1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt

191 508 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi nước Nga, thế kỷ XX chứng kiến những thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội và những tiến bộ vượt bậc trong khoa học, công nghệ, kèm theo đó là những cuộc bùng nổ thuật ngữ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN THỊ CÚC

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ LÂM NGHIỆP TIẾNG

ANH (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN THỊ CÚC

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ LÂM NGHIỆP TIẾNG

ANH (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60220240

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG ANH THI

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình từ các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân trong gia đình Trước hết, tôi muốn bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Anh Thi, người đã tận tình chỉ bảo, gợi mở, hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia

Hà Nội đã tạo những điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin được cảm ơn những góp ý chân tình cũng như những tài liệu hữu ích mà bạn bè và đồng nghiệp đã giúp tôi sưu tầm để luận văn được hoàn tất theo đúng dự định Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, đặc biệt là bố chồng, chồng và các con tôi, đã ủng hộ cả về tinh thần cũng như vật chất để tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Phan Thị Cúc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả được đưa ra trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Phan Thị Cúc

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 7

1 1 Lý do chọn đề tài……… 7

2 2 Mục đích nghiên cứu……… 9

3 3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu……… 9

4 4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu……… 10

5 Bố cục của luận văn……… 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẬT NGỮ VÀ THUẬT NGỮ LÂM NGHIỆP……… 12

1.1 Khái niệm về thuật ngữ……… 12

1.1.1 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới……… 13

1.1.2 Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt……… 16

1.1.3 Phân biệt thuật ngữ và danh pháp……… 19

1.1.4 Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ……… 22

1.1.4.1 Tính khoa học……… 24

1.1.4.2 Tính quốc tế……… 27

1.1.4.3 Tính đại chúng……… 29

1.1.4.4 Tính dân tộc……… 29

1.1.4.5 Tính ngắn gọn……… 31

1.1.4.6 Yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ……… 31

1.2 Khái niệm về ngành lâm nghiệp và thuật ngữ lâm nghiệp……… 34

TIỂU KẾT……… 37

CHƯƠNG 2: CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ LÂM NGHIỆP TIẾNG ANH……… 38

2.1 Các quan niệm về đơn vị cấu tạo từ, thuật ngữ……… 38

2.1.1 Đơn vị cấu tạo từ theo ngữ pháp truyền thống……… 38

Trang 6

2.1.2 Hình vị tiếng Anh theo bình diện ngữ pháp……… 40

2.2 Phân loại thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh theo đặc điểm cấu tạo từ……… 42

2.2.1 Nhóm thuật ngữ thổ nhưỡng……… 45

2.2.1.1 Thuật ngữ thổ nhưỡng là từ đơn……… 45

2.2.1.2 Thuật ngữ thổ nhưỡng là từ phức……… 45

2.2.2 Nhóm thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản…… 50

2.2.2.1 Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là từ đơn………… 50

2.2.2.2 Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là từ phức………… 51

2.2.3 Nhóm thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh……… 55

2.2.3.1 Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ đơn……… 55

2.2.3.2 Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ phức……… 55

2.2.4 Nhóm thuật ngữ cây rừng……… 59

2.2.4.1 Thuật ngữ cây rừng là từ đơn……… 59

2.2.4.2 Thuật ngữ cây rừng là từ phức……… 60

TIỂU KẾT……… 66

CHƯƠNG 3: NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ LÂM NGHIỆP TIẾNG ANH VÀ CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ LÂM NGHIỆP ANH – VIỆT……… 67

3.1 Một số vấn đề về định danh……… 67

3.1.1 Khái niệm định danh……… 67

3.1.2 Đơn vị định danh……… 68

3.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh……… 68

3.3 Việc chuyển dịch thuật ngữ lâm nghiệp Anh – Việt………

3.3.1 Vài nét so sánh thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh với tiếng Việt và việc chuyển dịch Anh - Việt………

3.3.1.1 Sự tương đồng………

70

71

71

Trang 7

3.3.1.2 Sự khác biệt……… 72

3.3.2 Một số lý thuyết về vấn đề dịch thuật………

3.3.3 Một số ứng dụng trong việc chuyển dịch thuật ngữ lâm nghiệp

từ tiếng Anh sang tiếng Việt………

73

78

TIỂU KẾT……… 86 KẾT LUẬN……… 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 91- 96 PHỤ LỤC 1……… 1- 45 PHỤ LỤC 2……… 46 - 91

Trang 8

Danh mục các bảng đƣợc khảo sát trong luận văn

Luận văn có hai loại bảng, 11 bảng nằm ở phần chính văn là các bảng số liệu tổng kết số, được đánh số theo chương Phần phụ lục có 33 bảng liệt kê đầy

đủ thuật ngữ lâm nghiệp của bốn lĩnh vực, được đánh số từ 1 cho đến hết Cụ thể như sau:

Các bảng ở phần chính văn:

Bảng 2.1: Tổng kết nhóm thuật ngữ thổ nhưỡng……… 49

Bảng 2.2: Tổng kết nhóm thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản… 54

Bảng 2.3: Tổng kết nhóm thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh……… 58

Bảng 2.4: Tổng kết nhóm thuật ngữ cây rừng……… 62

Bảng 2.5: Thống kê các loại thuật ngữ đã được khảo sát……… 63

Bảng 3.1: Tổng hợp những nét tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh và tiếng Việt……… 73

Bảng 3.2: Tổng hợp những thuật ngữ lâm nghiệp được chuyển đổi từ Anh sang Việt theo cách giải thích……… 78

Bảng 3.3: Tổng hợp những thuật ngữ lâm nghiệp có hai hoặc ba thuật ngữ tiếng Anh chỉ dịch một thuật ngữ Việt (ở nhóm thổ nhưỡng)……… 80

Bảng 3.4: Tổng hợp những thuật ngữ lâm nghiệp có hai hoặc ba thuật ngữ tiếng Anh chỉ dịch một thuật ngữ Việt (ở nhóm khai thác và vận chuyển lâm sản)……… 83

Bảng 3.5: Tổng hợp những thuật ngữ lâm nghiệp có hai hoặc ba thuật ngữ tiếng Anh chỉ dịch một thuật ngữ Việt (ở nhóm kỹ thuật lâm sinh) 84

Bảng 3.6: Tổng hợp những thuật ngữ lâm nghiệp có hai hoặc ba thuật ngữ tiếng Anh chỉ dịch một thuật ngữ Việt (ở nhóm cây rừng) 85

Trang 9

Các bảng ở phần Phụ lục 1:

Bảng 1: Thuật ngữ thổ nhưỡng là từ đơn danh từ trong tiếng Anh………… 1 Bảng 2: Thuật ngữ thổ nhưỡng là từ ghép trong tiếng Anh……… 1 Bảng 3: Thuật ngữ thổ nhưỡng là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ + danh

Bảng 9: Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ 3 ngữ tố:

Bảng 10: Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ nhiều

Bảng 11: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ đơn danh từ trong tiếng Anh… 10 Bảng 12: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ đơn động từ trong tiếng Anh… 10 Bảng 13: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ ghép……… 11 Bảng 14: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ +

Trang 10

Bảng 17: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là cụm danh từ 3 ngữ tố

danh + danh động + danh………

Bảng 18: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là cụm danh từ nhiều hơn 3 ngữ tố…

17 17 Bảng 19: Thuật ngữ cây rừng là từ đơn danh từ trong tiếng Anh………… 17

Bảng 20: Thuật ngữ cây rừng là từ đơn tính từ trong tiếng Anh……… 20

Bảng 21: Tổng hợp các thuật ngữ cây rừng chứa tiền tố……… 21

Bảng 22: Tổng hợp các thuật ngữ cây rừng chứa hậu tố……… 23

Bảng 23: Thuật ngữ cây rừng là từ ghép……… 25

Bảng 24: Thuật ngữ cây rừng là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ + danh từ 33

Bảng 25: Thuật ngữ cây rừng là cụm danh từ 2 ngữ tố: tính từ + danh từ 37

Bảng 26: Thuật ngữ cây rừng là cụm danh từ 3 ngữ tố: tính + danh + danh…… 37

Bảng 27: Thuật ngữ cây rừng là cụm danh từ 3 ngữ tố: danh + danh + danh… 38 Bảng 28: Thuật ngữ cây rừng là cụm danh từ 3 ngữ tố: danh + giới + danh …… 38

