Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn: Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là loại ―câu phức‖ có thành phần định ngữ là một kết cấu chủ vị C-V, loại câu mà t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Chí Hoà
HÀ NỘI – 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 0
1 Lý do chọn đề tài: 7
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn: 7
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7
4, Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 8
5 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu 10
6 Bố cục của luận văn 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Khuynh hướng tiếp cận ngữ nghĩa - chức năng - cấu trúc 12
1.1.2 Quan hệ định ngữ 14
1.1.3 Khái niệm chung về “câu phức” 16
1.1.3.1 Những điểm khác biệt giữa “câu phức” và “câu ghép” với “câu đơn” 16
1.1.3.2 Khảo sát “câu phức” theo khuynh hướng mới 18
1.2 Tình hình nghiên cứu ―câu phức‖ và ―câu phức định ngữ‖ trong tiếng Việt 21
1.2.1 Thành phần câu phức được lấp đầy bằng các cụm từ 21
1.2.2 Các quan điểm về “câu phức” trong tiếng Việt 22
1.2.3 Các quan điểm khác nhau về phân loại “câu phức” định ngữ 25
1.3 Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CÂU PHỨC THÀNH PHẦN ĐỊNH NGỮ 33
TRONG TIẾNGVIỆT 33
2.1 Dẫn nhập 33
2 2 Đặc điểm cấu trúc câu phức thành phần định ngữ trong tiếng Việt 33
2.2.1 Sự hình thành kết cấu chủ vị định ngữ trong CPTPĐN 33
2.2.2 Đặc điển của đơn vị trung tâm 35
2.2.3 Các quan hệ cú pháp và đặc điểm cú pháp 39
2.2.4 Chức năng của cụm danh từ trung tâm 44
2.2.5 Đặc trưng các phương tiện nối kết 46
2.2.6 Cụm động từ như là dạng rút ngắn của kết cấu chủ vị định ngữ 48
Trang 42.2.7 Các phương thức biểu thị ý nghĩa thời gian, địa điềm, lí do, phương thức
hành động 49
2.2.8 Các kết cấu chủ vị định ngữ tự do 52
2.2.9 Đặc trưng ngữ điệu và cú pháp của những kết cấu chủ vị định ngữ bất định (không hạn định) 53
2.3 Đặc trưng ngữ nghĩa 56
2.3.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của danh từ trung tâm 56
2.3.2 Kết cấu chủ vị ĐN được sử dụng để truyền đạt khung sở chỉ cơ bản cho trung tâm 62
2.4 Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU “CÂU PHỨC ” ĐỊNH NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ ĐƠN VỊ TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG HÁN 64
3.1 Đăc điểm của thành phần định ngữ và câu phức thành phần định ngữ trong
tiếng Hán 64
3.1.1 Định ngữ trong tiếng Hán 64
3.1.2 Các kiểu định ngữ trong tiếng Hán 64
3.1.2.1 Định ngữ hạn định 64
3.1.2.2 §Þnh ng÷ miªu t¶ 66
3.1.3 Định ngữ nhiều tầng 67
3.1.3.1 Định ngữ nhiều tầng quan hệ bình đẳng 68
3.1.3.2 §Þnh ng÷ nhiÒu tÇng quan hÖ t¨ng tiÕn 70
3.1.4 Định ngữ và trợ từ kết cấu的 75
3.1.4.1Trợ từ “的” trong các kết cấu câu 75
3.1.4.2 Các thành phần làm định ngữ trong tiếng Hán 78
3.1.5 Câu phức “định ngữ” trong tiếng Hán 82
3.2 Đối chiếu câu phức định ngữ trong tiếng Việt và đơn vị tương ứng
trong tiếng Hán 86
3.2.1 Sự giống nhau giữa câu phức định ngữ trong tiếng Việt và đơn vị tương đương trong tiếng Hán 86
3.2.1.1 Mệnh đề định ngữ giống nhau 88
3.2.1.2 Danh từ trung tâm 91
Trang 53.2.2 Sự khác nhau giữa câu phức định ngữ và đơn vị tương đương
trong tiếng Hán 92
3.2.2.1 Sự khác nhau về cấu trúc mệnh đề định ngữ 92
3.2.2 So sánh cách dùng “ mà” và “ 的 ” 96
3.3 Áp dụng những kết quả nghiên cứu vào thực tế giảng dạy và dịch thuật 98
3.3.1 Một số kiến nghị về việc dạy CPĐN 98
3.3.2 Một số kiến nghị về việc dịch CPĐN 100
3.4 Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ truyền thống
về kinh tế và văn hóa từ lâu đời Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa như hiện nay, sự hợp tác toàn diện đó được nâng lên một tầm cao mới Chính vì vậy, việc học tập tiếng Việt đối với người Trung Quốc và việc học tiếng Hán đối với người Việt là một nhu cầu cấp thiết trong quá trình trao đổi và hiểu biết lẫn nhau
Như chúng ta đã biết, tiếng Việt và tiếng Hán là hai ngôn ngữ điển hình về loại hình đơn lập Cả hai ngôn ngữ đều dùng trật tự từ làm phương thức cơ bản
để biểu hiện quan hệ ngữ pháp giữa các từ hoặc cụm từ Tiếng Hán là thứ tiếng
có nhiều người nói nhất thế giới Tiếng Hán có ảnh hưởng lâu đời, sâu sắc trong văn hóa Việt Nam nói chung, trong tiếng Việt nói riêng Hiện nay, càng ngày càng có nhiều người Việt Nam học tiếng Hán và người Trung Quốc học tiếng Việt Một trong những khó khăn của người Trung Quốc khi học tiếng Việt và người Việt khi học tiếng Hán là việc sử dụng ―câu phức‖ có thành phần định ngữ là có một kết cấu chủ vị (C-V) Việc nghiên cứu đối sánh loại câu này là một đòi hỏi cấp thiết cả về phương diện thực tiễn lẫn lý luận
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là loại ―câu phức‖ có thành phần định ngữ là một kết cấu chủ vị (C-V), loại câu mà tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980) xếp vào ―câu trung gian‖ hay ―câu đơn phức tạp hoá‖; còn Diệp Quang Ban xếp vào loại ―câu phức thành phần‖ định ngữ hay là ―câu phức có yếu tố phụ của danh từ là câu bị bao‖
Giới hạn nghiên cứu:
Chúng tôi nghiên cứu tất cả các loại câu có kết cấu chủ vị làm định ngữ cho một danh từ trung tâm nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu loại đơn
vị mà danh từ trung tâm làm chủ ngữ và bổ ngữ trong câu chính
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích
Thông qua nghiên cứu ― Câu phức định ngữ trong tiếng Việt và những hiện tương tương ứng trong tiếng Trung Quốc‖ luận văn góp phần soi sáng lý
Trang 7thuyết về câu trong ngôn ngữ học đại cương nói chung, trong tiếng Hán và tiếng Việt nói riêng
Hơn nữa, chúng tôi chọn đề tài này cho luận văn cao học với hi vọng khảo sát nghiên cứu, đối chiếu một cách khái quát và có hệ thống, lí giải mô hình hoá các kiểu cấu trúc cú pháp CPĐN với cách tiếp cận mới để giúp cho việc dạy và học dịch có hiệu quả hơn
Khảo sát tổ chức ngữ nghĩa- cú pháp ―câu phức‖ định ngữ tiếng Việt và các dấu hiệu khu biệt về chức năng tải nghĩa và hình thức của chúng, mô hình hoá CPĐN thành các kiểu cụ thể
Làm sáng tỏ sự giống và khác nhau trong việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ ở hai thứ tiếng Việt- Hán, các phương thức thể hiện cùng một ý nghĩa định ngữ và sự khác biệt về chức năng của yếu tố cùng loại thuộc cấu trúc ngôn ngữ
Khắc phục những vấn đề có liên quan đến dịch thuật, khắc phục được các lỗi không mong muốn, giúp mang lại một cơ sơ ngôn ngữ học đáng tin cậy, đưa
ra một hệ thống mô hình đối chiếu CPĐN Việt – Hán
Góp một phần ngữ liệu trong nghiên cứu loại hình, làm sáng tỏ các đặc điểm phổ quát, đồng thời giúp xác định rõ hơn những đặc điểm riêng của mỗi thứ tiếng
Nhiệm vụ
Luận văn góp phần hệ thống hóa lí luận về câu có định ngữ trong tiếng Việt và sự tương ứng của nó trong tiếng Hán Chỉ ra những đặc điểm của câu phức định ngữ trong tiếng Việt và câu phức định ngữ trong tiếng Hán Chỉ ra sự khác nhau của loại câu này trong tiếng Việt và tiếng Hán
Ngoài ra, luận văn còn khắc phục những vấn đề có liên quan đến dịch thuật, khắc lục các lỗi không mong muốn, đưa ra một hệ thống mô hình đối chiếu CPĐN Viêt- Hán
4, Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lí luận
Như chúng ta biết, việc nghiên cứu cú pháp và các kiều cấu trúc câu có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
Về lý luận, đề tài nhằm:
Trang 81 Góp phần làm rõ hơn một số vấn đề về việc phân loại ―câu phức‖, về thành phần câu, về các chức năng của những yếu tố được gọi là phương thức ngữ pháp của tiếng Việt như trật tự từ, hư từ và ngữ điệu
2 Trên cơ sở phân tích ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Hán luận văn đóng góp vào việc lý giải những nét vị đồng trong tổ chức ngữ pháp câu phức định ngữ tiếng Việt và tiếng Hán Đây là kiểu câu được dùng phổ biến nhưng chưa được khảo sát
- Đề tài này cũng nhằm xây dựng một mô hình chuyển dịch tương đương CPĐN Việt – Hán theo quan điểm ngữ nghĩa, cấu trúc và chức năng giao tiếp nhằm giúp nâng cao hiệu quả việc dạy tiếng và dịch thuật
Một trong những yêu cầu của bộ môn dịch thực hành là phải nắm vững hệ thống câu của cả hai ngôn ngữ liên quan, đặc biệt là, hệ thống CPĐN vốn luôn gây không ít khó khăn cho người dạy và người học về mặt lí giải cũng như ứng dụng
Ý nghĩa thực tiễn
Đặc biệt là trong thực tiễn giảng dạy cho người bản ngữ và phi bản ngữ Nó giúp người học nhận diện được cấu trúc cú pháp, và gắn với cấu trúc cú pháp là nội dung diễn đạt trong câu cụ thể, xác định được một cách có ý thức về:
+ Nguyên nhân đúng, sai trong câu và cách thức sửa câu sai thành đúng + Cách chuyển đổi từ kiểu câu này sang kiểu câu khác sao cho phù hợp với mục đích giao tiếp
+ Hệ thống các câu đồng dạng về mặt cấu trúc để diễn tả một nội dung ngữ nghĩa nào đó
+ Mối quan hệ có tính quy luật giữa những ý nghĩa cần diễn đạt với những hình thức câu có khả năng diễn đạt nó
Như vậy, việc dạy cú pháp là không thể thiếu trong quá trình dạy tiếng nước ngoài Đây là một quá trình có ý thức nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho người học và hoàn thiện kỹ năng thể hiện năng lực ấy của mỗi người Người học cần phải biết tại sao lại mắc phải lỗi này hay lỗi khác và cách khắc phục chúng Làm sáng tỏ được nguyên nhân của các lỗi mắc phải, đồng thời phòng ngừa chúng nhờ việc so sánh có hệ thống các ngôn ngữ không phải là cái gì khác ngoài việc thực hiện nguyên tắc có ý thức trong việc dạy - học Việc đối sánh các ngôn ngữ cũng là một phương thức để nắm vững ngôn ngữ, là sự đảm bảo có được những tri thức sâu rộng và vững chắc khi học ngoại ngữ và bản ngữ
