động từ chính của câu Thí dụ: How is he?
Lưu ý:
- Các phó từ chỉ phương tiện, lý do và mục đích thường được hỏi bằng các cấu trúc có giới từ
WH + Op+ Subject + predication + preposition ?
a What shall we mend out shoes with?
b What do you tell me the story for?
Loại 3: Alternative question : Câu hỏi lựa chọn
Trang 34Kiểu câu hỏi này mang hai sắc thái ý nghĩa hoặc là theo kiểu câu hỏi có/ không hoặc là theo kiểu câu hỏi có từ nghi vấn Thí dụ:
1a Do you want to take the red dress or the blue one?
(hỏi về lựa một sản phẩm váy theo mầu)
b Which dress would you like? The red one or the blue one?
Em lấy cái váy nào, đỏ hay xanh Loại câu hỏi lựa chọn (1a) chỉ khác câu hỏi có/không ở ngữ điệu Thay cho ngữ điệu lên giọng ở cuối câu, mỗi sự lựa chọn đều có ngữ điệu lên giọng, riêng sự lựa chọn cuối cùng mang ngữ điệu xuống giọng để chỉ rằng danh mục lựa chọn đã hết Sự khác nhau về ngữ điệu của câu hỏi ngữ điệu lựa chọn và câu hỏi „có/không” rất quan trọng, nếu bỏ qua sự khác nhau ấy có thể dẫn đến sự hiểu nhầm So sánh hai câu trả lời dưới đây:
Câu hỏi lựa chọn:
a A: Shall we go by bus or train?
B: By bus Câu hỏi có/không:
b A: Shall we go by bus or train?
B: No, let take the car
Loại câu hỏi lựa chọn (2b) thực sự là sự kết hợp của hai câu hỏi riêng biệt, một câu hỏi có từ nghi vấn tiếp theo một câu hỏi lựa chọn đã được tỉnh lược Do vậy, (1b)
có thể coi như là một câu rút ngắn của (1a)
Bất kỳ câu hỏi có/không dạng khẳng định nào cũng có thể được biến đổi thành một câu hỏi lựa chọn bằng cách đưa thêm or not vào đưa thêm một mệnh đề phủ định tương ứng
Câu hỏi có/không: Are you coming?
Câu hỏi lựa chọn: Are you coming or not?
Trang 35Biến thể lựa chọn (đưa ra khía cạnh phủ định của câu hỏi) có giọng điệu khá gay gắt nhưng mặt khác lại không thể phân biệt với câu hỏi có/không
1.2.2.2 Câu nghi vấn đích thực trong tiếng Việt:
A - Các dạng câu nghi vấn đích thực
Có rất nhiều sách ngữ pháp với các quan niệm và cách phân loại kiểu câu nghi vấn đích thực trong tiếng Việt Trong luận văn này, chúng tôi xin trình bày các dạng câu hỏi nghi vấn đích thực gồm hai loại:
1 Câu hỏi lựa chọn Câu hỏi lựa chọn có thể chia làm hai tiểu loại là:
a Câu hỏi lựa chọn xác định (mang tính chất khẳng địng hoặc phủ định)
b Câu hỏi chọn lựa không chính xác
2 Câu hỏi không lựa chọn
Loại 1: Câu hỏi lựa chọn
- Câu hỏi lựa chọn xác định :
Cô ấy là sinh viên hay bác sỹ?
Loại câu này nhằm xác nhận một trong hai thông tin đã nêu trong câu hỏi
- Câu hỏi lựa chọn mang tính chất phủ định hoặc khẳng định
Kiểu câu hỏi này thường có hai vế: Một vế khẳng định và một vế phủ định sử
dụng tác tử liên kết hay Thí dụ:
Bạn anh là sinh viên hay không phải là sinh viên
Thường vế phủ định sẽ bị rút gọn lại, chỉ để từ phủ định Hai thí dụ trên có thể rút gọn lại như sau:
Bạn anh là sinh viên hay không? – là sinh viên
Hoặc kèm lời xác nhận với các tác tử có hoặc không, phải hay không phải, đúng hay không đúng… Thí dụ:
- Có phải anh đã đến đây hôm qua?
Trang 36Vâng, đúng đấy ạ.(xác nhận)
- Anh sẽ đi cùng tôi chứ?
