1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thành ngữ có con số trong tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt

139 4,3K 45
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thành ngữ tiếng Hán, có một bộ phận khá đặc biệt, đó là những thành ngữ sử dụng các con số ví dụ: một, hai, ba…trăm, nghìn, vạn như một thành tố cấu trúc, thường được gọi là thành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

======================

MẠC TỬ KỲ

KHẢO SÁT THÀNH NGỮ CÓ CON SỐ TRONG TIẾNG HÁN VÀ CÁCH THỨC CHUYỂN DỊCH

SANG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số : 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN HỒNG CỔN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

0.1 Lý do chọn đề tài 1

0.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

0.3 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 4

0.4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 4

0.5 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6

1.1 Lịch sử vấn đề 6

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán 6

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thành ngữ con số trong tiếng Hán và tiếng Việt 12

1.1.3 Tình hình nghiên cứu dịch thuật Hán - Việt 13

1.2 Thành ngữ: khái niệm, nguồn gốc và đặc trưng 14

1.2.1 Khái niệm thành ngữ 14

1.2.2 Nguồn gốc của thành ngữ tiếng Hán 16

1.2.3 Đặc trưng cơ bản của thành ngữ tiếng Hán 22

1.2.4 Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ tương tự trong tiếng Hán 25

1.3 Con số: khái niệm, đặc trưng và ý nghĩa của con số 29

1.3.1 Khái niệm con số 29

1.3.2 Đặc trưng của con số 30

1.3.3 Ý nghĩa của con số 32

1.4 Thành ngữ con số 38

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC – NGỮ NGHĨA CỦA NHỮNG THÀNH NGỮ CON SỐ TRONG TIẾNG HÁN 43

2.1 Khái quát về thành ngữ con số 43

2.2 Đặc điểm cấu trúc của thành ngữ con số trong tiếng Hán 44

2.2.1 Cấu trúc đẳng lập 44

Trang 3

2.2.2 Các thành ngữ con số có cấu trúc đề- thuyết 46

2.2.3 Thành ngữ con số có cấu trúc là động ngữ 48

2.2.4 Thành ngữ con số có cấu trúc là danh ngữ 50

2.2.5 Thành ngữ con số có cấu trúc câu phức 51

2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ con số trong tiếng Hán 53

2.3.1 Con số được sử dụng với nghĩa đen 53

2.3.2 Con số được sử dụng với nghĩa biểu trưng 57

CHƯƠNG 3 CÁCH THỨC CHUYỂN DỊCH THÀNH NGỮ CON SỐ TỪ TIẾNG HÁN SANG TIẾNG VIỆT 74

3.1 Cơ sở lí thuyết về dịch thuật 74

3.1.1 Khái niệm dịch thuật 74

3.1.2 Tiêu chuẩn dịch thuật 75

3.1.3 Phân loại dịch thuật 75

3.2 Cách thức chuyển dịch thành ngữ con số từ tiếng Hán sang tiếng Việt 79

3.2.1 Dịch nguyên văn 80

3.2.2 Dịch sao phỏng 82

3.2.3 Dịch tương đương thành ngữ 83

3.2.4 Dịch nghĩa 84

3.3 Những vấn đề phải chú ý trong việc chuyển dịch thành ngữ con số trong tiếng Hán sang tiếng Việt 86

3.3.1 Cần phân biệt nghĩa đen và nghĩa bóng 86

3.3.2 Cần phân biệt các loại ý khác nhau của thành ngữ 87

3.3.3 Phải hiểu được điển cố thành ngữ 88

3.3.4 Chọn cách thức chuyển dịch thỏa đáng theo trường hợp khác nhau 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤC LỤC 98

Trang 4

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài

Trung Hoa là một dân tộc có hàng nghìn năm lịch sử với một nền văn hóa rực rỡ cùng tiếng nói phong phú muôn màu Trong kho tàng từ vựng phong phú của tiếng Hán, có một loại cụm từ kết cấu cố định, ngắn gọn nhưng ý nghĩa sâu xa thường xuyên xuất hiện nguyên vẹn trong lời nói hoặc tác phẩm của nhân dân, đó chính là thành ngữ Thành ngữ được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử lâu đời, nó không những có khả năng khái quát được những kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân lao động trong hoạt động xã hội mà còn phản ánh truyền thống xã hội, truyền thống văn hóa dân tộc, là kết quả nhận thức của nhân dân dân tộc Hán Cũng như thành ngữ ở các ngôn ngữ khác, thành ngữ trong tiếng Hán có nét đặc trưng khác với các đơn vị ngôn ngữ là nó có thể biểu đạt ý nghĩa một cách ngắn gọn, lời ít ý nhiều Sử dụng đúng thành ngữ trong lời nói hoặc trong tác phẩm có thể làm cho văn chương hoặc lời nói của mình càng sinh động và hình tượng hơn, càng thêm sức thuyết phục và sức hấp dẫn hơn Chính vì vậy, thành ngữ là một hình thức ngôn ngữ được người dân Trung Quốc ưa thích nhất và được sử dụng rộng rãi trong lời văn và tiếng nói hàng ngày

Trong thành ngữ tiếng Hán, có một bộ phận khá đặc biệt, đó là những thành ngữ sử dụng các con số (ví dụ: một, hai, ba…trăm, nghìn, vạn) như một thành tố cấu trúc, thường được gọi là thành ngữ con số, ví dụ: 朝三暮四

(Triêu tam mộ tứ - lòng chim dạ cá), 五颜六色 (Ngũ nhan lục sắc – màu sắc

sặc sỡ), 百战百胜 (Bách chiến bách thắng—trăm trận trăm thắng) …

Có những lí do nhất định để nghiên cứu về các thành ngữ con số này của tiếng Hán

Chúng ta biết rằng con số vốn là những ký hiệu toán học có chức năng biểu thị số lượng (ít hay nhiều) và người ta gọi đó là con số tự nhiên Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa toán học, các con số còn được sử dụng trong văn hóa, tín

Trang 5

ngưỡng, tôn giáo với những ý nghĩa biểu trưng tiềm ẩn tiêu biểu Được sử dụng ở chức năng ngữ nghĩa này, các con số trong thành ngữ tiếng Hán không chỉ phản ánh các cách dùng phổ quát của con số ở các ngôn ngữ nói chung (để biểu thị số lượng) mà còn thể hiện những sự khác biệt trong cách tư duy của người Hán về con số và sử dụng con số với tư cách là những biểu trưng tinh thần và văn hóa Hán Vì vậy, chúng tôi tin rằng việc đi sâu nghiên cứu về thành ngữ con số tiếng Hán và khảo sát cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt,

sẽ làm sáng tỏ thêm sự phong phú và đặc sắc của tiếng Hán, đồng thời cung cấp được chút ít giá trị tham khảo trong việc chuyển dịch thành ngữ tiếng Hán sang tiếng Việt

Mặt khác, cùng với sự phát triển ngày càng đi vào chiều sâu của mối quan hệ giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nhu cầu học tiếng Hán của người Việt Nam và nhu cầu học tiếng Việt của người Trung Quốc càng ngày càng tăng lên Việc nghiên cứu đề tài này, vì vậy, cũng sẽ giúp ích cho những người Việt Nam học tiếng Hán và người Trung Quốc học tiếng Việt được thuận lợi hơn và dễ dàng hơn, đặc biệt là đối với việc học tập và sử dụng các thành ngữ Với việc chọn đề tài này làm đề tài luận văn, tiến hành khảo sát các quy luật của những thành ngữ có con số, đồng thời khảo sát cách thức chuyển dịch những thành ngữ này sang tiếng Việt, chúng tôi hy vọng có thể đóng góp một phần nhỏ bé của mình cho những người Việt Nam muốn tìm hiểu sâu hơn nữa về ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc và phần nào cho cả những người Trung Quốc muốn tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Mặc dù vậy, đây không phải là một đề tài hoàn toán mới Từ trước đến nay ở Việt Nam đã có một số công trình ít nhiều đề cập đến vấn đề này (cụ thể xem phần tình hình nghiên cứu ở chương 1), trong đó đáng chú ý nhất là luận

văn thạc sĩ của Giang Thị Tám “Khảo sát thành ngữ có yếu tố chỉ con số

trong sự đối chiếu với thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ con số‖ (2001) Tuy

nhiên, đề tài luận văn này có những điểm khác cơ bản với đề tài luận văn của Giang Thị Tám :

Trang 6

- Về đối tượng nghiên cứu, luận văn của Giang Thị Tám nghiên cứu tất

cả các thành ngữ có yếu tố chỉ con số trong tiếng Hán và tiếng Việt, còn luận văn của chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát những thành ngữ có con số thực chỉ

như ―một‖, ―hai‖, ―ba‖… ―mười‖, ―trăm‖, ―nghìn‖, ―vạn‖,―ức‖, chứ

không bao gồm những thành ngữ chỉ có những từ ngữ chỉ số lượng không xác

định như ―những‖, ―các‖, ―một số‖, ―dăm‖, ―vài‖, ―muôn‖ trong tiếng Việt

và“两”(lưỡng - hai),“半”(bán – nửa), ―双‖(song - đôi) trong tiếng Hán

- Về nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu, đề tài của Giang Thị Tám tập trung vào so sánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa giữa các thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt Ngược lại, luận văn của chúng tôi chủ yếu là mô tả đặc điểm cấu trúc , ngữ nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng) của thành ngữ con số trong tiếng Hán, tìm ra các quy luật sử dụng con số trong thànnh ngữ tiếng Hán, trên cơ sở đó tìm hiểu các cách thức chuyển dịch thành ngữ con số từ tiếng Hán sang tiếng Việt Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa 2 bản luận văn, và cũng là đóng góp mới của chúng tôi

Ngoài ra, luận văn của chúng tôi cũng có những điểm khác biệt về cơ sở

lí thuyết (ngoài lí thuyết về thành ngữ, còn có lí thuyết dịch thuật), về phương pháp (bên cạnh phương pháp mô tả và phân tích đối chiếu còn có phương pháp nghiên cứu dịch thuật), tư liệu (có nguồn tư liệu phong phú hơn)

0.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những thành ngữ có con số trong tiếng Hán, có so sánh với một bộ phận thành ngữ có con số trong tiếng Việt Phạm vi khảo sát của luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau đây:

- Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của các thành ngữ con số trong tiếng Hán -Vai trò của các con số trong thành ngữ tiếng Hán

-Cách chuyển dịch tương đương các thành ngữ con số trong tiếng Hán sang tiếng Việt

Trang 7

Liên quan đến đối tượng khảo sát là thành ngữ có con số, cần phải nói thêm rằng chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát là những con số thực sự

và biến thể con số xác định (bao gồm các số từ như ―một‖, ―hai‖, ―ba‖…

―trăm‖, ―nghìn‖, ―vạn‖,―ức‖) chứ không bao gồm các lượng từ không xác

định (như ―những‖, ―các‖, ―một số‖, ―dăm‖, ―vài‖, ―muôn‖ trong tiếng

Việt và“两”(lưỡng - hai),“半”(bán – nửa), ―双‖(song - đôi)…trong tiếng Hán)

0.3 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Giới thiệu những lý thuyết cơ bản liên quan đến thành ngữ, con số, thành ngữ có con số, đồng thời tìm hiểu nguồn gốc và những đặc điểm chung của chúng

- Phân tích kết cấu của thành ngữ có con số và cách sắp xếp của các con

số trong thành ngữ tiếng Hán, từ đó tìm hiểu quy tắc cấu tạo và hoạt động của các con số xuất hiện trong thành ngữ tiếng Hán

- Phân tích nghĩa đen và nghĩa bóng của con số trong thành ngữ tiếng Hán để tìm hiểu các đặc điểm ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ tiếng Hán Đồng thời tìm hiểu đặc điểm ngữ dụng của con số trong thành ngữ tiếng Hán qua việc phân tích giá trị về mặt tu từ của con số trong thành ngữ tiếng Hán

- Phân tích cứ liệu chuyển dịch thành ngữ con số trong tiếng Hán sang tiếng Việt, từ đó tìm hiểu các phương pháp và thủ pháp chuyển dịch và những vấn đề liên quan khi chuyển dịch thành ngữ tiếng Hán sang tiếng Việt

0.4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

Luận văn này áp dụng ba phương pháp nghiên cứu chủ yếu là miêu tả,

so sánh đối chiếu và đối chiếu dịch thuật

Phương pháp miêu tả (vớicác thủ pháp phân tích cấu trúc, phân tích ngữ nghĩa và phân tích ngữ dụng) được sử dụng chủ yếu để phân tích mô tả

Trang 8

các đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các thành ngữ có con số trong tiếng Hán

Phương pháp so sánh đối chiếu được dùng để phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa thành ngữ con số trong tiếng Hán với các thành ngữ tương ứng trong tiếng Việt theo nguyên tắc đối chiếu 1 chiều, lấy tiếng Hán làm ngôn ngữ nguồn và tiếng Việt làm ngôn ngữ đích