Trang 9Khi xem xét các phương diện đối chiếu không thể không nói tới các vấn đề dịch thuật Dịch thuật ở đây được hiểu không chỉ như là một bộ môn chuyên ngành độc lập, mà còn như là một trong những phương thức dạy tiếng nước ngoài Dịch thuật còn được sử dụng để chứng minh tính đa dạng về chức năng và ngữ nghĩa của các yếu tố trong các ngôn ngữ khác nhau, phát hiện sự trùng lặp, đồng nhất, tương đương và khác biệt giữa các thứ tiếng với nhau Khảo sát, nghiên cứu hệ thống ―câu phức‖ định ngữ (CPĐN) theo cấu trúc ngữ nghĩa – cú pháp, nghĩa là, gắn câu với chức năng thông báo (giao tiếp) của nó, từ đó phát hiện ra những mối quan hệ hữu cơ giữa hình thức (cái biểu đạt) và nội dung (cái được biểu đạt) trong CPĐN với quan hệ định ngữ trong tiếng Việt cũng như các cấu trúc thể hiện tương ứng trong tiếng Hán, đồng thời xác định được những điểm giống và khác nhau của các hình thức này giữa hai thứ tiếng là mục đích của luận này
5 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này đi theo hướng miêu tả, nghĩa là tiến hành điều tra, thống kê
và phân loại các kiểu ―câu phức‖ định ngữ trong tiếng Việt rồi tìm ra đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của từng tiểu loại
Trong nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, các nhà ngôn ngữ đã cho rằng con đường tiếp cận bản chất của cú pháp hay là con đường dõi theo cú pháp từ gốc đến ngọn tức là con đường hiện thực – tư duy - ngữ nghĩa Con đường này chính là con đường ngữ nghĩa – cú pháp có quy chiếu vào hiện thực, lấy ngữ nghĩa làm điểm xuất phát, vừa làm điểm quy chiếu để lý giải quá trình cú pháp cũng như phân tích các hiện tượng cú pháp Khảo sát mặt cấu tạo và mặt chức năng của câu phức định ngữ là cách tiếp cận của luận văn này
Tuân thủ theo phương pháp nêu trên, luận văn này sẽ vận dụng lý thuyết thành phần câu sử dụng các đơn vị chức năng kết hợp với cách tiếp cận ngữ nghĩa- cấu trúc để phân tích, khảo sát hệ thống CPĐN tiếng Việt Với mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi chọn con đường đối chiếu bằng cách lập một hệ thống các thủ pháp, lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ đối chiếu, tiếng Hán làm ngôn ngữ được đối chiếu
―Các ngôn ngữ khác nhau không phải ở chỗ ngôn ngữ nào có thể diễn đạt được những ý nghĩa gì Vì bất kì ngôn ngữ nào cũng có thể diễn đạt bất kì ý nghĩa gì được các ngôn ngữ khác diễn đạt Các ngôn ngữ khác nhau ở chỗ có
Trang 10những ngôn ngữ bị bắt buộc phải diễn đạt những ý nghĩa mà các ngôn ngữ khác
có thể không diễn đạt khi khi không cần thiết‖ (Trích theo [23,380])
Ngữ nghĩa còn có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác như:
- Đặc điểm loại hình
- Chuẩn ngôn ngữ
- Chuẩn về văn hoá lời nói
Vì vậy, chúng tôi sẽ dùng các thao tác cải biến cấu trúc, có nghĩa là tác động vào một cấu trúc này để biến đổi thành một cấu trúc khác và lí giải chúng trong quá trình so sánh - đối chiếu
Vấn đề ngữ liệu dẫn chứng để tiến hành so sánh đối chiếu, chúng tôi sử dụng các ngữ liệu được trích dẫn từ các văn bản gốc và văn bản dịch tiếng Việt cũng như tiếng Hán đã được xuất bản Điều này giúp đảm bảo được tính khoa học và khách quan về đối tượng đang được nghiên cứu nó được thừa nhận và đưa vào sử dụng Tuy nhiên, vì các dịch giả trong nhiều trường hợp không dịch trên
cơ sở ngôn ngữ học mà trên cơ sở cảm thụ văn học, nên văn bản dịch, tất nhiên, đôi lúc cũng không tránh khỏi những khuyết điểm và thiếu chính xác Với đối tượng so sánh đối chiếu của luận văn này là quan hệ định ngữ trong CPĐN tiếng Việt và các phương thức biểu hiện tương ứng trong tiếng Hán, chúng tôi cố gắng
sử dụng có lựa chọn các ví dụ dẫn chứng CPĐN, quan hệ định ngữ giữa hai thành phần của chúng vẫn được đảm bảo Còn những yếu tố khác liên quan đến từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp không được chuyển dịch tương ứng từ văn bản gốc sang văn bản dịch thì không thuộc về phạm vi khảo sát của luận văn
Tư liệu và xử lí tư liệu
Luận văn tiến hành so sánh đối chiếu CPĐN Việt- Hán được trích dẫn ngẫu nhiên từ các đoạn trích trong tác phẩm: Tuyển tập truyện ngắn Lỗ Tấn (Trương Chính dịch- Nhà XB văn học)
Ngoài ra, chúng tôi còn dùng những tư liệu tiếng Việt trích ra từ những tác phẩm văn học, khoa học và báo chí
6 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo gồm ba chương:
Chương thứ nhất : Cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu đề tài
Chương thứ hai : Đặc trưng ―câu phức‖ thành phần định ngữ trong tiếng Việt Chương thứ ba : Đối chiếu ―câu phức‖ định ngữ trong tiếng Việt và đơn vị
tương ứng trong tiếng Hán
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khuynh hướng tiếp cận ngữ nghĩa - chức năng - cấu trúc
E Benveniste cho rằng ngữ nghĩa là điều kiện cơ bản mà bất kỳ một đơn vị ngôn ngữ nào cũng đều phải thoả mãn để có được địa vị ngôn ngữ học Đây là một thuật ngữ ngôn ngữ học (và có thể nói không chỉ của ngôn ngữ học) thường được dùng như một khái niệm khởi nguyên, được mọi người thừa nhận mà không cần phải định nghĩa Người ta có thể dùng một từ khác để thay thế cho từ ―ngữ nghĩa‖ đã được biết như kiểu: nói một cách khác ―ngữ nghĩa‖ là nội dung, cái được biểu đạt để đối lập với hình thức, cái biểu đạt Ngữ nghĩa của câu được giải thích không chỉ dựa vào cấu trúc chìm, mà nó còn dựa vào cấu trúc nổi nữa Điều này buộc các nhà ngôn ngữ học phải quan tâm nghiêm túc đến các quan hệ giữa ngữ nghĩa và cú pháp
Cấu trúc ngữ nghĩa có tính chất quyết định trong việc lựa chọn, xác định cấu trúc cú pháp, và cấu trúc cú pháp, đến lượt mình, giúp nhận diện được cấu trúc ngữ nghĩa của câu (góp phần về mặt giáo học pháp trong dạy tiếng nước ngoài)
Sự tồn tại của hiện tượng đồng ngữ nghĩa và dị cấu trúc, với quan điểm ngữ nghĩa là thành tố quan trọng của ngôn ngữ, L.chafe cho rằng: ―Nếu quan sát ngôn ngữ theo quan điểm ngữ nghĩa thì tính chất quy định lẫn nhau của các câu
có thể có một vai trò quan trọng hơn ở những bình diện khác của ngôn ngữ, vì hàng loạt những giới hạn trong phạm vi câu đều mang đặc tính ngữ nghĩa rõ ràng‖ [38,123] Ngữ nghĩa của một câu là một cấu trúc có nhiều tầng, được xác định bởi nhiều yếu tố, phụ thuộc vào kết quả cú pháp của câu Hay nói một cách khác, nghĩa của câu được xác định còn nhờ vào sự phân tích vị trí chức năng của các đơn vị tạo thành sơ đồ cấu trúc câu
Theo Chomsky, việc thể hiện ngữ nghĩa thuộc vể các tín hiệu qua trung gian của các quy tắc cú pháp, mà chức năng của các quy tắc đó là xác định một
hệ thống quan hệ ngữ pháp quy định sự thể hiện ngữ nghĩa Như vậy, phạm vi của cú pháp là những mối quan hệ cú đoạn giữa các từ và nhóm từ được biểu hiện bằng những phương tiện cú pháp, hình thái và ngữ âm khác nhau, hay nói một cách khác, vấn đề cấu trúc cú pháp của câu là vấn đề trung tâm của cú pháp, được hiểu là một tập hợp có trật tự các mối liên hệ cú pháp theo một cách thức
Trang 12nhất định Điểm khác biệt chủ yếu của các lý thuyết vể cấu trúc cú pháp của câu
là các đơn vị cú pháp mà chúng được sử dụng và những mối liên hệ giữa các đơn
vị đó
Theo cách tiếp cận của lý thuyết thành phần câu thì trong tổ chức của câu, bất kỳ ngôn ngữ nào- một hệ thống biểu đạt thông báo ngữ nghĩa- từ sẽ đảm nhận một chức năng nhất định và có một ý nghĩa nhất định, như V.S.Solsev đánh giá:
― Nếu như thuật ngữ thành phần câu được hiểu như một chức năng nào đó do từ thực hiện trong câu, nhờ đó mà từ có được nghĩa chức năng hoặc nghĩa thông báo nhất định, thuật ngữ đó cũng có thể là thước đo thông ước các ngôn ngữ khác hệ thống‖ [37,56 ]
Chức năng có thể được hiểu theo hai cách:
- Vai trò mà mỗi đơn vị phải đảm nhận để ngôn ngữ có thể thực hiện được
sứ mệnh ― phương tiện tư duy‖ ― phương tiện giao tiếp‖ của mình Đó có thể là các chức năng ― khu biệt ý nghĩa‖ chức năng ― mang ý nghĩa từ vựng, mang ý nghĩa ngữ pháp‖, chức năng ― mang thông báo‖…
- Vai trò mà mỗi loại đơn vị phải đảm nhận trong việc tổ chức thành những đơn vị bậc cao hơn Đó có thể là các chức năng ― có thể vận dụng độc lập‖, chức năng ― có thể làm thành phần câu‖…
Cách tiếp cận chức năng đối với việc nhìn nhận các hiện tượng ngữ pháp cho phép làm sáng tỏ các phạm trù chức năng- ngữ nghĩa, dung lượng của chúng, hình dạng, các nhân tố hạt nhân và ngoại biên trong nội bộ của mỗi phạm trù, vai trò và gánh nặng ngữ nghĩa của mỗi nhân tố trong cấu trúc của phát ngôn, phương tiện thể hiện của chúng trong những điều kiện nhất định trong quá trình giao tiếp Cách tiếp cận chức năng trong việc nghiên cứu các hiện tượng ngữ pháp của ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng trên phương diện lý thuyết khi nghiên cứu và xây dựng ngữ pháp chức năng