Bảng 29: Công thức 1: Sản phẩm + tính chất……… 39

Bảng 30: Công thức 2: Hoạt động + phương thức……… 41

Bảng 31: Công thức 3: Thiết bị + công dụng……… 43

Bảng 32: Công thức 4: Vị trí + chức năng……… 44

Bảng 33: Công thức 5: Sản phẩm + danh pháp……… 45

`

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Toàn cầu hóa đang là một xu thế phát triển tất yếu khách quan của xã hội Việt Nam đang trên con đường đổi mới và hội nhập gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật Ngành lâm nghiệp Việt Nam cũng là một ngành kinh

tế kỹ thuật có tiềm năng to lớn và ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Lâm nghiệp chính là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt Nói đến lâm nghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội.Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống, đồi núi trọc, là đối tượng của sản xuất lâm nghiệp Lãnh thổ Việt Nam 3/4 là đất dốc

và cao nguyên, 1/4 còn lại là đồng bằng Như vậy, ngành lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều dân tộc ít người, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn Nghề rừng nếu được phát triển tốt, không những tạo ra các sản phẩm lâm sản hàng hóa và dịch vụ đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường như phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa khí hậu , góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đặc biệt đối với bảo vệ biên giới hải đảo, góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo cho người dân nông thôn và miền núi.Trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng có ghi: “Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là

bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh

tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân Hai

Trang 12

quá trình này phát triển ngày càng cao và dần dần hình thành ngành lâm nghiệp Ngành lâm nghiệp ra đời ngày càng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Như vậy lâm nghiệp ra đời xuất phát

từ nhu cầu thực tiễn của xã hội đối với rừng và vai trò của xã hội đối với rừng thông qua chức năng quản lý, gìn giữ và phát triển rừng

Nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước mà kinh tế, văn hoá, khoa học nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Khoa học kỹ thuật phát triển, giao lưu hợp tác của các ngành nghề đa dạng khác nhau Điều này đòi hỏi các cơ quan, các ngành phải đầu tư cho việc nghiên cứu về thuật ngữ

Đối với mọi ngôn ngữ, vay mượn từ vựng là hiện tượng phổ biến, thuật ngữ càng vay mượn nhiều Trong việc vay mượn thuật ngữ, có thể thấy thuật ngữ từ tiếng Anh được vay mượn nhiều nhất, không chỉ trong tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác cũng thế Tại Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ và thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh như thuật ngữ thương mại, thuật ngữ du lịch, thuật ngữ xăng dầu…

Tuy nhiên, thuật ngữ lâm nghiệp vẫn chưa được chuẩn hóa đảm bảo được tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế Điều này đặt ra nhu cầu bức thiết là phải nghiên cứu thuật ngữ lâm nghiệp để góp phần toàn diện hóa việc nghiên cứu thuật ngữ nói chung Hơn nữa thuật ngữ ngành lâm nghiệp ra đời

sẽ đáp ứng yêu cầu phát triển ngành lâm nghiệp ở nước ta bằng việc sẽ cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản và phương pháp tiếp cận về thuật ngữ ngành lâm nghiệp đồng thời sinh viên học ngành lâm nghiệp cũng sẽ có được những kiến thức kỹ năng, thái độ để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn sau này

Hiện nay ở Việt Nam cũng chưa có công trình khoa học nào chuyên nghiên cứu thuật ngữ lâm nghiệp một cách đầy đủ Vì vậy tiến hành khảo sát thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt) là điều cần thiết

Trang 13

Nhằm góp phần cho các nhà nghiên cứu, các nhà chuyên môn, cũng như những người quan tâm có thêm một tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi sẽ khảo sát thuật ngữ lâm nghiệp với hy vọng sẽ mang lại sự phát triển hơn nữa của ngành lâm nghiệp đồng thời sẽ cung cấp thêm tư liệu rất ít

ỏi ở lĩnh vực lâm nghiệp này

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu của luận văn là khảo sát thuật ngữ lâm nghiệp trong tiếng Anh, có liên hệ với tiếng Việt để làm sáng tỏ những đặc trưng của thuật ngữ trong mỗi ngôn ngữ Luận văn sẽ góp phần phục vụ việc biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên trường Đại học Lâm nghi ệp

và các trường có môn học liên quan đến ngành lâm nghi ệp Mục tiêu xa hơn nữa sẽ có thể làm được cuốn sổ từ điển thuật ngữ chuyên ngành lâm nghiệp phục vụ sinh viên và những người quan tâm

3 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thuật ngữ lâm nghiệp trong tiếng Anh, và có so sánh với thuật ngữ lâm nghiệp trong tiếng Việt Đó là những thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực lâm nghiệp

Lâm nghiệp là một lĩnh vực rộng lớn và có quan hệ với nhiều ngành khác Do thời gian và khuôn khổ hạn hẹp của một luận văn thạc sĩ chưa cho phép thực hiện toàn bộ thuật ngữ của ngành lâm nghiệp, chúng tôi tạm thời

chỉ khảo sát bốn lĩnh vực trong ngành lâm nghiệp là: thổ nhưỡng, khai thác và

vận chuyển lâm sản, kỹ thuật lâm sinh, và cây rừng Bốn lĩnh vực này cũng là

phạm vi nghiên cứu của chúng tôi

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những quan điểm lý luận cơ bản trong việc nghiên cứu

Trang 14

thuật ngữ và thuật ngữ lâm nghiệp của các nhà nghiên cứu thế giới và các nhà nghiên cứu Việt Nam Qua đó luận văn sẽ xác định được cơ sở lý luận cho luận văn

- Khảo sát đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh Xác định các loại mô hình kết hợp và đặc điểm định danh của các thành tố để tạo thành thuật ngữ lâm nghiệp ở tiếng Anh Trên cơ sở đó tìm ra

sự khác biệt và tương đồng của hai ngôn ngữ

- Khảo sát các kiểu dịch tương đương và không tương đương thuật ngữ lâm nghiệp Anh - Việt

4 PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn của mình chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu: thống kê, phân tích cấu trúc và phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ khảo sát, từ đó xác định các đặc điểm của thuật ngữ lâm nghiệp Anh - Việt Chúng tôi cũng tiến hành so sánh đối chiếu các thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh với thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Việt để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh và tiếng Việt

Tư liệu nghiên cứu

Tư liệu nghiên cứu của luận văn gồm 1148 thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh từ những nguồn tài liệu sau:

1 Nguyễn Văn Tú (1992), English for forestry students, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội

2 Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Phòng, Phan Khôi, Đặng Công Toại

(2002), Từ điển Anh - Việt bằng hình theo chủ đề (The pictorial English –

Vietnamese Dictionary, Nxb Văn Hóa Thông tin

3 Cung Kim Tiến (2005), Từ điển Nông, Lâm, Ngư Nghiệp Anh - Việt,

Nxb Từ điển Bách khoa

Trang 15

4 Jacques Derridas, 3rd edition (2009), The Oxford dictionary of literary

terms, publisher: Oxford university Press USA

5 M.H.Abrams Geoffrey Galt Harpham (2011), A glossary of literary

terms, publisher: Wadsworth publishing, 10th edition

Tuy nhiên, do ngành lâm nghiệp là một ngành có phạm vi hoạt động rộng lớn, có liên quan tới nhiều ngành khác nên trong luận văn này, chúng tôi chỉ lựa chọn khảo sát 1148 thuật ngữ của ngành lâm nghiệp trên cơ sở đối chiếu

và lọc ra những thuật ngữ cùng xuất hiện trong tất cả từ điển trên

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được trình bày ở 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thuật ngữ và thuật ngữ lâm nghiệp

Chương 2: Cấu tạo của thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh

Chương 3: Nghĩa của thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh và chuyển dịch thuật ngữ Anh - Việt

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẬT NGỮ VÀ THUẬT NGỮ

LÂM NGHIỆP

1.1 Khái niệm về thuật ngữ

Cho đến nay vẫn không có một định nghĩa chung về khái niệm thuật ngữ được mọi người thừa nhận Tuy nhiên, có thể hiểu nôm na, thuật ngữ là những từ ngữ biểu thị những khái niệm về khoa học, công nghệ Về nguyên tắc trong mỗi lĩnh vực khoa học nhất định có một hệ thống thuật ngữ nhất định, mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm và ngược lại, mỗi khái niệm

chỉ được biểu thị bằng một thuật ngữ “Cũng có ý kiến cho rằng thuật ngữ

không chỉ là từ hay kết hợp từ của ngôn ngữ tự nhiên, trong một số trường hợp thuật ngữ có thể là ký hiệu phi ngôn ngữ, như một yếu tố của hệ thống tín hiệu chuyên biệt” [22, tr.18] Về nguyên tắc thì như vậy, nhưng thực tế chứng

minh rằng có thể có những thuật ngữ không xác định khái niệm nói chung, đặc biệt ở các lĩnh vực chuyên môn đang trong quá trình hình thành hoặc