Phương pháp đối chiếu dich thuật được áp dụng để tìm hiểu các cách thức chuyển dịch các thành ngữ có con số của tiếng Hán sang tiếng Việt,trên

cơ sở đó rút ra những bài học cho thực tiễn dịch thuật và giảng dạy

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các thủ pháp thống kê, phân tích tu từ v.v

Tư liệu mà luận văn sử dụng chủ yếu được lấy từ:

《中华成语词典》(中国大百科全书出版社,唐作藩、刘家丰主编,

2008年)(―Từ điển thành ngữ Trung Hoa‖, Nxb Toàn thư Đại bách khoa

Trung Quốc, Đường Tác Phan, Lưu Gia Phong chủ biên, 2008); ―Từ điển

thành ngữ tục ngữ Hán - Việt‖ (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003,

Nguyễn Thị Bích Hằng, Trần Thị Thanh Liêm chủ biên); ―Từ điển giải thích

thành ngữ tiếng Việt‖ (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Giáo dục, HN, 1995)

Ngoài ra còn có nhiều tài liệu tham khảo (xin xem thêm phần Tài liệu tham

khảo)

0.5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương với nội dung chính như sau:

Chương 1: Những cơ sở lí thuyết chung

Chương 2: Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ con số trong tiếng Hán

Chương 3: Cách thức chuyển dịch thành ngữ con số trong tiếng Hán sang tiếng Việt

Trang 9

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lịch sử vấn đề

Trong phần lịch sử vấn đề dưới đây, chúng tôi chủ yếu tập trung đề cập đến ba vấn đề: (1) Lịch sử nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán; (2) Tình hình nghiên cứu thành ngữ con số trong tiếng Hán và tiếng Việt; (3) Tình hình nghiên cứu dịch thuật Hán – Việt

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán

Là bộ phận đặc sắc nhất trong kho tàng từ vựng tiếng Hán, nên thành ngữ tiếng Hán đã được nhiều nhà Hán ngữ học nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành quả to lớn Dưới đây, chúng tôi chủ yếu dựa vào hai công trình

―Hơn mười năm nay nghiên cứu về thành ngữ‖〔40〕và ―Nghiên cứu thành ngữ và biện soạn từ điển‖〔41〕của Lô Trác Quần mà giới thiệu một số thành

tựu nghiên cứu về thành ngữ tiếng Hán trên các xu hướng: (1) xu hướng

nghiên cứu lịch đại; (2) xu hướng nghiên cứu đồng đại; (3) các xu hướng nghiên cứu khác về thành ngữ tiếng Hán

1.1.1.1 Xu hướng nghiên cứu lịch đại

Xu hướng nghiên cứu lịch đại về thành ngữ chủ yếu được thể hiện ở việc tìm hiểu, giải thích nguồn gốc của thành ngữ Phần lớn thành ngữ được hình thành theo thói quen của người dân và được lưu truyền qua nhiều thời đại khác nhau, nên xét về lí thuyết đều có thể tìm hiểu và giải thích được nguồn gốc ra đời của chúng Tuy nhiên, vì tiếng Hán có lịch sử lâu dài, những tài liệu, sách vở có sử dụng thành ngữ hoặc có liên quan đến thành ngữ cũng

có số lượng đồ sộ, nên việc tìm hiểu và giải thích nguồn gốc cho mỗi thành ngữ cũng không phải là chuyện đơn giản

Học giả Dương Thiên Dực trong ―Nguồn gốc thành ngữ tiếng Hán‖

Trang 10

(Nxb Dạy học và Nghiên cứu Ngoại ngữ, 1982) đã cung cấp không ít kiến giải rất có tính tham khảo và những tài liệu rất có giá trị cho việc nghiên cứu nguồn gốc thành ngữ tiếng Hán Học giả Lý Nhất Hoa đã từng lần lượt công

bố nhiều bài viết về nguồn gốc của thành ngữ như ―Bổ khuyết và chứng minh

nguồn gốc của những thành ngữ thường dùng‖, ―Tìm cội nguồn của những thành ngữ thường dùng‖ trên ―Học báo Đại học Thiên Tân‖ (số 2, 1983),

―Nghiên cứu Ngữ văn‖ (số 4, 1983), ―Học báo Đại học Bắc Kinh‖ (số 3,

1984) và đã làm rất nhiều công việc để bổ sung và hiệu chính cho những thành ngữ ngọn nguồn không rõ, thiếu chứng minh hoặc chứng minh quá muộn Một số học giả khác cũng có nhiều bài viết về nguồn gốc thành ngữ

tiếng Hán như: ―Nguồn gốc của thành ngữ ―出人头地‖(Xuất nhân đầu địa -

vượt hẳn người khác)” (―Tập lục Khoa học Xã hội‖, số 5, 1983) của học giả Điền Trung Hiệp, ―Mấy điều bổ sung cho ―Từ điển thành ngữ tiếng Hán‖ ‖ (―Thông tấn ngữ văn Trung Quốc‖, số 4, 1984) của học giả Lý Trí Trạch v.v

Tìm hiểu nguồn gốc thành ngữ là việc hết sức quan trọng để nắm bắt ý nghĩa của thành ngữ và hiểu được quá trình diễn biến và phát triển của nó Người ta thường dựa vào các sách vở cổ xưa để tìm hiểu nguồn gốc thành ngữ, nhưng vì sách cổ cũng nhiều vô cùng nên xuất xứ từ sách vở cũng chưa hẳn là câu trả lời đúng về nguồn gốc thật sự của các thành ngữ Để giải quyết căn bản vấn đề nguồn gốc của thành ngữ, học giả Hàn Trần Kỳ đã nêu

ra ý kiến rất có giá trị trong bài “Tâm đắc của ―Từ điển thành ngữ tiếng

Hán‖‖ (―Học báo Học viện Sư phạm Từ Châu‖, số 2, 1983) Tác giả cho

rằng: “Nếu tổ chức nhân lực với quy mô lớn để nghiên cứu những thành ngữ

trong các sách cổ như ―Thi kinh‖, ―Tả truyện‖, ―Chiến quốc sách‖…thì

những vấn đề về nguồn gốc của thành ngữ mới được giải quyết thỏa đáng.” Điều đáng mừng là, mấy năm gần đây đã dần dần xuất hiện một số bài viết khảo sát nguồn gốc thành ngữ Hán dựa trên các tác phẩm tiếng Hán cổ đại

theo hướng mà ông Hàn Trần Kỳ đề xướng, ví dụ như: ― ―Sử ký‖ và thành

ngữ tiếng Hán‖ (―Học báo Đại học Nam Kinh‖, số 2, 1983) của học giả

Trang 11

Hoàng Mậu Di, ―Bàn về thành ngữ trong ―Luận ngữ‖ ‖ (―Học báo Cao đẳng

Sự phạm Ích Dương‖, số 3, 1983) của Thang Khả Kính, ―Bàn qua thành ngữ trong ―Mạnh Tử‖ ‖ (―Dạy học và nghiên cứu ngữ văn‖, số 3, 1983) của

Trương Mẫn v.v…

Các công trình nghiên cứu lịch đại về thành ngữ cũng chú ý đến sự phát triển và biến đổi của thành ngữ tiếng Hán hiện đại ở giai đoạn từ sau khi giải phóng (1949) trở lại đây Điều này đã được trình bày khá tỉ mỉ trong bài

viết ―Sự hình thành và phát triển của thành ngữ, điển cố‖ (―Học báo Đại học

Trung Sơn‖, số 2, 1980) của Phan Doãn Trung Tác giả cho rằng sự phát triển

mới của thành ngữ tiếng Hán trong thời kì này chủ yếu được thể hiện trên ba mặt: thứ nhất là thành ngữ mới được nảy sinh với số lượng lớn; thứ hai là bộ phận thành ngữ điển cố cũ có thêm được những ý nghĩa mới; thứ ba là bộ phận thành ngữ có sự phát triển mới về cấu trúc đang dần dần đột phá cấu trúc

cũ, hình thành cấu trúc mới Sự phát triển và biến đổi của thành ngữ tiếng Hán trong thời kì hiện đại vẫn còn đang tiếp diễn và cũng đang chờ đợi các nghiên cứu tiếp theo

1.1.1.2 Xu hướng nghiên cứu đồng đại

Việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán theo hướng đồng đại chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu về ý nghĩa của các thành ngữ Thành ngữ tiếng Hán hết sức phong phú đa dạng, cho nên trong đó tất nhiên tồn tại không ít những

thành ngữ gần nghĩa Trong chuyên khảo ―Minh định thành ngữ‖ (Nxb Khoa

học Xã hội Trung Quốc, 1979), Nghi Bảo Nguyên đã so sánh và phân biệt 175 nhóm thành ngữ với tổng cộng 373 thành ngữ Tác giả đã sưu tập rất nhiều thí

dụ cách dùng quy phạm trong các tác phẩm văn học hiện đại và đương đại, lấy ý nghĩa làm chính, kết hợp ngữ nghĩa, sắc thái, cách dùng mà phân tích và phân loại Có thể nói đó là một công trình có ý nghĩa mở đầu cho việc nghiên cứu các thành ngữ tiếng Hán theo hướng đồng đại

Trong bài viết ―Bàn qua việc giải thích ý nghĩa của thành ngữ‖ (―Học

báo Đại học Tô Châu‖, số 2, 1984), khi giải thích ý nghĩa của bộ phận thành

Trang 12

ngữ trong từ điển thành ngữ, tác giả Thái Kính Hạo đã chỉ rõ: “Nghiên cứu ý nghĩa của thành ngữ, thứ nhất, phải chú ý đến tính thời đại về ý nghĩa của thành ngữ; thứ hai, phải để ý sự vay mượn của chữ; thứ ba, phải để ý một số hiện tượng ngữ pháp đặc biệt.” Vì phần lớn thành ngữ có xuất xứ từ điển cố lịch sử trong các thời đại lịch sử khác nhau, việc nhấn mạnh những nguyên tắc vừa dễ bị sơ suất vừa khó nắm bắt trong việc giải thích ý nghĩa thành ngữ

là điều rất có ý nghĩa

Bài viết ―Một số vấn đề về việc biểu hiện từ tính trong việc giải thích ý

nghĩa thành ngữ tiếng Hán‖ (―Thông tấn Ngữ văn Trung Quốc‖, số 5, 1980)

của Tôn Lương Minh đã chỉ rõ việc giải thích ý nghĩa của thành ngữ nên biểu

hiện từ tính của thành ngữ một cách chính xác Bài viết ―Cũng bàn về vấn đề

biểu hiện từ tính trong việc giải thích ý nghĩa thành ngữ tiếng Hán‖ (―Thông tấn ngữ văn Trung Quốc‖, năm 1982, số 6) của Chuyết Tác đã liệt kê bộ phận

thành ngữ có hai từ tính, nhấn mạnh tính tất yếu của việc biểu hiện từ tính trong việc giải thích ý nghĩa thành ngữ với hai góc độ ý nghĩa từ tố và cấu

trúc ngữ pháp Còn trong bài viết ―Quan hệ giữa ý nghĩa và ―ngữ tính‖của

thục ngữ ‖ (―Nghiên cứu Thư từ‖, năm 1983, số 3), Trương Tông Hoa lại một

lần nữa nêu ra một cách toàn diện: “Trong khi giải thích ý nghĩa thục ngữ, muốn phản ánh một cách chính xác ngữ tính của thục ngữ, thì bắt buộc phải kết hợp ba thứ là nội dung ngữ tố, hình thức kết cấu và chức năng cú pháp của

từ cần phân tích” Việc chú trọng đến từ tính trong khi giải thích ý nghĩa của thành ngữ rất có ích cho việc giải thích ý nghĩa thành ngữ một cách khoa học hơn, là sự phản ánh của việc nghiên cứu ý nghĩa thành ngữ một cách sâu rộng hơn

Ngoài ra, những năm gần đây, giới ngôn ngữ học đã đẩy mạnh sự nghiên cứu đối chiếu giữa thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ của ngôn ngữ dân tộc

khác, chẳng hạn trong bài viết ―Quan hệ giữa thành ngữ và môi trường tự

nhiên, truyền thống văn hóa và đặc trưng ngôn ngữ của dân tộc‖ (―Ngữ văn Trung Quốc‖, số 2, 1979), Hướng Quang Trung đã có so sánh thành ngữ tiếng

Trang 13

Hán với thành ngữ tiếng Anh và tiếng Nga, chỉ ra quan hệ nội tại giữa thành ngữ và môi trườg tự nhiên, truyền thống văn hóa và đặc trưng ngôn ngữ của dân tộc, bản sắc phong cách dân tộc riêng biệt của thành ngữ tiếng Hán Các

bài viết ―Thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt‖ (Nxb Dạy học và Nghiên cứu Ngoại ngữ, 1982) của Trần Văn Bác và ―Bàn về vấn đề dịch

thành ngữ tiếng Hán sang tiếng Inđô-nê-xia‖ (―Tập luận văn Nghiên cứu Phương Đông‖, số 4, 1983) của Tôn Viễn Chí đã lần lượt nghiên cứu về việc

dịch thành ngữ tiếng Hán sang tiếng Anh và tiếng Inđô-nê-xia Những bài viết này không những làm cho mọi người có thể hiểu một cách toàn diện hơn về đặc tính dân tộc của thành ngữ tiếng Hán, mà còn mở rộng hơn con đường nghiên cứu đồng đại của thành ngữ tiếng Hán