Có thể khẳng định chính ngữ nghĩa tạo ra quan hệ mô hình cú pháp Và chức năng của quan hệ cú pháp không có gì khác hơn là biểu đạt ngữ nghĩa Hay nói một cách khác thì mọi quan hệ trong hệ thống cú pháp đều có nguồn gốc hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp từ ngữ nghĩa Bởi vì, để xây dựng câu, điều đầu tiên người ta phải quan tâm không phải là tìm những từ có nghĩa cụ thể như ―nhân dân‖ ― học sinh‖….cái chính là người nói muốn nói gì? chức năng của mỗi từ trong câu là gi? Rồi mới đến kết luận, câu sẽ được xây dựng theo mô hình nào
Trang 13Như vậy, chức năng của từ quy định vị trí của nó trong cấu trúc Ví dụ, hai câu : ―Lưu học sinh gặp phóng viên‖ và ―phóng viên gặp lưu học sinh‖ với cùng một thành phần từ vựng như nhau, chức năng chủ ngữ câu (1) làm cho từ ―lưu học sinh‖ mang giá trị cụ thể, chức năng bổ ngữ trong câu (2) đem lại cho nó giá trị khác Cũng vậy, đối với từ ―phóng viên‖ ta thấy giá trị ngược lại, vậy ngữ nghĩa đây là ngữ nghĩa chức năng
Cách tiếp cận ngữ nghĩa- chức năng- cấu trúc giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh về hệ thống các đơn vị ngôn ngữ nói chung, và hệ thống ―câu phức‖ nói riêng
Dĩ nhiên cách tiếp cận như vậy, không những không cản trở mà còn tạo tiền đề cho việc nhìn nhận các đơn vị cú pháp từ một quan điểm khác quan điểm ngữ dụng-giao tiếp.Quan điểm ngữ dụng-giao tiếp đối với cú pháp đòi hỏi được nghiên cứu chuyên biệt, nó không thuộc phạm vi của công trình này
10 và nhiều hơn 80 âm vị
Vì vậy, các đặc điểm ngữ nghĩa vốn hiện hữu ở mọi ngôn ngữ khác nhau, các phạm trù ngữ pháp không khi nào gây sự khác biệt cơ bản giữa các ngôn ngữ
về nội dung của các tư tưởng phản ánh thực tế khách quan, và quan hệ định ngữ cũng không thể nằm ngoài quy luật chung này: chúng tồn tại ở mọi ngôn ngữ, dưới hình thức này hay hình thức khác Việc khẳng định được sự hiện diện của chúng trong cả hai ngôn ngữ Hán và Việt chính là tiền đề để chúng tôi có thể so sánh đối chiếu những hình thức biểu đạt chúng
* Quan hệ định ngữ trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, quan hệ định ngữ là một trong những quan hệ bên trong
sự khu biệt với các quan hệ bên ngoài Định ngữ mở rộng cho danh từ được các nhà nghiên cứu tiếng Việt xem xét như là một yếu tố trong quan hệ nội bộ của
Trang 14cụm danh từ, có chức năng hạn định phạm vi khái quát danh từ, nêu dấu hiệu đặc trưng của người, vật, hiện tượng… mà danh từ thể hiện Đặc điểm nổi bật của định ngữ là không thể thay đổi vị trí với danh từ chính.Theo phương thức thể hiện có thể chia định ngữ thành hai loại:
- Loại không có quan hệ từ (QHT) nghĩa là không có QHT đi kèm, Ví dụ : canh cá, nước cháo…
- Loại có QHT, Ví dụ: tình yêu của cha, sự thất vọng vì bệnh tật,…
- Loại có/không có QHT( nghĩa là có hoặc không có QHT) Ví dụ: giày (bằng) da, tình yêu (của) mẹ…
Sự hiện diện hoặc vắng mặt của QHT trong cụm từ phụ thuộc vào cấu trúc của nó (số lượng và vị trí của định ngữ, độ dài ngắn của các thành phần mở rộng
và được mở rộng)
Trong tiếng Việt, định ngữ cũng có những phương tiện thể hiện phong phú như trong tiếng Hán, tất cả các loại thực từ (cụm thực từ) đều có khả năng làm định ngữ cho các danh từ, xác định rõ đặc điểm, tính chất của người, sự vật, sự kiện,… và trả lời cho câu hỏi nào? (hoặc gì?) Ngoài ra, cũng như trong tiếng Hán, quan hệ định ngữ trong tiếng Việt cũng có thể được biểu hiện bằng cụm từ C-V Chính cụm mày làm thành đối tượng khảo sát của luận văn này
Với quan hệ định ngữ được biểu hiện bằng cụm C – V trong tiếng Việt, có các quan điểm khác nhau:
- Các tác giả của giáo trình ―Ngữ pháp tiếng Việt‖ [6] và một số nhà Việt ngữ khác phân tích quan hệ định ngữ ở cấp độ cụm danh từ với thành tố phụ C –
V trong câu đơn Quan điểm này hiện nay vẫn được coi là chiếm ưu thế trong lý luận cũng như trong thực hành của ngành Việt ngữ học
- Tác giả Hoàng Trọng Phiến phân tích quan hệ định ngữ thuộc từ theo cách mở rộng thành phần bằng kết cấu C – V; và gọi loại câu này là câu trung gian
- Trong tiếng Việt, định ngữ là cụm C –V và có thể hoặc ghép liền với danh từ Điều này phụ thuộc vào một loạt các quy tắc có liên quan đến vấn đề ngữ nghĩa - ngữ pháp và cả thói quen sử dụng
Qua những điều trình bày ở trên, có thể thấy:
Đa số các tác giả xem xét thành phần định ngữ (C- V) trong khuôn khổ cụm danh ngữ, thuộc trong cấu trúc thành phần câu Chúng tham gia mở rộng cấu trúc câu với các chức năng và quan hệ khác nhau
Trang 15* Các phương tiện nối – các từ quan hệ
Phương thức cú pháp chủ yếu liên kết các bộ phận vị tính của CPĐN và thể hiện mối quan hệ cú pháp giữa chúng là các yếu tố liên kết chuyên biệt Đó là các kết từ, từ quan hệ, ngữ điệu Chỉnh thể cấu trúc - ngữ nghĩa của CPĐN còn được xác định bởi hàng loạt các yếu tố khác như: phương tiện từ vựng, sự có mặt đầy đủ các thành phần, sự trùng hợp về tổ chức các bộ phận, trật tự phân bố chúng
1.1.3 Khái niệm chung về “câu phức”
Câu nói chung và ―câu phức‖ nói riêng là đối tượng trọng tâm của cú pháp học, là một phạm trù phức tạp và đòi hỏi phải được nghiên cứu trên nhiều bình diện Hiện nay tồn tại những quan điểm, khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu khác nhau Luận văn này tham khảo có chọn lọc những thành quả nghiên cứu về
―câu phức‖ của nhiều tác giả mà không phụ thuộc triệt để vào một quan điểm cụ thể nào
―Câu phức‖ trong tiếng Việt trải qua một chặng đường dài phát triển Trong lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, thuật ngữ ―câu phức‖ đã được hiểu theo những cách khác nhau hoặc được thay thế bằng thuật ngữ khác Việc nghiên cứu ―câu phức‖ trong ngành ngôn ngữ học ở Việt Nam cũng như ở các nước khác theo khuynh hướng của ngữ pháp phổ quát gắn với các phạm trù, các phán đoán logic
1.1.3.1 Những điểm khác biệt giữa “câu phức” và “câu ghép” với “câu đơn”
―Câu phức‖ – đó là một cấu trúc cú pháp có liên hệ chặt chẽ với câu đơn, nhưng khác biệt với câu đơn cả về cấu tạo cũng như về tính chất thông báo Vì vậy, khi định nghĩa ―câu phức‖, cần phải làm sáng tỏ được các đặc điểm khiến nó khác biệt với câu đơn
(+) Điểm khác biệt về ngữ nghĩa
Trên phương diện ngữ nghĩa, ―câu phức‖ khác biệt với câu đơn ở chỗ nó truyền đạt những kiểu quan hệ khác nhau giữa các bộ phận vị tính Ý nghĩa ngữ pháp của ―câu phức‖ thường được hiểu là các quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận của nó: tường giải, định ngữ, trạng ngữ, liệt kê, phân tách…
Câu đơn và ―câu phức‖ khác nhau cả ở ý nghĩa ngữ pháp cơ bản của mình: trong câu đơn – đó là tính vị ngữ, trong ―câu phức‖ - mối quan hệ ngữ nghĩa –
cú pháp giữa các bộ phận của nó dựa vào tác động tương hỗ các phương diện hình thái - thời gian của các bộ phận riêng biệt này
Trang 16Ý nghĩa ngữ pháp này hay ý nghĩa ngữ pháp khác vốn có không chỉ ở một câu cụ thể nào đó, mà ở tất cả các câu thuộc cùng một loại, có cùng một cấu trúc Như vậy cần thiết phải:
- Phân biệt nội dung cụ thể của câu phức và ý nghĩa ngữ pháp của nó;
- Nhìn thấy được sự chế định lẫn nhau của ý nghĩa ngữ pháp và tổ chức của
―câu phức‖
(+) Điểm khác biệt về cấu trúc
Theo nội dung và cấu trúc thì ―câu phức‖ là một đơn vị ―đa vị tính‖, nghĩa
là nó bao gồm hai hoặc một số các bộ phận vị tính Mỗi bộ phận này tương tự như một câu đơn, nhưng các bộ phận trong thành phần của ―câu phức‖ và các câu đơn khác nhau cơ bản, mặc dù trong một số trường hợp chúng có thể trùng nhau trên phương diện hình thức Các bộ phận của ―câu phức‖ không có sự kết thúc về ngữ điệu như câu đơn riêng biệt; ngoài ra trong phần lớn các trường hợp, chúng
có các yếu tố cấu trúc chuyên biệt không thể có trong cấu trúc câu đơn Việc thừa nhận ―câu phức‖ như ― sự thể hiện cú pháp trọn vẹn về một tư tưởng phức hợp duy nhất‖ dẫn đến việc làm sáng tỏ đặc trưng ngữ pháp của nó – không có sự kết hợp ngẫu nhiên các câu đơn Đối với việc xây dựng ―câu phức‖ chỉ sử dụng mô hình chung này hoặc sử dụng mô hình chung khác của câu đơn, nhưng những mô hình này đều thích ứng với mô hình chung xây dựng ―câu phức‖ và giữ nguyên
vị tính riêng biệt của mình Như vậy, về mặt cấu trúc, ―câu phức‖ khác với câu đơn trước hết là ở chỗ:
- Trong câu đơn có một trung tâm vị tính cấu thành, hoặc từ hai thành phần chính
- Trong ―câu phức‖ có hai trung tâm vị tính trở lên
- Trong câu hơn hai thành phần C-V có thể làm thành tố mở rộng câu phức, trong đó có câu phức định ngữ
(+) Điểm khác biệt về khối lượng thông báo
Trong ―câu phức‖, các bộ phận của nó có đặc trưng ở mối liên kết tương
hỗ về ngữ pháp và ngữ điệu, cũng như sự chế định qua lại về nội dung Trên bình diện giao tiếp, sự khác biệt giữa câu đơn và ―câu phức‖ dẫn đến sự khác biệt về khối lượng các thông báo được truyền tải Câu đơn không mở rộng chỉ thông báo
về một tình huống riêng lẻ
Trang 17―Câu phức‖ thông báo về một số các tình huống và các mối quan hệ giữa chúng với nhau hoặc về một tình huống và mối quan hệ của người tham gia hoặc người nói với tình huống đó
Như vậy, ―câu phức‖ trước hết phải là một đơn vị cú pháp hoàn chỉnh Đơn vị cú pháp hoàn chỉnh này là sự kết hợp có tính ngữ pháp của các câu và có chức năng thông báo từ hai tình huống trở lên và các mối quan hệ giữa các tình huống đó Nghĩa thông tin của câu phức phản ánh quan hệ phạm trù logic- ngữ nghĩa Chẳng hạn, phạm trù điều kiện, phạm trù nhân quả,phạm trù phán đoán, phạm trù lý giải
1.1.3.2 Khảo sát “câu phức” theo khuynh hướng mới
Sự tranh luận về thành phần của ―câu phức‖ phải có các câu đơn hay không?