Không, tôi bận lắm (từ chối)
- Câu hỏi lựa chọn không xác định
Đây là loại câu hỏi đưa ra hàng loạt khả năng lựa chọn khác nhau kiểu:
1 Anh ta có đi xe máy hay lái ô tô được không?
Khả năng trả lời là:
1.a Anh ta chỉ đi được xe máy thôi (không lái được ô tô)
1.b Anh ta đi được cả xe máy lẫn lái ôtô
1.c Anh ta không đi được cả xe máy lẫn lái ôtô
Loại2: Câu hỏi không lựa chọn
Đây là loại câu hỏi dùng các đại từ nghi vấn Ai, thế nào, đi đâu, bao giờ,… Thí dụ:
Ai đang lục cục gì trong bếp đấy?
Con đi đâu mà giờ mới về?
Trên bình diện thông báo, từ hỏi này trở thành tiêu điểm của câu hỏi và câu trả lời Đó là cái cần thông báo trong câu hỏi, hướng người nghe và người trả lời vào một thông báo cần thiết Trật tự từ trong câu hỏi tương ứng với từng thành phần như câu:
Ai đang đến? (ai ở vị trí chủ ngữ)
Anh đến ai bây giờ? (Ai ở vị trí bổ ngữ) Như vậy “Không nên căn cứ vào trật từ của câu hỏi mà phân loại cũng không nên nhầm lẫn những câu hỏi có thành phần câu ứng với từ hỏi riêng, còn câu hỏi chung thì từ để hỏi quan hệ đến toàn câu Như đã xác định, “cái không rõ” hãy so sánh cặp câu sau:
a Ai đi chợ nấu bữa tối nhỉ ?
Trang 37Rõ ràng ở câu (a) người trả lời buộc phải đưa ra một câu trả lời không chọn lựa như:
Tôi đi hoặc – Anh đi hoặc chỉ định một người nào đó trong gia đình như:
Em đừng lo, để con gái đi cũng được mà
Nhưng với câu (b) người trả lời đã được định sẵn một trong hai lựa chọn “Tôi hay anh ” nên người tham gia cuộc thoại có thể trả lời:
- Tôi hoặc – Anh
B- Cấu trúc và phương tiện biểu hiện nghĩa của câu nghi vấn đích thực trong tiếng Việt
Loại 1: Câu hỏi lựa chọn
Câu hỏi lựa chọn sẽ gồm hai loại
- Câu hỏi lựa chọn với hay/hay là
- Câu hỏi lựa chọn yêu cầu, câu trả lời có hoặc không như: có phải … không/phải không?/ có…khôngvvv…
* Câu hỏi lựa chọn với hay/hay là
Kiểu loại câu hỏi lựa chọn thường mở ra các khả năng lựa chọn cho câu trả lời Người trả lời có thể chọn lựa một hoăc hai (có thể hơn nữa) những thành phần đã được
đề cập đến trong câu hỏi Thí dụ:
Anh đi xem phim hay đến thăm cô ấy?
Ở đây có hai thành phần được đề cập: Đi xem phim và thăm cô ấy Người trả lời
có thể có nhiều khả năng lựa chọn như:
Tôi đi xem phim
Tôi đến thăm cô ấy
Tôi xem phim rồi đến thăm cô ấy
Tôi không đi đâu cả
Trang 38Khi sự lựa chọn nhiều hơn hai thì tác tử lựa chọn được đặt ở trước thành phần cuối như: “Các bạn sẽ đến thăm thấy Lê, cô Bích hay cô Na? Nhưng trong thực tế giao tiếp ít khi người nói đưa vào quá nhiều thành phần lựa chọn
Nói đến sự lựa chọn giữa những đối tượng khác nhau, cần phải nói đến tiêu chí thống nhất thuộc cùng bậc khái quát của nhận thức làm gốc quan sát Thí dụ:
Anh đang múa chèo hay hát chầu văn?
Cô ta yêu năm hay bảy thằng một lúc?
Trong các thí dụ này, ta thấy rõ múa chèo và hát chầu văn, năm và bảy thằng là cùng một hệ qui chiếu
* Câu hỏi lựa chọn tạo nên theo khuôn hỏi: sử dụng tác tử nghi vấn
- Những câu hỏi được cấu tạo bằng khuôn hỏi như có … không? Đã …chưa?
vv… thường là ổn định
Với những khuôn hỏi như vậy, thành tố khẳng định thường đứng trước (có/đã)
và thành tố phủ định thường đứng sau (không/chưa) Thí dụ:
Anh ấy có ở nhà không?
Chị đã ăn cơm chưa?
Yếu tố cần hỏi nằm trong khuôn hỏi thể hiện tiêu điểm nghi vấn hướng sự quan tâm của người hỏi và người trả lời vào một thông tin
Anh ấy có đi chơi không?
Anh ấy có đi xem phim không?
Điểm cần quan tâm trong các câu hỏi này là:
Anh ấy đi chơi hay không đi chơi?