1.1.1.3 Các xu hướng nghiên cứu khác của thành ngữ tiếng Hán

Ngoài hai hướng nghiên cứu chính trên đây, còn có nhiều hướng nghiên cứu khác về thành ngữ tiếng Hán đang ngày càng phát triển sâu rộng hơn, thể

hiện qua các công trình: ―Thành ngữ‖ (Nxb Nhân dân Nội Mông Cổ, 1978) của Mã Quốc Phàm, ―Nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán‖ (Nxb Nhân dân Tứ Xuyên, 1979) của Sử Thức và ―Bàn qua những kiến thức về thành ngữ‖ (Nxb Bắc Kinh, 1980) của Hứa Triệu Bản và ―Khái quát về thành ngữ‖ (Nxb Nhân

dân Hồ Bắc, 1982) của Hướng Quang Trung Các công trình này đều là những chuyên khảo lí luận được giới nghiên cứu đánh giá cao, đã khái quát được những quy luật chung của thành ngữ tiếng Hán

Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán từ

nhiều góc độ khác nhau: Nghiên cứu về ngữ âm thành ngữ tiếng Hán có ―Hán

ngữ và bằng trắc‖(―Thông tấn Ngữ văn Trung Quốc‖, số 6, 1983) của Lưu

Quân Kiệt Nghiên cứu từ góc độ ngữ pháp, có―Việc linh hoạt vận dụng từ

loại trong thành ngữ‖ (―Học báo Trường cao đẳng Sư phạm Khắc Sơn‖, số 3,

1984) của Lưu Trị Bình Nghiên cứu từ góc độ hình thức cấu thành có ―Bàn

về những thành ngữ cấu thành bởi những từ tố đồng nghĩa‖ (―Dạy học ngữ

Trang 14

văn trung học‖, số 1, 1980) của Trần Lưu Luân, ―Thành ngữ Biền thể—một đội ngũ dị quân trong thành ngữ‖ (―Học tập ngữ văn‖, số 11, 1982) của Ngô

Việt v.v Nghiên cứu từ góc độ tu từ thì có ―Tu từ của thành ngữ‖(―Học báo

Học viện Sư phạm Hán Trung‖, số 2, 1983) của Chu Dị Văn, Mã Lâm

Phương, ―Bàn qua những hiện tượng hỗ văn trong thành ngữ‖ (―Học tập tu

từ‖, số 3, 1984) của Vương Tả v.v…Nghiên cứu từ góc độ ngữ dụng thì có

―Linh hoạt vận dụng thành ngữ‖ (―Dạy học Ngữ văn Trung học‖ số 12, 1980)

của Nghi Bảo Nguyên v.v…

Ngoài ra, việc biên soạn từ điển thành ngữ tiếng Hán cũng đã thể hiện tính đa dạng phong phú và đã giành được thành tích đáng mừng, chủ yếu được thể hiện ở 3 mặt sau đây: 1, Từ điển cùng tiêu đề cũng có nhiều bản do những người khác nhau chủ biên và do nhiều nhà xuất bản khác nhau xuất

bản, ví dụ chỉ riêng ―Đại từ điển thành ngữ Trung Hoa‖ thì có bản do Nhiệm

Siêu Kỳ chủ biên, Nxb Thư từ Hồ Bắc xuất bản, tháng 5 năm 2006; có bản do Trình Chí Cường chủ biên, Nxb Đại bách khoa Toàn thư Trung Quốc xuất bản vào tháng 10 năm 2004 và tháng 9 năm 2003; có bản do Nhóm biên soạn

―Đại từ điển thành ngữ Trung Hoa‖ biên soạn, Nxb Đại học Diên biên xuất

bản, tháng 4 năm 2004; có bản do Tôn Duyệt chủ biên, Nxb Nhật báo Nhân

dân xuất bản, tháng 3 năm 2006…―Từ điển thành ngữ tiếng Hán‖ có bản do nhóm biên soạn “Từ điển thành ngữ tiếng Hán‖ biên soạn, do Nxb Giáo dục

Thượng Hải xuất bản; có bản do Hà Vĩ Ngư chủ biên, do Nxb Giáo dục Thượng Hải xuất bản; còn có bản do Khoa Trung văn trường Đại học Sự phạm Cam Túc biên soạn, do Nxb Giáo dục Thượng Hải xuất bản… 2, Cùng

một cuốn từ điển được tái bản nhiều lần, ví dụ: riêng ―Từ điển thành ngữ

tiếng Hán‖ (Nxb Giáo dục Thượng Hải, do nhóm biên soạn Từ điển thành

ngữ tiếng Hán biên soạn) được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1978 và được tái bản vào năm 1983 3, Còn có một số từ điển chuyên dành cho đối tượng

nhất định, ví dụ―Từ điển đa chức năng thành ngữ tiếng Hán‖(Lâm Kiết Khải

chủ biên, Tập đoàn Xuất bản Tứ Xuyên, Nxb Nhân dân Tứ Xuyên, 2005),

Trang 15

―Từ điển toàn giải thành ngữ đa chức năng‖ (Cơ Trung Huân chủ biên, Nxb

Thanh niên Trung Quốc, 2006) và ―Từ điển Đa chức năng phân loại thành

ngữ chuyên dành cho học sinh‖… là những từ điển thành ngữ chuyên dành

cho học sinh Trung học cơ sở, phổ thông trung học

Các bài viết, chuyên khảo và các cuốn từ điển trên đây đều đã kế thừa thành quả nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học tiền bối, ngược lại, họ cũng đã cung cấp được những tài liệu quý báu cho việc dạy học và nghiên cứu thành ngữ, đã đặt nền móng vững chắc cho việc nghiên cứu thành ngữ sâu hơn nữa

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thành ngữ con số trong tiếng Hán và tiếng Việt

Vì thành ngữ có tính hoàn chỉnh, nên phần lớn công trình chỉ chú trọng nghiên cứu ý nghĩa chức năng của thành ngữ, ít khi đề cập đến ý nghĩa và chức năng của từng thành tố trong thành ngữ, nhất là những con số nằm trong thành ngữ, chỉ có lẻ tẻ mấy bài viết đề cập đến con số trong thành ngữ Bài

báo ―Nghĩa trừu tượng của con số trong thành ngữ‖ (―Ngữ văn Trung Quốc‖,

số 6, 1980) của Hoàng Nhạc Châu có thể coi là công trình sớm nhất nghiên cứu về con số trong thành ngữ tiếng Hán Trong bài báo này tác giả đã phân tích tỉ mỉ ý nghĩa biểu trưng của các con số trong thành ngữ khi dùng riêng hoặc dùng chung với con số khác, giúp ích cho việc hiểu sâu hơn về ý nghĩa

và cấu trúc của thành ngữ tiếng Hán; Ngoài ra, còn có thể kể đến một số bài

viết khác, chẳng hạn: trong bài viết ―Bàn qua con số trong thành ngữ tiếng

Hán‖(―Dạy học và bổ túc‖ trường Cao đẳng Sư phạm Chấn Giang, số 3

1984), Hàn Trần Kỳ đã trình bày những quy luật cơ bản của con số trong

thành ngữ tiếng Hán Bài viết ―Con số trong Hán ngữ‖ (http://www.tas.org.cn 10/9/2007) của Dương Bỉnh Chính nói về vấn đề dịch thuật thành ngữ con số giữa tiếng Hán và tiếng Anh Bài viết ―Tìm hiểu về

con số trong thành ngữ - Bàn qua đặc điểm tu từ của con số trong thành ngữ tiếng Hán‖ (http://www.lxyzbx.qdedu.net 2005) của Cát Tinh đã giới thiệu

Trang 16

những đặc điểm tu từ của con số trong thành ngữ tiếng Hán ―Con số và thành

ngữ tiếng Hán‖ - Luận văn thạc sĩ của An Mỹ Trân (người Nhật Bản) trường

Đại học Sư phạm Thiên Tân, tháng 5 năm 2005, đề cập tương đối tỉ mỉ những quy luật của con số trong thành ngữ tiếng Hán và quan hệ giữa con số, thành ngữ và dân tộc Hán

Trong tiếng Việt, cũng có một số công trình nghiên cứu về thành ngữ

con số, ví dụ luận văn thạc sĩ ngôn ngữ ―Khảo sát thành ngữ có yếu tố chỉ

con số trong sự đối chiếu với thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ con số‖ (2001)

của Giang Thị Tám, có so sánh thành ngữ con số giữa tiếng Hán và tiếng Việt nhưng trên một số lượng tư liệu hạn chế và không đề cập đến vấn đề chuyển dịch Những điểm khác biệt giữa luận văn của Giang Thị Tám và luận văn này chúng tôi đã trình bày ở chương 1

1.1.3 Tình hình nghiên cứu dịch thuật Hán - Việt

Trung Quốc và Việt Nam sông nước liền một dải Từ xa xưa, hai nước

đã có sự giao lưu mật thiết về chính trị, kinh tế, văn hóa…Vì ngôn ngữ khác nhau, nhân dân hai dân tộc cũng như hai nhà nước ở các thời đại đều phải thông qua dịch thuật để trao đổi tư tưởng và giao lưu về kinh tế, văn hóa Dịch thuật Hán – Việt đã xuất hiện hàng ngàn năm nay và ngày càng được coi trọng và phát triển nhanh chóng Những năm gần đây, việc dịch thuật Hán –Việt (và Việt – Hán) đã được nhiều nhà ngôn ngữ học Trung Quốc và Việt Nam chú ý nghiên cứu

Ở Trung Quốc, cuốn ―Giáo trình dịch thuật Việt - Hán‖ (Triệu Ngọc

Lan , 2002) là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về lí luận và thực tiễn dịch thuật giữa Việt – Hán, nhưng chủ yếu nói về dịch thuật từ tiếng

Việt dịch sang tiếng Hán Cuốn ―Kỹ xảo dịch thuật Hán-Việt thực dụng‖

(Lương Viễn, Ôn Nhật Hào, 2005) là cuốn sách sớm nhất nghiên cứu một cách toàn diện về lí luận và thực tiễn giữa Hán – Việt, đã đặt nền móng cho việc dạy học và nghiên cữu dịch thuật giữa Hán – Việt Đặc biệt, trong cuốn

Trang 17

sách này, có bài tựa ―Lược sử dịch thuật Hán – Việt‖ của GS TS Phạm Hồng

Quý đã trình bày rất tỉ mỉ tình hình dịch thuật Hán – Việt từ trước công nguyên trở lại đây, cung cấp những tài liệu tham khảo rất có giá trị cho việc

nghiên cứu dịch thuật Hán – Việt Bài viết ―Lịch sử và hiện trạng của dịch

thuật chuyên ngành Hán – Việt‖ 〔49, tr 66-70〕của Lưu Chí Cường cũng đã

giới thiệu khá tỉ mỉ sự phát triển của việc dịch thuật Hán – Việt ở Trung Quốc Ngoài ra, nhiều luận văn cử nhân, thạc sĩ, luận án tiến sĩ của các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Trung Quốc và Việt Nam cũng ít nhiều

đề cấp đến dịch thuật Hán – Việt

Thành ngữ tiếng Hán nói chung và thành ngữ con số tiếng Hán nói riêng

đã được nghiên cứu khá nhiều và đã có được những thành tựu nhất định trên các hướng tiếp cận đồng đại và lịch đại Tuy nhiên, việc nghiên cứu đối chiếu

và dịch thuật các thành ngữ con số tiếng Hán trong mối liên hệ với các thành ngữ tương tự của tiếng Việt thì hầu như chưa có công trình nào đề cập đến

Kế thừa những thành quả nghiên cứu về thành ngữ, thành ngữ con số trong

tiếng Hán nêu trên, chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: ―Khảo sát thành ngữ

có con số trong tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt‖, nhằm

mục đích giải mã các thành ngữ có con số của tiếng Hán và tìm ra cách thức chuyển dịch các thành ngữ con số từ tiếng Hán sang tiếng Việt

1.2 Thành ngữ: khái niệm, nguồn gốc và đặc trƣng

1.2.1 Khái niệm thành ngữ

―Hán ngữ hiện đại‖ (2002) do Trương Bân chủ biên định nghĩa khái

niệm thành ngữ như sau: “Thành ngữ là một loại cụm từ cố định được người dân quen dùng từ lâu đời, có ý nghĩa trọn vẹn, kết cấu cố định, cấu trúc đơn giản, và được sử dụng một cách hoàn chỉnh.”

―Đại từ điển Bách khoa Trung Quốc‖ (1990) định nghĩa cho thành

ngữ là “Một loại thục ngữ, là một loại cụm từ cố định, lời gọn mà ý sâu, được nhân dân quen dùng từ đời này sang đời khác.”