đang được cải tổ Theo Hà Quang Năng thì ba đỉnh của tam giác “ Thuật ngữ

- Khái niệm - Định nghĩa” không phải lúc nào cũng nằm trong quan hệ “một đối một”: một thuật ngữ - một khái niệm - một định nghĩa, mà tồn tại trong mối quan hệ tương đối độc lập và khá linh hoạt” [22, tr.20] Như vậy, khái

niệm thuật ngữ cũng như đặc trưng của chúng vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất Tuy nhiên, có một điểm chung là, trong mọi lĩnh vực hoạt động nói chung, trong lĩnh vực lâm nghiệp nói riêng, con người đều phải dùng đến từ ngữ để biểu đạt các khái niệm ngành, nghề, chuyên môn…Những từ ngữ đó người ta gọi là thuật ngữ Sau đây là những quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam

Trang 17

1.1.1 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới

Thuật ngữ ra đời vốn rất sớm ở Châu Âu và châu Mỹ, bởi đó là nơi có nền khoa học kỹ thuật phát triển rất sớm trên thế giới Đó cũng là mảnh đất lý tưởng để những thuật ngữ khoa học ra đời Thuật ngữ có từ rất lâu nhưng mãi đến thế kỷ XX người ta mới chính thức nghiên cứu về nó như một ngành khoa học Nghiên cứu đầu tiên về thuật ngữ phải nói đến các nhà ngôn ngữ Anh, Đức, Mỹ, và đặc biệt, không thể không nói tới những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Xô Viết Khi nghiên cứu về thuật ngữ, họ đã đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng khái niệm và tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học Trong luận văn này chúng tôi xin đưa ra một số định nghĩa về thuật ngữ được coi là tiêu biểu trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu thuật ngữ

Trong phạm vi nước Nga, thế kỷ XX chứng kiến những thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội và những tiến bộ vượt bậc trong khoa học, công nghệ, kèm theo đó là những cuộc bùng nổ thuật ngữ.Trước hết, chúng tôi muốn trích dẫn một định nghĩa trong cuốn “Đại Bách khoa toàn thư Xô -

Viết”: “Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái

niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi chuyên ngành Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hoá, hạn định hoá

về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng cho phạm vi chuyên môn đó”

A X Gerd, nhà ngôn ngữ học Xô Viết đã nêu tương đối đầy đủ về khái niệm thuật ngữ, theo định nghĩa ông đưa ra ông nhấn mạnh vào đặc điểm cơ bản của thuật ngữ Những thuật ngữ dù ở trong lĩnh vực nào cũng là đơn vị từ vựng ngữ nghĩa của một hệ thống ngôn ngữ, chúng mang đầy đủ đặc trưng của ngôn

ngữ là tính hệ thống và tính đơn nghĩa Theo ông: “Thuật ngữ là một đơn vị từ

vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa Thuật ngữ không có

Trang 18

tính đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc lĩnh vực tri thức cụ thể” Golovin đã đưa ra 6 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ mỗi định

nghĩa khác nhau về cách nhìn: “Thuật ngữ xác định khái niệm” hay “thuật

ngữ xác định và biểu hiện khái niệm” [dẫn theo 22, tr.15] V.M Leitchik quan

niệm thuật ngữ là một phức thể đa tầng, gồm tầng nền ngôn ngữ tự nhiên và tầng thượng thuộc về logic Thuật ngữ có cấu tạo: trên - tầng thượng (superstratum) và dưới – tầng nền (substratum), bao bọc hạt nhân thuật ngữ ở giữa, gồm cấu trúc hình thức, cấu trúc chức năng và cấu trúc khái niệm

chuyên ngành [22, tr.15] Còn G.O.Vinokur cho rằng: “Thuật ngữ không phải

là từ đặc biệt, mà chỉ là từ với chức năng đặc biệt, và bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ” [22, tr.18] Cũng có một số ý

kiến cho rằng thuật ngữ không chỉ là từ hay kết hợp từ của ngôn ngữ tự nhiên,

bởi vì đôi khi thuật ngữ có thể là ký hiệu phi ngôn ngữ, như một yếu tố của hệ thống tín hiệu chuyên biệt Các tác giả cũng cho rằng phẩm chất là thuật ngữ được tự nó biểu hiện và có tính chất mức độ, xác định bằng thang bậc : có tín hiệu mang tính thuật ngữ nhiều hơn, có tín hiệu mang tính thuật ngữ ít hơn

[22, tr.18] Chính vì vậy, V.M Leitchik đã kết luận rằng:“Thuật ngữ là một

sản phẩm kết hợp đa tầng, gồm tầng nền ngôn ngữ tự nhiên và tầng thượng thuộc về logic” [dẫn theo 22, tr.19]

Ngoài những nghiên cứu của các nhà thuật ngữ học Nga Xô Viết, còn

có khá nhiều nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới Mỗi nhà nghiên cứu đưa

ra một định nghĩa riêng về thuật ngữ, nhưng có thể thấy rằng tất cả các nhà ngôn ngữ học đều nghiên cứu và phân tích dựa trên chức năng, đặc điểm để định nghĩa thuật ngữ khoa học, như trong các quan điểm sau đây:

 Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Anh

Theo định nghĩa của Jacques Derridas trong cuốn “The Oxford

dictionary of literary terms thì “Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ dùng để

Trang 19

diễn tả một vật cụ thể, thường được dùng để mô tả chuyên môn hoặc trong kỹ thuật”,và “Thuật ngữ là tên gọi cho một sự vật gì đó hoặc mô tả nó với một cụm từ đặc biệt”

{(Term is a word or an expression used in relation to a particular subject, often to describe something official or technical) [55, tr 68], and (Term is to give something a name or to describe it with a particular expression) [55, tr 90]}

Còn theo James, N.D.G, trong cuốn “A history of English forestry” thì

“Thuật ngữ là một từ đặc biệt dùng để diễn tả nghĩa của một sự vật gì đó Theo

như từ điển này thì thuật ngữ được định nghĩa là trạng thái của sự vật như là nó

có, hơn là người ta đặt tên cho nó”, và “Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ

là tên gọi cho một sự vật gì đó, đặc biệt có quan hệ với ngành chuyên môn hoặc được sử dụng trong tiếng lóng”

{(Term is to say what the meaning of something, especially a word, is in this dictionary “term” is defined as the state of things as they are, rather than as they are imagined to be) [56, tr.79] and (term is a word or phrase used as the name of something, especially one connected with a particular subject or used

in a particular type of language) [58, tr.9]}

Cũng tương tự các định nghĩa trên, Francis Katamba cho rằng:“Thuật

ngữ là một từ hoặc từ ghép được sử dụng trong một ngữ cảnh đặc biệt”

(Term is a word or compound word used in a specific context) [57, tr.72]

Như vậy, các định nghĩa thuật ngữ trong tiếng Anh đều đề cập tới mặt cấu tạo (là từ đơn hay từ phức) và mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ là tên gọi sự vật, khái niệm trong các ngành khoa học

Xem xét các quan niệm về thuật ngữ, có thể thấy, có nhiều quan điểm

và định nghĩa khác nhau của các tác giả trong nước cũng như ngoài nước về

Trang 20

thuật ngữ Cho đến nay các học giả nước ngoài vẫn chưa có một định nghĩa chung về thuật ngữ

Sau đây chúng tôi sẽ nêu một số quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt

1.1.2 Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt

Việc nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu chưa lâu (vào giữa thế kỷ XX) Tuy nhiên, cũng đã có rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra khái niệm về thuật ngữ Người mở đầu cho việc đưa ra một khái niệm cho thuật ngữ ở Việt Nam là Hoàng Xuân Hãn Trong cuốn “Danh từ khoa học” của ông, xuất bản 1942, ông đã định nghĩa thuật ngữ như sau:

“Thuật ngữ hay danh từ khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác

định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” Từ

đó có rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế, Lưu Văn Lăng, Như Ý, Nguyễn Thiện Giáp, NguyễnVăn Khang…và gần đây là Hà Quang Năng

Trong cuốn “Khái luận ngôn ngữ học” Nguyễn Văn Tu đã định nghĩa:“Thuật

ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật… và có một ý nghĩa đặc biệt biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [40, tr.176] Và đến năm 1968,

ông cũng đưa ra nhận định tiếp theo: “Thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ cố

định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất

và ngành văn hoá nào đó…Đặc điểm của thuật ngữ là những từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế tuỳ từng ngành” [41, tr.114]

Trong “Giáo trình từ vựng học tiếng Việt” – tái bản năm 1998, Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra quan điểm rõ ràng, súc tích về những đặc trưng của

thuật ngữ, ông viết: “Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ

Trang 21

Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [8,

tr.270]