(+) Khảo sát ―câu phức‖ theo tổ chức ngữ nghĩa
Đặc thù của tổ chức ngữ nghĩa của ―câu phức‖ là ở chỗ, về nguyên tắc, nó hướng vào việc thể hiện một tổ hợp các câu chỉ ra mối quan hệ giữa các tình huống, đồng thời, như câu đơn ở dạng tối thiểu của mình dành cho việc thể hiện một câu Các nhà ngôn ngữ học còn gọi câu đơn là câu mệnh đề còn ―câu phức‖
là câu đa mệnh đề và tính ―đơn mệnh đề‖ – ―đa mệnh đề‖ không phải là dấu hiệu khác biệt tuyệt đối của câu đơn và ―câu phức‖
Mặt khác, ―câu phức‖ ở những điều kiện nhất định có liên quan đến tổ chức hình thức và sự đầy đủ về thành phần từ vựng của nó, có thể phản ánh nội dung chỉ của một câu; Ví dụ, trong số các CPĐN có những câu mà thành phần phụ của chúng, cùng với thành tố danh từ của phần chính, được sử dụng không phải để nêu tình huống, mà để xác định đặc điểm của danh từ bằng cách chỉ ra sự tham gia của nó vào trong tình huống và người nói và người nghe đều biết rõ
Trong ―câu phức‖, thông báo được coi như là sự giải thích cho tình huống đang được tranh luận hoặc đang xảy ra trong nhận thức trực tiếp của người nói và người đối thoại Cuối cùng, nghĩa của ―câu phức‖ có thể được hình thành cả bằng cách thông qua các câu có thành phần liên hệ với cùng một tình huống
Còn các thành phần ―câu phức‖ ở phương diện ngữ nghĩa thì tương tự với câu đơn: ở dạng tối thiểu của mình ( không có thành phần mở rộng) chúng tập trung thể hiện một mệnh đề, còn nếu có các thành phần mở rộng chúng có thể hiện một nội dung nhiều mệnh đề
(+) Khảo sát ―câu phức‖ về tổ chức hình thức
Trang 18Điểm đặc biệt của ―câu phức‖ như một đơn vị cú pháp thể hiện ở tổ chức hình thức của nó ―Câu phức‖ khác biệt với câu đơn bởi tính chất của các thành tố cấu tạo nó Thành tố của câu đơn là các hình thái nhất định của từ Dấu hiệu bắt buộc của thành tố câu phức là việc chúng tương tự như câu đơn, mang phạm trù vị tính Vị tính tạo ra dấu hiệu quy định cơ bản của chúng, phù hợp với điều kiện này, các thành tố ―câu phức‖ được gọi là các đơn vị vị tính Như vậy, sự kết hợp
có tổ chức về mặt ngữ pháp một số đơn vị vị tính, câu phức đồng thời đối lập với câu đơn như một cấu trúc đa vị tính với một số câu đơn vị tính Khác với câu đơn chỉ mang theo một tổ hợp cú pháp tình thái với thời gian, câu phức mang lại một
số các tổ hợp ấy Các thành tố ―câu phức‖ (các đơn vị vị tính) được hợp nhất vào thành phần của nó theo những mô hình nào đó, mà những mô hình này, tương tự như những mô hình câu đơn, có thể được gọi là sơ đồ cấu trúc Sơ đồ gồm có các thành tố:
+ Số lượng các đơn vị vị tính được hợp nhất;
+ Thuộc tính cơ bản các đơn vị vị tính;
+ Kiểu liên kết cú pháp và phương tiện thể hiện nó;
+ Trật tự phân bố các thành tố theo mối quan hệ ngữ nghĩa
(+) Khảo sát ―câu phức‖ về chức năng giao tiếp
―Câu phức‖ cũng như câu đơn là một hiện tượng đa phương diện Các mục trước đã xét các phương diện cấu trúc và phương diện ngữ nghĩa ngữ pháp của chúng Tuy vậy ở ―câu phức‖, cũng như câu đơn, còn một phương diện nữa –
đó là phương diện chức năng giao tiếp Cách phân tích chức năng, việc xác định vai trò cấu trúc của phần phụ trong toàn bộ câu và xác định tính chất liên hệ của
nó với các thành tố khác, làm ta chú ý đến cả phương diện còn chưa được nghiên cứu đầy đủ của ―câu phức‖ Phương diện chức năng giao tiếp của câu phức được thể hiện với hai nhiệm vụ:
+ Phản ánh mục đích của cả câu
So sánh với câu đơn thì ở quan hệ này, câu phức có những khả năng lớn hơn: trong các câu phức không chỉ bắt gặp những câu cùng chức năng, mà còn cả những câu khác nhau về chức năng, nghĩa là, những câu mà trong đó các bộ phận vị tính thực hiện những chức năng khác nhau
Các phương tiện hình thái thể hiện mục đích của ―câu phức‖ cũng giống như trong câu đơn: ngữ điệu, các hình thái từ đặc biệt của động từ, trợ từ, trật tự
từ
Trang 19+ Định hướng nội dung của câu theo mối quan hệ với ngữ cảnh hoặc tình huống Trên khía cạnh giao tiếp, ―câu phức‖ hoàn toàn giống với câu đơn: nó được hình thành như một chỉnh thể giao tiếp thống nhất.Các thành phần ―câu phức‖ ở phương diện giao tiếp đối lập với câu đơn ở chổ chúng không có tính trọn vẹn về giao tiếp
Tất nhiên, các đơn vị giao tiếp là ―câu phức‖ khác biệt về chất so với các phát ngôn là câu đơn Và bản thân ―câu phức‖ trong phương diện này cũng không giống nhau Nhưng, tính trọn vẹn về giao tiếp là đặc tính của mọi ―câu phức‖ Các đơn vị giao tiếp được cấu tạo bởi ―câu phức‖ và câu đơn có nhiều điểm chung trong bố cục của mình Chúng giống nhau ở ngữ điệu Trong câu đơn
và ―câu phức‖ đều tồn tại những quy luật chung của trật tự từ: chúng phụ thuộc vào nhiệm vụ giao tiếp, nhưng trật tự từ trong thành phần ―câu phức‖ nhiều khi khác với trật tự từ trong câu đơn tương tự về tổ chức cú pháp và ngữ nghĩa Điều này là do trật tự từ tạo ra ―câu phức‖ như một chỉnh thể giao tiếp thống nhất mà kết quả của nó là sự phân bố các từ trong thành phần này đòi hỏi cũng phải có sự phân bố các từ tương ứng trong thành phần kia
Ngoài ra, trong ―câu phức‖ xuất hiện một vấn đề đặc thù thuộc về trật tự các thành phần Trật tự các thành phần trong ―câu phức‖ (tương ứng như trật tự các từ trong câu đơn) là một hiện tượng phức tạp Nhưng chức năng chủ yếu của
nó trong ―câu phức‖ với trật tự các thành phần không cố định, có liên quan đến
sự thiết lập ―câu phức‖ như một đơn vị giao tiếp: việc các thành phần được phân
bố theo cách này hay cách khác được xác định bởi tình huống của lời nói, bởi các nhiệm vụ giao tiếp và phản ánh phân đoạn thực tại câu Có hai vấn đề thuộc
về cơ chế phân đoạn thực tại trong ―câu phức‖, đó là:
- Đề và thuyết: về nguyên tắc, nguyên lý này cũng giống như trong câu đơn, mặc dù bị phức tạp hoá, ngoài trật tự từ và ngữ điệu, phương tiện phân loại
ở đây còn là trật tự của các bộ phận vị tính, nếu trật tự này cố định Với ngữ điệu trung hoà đề là bộ phận đứng trước, còn thuyết đứng sau
- Sự ngắt đoạn tạo nên bản chất của sự phân chia các vế như một hiện tượng đặc biệt thuộc về phương diện giao tiếp Và, hiện tượng này có liên quan tới sự phân đoạn thực tại câu, rộng hơn, tới khía cạnh giao tiếp lời nói Đối với sự phân chia các vế, giống như một sự bác bỏ đáng kể về chức năng, mối quan hệ tương hỗ điển hình giữa tổ chức hình thức và giao tiếp của ―câu phức‖ là có thể thực hiện được chỉ vì giữa các vế tồn tại sự tương hợp
Trang 20Như vậy, “câu phức” có thể được định nghĩa như sự hợp nhất các đơn
vị vị tính trên cơ sở của liên kết giao tiếp, được xây dựng theo mô hình cấu trúc này hay cấu trúc khác và được sử dụng với tư cách là một chỉnh thể giao tiếp thống nhất
Các thành phần ―câu phức‖ phải được coi như các cấu trúc cú pháp với tổ chức hình thức và ngữ nghĩa vốn có ở câu đơn, nhưng khi đi vào tổ chức câu phức nó không mang tính trọn vẹn về giao tiếp và được sử dụng với tư cách là các thành phần ―câu phức‖
Ngoài những điều đã đề cập trên, cần bổ sung thêm là, về phương diện tu
từ học mà nói, việc sử dụng câu đơn hay ―câu phức‖ có thể bị chi phối bởi tính chất văn bản, chuẩn mực ngữ pháp trong từng giai đoạn phát triển thể loại và chiến lược giao tiếp của mỗi nhà văn
1.2 Tình hình nghiên cứu “câu phức” và “câu phức định ngữ” trong tiếng Việt
1.2.1 Thành phần câu phức được lấp đầy bằng các cụm từ
Trong các sách ngữ pháp tiếng Việt, các tác giả có đề cập đến chức năng của cụm từ, nhất là cụm danh từ( còn gọi danh ngữ)
Cụm từ được hiểu là một tổ hợp gồm các từ có quan hệ cú pháp nhất định Ngôn ngữ học đã xác định các loại quan hệ cú pháp cơ bản: quan hệ chính phụ, quan hệ chủ- vị, quan hệ đẳng lập Quan hệ chủ vị là mối quan hệ giữa hai thành
tố phụ thuộc qua lại lẫn nhau, trong đó chức năng cú pháp của cả tổ hợp nương tựa vào nhau Quan hệ chính phụ là quan hệ phụ thuộc một chiều gồm thành tố chính và thành tố phụ, trong đó chức năng cú pháp của thành tố chính chỉ được định vị khi đặt trong tổ hợp vào trong một kết cấu lớn hơn( chẳng hạn dùng mở rộng câu phức) Quan hệ đẳng lập là quan hệ giữa các thành tố có quan hệ như nhau trong một kết cấu cú pháp nào đó
Theo cách hiểu đó, cụm danh từ thuộc vào cụm từ chính phụ Nếu xét theo quan hệ cú pháp chính phụ, cấu trúc cú pháp chung của cụm từ gồm có hai phần: phần chính và phần phụ, phần phụ lại có thể phân biệt phần phụ đứng trước phần chính hay phần phụ đứng sau phần chính Sự phân tích cấu trúc nghĩa của cụm từ đòi hỏi phân biệt chi tiết hơn chức năng nghĩa của mỗi loại yếu tố trong các phần chung ấy và việc này được thực hiện tuỳ thuộc vào từng loại cụm từ