Trang 18

―Từ điển Hán ngữ hiện đại‖ (Nhóm biên soạn từ điển Sở Nghiên cứu

ngôn ngữ của Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội Trung Quốc, Quán ấn thư Thương vụ, 2005) có giải thích: Thành ngữ là một loại nhóm từ hoặc cụm từ

cố định có kết cấu đơn giản, ý nghĩa cô đọng được người dân quen dùng từ lâu đời

Nói chung, thành ngữ tiếng Hán thường do bốn âm tiết cấu thành, lời thì ngắn gọn, nhưng ý nghĩa thì sâu xa Nghĩa của một số thành ngữ có thể

được hiểu từ nghĩa hiển ngôn của các yếu tố cấu thành, ví dụ: ―心满意 足‖(Tâm mãn ý túc—vừa lòng thoả ý, hả lòng hả dạ), ―大显身手‖(Đại hiển

thân thủ—trổ tài, thi đua tài năng) Cũng có những thành ngữ phải biết nguồn

gốc của nó mới có thể hiểu được ý nghĩa hiện đại của nó, ví dụ: ―对牛弹

‖(Đối ngưu đàn cầm—đàn gảy tai trâu, dùng để chế giễu những người

nghe không hiểu người khác nói gì với mình, cũng dùng để chế giễu những

người nói chuyện không nhằm đúng đối tượng), ―画蛇添足‖(họa xà thiêm

túc—khi vẽ con rắn lại thêm chân cho rắn, ví von làm việc quá thừa, không

những không có tác dụng, ngược lại còn làm hỏng sự việc) …

Còn các nhà ngôn ngữ học của Việt Nam thì quan niệm về thành ngữ như thế nào?

Cuốn ―Đại từ điển tiếng Việt‖ (Nxb Văn hóa Thông tin, năm 1998)

định nghĩa thành ngữ là: “Tập hợp từ cố định quen dùng, có nghĩa định danh, gọi tên sự vật, thường không thể suy ra từ nghĩa của từng yếu tố cấu thành, được lưu truyền trong văn chương và dân gian.”

Cuốn ―Từ vựng học tiếng Việt hiện đại‖ (Nguyễn Văn Tu, 1976) định

nghĩa: “Thành ngữ là cụm từ cố định, các thành phần trong đó đã mất đi tính độc lập, sau khi kết hợp tạo thành một chỉnh thể cố định Ý nghĩa của thành ngữ không thể đơn giản suy ra từ các yếu tố cấu thành.”

Trong cuốn ―Từ vựng học tiếng Việt‖ (Nguyễn Thiện Giáp, 1990),

cũng định nghĩa: “Thành ngữ là cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm.”

Trang 19

Kế thừa ý kiến của các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc và Việt Nam, chúng tôi cho rằng: Thành ngữ là những nhóm từ hoặc cụm từ cố định có ý nghĩa hoàn chỉnh, hình thức ngắn gọn, kết cấu định hình và được truyền lại và

sử dụng từ đời này sang đời khác Ví dụ thành ngữ ―mẹ tròn con vuông‖, là

cụm từ cố định bốn âm tiết, không thể xen vào thành tố gì nữa, cũng không thể đảo ngược thứ tự hai vế trước sau thành “con vuông mẹ tròn”; có nghĩa hoàn chỉnh là sau khi người phụ nữ sinh con xong, mẹ con đều bình an

1.2.2 Nguồn gốc của thành ngữ tiếng Hán

Các thành ngữ trong tiếng Hán có nguồn gốc khác nhau, nhưng có thể qui thành mấy loại chủ yếu sau đây:

1.2.2.1 Thành ngữ có nguồn gốc từ truyện cổ tích hoặc thần thoại

Có một số thành ngữ bắt nguồn từ truyện cổ tích thần thoại, ví dụ: thành

ngữ ―画龙点睛‖ (họa long điểm tinh) bắt nguồn từ ―Ký danh họa lịch đại‖

của Trương Nhan Viễn đời Đường rằng: Lương Vũ đế ưa thích sự trang trí chùa chiền, nhiều lần cho một người họ Trương vẽ các bức tranh trên tường Trương vẽ được bốn con rồng màu trắng không có mắt trên tường của chùa

An Lạc Kim Linh và thường xuyên bảo người ta rằng: nếu vẽ con mắt cho rồng thì rồng sẽ bay đi Mọi người thấy hoang mang, không tin, nên cố tình bảo vẽ thử Trương vừa vẽ con mắt cho hai con rồng xong, bỗng nhiên, sấm sét vỡ tường, hai con rồng cưỡi mây lướt gió bay đi, còn hai con rồng chưa vẽ

con mắt thì vẫn còn Thành ngữ ―họa long điểm tinh‖ nay được dùng khi nói

chuyện hoặc viết văn, người nói (viết) sử dụng những từ ngữ hoặc câu ngắn gọn đúng chỗ, sẽ làm cho nội dung càng thêm sinh động, sâu sắc; Thành ngữ

―愚公移山‖ (ngu công di sơn) có xuất xứ từ truyện ―Liệt Tử· Thang vấn‖,

kể rằng: Ngày xưa, có một người tên là Ngu Công tuổi hơn chín mươi Trước mặt nhà Ngu Công có hai ngọn núi to là Thái Hàng Sơn và Vương Ốc Sơn Khổ tại hai ngọn núi này, Ngu Công mỗi lần ra ngoài làm việc đều phải đi đường vòng qua hai ngọn núi này Ngu Công quyết dịnh chuyển đi hai ngọn

Trang 20

núi này Thế là Ngu Công dẫn tất cả người nhà và con cháu đục đá, đào đất, gánh đi đổ vào biển Bột Hải Thần núi được biết rất cảm động với tinh thần của Ngu Công, bèn báo cáo với Ngọc Đế Ngọc Đế được biết cũng rất cảm động, bèn sai hai con trai của Khoa Nga Thị (thần đại lực của trời) xuống trần gian, mỗi người vác một ngọn núi đi, một ngọn núi được chuyển đến phía đông Súc Châu, một ngọn núi được chuyển đến phía Nam Ung Châu Thành

ngữ ―Ngu công di sơn‖ nay có nghĩa hàm ý rằng làm việc phải có quyết tâm, hằng tâm, không sợ khó khăn; Thành ngữ ―杞人忧天‖ (Khởi nhân ưu thiên—

buồn vô duyên cớ, lo bò trắng răng, khéo lo trời sập) bắt nguồn từ truyện

―Liệt Tử·Thiên Thụy‖ rằng: đời Chu Triều, Khởi Quốc có một người suốt

ngày lo sợ trời long đất lở, sợ tự mình sẽ không có chỗ trốn được, kể cả

chuyện ăn ngủ hàng ngày cũng không yên tâm ―Khởi nhân‖ tức là một người của Khởi Quốc, ―ưu‖ tức là lo sợ, nghĩa bóng của thành ngữ là ví von sự lo

sợ vô duyên cớ, chẳng cần thiết Ngoài ra còn có nhiều thành ngữ khác cũng

có xuất xứ từ các truyện cổ tích hoặc thần thoại như ―夸父追日‖(khoa phụ truy nhật), “精卫填海”(tinh vệ điền hải), “叶公好龙”(diệp công hiếu long),

“画蛇添足”(họa xà thiêm túc)

1.2.2.2 Thành ngữ có nguồn gốc từ các sự kiện lịch sử

Có một số thành ngữ lại bắt nguồn từ sự kiện lịch sử, chẳng hạn, thành

ngữ ―完璧归赵‖ (hoàn bích quy triệu) có nguồn gốc từ ―Sử ký·Liệt truyện Lạn Tương Như‖ của Tư Mã Thiên đời Hán, kể rằng: Chiêu Vương của nước

Tần nghe nói Huệ Văn Vương của nước Triệu được một viên ngọc quý mà thế gian hiếm có, bèn sai người báo với Triệu Vương muốn dùng mười lăm thành trì đổi được viên ngọc quý này Triệu Vương sợ Tần Vương lừa, không muốn biếu ngọc, nhưng lại sợ Tần Vương vin cớ này mà xâm lược nước Triệu, bèn sai Lạn Tương Như đi biếu ngọc Trước khi đi, Lạn Tương Như hứa với Triệu Vương rằng: Nếu nước Tần giao cho nước Triệu mười lăm thành trì thì ông sẽ

để lại viên ngọc này ở nước Tần, nếu không ông sẽ trả lại viên ngọc một cách nguyên xi cho nước Triệu Khi Lạn Tương Như dâng ngọc cho Tần Vương,

Trang 21

Tần Vương chỉ ngắm đi ngắm lại viên ngọc mà không nói chuyện giao thành trì Lạn Tương Như bèn mượn cớ chỉ cho Tần Vương vết nhỏ trên ngọc mà lấy lại ngọc Lấy được ngọc, Lạn Tương Như tức giận quát Tần Vương không

có lòng chân thành giao thành, nếu Tần Vương cố mà đến gần, ông sẽ cùng viên ngọc đâm vào cột cho vỡ nát Tần Vương sợ Lạn Tương Như đâm thật, liền xin lỗi với Lạn Tương Như và đưa bản đồ ra, vạch ra mười lăm ngôi thành Lạn Tương Như biết Tần Vương chỉ ra vẻ làm thế thôi, không thể nào giao thành thật sự, nên yêu cầu Tần Vương phải chay tịnh năm ngày và làm lễ long trọng nhất trên triều đình mới có thể biếu ngọc Tần Vương buộc phải đồng ý Lạn Tương Như đoán rằng Tần Vương tuy đáp ứng ăn chay năm ngày mới được ngọc, nhưng đến lúc đó sẽ không giữ lời mà giao mười lăm ngôi thành cho nước Triệu, bèn sai một người tùy tùng cải trang thành người nhà mang theo viên ngọc quý trốn về nước Triệu, để thực hiện lời hứa “hoàn bích quy triệu” của mình Tần Vương biết mình bị lừa, hết sức tức giận, nhưng lại nghĩ tuy có thể giết Lạn Tương Như cũng không thể lấy lại ngọc nữa, ngược lại sẽ làm quan hệ hai nước xấu đi Thế là Tần Vương thôi, thết Lạn Tương

Như một bữa, sau đó bảo bộ hạ đưa Lạn Tương Như về Thành ngữ ―完璧归

‖ (hoàn bích quy triệu) nay chỉ việc trả lại một vật gì đó cho người chủ một

cách hoàn chỉnh, nguyên xi Thành ngữ ―孟母三迁‖ (mạnh mẫu tam thiên)

bắt nguồn từ ―Truyện Liệt nữ cổ·Mụ nghi‖, chỉ người mẹ của Mạnh Kha

liên tục chuyển nhà ba lần nhằm mục đích chọn được những môi trường tốt để giáo dục Mạnh Kha Truyện kể rằng: Lúc Mạnh Tử còn bé, nhà gần nghĩa trang nên Mạnh Tử thường cùng những trẻ con gần đó đến chơi và học được việc tang lễ Mẹ của Mạnh Tử nói chỗ này không thể cho Mạnh Tử ở được, bèn chuyển nhà đến một chỗ gần chợ Ở đây, Mạnh Tử lại học được cách giết lợn bán thịt của người hàng thịt ở chợ Người mẹ thấy chỗ này cũng không thể cho Mạnh Tử ở được, lại chuyển nhà đến một chỗ gần trường Ở đây, Mạnh Tử học được tất cả những cái được dạy trong trường, khi chơi với học trò trong trường, Mạnh Tử cũng được biết nên tuân theo quy tắc như thế nào,

Trang 22

lễ phép với người khác như thế nào Lúc này người mẹ của Mạnh Tử mới yên tâm: thế mới là chỗ ở thích hợp cho Mạnh Tử

Nhiều thành ngữ tiếng Hán khác cũng có nguồn gốc từ các sự kiện lịch

(thoái tị tam xá), 请君入瓮 (thỉnh quân nhập ung) …

1.2.2.3 Thành ngữ bắt nguồn từ những câu chuyện có thật trong lịch

sử Có một số thành ngữ tiếng Hán bắt nguồn từ những câu chuyện có thật

trong lịch sử Trung Quốc Những câu chuyện này có người thật chuyện thật, chẳng qua những người này chuyện này không quan trọng lắm nên không được lưu danh trong lịch sử Những thành ngữ này khá thú vị, có giá trị tu từ tốt, nên cũng được người dân sử dụng một cách rộng rãi Ví dụ , thành ngữ

“胸有成竹”(hung hữu thành trúc) có liên quan đến một họa sĩ thời Tống tên

là Văn Đồng, tự Khả Dữ, rất giỏi vẽ tre Lúc đó có một nhà thơ làm thơ rằng:

“Khả Dữ họa trúc thì, hung trung hữu thành trúc.” (Nghĩa là: khi Khả Dữ vẽ

tre, trong lòng đã có những hình ảnh tre sẵn rồi.) Sau đó thì ―hung hữu thành

trúc‖ trở thành một thành ngữ và được sử dụng rộng rãi, biểu thị xử lý một sự

việc gì đó đã có ý định sẵn, đầy lòng tin Những thành ngữ tương tự còn có

“满城风雨”(Mãn thành phong vũ), “抱薪救火”(bão tân cứu hỏa), “门 可罗雀”(môn khả la tước) v.v…

1.2.2.4 Thành ngữ bắt nguồn từ thơ văn cổ điển

Có một số thành ngữ bắt nguồn từ thơ ca, văn chương cổ điển của Trung Hoa xưa Trong đó có không ít thành ngữ là trực tiếp vận dụng từ hình thức tứ

ngôn thời xưa, chẳng hạn, những thành ngữ có nguồn gốc từ ―Tăng tử‖ như

“朝三暮四”(triêu tam mộ tứ), “不近人情”(bất cận nhân tình),“分庭抗 礼”(phân đình kháng lễ) v.v…tổng cộng có hơn 170 thành ngữ; những thành

(tòng tâm sở dục),因材施教 (nhân tài thi giáo),“不耻下问”(bất sỉ hạ vấn),

“见利忘义”(kiến lợi vong nghĩa) v.v…tất cả có hơn 400 thành ngữ Cũng có

những thành ngữ không phải sử dụng trực tiếp lời nói văn thơ, mà là trích ra

Trang 23

hoặc là thay đổi chút ít để dùng, ví dụ thành ngữ“舍生取义”(xả sinh thủ

nghĩa), trong ―Mạnh Tử·Cáo Tử‖ có nói: ―Sinh, diệc ngã sở dục Nghĩa, diệc ngã sở dục Nhị giả bất khả được kiêm, xả sinh nhi thủ nghĩa giả dã.‖

Thế là người đời sau lấy bốn chữ ―舍生取义‖(xả sinh thủ nghĩa) trong hai

câu trên để làm thành ngữ, biểu thị những phẩm chất đạo đức tốt đẹp thà hy sinh quên mình cũng phải giữ gìn chính nghĩa

1.2.2.5 Thành ngữ có nguồn gốc từ tục ngữ, ngạn ngữ

Có một số thành ngữ bắt nguồn từ tục ngữ và ngạn ngữ mà người dân thường truyền miệng trong dân gian Ví dụ thành ngữ“以卵投石”(dĩ noãn

đầu thạch) bắt nguồn từ tục ngữ ―cầm trứng chạm vào đá‖ Ngoài ra còn có

các thành ngữ:“亡羊补牢”(vong dương bổ lao),“投鼠忌器”(đầu thử kị khí),

“利令智昏”(lợi lệnh trí hôn) v.v…

1.2.2.6 Thành ngữ bắt nguồn từ cuộc sống thường ngày và lao động sản xuất

Có một số thành ngữ bắt nguồn từ kinh nghiệm cuộc sống thường ngày và lao động sản xuất, ví dụ các thành ngữ “夜半三更”(dạ bán tam canh), ―朝令夕 改‖(triêu lệnh tịch cải), ―大海捞针‖(đại hải lao châm), ―另起炉灶‖(lánh

khởi lô táo), ―指桑骂槐‖(chỉ tang mạ hòe)v.v…

1.2.2.7 Thành ngữ ngoại lai

Trong tiếng Hán còn có một số thành ngữ được vay mượn từ Phật Kinh hoặc ngụ ngôn nước ngoài Đời Ngụy, Tấn, Lục Triều, Tùy, Đường, người Trung Quốc đã dịch rất nhiều Phật Kinh lúc đó đang thịnh hành ở Tây Vực và

Ấn Độ, sau đó có một số câu nói và điển cố trở thành thành ngữ của Trung

(dĩ nha hoàn nha), “火中取栗”(hỏa trung thủ lật) bắt nguồn từ ngụ ngôn

―Con khỉ và con mèo‖ của nước Pháp Từ đời Minh, đời Thanh trở đi, Trung

Quốc có giao lưu văn hóa với nhiều nước phương Tây, nên có một số điển cố, cách ngôn hoặc lời hay ngắn gọn của phương Tây đã trở thành thành ngữ của

Trung Quốc, ví dụ thành ngữ ―新陈代谢‖(tân trần đại tạ), ―物竞天择‖(vật

kính thiên trạch) …

Trang 24

Xét về nguồn gốc, thành ngữ tiếng Việt có những khác biệt so với thành

ngữ tiếng Hán Theo cuốn ―Thành ngữ học tiếng Việt‖ của Hoàng Văn Hành,

chúng ta được biết, bộ phận chủ yếu của hệ thống thành ngữ tiếng Việt là những đơn vị được cấu tạo từ chất liệu Việt ngữ bằng ba con đường (16, tr.40-45) như sau:

-Sử dụng thành ngữ tiếng nước ngoài dưới các hình thức khác nhau

Trong tiếng Việt, thành ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài chủ yếu là các thành ngữ gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt Những thành ngữ này bao gồm: thành ngữ vay mượn được dùng với hình thức nguyên dạng, tức dịch âm

từng chữ một, giữ nguyên hình thái, ngữ nghĩa và cấu trúc như: chí công vô tư

(志公无私), đồng cam cộng khổ(同甘共苦 ), xuất khẩu thành chương(出 口成章); thành ngữ vay mượn được dùng trong hình thức dịch bộ phận ra tiếng Việt, giữ nguyên bộ phận còn lại và cấu trúc thành ngữ gốc, ví dụ như

dịch hữu thủy hữu chung(有始有终) thành có thủy có chung; thành ngữ vay

mượn được dùng với hình thức dịch toàn bộ các yếu tố ra tiếng Việt tương

đương và giữ nguyên cấu trúc, ví dụ thành ngữ ra sống vào chết dịch từ xuất

sinh nhập tử(出生入死), đứng ngồi không yên dịch từ tọa lập bất an(坐立 不安)…thành ngữ vay mượn được dùng trong hình thức dịch nghĩa chung

của thành ngữ ra tiếng Việt, ví dụ miệng ăn núi lở được dịch từ tọa ngật sơn

không(坐吃山空) , đủ ăn đủ mặc được dịch từ phong y túc thực(丰衣足食) …

-Định danh hóa các tổ hợp từ tự do thành một cụm từ cố định, có tính

ổn định về thành phần, chặt chẽ về cấu trúc, chỉnh thể về ngữ nghĩa, ví dụ

hai bàn tay trắng, cháy nhà ra mặt chuột, áo gấm đi đêm, thừa gió bẻ măng…

- mô phỏng theo mẫu cấu trúc của thành ngữ đã có trước Ví dụ thành

ngữ chân trong chân ngoài được hình thành dựa trên cấu trúc các thành ngữ

có kiểu cấu tạo ABAC: bữa đực bữa cái, mắt trước mắt sau…Từ các thành ngữ có cấu trúc như thuộc tính B: như sét đánh, như vịt nghe sấm…đã xuất hiện các thành ngữ như: như sân khấu, như đóng kịch…Từ lối nói: nhanh như

sóc, nhanh như chảo chớp…đã nảy sinh các thành ngữ: nhanh như điện,

Trang 25

nhanh như tên lửa…từ cách nói: nhất vợ nhì trời, nhất mẹ nhì con…đã làm

xuất hiện các tổ hợp thành ngữ như: nhất thân nhì quen, nhất cự ly nhì tốc

độ…

Như vậy, so với thành ngữ tiếng Hán, nguồn gốc của thành ngữ tiếng Việt không được phong phú như của tiếng Hán, và sự khác biệt lớn nhất là thành ngữ tiếng Việt được vay mượn từ tiếng nước ngoài nhất là tiếng Hán chiếm một tỉ lệ không nhỏ, còn thành ngữ ngoại lai trong tiếng Hán thì tương đối rất ít, chỉ có một số thành ngữ thôi

1.2.3 Đặc trƣng cơ bản của thành ngữ tiếng Hán

Thành ngữ là một hình thức ngôn ngữ được mọi người thích sử dụng, chính vì nó có những đặc trưng cơ bản như sau

1.2.3.1 Được sử dụng từ đời này qua đời khác

Vì thành ngữ tiếng Hán đều là những cụm từ hoặc đoản ngữ cố định được lưu truyền từ nhiều đời trước, thường bắt nguồn từ thần thoại ngụ ngôn,

sự kiện lịch sử, câu chuyện lịch sử, thơ văn cổ xưa, tục ngữ, ngạn ngữ v.v cho nên những thành ngữ được lưu truyền đến hôm nay đều là những thành ngữ được trải qua thử thách của lịch sử, được sử dụng lâu đời Ví dụ, các thành ngữ 一日三秋(nhất nhật tam thu), 爱莫能助(ái mạc năng trợ),不可救药

(bất khả cứu dược)… đều có nguồn gốc từ ―Kinh Thư‖, các thành ngữ居安

思危(cư an tư nguy),狼子野心(lang tử dã tâm), 宾至如归(tân chí như quy)… đều xuất phát từ ―Tả Truyện‖, có lịch sử hơn hai nghìn năm

1.2.3.2 Có tính hoàn chỉnh về nghĩa

Thành ngữ tiếng Hán thường có đặc điểm là ý nghĩa hoàn chỉnh, thường

có thể diễn đạt một ý nghĩa một cách độc lập Có không ít thành ngữ không thể hiểu từ nghĩa đen hoặc nghĩa hiển ngôn, mà thường phải sử dụng nó với nghĩa bóng hoặc nghĩa hàm ẩn Ví dụ thành ngữ 风卷残云 (phong quyển tàn

vân), nghĩa hiển ngôn là gió to thổi đi những mây còn sót lại, nghĩa bóng là tiêu diệt hết sạch những cái tàn dư một cách nhanh chóng Những thành ngữ

Trang 26

có điển cố thì càng có ý nghĩa sâu sắc và hoàn chỉnh hơn, ví dụ thành ngữ入 木三分 (nhập mộc tam phân), nghĩa đen chỉ ―Vương Hy Chi viết lời chúc

trên ván chúc lễ cúng, khi người thợ khắc chữ thì phát hiện mực của chữ đã thấm vào gỗ được ba phân‖, nghĩa bóng của nó là hình dung thư pháp cao siêu, sức viết mạnh mẽ, nghĩa hàm ẩn là chỉ thảo luận, kiến giải hoặc thơ văn rất là cao siêu, độc đáo và sâu sắc

1.2.3.3 Có tính ngắn gọn về hình thức

Thành ngữ tiếng Hán thường bắt nguồn từ các loại tác phẩm cổ xưa, đã

từng được người đời sau rèn luyện, trau chuốt mà hình thành, người xưa lại

rất thích hình thức ngôn ngữ “tứ tự cách” (lời nói bốn chữ), cho nên hình thức thường có chiều hướng ngắn gọn, phần lớn thành ngữ được tạo nên bởi bốn chữ Có những thành ngữ vốn là một câu thậm chí một đoạn văn, sau đó được người đời sau cải tạo, thu gọn thành bốn chữ Ví dụ trong《诗经·国风》

―Kinh Thư· Quốc Phong‖: ―彼采萧兮。一日不见,如三秋兮‖( Bỉ thải tiêu

hề Nhất nhật bất kiến, như tam thu hề), sau đó được thu gọn thành thành ngữ

一日三秋(nhất nhật tam thu), chỉ một ngày không nhìn thấy, cứ như được ba

năm rồi, biểu thị nhớ tha thiết sau khi xa rời nhau Cứ liệu thống kê cho thấy,

trong toàn bộ thành ngữ, thành ngữ bốn chữ chiếm khoảng 90% (trang 4 ―Từ

điển thành ngữ Trung Hoa‖ , 2008) Theo thống kê thành ngữ con số được

liệt kê trong phần phụ lục, tỷ lệ số chữ của thành ngữ con số có sự phân bố

Số lượng

thành ngữ 4 1266 17 23 17 53 2 7

Tỉ lệ 0.29% 91.14% 1.22% 1.66% 1.22% 3.82% 0.14% 0.50%

Trang 27

Theo bảng thống kê tỉ lệ số chữ của thành ngữ con số trên đây, chúng ta

có thể thấy rằng, thành ngữ 4 chữ chiếm đại đa số, chiếm hơn 90%, tiếp theo

là thành ngữ có 8 chữ và thành ngữ có 8 chữ thường được tạo nên bởi hai vế 4 chữ, điều này không những liên quan đến quy luật cấu tạo, quy tắc thanh điệu của từ vựng tiếng Hán, càng chứng minh rằng sự ưa thích hình thức thơ văn truyền thống là “tứ tự cách” và quan niệm thẩm mỹ biền ngẫu, đối xứng của người Trung Quốc thời xưa