Anh ấy đi xem phim hay không đi xem phim?
Hai khuôn hỏi có … không? Và đã … chưa Khác nhau rất cụ thể
Khuôn hỏi có … không cho biết tiêu điểm thông tin có thể tồn tại hay không tồn tại Người hỏi mong muốn đựơc biết rõ khả năng nào xảy ra (có hay không)
Trang 39Khuôn hỏi đã … chưa? Có thể liên quan đến thời điểm trong quá khứ (đã xảy ra), thời điểm ở hiện tại không hoặc có thể xảy ra, hoặc ở tương lai (bây giờ chưa, nhưng có thể sẽ xảy ra) Thí dụ:
Nhà đã hết gạo chưa? (tại thời điểm nói gạo còn hay đã hết)
Cô đã đến thăm anh ấy chưa? (đã đi hay còn chưa đi)
Nhà có gạo không? (có hay không có gạo)
- … phải không?/có… phải không?
Khuôn hỏi kiểu này không biểu đạt tính trung hoà như hai câu hỏi trên Đối với khuôn hỏi này nghiêng về khẳng định nhiểu hơn Thí dụ:
Mày định đi chơi về phải không? (dựa vào hiện tượng người nghe diện quần áo và đang dắt xe đi)
Người hỏi muốn xác định cái nội dung đoán định mà anh đưa ra xem đúng hay không Những biến thể có … phải không/ có phải … không.? cho thấy thành phần thông tin mang tính nhận định, và hướng đến câu trả lời củng cố niềm tin hay công nhận sự đoán định ấy là đúng
Đa số những câu hỏi kiểu này thiên về câu trả lới đúng, cho rằng nhận định của người hỏi là đúng Giữa hai bộ phận câu hỏi và thông tin có thể tồn tại một dấu phẩy (,), thậm chí có một dấu chấm (.) Thí dụ:
Ngày mai anh lại đến đón tôi, phải không Nam?
Các biến thể kiểu như thí dụ (1) thường là: Chắc/chắc là: hình như … thì phải/ hình như… phải không?
* Các tiểu từ tình thái và tổ hợp từ trong câu hỏi lựa chọn tiếng Việt
Có rất nhiều từ phụ trợ được đưa vào câu nói theo từng hoàn cảnh phát ngôn Dười đây, chúng tôi xem xét các câu hỏi lựa chọn dùng các tiểu từ tình thái và tổ hợp
từ của tiếng Việt
- Câu hỏi lựa chọn dùng tiểu từ à/hả
Trang 40Cả hai ngữ khí từ này đều đứng ở cuối câu hỏi, đều giả định thông tin trong phát ngôn đứng trước là xác định Thí dụ:
Anh phải đi thật à?
Anh phải đi thật hả?
Khi lược bỏ à/hả thì câu không còn tín hiệu hỏi, ngoại trừ có sự thay đổi về ngữ điệu và như vậy, câu bị thay đổi mục đích thông báo
- Câu hỏi lựa chọn dùng tiểu từ liệu
Liệu thường xuất hiện trong các câu hỏi, kiểu như:
Liệu tôi có thể đảm đương được chức vụ này không?
Liệu anh ấy có còn nghĩ đến tôi nữa không?
Nếu lược bỏ liệu, ý nghĩa của câu hỏi không thay đổi, những câu hỏi với từ liệu
hướng tới sự đánh giá chính xác trong câu trả lời của người nghe, và câu trả lời thường
được hạ thấp yêu cầu Liệu mang sắc thái băn khoăn, trăn trở về một điều gì đó, và mong muốn được giải toả trạng thái này, hoặc câu hỏi với liệu còn yêu cầu người nghe
trả lời theo ý kiến chủ quan của chính người nghe Thí dụ:
Theo anh, liệu ai sẽ nêu kiến nghị trước cuộc họp?
- Câu hỏi lựa chọn dùng tiểu từ Nhỉ/nhé:
Nhỉ có thể được sử dụng trong câu lựa chọn, người hỏi hướng tới một sự kiện
hay một hiện tượng đã biết từ trước thời điểm nói, cấn khôi phục hoặc củng cổ lại thông tin Người hỏi tìm lời lý giải cho sự phân vân của mình Thí dụ:
Có phải anh ấy đến không nhỉ?
Có lẽ anh đi cùng anh Bình nhỉ?
Câu hỏi này thường được dựa trên những cứ liệu đã biết, có hàm ý bày tỏ mong muốn chia sẻ cảm giác, nhận định và gợi ý để người đối thoại chấp nhận, hoặc bày tỏ
sự phân vân của chính người hỏi Thí dụ:
Món này ngon nhỉ?