Đỗ Hữu Châu thì nhấn mạnh đặc điểm của thuật ngữ không chỉ biểu thị khoa học mà còn chỉ tên sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định trong

cuốn “Giáo trình tiếng Việt, tập 2”: “Thuật ngữ là những từ chuyên môn được

sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành

kỹ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hoá học, toán học, thương mại, ngoại giao… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định” [3, tr.167] Định nghĩa đề cập tới đặc điểm chức năng của

thuật ngữ như một từ vựng được đưa ra bởi Hoàng Văn Hành:“Thuật ngữ là

những từ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [12, tr.26]

Cũng tương tự như nhận xét trên, Lưu Văn Lăng, Nguyễn Như Ý cũng

đã định nghĩa về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ

vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, kỹ thuật chính trị, tức là những lĩnh vực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ” [16, tr.144] Có thể nói quan

niệm về thuật ngữ của các nhà khoa học Việt Nam cơ bản thống nhất với quan niệm về thuật ngữ của các nhà khoa học trên thế giới Điều đó thể hiện tính tất yếu trong thời đại hiện nay - thời đại toàn cầu hoá, tính quốc tế trong ngôn ngữ không thể thiếu được

Sau này các nhà nghiên cứu như Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang và Vương Toàn đã nhấn mạnh tính chính xác của thuật ngữ:

“Thuật ngữ là một từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác khái niệm của một

chuyên môn nào đó Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó

Trang 22

chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ”

Như vậy, có thể thấy rằng quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam, cơ bản là khá thống nhất với nhau ở điểm: đều coi thuật ngữ thuộc danh từ (ngữ/ cụm danh từ), chỉ ra những khái niệm, được sử dụng trong một ngành khoa học, mặc dù cách định nghĩa của các học giả có lúc nhấn mạnh mặt từ loại, cấu tạo hay có lúc lại nhấn mạnh mặt nội dung nghĩa của thuật ngữ Chẳng hạn, chỉ có Hoàng Xuân Hãn trực tiếp chỉ ra từ loại của thuật ngữ là danh từ Còn các tác giả khác như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành… thì không trực tiếp chỉ ra từ loại của thuật ngữ là từ loại nào, nhưng đều thống nhất cho rằng thuật ngữ biểu đạt

“khái niệm khoa học/ khái niệm chuyên môn”, cũng tức là coi thuật ngữ là danh từ Và như vậy, quan điểm của các học giả Việt Nam cũng khá thống nhất với học giả nước ngoài

 Quan niệm về thuật ngữ của luận văn:

Từ những nghiên cứu về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, chúng tôi thấy được những đặc điểm của thuật ngữ như sau: Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên ngành để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên ngành và các đối tượng của nó Nó là đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính khoa học, tính quốc tế, tính đại chúng, tính dân tộc và tính ngắn gọn mà chúng tôi sẽ đề cập ở phía dưới của luận văn, ở thuật ngữ không có hiện tượng đồng âm, đa nghĩa trong phạm vi một khoa học hay lĩnh vực tri thức cụ thể Nó có chức năng đặc biệt là gọi tên và định nghĩa Thuật ngữ sẽ không còn chính xác nếu như nó là một từ hay cụm

từ đa nghĩa Ví dụ như trong thuật ngữ lâm nghiệp ở lĩnh vực kỹ thuật lâm

Trang 23

sinh có thuật ngữ artificial ripening (chín nhân tạo) thì ta phải hiểu đây là

hình thức làm chín sử dụng phương pháp nhân tạo

1.1.3 Phân biệt thuật ngữ và danh pháp

Danh pháp có nhiều điểm chung với thuật ngữ, chúng đều là danh từ, đều định danh sự vật Hơn nữa Hà Quang Năng còn đề cập đến một trong

những đặc điểm chung đó là tính độc lập của danh pháp và của thuật ngữ

khỏi ngữ cảnh và tính chất trung hòa về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói [22,

tr.200] Tuy nhiên, giữa chúng có những điểm khác biệt cơ bản Thuật ngữ được xây dựng trên mối quan hệ với các hệ thống khoa học, biểu đạt bằng các đơn vị từ ngữ, còn danh pháp mang nặng ký hiệu, gọi tên sự vật và hiện tượng không có quan hệ trực tiếp logic với bản chất của sự vật mà nó gọi tên Hơn nữa các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, ở thuật ngữ, tính khái niệm là đặc trưng quan trọng nhất thì ở danh pháp, tính đối tượng mà nó gọi tên mới là quan trọng nhất

Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra các quan điểm khác nhau về thuật ngữ và danh pháp.Thứ nhất phải kể đến đó là Vinokur, nhà thuật ngữ

học đầu tiên có sáng kiến phân biệt thuật ngữ và danh pháp chỉ ra rằng: “Khác

với thuật ngữ, danh pháp là một hệ thống phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, công dụng duy nhất của nó là tạo ra những phương tiện thuận lợi nhất

về mặt thực tiễn để biểu đạt những sự vật không có quan hệ trực tiếp với những nhu cầu của tư duy lý luận lấy sự vật làm căn cứ” [dẫn theo 22,

tr.200] Hơn nữa theo ông thì tính ước lệ và tính trừu tượng là những đặc

điểm cơ bản nhất của đa số các danh pháp Do đặc điểm này mà danh pháp gần với tên riêng, đặc biệt những danh pháp là tên gọi của những khái niệm đơn nhất Một số lớn tên gọi của những khái niệm này là những tên riêng Sự

Trang 24

tồn tại của những đơn vị danh pháp không quy định trực tiếp vị trí xác định của chúng trong hệ thống các khái niệm [dẫn theo 22, tr 200 - 201]

Còn theo Superanskaja: “So với hệ thuật ngữ, danh pháp là một phạm

trù mới hơn rất nhiều Danh pháp của một ngành bất kì trong lịch sử tự nhiên cũng đều là tập hợp các tên gọi các loại (hay tiểu loại) của ngành đó Khi chúng đã trở nên một tập hợp tương đối lớn, chúng đòi phải tổ chức lại một cách đặc biệt” [30, tr.157] Bà cũng quan niệm rằng : “Tính khái niệm là đặc trưng quan trọng nhất của thuật ngữ Tính khái niệm ở danh pháp không thật

rõ rệt như ở thuật ngữ Cái quan trọng đối với danh pháp là tính vật chất, hay tính đối tượng của nó, tùy thuộc vào các đặc trưng của đối tượng được gọi tên” [30, tr.163]

Hà Quang Năng thì cho rằng: “Danh pháp có thể là tên gọi sản phẩm

cụ thể của nền kinh tế quốc dân, gọi tên các khái niệm đơn nhất Hầu hết các danh pháp kỹ thuật đều là tên gọi các nhãn hiệu của máy móc thiết bị, dụng

cụ hoặc là tên các đối tượng nghiên cứu và các tác phẩm nghệ thuật (Ví dụ,

XB – CB – 5 – 24)” [22, tr.199] Hơn nữa là, trong kỹ thuật, một cái máy có

hàng nghìn chi tiết đều có tên gọi của nó thì đó thuộc về danh pháp chứ không phải thuật ngữ Trong địa lý học các từ như: biển, sông, núi , sa mạc v.v… là các thuật ngữ, còn các tên biển, tên sông, tên hồ v.v cụ thể như sông Hồng, sông Đà, núi Trường Sơn, vịnh Cam Ranh, hồ Núi Cốc v.v là danh pháp Trong thực vật học, các từ cây, lá, cành v.v là thuật ngữ, còn tên các cây, các loại hoa, loại quả cụ thể là danh pháp Hơn nữa các danh pháp liên hệ với các khái niệm liên quan đến chúng đều phải thông qua những thuật ngữ tương

ứng Theo Nguyễn Thiện Giáp thì:“Hệ thuật ngữ trước hết gắn với hệ thống

các khái niệm của một khoa học nhất định Còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng trong một chuyên môn nào đó, không gắn trực tiếp với khái niệm của khoa học mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi” [8,

Trang 25

tr.270] Mặt khác, theo ông thì thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung ít nhiều của thuật ngữ tương

ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng.Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Về mặt

chức năng, danh pháp giống với các tên riêng Về bản chất, danh pháp là tên riêng của các đối tượng Nếu như ở thuật ngữ, người ta nhấn mạnh chức năng định nghĩa của nó thì đối với danh pháp, chức năng gọi tên mới là quan trọng Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi

kế tiếp nhau của các chữ cái (vitamin A, vitamin B v.v…), là một chuỗi các con số (MA 65, TU 104, MA68) hay bất kì cách gọi tên võ đoán nào” [8, tr

270]