1.2.3.4 Có tính ổn định về kết cấu

Thành ngữ tiếng Hán thường do bốn chữ cấu thành, đã trở thành một chỉnh thể cố định trong quá trình sử dụng, kết cấu của nó thường không được tùy ý thay đổi, mỗi chữ trong thành ngữ cũng không được tùy ý thay đổi, ví

dụ 标新立异 (tiêu tân lập dị) không được nói thành 立异标新 (lập di tiêu

tân); 掩耳盗铃 (yểm nhĩ đạo linh) không được nói thành掩耳偷铃 (yểm nhĩ

thâu linh) Tất nhiên cũng không loại trừ có một số thành ngữ có biến thể, ví

dụ 三更半夜 (tam canh bán dạ) có biến thể là 半夜三更(bán dạ tam canh)

hoặc 深更半夜 (thâm canh bán dạ)

Cũng như thành ngữ tiếng Hán, thành ngữ tiếng Việt cũng có các đặc trưng cơ bản như tính ổn định về thành phần, tính chặt chẽ về cấu trúc, tính chỉnh thể về ngữ nghĩa… nhưng có điều là thành ngữ tiếng Việt không nhất thiết ngắn gọn như thành ngữ tiếng Hán Trong tiếng Hán, phần lớn là thành

ngữ bốn chữ, chiếm hơn 90% (trang 4 ―Từ điển thành ngữ Trung Hoa‖, 2008)

trong toàn bộ thành ngữ Còn trong tiếng Việt, thành ngữ bốn chữ chỉ là một

bộ phận nhỏ, những thành ngữ hơn bốn chữ thì quá nhiều, cho nên mãi đến bây giờ, đối với chúng ta, có khi vẫn khó mà phân biệt được giới hạn giữa thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt

Tất nhiên, ngoài những đặc trưng cơ bản nêu trên, thành ngữ tiếng Hán

và thành ngữ tiếng Việt đều còn có đặc trưng khác như tính dân tộc và có biến thể Những đặc trưng này đã được đề cập đến khá kỹ trong nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ nên chúng tôi không đi sâu tìm hiểu về các đặc trưng này

Trang 28

1.2.4 Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ tương tự trong tiếng Hán

Các đơn vị ngôn ngữ tương tự được chúng tôi nói đến ở đây chủ yếu là

tục ngữ, ngạn ngữ, yết hậu ngữ và quán ngữ Về mặt lí thuyết cũng như

thực tiễn sử dụng, thành ngữ thường bị lẫn lộn với tục ngữ, ngạn ngữ, yết hậu ngữ, quán ngữ…vì giữa chúng, nhất là giữa thành ngữ với tục ngữ, ngạn ngữ, không có giới hạn rõ ràng, thậm chí có một số thành ngữ nảy sinh từ tục ngữ, ngạn ngữ Dưới đây, chúng tôi sẽ cố gắng phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ này trong tiếng Hán

1.2.4.1 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Tục ngữ, cũng gọi là thường ngôn, lời tục Từ ―thường ngôn‖có màu sắc văn ngôn, còn từ ―lời tục‖ lại mang tính khẩu ngữ cao hơn Có nhà ngôn

ngữ cho rằng, thục ngữ Trung Quốc có thể chia thành hai loại lớn là tục ngữ

và nhã ngôn, theo đó thì thành ngữ thuộc về nhã ngôn Tục ngữ và thành ngữ đều là những hình thức ngôn ngữ được hình thành từ thói quen sử dụng ngôn ngữ của nhân dân, giữa chúng có nét tương tự nhưng cũng có sự khác biệt rõ ràng Nét tương tự là cả tục ngữ và thành ngữ đều là những ngữ đoạn cố định biểu hiện những ý nghĩa hàm xúc, cô đọng thể hiện nhận thức, kinh nghiệm, phong tục, tập quán của nhân dân, được lưu truyền từ đời này sang đời khác

Sự khác biệt giữa thành ngữ với tục ngữ thể hiện như bảng sau:

Mang tính nhã nhặn, thường được sử dụng

trong văn chương

Mang tính khẩu ngữ cao hơn, văn tự cũng mang tính đại chúng, dể hiểu

Bảng 2.2: Sự khác biệt giữa thành ngữ với tục ngữ trong tiếng Hán

Trang 29

Từ bảng trên, chúng ta có thể thấy: tục ngữ là khẩu ngữ đại chúng, lấy hình tượng cụ thể làm chủ thể Xét về hình thức, tục ngữ thường có kết cấu tương đối ổn định, có độ dài ngắn không đều, mặc dù cũng có một số tục ngữ

là bốn chữ, nhưng khi sử dụng trong thực tế có thể biến thông một cách linh hoạt; Về mặt sử dụng, tục ngữ tuy là tiếng khẩu ngữ nhưng cũng được sử dụng một cách rộng rãi trong các tác phẩm văn học Khác với tục ngữ, phần lớn thành ngữ có kết cấu 4 chữ (tứ tự cách), mặc dù cũng có một số thành ngữ

có 5 chữ trở lên; Tuy thành ngữ thuộc về nhã ngôn, có tính nhã nhặn, nhưng tùy theo trình độ giáo dục không ngừng phát triển, thành ngữ cũng thường xuyên được sử dụng trong lời nói thường ngày Vì vậy, giữa thành ngữ và tục ngữ thì có thể xuất hiện những hiện tượng đan xen, thẩm thấu lẫn nhau, ví dụ

城门失火,殃及池鱼 (Thành môn thất hỏa, ương cập trì ngư - Cổng của đô

thành bị tai nạn cháy lửa, con cá trong thành trì cũng bị tai ương (vì thời cổ người ta thường xây thành trì vây quanh đô thành để chống địch)), 雪上加霜

(tuyết thượng gia sương), 不敢越雷池一步(bất cảm việt lôi trì nhất bộ)…

vừa là thành ngữ, vừa là tục ngữ Cũng có khi tục ngữ và thành ngữ có thể chuyển hóa lẫn nhau, cùng tồn tại Ví dụ thành ngữ 以卵击石 (dĩ loãn kích

thạch) được đúc kết từ tục ngữ 鸡蛋碰石头 – đem trứng gà chọi đá); thành

ngữ 班门弄斧 (ban môn nộng phủ) được rút ngắn từ tục ngữ 鲁班门前弄大

斧 – múa rìu trước cửa nhà Lỗ Ban…Nói chung, nếu kết cấu tục ngữ hướng

về ngắn gọn chỉnh tề thì có thể trở thành thành ngữ; nếu thành ngữ được tăng thêm thành phần hình tượng hóa thì có thể trở thành tục ngữ

1.2.4.2 Phân biệt thành ngữ với ngạn ngữ

Ngạn ngữ là những câu nói đại chúng, ngắn gọn, dễ hiểu, thể hiện những chân lí khách quan, có ý nghĩa giáo dục và được lưu truyền rộng rãi trong dân

(chúng nhân thập sài hỏa diệm cao)v.v Ngạn ngữ là sự tích lũy và kết tinh trí

tuệ của một dân tộc, được ra đời trong đời sống và lao động sản xuất hàng nghìn năm nay, có nền móng quần chúng vững chắc và sức sống mạnh mẽ Ngạn ngữ hoặc nhã nhặn trang trọng, hoặc sinh động hoạt bát, đầy sức sống, không chỉ lưu truyền rộng rãi trong dân gian, mà còn được sử dụng rộng rãi

Trang 30

trong các tác phẩm văn học Nhìn từ hình thức ngôn ngữ, ngạn ngữ thường dùng từ điêu luyện, đối ngẫu ngay ngắn, cố gắng sử dụng các phương pháp tu

từ Nhìn từ gốc độ âm vần, ngạn ngữ lại giàu nhạc cảm, âm vần hài hòa, dễ đọc dễ nhớ Nói chung, ngạn ngữ có đặc trưng rõ ràng là lời ít ý nhiều, ngụ ý phong phú và ý nghĩa sâu sắc, có tính tư tưởng, tính triết lí và tính nghệ thuật Thành ngữ và ngạn ngữ có sự khác biệt qua bảng sau:

Phần lớn là cụm từ cố định; biểu thị khái

niệm thông thường; thường nhã nhặn và mang

nặng màu sắc văn bản viết, vd: 一日三秋(nhất

nhật tam thu

Thường là câu nói, ; thường biểu thị phán đoán

và suy lí; mang tính khẩu ngữ cao; thường đại chúng dễ hiểu, vd: 偷鸡不成蚀把米 – trộm

gà không được trộm ít gạo vậy

Là cụm từ cố định, số chữ cố định, thường

không thay đổi

Câu nói hoặc đoản ngữ cố định, số chữ không

cố định, có ngắn có dài

Tương đương với một từ trong ngôn ngữ Phần lớn có thể làm câu nói độc lập, hoặc độc

lập ngoài câu nói

Các thành tố hoặc thứ tự thường không thay

đổi, kết cấu định hình hóa hơn

Các thành tố hoặc thứ tự có thể thay dổi, VD:

三个臭皮匠,顶个诸葛亮 cũng có thể nói là

三个臭皮匠,胜个诸葛亮。

Có tính toàn dân Thường có tính khu vực

Bảng 2 3: Sự khác biệt giữa thành ngữ với ngạn ngữ trong tiếng Hán

1.2.4.3 Phân biệt thành ngữ với yết hậu ngữ

Yết hậu ngữ là một loại khẩu ngữ định hình được tạo nên bởi hai vế trước sau Vế trước là câu ví von hoặc ẩn dụ, giống như là câu đố; vế sau là sự giải thích cho vế trước, giống như “đáp án” của câu đố, là bộ phận quan trọng

để diễn đạt ý nghĩa Yết hậu ngữ có thể chia thành hai loại lớn là ngụ ý và hài

âm Yết hậu ngữ loại ngụ ý, vế trước là ví von, vế sau là sự giải thích cho vế

mà tìm); 快刀切豆腐——两面光 (dao sắc thái đậu phụ - hai mặt bóng)

Trang 31

Yết hậu ngữ loại hài âm, vế sau vay mượn những hiện tượng đồng âm hoặc gần âm để diễn đạt ý nghĩa, là một kiểu cách chơi chữ cùng (gần) âm khác

danh tiếng ở ngoài) Sử dụng thỏa đáng yết hậu ngữ trong văn chương hoặc

lời nói có thể làm cho ngôn ngữ hình tượng thú vị, để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc người nghe Nói chung, thành ngữ và yết hậu ngữ có thể phân biệt qua bảng sau:

Trang trọng nhã nhặn, mang nặng màu sắc văn

Bảng 2 4: Sự khác biệt giữa thành ngữ với yết hậu ngữ trong tiếng Hán

1.2.4.4 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ

Quán ngữ là một hình thức ngôn ngữ ngắn gọn định hình, diễn đạt ý nghĩa chỉnh thể, được dùng quen bởi thói quen Quán ngữ tiếng Hán thường là

“tam tự cách” (kết cấu ba chữ), ví dụ: 开夜车đi xe đêm-thức khuya, 唱高调

hát giọng cao – cố tình to tiếng, 走后门 đi cổng sau – đi lối không đàng hoàng, 钻空子chui lỗ khe hở - chuyên tìm chỗ lỗi của người ta để kiếm lợi

ích cho mình, 耍手段 trổ tay – sử dụng thủ đoạn không đàng hoàng Kết cấu

của quán ngữ đơn giản hơn thành ngữ, thường là kết cấu “động bổ” ví dụ: 扣

帽子cố tình đội mũ không đẹp cho, 开倒车lái xe ngược – làm việc ngược với người khác; hoặc kết cấu “chính phụ”, ví dụ: 替罪羊con dê bị thả tội,

Trang 32

路虎con hổ chắn ngang ở giữa đường Đặc trưng chủ yếu của quán ngữ là:

đơn giản sinh động, hình tượng dễ hiểu Có một số quán ngữ mang màu sắc phủ định quá nặng, có ý nghĩa châm biếm mạnh mẽ, trong khi sử dụng phải xem rõ đối tượng, ví dụ quán ngữ: 放冷箭 bắn tên lạnh-nhân người khác

không để ý mà bắn tên sau lưng, 顺竿爬trèo theo gậy sẵn- lợi dụng người khác kiếm lợi cho mình, mượn gió bẻ măng, chỉ có thể sử dụng với những

người hoặc sự vật có nghĩa phủ định hoặc tiêu cực Sự khác biệt giữa thành ngữ và quán ngữ được thể hiện qua bảng sau:

Mang nặng màu sắc văn bản viết, có từ điển

để tra cứu được

Chỉ là một loại đoản ngữ cố định được dùng quen miệng, mang nặng màu sắc khẩu ngữ hàng ngày

Ý nghĩa phong phú Ý nghĩa đơn giản

Thường là 4 chữ, quan hệ ngữ pháp đa dạng Thường là ba chữ, kết cấu “động bổ” hoặc

“chính phụ”, những quan hệ kết cấu khác rất ít Kết cấu cố định, thường không thể tách ra Có thể tách ra để xen vào thành phần khác, VD:

空子 (đã chui một chỗ trống), 钻了法律的空子

(đã chui được chỗ trống của luật pháp)