Trang 21Cụm danh từ là một nhóm các danh từ đi chung với nhau để làm thành một cụm danh từ chung Cụm danh từ có thể bao gồm từ hai đến vài danh từ Khi mỗi danh từ đứng riêng thì mang một ý nghĩa riêng nhưng khi chúng được kết hợp với nhau sẽ mang một ý nghĩa khác; Tuy nhiên, ý nghĩa đặc trưng riêng vẫn tồn tại ở một khía cạnh đủ để làm nên ý nghĩa cho một danh từ mới
Trong cụm danh từ các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho danh từ các ý nghĩa về số và lượng Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật mà danh từ biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ây trong không gian hay thời gian
VD Tiếng Hán: 一个蓝袍子黑背心的男人
VD Tiếng Việt : Một người đàn ông mặc áo dài xanh ngoài khoác áo chẽn đen
1.2.2 Các quan điểm về “câu phức” trong tiếng Việt
Vấn đề các kiểu câu có từ hai cụm vị tính (cụm C - V ) trở lên của tiếng Việt nói chung là rất rộng và phức tạp Trong tiếng Việt hiện nay, xét về cấu trúc,
chúng tôi tạm gọi các kiểu câu không phải câu đơn là kiểu câu ngoài câu đơn vì
đang còn những quan điểm khác biệt nhau trong việc phân chia cũng như gọi tên loại này:
1 Các tác giả của ―Dẫn luận ngôn ngữ học‖ [ 12] phân biệt câu đơn và
―câu phức‖ theo dấu hiệu hình thức là các cụm C – V : câu chỉ gồm một cụm C –
V là câu đơn, còn nếu chứa hai cụm C- V trở lên – ―câu phức‖
2 Các tác giả ― Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt‖ [7] sử dụng thuật ngữ
―câu ghép‖ và xác định : ― câu ghép là câu chứa hai nhóm từ C – V trở lên, không bao hàm lẫn nhau, liên hệ với nhau bằng những quan hệ nội dung nhất định‖ Và thuộc về câu ghép chỉ là những câu có hoặc trạng ngữ của câu, hoặc đề ngữ của câu, hoặc giải ngữ của câu được mở rộng thành nhóm từ C – V Còn những câu có các thành phần khác được mở rộng thành nhóm từ C – V thì lại gọi
là câu mở rộng bằng nhóm từ C – V Các tác giả này đã triệt để theo lý thuyết cụm từ để phân tích ngữ pháp, không thừa nhận những kiểu câu như: cuốn sách
nó đọc rất hay là ―câu phức‖, vì theo cách lý giải của họ thì cụm C – V ―nó đọc‖ trong câu chỉ là thành tố phụ của một cụm từ lớn hơn ―cuốn sách mà nó đọc‖ và
cả từ tổ lớn này mới là một thành phần câu, đóng vai trò chủ ngữ
Trang 223 Tác giả của ― Ngữ pháp tiếng Việt‖ ‖ [3] sử dụng thuật ngữ nòng cốt câu như là cụm C – V làm cơ sở cho câu đơn hai thành phần để xác định câu đơn, ―câu phức‖ thành phần, câu ghép ―câu phức‖ thành phần và câu ghép đều
là những câu được hình thành từ hai cụm C- V trở lên, trong đó:
Câu chỉ có một cụm C –V là nòng cốt, các cụm C –V còn lại là phụ, là những bộ phận bị chứa đựng trong nòng cốt câu thì được gọi là ―câu phức‖ thành phần
Những câu mà mỗi cụm C- V đều tương đương với một nòng cốt câu đơn
và cùng kết hợp với nhau để làm thành một câu thì được gọi là câu ghép Trong các loại câu này, các cụm C- V tạo thành các vế của câu ghép Chúng không chứa đựng lẫn nhau
4 Tác giả ― Ngữ pháp tiếng Việt – Câu‖ [23] ngoài loại câu được gọi là câu đơn và câu ghép (có sự phức tạp hoá câu đơn ở nhiều tầng, nhiều lớp kết cấu C- V), còn phân biệt loại câu trung gian ― là kết quả khai triển cấu trúc câu đơn nhưng không còn ở bậc chưa đến câu ghép, không phải kết quả khai triển nào cũng là trung gian‖
5.Tác giả ―Nghiên cứu ngữ pháp tiếp Việt‖ [25] dùng thuật ngữ ― mệnh đề‖
để chỉ nòng cốt C- V, dựa vào số lượng mệnh đề trong một câu để chỉ xác định
và phân biệt câu có một nòng cốt với câu có nhiều nòng cốt C- V Đồng thời theo kết cấu và dụa vào lý thuyết thành phần câu, tác giả phân tích chức năng của mệnh đề trong phạm vi câu có nhiều mệnh đề để chia ra câu đơn giản và ―câu phức‖ ―Câu phức‖ hợp, theo tác giả ― phải là câu gồm từ hai kết cấu vốn dĩ là câu đơn giản (song phần hay đơn phần) có quan hệ ý nghĩa với nhau nhưng không có kết cấu nào làm thành phần của câu hay của từ tổ‖ [25, 525]
6 Các tác giả của ― Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt- tập 2- cú pháp tiếng Việt‖ [6] sử dụng thuật ngữ ―nòng cốt câu‖ như là kết cấu C-V hoặc những kết cấu cú pháp khác để phân ra thành câu có một nòng cốt C- V và câu có nhiều
nòng cốt C-V Từ nòng cốt được các tác giả ghi nhận là một khái niệm có hai
mặt: cấu trúc và ý nghĩa Về mặt cấu trúc- đó là tổ chức hạt nhân của câu, thường gồm có chủ ngữ và vị ngữ; về mặt ý nghĩa – đó là trung tâm nội dung thông báo của câu Và cả hai mặt này hết hợp chặt chẽ với nhau để tạo nên câu
Các nhà Việt ngữ học đã dựa vào quản điểm cấu trúc- ngữ nghĩa có tính đến chức năng giao tiếp để xác định loại câu ngoài câu đơn; lấy kết cấu C- V làm nền tảng xây dựng câu tiếng Việt Việc phân tích và phân loại dựa vào nòng cốt
Trang 23C- V và dựa vào hệ thống đơn vị cụm từ, có chú ý hơn đến kết cấu ngữ pháp của chúng là khuynh hướng chủ đạo trong việc nghiên cứu
Câu tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học ở giai đoạn hiện đại có những đặc điểm khác biệt so với quan điểm truyền thống trong việc nghiên cứu câu Tuy nhiên, có hai khuynh hướng lí giải khác nhau về loại câu với nhiều nòng cốt C-
Và việc sử dụng các thuật ngữ khác nhau đặt tên cho các loại câu như thế
đã phản ánh, một mặt, vấn đề về loại câu này luôn gây sự chú ý đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu và được giải quyết từ nhiều cách tiếp cận phong phú, mặt khác, vẫn còn tồn tại sự không nhất trí trong việc xác định các tiêu chí phân loại câu, sự thiếu nhất quán trong việc xử lí các hiện tượng ngôn ngữ…Tất cả những điều này gây không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu cũng như người học, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn
―Câu phức‖ trong luận văn này được hiểu là ― câu được thoả mãn định nghĩa về câu (được làm thành từ một vị tố cùng với những yếu tố quây quần chung quanh nó và diễn đạt một sự thể); tuy nhiên trong nó, hoặc bản thân vị tố hoặc chủ ngữ, gia ngữ, (hoặc yếu tố cấu thành nào đó khác) lại có hình thức của một câu Câu đảm nhận chức năng vị tố hay yếu tố nào đó bên trong một câu, tự
nó không có đủ tư cách của một câu tự lập, nó vốn là một câu nhưng bị giáng cấp…làm một bộ phận một câu chứa nó, nói cách khác, nó là câu bị bao bên trong câu chứa nó Quan hệ giữa câu bị bao và với phần có liên quan với nó là quan hệ cú pháp- ngữ nghĩa bên trong một câu, chứ không phải quan hệ giữa hai câu Trong ―câu phức‖ chỉ có câu ―nằm ngoài cùng‖ mang tính tự lập về cấu tạo ngữ pháp và về nghĩa, các câu còn lại bên trong bị giáng cấp, tức là bị loại ra khỏi cấp câu, không mang tính tự lập nữa, chúng là những câu bị bao, giữ chức năng cú pháp của một bộ phận trong câu chứa chúng‖
[4, 289-290]
Tóm lại, ―câu phức‖ và câu ghép ở các ngôn ngữ khác nhau dù được hình thành bằng con đường nào thì cũng là: ghép những câu đơn lại, hay phát triển (mở rộng) các thành phần câu đơn đều nhằm phục vụ cho nhu cầu giao tiếp ―Câu
Trang 24phức‖, câu ghép không phải là một sự kết hợp máy móc hai hay một số câu đơn Đây là sự thống nhất ngữ nghĩa - cấu trúc phức tạp làm công cụ giao tiếp, được hình thành phù hợp với một nhiệm vụ giao tiếp nhất định Vì vậy, đương nhiên trong ―câu phức‖, câu ghép không đơn thuần chỉ có sự lặp lại các quan hệ cùng tồn tại trong cụm từ, trong câu đơn và trong ―câu phức‖ tạp hoá Trong ―câu phức‖, các quan hệ này được tái hiện ở một cấp độ mới, trong những điều kiện khác Sự phức tạp hoá về cấu trúc phát triển theo hình xoắn ốc
Giữ nguyên thuật ngữ ― ―câu phức‖, chúng tôi muốn chỉ ra rằng đối với các nhà nghiên cứu – đó là một khối cú pháp thống nhất, nhất định, cũng như câu đơn, nó là một đơn vị giao tiếp ngôn ngữ, nhưng ở cấp độ cao hơn và đồng thời giữa chúng có sự khác biệt trên các phương diện ngữ nghĩa, cấu trúc và chức năng giao tiếp
1.2.3 Các quan điểm khác nhau về phân loại “câu phức” định ngữ
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng phần định ngữ là một mệnh đề là bộ phận của một cụm danh từ
Mệnh đề định ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu thông thường trong 30 năm nay, tuy nhiên theo quan điểm của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp thì '' Hiện nay trong phần lớn các sách ngữ pháp tiếng Việt, định ngữ hiểu theo nghĩa như vậy không được xem là thành phần câu mà chỉ là thành phần của từ tổ danh từ.'' [27,253]