Chẳng hạn thuật ngữ lâm nghiệp trong lĩnh vực cây rừng có thuật ngữ

Celtis Phillippensis có nghĩa là (cây Sếu Philippin) thì Celtis là thuật ngữ còn

Trang 26

nghe liên tưởng tới những khái niệm về các sự vật, hiện tượng được biểu đạt nội dung qua hệ thuật ngữ

Tóm lại: Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ biểu thị chính xáckhái

niệm, đối tượng được sử dụng trong một ngành khoa học cụ thể

Chúng tôi chọn định nghĩa này để làm việc khi khảo sát hệ thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh

1.1.4 Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học ở nước ngoài và ở Việt Nam có nhiều quan điểm và tranh luận về các đặc điểm của thuật ngữ Ở nước ngoài,

kế thừa những công trình về thuật ngữ của nhà thuật ngữ học nổi tiếng Lotte, D.S và của Ủy ban khoa học kỹ thuật thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô, Corsunop và Xumburova đưa ra những đặc điểm của thuật ngữ như sau: 1

Không có thuật ngữ đa nghĩa trong một ngành; 2 Không có từ đồng nghĩa; 3 Phản ánh những đặc trưng cần và đủ của khái niệm; 4 Tính hệ thống là phải chính xác, có hệ thống, ngắn gọn, có tính dân tộc và đại chúng, dễ hiểu, dễ nhớ Tính chính xác của thuật ngữ cũng đã được khẳng định bởi Culebakin và

Cơlimovitxki [4, tr.24], Reformatxki [28, tr.253 - 271]

Có thể thấy, các nhà thuật ngữ học nước ngoài đã đề cập đến tính chính xác, tính ngắn gọn, tính hệ thống và tính đơn nghĩa của thuật ngữ và họ coi đấy là những đặc điểm tiêu biểu của thuật ngữ

Ở Việt Nam, Hoàng Xuân Hãn đã hệ thống hóa những yêu cầu cần và đủ

cho hệ thống thuật ngữ là phải có những điểm chính sau: Thuật ngữ phải

chính xác, thuật ngữ phải có hệ thống, thuật ngữ phải có tính dân tộc [11,

tr.11] Ngoài ra thuật ngữ cũng phải phấn đấu càng ngắn gọn càng tốt và phải

có kết cấu chặt chẽ Theo ông trong các điều kiện đó thì điều kiện cơ bản là phải chính xác và phải có hệ thống

Trang 27

Cũng bàn về đặc điểm của thuật ngữ, còn có những ý kiến khác Chẳng

hạn Nguyễn Thiện Giáp cho rằng thuật ngữ phải có những đặc điểm: tính

chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế [6, tr.45] Theo các nhà nghiên cứu

ngôn ngữ nếu cho tính quốc tế là tiêu chuẩn về đặc điểm của thuật ngữ thì có phần chưa bao quát Vì khi nói đến tính quốc tế tức là nội dung và hình thức của thuật ngữ phải đạt tới sự thống nhất giữa các dân tộc Trên thực tế đòi hỏi thuật ngữ có tính quốc tế là rất khó Vì không có một ngôn ngữ nào làm chuẩn

để đặt thuật ngữ Chính Nguyễn Thiện Giáp cũng thừa nhận rằng: “Thực ra về

hình thức cấu tạo, tính quốc tế chỉ có tính tương đối Dường như không có thuật ngữ nào thống nhất ở tất cả các ngôn ngữ” Đồng thời các đặc điểm

tính chính xác và tính hệ thống mà Lê Khả Kế và Nguyễn Thiện Giáp đưa ra cũng có thể quy thành một tiêu chuẩn bao quát hơn là tính khoa học Do vậy chúng tôi sẽ dựa vào sự tổng kết các tiêu chuẩn của thuật ngữ do Lưu Vân Lăng đưa ra tại hội nghị bàn về việc xây dựng thuật ngữ năm 1964 để đánh giá hệ thống thuật ngữ trong Danh từ khoa học Các tiêu chuẩn ấy là:

1/ Tính khoa học (cụ thể là: chính xác, có hệ thống và ngắn gọn) 2/ Tính dân tộc (nghĩa là có màu sắc ngôn ngữ dân tộc, phù hợp với đặc điểm tiếng Việt) 3/ Tính đại chúng (nghĩa là quần chúng dễ dùng, dễ nhớ, dễ đọc,

dễ viết, dễ hiểu) [dẫn theo 22, tr.237 - 238]

Nhìn một cách tổng quát thì chúng tôi thấy rằng các nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước đã nêu rất nhiều đặc điểm của thuật ngữ, như thuật

ngữ phải có tính chính xác, tính hệ thống, tính dân tộc, tính quốc tế, tính đại

chúng, tính ngắn gọn, tính đơn nghĩa Trong những tiêu chuẩn này, có những

tiêu chuẩn trùng lặp nhau, như tính chính xác và tính đơn nghĩa Bản thân tính chính xác đã bao hàm tính đơn nghĩa vì khi có một nghĩa, thuật ngữ sẽ trở nên chính xác và loại bỏ được những hiện tượng đồng nghĩa, nhiều nghĩa của thuật ngữ

Trang 28

Dựa theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học đi trước, chúng tôi cho

rằng, bộ tiêu chuẩn của thuật ngữ gồm tính khoa học (tính chính xác, tính hệ

thống), tính quốc tế, tính đại chúng, tính dân tộc, tính ngắn gọn Trong các

tiêu chuẩn này, những tiêu chuẩn như tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc

tế là những tiêu chuẩn quan trọng nhất, cần thiết nhất không thể thiếu được, bởi nếu thiếu một trong các tiêu chuẩn ấy, thuật ngữ sẽ cần phải được chuẩn hóa Các tiêu chuẩn còn lại như tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn là những tiêu chuẩn cần, nhưng không nhất thiết phải có, và thuật ngữ càng đáp ứng những tiêu chuẩn này được bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu Dưới đây là những trình bày của chúng tôi về các đặc điểm của thuật ngữ, và chúng tôi sẽ trình bày nhấn mạnh các đặc điểm mà thuật ngữ bắt buộc phải có là tính khoa học (tính chính xác, tính hệ thống), tính quốc tế, tính đại chúng, tính dân tộc, tính ngắn gọn

1.1.4.1 Tính khoa học

+ Tính chính xác

Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt dùng trong một ngành khoa học

cụ thể nào đó Mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm nhưng ý nghĩa từ vựng của các từ thông thường không đồng nhất với khái niệm mà chúng gọi tên, trong khi đó thuật ngữ phụ thuộc chặt chẽ vào khái niệm của một ngành khoa học nào đó Nói đến thuật ngữ là nói đến tính chính xác của nghĩa hoặc khái niệm mà nó biểu hiện mà không gây nhầm lẫn Cũng vì lẽ đó

mà thuật ngữ trong các từ điển được định nghĩa chứ không giải thích như từ ngữ thông thường khác Khác với các từ vị khác khi thuật ngữ mà bị hiểu không đúng, sai lệnh nghĩa của vỏ ngôn ngữ thì ý nghĩa của nó bị biến hóa vô cùng Điều này tương đương là thuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm chuyên môn, phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm Quan điểm của Lưu Văn Lăng về tính chính xác của thuật ngữ như sau:

Trang 29

“Mức chính xác khoa học của thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái

niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai, hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác” [15, tr.40] Ngoài ra, tính chính xác của một từ còn thể hiểu

là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không mang sắc thái biểu cảm Đối với từ ngữ thông thường ý nghĩa từ vựng có thể thay đổi trong mỗi một văn cảnh khác nhau, còn đối với thuật ngữ thì không thế Trong mọi văn cảnh khác nhau, cũng như khi đứng một mình, thuật ngữ không thay đổi về nội dung

Ví dụ: Trong thuật ngữ lâm nghiệp lĩnh vực cây rừng có thuật ngữ

“limb” chỉ có nghĩa là “phiến lá”, trong khi đối với ngôn ngữ thông thường thì tuỳ từng ngữ cảnh mà nó mang nghĩa là: tứ chi, núi ngang, hay hoành sơn

Và sự thống nhất trong quan điểm về đặc điểm này của thuật ngữ cũng

được AA.Refomatski nói rõ trong nhận định: “Các khái niệm biểu thị trong

các từ ngữ thông thường chỉ là khái niệm thông thường, còn các khái niệm biểu thị trong thuật ngữ là khái niệm chính xác của một chuyên ngành khoa học nào đó” [28, tr.49 – 51]