Số lượng tương đối ổn định Ra đời từ khẩu ngữ hàng ngày bởi thói quen,

nên số lượng tăng nhanh hơn thành ngữ

Bảng 2.5: Sự khác biệt giữa thành ngữ với quán ngữ trong tiếng Hán

1.3 Con số: khái niệm, đặc trƣng và ý nghĩa của con số

1.3.1 Khái niệm con số

Con số tức là những kí hiệu (từ, chữ, chữ số) biểu thị số lượng và dùng

để tính toán hoặc biểu thị số lượng ít hay nhiều Con số được dùng với ba chức năng chính là chỉ lượng (một cân thịt, hai người, ba bông hoa), đo đếm

sự vật (1, 2, 3, 4…) hay chỉ số thứ tự của sự vật (nhà số 6, phòng 502)

Trang 33

Về cách viết con số, ngoài cách viết Ả-rập 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,

101, 2008…thông dụng ở các nước trên thế giới, trong mỗi ngôn ngữ còn có

cách viết riêng của mình, ví dụ trong tiếng Hán có cách viết thường: 一,二, 三,四,五,六,七,八,九,十,百,千,万,亿… và viết hoa:壹, 贰,叁,肆,伍,陆,柒,捌,玖,拾,伯,仟,万,亿…chuyên dùng để

biểu thị số lượng tiền tệ để tránh khỏi bị người khác sửa đổi Trong tiếng Việt

cũng có cách viết: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy, tám, chín, mười, trăm,

nghìn (ngàn), triệu, tỷ… và cách viết âm Hán-Việt: nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, thập, bách, thiên, vạn…

1.3.2 Đặc trƣng của con số

1.3.2.1 Tính bản thể

Con số vốn là những hình thức ký hiệu dùng để tính toán hoặc biểu thị

số lượng ít nhiều, là hình thức ký hiệu biểu thị số lượng của các phần tử, các thực thể có cùng các thuộc tính chung nào đó, là những hình thức ký hiệu hóa phản ánh tư duy, nhận thức về một thuộc tính quan trọng của các thực thể trong hiện thực (khách quan và chủ quan), phản ánh mối liên hệ giữa các thực thể trong một phạm vi nhất định Đó là thuộc tính định lượng của con số

Từ con số - ký hiệu toán học chuyển sang con số- ký hiệu ngôn ngữ mà xét trên phương diện kết học nó được mã hóa bằng các từ - biểu tượng chỉ số lượng hoặc chỉ thứ tự, vị trí trong ngôn ngữ, các con số có thêm những chức năng và giá trị mới Với tư cách là những ký hiệu toán học, chức năng của con

số là định lượng chính xác, chặt chẽ; khi trở thành những ký hiệu ngôn ngữ, đặc biệt là trong ngôn ngữ nghệ thuật thì chức năng định lượng và chỉ thứ tự của nó mang tính tương đối, đôi khi còn trở nên mơ hồ Ví dụ con số được áp dụng trong thành ngữ, thường xuyên vượt hẳn thuộc tính định lượng của nó,

ví dụ các con số trong thành ngữ 三头六臂 (Tam đầu lục tý),五花八门

(Ngũ hoa bát môn),千军万马 (Thiên quân vạn mã đều biểu thị nhiều

Trang 34

1.3.2.2 Tính biểu trƣng

Từ đặc tính bản thể, con số được sử dụng như một yếu tố có tính biểu trưng trong khoa học, ứng dụng trong hoạt động đời sống đến tôn giáo – tín ngưỡng rồi đi vào văn hóa, văn học Bản thân con số tự nhiên đã gắn chặt với đời sống, với tư duy của chúng ta Không chỉ đơn giản chỉ là đo đếm, chỉ lượng hay chỉ số thứ tự, các con số có khả năng gợi lại trong ta những hình ảnh, những quan niệm, những ý nghĩa khác nhau

Trước hết con số là những ký hiệu đầu tiên mang nghĩa biểu trưng cơ bản nhất và đơn giản nhất “Giải thích các số là một trong những khoa học

xưa nhất trong các khoa học về biểu tượng”〔29, tr.282〕Tuy nhiên Platon coi

đó “là cấp độ cao nhất của biểu tượng và là thực chất của sự hài hòa về vũ trụ

và nội tại”〔29, tr.282〕Thánh Matin nói: “Các con số là các vỏ bao bọc hữu

tình của con người Chúng điều chỉnh không chỉ sự hài hòa thể chất và các quy luật sống thuộc không gian và thời gian mà cả các mối tương quan với bản nguyên vì đây không phải là biểu thức số học đơn giản mà là những

nguyên tắc trường tồn với chân lý”〔29, tr.282〕 Con số “đấy là những tư tưởng, những chất lượng, chứ không phải những số lượng”〔29, tr.282〕Mỗi

con số đều nói lên, đều ngầm ẩn một ý nghĩa Mọi sự vật đều được đánh dấu bằng những con số: số giày dép, số xe, số nhà, số tử vi, số quẻ…Xuất phát từ con số tự nhiên, các con số không chỉ có ý nghĩa chỉ số thứ tự hay chỉ lượng

mà nó còn định tính, định chất và dần dần nó gắn với những ý nghĩa biểu trưng, những quan niệm đặc biệt

Tập hợp những ý kiến của các nhà ngôn ngữ học trên đây, chúng tôi cho rằng: với tư cách là một biểu tượng với hệ thống ý nghĩa biểu trưng phong phú và nhất quán, ngoài những đặc trưng chung của biểu tượng, biểu tượng con số còn có những đặc trưng riêng như sau:

1) Xuất phát từ những con số tự nhiên – những ký hiệu có tính chất siêu ngôn ngữ

2) Xuất phát từ chức năng dùng để đo đếm sự vật, tỉ lệ của các sự vật trở

Trang 35

thành dấu hiệu biểu hiện tính chất và giá trị của các sự vật đó

3) Biểu tượng con số gắn bó với nhiều lĩnh vực khoa học, với đời sống nên ngày càng được nhiều người quan tâm và chú ý

4) Các hướng nghĩa ngày càng được phân hóa và chuyển hóa mạnh trở nên phổ biến rộng rãi, thành “tính cộng đồng”, “tính phổ thông” đối với người

sử dụng và người tiếp nhận

5) Hình thức cái biểu hiện của nó luôn cố định, ít biến thể linh hoạt như các biểu tượng khác Ví dụ biểu tượng hoa: hoa mới mở, hoa tươi, hoa thơm, hoa tàn, hoa rã cánh…còn hình thức của con số chỉ có dạng: một, hai, ba, mười…hoặc nhất, nhị, tam, thập…ngoại trừ biến thể kết hợp

1.3.3 Ý nghĩa của con số

1.3.3.1 Ý nghĩa con số tự nhiên

Con số là những ký hiệu đầu tiên, ra đời rất sớm Sự nhận thức sự vật sớm nhất của con người cũng liên quan chặt chẽ với con số Ví dụ trong

tư duy và trí tuệ của loài người nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống: đo đếm các sự vật, hiện tượng cho thế giới Trước hết là những con số La Mã Nó trở thành cơ sở hình thành khoa học Toán học Đó là những con số tự nhiên, thuần túy Bản chất của những con số tự nhiên là mang tính cụ thể và chính xác Bắt đầu từ “một” đến số “mười” - những số đếm đầu tiên, những số khác

ra đời muộn hơn: phát triển từ số nhỏ đơn giản đến số lớn phức tạp Và những con số này đã có những sự phân loại cơ bản: số nguyên, số thập phân, số tự

Trang 36

nhiên, số nguyên tố, số nguyên âm, số nguyên dương, số chẵn, số lẻ, số vô tỉ,

số hữu tỉ, số thực, số ảo (Ma trận-toán cao cấp)…gồm những tập hợp số, những phạm trù số khác nhau Ngay trong bản thân các con số tự nhiên này

cũng chứa đựng những hiện tượng khá thú vị, bí ẩn Dãy số tự nhiên 1, 2, 3, 4,

5, 6, 7, 8, 9 là những số cơ bản, số gốc để tạo các số lớn hơn Trong đó “một”

là số đầu tiên, số xuất phát theo quy luật toán học: 1+1=2; 1+2=3…để tạo

thành số tiếp theo vì thế số sau lớn hơn số trước một đơn vị Số “một” là số đầu tiên nên nó gắn với ý nghĩa bản thể, điểm xuất phát, cái duy nhất Số

“chín” là số lớn nhất có một chữ số Những số bội của chín: 18, 36, 45, 54, 72,

81, 2268…lại đều có thể cộng các chữ số bằng chín được Vì thế, số chín là số

mang nghĩa hoàn hảo, hoàn chỉnh, sự quay vòng…Ngoài số 2, các số nguyên

tố 1, 3, 5, 7, 11, 17, …đều là những số lẻ nên đa số trong các nền văn hóa các

số này thường là số kiêng kỵ, số thiêng, số bí ẩn…Số mười là số đầu tiên được cấu tạo bằng hai chữ số, điều đó dẫn đến ý nghĩa của số mười: con số tổng thể, toàn diện, chỉnh thể…Tất cả những điều này là tính chất kỳ ảo của dãy số tự nhiên

Những con số mang nghĩa, mang quan niệm đều bắt nguồn từ bản nguyên, từ cội nguồn, từ sự khởi đầu của nó, từ các đặc điểm của số tự nhiên không phải là sự võ đoán mà nó có căn do, có lý do dù nó chỉ gợi lên như một

sự gợi ý mơ hồ

1.3.3.2 Ý nghĩa của con số trong đời sống văn hóa, tinh thần

Chức năng cơ bản của con số là dùng để tính toán, đo đếm, biểu thị số lượng hay chỉ số thứ tự Bản thân con số không mang màu sắc thần bí hay lực lượng thần bí gì, song, do bối cảnh văn hóa lịch sử truyền thống của Trung Quốc, trong quá trình sử dụng lâu dài, ngoài chức năng cơ bản ra, con số còn mang màu sắc huyền bí, bí ẩn, nhất là trong đời sống văn hóa, tinh thần (phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng v.v…)

Người Trung Quốc đặc biệt coi con số là then chốt của sự hài hòa vĩ mô-vi mô, của các đế chế tuân theo đúng quy luật của tạo hóa, bởi vì trong

Trang 37

khoa học thiên văn cổ xưa con người đã dùng con số để nghiên cứu các khoảng cách, các trọng lượng hay nhiệt độ mà cả những tiết điệu của vũ trụ Ngoài ra, con số còn được dùng để giải thích vũ trụ và vạn vật

Trong Dịch học và Chiêm tinh học Trung Quốc, các con số được đề cập

rất nhiều Trong ―Kinh Dịch‖ có trình bày nguyên lý vũ trụ dưới dạng: Thái

cực sinh lưỡng nghi (âm - dương), lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng Thuyết ngũ hành cho rằng có năm thành tố vật chất cấu thành vũ trụ: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ có vị trí như sau:

Bảng 2.6: Hà Đồ ngũ hành của Trung Quốc

Vị trí của ngũ hành trong Hà Đồ “năm vị tương đắc mà đều hòa hợp” và

“các số ấy tạo nên sự biến hóa” Năm yếu tố tạo nên vũ trụ đều được sinh thành từ các số: một và sáu sinh thành thủy; hai và bảy sinh thành hỏa; ba và tám sinh thành mộc; bốn và chín sinh thành kim; năm và mười sinh thành thổ Trong đó số sinh (một, hai, ba, bốn, năm) sinh trước, số thành (sáu, bảy, tám, chín, mười) sinh sau

Trang 38

Số năm Số năm nằm ở giữa là số trung tâm, là sự tổng hợp nhận thức

và cấu tạo âm dương của vũ trụ với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Dưới sự ảnh hưởng của thuyết ngũ hành, dần dần hình thành sự sùng bái số năm Người ta cho rằng trên trời có năm hành tinh là sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hỏa, sao Thổ; dưới trần gian thì có năm phía là đông, tây, nam, bắc, giữa; năm màu, năm vị, năm thanh, sao năm cánh…Số năm còn “như là biểu tượng của con người”: năm điểm cực (đầu, hai chân, hai tay); nhân luân có Ngũ thường, xác thể con người có năm phủ tạng; năm giác quan là toàn bộ thế giới cảm tính…Nói chung, số năm trong văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng là con số thiêng liêng, thần bí

Số một Số một là con số đầu tiên trong dãy số tự nhiên Nhà tư tưởng

Lão Tử thời tiên Tần có viết trong tác phẩm ―Lão Tử‖ rằng: ―Đạo sinh nhất,

nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.‖ Cái “nhất” ở đây tức là “hữu”,

tức là “bắt đầu có” Từ “vô” đến “hữu”, tất cả bắt đầu từ “một” Trong mệnh

đề quan hệ đối lập thống nhất của triết học cổ đại Trung Quốc, “nhất” tức là vật thống nhất, “nhị” là tính khả phân của vật thống nhất Chu Hỉ cũng cho rằng “nhất”chia thành hai, “tiết tiết như thử, dĩ chí vu vô cùng”; Vương Phu Chi trần thuật quan hệ giữa một và hai và khẳng định rằng: “một chia thành hai” là cơ sở của “hợp hai thành một” Cho nên, trong quan niệm người Trung Quốc cổ xưa, số một là nguồn gốc của tất cả, có hàm ý “bắt đầu” và “tồn tại”