Mối quan hệ giữa ĐN với danh từ là điều đã được nhiều tác giả khẳng định Tuy nhiên, những điều chúng tôi trình bày trong chương này sẽ cho thấy bức tranh phong phú của loại đơn vị này Việc nghiên cứu nó; theo đó, cũng cần thiết như một đòi hỏi khách quan dù rằng chúng ta có xếp đơn vị này vào
vị trí nào trong hệ thống phân loại câu của chúng ta
Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn phần cuối của danh ngữ có thể có 2 loại định tố có tổ chức hoàn toàn khác nhau:
- Loại định tố chỉ gồm một từ, từ này có thể dùng riêng lẻ hay dùng có
Trang 25Tác giả đã khẳng định các đặc trưng cấu tạo của loại đơn vị này ― Khi
dùng mệnh đề làm định tố chúng ta thấy rằng: ― về mặt cấu tạo cũng có những nét giống như khi dùng danh từ làm định tố.‖ [5, 242]
+ Quan điểm thứ hai: Câu có bộ phận định ngữ là một cụm chủ vị là câu
ghép:
"Về mặt ngữ pháp câu ghép được hiểu là kết quả sự mở rộng cấu tạo của câu đơn vị bằng cụm từ chủ vị Chính vì vậy ―Một số người theo truyền thống cũ cho rằng một câu hễ cứ có hai kết cấu chủ vị trở nên thì đó là câu ghép, vô luận một quan hệ giữa các cụm chủ-vị này như thế nào đối với nhau.‖ Trong khi đó một số người khác chỉ chấp nhận là câu ghép khi trong câu đó có chứa những kết cấu chủ vị không bao hàm lẫn nhau (kết cấu chủ vị này không làm thành bộ phận của kết cấu chủ vị lớn hơn mặc dầu sự không bao hàm này cũng chỉ là tương đối và có tính chất qui ước)
+ Quan điểm thứ ba coi câu có một kết cấu chủ vị làm định ngữ cho danh từ trung tâm là câu đơn phức tạp hoá hay câu phức thành phần
Tiêu biểu cho quan điểm này là của tác giả Hoàng Trọng Phiến Theo Ông CPĐN như được miêu tả là loại câu trung gian, nó được khai triển từ cấu trúc câu đơn nhưng không còn ở bậc câu đơn, mà cũng chưa đến bậc câu ghép
Có những câu bề ngoài giống như câu ghép, nhưng thực chất là câu do kết quả phức tạp hoá câu đơn mà thành Có thể quy các câu như vậy thuộc các hiện tượng trung gian và gọi chúng là câu trung gian
CPĐN được xem như câu có thành phần ứng với một câu con Hiện tượng này giống như cách mở rộng thành phần câu bằng kết cấu chủ - vị Nghĩa là, dùng câu thay chủ ngữ, thay vị ngữ, thay bổ ngữ, thay trạng ngữ
Các câu con (hay là các kết cấu chủ vị) khi được dùng để mở rộng thành phần câu, thành phần đoản ngữ, chúng vẫn giữ được đặc điểm của câu
về mặt cấu trúc Điều này khác với kết cấu chủ - vị trong câu móc xích Chúng bị những hạn chế nhất định khi ở trong các thành phần khác nhau của câu và có vị trí không đổi cùng với các chức năng của nó đối với các thành phần chính
Trang 26Căn cứ vào mối quan hệ chức năng của kết cấu chủ - vị với thành phần được mở rộng và khả năng hình thành bằng phương tiện ngữ pháp, Hoàng Trọng Phiến chia thành hai nhóm :
- Nhóm thứ nhất, gồm chủ ngữ và vị ngữ mở rộng Đặc điểm đặc trưng của nó là bộ phận mở rộng đồng thời là thành phần chính của câu có quan hệ
với toàn câu và chúng không thêm được các từ mà, là, rằng, thì…
VD: Việt Nam hoàn toàn giải phóng đã thức tỉnh nhiều người
Sông Thương nước chảy đôi dòng
Vị ngữ mở rộng bằng C- V đồng thời cũng là vị ngữ của cả câu, mặc dù
bộ phận mở rộng có khả năng dùng như một câu Có thể thay vị ngữ bằng vị ngữ giản đơn
-Nhóm thứ hai, gồm các thành phần thứ yếu mở rộng bằng kết cấu chủ
- vị Đó là bổ ngữ mở rộng và định ngữ mở rộng
Kết cấu C- V có thể làm định ngữ cho một từ trong nhóm chủ ngữ và trong bổ ngữ của một câu Ví dụ
+ Người tôi gặp hôm qua là một nhà văn
+ Họ nhắc lại lời của đồng chí bí thư chi bộ đảng đầu tiên đã trối lại…
+ Nhiều nơi Pháp tới đóng quân cũng xảy ra những cuộc va chạm
Các định ngữ có kết cấu chủ - vị này làm yếu tố thuyết minh cho từ chính của đoản ngữ và làm yếu tố thuyết minh cho từ chính của đoản ngữ và làm cho câu có thông tin cụ thể
Các kết cấu chủ - vị trong loại mô hình này luôn luôn ở sau và có quan
hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với từ mà nó thuyết minh
Sự hiện diện từ ―mà‖ có ý nghĩa nhất định trong cấu trúc của loại câu
có định ngữ mở rộng Tác giả đã phân biệt 4 trường hợp:
1 Trực tiếp không có ―mà‖, ví dụ:
- Bác nhắc lại những điều chúng ta cần học thuộc
2 Trực tiếp có ―mà‖, ví dụ:
Trang 27- Người muốn đem lại cho các gia đình niềm hạnh phúc mà họ không chờ đợi
- Tới Hà Nội, gặp chúng tôi, cụ Huỳnh tỏ ý lo lắng về cái mà cụ gọi là tình hình “đảng tranh” “hiện thời”
3 Gián tiếp mà không có mà, ví dụ
- Nhà nước chỉ xuất hiện nơi nào vào lúc nào xã hội đã phân chia thành giai cấp
Trong trường hợp này ―mà‖ có thể tuỳ tiện Sự hiện diện mà ở đây với nghĩa nhấn mạnh hơn là làm từ nối
4 Gián tiếp có mà, ví dụ
- Cụ muốn biết nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mà cụ đã nghe tiếng từ lâu
là người như thế nào”
- “Và ngay từ phút đầu, cụ Huỳnh đã thấy ở nhà cách mạng lừng danh mà từ lâu mình khao khát được gặp, một người rất thân thiết”
- Chúng ta nghiên cứu những vấn đề chính trị mà chúng ta rất quan tâm
Sự có mặt của yếu tố ―mà‖ là tất yếu, vì giữa từ được định ngữ và kết cấu định ngữ tách ra bởi một định ngữ giản đơn kiểu: nào, gì, lừng danh, Nguyễn Ái Quốc, chính trị
Chính yếu tố mà làm nét khu biệt giữa định ngữ là một kết cấu chủ vị với định ngữ giản đơn
Ví dụ so sánh:
Cần phải nghiên cứu vấn đề đó
Cần phải nghiên cứu vấn đề mà mọi người quan tâm
Theo Hoàng Trọng Phiến: Trong tiếng Việt còn có loại câu về hình thức cũng có ―mà‖ nhưng không phải cùng loại với loại vừa miêu tả, cho nên cần phải phân biệt So sánh:
a, Điều mà chúng ta chú trọng đến nhất là chuẩn bị, bình tĩnh, giữ vững tinh thần” (H.C.M)
b, “ Cuộc đàm phán sẽ tạo những điều kiện chính trị mà chúng ta phải biết lợi dụng để đạt tới mục đích Việt nam hoàn toàn độc lập ( H.C.M)
Trang 28c, “ Tôi ngạc nhiên là nước Pháp có một đội quân viễn chinh dẹp đường kia mà những vị trí chỉ huy thì chỉ thích điều đình không muốn đánh.(V.N.G)
d, “ Nhưng khổ thay, một phù hiệu tự vệ của ông cậu đồng hành với tôi vẫn chình ình trên mũi thuyền mà anh không biết” (V.N.G)
e, Phát hiện vấn đề là một việc mà cách giải quyết vấn đề lại là một vấn
đề khác
Các ví dụ a,b là mô hình câu định ngữ có ―mà‖, chúng có thể rút về dạng định ngữ đơn giản:
a,” Điều quan trọng là chuẩn bị…
b,” Cuộc đàm phán sẽ tạo những điều kiện chính trị ( tốt) để đạt…
Như vậy, quan hệ giữa các yếu tố chính với kết cấu chủ- vị như một phương tiện phức tạp hoá là quan hệ thuyết minh tường thuật Kết cấu chủ - vị không có ngữ điệu kết thúc và nhờ đó nó khác các câu độc lập khác Do đó, các câu mở rộng như vậy chiếm vị trí trung gian giữa câu đơn và câu ghép
Tác giả Hoàng Trọng Phiến chia ra nhiều mô hình mở rộng như trên cốt
là để dễ dàng nhận diện câu trung gian, chứ thực chất là chỉ có danh từ trong nhóm chủ ngữ và trong bổ ngữ là có khả năng mở rộng hơn cả Từ đó, chúng
ta thấy rằng, chủ ngữ và vị ngữ là các thành phần trung tâm của câu, còn bổ ngữ, định ngữ là các thành phần biên Các thành phần biên này có tác động mạnh đến độ dài và ý nghĩa của câu Và các thành phần này cũng đưa vào cho câu tính phức tạp, tính đa dạng
Trong những câu được phức tạp hoá thì có câu có bộ phận lý giải bằng kết cấu chủ - vị bề ngoài giống như câu ghép nhưng thực chất là gần câu đơn hơn Chứng cớ là, nếu chúng ta dùng vài thao tác rút gọn câu thì chúng là những câu đơn Nghĩa là, từ câu giải thích cải biên thành câu rút gọn một từ.Cả hai đều dùng biểu đạt một ý nghĩa Đó là tính tương ứng cấu trúc của các câu trung gian Nguyễn Chí Hoà (2004) cũng dùng thuật ngữ ―câu đơn phức tạp hoá‖ để chỉ loại câu đang xét
Diệp Quang Ban trong trong Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông (1989) đã đưa ra
5 ví dụ dưới đây:
Trang 29(1) Cách mạng tháng tám thành công đem lại tự do cho dân tộc
Phần câu đƣợc nhấn mạnh là một kết cấu chủ vị phụ làm chủ ngữ trong một kết cấu chủ vị lớn hơn là toàn câu ấy Có thể minh hoạ bằng lƣợc đồ sau đây (C=chủ ngữ, V=vị ngữ, D =danh từ, Đ=động từ):
(2) Xe này máy hỏng rồi
Phần câu nhấn mạnh là kết cấu chủ vị làm vị ngữ cho câu, nó cũng bị bao hàm trong kết cấu chủ vị lớn hơn là toàn câu này
(phụ)
Chủ ngữ Vị ngữ
(3) Lão sợ nó vấy bẩn (Nó-con trâu)
Phần câu đƣợc nhấn mạnh là cụm chủ - vị phụ bổ ngữ cho động từ sợ Lƣợc đồ:
(phụ)
Chủ ngữ Vị ngữ
(4) Vấn đề anh ấy nêu ra vẫn chƣa giải quyết đƣợc
Phần câu đƣợc nhấn mạnh là kết cấu chủ vị làm định ngữ cho danh từ vấn đề
Trang 30(5) Khoa sư phạm rất khó khăn phức tạp, vì mục tiêu của nó là đào luyện con
Kiểu 1: Bản thân chủ ngữ hay vị ngữ là một cụm chủ vị (ví dụ 1,2)
Kiểu 2: Bổ ngữ, định ngữ với tư cách là thành phần thứ yếu của câu phụ thuộc vào thành phần khác (vị từ, danh từ) là cụm chủ ngữ (các ví dụ [3,4])
― Những người theo quan điểm truyền thống cũ cho rằng cả năm câu ví dụ trên, thuộc cả ba kiểu mở rộng, đều là câu ghép Những người theo quan điểm thứ hai chỉ coi câu 5 thuộc kiểu 3, là câu ghép, còn đều là câu có thành phần được mở rộng bằng cụm chủ vị Quan điểm thứ hai này có cơ sở là tính chất chất đặc biệt của cái mà chúng ta quen gọi là thành phần trạng ngữ của câu-tính chất đặc biệt của thứ thành phần này đã được nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới quan tâm Diệp Quang Ban đi theo quan điểm thứ hai [3,217-219]
Về phương diện thuật ngữ, Diệp Quang Ban 2000, gọi loại câu đang xét là ― Câu phức thành phần‖ Ông đã đưa ra các đơn vị dưới đây:
- Cách mạng tháng tám thành công đem lại độc lập, tự do cho dân tộc
- Ông ấy tóc bạc rồi
- Lão Hạc sợ nó vấy bẩn
- Vấn đề do anh ấy nêu ra vẫn chưa giải quyết được
Và viết "nên được gọi là câu phức thành phần" [3,111] Tác giả này đã định nghĩa ― Câu phức thành phần là câu được làm thành từ hai kết cấu chủ vị trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu chủ vị là nòng cốt câu (Các kết cấu chủ vị còn lại là những bộ phận bị bao chứa bên trong nòng cốt câu) (SDD tr 112)
Từ quan điểm khác biệt giữa “câu phức” với “câu ghép”, Diệp Quang Ban
cho rằng: ―Chỗ khác nhau rất căn bản giữa ―câu phức‖ và câu ghép (hợp thể câu)
là ở kiểu quan hệ giữa các ―câu‖ bên trong chúng Về mặt ngữ pháp, sự khác biệt này được diễn tả bằng các thuật ngữ bị bao nhau và không bị bao (hay nằm ngoài
Trang 31nhau) của các câu có mặt bên trong mỗi cấu tạo như thế Trong ―câu phức‖ chỉ có câu nằm ngoài cùng mang tính tự lập về cấu tạo ngữ pháp và về nghĩa, (các) câu còn lại ―bị giáng cấp, tức là bị loại ra khỏi câu, không mang tính tự lập nữa, chúng là những câu bị bao, giữ chức năng một bộ phận trong câu chứa chúng Câu bị bao không thể tách thành câu riêng, nếu không được tổ chức lại Trong câu ghép mỗi vế câu là một dạng câu có tính độc lập tương đối và do đó có thể dễ
dàng tách thành câu riêng‖ [4,290-291] Tác giả này dùng các thuật ngữ “câu
phức” với 5 loại chủ yếu dưới đây:
1 ―câu phức‖ có chủ ngữ là câu bị bao
2 ―câu phức‖ có vị tố là câu bị bao
3 ―câu phức‖ có bổ ngữ là câu bị bao
4 ―câu phức‖ có gia ngữ bậc câu là câu bị bao
5 ―câu phức‖ có yếu tố phụ của danh từ là câu bị bao
+ Kết cấu chủ vị bị bao chứa bên trong nòng cốt câu
Theo đó, những đơn vị thoả mãn những điều kiện trên, đồng thời làm thành phần định ngữ cho một danh từ trung tâm ( rộng hơn là một thể từ) sẽ được coi là câu phức định ngữ
có tác dụng hạn định phạm vi khái quát của thể từ, và làm thành phần của từ tổ
Ở bất cứ thành phần nào trong câu, ở bất kỳ thành phần nào của từ tổ, ở đâu có thể từ thì ở đó có ở đó có khả năng có định ngữ‖ [27, 484 ]
Trang 32CHƯƠNG 2:
ĐẶC ĐIỂM CÂU PHỨC THÀNH PHẦN ĐỊNH NGỮ
TRONG TIẾNGVIỆT 2.1 Dẫn nhập
Thông thường, kết cấu chủ vị định ngữ là đơn vị phụ được lồng vào câu,
nó là đơn vị làm rõ nghĩa cho danh từ, nó nằm bên trong một cụm danh từ Về phương diện chức năng, trong phần lớn các trường hợp nó là một bộ phận của danh từ giữ chức năng định ngữ và có sự đồng nhất biểu vật với danh từ trung
tâm
Kiểu thông thường nhất của KCCV được lồng đặt dưới một đường nét ngữ điệu của cụm danh từ nguyên vẹn Tuy nhiên, có những kiểu định ngữ khác nhau Có kiểu định ngữ được lồng; và có những kiểu định ngữ không được lồng
và sử dụng đường nét ngữ điệu riêng của nó
Trong chương này chúng tôi sẽ khảo cứu các vấn đề:
- Đặc điểm cấu trúc của kết cấu chủ vị làm định ngữ
- Chức năng ngữ nghĩa của kết cấu chủ vị làm định ngữ trong câu phức định ngữ
2 2 Đặc điểm cấu trúc câu phức thành phần định ngữ trong tiếng Việt
2.2.1 Sự hình thành kết cấu chủ vị định ngữ trong CPTPĐN
Sự hình thành kết cấu chủ vị định ngữ
Các cụm danh từ được dùng để chỉ những sự vật khác nhau mà người ta
muốn nói đến như: trứng luộc, xăng, niềm hy vọng về một nền hòa bình lâu
dài của thủ tướng Việt Nam Các thực thể mà cụm danh từ quy chiếu được
gọi là các sở chỉ (referent) Đôi khi, một cụm danh từ không có sở chỉ Cụm
danh từ Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1945 có sở chỉ là Hồ Chí Minh Tuy nhiên, cụm danh từ Chủ tịch Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam năm 2050 không có sở chỉ
Phép quy chiếu rất quan trọng Người nói cần phải đề cập đến những con người, sự vật, khái niệm, quá trình và tất cả các loại thực thể, và các cụm danh
từ hiện thực chức năng đó
Xét các ví dụ dưới đây:
Trang 33(1) Có một điều rất kỳ lạ là những con người man rợ này lại biết vẽ tranh.
(TGCG。
Trong câu (1) đại từ chỉ định này chỉ ra rằng danh từ ―người‖ đã được xác
định một cách rõ ràng nhờ những câu trước và những hiểu biết trước về "những con người này" Thông tin chung đã được xẻ chia giữa người nói và nguời nghe Như vậy, đại từ chỉ định đã chỉ ra cụ thể "những con người này " là những con người nào Như vậy, con đường để đặc trưng hoá các cá thể đối tượng được thể hiện bằng những từ chỉ định Ngoài ra, còn có thể dẫn quan hệ từ sở hữu "của" được xem như là một phương thức để làm rõ thêm cho ― danh từ trung tâm‖:
(2) Đồng hồ của chúng ta chắc chắn chạy nhanh rồi
Hoặc xác định cho danh từ trung tâm còn có thể sử dụng tính từ :
(3) Anh ta đã dọn đến nhà mới
Định ngữ cho danh từ trung tâm khá phong phú Định ngữ (modifier) có thể có cấu tạo phức tạp kiểu:
(4) Anh ta đã mang cho tôi vài trái anh đào chín
(5) Anh ta đã đưa cho tôi vài trái anh đào bị nhiễm độc
Định ngữ về mặt ngữ nghĩa nêu ra đặc trưng của danh từ trung tâm Chúng ta tiếp tục xem xét câu:
(6) Lan Anh bị ô tô đâm
Nếu người nói muốn chỉ ra được một cái xe ô tô cụ thể nào đã đâm vào Lan Anh thì họ có thể tạo ra một thông báo cụ thể về cái xe đó (cái xe ô tô của ai đó,
cái ô tô cũ) Hoặc có thể nói một cái gì đó khác về đặc trưng của cái ô tô đó
Tương tự như vậy, có thể dẫn ra ví dụ:
(7) Cái chai( mà nó) vừa lăn xuống lối đi là một cái chai rỗng
Cách tạo câu có định ngữ là một kết cấu C-V có thể thực hiện bằng cách nối kết hai câu, chẳng hạn như muốn nối kết câu trong ví dụ (8) với câu trong trong
(10) Người điên điều khiển chiếc xe đó
Nối kết câu (10) với câu (6), ta có câu (11)
Trang 34(11) Lan Anh bị đâm bởi một chiếc ô tô mà người điều khiển là một người điên
Trong các câu (9), (11), chúng ta đang giới hạn một lớp các xe bằng những phương tiện của cấu trúc được hiểu là một ―câu con‖ hay ―cú bào thai‖ làm định ngữ (―Câu con‖ là thuật ngữ của Hoàng Trọng Phiến;―cú bào thai‖ là thuật ngữ của Lưu Vân Lăng)
―Câu con‖ hay ―cú bào thai‖ là một bộ phận được phức tạp hoá của danh
từ Chính vì vậy mà giáo sư Hoàng Trọng Phiến xếp câu có định ngữ là một kết cấu chủ vị vào loại ―câu đơn phức tạp hoá‖
Dưới đây là một vài ví dụ được lấy ra từ các ấn phẩm để minh chứng cho những nhận xét trên:
(12)
(a) Toàn bộ quyền lực thuộc về nghị viện, nơi các ghế được dành cho những
nhà lãnh đạo do dân lựa chọn (TGCG 137)
(b) Lịch sử phải kể được cho ta về những niềm vui và nỗi buồn của họ, về những
khó khăn mà họ gặp phải và cách họ vượt qua (TGCG 181)
Những nhận thức này là rất quan trọng để ứng dụng nó vào thực tế Trong giảng dạy tiếng Việt hay tiếng Trung như một ngoại ngữ, người ta thường đưa ra những bài tập kết hợp hai câu thành một câu Loại câu có ―câu con‖ là loại có thể áp dụng, kiểu như:
(13)
(a) Người đàn ông đang tức giận Người đàn ông đó đã đánh tôi hôm qua
(b) Người đàn ông mà ông ta đã đánh tôi hôm qua đang tức giận
(c) Người đàn ông/đã đánh tôi hôm qua đang tức giận
Tuy nhiên, cũng có thể lựa chọn các đơn vị khác làm định ngữ chẳng hạn như có thể tổ chức câu như (14)
(14)
Người đàn ông mà ông ta đang tức giận đã đánh tôi hôm qua
正在生气的那个男人昨天打过我。
2.2.2 Đặc điển của đơn vị trung tâm
(Trả lời câu hỏi: Có mấy loại trung tâm và chúng có những đặc trưng gì?)
Nguyễn Chí Hoà (2004) trong "Ngữ pháp tiếng Việt thực hành" đã chia ra
các loại trung tâm dưới đây:
a - Danh từ trung tâm có sở chỉ xác định
Trang 35(15)
Cô Quyền cái cô mà tháng mười sẽ đi lấy chồng (ấy)- viết thư gửi cho
anh, chửi anh một chập về tội gặp mẹ mà không gọi.(Tvcr222)
Loại đơn vị này có mô hình
b- Trung tâm có sở chỉ không xác định
(16) Cô Quyền, một người cùng quê nào đó, viết thư chửi cho anh ấy một trận
Loại đơn vị này có mô hình
c- Trung tâm không sở chỉ và đồng sở chỉ hạn chế
(17)
(a) Bất kì cái gì (mà) bà ấy bán bà ấy cũng phải đưa tiền cho tôi
(b) Bất kì cái gì (mà) anh đào được anh đều phải bỏ vào đây
(c) Bất kì ai (mà) cưới cô ta cũng phải trả một giá đắt
Những phát ngôn như chúng ta thấy ở trên không phải là phát ngôn đặc biệt Trong những phát ngôn này thành tố trung tâm không có sở chỉ Mặt khác, những KCCV bổ nghĩa cho những trung tâm như thế luôn luôn mang nội dung phi hiện thực; có nghĩa là, tại thời điểm nói nó chỉ là những giả thuyết Những bối cảnh được phản ánh trong mệnh đề ĐN là những giả thuyết không tương ứng với hiện thực Điều này có thể chứng minh thêm bằng ví dụ (18) sau đây:
(18)
(a)- Nó nói rằng bất kì ai cưới cô ta cũng phải bước qua xác nó
(b) - Nó nói rằng bất kì ai cưới em gaí nó cũng sẽ hạnh phúc
Loại đơn vị này có mô hình
BẤT KỲ AI/NGUỜI NÀO/CÁI GÌ v CŨNG/ ĐỀU V
Thực chất những phát ngôn này đều có tính chất giả thuyết, nó có thể là lời đe doạ nhưng cũng có thể là một lời tiên đoán, điều có thể sẽ xảy ra trong tương lai Chúng ta hãy xem xét những ví dụ trong (19) sau đây :
(19)
(a)- Người /(mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi
(b)- Kẻ/ (mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi
Trang 36(c)- Đứa/ (mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi
(d)- Thằng/( mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi
(e) - Con /(mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một con tồi.
Loại đơn vị này có mô hình:
NGƯỜI/KẺ /ĐỨA/ THẰNG/CON MÀ [c-v] (THÌ)V
Những danh từ đơn vị (loại từ) kiểu trên đây cũng tham gia trong tư cách trung tâm Đặc trưng ngữ âm của những loại cấu trúc này đòi hỏi phải được ngưng tại những điểm có dấu ngưng trước ―mà‖
Bên cạnh biến thể này còn có những biến thể như ví dụ (20) dưới đây Những biến thể này có danh từ chỉ đơn vị (loại từ) được kết hợp với những đại từ
kiểu gì , nào tạo thành một trung tâm rỗng :
(20)
a, Người nào /(mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi.
b , Người nào/ (mà nó) nói điều này với anh (nó) là một thằng tồi
c , Kẻ nào/(mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi
d, Đứa nào/ (mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi.
e, Thằng nào/( mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một thằng tồi
f, Con nào/(mà nó) đã nói điều này với anh thì (nó) là một con tồi
g, Cái gì /mà anh đã đào được thì anh bỏ cả vào đây
Loại đơn vị này có mô hình
KẺ / ĐỨA / THẰNG / CON / CÁI NÀO / GÌ MÀ [c-v] THÌ V
Những loại từ kiểu kẻ nào, đứa nào trên đây cũng tham gia trong tư
cách trung tâm ngữ pháp
Những cụm danh từ (thể từ) trung tâm vừa miêu tả là những cụm danh từ điển hình Chúng có thể được sử dụng như danh từ không có sở chỉ Chúng ta trở
lại một trong những ví dụ trên: -Người nào / (mà nó) đã nói điều này với anh thì
(nó) là một thằng tồi Phát ngôn loại này là đơn vị phản ánh một hiện thực, nghĩa
là: Có một người đã nói với anh một nội dung như tôi và anh đều biết Như thế ở đây có thể suy ra rằng phát ngôn này có mối liên hệ với những nội dung đi trước
Có một điều gì đó đã được nói ra trước phát ngôn này
d - Trung tâm nửa xác định
Trang 37(21)
Kẻ nào (mà) ăn cắp ví của tôi và đã vứt nó vào trong đống rác
Một ngưòi nào đó (mà ) đã ăn cắp ví của tôi rồi vứt nó ở đống rác
(b) Cái gì (mà) cô ta đưa cho anh thì anh phải trả cái đó cho cô ta
Những gì (mà) cô ta đưa cho anh thì anh phải trả cái đó cho cô ta
(c) Nơi nào anh ta đến nhất thiết phải là những nơi đẹp
Nơi nào (mà) anh ta đến nhất thiết phải là những nơi đẹp
Trong câu (a) người nói khẳng định một hiện thực rằng “một người nào đó”
đã ăn cắp ví của tôi Trong ví dụ (b) phát ngôn có chứa một hàm ý “cô ta đã đưa cho anh một cái gì đó;‖ câu (c) có hàm ý rằng ―anh ta đã đi đến một nơi nào đó‖
Cấu trúc ĐN đôi khi phản ánh sự tình kiểu ví dụ (22):
(22)
(a) Ai (mà) làm xong bài tập sớm nhất sẽ được thưởng
(b) Cái gì (mà) cô ta đưa cho anh, xin anh đừng nhận
(c) Khi nào (mà) chúng tôi nói chuyện với nhau là chúng tôi cãi nhau
(d) Nơi nào (mà) Bác đi đến thì tiếng vỗ tay lại rộ lên
Trong ví dụ (a) người nói không biết ai là người sẽ làm xong bài tập đầu tiên; trong ví dụ (b), người nói không biết ―cô ấy‖ đã đưa cho người nghe cái gì Trong ví dụ (c) người nói không đề cập đến thời gian cụ thể; trong ví dụ (d) người nói không nói đến địa điểm cụ thể
Loại đơn vị này có mô hình
AI/ CÁI GÌ / NƠI NÀO / ĐÂU MÀ [C-V] THÌ V
c) Trung nhìn vào phía góc nhà, góc mà bóng tối đã tràn tới, ở đó hình như có
mấy người ốm, đang nằm trùm chăn (Tvcr218)
Trang 38d) Anh ấn nhẹ cái thứ hai trên chiếc máy thu thanh Gian nhà bỗng vang lên một
giọng nữ cao, người con gái -cái cô gái mà những người lính ngoài mặt trận
thường hình dung cô là một người thanh mảnh, dễ thương - đang hát bài ―Đường cày đảm đang‖ (Tvcr219)
Về hình thức, chúng ta thấy xuất hiện hai trung tâm.Về ngữ nghĩa hai trung tâm này đều mang ý nghĩa như là phần đề của phát ngôn Hiện tượng có hai trung tâm
sẽ được gọi là trung tâm đúp
(c) Một người lính đeo súng đang trèo lên cây đa đầu ngã ba đường
Thực ra sự lược bỏ này như một chiến lược tổ chức câu Chính vì vậy mà
Nguyễn Tài Cẩn đã viết: ―đứng về mặt quan hệ ý nghĩa với trung tâm thì
mệnh đề định tố lại có những nét tương ứng với trường hợp động từ làm
định tố Ở đây cũng có thể chia làm ba kiểu:
+ Kiểu mệnh đề định tố nói lên một sự vật của chú thể ở trung tâm So sánh
Cái bác thợ mộc đang vác cưa cầm đục, => Cái bác thợ mộc vai đang vác cưa
tay đang cầm đục,
+ Kiểu mệnh đề định tố nêu lên một sự việc không phải do sự vật nói ở trung tâm làm So sánh:
Trang 39Ngày ra đi =>Ngày (mà chúng ta ra đi)
Bức thư viết hôm nọ => Bức thư (của) tôi viết hôm nọ
+Kiểu mệnh đề- định tố nêu lên một sự vật dùng để giải thích thêm cái nội dung của điều nói ở trung tâm:
Việc xung phong đi bộ đội =>Việc nó xung phong đi bộ đôi
[5,242]
Tuy nhiên, việc lược bỏ cũng có những điều kiện nhất định và trong
những loại câu phức nhất định
* Chiến lược lược bỏ các yếu tố trong kết cấu chủ vị định ngữ
trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt do chỗ không có biến đổi hình thái nên việc căn cứ vào
sự biến đổi của các đại từ quan hệ để hồi phục yếu tố bị tỉnh lược không
được đặt ra So sánh:
(26)
a ,Những người mà họ thuộc cùng một dân tộc lẽ dĩ nhiên là dễ tìm được
một tiếng nói chung hơn
b , Những người thuộc cùng một dân tộc lẽ dĩ nhiên là dễ tìm được một
tiếng nói chung hơn
Như vậy, không cần sử dụng đến hình thức cách của các đại từ quan hệ
nhưng chúng ta hoàn toàn có thể lược bỏ được chủ ngữ của mệnh đề định
ngữ Điều này chứng tỏ rằng khả năng tỉnh lược trong trường hợp này
không phụ thuộc hoàn toàn vào hình thái Tuy nhiên, chúng ta không thể
tỉnh lược:
(27)
(a)-Những người mà tôi thuộc cùng một dân tộc với họ thì lẽ dĩ nhiên là
dễ tìm được một tiếng nói chung hơn
Câu lược bỏ dưới đây làm cho ý nghĩa bị thay đổi:
b-* Những người thuộc cùng một dân tộc với họ thì lẽ dĩ nhiên là dễ tìm
được một tiếng nói chung hơn
Trong ví dụ (27), chúng ta không có khả năng tỉnh lược chủ ngữ trong kết
cấu chủ vị định ngữ Như vậy, muốn tỉnh lược chủ ngữ thì điều kiện đầu
tiên phải có sự đồng nhất giữa danh từ trung tâm và danh từ chủ ngữ kết
cấu chủ vị định ngữ
Trang 40Về mặt vị trí, chỉ có thể tỉnh lược khi mà danh từ chủ ngữ KCCVĐN
đi sát với danh từ trung tâm:
(28)
(a)- Những người mà họ thuộc cùng một dân tộc lẽ dĩ nhiên là dễ tìm
được một tiếng nói chung hơn
(b) Những người /họ thuộc cùng một dân tộc lẽ dĩ nhiên là dễ tìm được
một tiếng nói chung hơn
(c) Những người thuộc cùng một dân tộc lẽ dĩ nhiên là dễ tìm được
một tiếng nói chung hơn.(TGCG 21)
Một trong những chức năng của KCCVĐN là nối kết những đơn vị chỉ phẩm chất của cùng một đối tượng vào một câu Chính vì lẽ đó mà việc lược bớt các chủ ngữ là một điều tất yếu Chẳng hạn, ta có những câu sau đây:
a'')- Tất cả những chuyện đó đều không lọt khỏi mắt Trung, một người
mà gặp gì cũng mở sổ con ra ghi tuốt
Nếu câu này được nối kết bằng những KCCVĐN thì ta sẽ có câu:
a''') - Tất cả những chuyện đó đều không lọt khỏi mắt Trung, người giữ chức vụ tiểu đội phó trinh sát, một tay tinh tường, một người mà gặp gì cũng mở sổ con
phó trinh sát, một tay tinh tường, gặp gì cũng mở sổ con ra ghi tuốt