Vì yêu cầu về tính chính xác mà thuật ngữ trong các từ điển được định nghĩa chứ không giải thích như từ ngữ thông thường khác Trong thời đại ngày nay có nhiều ngành nghề khoa học phát triển, vì thế ta phải hiểu và phân tích được đặc tính cơ bản của thuật ngữ để giúp người đọc, người nghe có được khái niệm chính xác về bất kỳ đối tượng khoa học nào, thuật ngữ phải có nhiệm

vụ gọi tên, định nghĩa chính xác về khái niệm đó và còn được thể hiện là từ chỉ

có một nghĩa (hay còn gọi là đơn nghĩa), không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái biểu cảm Ví dụ trong thuật ngữ lâm nghiệp lĩnh vực thổ nhưỡng có cụm từ

“land cover” có nghĩa là “độ che phủ của đất”, nó mang một nghĩa thông

thường, không có nghĩa thứ hai cũng không có từ đồng nghĩa Hay trong lĩnh

Trang 30

vực cây rừng có cụm từ “forest planting” có nghĩa là “trồng rừng”, không có

nghĩa thứ hai

+ Tính hệ thống

Ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng đều có tính hệ thống Chính vì vậy thuật ngữ với vai trò là một bộ phận của ngôn ngữ; là từ, cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên ngành nào đó cũng mang tính hệ thống Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ, mà ngôn ngữ của bất

kỳ một quốc gia nào cũng mang tính hệ thống Bởi vì thuật ngữ là từ, cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên ngành nào đó, thuật ngữ phải nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ, mỗi lĩnh vực khoa học đều có một khái niệm chặt chẽ được thể hiện ra bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Giá trị của mỗi thuật ngữ đều được xác định bởi mối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác trong hệ thống ấy Khi nói đến tính hệ thống thì phải chú ý đến hai mặt: hệ thống khái niệm (tức là về nội dung) và hệ thống ký hiệu (xét về hình thức) Tính hệ thống ký hiệu thường được thể hiện

rõ ràng qua mối liên hệ liên tưởng và mối quan hệ ngữ đoạn của các tín hiệu

trong ngôn ngữ Nguyễn Thiện Giáp đã chỉ ra:“Do tính hệ thống trong cách

cấu tạo thuật ngữ mà người ta có thể dễ dàng nắm được khái niệm mà thuật ngữ diễn tả” [6, tr.23] Từ tính hệ thống về nội dung dẫn đến tính hệ thống về

hình thức biểu hiện Tính hệ thống về hình thức, ngược lại giúp cho người ta biểu thị được và nhận ra được tính hệ thống trong nội dung Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống của nó thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa

Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ Và tính hệ thống của thuật ngữ còn được thể hiện ở hai phương diện: trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng chỉ ra mối liên hệ của thuật ngữ với các từ ngữ khác trong vốn từ vựng chung của một ngôn ngữ Trường khái

Trang 31

niệm chỉ ra mối liên hệ giữa một thuật ngữ với các thuật ngữ khác trong cùng một chuyên ngành khoa học Bởi không có chuyên ngành khoa học nào chỉ tồn tại một khái niệm duy nhất Vì vậy mỗi thuật ngữ phải thuộc về một hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định Và cũng không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm

Như vậy, khi xây dựng hoặc chuyển dịch một thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại, chúng ta cần chú ý đến tính hệ thống của thuật ngữ Chúng ta khó có thể tạo ra một cuốn sách hay một từ điển nào chứa tất

cả các thuật ngữ Quan trọng là chúng ta phải biết sắp xếp các thuật ngữ vào một hệ thống Trong tiếng Anh, tính hệ thống của thuật ngữ thể hiện ở sự lệ thuộc lẫn nhau của các hình thái ngữ pháp phái sinh trong việc cấu tạo và biến đổi từ, chẳng hạn trong thuật ngữ lâm nghiệp lĩnh vực cây rừng ta xét ví dụ:

+) Undergrowth: Tầng cây thấp Thuật ngữ này được cấu tạo từ từ growth và

tiền tố under Hơn nữa từ growth còn kết hợp với danh từ period tạo nên từ

“growth period”, nghĩa là “thời kỳ sinh trưởng”

Còn trong lĩnh vực khai thác và vận chuyển lâm sản ta có từ

“coproduct” có nghĩa là “ sản phẩm phụ từ gỗ” Thuật ngữ này được tạo nên bởi từ product và tiền tố co-, ngoài ra từ product còn kết hợp với fiber tạo nên từ “fiber product” mang nghĩa là “sản phẩm sợi gỗ”

Nhìn các ví dụ trên ta thấy nếu tách undergrowth ra khỏi lĩnh vực thuật

ngữ lâm nghiệp thì nó chỉ có nghĩa là chưa trưởng thành, chưa chín chắn

Tương tự, nếu tách coproduct ra khỏi lĩnh vực thuật ngữ lâm nghiệp thì nó chỉ

có nghĩa là sản phẩm phụ nói chung Và nếu tách fiber ra khỏi lĩnh vực thuật

ngữ lâm nghiệp thì nó chỉ có nghĩa là “sợi, chất xơ ” (trong lĩnh vực hóa học)

1.1.4.2 Tính quốc tế

Trang 32

Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Thuật ngữ là một bộ phận từ vựng đặc biệt,

biểu thị những khái niệm khoa học chung cho những người nói các ngôn ngữ khác nhau, do đó, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và

bổ ích, thúc đẩy tiến trình phát triển khoa học của loài người nói chung, những khái niệm khoa học mà thuật ngữ biểu thị là tài sản chung của nhân loại” [6, tr.35] Trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” của Nguyễn Thiện Giáp

đã viết : “Nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ, thì phải thừa nhận rằng,

tính quốc tế là đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận

từ vựng khác: thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế cho thuật ngữ” [8, tr.247] Nói đến tính quốc

tế của thuật ngữ là ta nghĩ đến sự biểu hiện ở hình thức cấu tạo của nó Mặt khác, do truyền thống lịch sử hình thành các khu vực văn hóa khác nhau, có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi rộng nhưng cũng có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi hẹp hơn Để hiểu thêm hai quan điểm này ta xét ví dụ:

Thứ nhất, khái niệm “rừng” với tư cách là quần xã sinh vật trong đó cây rừng

là thành phần chủ yếu Trong các ngôn ngữ Châu Âu, khái niệm này được thể

hiện bằng những hình thức rất gần nhau: forest (tiếng Anh) - forêt (tiếng Pháp) - forst (tiếng Đức) Thứ hai, khái niệm “đài” cũng được thể hiện bằng những hình thức gần giống nhau: radio (tiếng Anh) - radio (tiếng Pháp) -

Trang 33

nhiên, hiện nay tiếng Nhật lại chú trọng sử dụng thuật ngữ vay mượn trực tiếp

từ tiếng Anh phiên âm ra tiếng Nhật bằng một loại chữ ghi âm chứ không sử dụng chữ Hán để chuyển dịch [33] Mặc dù vậy, có thể nói, tính quốc tế đòi hỏi một thuật ngữ phải có tính nội dung và hình thức biểu đạt gần gũi không phải chỉ với một cộng đồng ngôn ngữ mà với các cộng đồng ngôn ngữ khác Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tính quốc tế trong thuật ngữ được xem là yếu

tố quan trọng nhất trong quan hệ ngoại giao và thời kỳ hội nhập

1.1.4.3 Tính đại chúng

Tính đại chúng của thuật ngữ được hiểu là quần chúng dễ dùng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, dễ viết, dễ đọc Như vậy, tính đại chúng là đặt thuật

ngữ sao cho dễ hiểu Hoàng Xuân Hãn rất đúng khi cho rằng: “Ở tiếng

nước nào cũng vậy, người chưa học một ý gì, thì có giỏi mười mươi cũng không thể thấy chữ mà đoán nghĩa được Do đó, muốn hiểu thuật ngữ thì phải học” Nhưng khi đặt thuật ngữ, ông đã cố gắng chọn những từ mà khi

đọc người ta có thể thêm phần nào nội dung của nó Ví dụ như các thuật ngữ: than gầy, than béo, a cít hèn, a - cít mạnh…cũng rất gần gũi với ngôn ngữ đời thường giúp người dân có thể nắm bắt được khoa học [dẫn theo 22, tr.242] Còn đối với thuật ngữ lâm nghiệp trong lĩnh vực cây rừng thì chia

ra các loại cây phổ biến là:

Drought enduring plant: cây chịu hạn

Heat resistant plant: cây chịu nóng

Dystrophic: cây nghèo dinh dưỡng

1.1.4.4 Tính dân tộc

Thuật ngữ là một lớp từ biểu thị sự vật, hiện tượng, đối tượng củamột ngành khoa học nào đó nhưng nó không hoàn toàn tách biệt mà vẫn là một bộ phận của ngôn ngữ chung, chịu sự chi phối bởi quy luật ngôn ngữ của một dân tộc nào đó Ngôn ngữ của một dân tộc là sản phẩm giao tiếp của dân tộc