Số hai Trong văn hóa Trung Quốc cũng như văn hóa, phong tục dân

gian Việt Nam, số hai là con số của sự cân bằng âm dương (âm dương kết hợp) Cặp đôi hợp thành “thái cực lưu hay nguồn gốc của vạn vật” Số hai cũng là con số của sự hòa hợp, hạnh phúc được biểu thị bằng hình ảnh “song hỉ” trong ngày hợp duyên của cô dâu, chú rể

Trong triết học, số hai tương ứng cho thuyết nhị nguyên, phép biện chứng cho rằng đó là tính hai mặt của một vấn đề, của một tổng thể Với đặc điểm đó, số hai thường được biểu thị bằng các hình ảnh đi đôi vừa là biểu trưng cho sự đối lập, xung đột, sự tách đôi đồng thời cũng biểu hiện cho sự

Trang 39

hòa hợp, thống nhất Ví dụ thế giới của chúng ta được chia thành hai cực âm – dương; nóng – lạnh; trời – đất; vuông – tròn; ngày – đêm; nam – nữ

Số ba Số ba trong hầu hết các lĩnh vực văn hóa, phong tục, tín ngưỡng

đều là con số thần bí Bắt đầu từ học thuyết “Tam tài” từ Kinh Dịch và Dịch học nhập môn, mô hình tam phân: ba thế lực của vũ trụ Thiên – Nhân – Địa, con người là ngôi trung tâm của ba ngôi Đây là bộ ba vĩ đại hoàn thành sự sáng thế Người là con của trời và đất nhưng là yếu tố kết nối, quan trọng nhất làm hoàn tất bộ ba vĩ đại này Kinh Đạo Đức quan niệm rằng: Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật Mô hình tam phân này tập trung nhiều ý nghĩa, nó trở thành mô hình chung ứng với nhiều sự vật hiện tượng trong cuộc sống: tam đa (đa phúc, đa lộc, đa thọ), thiên nhiên có tam xuyên (kinh, vị, lạc), vũ trụ có tam tài (thiên, nhân, địa), trần gian có tam sinh (kiếp trước, kiếp này, kiếp sau), vương có tam hoàng, thờ cúng cũng có tam lễ…

Số bốn Thuyết tứ tượng của Trung Quốc là cơ sở xuất phát quan niệm

về số bốn Tứ tượng được sinh ra từ lưỡng nghi âm dương Thuyết tứ tượng được áp dụng rất nhiều trong việc phân chia và nhận định về thế giới, vạn vật

và vũ trụ Từ cặp lưỡng nghi sinh ra tứ tượng Từ hai mùa nóng – lạnh phân chia thành bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Từ hai phương chính cực Bắc – cực Nam phân đôi được bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Số bốn trong văn hóa phương Đông biểu hiện cho sự vững chắc, của sự trọn vẹn, biểu tượng cho phép cộng Từ đó vạn vật cũng được chia theo tứ tượng, ví dụ: tứ dân (sĩ, nông, công, thương); tứ nghề (ngư, tiều, canh, mục); tứ tài (cầm, kỳ, thi, họa);

tứ linh (long, ly, quy, phượng); tứ bất tử (thần, tiên, phật, thánh) Số bốn cũng được dùng để chỉ sự trọn vẹn không thể thêm vào được nữa, ví dụ phụ nữ có

tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh; đàn ông có tứ việc: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; con người có tứ duy: lễ, nghĩa, liêm, sĩ…Tất nhiên, đó cũng là căn duyên dẫn đến sự bó hẹp, sự không phát triển của số bốn

Song, trong tiếng Hán, vì phát âm số bốn rất giống chữ “tử”—chết, nên

ngày nay người Trung Quốc rất kiêng số bốn, ví dụ số xe, số điện thoại v.v

Trang 40

đều rất kiêng có số bốn, nhất là kết đuôi bằng số bốn

Số sáu, bẩy, tám Sự ưa thích hay chán ghét của người Trung Quốc đối

với số sáu, bẩy, tám toàn liên quan đến hài âm của chúng Trong tiếng Hán có một tục ngữ là “lục lục đại thuận”, “thuận” tức là “thuận lợi”, cho nên người Trung Quốc cũng thích số sáu Vì phát âm số tám giống chữ “phát”-phát tài, nên người Trung Quốc thích nhất số tám, nhất là “888”-phát phát phát,

“168”-nhất lộ phát, “668”-lộ lộ phát, “6688”-lộ lộ phát phát…Nếu số điện thoại hoặc số xe chọn được những số đẹp như thế thì quá thích, nếu không, chỉ cần kết thúc đuôi bằng số tám thì cũng thích rồi Có khi để chọn được những số đẹp như thế, thà mất rất nhiều tiền họ cũng chịu Cũng như số bốn,

số bẩy phát âm trong tiếng Quảng Đông rất giống nghĩa “điên”-phát điên, nên nhiều người không thích số bẩy, nhất là những người biết nói tiếng Quảng Đông

Số chín Mỗi dân tộc có quan niệm về số chín khác nhau Đối với

người Aztèque số chín gắn với thần linh của đêm, cõi âm và sự chết, là con số đáng sợ Trong phần lớn các truyền thuyết về nguồn gốc vũ trụ của Ấn Độ có chín thế giới trong lòng đất Và quan niệm này cũng phổ biến trong nhiều nền văn hóa khác, ví dụ Trung Quốc “cửu tuyền” hay Việt Nam là“chín suối” Số

9 gắn với chín lần hóa thân liên tiếp của Vishnu Chúa Giêxu bị đóng đinh câu rút vào giờ thứ ba, hấp hối vào giờ thứ sáu và tắt thở vào giờ thứ chín Vì thế con số chín trở thành vĩnh viễn, sự bất tử của con người; là biểu tượng của cái

vô số trở về cái đơn nhất, là biểu tượng của tính liên kết vũ trụ và sự giải cứu Quan niệm số chín của người Trung Quốc liên quan đến vật tổ thượng

cổ Bộ lạc Si Ưu thời thượng cổ nổi tiếng với dũng cảm, thiện chiến, vật tổ của họ chính là con rồng có chín cái đầu, người ta nói rằng đó là con vật tượng trưng cho sự hùng mạnh, hung hãn, dân số thịnh vượng, vì thế số chín

là con số của sức mạnh và uy quyền, là con số của sự tròn đầy, hoàn hảo, thậm chí là con số của trời Cho nên người Trung Quốc cho rằng con đường dẫn đến ngai vàng của hoàng đế là chín bậc gọi là “cửu trùng”, cung điện

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bảo (2003), ―Thành ngữ - Cách ngôn gốc Hán-725 thành ngữ -cách ngôn thường gặp‖, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Thành ngữ - Cách ngôn gốc Hán-725 thành ngữ -cách ngôn thường gặp‖
Tác giả: Nguyễn Văn Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
2. Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh (2001), ―Thành ngữ - tục ngữ Việt Nam‖, Nxb Văn Hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Thành ngữ - tục ngữ Việt Nam‖
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh
Nhà XB: Nxb Văn Hóa-Thông tin
Năm: 2001
3. Nguyễn Hữu Cầu (2007), ―Lý luận đối dịch Hán – Việt‖, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Lý luận đối dịch Hán – Việt‖
Tác giả: Nguyễn Hữu Cầu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
4. Đỗ Hữu Châu (1997), ―Các bình diện của từ và từ tiếng Việt‖, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Các bình diện của từ và từ tiếng Việt‖
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
5. Đỗ Hữu Châu (1987), ―Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng‖, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng‖
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
6. Nguyễn Hồng Cổn (2006),―Các phương pháp và thủ pháp dịch thuật - trên cứ liệu dịch thuật Anh – Việt‖- ―Những vấn đề ngôn ngữ học‖, nhiều tác giả khoa Ngôn ngữ học trường Đại học KHXH&NV, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Các phương pháp và thủ pháp dịch thuật - trên cứ liệu dịch thuật Anh – Việt‖- ―Những vấn đề ngôn ngữ học‖
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
7. Nguyễn Hồng Cổn (2004), ―Cơ sở ngôn ngữ học của nghiên cứu dịch thuật và bộ môn dịch thuật học‖, tạp chí ―Ngôn ngữ‖ số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Cơ sở ngôn ngữ học của nghiên cứu dịch thuật và bộ môn dịch thuật học‖", tạp chí "―Ngôn ngữ‖
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2004
8. Nguyễn Hồng Cổn (2006), ―Lược sử nghiên cứu dịch thuật‖, tạp chí ―Ngôn ngữ‖ số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Lược sử nghiên cứu dịch thuật‖", tạp chí "―Ngôn ngữ‖
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2006
9. Nguyễn Hồng Cổn (2009), ―Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt: chủ - vị hay đề - thuyết‖, tạp chí ―Ngôn ngữ‖ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt: chủ - vị hay đề - thuyết‖", tạp chí "―Ngôn ngữ‖
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2009
10. Nguyễn Hồng Cổn (2001), ―Về vấn đề tương đương trong dịch thuật‖, tạp chí ―Ngôn ngữ‖ số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Về vấn đề tương đương trong dịch thuật‖", tạp chí "―Ngôn ngữ‖
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2001
11.Trần Trí Dõi (2005), ―Giáo trình lịch sử tiếng Việt‖, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Giáo trình lịch sử tiếng Việt‖
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
12. Nguyễn Thị Duyên (2007), ―Ý nghĩa biểu trưng của hệ biểu tượng con số trong cao dao người Việt‖, luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn Trường Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Ý nghĩa biểu trưng của hệ biểu tượng con số trong cao dao người Việt‖
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên
Năm: 2007
13.Vũ Văn Đại (2001), ―Tính giao tiếp: một nguyên tắc trong hoạt động dịch‖, tạp chí ―Ngôn ngữ‖ số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Tính giao tiếp: một nguyên tắc trong hoạt động dịch‖", tạp chí "―Ngôn ngữ‖
Tác giả: Vũ Văn Đại
Năm: 2001
14. Khổng Đức, Trần Bá Hiền (2001), ―Từ điển thành ngữ Hoa Việt thông dụng‖, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Từ điển thành ngữ Hoa Việt thông dụng‖
Tác giả: Khổng Đức, Trần Bá Hiền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
15. Nguyễn Thiện Giáp (1998), ―Từ vựng học tiếng Việt‖, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Từ vựng học tiếng Việt‖
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
16. Hoàng Văn Hành (2004), ―Thành ngữ học tiếng Việt‖, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Thành ngữ học tiếng Việt‖
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
17. Nguyên Văn Khang (2001), ―Con số văn hóa Trung Hoa qua cách sử dụng các con số‖, tạp chí ―Ngôn ngữ & văn hóa‖ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Con số văn hóa Trung Hoa qua cách sử dụng các con số‖", tạp chí
Tác giả: Nguyên Văn Khang
Năm: 2001
18. Hồng Khánh, Thái Vy biên dịch (2002), ―Thành ngữ điển cố thông dụng‖, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Thành ngữ điển cố thông dụng‖
Tác giả: Hồng Khánh, Thái Vy biên dịch
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
19.Tiêu Hà Minh (2008), ―Đi tìm điển tích thành ngữ‖, Nxb Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Đi tìm điển tích thành ngữ‖
Tác giả: Tiêu Hà Minh
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2008
20. Hoàng Phê chủ biên, nhóm giáo viên Viện Ngôn ngữ học(2002), ―Từ điển tiếng Việt‖, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ―Từ điển tiếng Việt‖
Tác giả: Hoàng Phê chủ biên, nhóm giáo viên Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng thống kê tỉ lệ số chữ của thành ngữ con số trong tiếng Hán - Khảo sát thành ngữ có con số trong tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt
Bảng 2.1 Bảng thống kê tỉ lệ số chữ của thành ngữ con số trong tiếng Hán (Trang 26)
Bảng 2.2: Sự khác biệt giữa thành ngữ với tục ngữ trong tiếng Hán - Khảo sát thành ngữ có con số trong tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt
Bảng 2.2 Sự khác biệt giữa thành ngữ với tục ngữ trong tiếng Hán (Trang 28)
Bảng 2. 3: Sự khác biệt giữa thành ngữ với ngạn ngữ trong tiếng Hán - Khảo sát thành ngữ có con số trong tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt
Bảng 2. 3: Sự khác biệt giữa thành ngữ với ngạn ngữ trong tiếng Hán (Trang 30)
Bảng 2. 4: Sự khác biệt giữa thành ngữ với yết hậu ngữ trong tiếng Hán - Khảo sát thành ngữ có con số trong tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt
Bảng 2. 4: Sự khác biệt giữa thành ngữ với yết hậu ngữ trong tiếng Hán (Trang 31)
Bảng 2.6: Hà Đồ ngũ hành của Trung Quốc - Khảo sát thành ngữ có con số trong tiếng Hán và cách thức chuyển dịch sang tiếng Việt
Bảng 2.6 Hà Đồ ngũ hành của Trung Quốc (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w