Trang 34

ấy Cho nên mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của mình và phải biết vận dụng vốn từ ngữ của dân tộc để biểu thị khái niệm khoa học…

Bởi thế, thuật ngữ cũng phải có tính chất dân tộc.Tính dân tộc của thuật

ngữ được thể hiện trong nhận định sau của Lưu Vân Lăng: “Thuật ngữ dù

thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó, thuật ngữ phải có tính dân tộc và phải mang màu sắc dân tộc” [15, tr 58]

Còn theo Hoàng Xuân Hãn thì tính dân tộc cũng được ông coi là yêu cầu không kém phần quan trọng Khi nào tính thông thường không đạt thì ông mới mượn tiếng nước ngoài Khi mà đã mượn tiếng nước ngoài ông vẫn tạo cho thuật ngữ có âm hưởng Việt bằng cách đặt thuật ngữ theo ngữ pháp tiếng Việt, còn những từ phiên âm gần với tiếng Việt và có đánh dấu thanh điệu Ví

dụ: điểm cận – viễn nhật, số - học cao – cấp…Yếu tố cấu tạo thuật ngữ này là

Hán, nhưng thuật ngữ vẫn có âm hưởng Việt vì nó được cấu tạo theo ngữ pháp tiếng Việt [dẫn theo 22, tr.242]

Chính vì vậy mà tùy tình hình, đặc điểm của từng ngôn ngữ, từng xã hội mà tính dân tộc trở thành một yêu cầu cần thiết, quan trọng đối với thuật ngữ

Nói tóm lại tính dân tộc của thuật ngữ thể hiện ở việc chú ý đến việc khai thác, tận dụng và phát triển những từ thông thường sẵn có trong tiếng nói của dân tộc Cụ thể:

- Về mặt từ vựng: Bản chất của các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ phải mang tính dân tộc cao (quen dùng)

- Về mặt ngữ âm, văn tự: Hình thức, âm hưởng của các yếu tố thuật ngữ được thể hiện ra ở cách nói, cách đọc, cách phát âm cũng như cách viết sao cho phù hợp với đặc điểm của tiếng nói, chữ viết của dân tộc

Trang 35

- Về mặt ngữ pháp: Cách sắp xếp các yêu tố trong thuật ngữ phải theo

cú pháp của dân tộc (hoặc cố gắng một cách cao nhất để đạt được điều này)

1.1.4.5 Tính ngắn gọn

Từ trước đến nay, tính ngắn gọn của thuật ngữ được coi là một yêu cầu

quan trọng, vì “trong ngôn ngữ, thuật ngữ khoa học, cũng như danh từ, mang

tính chất định danh Tính chất này đòi hỏi thuật ngữ phải ngắn gọn về hình thức Những thuật ngữ dài dòng thường không mang tính chất định nghĩa, không những làm cho hệ thống thuật ngữ bị lỏng lẻo, mà có khi còn làm lu

mờ ít nhiều, thậm chí phá vỡ mất tính chất thuật ngữ của bản thân nó” [dẫn

theo 21, tr.42] D.S Lotte nhấn mạnh cả tính chính xác và tính ngắn gọn của thuật ngữ, và ông cho rằng, thuật ngữ càng ngắn gọn, tính khoa học của thuật

ngữ càng cao: “Cùng với tính chính xác, tính ngắn gọn của thuật ngữ là một

giá trị lớn của nó” [19, tr.33]

Ví dụ trong lâm nghiệp ta thấy cụm từ “a knife for lopping” có nghĩa là

“dao dùng để tỉa cành hay xén cành”, nhưng trong thuật ngữ lâm nghiệp ta

dùng với nghĩa là dao quắm rất ngắn gọn và dễ hiểu đối với những người làm

trong chuyên ngành lâm nghiệp

1.1.4.6 Yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ

Thuật ngữ phải phản ánh những đặc trưng cần và đủ của khái niệm - để thẩm định tính chính xác của thuật ngữ cần nắm vững nội dung khái niệm mà thuật ngữ diễn đạt Hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ do Ủy Ban Khoa Học nhà nước tổ chức năm 1964 ở Hà Nội đã đưa ra:

Trang 36

Ngoài ra, chúng ta có thể mượn cả yếu tố Ấn, Âu để tạo từ Như vậy, thuật ngữ tiếng Việt có ba nguồn ngữ liệu để xây dựng là:

Lớp thuật ngữ thuần Việt

Lớp thuật ngữ Hán Việt

Lớp thuật ngữ Ấn Âu

+ Phân biệt thuật ngữ và các từ thông thường

Thuật ngữ trước hết có những điểm chung với vốn từ vựng thông thường Những điểm chung thường được chỉ ra bao gồm:

 Thứ nhất, thuật ngữ và từ ngữ thông thường đều phải tuân theo quy luật ngữ âm chung và quy luật kết cấu của ngữ pháp chung [22, tr.125]

 Thứ hai, thuật ngữ và từ thông thường đều bị quy định bởi trường từ vựng: “Mỗi thuật ngữ đều bị ảnh hưởng bởi hai trường: trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng là những liên hệ của thuật ngữ với các từ khác trong ngôn ngữ nói chung Tất cả các từ không phải thuật ngữ cũng nằm trong các trường như vậy” [16, tr.272]

Ngoài những điểm chung ra thì thuật ngữ và từ ngữ thông thường còn

có những điểm khác biệt Thứ nhất, khái niệm biểu đạt bởi từ thông thường khác khái niệm được biểu thị bằng thuật ngữ Hơn nữa, trong khi từ ngữ thông thường biểu đạt các khái niệm thông dụng ai cũng có thể biết đến thì thuật ngữ lại diễn đạt các khái niệm chuyên môn chỉ một số lượng các nhà chuyên môn biết đến Thứ hai, nội dung khái niệm do từ thông thường biểu thị phụ thuộc vào những biến đổi của hệ từ vựng, còn nội dung khái niệm thuật ngữ biểu thị phụ thuộc vào sự phát triển của ngành khoa học đấy

“Thuật ngữ có đặc điểm là tính chính xác Thứ ba, thuật ngữ không có tính biểu cảm, còn từ ngữ thông thường mang tính biểu cảm [26, tr.99] Thứ tư, thuật ngữ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có hiện tượng đa nghĩa Thuật ngữ không phụ thuộc vào ngữ cảnh mà vẫn có nghĩa khi đứng

Trang 37

độc lập, còn từ ngữ thông thường chỉ được xác định chính xác nghĩa của nó trong sự kết hợp với những từ khác tại một ngữ cảnh nhất định.Thứ năm, thuật ngữ và từ thông thường đều có chức năng định danh nhưng thuật ngữ khác từ thông thường ở chỗ, ngoài chức năng định danh, thuật ngữ còn có

chức năng định nghĩa Moixeev viết : “Chức năng định nghĩa là một đặc tính

chính của thuật ngữ (khoa học) khác với từ thông dụng Lenkovxkaya cho rằng, trong thuật ngữ, chức năng định danh mà các từ khác trong ngôn ngữ cũng có, hợp với chức năng định nghĩa mà chỉ thuật ngữ mới có” [17, tr.22]

Hãy xem ví dụ sau để thấy rõ sự khác nhau giữa từ thông thường và

thuật ngữ: Ví dụ:“ageing”theo nghĩa thông thường thì có nghĩa là “người có

đủ tuổi, người già” như trong câu: Vietnam Committee on Ageing will be held

on December, 25 th (Ủy Ban Quốc Gia về người cao tuổi của Việt Nam sẽ

được tổ chức vào ngày 25 tháng 12) Ở một ngữ cảnh khác như trong câu: Her

skin is ageing (da của cô ấy đang bị lão hóa) “Ageing” ở đây mang nghĩa là

“lão hóa” Tùy từng ngữ cảnh mà từ ageing sẽ mang nghĩa khác nhau trong

trường hợp là từ ngữ thông thường Còn trong lĩnh vực thuật ngữ chuyên ngành thì nó sẽ chỉ mang một nghĩa duy nhất cụ thể là: trong lâm nghiệp chỉ

có một nghĩa là “quá trình hóa già”, trong chuyên ngành thực phẩm có nghĩa

là “sự làm cho chín”, trong điện lạnh có nghĩa là “sự ổn định hóa của nam châm”

Như vậy, thuật ngữ và từ ngữ thông thường có mối quan hệ biện chứng với nhau và có thể chuyển hóa lẫn nhau Thuật ngữ không cách biệt hoàn toàn với từ ngữ thông thường và cũng chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngôn ngữ như từ ngữ thông thường Do đó, từ ngữ thông thường và thuật ngữ có quan hệ xâm nhập và có thể chuyển hóa lẫn nhau

+ Sự vay mượn thuật ngữ giữa các liên ngành

Trang 38

Lê Quang Thiêm đã nêu ra rằng: “Thuật ngữ là bộ phận đặc thù trong

hệ thống từ vựng và ngữ nghĩa của ngôn ngữ dân tộc Thuật ngữ hình thành

và phát triển phản ánh trình độ tri thức và sự phát triển cao của đất nước Hệ thống thuật ngữ cũng thể hiện rất rõ các mối quan hệ tiếp xúc, tiếp nhận, hội nhập của khoa học công nghệ và văn hóa của dân tộc với cộng đồng các nước, các dân tộc khác trên thế giới” [34, tr.1- 5] Vốn tri thức của nhân loại

ngày nay vô cùng phong phú, rộng lớn Mọi ngành, nghề khoa học, kỹ thuật, kinh tế, ngoại giao, du lịch ngày càng phát triển không ngừng và có sự phân nhánh trong mỗi ngành nghề đó.Vì vậy, thuật ngữ xuất hiện ngày càng nhiều, cho nên phải có sự điều chỉnh, xử lý từ vựng hợp lý.Và việc sử dụng chung thuật ngữ là điều dễ hiểu Ví dụ các thuật ngữ kinh tế, thương mại dùng trong

nhiều ngành khoa học xă hội như kinh tế chính trị, mậu dịch, ngân hàng dữ

liệu Do tính liên ngành và đa ngành nên sự vay mượn thuật ngữ giữa các

ngành khoa học kỹ thuật là tất yếu Tuy vậy, không nên lạm dụng sự vay mượn để tránh gây nhầm lẫn trong giao tiếp khoa học

1.2 Khái niệm về ngành lâm nghiệp và thuật ngữ lâm nghiệp

“ Lâm nghiệp là một ngành khoa học tổng hợp bằng cách xem xét rừng

như là một hệ sinh thái, một nhân tố cảnh quan, một nhân tố kinh tế và cũng

là một nhân tố tâm linh, lâm nghiệp còn là hoạt động ứng dụng của con người nhằm đáp ứng các nhu cầu của xã hội và của nền kinh tế một ngành kinh tế kỹ thuật lấy tài nguyên rừng làm đối tượng để khai thác gỗ và các lâm sản đáp ứng các nhu cầu xã hội” [29, tr.65] Như vậy, người ta có thể hiểu lâm nghiệp

không chỉ bao gồm những hoạt động lâm sinh như trồng, tu bổ, chăm sóc, bảo

vệ mà còn là nơi sản xuất lâm sản, một nhân tố phát triển giá trị sử dụng tiềm năng tổng hợp và đa chức năng của rừng

Bản thân ngành lâm nghiệp cũng vận động theo thời gian, vì vậy ngành lâm nghiệp đã khôi phục và phát triển tạo được công ăn việc làm cho nhiều

Trang 39

nhân công Chính vì vậy cùng với sự phát triển của ngành lâm nghiệp ở Việt Nam, thuật ngữ lâm nghiệp cũng đã định hình thành một lĩnh vực thuật ngữ quan trọng Không chỉ là những tài liệu lưu hành nội bộ, sự ra đời của cuốn từ

điển Nông – Lâm – Ngư nghiệp là cuốn từ điển tổng hợp cả ba lĩnh vực Nông,

Lâm, Ngư nghiệp (Nxb.Từ điển Bách khoa) là một sự đánh dấu bước phát triển mới của ngành này Tuy nhiên, so với các ngành khác, rõ ràng là sự phát triển của sách công cụ, từ điển thuật ngữ thuộc ngành lâm nghiệp còn khá khiêm tốn Hy vọng trong tương lai ngành lâm nghiệp này sẽ cho ra đời cuốn

từ điển chuyên ngành lâm nghiệp riêng để đưa tới cho các cán bộ nghiên cứu

về ngành lâm nghiệp cũng như dành cho các bạn sinh viên đang theo học chuyên ngành này

Quan niệm về ngành lâm nghiệp trong tiếng Anh

Harry L.Haney, và William C.Siegel đã thống nhất và đưa ra khái niệm

về ngành lâm nghiệp trong tiếng Anh như sau:

“Lâm nghiệp là một ngành khoa học nghiên cứu về sự quản lý, sử dụng, bảo tồn, tu bổ rừng và những nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Những tài nguyên này bao gồm gỗ, nước, cá, động vật hoang dã, đất, thực vật, và giải trí nhằm đáp ứng những mục tiêu, những nhu cầu và những giá trị mang lại lợi ích cho con người”

(Forestry is the science of managing, using, conserving, repairing forests and associated natural resources These resources include timber, water, fish, wildlife, soil, plants, and recreation to meet desired goals, needs and values for human benefit) [54, tr.178]

Còn thuật ngữ lâm nghiệp thì M.H.A Brams Geoffrey và Galt Harphan đưa ra khái niệm như sau:

“Thuật ngữ lâm nghiệp là những từ và cụm từ chuyên sâu được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực lâm nghiệp”

Trang 40

( Forestry terms are the specialized words and phrases commonly used

in forestry term) [58, tr.36]

Quan niệm chung về thuật ngữ lâm nghiệp của luận văn

Như vậy, trên cơ sở khái niệm về lĩnh vực lâm nghiệp nêu trên, thuật ngữ lâm nghiệp nói chung là những thuật ngữ được sử dụng trong ngành lâm

nghiệp Cụ thể, thuật ngữ lâm nghiệp được quan niệm như sau: Thuật ngữ lâm

nghiệp là những từ và những cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn về lâm nghiệp Cụ

thể trong luận văn, chúng tôi khảo sát thuật ngữ bốn lĩnh vực lâm nghiệp là

thuật ngữ về thổ nhưỡng, thuật ngữ về khai thác và vận chuyển lâm sản, thuật ngữ về kỹ thuật lâm sinh, thuật ngữ về cây rừng

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2:Tổng kết nhóm thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 2.2 Tổng kết nhóm thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản (Trang 58)
Bảng 2.3: Tổng kết nhóm thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 2.3 Tổng kết nhóm thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh (Trang 62)
Bảng 2.4: Tổng kết nhóm thuật ngữ cây rừng - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 2.4 Tổng kết nhóm thuật ngữ cây rừng (Trang 66)
Bảng 3.1: Tổng hợp những nét tương đồng và khác biệt giữa   thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh và tiếng Việt - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 3.1 Tổng hợp những nét tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ lâm nghiệp tiếng Anh và tiếng Việt (Trang 77)
Bảng 3.4: Tổng hợp những thuật ngữ lâm nghiệp có hai hoặc ba thuật ngữ  tiếng  Anh  chỉ  dịch  một  thuật  ngữ  Việt  (ở  nhóm  khai  thác  và  vận  chuyển  lâm sản) - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 3.4 Tổng hợp những thuật ngữ lâm nghiệp có hai hoặc ba thuật ngữ tiếng Anh chỉ dịch một thuật ngữ Việt (ở nhóm khai thác và vận chuyển lâm sản) (Trang 87)
Bảng 1: Thuật ngữ thổ nhưỡng là từ đơn danh từ trong tiếng Anh - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 1 Thuật ngữ thổ nhưỡng là từ đơn danh từ trong tiếng Anh (Trang 101)
Bảng 3: Thuật ngữ thổ nhưỡng là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ + danh  từ - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 3 Thuật ngữ thổ nhưỡng là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ + danh từ (Trang 104)
Bảng 6: Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là từ ghép - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 6 Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là từ ghép (Trang 106)
Bảng 7: Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ 2 ngữ  tố: danh từ +  danh từ - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 7 Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ + danh từ (Trang 108)
Bảng 10: Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ  nhiều hơn 3 ngữ tố - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 10 Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ nhiều hơn 3 ngữ tố (Trang 109)
Bảng 8: Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ 2 ngữ  tố: tính từ + danh từ - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 8 Thuật ngữ khai thác và vận chuyển lâm sản là cụm danh từ 2 ngữ tố: tính từ + danh từ (Trang 109)
Bảng 11: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ đơn danh từ trong tiếng Anh - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 11 Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ đơn danh từ trong tiếng Anh (Trang 110)
Bảng 12: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ đơn động từ trong tiếng Anh - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 12 Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là từ đơn động từ trong tiếng Anh (Trang 110)
Bảng 14: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ +  danh từ - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 14 Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là cụm danh từ 2 ngữ tố: danh từ + danh từ (Trang 115)
Bảng 15: Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là cụm danh từ 2 ngữ tố: - Khảo sát thuật ngữ Lâm nghiệp tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt
Bảng 15 Thuật ngữ kỹ thuật lâm sinh là cụm danh từ 2 ngữ tố: (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm