1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt

142 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, có nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến một số các lĩnh vực khác như hệ thống pháp luật, kết cấu bộ máy Nhà nước, thể chế chính trị,… và cả các vấn đề liên quan chặt chẽ đến ngôn n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

PHÍ LÊ MAI

KHẢO SÁT TẦNG NGHĨA TRÍ TUỆ

CỦA HỆ THUẬT NGỮ TRÊN VĂN BẢN LUẬT TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

PHÍ LÊ MAI

KHẢO SÁT TẦNG NGHĨA TRÍ TUỆ

CỦA HỆ THUẬT NGỮ TRÊN VĂN BẢN LUẬT TIẾNG VIỆT

Trang 3

QUY ƢỚC VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU – MÔ HÌNH

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp sự phát triển nghĩa trên cơ sở tƣ liệu thuật ngữ………… 57 Bảng 3.1: Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ BLDS……….77

Mô hình 3.2: Tháp thuật ngữ trong BLDS……….79 Bảng 3.3: Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ trong BLHS………82

Mô hình 3.4: Tháp thuật ngữ trong BLHS……….83 Bảng 3.5: Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ trong LTM……… 86

Mô hình 3.6: Tháp thuật ngữ trong LTM……… 88 Bảng 3.7: Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ luật Việt Nam…….90

Mô hình 3.8 Tháp thuật ngữ trong hệ thống Luật Việt Nam……… 92

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 5

2.1 Đối tượng nghiên cứu 5

2.2 Phạm vi nghiên cứu 5

2.3 Tư liệu nghiên cứu 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Ý nghĩa của luận văn 8

6 Bố cục của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.0 Dẫn nhập 9

1.1 Từ đa nghĩa 9

1.1.1 Từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa 9

1.1.2 Đa nghĩa là một sản phẩm và là một cấu tạo 11

1.1.2.1 Đa nghĩa là một sản phẩm 11

1.1.2.2 Đa nghĩa là một cấu tạo 12

1.1.3 Các kiểu - loại nghĩa của từ đa nghĩa 13

1.2 Tầng nghĩa trí tuệ và thuật ngữ 20

1.2.1 Mối quan hệ giữa tầng nghĩa trí tuệ và thuật ngữ 20

1.2.2 Quan niệm về thuật ngữ và đặc điểm của thuật ngữ 21

Trang 5

1.2.2.1 Cách hiểu về thuật ngữ 21

1.2.2.2 Đặc điểm của thuật ngữ 23

1.3 Hướng nghiên cứu của luận văn 24

Tiểu kết 25

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẦNG NGHĨA BIỂU NIỆM CỦA THUẬT NGỮ LUẬT 27

2.0 Dẫn nhập 27

2.1 Con đường phát triển của nội hàm thuật ngữ 27

2.2 Sự nâng cấp của thuật ngữ luật từ từ thông thường 29

2.3 Thực tế quá trình biến đổi của nội hàm thuật ngữ 30

2.3.1 Sử dụng nguyên nội hàm về nghĩa của nội dung từ trong các sử dụng đời thường 31

2.3.2 Sử dụng một phần nội hàm nghĩa và làm rõ chi tiết theo chiều sâu 39

2.3.3 Sử dụng từ một phần nội hàm về nghĩa và mở rộng nội hàm nghĩa 43

2.3.4 Nội hàm nghĩa biểu niệm rộng hơn nghĩa biểu thị 47

2.4 Sự chuyển hoá giữa nghĩa biểu niệm và biểu chỉ, chuyển dịch giữa các nghĩa, dùng chung nội dung 50

2.4.1 Lí do của việc chuyển hóa chức năng-nghĩa của từ 50

2.4.2 Phân loại sự phát triển về nội hàm nghĩa theo cơ sở tư liệu 54

Tiểu kết 56

CHƯƠNG 3: NGHĨA HỆ THỐNG VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TỪ NGHĨA HỆ THỐNG CỦA THUẬT NGỮ LUẬT 57

3.0 Dẫn nhập 57

3.0.1 Mục đích 57

Trang 6

3.0.2 Ý niệm quy ƣớc không tham gia vào hệ thuật ngữ 57

3.1 Tính chặt chẽ về nghĩa của mỗi hệ thuật ngữ 58

3.1.1 Quan niệm về giá trị hệ thống 58

3.1.2 Tính hệ thống và sự nghiêm ngặt trong tính hệ thống của hệ thuật ngữ luật 58

3.2 Giá trị của các thuật ngữ trong hệ thống thuật ngữ Luật 70

3.2.1 Hệ thuật ngữ Luật Việt Nam 70

3.2.2 Hệ thuật ngữ trong BLDS 71

3.2.2.1 Khảo sát số liệu trên cơ sở BLDS 71

3.2.2.2 Hệ thống thuật ngữ BLDS qua tháp thuật ngữ 73

3.2.3 Hệ thuật ngữ trong BLHS 75

3.2.3.1 Khảo sát số liệu trên cơ sở BLHS 76

3.2.3.2 Hệ thống thuật ngữ BLHS qua tháp thuật ngữ 77

3.2.4 Hệ thuật ngữ trong LTM 79

3.2.4.1 Khảo sát số liệu trên cơ sở LTM 80

3.2.4.2 Tháp hệ thống thuật ngữ LTM 82

3.2.5 Tháp thuật ngữ Luật Việt Nam 84

Tiểu kết 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 91

TƢ LIỆU 1

Trang 7

là những tiến bộ của xã hội, mang lại nền dân chủ thực sự cho người dân trong xã hội Theo đó, việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp nói chung và hệ thuật ngữ luật pháp nói riêng là yếu tố quan trọng

Thời gian qua, để nâng cao hiệu quả việc quản lý người dân bằng pháp luật, Chính phủ đã ra hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật, đề ra những quy tắc, chuẩn mực chung, có tính chất bắt buộc thực hiện với tất cả mọi người, được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự thủ tục lập pháp Theo đó, có nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến một số các lĩnh vực khác như hệ thống pháp luật, kết cấu bộ máy Nhà nước, thể chế chính trị,… và cả các vấn đề liên quan chặt chẽ đến ngôn ngữ như hệ thống thuật ngữ và sự phát triển của nhận thức thể hiện trong ngôn ngữ Yếu tố này không thể phát triển tự do mà luôn phải tuân thủ theo một logic chặt chẽ

Theo logic đó, các nghĩa của từ khi được nhận thức tập hợp luôn phải tồn tại

và được sắp xếp theo một qui luật tổ chức nhất định Nhưng bài toán về mối liên hệ giữa các thành phần ý nghĩa và đặc biệt là thành phần thể hiện nghĩa khoa học theo chiều hướng logic xuyên suốt toàn bộ tập hợp nghĩa của từ thì chưa có được lời giải thỏa đáng Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, sự biến đổi nghĩa của từ không phải là kết quả tác động của một yếu tố, mà đó là sự tổng hòa của nhiều yếu

tố tác động Thứ nhất, kết cấu nghĩa của từ không bất biến mà luôn vận động và phát

Trang 8

triển Thứ hai, sự biến đổi của đời sống xã hội và nhất là sự phát triển không ngừng của nhận thức của nhận thức con người đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của

hệ thống ngôn ngữ, làm cho một từ phát sinh thêm các biến thể ngữ nghĩa Ngoài hai yếu tố trên, còn phải kể đến bản thân hệ thống ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn được bổ sung nhiều yếu tố mới, đồng thời nó loại bỏ đi những yếu tố không còn phù hợp Nhìn chung, đây là một vấn đề phức tạp trong ngôn ngữ nói chung và thuật ngữ luật nói riêng Việc nghiên cứu khó có thể bao quát hết bởi dung lượng của nó quá lớn và tính đúng đắn chỉ đạt được trong một thời gian nhất định

Nhận thức được những vấn đề trên, với phạm vi luận văn này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đặc điểm của một bộ phận nghĩa của thuật ngữ Đó chính là bộ phận thể hiện cao độ nhận thức của con người về khoa học xã hội Theo đó, năng lực nhận thức của con người được đánh giá một cách tương đối rõ ràng Đưa ra kết quả khảo sát về bộ phận này chính là một bước chứng minh cho khả năng tư duy của nhân loại dưới góc nhìn ngôn ngữ đồng thời chỉ ra những điểm nóng trong hệ thống pháp luật Việt Nam một cách chung nhất từ những khảo sát cụ thể

2 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các thuật ngữ trong văn bản luật tiếng Việt

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Hệ thống pháp luật của Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, mỗi ngành luật lại được phân công điều chỉnh một nhóm quan hệ nhất định Trong đó, cơ sở của hệ thuật ngữ Luật Việt Nam được xây dựng từ hệ thuật ngữ Luật Dân sự, Hình sự và Thương Mại Đến nay, hệ thống Pháp luật của Việt Nam đã phát triển, theo kịp và đáp ứng tối đa nhu cầu về điều chỉnh các nhóm quan hệ quan hệnhất định Cùng với

đó, hệ văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã đạt đến một trình độ tương ứng Tuy nhiên, trong những tình huống chưa được quy định rõ ràng ở các văn bản

cụ thể thì việc giải quyết các mâu thuẫn luôn được quy về hệ thống 3 luật cơ bản:

Trang 9

Dân sự, Hình sự và Thương mại, trong đó, Dân sự luôn được coi là nền tảng cơ bản của Pháp luật Việt Nam

2.3 Tư liệu nghiên cứu

Với những lý do đã trình bày ở trên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung thu thập tư liệu và nghiên cứu trên cơ sở các thuật ngữ trên văn bản Bộ luật Dân sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây viết tắt là BLDS),

Bộ luật hình sự của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là BLHS) và Luật Thương mại (năm 2005) do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm

2010

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích chính của luận văn là khảo sát các vấn đề cơ bản của tầng nghĩa trí tuệ ở các từ thể hiện nội dung khoa học thường gặp Chúng tôi hiểu rằng việc nghiên cứu tầng nghĩa thể hiện khả năng nhận thức của con người là không hề đơn giản bởi muốn có kết quả khảo sát chính xác, chúng tôi cần có lượng kiến thức chuyên ngành tương đối lớn và sâu sắc Tuy nhiên, đây lại là việc làm hết sức cần thiết

3.2 Nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của phổ nghĩa từ vựng, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới tầng nghĩa trí tuệ Theo đó, chúng tôi tập trung phân tích một số thuộc tính cơ bản của tầng nghĩa như mối tương quan về số lượng giữa các kiểu nghĩa, mối liên hệ giữa các kiểu nghĩa hay sự phát triển của từng kiểu nghĩa dẫn đến sự mở rộng của cả tầng nghĩa Cùng với đó, chúng tôi song song khảo sát những từ khoá của mỗi ngành luật và của chung hệ thống luật cơ bản của Việt Nam

để bước đầu đưa ra những vấn đề được pháp luật và xã hội quan tâm dưới góc nhìn

từ hệ thống thuật ngữ luật Việt Nam

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục đích và nhiệm vụ đề ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp miêu tả dùng để miêu tả các phương thức tạo thành thuật ngữ, các kiểu cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn của luật và đặc điểm định danh của hệ thuật ngữ luật

- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp: Phương pháp này được áp dụng

để phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp nhằm xác định các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ Từ đó, tìm ra được các nguyên tắc cơ sở tạo thành thuật ngữ luật, các mô hình cấu tạo của chúng và các quy luật cấu tạo nên các thuật ngữ này

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phương pháp phân tích ngữ nghĩa được

áp dụng để nghiên cứu ngữ nghĩa của các thuật ngữ luật, từ đó thiết lập được các mô hình định danh thuật ngữ, các nét đặc trưng làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ và các kiểu quan hệ ngữ nghĩa, là cơ sở tạo nên thuật ngữ mới trong luật

- Phương pháp thống kê: Phương pháp thống kê được sử dụng để tìm hiểu số lượng, tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm của các phương thức tạo thành thuật ngữ, các kiểu cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn ngành luật, các mô hình định danh thuật ngữ Các kết quả thống kê sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức các bảng biểu giúp hình dung rõ hơn các nét đặc trưng

cơ bản về cấu tạo, cấu trúc ngữ nghĩa của thuật ngữ luật đang nghiên cứu

Dựa vào nhiều thao tác, các đơn vị khảo sát sẽ được xem xét trong các bình diện kết hợp Chúng tôi chú ý nghiên cứu theo hướng đồng đại Dưới ánh sáng của ngôn ngữ học đồng đại, các cách sử dụng từ khác nhau sẽ được so sánh nhằm để làm nổi bật đặc điểm về sử dụng, đặc điểm về nội hàm nghĩa của chính thuật ngữ đó

Trang 11

5 Ý nghĩa của luận văn

Chúng tôi hi vọng luận văn này sẽ cho thấy một phần bức tranh từ vựng -ngữ nghĩa tiếng Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ khoa học, góp phần làm sáng rõ quá trình biến đổi từ vựng -ngữ nghĩa tiếng Việt Đồng thời, chúng tôi chỉ ra sự phát triển của tầng nghĩa trí tuệ, chỉ ra các phạm trù đáng quan tâm trong luật dưới góc nhìn ngôn ngữ nói chung và từ vựng nói riêng Qua đó, góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu

từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương

Phần mở đầu, chúng tôi đề cập đến lí do chọn đề tài và giới thiệu về mục đích, nhiệm vụ, ý nghĩa và phương pháp nghiên cứu của luận văn này, như đã nêu ở trên

Chương 1, chúng tôi trình bày cơ sở lí luận cho sự tồn tại của phổ nghĩa từ

vựng nói chung và của tầng nghĩa trí tuệ nói riêng và các khái niệm liên quan

Chương 2, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát hai kiểu nghĩa biểu niệm và

biểu hiện về tương quan số lượng cũng như sự tồn tại của nó trong một số ngành khoa học cơ bản

Chương 3 là đóng góp chính của luận văn về sự nghiên cứu đặc điểm của

tầng nghĩa trí tuệ trong chính bản thân nó cũng như trong mối liên hệ với cách sử dụng đời sống

Cuối cùng, phần kết luận sẽ trình bày những nhận xét có được sau quá trình thực tế nghiên cứu

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.0 Dẫn nhập

Theo GS Hoàng Tuệ: “Từ vựng của tiếng Việt là cả một thế giới biểu trưng hoá Chất liệu của sự biểu trưng hoá này là thực tế của cuộc sống được khái niệm hoá theo cái lí của trí tuệ người Việt Nam Đó là phần độc đáo trong bản sắc của tiếng Việt chúng ta, và nói chung, cái khác nhau giữa các ngôn ngữ chính là cuối cùng cái khác nhau giữa các cấu trúc - ngữ nghĩa.” [6; 25] Như vậy, theo GS Hoàng Tuệ, mặt ngữ nghĩa mới là mặt đáng lưu ý trong một đơn vị ngôn ngữ

Ý nghĩa không chỉ tồn tại trong phạm vi ngôn ngữ mà còn tồn tại trong cả lĩnh vực ngoài ngôn ngữ Song tất cả những lĩnh vực đó đều phải có sự tham gia của nhận thức con người Nhận thức quyết định ý nghĩa Nhận thức càng phát triển thì nội hàm ý nghĩa càng được mở rộng Để thể hiện sự phức tạp của ý nghĩa từ vựng, ngôn ngữ học có hai khái niệm: từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa Đây là hai khái niệm cơ

sở, có nội hàm bao trùm toàn bộ nội dung ý nghĩa từ vựng nói chung

Trong sự phát triển ở mức độ cao, thuật ngữ và nghĩa thuật ngữ cũng là một hướng phát triển đặc biệt của từ đa nghĩa Thuật ngữ luật cũng tuân thủ yếu tố nguồn gốc này Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng, hầu hết nghiên cứu về mặt từ vựng – ngữ nghĩa đều nên bắt nguồn từ việc nghiên cứu từ đơn nghĩa, đa nghĩa

Theo đó, để đặt vấn đề nghiên cứu mang tính lý luận về thuật ngữ, chúng tôi bắt nguồn từ yếu tố đơn giản nhất và cũng là cơ bản nhất của phạm trù ngữ nghĩa: từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa, trong đó, yếu tố chính cần nhấn mạnh chính là: Từ đa nghĩa

1.1 Từ đa nghĩa

1.1.1 Từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa

Từ đơn nghĩa có cấu tạo đơn giản về mặt ý nghĩa Nó chỉ thể hiện một nghĩa nhất định Trong bất kì trường hợp sử dụng nào, với bất kì văn cảnh nào, từ đơn nghĩa

Trang 13

cũng chỉ thể hiện một nghĩa duy nhất đã được xác định Từ đa nghĩa được dùng để phân biệt với từ đơn nghĩa Trong đời sống, từ đa nghĩa được hiểu là từ có chứa nhiều nghĩa và giữa các nghĩa luôn có mối liên hệ với nhau [6]

Về chuyên môn, ngành Ngôn ngữ học cũng đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ đa nghĩa Trong luận văn này, chúng tôi chấp nhận cách hiểu về từ

đa nghĩa như sau: Từ đa nghĩa là từ mà nội dung bao gồm một số nghĩa khác nhau, các nghĩa này lập thành hệ thống nằm trong mối quan hệ liên kết với nhau, gồm một vài nét nghĩa chung và nhiều nét nghĩa loại biệt, thường biểu thị các đối tượng khác nhau nhưng lại được đặt trên cơ sở một sự giống nhau về chức năng, hình thức hoặc thuộc tính nào đó của đối tượng [12]

Bởi quan điểm này đã chỉ rõ các đặc điểm của từ đa nghĩa:

- Từ và nghĩa của từ là hai đơn vị của hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa

- Tổng thể các nghĩa của từ là một hệ thống con của các biến thể từ vựng- ngữ nghĩa Chúng được tập hợp trên cơ sở nét nghĩa chung và loại biệt

- Mối quan hệ giữa các nghĩa nằm trong tương quan dẫn xuất phái sinh, là kết quả của việc sử dụng và phát triển lịch đại ngữ nghĩa

- Các nghĩa của một từ đa nghĩa được nhìn nhận từ góc độ biểu vật nhưng lại định hình như một đơn vị, một cấu tạo từ góc độ biểu niệm

Như vậy, từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa được phân biệt dựa trên cơ sở số lượng nghĩa của từ Từ đơn nghĩa có cấu trúc nghĩa rất đơn giản, chỉ gồm một nghĩa duy nhất trong mọi tình huống xuất hiện của từ Ngược lại, từ đa nghĩa có cấu trúc nghĩa rất phức tạp và với mỗi văn cảnh, chỉ có một trong số nhiều nghĩa của từ được thể hiện, được hiện thực hóa

Trong ngôn ngữ, cũng như các lĩnh vực khác, đơn vị nào hoạt động càng nhiều thì càng có sự biến đổi và phát triển mạnh về chức năng Quá trình biến đổi và phát triển hệ thống từ vựng có sự tham gia của hiện tượng vay mượn và hiện tượng

Trang 14

cấu tạo các đơn vị mới Vì lượng từ trong ngôn ngữ không thể tăng lên vô hạn tương ứng với sự phát triển của nhận thức, của các nội dung cần biểu đạt nên một hình thức ngữ âm đôi khi phải biểu đạt nhiều nội dung khác nhau Hơn nữa, ngôn ngữ có

sự đa dạng về chức năng, phong phú về loại hình văn bản nên đơn vị ngữ nghĩa của

từ luôn phải mở rộng phạm vi hành chức Việc mở rộng dung lượng nghĩa của một đơn vị từ vựng chính là con đường làm giàu vốn từ theo chiều sâu

1.1.2 Đa nghĩa là một sản phẩm và là một cấu tạo

Cũng bởi vậy, xét từ góc độ sử dụng ngôn ngữ, từ đa nghĩa thường thuộc lớp

từ toàn dân, có tần số xuất hiện cao, tồn tại trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau Ngoài ra, khi xem xét đặc điểm nghĩa của từ đa nghĩa, ta không thể bỏ qua mối quan hệ giữa cấu trúc hình thức và nội dung ý nghĩa của từ

Theo đó, những từ đa nghĩa thường có cấu trúc hình thức khá đơn giản Chúng thường là những từ có kích cỡ nhỏ, nói một cách đơn giản là được cấu tạo bởi số lượng âm tiết hữu hạn Điều này cho phép nhận định về mối quan hệ giữa mức độ đơn giản về hình thức và sự phát triển về nghĩa của từ Chúng có mối tương quan thường theo tỉ lệ thuận Từ nào càng đơn giản về cấu trúc hình thức thì càng có khả năng trở thành từ đa nghĩa

Theo thời gian và sự phát triển về nhận thức của con người, từ đơn nghĩa biến đổi thành từ đa nghĩa Những nghĩa mới của từ thể hiện sự phát triển về tư duy, sự nâng cao về nhận thức Nó đáp ứng đòi hỏi của con người, sao cho ngôn ngữ thực sự thể hiện được tư duy một cách chính xác, mạch lạc Có như vậy, ngôn ngữ mới đảm

Trang 15

bảo được vai trò làm công cụ của tư duy Sau đó, ngôn ngữ phải diễn đạt chuẩn xác những suy nghĩ của con người là kết quả của quá trình tư duy

Đa nghĩa là một yếu tố quan trọng góp phần phát triển trình độ nhận thức của cộng đồng Bởi những điều mà họ mong muốn biểu đạt không chỉ là những khái niệm đơn giản và thiếu tính hệ thống như thời kì nguyên sơ Cũng vì lí do này, những từ đa nghĩa thường xuất hiện với tỉ lệ cao ở những ngành khoa học phát triển

và ở những nền văn minh tiên tiến

1.1.2.2 Đa nghĩa là một cấu tạo

Theo cách hiểu về từ đa nghĩa đã nêu trên, từ đa nghĩa có cấu trúc nghĩa bao gồm một số nghĩa khác nhau, chúng tạo thành một hệ thống nghĩa Xét tại thời điểm khi mới xuất hiện, mọi từ đều chỉ có một nghĩa Nhưng cùng với thời gian và sự nâng cao nhận thức của con người, những từ một nghĩa đó dần biến đổi thành từ nhiều nghĩa -từ đa nghĩa Như vậy, từ đơn nghĩa ban đầu dần có cấu tạo phức tạp, chứa đựng trong lòng nó thêm nhiều nghĩa, tạo thành từ đa nghĩa

Nội dung của từ đa nghĩa là một tập hợp những nghĩa có mối liên hệ nhất định trên một cơ sở chung nào đó Đó là một hệ thống các nghĩa ổn định và ràng buộc nhau bằng những liên hệ nhất định Cũng chính nhờ hệ thống ổn định này, ta

có thể mô tả các nghĩa theo đặc điểm và tôn ti nhất định trong từ điển Như vậy, từ

đa nghĩa là một cấu tạo, bản thân nó chứa đựng một hệ thống các nghĩa

Hệ thống này càng ngày càng mở rộng theo sự phát triển nhận thức của con người Đặc biệt, sự xuất hiện nghĩa mới của từ đa nghĩa làm phong phú và góp phần phát triển thành phần từ vựng của một ngôn ngữ Đây là kết quả của sự phát triển lịch đại ngữ nghĩa của từ nói riêng và hệ thống từ vựng – ngữ nghĩa nói chung

Sự phát triển của từ đa nghĩa là biểu hiện của sự phát triển ngôn ngữ văn hóa,

sự phong phú về tư duy và kinh nghiệm của cộng đồng Hơn nữa, đó còn là cách là giàu thêm vốn từ ngữ dân tộc Qua đó, thể hiện một sự tiết kiệm tối ưu, triệt để khi

Trang 16

khai thác số lượng vỏ ngữ âm hữu hạn của ngôn ngữ để biểu đạt nội dung phong phú

và vô tận của tư duy con người

Ngoài ra, sự phát triển trong bản thân cơ cấu nghĩa của từ là sự phát triển theo chiều sâu, điển hình cho sự phát triển về khả năng nhận thức, tư duy và giao tiếp của con người

1.1.3 Các kiểu - loại nghĩa của từ đa nghĩa

Kiểu – loại nghĩa của từ đa nghĩa là một vấn đề gây rất nhiều tranh luận từ trước tới nay Điều đó đủ cho thấy sự phức tạp của vấn đề này Tuy cùng thống nhất rằng các nghĩa của từ đa nghĩa không phải là một tổ chức lộn xộn, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết Nhưng các ý kiến lại không thể thống nhất về nội dung các nghĩa và mối quan hệ giữa các nghĩa đó

Nguyễn Thiện Giáp cho rằng nghĩa của từ là một hiện tượng phức tạp, bao gồm các thành tố đơn giản hơn như:

- Nghĩa sở chỉ: chỉ ra mối quan hệ từ với sự vật, hiện tượng, quá trình mà từ biểu thị

- Nghĩa sở biểu: là quan hệ của từ vói ý, tức là khái niệm hoặc biểu tượng mà

từ biểu thị

- Nghĩa sở dụng: là quan hệ từ với người sử dụng từ Nhờ đó, người sử dụng

có thể bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình

- Nghĩa kết cấu: là quan hệ của từ với những từ khác trong hệ thống [19]

Để đánh giá sự phân chia các thành tố nghĩa, ta thấy nghĩa sở dụng được tác giả quan niệm như là mối quan hệ của từ với người sử dụng Trong khi đó, để là một thành tố nghĩa của từ thì yếu tố đó phải chỉ ra mối liên hệ giữa từ và yếu tố nào đó trong bản thân ngôn ngữ Do vậy, quan hệ giữa từ với người sử dụng không thể thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ nghĩa học Nó phải nằm trong lãnh địa của ngữ dụng học Cũng với cách nhìn nhận như vậy, nghĩa kết cấu không nghiên cứu mối

Trang 17

quan hệ trong bản thân từ mà xem xét nó với các từ khác trong hệ thống Nghĩa kết cấu phải thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ pháp

Như vậy, khi xem xét các thành tố tạo nghĩa của từ, Nguyễn Thiện Giáp đã chưa phân biệt được rạch ròi các yếu tố nằm trong bản thân nghĩa của từ với các yếu

tố có quan hệ với nghĩa của từ Chính điều này tạo nên hạn chế trong phân chia các thành tố nghĩa của tác giả

Tránh được hạn chế trong việc phân chia của Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu cho rằng ý nghĩa từ vựng gồm 3 thành phần tương ứng với 3 chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm:

- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật

- Ý nghĩa biểu niệm tương ứng với chức năng biểu niệm

- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái

Các ý nghĩa này có tính chất tương đối cố định, bền vững và là những sự kiện thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ Đi sâu vào từng loại ý nghĩa, tác giả quan niệm:

- Ý nghĩa biểu vật tạo nên khi từ biểu thị sự vật, hiện tượng, đặc điểm,… ngoài ngôn ngữ

- Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức nhất định

- Ý nghĩa bỉểu thái của từ là những nhân tố đánh giá, nhân tố cảm xúc, nhân

tố thái độ,… mà từ gợi ra cho người nói và người nghe [1]

Đánh giá một cách khách quan, các loại nghĩa mà Đỗ Hữu Châu đưa ra hợp lí hơn Nhưng theo chúng tôi, loại nghĩa biểu thái dưới quan niệm của tác giả chính là loại nghĩa biểu niệm đối với tính từ Hay nói cách khác, nghĩa bỉểu niệm của tính từ được tác giả phân thành một kiểu riêng: nghĩa biểu thái Do vậy, cách phân chia theo hướng này vẫn còn có điểm bất hợp lí

Trang 18

Nhìn chung, theo quan điểm đồng đại xem xét cấu trúc nghĩa trong một tĩnh trạng tương đối, người ta không tính đến nhân tố nguồn gốc hay thời điểm xuất hiện Điều được đặc biệt chú ý là đặc điểm nội dung và mối quan hệ giữa các nghĩa Theo

đó, người ta phân biệt nghĩa cơ bản – không cơ bản; nghĩa đen – nghĩa bóng; nghĩa độc lập – nghĩa phụ thuộc văn cảnh,… Cách phân chia này căn cứ vào đặc điểm sự

tổ hợp các nét nghĩa

Lê Quang Thiêm cho rằng chưa có khái niệm nào được dùng từ cổ xưa cho đến nay như những loại nghĩa nêu trên lại thiếu cơ sở lí luận đến thế [13] Bởi lẽ các khái niệm này trong ngôn ngữ học chưa được xác định một cách khoa học Theo ông, các khái niệm trên cần phải được xác định một cách cụ thể bằng các thành tố nội dung và cách thức tổ chức các thành tố đó [13] Tác giả chỉ ra rằng nghĩa cơ bản

là nghĩa chịu sự chi phối của các quan hệ hệ hình nhiều nhất; ngoài ra còn phải chịu

sự chi phối của các quan hệ cú đoạn Còn nghĩa không cơ bản thì ngược lại Trong mỗi nghĩa cơ bản thường có chứa một hoặc một vài nét nghĩa khái quát phạm trù mà nghĩa cơ bản bao chứa và kèm theo một vài nét nghĩa loại biệt do các kết hợp cú đoạn tạo ra

Sự phân biệt nghĩa đen – nghĩa bóng cũng được giải quyết trên cơ sở phân biệt các nét nghĩa được xác định theo quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn Như vậy,việc xác định các loại nghĩa và các nét nghĩa dựa trên hai quan hệ này là khoa học, bởi nó cho phép xác định một cách khách quan nội dung của các loại nghĩa và chỉ rõ con đường hình thành của chúng

Mối quan hệ nghĩa, xét về mặt đồng đại, rất đa dạng và phức tạp Thực tế, trong các từ điển giải nghĩa, chỉ các nghĩa của từ đa nghĩa có quan hệ đơn tuyến mới được phản ánh chính xác Đối với các nghĩa được tổ chức theo quan hệ đa tuyến, từ điển giải nghĩa không thể chỉ ra một cách cụ thể rằng nghĩa phái sinh này được xuất hiện dựa trên nghĩa cơ bản hay nghĩa không cơ bản liền trước nó Chính điều này tạo

Trang 19

ra ấn tượng sai lạc, làm cho người đọc hiểu sai các mối quan hệ, liên hệ ngữ nghĩa vốn có trong các từ đa nghĩa

Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, các loại nghĩa và mối quan hệ giữa các nghĩa đều có mối liên hệ nhất định với quan hệ liên tưởng Do liên tưởng có đặc điểm là phản ánh sự vật hiện tượng qua mối quan hệ tương đồng và biểu tượng hóa nên các nghĩa cũng được hình thành qua các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp Hệ quả của đặc điểm này là sự phân chia nghĩa đen và nghĩa bóng Theo đó, nghĩa đen phản ánh trực tiếp, nghĩa bóng phản ánh gián tiếp sự vật hiện tượng Nghĩa đen gắn liền với các dấu hiệu của hiện thực, nghĩa bóng gắn liền với hình tượng biểu trưng hóa, tương ứng với sự sử dụng trong từng văn cảnh

Xét về mặt lịch đại, từ đa nghĩa cũng có cơ cấu nghĩa riêng Trên bình diện này, nội dung nghĩa của từ đa nghĩa gắn liền với quá trình chuyển nghĩa và sự xuất hiện của nghĩa bóng Sự chuyển nghĩa này là hệ quả của việc mở rộng dung lượng nghĩa của cùng một từ nhằm thể hiện những nội dung nhất định có mối liên hệ nào

đó với nghĩa ban đầu Nghĩa mới được hình thành trên cơ sở sự chuyển nghĩa này được gọi là nghĩa bóng hay nghĩa phái sinh Để phân biệt với nghĩa phái sinh được tạo ra sau quá trình chuyển nghĩa, nghĩa ban đầu được gọi là nghĩa từ nguyên Bằng

tư duy hình tượng, sự chuyển nghĩa được thực hiện qua quá trình chuyển tên gọi của đối tượng này sang tên gọi của đối tượng khác Sự chuyển nghĩa tạo nên cách dùng

từ mới mẻ, có tính hình tượng cao Nghĩa phái sinh có thể được sử dụng một cách linh hoạt dựa trên khả năng sáng tạo ngôn ngữ của cộng đồng tùy vào hoàn cảnh cụ thể

Rõ ràng trên cả bình diện đồng đại và lịch đại, một từ dù có nhiều nghĩa đến đâu cũng chỉ có thể được phân chia theo hướng lưỡng phân mà thôi Sự phân biệt như vậy không thể chỉ rõ, không thể gọi tên một cách chính xác vị thế, vai trò của nó trong các bộ phận nghĩa còn lại của từ Bởi không thể đưa ra một sự định loại đích đáng cho từng bộ phận nghĩa của từ nhiều nghĩa nếu phân chia chúng theo hướng

Trang 20

lưỡng phân Theo đó, sẽ tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục Lưỡng phân không đủ thang độ để loại biệt các thành tố nghĩa của từ đa nghĩa Hơn nữa, nó không bao quát hết được sự đa dạng của vốn từ và các loại hình phong cách chức năng Do vậy

sự đa dạng của ngôn ngữ đời thường cũng như sự đa dạng, phong phú của văn bản khoa học – kĩ thuật không được xem xét triệt để

Để giảm thiểu những hạn chế trên khi xác định các kiểu - loại nghĩa của từ đa nghĩa, Lê Quang Thiêm đưa ra mô hình phân chia các kiểu - loại nghĩa của từ đa nghĩa thành 3 tầng nghĩa với 6 kiểu nghĩa Theo quan điểm của tác giả, trong rất nhiều các nhân tố tác động và qui định nghĩa từ vựng, nhân tố cần được ưu tiên là vai trò của chủ thể ngôn ngữ và sự tri nhận nghĩa Sở dĩ có sự phân chia thành các tầng nghĩa và các kiểu nghĩa như vậy là vì ở các phong cách chức năng nhất định, từ

đa nghĩa chỉ thể hiện một hoặc một vài nghĩa tương ứng Các nghĩa này không thể bao quát hết toàn bộ hệ thống nghĩa thực sự của từ Tác giả cho rằng nội dung phổ nghĩa của từ không phải chỉ là một sự hình dung tiên nghiệm chủ quan Đó thực chất

là sự phản ánh thể hiện qua văn cảnh nội dung các từ ngữ thuộc các loại hình phong cách chức năng khác nhau Các yếu tố thuộc tính của nội dung đó trải dài trong phổ nghĩa từ vựng và được thể hiện tách bạch trong tầng nghĩa, kiểu nghĩa của từ [13]

Với lập luận như vậy, Lê Quang Thiêm đưa ra sơ đồ tầng nghĩa và kiểu nghĩa

từ vựng như sau:

Trang 21

Theo tác giả, có sự phân loại về mặt thuật ngữ giữa loại nghĩa và kiểu nghĩa Loại có tính phân loại và bao quát, còn kiểu có tính năng động và mềm dẻo hơn Về cấu tạo, các thuật ngữ được đưa ra có cấu tạo gồm 2 yếu tố với yếu tố chung là biểu

và các thành tố khu biệt „niệm‟, „hiện‟, „thị‟, „chỉ‟, „trưng‟, „tượng‟ Điều này giúp

dễ hình dung đặc điểm chung của các kiểu nghĩa và làm rõ nét nội dung đặc trưng của từng kiểu nghĩa này

Đi sâu vào mỗi kiểu nghĩa, tác giả đề nghị 6 kiểu nghĩa này được phân biệt bằng những nội dung sau:

Tầng nghĩa trí tuệ bao gồm 2 kiểu nghĩa:

Nghĩa biểu niệm: là nội dung mà tư duy con người nhận thức và phản ánh

được bản chất các thuộc tính, quá trình và hiện tượng Đó là nghĩa trừu tượng, khái quát, khoa học và được thể hiện bằng những khái niệm ở một giai đoạn phát triển

nhất định của khoa học

Nghĩa biểu hiện: là nội dung khái quát, bao hàm hai nội dung cụ thể hơn:

Trang 22

Thứ nhất, nội dung khái quát thuộc tính dấu hiệu có tính chủ quan, không hoàn toàn thể hiện bản chất; được gọi là ý niệm qui ước hay khái niệm qui ước

Thứ hai, nội dung nghĩa hệ thống là một yếu tố khái quát, trừu tượng, được xác lập trong quan hệ với từ khác cùng nhóm hoặc trong trường từ vựng

Cả hai nội dung này đều được xác lập qua nhận thức trừu tượng của chủ thể

tư duy Như vậy, tầng nghĩa trí tuệ được xác lập, tồn tại và biến đổi thông qua nhận thức trí tuệ của người nghiên cứu và của chủ thể nhận thức

Ngoài ra, tầng nghĩa trí tuệ được coi là yếu tố quan trọng nhất thể hiện đặc điểm của thuật ngữ khoa học

Tầng nghĩa thực tiễn gồm 2 kiểu nghĩa

Nghĩa biểu thị: thể hiện tính cụ thể của lời nói Trong thực tiễn sử dụng ngôn

ngữ, một khía cạnh, một nội dung cụ thể nào đó xuất hiện Nghĩa biểu thị xuất hiện trong văn cảnh cụ thể đó và chỉ ra một nét, một đặc trưng nhất định Chính yếu tố

này giúp cho người thông báo trao đổi một cách tự nhiên và trực tiếp

Nghĩa biểu chỉ: thực chất là nghĩa của những từ chỉ định như này, kia, ấy, đó,

nọ, tôi, tớ,… Nghĩa biểu chỉ của từ có thể được thay bằng một biểu thức qui chiếu

Tầng nghĩa biểu trưng: Là tầng nghĩa thể hiện mức độ của sự hình dung,

tưởng tượng của con người khi liên hệ nghĩa với hình thức biểu hiện hoặc phạm vi

tồn tại khác trong cuộc sống Tầng nghĩa này bao gồm 2 kiểu nghĩa:

Nghĩa biểu trưng: thể hiện nội dung nghĩa của những từ có hình thức ngữ âm

hoặc hình thức cấu âm liên hệ chặt chẽ với nội dung được biểu hiện Đây là nghĩa của những từ mà ta vẫn quen gọi là từ tượng thanh, tượng hình Quá trình biểu tượng hóa của tín hiệu vốn có nguồn gốc tâm lí trong đời sống xã hội và được ghi lại một

cách độc đáo trong ngôn ngữ

Nghĩa biểu tượng: Là nội dung có được do sự hình dung, tưởng tượng Nội

dung tín hiệu được gán với những sự vật, hoạt động, thuộc tính của thế giới viễn

Trang 23

tưởng Biểu tượng luôn mang tính văn hóa, nghệ thuật, là giá trị nhân văn mà toàn

thể cộng đồng mã hóa vào trong ngôn ngữ

Tầng nghĩa này, mà đặc biệt là kiểu nghĩa biểu tượng gắn bó chặt chẽ với chức năng thẩm mĩ của từ ngữ

Do chịu ảnh hưởng của lí thuyết logic điển mẫu, Lê Quang Thiêm cho rằng ranh giới giữa nghĩa đời thường, nghĩa mang tính khoa học và nghĩa được sử dụng trong sáng tạo hình tượng chỉ là một ranh giới mờ, khác nhau về độ đậm nhạt Chúng được phân bố đều đặn trên một phổ nghĩa từ vựng Các nghĩa này không thể

bị phân cắt một cách rạch ròi, cứng nhắc Chính vì không nhận thức được điều này nên ngôn ngữ học truyền thống đã cố gắng phân định một cách rạch ròi, chính xác ranh giới của từng loại nghĩa Do vây, tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ đã không được nhận diện một cách đầy đủ

1.2 Tầng nghĩa trí tuệ và thuật ngữ

1.2.1 Mối quan hệ giữa tầng nghĩa trí tuệ và thuật ngữ

Trong tầng nghĩa trí tuệ, nghĩa biểu niệm là kiểu nghĩa có khả năng đạt đến ngưỡng chân lí cao nhất Đó chính là nội dung mà tư duy con người nhận thức và phản ánh được các hiện tượng, quá trình, thuộc tính,… một cách bản chất Do vậy, nghĩa biểu niệm có nội dung tương hợp với khái niệm khoa học Cả hai yếu tố này đều có khả năng thể hiện một cách khái quát các nội dung cơ bản của đối tượng khoa học

Nếu nghĩa biểu niệm tương đương với khái niệm khoa học về mặt nội dung thì thuật ngữ lại chính là yếu tố thể hiện nội dung đó Hay nói cách khác, nghĩa biểu hiện khái niệm khoa học thể hiện tầng sâu về nội dung khoa học và chúng được sử dụng dưới dạng thuật ngữ Thuật ngữ là một bộ phận đã được xác định một cách tương đối rõ ràng trong phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học Xác định đối tượng khảo sát như vậy, việc khảo sát sẽ trở nên chính xác và triệt để hơn

Trang 24

1.2.2 Quan niệm về thuật ngữ và đặc điểm của thuật ngữ

Có những học giả cho rằng thuật ngữ và từ thông thường có thể đưa vào một

sự phân định rạch ròi, như U.P.Kuzkin Theo đó, thuật ngữ không có liên hệ với từ thông thường Thực ra, thuật ngữ về bản chất cũng là từ hoặc cụm từ Nhưng, chúng khác nhau ở chỗ từ thì có thể đa nghĩa, còn thuật ngữ thì chỉ có thể có nghĩa chính xác trong giới hạn một lĩnh vực khoa học –kĩ thuật nhất định Đây cũng là quan điểm được rất nhiều tác giả thống nhất

Thuật ngữ được coi là những tri thức đúc kết được sau quá trình đúc kết của tri thức nhân loại Hiện nay, thuật ngữ được hình thành và phát triển không ngừng với sự phát triển của các khoa học khác và thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học, nội dung thuật ngữ hay tầng nghĩa trí tuệ ở các thuật ngữ cũng ngày càng phát triển

Thuật ngữ không chỉ biểu thị một khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự

vật, một hiện tượng khoa học nhất định “Thuật ngữ khoa học, kỹ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng đùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm… trong những ngành kỹ thuật, công nghiệp và trong những khoa học tự nhiên hay xã hội” [1 221-222]

Trang 25

Từ cách nhìn của ký hiệu học, thuật ngữ được định nghĩa như sau: “Thuật ngữ là ký hiệu - biểu đạt, được sử dụng như yếu tố của một mô hình ký hiệu thuộc một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định Định nghĩa này cho phép đối lập thuật ngữ với các yếu tố từ vựng khác của ngôn ngữ tự nhiên mà không phải

là thuật ngữ và các yếu tố từ vựng của ngôn ngữ nhân tạo”

Đáng chú ý hơn cả là cách xác định thuật ngữ xuất phát từ quan điểm của thuật ngữ học Quan điểm này cho rằng, thuật ngữ là đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ nhất định dùng cho những mục đích chuyên biệt biểu đạt khái niệm chung – cụ thể hay trừu tượng, của lý thuyết thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định của các tri thức hay hoạt động

Trong định nghĩa này, cần nhấn mạnh những điểm quan trọng sau:

- Thuật ngữ có tất cả các đặc trưng ngữ nghĩa và hình thức của từ và cụm từ của ngôn ngữ tự nhiên

- thuật ngữ, như ta thấy, hiện diện chính là trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt, chứ không phải trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ tự nhiên nào đó nói chung

- Trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt, thuật ngữ phục vụ với tư cách là phương tiện biểu đạt các khái niệm chuyên môn chung – là kết quả của sự tri nhận trong những phạm vi chuyên môn của các tri thức và/hay hoạt động

- Thuật ngữ là yếu tố của các hệ thống thuật ngữ phản ánh (mô hình hoá) các

lý thuyết mà nhờ các lý thuyết này miêu tả được các lĩnh vực chuyên môn – tức là các đối tượng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt

Thuật ngữ là một bộ phận của vốn từ Đó là một bộ phận đặc biệt và sự tồn tại của nó gắn liền với các đối tượng thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định, chứ không phải trong các lĩnh vực sinh hoạt đời thường khác So với các nghĩa của từ đa

Trang 26

nghĩa, thuật ngữ chỉ thể hiện một nghĩa theo hướng chuyên sâu Nếu ngôn ngữ phản ánh xã hội thì thuật ngữ phản ánh rất rõ sự phát triển nền khoa học kĩ thuật của xã hội đó Mỗi môn, ngành khoa học đều có một hệ thống thuật ngữ riêng đáp ứng cho nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu của ngành mình Tuy nhiên, đó không phải là một hệ thống từ vựng hoàn toàn tách biệt Chúng chỉ là một bộ phận từ vựng của khối từ vựng –ngôn ngữ thống nhất Hay nói cách khác, hệ thống thuật ngữ là tập hợp từ ngữ của một ngành khoa học và xét riêng trong hệ thống đó, thuật ngữ luôn có nghĩa xác định, chính xác và mang tính khoa học

1.2.2.2 Đặc điểm của thuật ngữ

Với những nhận định đã trình bày ở trên, thuật ngữ có những đặc điểm sau:

Tính chính xác Đây là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất

với thuật ngữ Biểu hiện được đúng khái niệm khoa học, một thuật ngữ được coi là lí tưởng khi nó phản ánh được đặc trưng cơ bản, bản chất nội dung của khái niệm Đồng thời, nó cho phép người ta khu biệt khái niệm khoa học này với khái niệm khoa học khác Loại từ tính đa nghĩa, khái niệm trong hệ thống mỗi ngành khoa học chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện và ngược lại, mỗi thuật ngữ chỉ biểu hiện một khái niệm khoa học Bởi chức năng chính của thuật ngữ là định danh, là gọi tên khái niệm Cố gắng đạt đến mức cao nhất

về tính chính xác, thuật ngữ thường ngắn gọn về hình thức, chặt chẽ về nội dung Do vậy, thuật ngữ dễ dàng được ghi nhớ lâu dài

Tính hệ thống Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Mỗi ngôn

ngữ là một hệ thống tín hiệu riêng Với bản chất là một bộ phận từ vựng của ngôn ngữ, thuật ngữ cũng nằm trong hệ thống tín hiệu đó Ngoài ra, nó còn phải chịu sự chi phối của hệ thống thuật ngữ bao chứa nó Mọi thuật ngữ, khái niệm khoa học phải nằm trong một hệ thống nhất định Thuật ngữ chỉ có thể được xác định chính xác khi nó được đặt vào đúng vị trí của mình trong toàn bộ hệ thống khái niệm Đó là một tập hợp gồm nhiều phần tử có mối

Trang 27

quan hệ qua lại qui định lẫn nhau Để hiểu được nội hàm của khái niệm thì không thể chỉ căn cứ vào khái niệm đó mà phải đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong hệ thống Một từ chỉ được bộc lộ nghĩa thuật ngữ khi

nó được đặt trong hệ thuật ngữ Kiến thức càng cao thì thuật ngữ thể hiện kiến thức đó có nội hàm càng phức tạp và trừu tượng Các thuật ngữ trong hệ thống luôn có mối quan hệ tầng bậc, móc xích tạo thành một khối thống nhất

Tính quốc tế đảm bảo cho nội dung khái niệm của các ngành

khoa học – kĩ thuật các nước không quá chênh lệch Nhận thức khoa học trở thành của chung nhân loại Nhờ đó, các nước có thể rút ngắn quá trình phát triển nhờ tránh được những va vấp và tiếp thu những kinh nghiệm quý giá

mà các nước đi trước đã trải qua Quá trình quốc tế hóa thuật ngữ là một xu hướng phát triển tất yếu của ngôn ngữ Nó có ý nghĩa to lớn trong việc tăng

khả năng hợp tác quốc tế về mọi mặt, nhất là về khoa học – kĩ thuật

1.3 Hướng nghiên cứu của luận văn

Trong ngôn ngữ, hệ thống đơn vị từ vựng luôn là một hệ thống mở Tuy có nhiều cách quan niệm khác nhau về từ đa nghĩa, đồng thời có nhiều các quan điểm khác nhau về các kiểu – loại nghĩa của từ, nhưng nhìn chung, các kiểu nghĩa của từ vẫn chỉ được phân chia theo hướng lưỡng phân Xem xét dưới góc độ như vậy, chúng ta không thể thấy được hết sự phức tạp của vấn đề này

Lí thuyết về phổ nghĩa từ vựng đã giải quyết được vấn đề này Bởi vốn từ tiếng Việt đã và đang phát triển theo chiều sâu Đây chính là sản phẩm từ cơ chế hoạt động của bộ máy cấu tạo từ Tuy ý nghĩa của từ đóng vai trò cơ bản trong giao tiếp và tư duy nhưng không thể vì thế mà đánh giá quá cao chức năng nhận thức, nhìn nhận khái niệm thiên về góc độ logic hơn là ngôn ngữ Vì mọi hoạt động của con người đều gắn với tư duy nên nếu tách ngôn ngữ và tư duy để nhìn nhận một cách riêng rẽ thì sẽ chỉ thu được kết quả phiến diện Khác với những quan điểm

Trang 28

khác, quan điểm về phổ nghĩa từ vựng công nhận khái niệm qui ước và khái niệm khoa học như một phần tất yếu trong kết cấu nghĩa của từ Minh chứng cho điều đó chính là phổ nội dung trải dài từ cực duy lí khoa học tới cực biểu cảm, biểu trưng Theo đó, các nghĩa của từ trở thành một hệ thống logic với đầy đủ tính đa dạng và phong phú của nó trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi hướng tới nghiên cứu tầng nghĩa trí tuệ (intellectural stratum), tầng nghĩa bộc lộ nghĩa cụ thể của từ trong văn bản khoa học Triết học Mac –Lenin đã chỉ ra quá trình nhận thức của con người phải trải qua hai cấp độ: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính Trong đó, nhận thức cảm tính bao gồm ba hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng Trong nhận thức cảm tính tồn tại cả cái bản chất và không bản chất, cả cái tất yếu và cái ngẫu nhiên Ở trình độ cao hơn, nhận thức lí tính là giai đoạn trừu tượng và khái quát hóa thuộc tính và đặc điểm bản chất của đối tượng Nhận thức lí tính thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán và suy luận tuy chỉ là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng nhưng khái niệm đã phản ánh được đặc điểm bản chất của sự vật Bởi đó là sự khái quát hóa cao độ các đặc điểm của đối tượng đang cần nghiên cứu

Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề làm rõ những cơ sở

lý luận xung quanh vấn đề thuật ngữ và tầng nghĩa trí tuệ Thực tế, từ đa nghĩa bấy lâu nay đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới ngôn ngữ học Vấn đề về các kiểu – loại nghĩa của từ đa nghĩa hầu như không tìm được sự thống nhất giữa các ý kiến tranh luận Các quan điểm theo ngôn ngữ học đồng đại và lịch đại đều được đưa ra bàn thảo Tuy nhiên, các quan điểm đều bộc lộ những điểm thiếu sót Quan điểm giải quyết mối quan hệ giữa các nghĩa của từ đa nghĩa theo phổ nghĩa từ vựng đã khắc phục được những hạn chế của các ý kiến trước đó

Trang 29

Phổ nghĩa từ vựng phân chia các nghĩa của từ đa nghĩa thành 3 tầng nghĩa với

6 kiểu nghĩa trải dài từ cực duy lí khoa học qua sự sử dụng đời thường tới cực biểu cảm, biểu trưng Theo đó, các nghĩa chỉ là những sự biểu hiện khác nhau của cùng một từ đa nghĩa trong những hoàn cảnh xuất hiện nhất định Giữa chúng luôn tồn tại mối quan hệ qua lại qui định lẫn nhau vô cùng mật thiết Các nghĩa của từ, trong đó

có cả nội dung nghĩa thuật ngữ, trở thành một hệ thống logic với đầy đủ tính đa dạng

và phong phú của nó trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ

Thực chất nghĩa thuật ngữ là một nghĩa phái sinh trên cơ sở nghĩa ban đầu của từ ngữ thông thường hoặc trên cơ sở một hay một vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu niệm của từ Khả năng biến dạng ý nghĩa của từ nhiều nghĩa thông thường (nghĩa biểu niệm) có thể đi đến giới hạn là nghĩa thuật ngữ Đó là trường hợp mặt biểu hiện (vỏ ngữ âm) của từ và cái biểu vật giữ nguyên không thay đổi, còn ý nghĩa thì thay đổi

Trong quá trình biến đổi, phát triển nghĩa của từ nhiều nghĩa, ý nghĩa thuật ngữ vẫn còn nằm lại trong hệ thống ý nghĩa của từ xuất phát của ngôn ngữ chung Ý nghĩa thuật ngữ này vẫn còn gắn liền với một ý nghĩa nào đó của từ ngữ thông thường Quá trình phát triển các ý nghĩa của từ nhiều nghĩa theo hướng từ nghĩa thông thường đến nghĩa thuật ngữ chính là quá trình biến đổi nghĩa từ vựng của từ thông thường theo hướng từ nghĩa biểu thị (denotational meaning) thuộc tầng nghĩa thực tiễn (pratical stratum) chuyển thành nghĩa biểu niệm khái niệm khoa học (scientific concept) thuộc tầng nghĩa trí tuệ (intellectual stratum) theo quan niệm của

Lê Quang Thiêm Đó chính là quá trình biến đổi và phát triển nghĩa của từ thông thường để tạo ra một nghĩa phái sinh là nghĩa thuật ngữ

Trang 30

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẦNG NGHĨA BIỂU NIỆM

CỦA THUẬT NGỮ LUẬT 2.0 Dẫn nhập

Để làm cơ sở cho việc chứng minh sự phát triển về nghĩa, việc nhận diện thuật ngữ trong các luật cơ sở của hệ thống luật Việt Nam là hết sức quan trọng Dựa vào các khái niệm về thuật ngữ đã trình bày trong chương 1, chúng tôi nhận diện các thuật ngữ luật dựa trên những nguyên tắc sau đây:

1 Về mặt cấu tạo, các thuật ngữ có cấu trúc nội tại của nó, thể hiện bằng các yếu tố tạo nên thuật ngữ và các yếu tố này phải có quan hệ với nhau, mỗi yếu tố có một chức năng, nhiệm vụ riêng để tạo nên chỉnh thể thuật ngữ

2 Về mặt nội dung, thuật ngữ luật gồm các thuật ngữ vốn thuộc của luật

Đó là các thuật ngữ chỉ khái niệm chung, cơ bản, điển hình, của luật Ngoài ra, còn

có các thuật ngữ của các ngành khác được nhập vào luật và được các ngành này điều chỉnh Đó là các ngành khoa học được các bộ luật tương ứng bảo hộ

3 Về mặt ý nghĩa, thuật ngữ bao giờ cũng thể hiện khái niệm hoàn chỉnh và các yếu tố trong thuật ngữ mang một hoặc một số thuộc tính về khái niệm do thuật ngữ ấy biểu thị

Với các tiêu chí nhận diện như trên, chúng tôi thống kê có1063 đơn vị thuật ngữ hiện đang được sử dụng là các thuật ngữ trong cả 3 bộ luật nền tảng này Cụ thể, trong BLDS là 718 từ, BLHS là 468 từ và LTM là 368 từ

2.1 Con đường phát triển của nội hàm thuật ngữ

Khi bàn về con đường tạo ra thuật ngữ trong tiếng Việt, Hoàng Văn Hành [Về sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt], cho rằng: “Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy, thuật ngữ trong tiếng Việt, cũng như trong các ngôn ngữ đã phát triển khác hình thành nhờ 3 con đường cơ bản là: 1 Thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường; 2 Cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng

Trang 31

phương thức sao phỏng; và 3 Mượn nguyên thuật ngữ nước ngoài, thường là những thuật ngữ có tính quốc tế

Trong ngôn ngữ học đại cương, khi nói đến ý nghĩa của từ, thường ta phân biệt 2 loại nghĩa khác nhau, một là cái mà ngôn ngữ nghiên cứu gọi là ý nghĩa gần nhất của từ và hai là cái mà khoa học khác phải nghiên cứu, là ý nghĩa tiếp theo của

từ Con đường thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường là con đường biến đổi và phát triển nghĩa của từ để tạo một nghĩa mới – gọi là nghĩa thuật ngữ Bản chất, nghĩa thuật ngữ là một nghĩa phái sinh trên cơ sở nghĩa ban đầu của từ ngữ thông thường hoặc trên cơ sở nột hay một vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu niệm của từ Khả năng biến dạng nghĩa của từ thông thường (nghĩa biểu niệm) có thể đi đến giới hạn là nghĩa thuật ngữ Đó là trường hợp mặt biểu hiện (vỏ ngữ âm) và cái biểu vật giữ nguyên nhưng ý nghĩa thì đã thay đổi [23 – 45]

Cụ thể hơn, khi bàn về sự biến đổi ý nghĩa của từ, Lê Quang Thiêm cũng cho rằng: “Trong quá trình biến đổi, phát triển nghĩa của từ nhiều nghĩa, ý nghĩa thuật ngữ vẫn còn nằm lại trong hệ thống ý nghĩa của từ xuất phát của ngôn ngữ chung Ý nghĩa thuật ngữ này vẫn còn gắn liền với một ý nghĩa nào đó của từ ngữ thông thường Quá trình phát triển các ý nghĩa của từ nhiều nghĩa theo hướng từ nghĩa thông thường đến nghĩa thuật ngữ chính là quá trình biến đổi nghĩa từ vựng của từ thông thường theo hướng đi từ nghĩa biểu thị (denotational meaning) thuộc tầng nghĩa thực tiễn (practical stratum) chuyển thành nghĩa biểu niệm khái niệm khoa học (scientific concept) thuộc tầng nghĩa trí tuệ (intellectual stratum)

Như vậy, thuật ngữ hoá từ thông thường là quá trình biến đổi và phát triển nghĩa của từ thông thường để tạo ra một nghĩa phái sinh là nghĩa thuật ngữ Hay có thể hiểu, thuật ngữ được hình thành bằng con đường thuật ngữ hoá từ thông thường

là những thuật ngữ được hình thành theo phương thức chuyên biệt hoá về nghĩa của

từ thông thường

Trang 32

2.2 Sự nâng cấp của thuật ngữ luật từ từ thông thường

Dựa vào con đường xây dựng nghĩa cho thuật ngữ mà các nhà ngôn ngữ học trước đây đã đề cập và dựa trên khảo sát và phân tích hệ thuật ngữ của BLDS, Bộ BLHS và LTM, chúng tôi nhận thấy hầu hết nghĩa thuật ngữ được tạo ra bằng các phương thức thuật ngữ hoá từ thông thường Và chính những thuật ngữ tiếng Việt được hình thành từ các từ ngữ đời sống hàng ngày sẽ khiến cho các thuật ngữ dễ hiểu, gần gũi với quần chúng Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của 3 BLDS, hình sự và thương mại, là những bộ luật đóng cơ sở nền tảng của hệ thống luật pháp Việt Nam, và cũng được coi là yếu tố cuối cùng dùng để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến pháp luật trong xã hội Đây là những thuật ngữ mang tính chất nền tảng, cơ bản của hệ thuật ngữ luật Việt Nam

Sau khi khảo sát thực tiễn nội dung của các thuật ngữ, chúng tôi nhận thấy,

bộ tiêu chí điển hình của một thuật ngữ gồm những tiêu chuẩn thuật ngữ bắt buộc phải có là tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế và các tiêu chuẩn không bắt buộc gồm có tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn Trong đó, với các tiêu chuẩn không bắt buộc, các thuật ngữ đáp ứng được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu Theo

đó, các thuật ngữ được coi là điển mẫu khi thoả mãn được 3 điều kiện bắt buộc về tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế Các tiêu chuẩn còn lại về tính dân tộc, tính đại chúng và tính ngắn gọn, về nguyên tắc là không bắt buộc nhưng chúng càng đáp ứng được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu

Đặc biệt, tính chính xác chính là điểm thể hiện khái niệm khoa học, là nội dung mà tư duy con người nhận thức và phản ánh được bản chất các thuộc tính, quá trình và hiện tượng Đó là nghĩa trừu tượng, khái quát, khoa học và được thể hiện bằng những khái niệm ở một giai đoạn phát triển nhất định của khoa học Hai điều kiện bắt buộc còn lại, là tính hệ thống và tính ngắn gọn chính là kiểu nghĩa biểu hiện của tầng nghĩa trí tuệ, khi nó được xác lập trong quan hệ với từ khác cùng nhóm hoặc trong trường từ vựng

Trang 33

Các thuật ngữ khảo sát trong 3 bộ luật đều là các thuật ngữ dạng điển mẫu, đáp ứng được cả 3 điều kiện bắt buộc về tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc

tế Riêng trong chương này, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát kiểu nghĩa biểu niệm (với tính chính xác cao) và sự chuyển hoá giữa các kiểu nghĩa biểu niệm với kiểu nghĩa biểu thị, vốn vẫn được coi là sự chuyển hoá giữa nội dung thuật ngữ và nội dung đời thường của từ Đồng thời, dựa trên số liệu khảo sát tư liệu, chúng tôi sẽ đưa ra cái nhìn khái quát về sự chuyển đổi giữa 2 kiểu nghĩa này Các thuộc tính quan trọng còn lại của thuật ngữ, là tính hệ thống và tính quốc tế, chúng tôi sẽ khảo sát cụ thể trong chương sau

2.3 Thực tế quá trình biến đổi của nội hàm thuật ngữ

Như đã trình bày ở trên, thuật ngữ hoá từ thông thường là quá trình biến đổi

và phát triển nghĩa của từ thông thường để tạo ra một nghĩa phái sinh là nghĩa thuật ngữ Tuy cùng sử dụng phương pháp thuật ngữ hoá từ thông thường, nhưng các thuật ngữ khác nhau chịu ảnh hưởng về nghĩa của từ thông thường khác nhau Nhìn chung, có 4 kiểu phát triển nghĩa của từ thông thường thành nghĩa thuật ngữ: 1 Sử dụng toàn bộ nội hàm về nghĩa; 2 Sử dụng một phần nội hàm và phát triển sâu; 3

Sử dụng một phần nội hàm và mở rộng nghĩa; 4 Mở rộng toàn bộ nội hàm nghĩa

Điều này cũng là một phần quan trọng trong việc lý giải sự chuyển đổi giữa các tầng nghĩa kiểu nghĩa của một từ khi dùng đời thường trong vai trò nghĩa biểu thị, nhưng khi đứng trong các văn bản cần tính chính xác cao, nó lại thể hiện nghĩa biểu niệm

Ngoài ra, ở một số trường hợp đặc biệt còn có sự tách biệt tương đối giữa nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thị Giữa chúng tuy còn có thể tìm thấy mối quan hệ nhỏ, nhưng về bản chất, nghĩa biểu thị và nghĩa biểu niệm chỉ những đối tượng tương đối khác nhau Đây là một trường hợp rất đặc biệt trong thực tế khảo sát

Cùng với thực tế khảo sát, trong phần này chúng tôi tập trung khảo sát sự phát triển về nghĩa, xem xét mối quan hệ qua lại giữa phạm vi đời thường và phạm

Trang 34

vi khoa học về mặt sử dụng từ để thấy bên cạnh những điểm trùng nhau, nội dung nghĩa trong cách sử dụng đời sống với trong nội dung khoa học có những biến đổi nhất định, tạo nên đặc trưng của kiểu – loại nghĩa

2.3.1 Sử dụng nguyên nội hàm về nghĩa của nội dung từ trong các sử dụng đời thường

Về bản chất, nội hàm là các thuộc tính chung của đối tượng được phản ánh trong một khái niệm Trong cách sử dụng đời sống, có rất nhiều thuật ngữ được sử dụng mà mặt nội dung nghĩa không có sự biến đổi Hay, nói cách khác, thuật ngữ vẫn giữ được trọn vẹn các nội dung nghĩa khi được sử dụng trong phạm vi đời sống Tuy nhiên, trong từng trường hợp sử dụng cụ thể, nghĩa của từ có thể chuyển biến đôi chút nhằm làm cho nghĩa của cả câu hoặc cả văn bản được sáng rõ, truyền tải được đầy đủ nhất mong muốn của người tạo lập văn bản Đây là trường hợp dùng các từ thể hiện các khái niệm khoa học tương đối đơn giản cho mục đích thể hiện những ý tưởng đời sống

Trong sự phát triển của tầng nghĩa với các kiểu nghĩa, tầng nghĩa trí tuệ mà đặc biệt là kiểu nghĩa biểu niệm thể hiện khái niệm, chính là bản chất của sự vật hiện tượng được xây dựng từ quá trình “nâng cấp” nghĩa biểu thị Trong đó, có những trường hợp nghĩa khái niệm của thuật ngữ sử dụng hoàn toàn nghĩa đời thường, hay nói cách khác, nội hàm của chúng trùng nhau Và đây chính là yếu tố chứng minh cho sự mềm dẻo và linh hoạt của ngôn ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu biểu đạt

+ Nhân dân

“Nhân dân” là một từ được quan tâm cả trong đời thường và trong hệ thống luật bởi tính chính trị trong nghĩa của từ Nghĩa của thuật ngữ Nhân dân và từ Nhân dân theo cách dùng thông thường hầu như không có sự khác nhau Từ điển tiếng Việt đưa ra định nghĩa: “Đông đảo những người dân, thuộc mọi tầng lớp, đang sống

Trang 35

trong một khu vực địa lý nào đó (nói tổng quát)” Cùng theo hướng đó, từ điển Luật học định nghĩa: “Tập hợp đông đảo những người dân thuộc mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng đang sống trong một khu vực địa lý nhất định”

Tuy có mở rộng về diễn đạt, đề cập thêm đến giai cấp, thành phần, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nhưng cũng như nội hàm nghĩa biểu thị, nghĩa biểu niệm cũng nhấn mạnh về “đông đảo những người dân (…) đang sống trong một khu vực địa lý nhất định Giữa 2 kiểu nghĩa này có sự tương đồng hoàn toàn và có thể nói nghĩa biểu niệm sử dụng toàn bộ nội hàm nghĩa của kiểu nghĩa biểu thị để xác lập nghĩa của thuật ngữ “nhân dân”

Theo khảo sát của chúng tôi, “Nhân dân” là một từ xuất hiện tương đối phổ biến, tổng cộng 61 lần với 27 lần trong BLDS, 32 lần trong BLHS và 2 lần trong LTM Từ có đó thể suy đoán, đây là một trong những đối tượng quan tâm của BLDS

và hình sự

Ví dụ cụ thể, Điều 479 mục 4 về hợp đồng vay tài sản, nằm trong phần 3 Một

số quy định riêng về mua bán tài sản trong chương 18 Hợp đồng dân sự thông dụng

của BLDS, khi quy định về họ, hụi, biêu, phường, có nêu khoản 2: Hình thức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật Đây là luật cơ bản của hệ thống luật Việt Nam và áp dụng cho các công dân Việt Nam hoặc các nước, vùng lãnh thổ có thoả thuận sử dụng luật Việt Nam Theo

đó, có thể hiểu nôm na nhân dân chính là người dân, là khối người đông đảo làm nền tảng cho đất nước, bất kể tầng lớp nào, giai cấp nào, tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng chịu sự điều chỉnh của quy định này

sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương” (Điều 38, chương 5, BLHS) Theo đó, không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương, việc theo dõi và giám sát việc làm

Trang 36

ăn, sinh sống của những người bị kết án cần có sự tham gia của người dân, các quần chúng cư trú tại địa phương Và bất cứ ai cũng đều phải thực hiện trách nhiệm này

Thuật ngữ “nhân dân”, hiểu theo cách đơn giản nhất thì mang nghĩa biểu thị tương đồng với từ “dân” hoặc “người dân” Trong cuộc họp báo Chính phủ thường

kỳ tháng 3/2012, diễn ra ngày 1/4 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh

La Thăng trình bày về đề án thu phí giao thông: “(…) Nói như vậy, không có nghĩa

Bộ không phải chịu trách nhiệm Chúng tôi chịu trách nhiệm trước Đảng, Chính phủ

và nhân dân về đề án này” hay “(…) giúp người dân lưu thông dễ dàng, thuận tiên, giảm ùn tắc” hoặc “(…) đầu tư nguồn vốn để phát triển và dần hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, đáp ứng tốt nhất nhu cầu đi lại của dân” Từ các tình huống sử dụng thực tiễn ở trên, có thể thấy việc sử dụng “nhân dân”, “người dân” hay “dân” rất linh hoạt và chúng có thể thay thế cho nhanh do sự tương đồng về nghĩa mà vẫn đảm bảo tính trang trọng của một buổi làm việc tầm Chính phủ

Cùng với đó, “Nhân thân” cũng là khái niệm được thống nhất cao giữa nghĩa biểu thị và nghĩa biểu niệm: “Tổng hợp các đặc điển về thân thể, tính cách và cuộc sống của cá nhân một con người, về mặt hành vi pháp luật” Ví dụ: Nhân thân không

rõ ràng Nhân thân của bị cáo có tiền án

Nhân thân là khái niệm pháp lý theo nghĩa mở Theo đó, nhân thân là đặc điểm có thuộc tính pháp lý và xã hội của một con người cụ thể Có nhân thân tốt, có nhân thân xấu, và được đánh giá từ cộng đồng xã hội, từ các cơ quan bảo vệ pháp luật liên quan

Trong lĩnh vực pháp lý, khi một ai đó bị xử phạt, xử lý hành chính qua thời gian để được coi là chưa bị xử phạt, xử lý hành chính hoặc bị kết án, đã được xoá án tích, chúng ta thường gọi nhân thân ông nọ, bà kia, năm nào đó đã bị đưa vào cơ sở giáo dục, với thời hạn 18 tháng; bị kết án về tội trộm cắp tài sản, án phạt 36 tháng tù giam

Trang 37

Nếu chúng ta ghi trong hồ sơ họ có tiền sự, tiền án là trái quy định của pháp luật, vì họ đã được xoá án tích, không còn tiền sự, tiền án nữa Họ đang là người bình thường về mặt pháp lý

+ Đấu giá

Chỉ xuất hiện tổng cộng 174 lần: 34 lần trong BLDS và 140 lần trong LTM

và không xuất hiện trong BLHS, từ “Đấu giá” có thể được coi là một trong những thuật ngữ có tần suất xuất hiện lớn của LTM

Theo từ điển giải nghĩa, “đấu giá” là động từ, bán bằng hình thức để cho những người mua lần lượt trả giá, ai trả giá cao nhất thì được mua Vd: Bán đấu giá tài sản tịch thu Tương tự như vậy, hiểu theo nghĩa thuật ngữ, từ điển luật học định nghĩa: Là hình thức bán công khai một tài sản, một khối tài sản; theo đó, có nhiều người muốn mua tham gia trả giá, người trả cao nhất, nhưng không thấp hơn giá khởi điểm là người mua được tài sản

Thực tế, tại điều 185 về Đấu giá hàng hoá của LTM có định nghĩa: Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người

tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất

Mang cùng nội hàm nghĩa, nhưng từ điển luật học còn giải thích chi tiết thêm: Theo quy định của pháp luật, người bán đấu giá là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, hội đồng bán đấu giá tài sản Người bán đấu giá có nghĩa vụ tổ chức việc bán đấu giá tài sản theo nguyên tắc và thủ tục quy định của pháp luật, niêm yết, thông báo công khai, đầy đủ chính xác các thông tin cần thiết có liên quan đến tài sản bán đấu giá, bảo quản tài sản bán đấu giá khi được người có tài sản giao bảo quản hoặc quản lý; trưng bày, cho xem và cho tham khảo hồ sơ tài sản bán đấu giá (…) Người bán đấu giá tài sản có quyền: yêu cầu người có tài sản bán đấu giá cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, giấy từ liên quan

Trang 38

đến tài sản bán đấu giá (…) Mua tài sản bằng hình thức đấu giá tài sản là một căn

cứ xác lập quyền sở hữu tài sản đối với người đã mua được tài sản

Qua việc đối chiếu các định nghĩa về đấu giá trên, chúng tôi rút ra nhận định chung, bản chất của đấu giá (hoặc bán đấu giá) tài sản là quan hệ dân sự về mua bán tài sản thông qua hình thức đấu giá nhằm bán được tài sản với giá cao nhất Hoạt động bán đấu giá tài sản được diễn ra theo ý chí của chủ sở hữu và người được chủ sở hữu ủy quyền yêu cầu tổ chức có chức năng bán đấu giá hoặc tài sản thực hiện việc bán đấu giá

Trong cách dùng đời sống, ví dụ sau thể hiện rất rõ đấu giá là việc việc mua bán tài sản sao cho đạt giá cao nhất: “Ngày 25/11, tác giả Nguyễn Văn Phúc - trưởng phòng đối ngoại Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế - cho biết đã không mua được bức tranh Chiều tà (Déclin du jour) của vua Hàm Nghi ở buổi đấu giá tại Paris diễn ra lúc 15h (giờ Paris) ngày 24/11 Bức tranh có giá khởi điểm từ 800-1.200 euro, đã được đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp (đơn vị được Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế ủy quyền đấu giá) và một số bà con Việt kiều (quyết tâm mua để tặng Huế) đẩy lên 8.000 euro, nhưng cuối cùng tranh đã được bán cho một người không tiết lộ danh tính đấu giá qua điện thoại với giá 8.800 euro” (báo Tiền Phong, Không mua được tranh của vua Hàm Nghi, 26/11/2010)

Hay trong một ví dụ đời thường hơn: “Từ giá khởi điểm là 10.000 USD, bức tranh nhanh chóng tăng lên 25.000 USD và sau cùng được bà Dương Minh mua với giá 35.000 USD Hai vị mạnh thường quân khác, dù muốn sở hữu bức tranh nhưng

do thua đấu giá nên đã cùng tặng thêm 15.000 USD để nâng giá trị của bức Máu lên 50.000 USD” (Bee.net.vn, Những món đồ đấu giá "cao ngất" của sao Việt – 15/2/2011)

Thực tế, đấu giá tài sản là một dịch vụ có từ lâu đời và tương đối phát triển ở các nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ Tuy nhiên, ở nước ta, hoạt động đấu giá tài sản chỉ mới thực sự bắt đầu phát triển khi Đảng và Nhà nước ta áp dụng chính

Trang 39

sách mở cửa, chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự hình thành và phát triển của pháp luật về bán đấu giá tài sản qua các giai đoạn cụ thể

Có thể nói dịch vụ bán đấu giá tài sản tại Việt Nam được hình thành và phát triển từ việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự Bởi lẽ, các quy định về bán đấu giá tài sản được xuất hiện đầu tiên trong pháp luật về thi hành án dân Pháp luật

về bán đấu giá tài sản được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh thi hành án dân

sự ngày 28/8/1989 (Pháp lệnh năm 1989), quy định về bán đấu giá tài sản để thi hành án Đến năm 1995, BLDS đầu tiên ở nước ta được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua Đây là một văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh các quan hệ dân sự trong đó có quan hệ về bán đấu giá tài sản BLDS năm 1995 đã quy định giao cho Chính phủ ban hành quy chế bán đấu giá Trên cơ sở đó, ngày 19/12/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/1996/CP về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản Đây là văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên điều chỉnh về lĩnh vực bán đấu giá tài sản với những quy định về tài sản bán đấu giá, người bán đấu giá, trình tự, thủ tục bán đấu giá, giải quyết khiếu nại, tranh chấp về bán đấu giá Nhưng dần trong quá trình phát triển của hệ thống luật Việt Nam, “đấu giá” và các vấn đề liên quan trở thành nội dung được “sang nhượng” từ BLDS sang LTM và trở thành một trong những yếu tố điều chỉnh quan trọng của LTM, khi chiếm nguyên Mục 2, Đấu giá hành hoá, gồm 18 điều (từ điều 185 đến 213), trong chương VI của LTM Chính sự xuất hiện tới 140 lần trong tổng số 174 lần xuất hiện ở cả 3 bộ luật đã chứng minh điều đó

Trang 40

thức và kỹ năng chuyên môn nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hay sinh hoạt tiêu dùng của tổ chức cá nhân

Tuy diễn đạt có khác nhau, nhưng cả 2 khái niệm trên đều sử dụng cùng một nội hàm nghĩa, mang lại cùng một cách hiểu về dịch vụ, là phần cơ bản trong công việc kinh doanh, phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng, nhằm đạt hiệu quả công việc

ở mức cao nhất và bền vững nhất Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cung ứng dịch vụ rất đa dạng, phong phú Đó có thể là các dịch vụ tiêu dùng như ăn uống, sửa chữa nhà cửa, máy móc gia dụng các dịch vụ công cộng như cung ứng điện, nước, vệ sinh đô thị; các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải; các dịch vụ mang tính nghề nghiệp chuyên môn cao như kiểm toán, tư vấn kiến trúc, bác sĩ, tư vấn pháp luật… Còn dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch

vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng dịch vụ

hóa-Là một thuật ngữ quan trọng trong LTM và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới kinh tế, dịch vụ xuất hiện trong LTM tới 513 lần (trên tổng số 582 lần xuất hiện các tư liệu) Tại các ngữ cảnh xuất hiện, nó đều thể hiện với nội hàm nghĩa là sản phẩm kinh tế phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định, có tổ chức và được trả công

Cụ thể, khoản 9 điều 3 LTM quy ước: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

Hay tại điều 360 BLDS về ký quỹ quy định: “Trong trường hợp bên có nghĩa

vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng”

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu. Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb Giáo dục. H. 1999 Khác
2. Đỗ Hữu Châu. Đỗ Hữu Châu tuyển tập (Tập 1) - Từ vựng - ngữ nghĩa. Nxb Giáo Dục. H. 2005 Khác
3. Trần Nhật Chính. Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt hiện đại 30 năm đầu thế kỉ XX (1900 – 1930). Luận án tiến sĩ Khác
4. Ferdinand de Saussure. Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Nxb Khoa học Xã hội. H. 2005 Khác
5. Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2002 Khác
6. Nguyễn Thiệp Giáp. Từ vựng học tiếng Việt. Nxb Giáo dục. H. 2002 Khác
7. Nguyễn Thiệp Giáp. Dẫn luận ngôn ngữ học. Nxb Giáo dục. H. 2003 Khác
8. Nguyễn Thị Bích Hà. Mấy nhận xét về đặc điểm thuật ngữ thương mại tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ số 6/1999 Khác
9. Nguyễn Thị Hà. Góp phần tìm hiểu sự biến đổi từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt từ 1930 đến 1960. Luận văn thạc sĩ Khác
10. John Lyons. Nguyễn Văn Hiệp (dịch). Ngữ nghĩa học dẫn luận. Nxb Giáo dục. H. 2005 Khác
11. Nguyễn Lai. Những bài giảng về ngôn ngữ học đại cương. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. H. 2004 Khác
12. Hồ Lê. Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt. Nxb Khoa học Xã hội. H. 1976 Khác
13. Lênin. Bàn về ngôn ngữ. Nxb Sự thật. H. 1962 Khác
14. Mai Thị Loan. Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt. Luận án tiến sĩ. 2012 Khác
15. Hà Quang Năng. Đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt. Từ điển học và Bách khoa thƣ số 2 tháng 11, 2009 Khác
16. Vũ Đức Nghiệu, Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục. H. 2003 Khác
17. Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng. 2006 Khác
18. Lê Minh Toàn. Pháp luật đại cương. Nxb Chính trị quốc gia. H. 2007 Khác
19. Lê Quang Thiêm. Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ. Nxb Đại học Quốc gia Hà nội. H. 2004 Khác
20. Lê Quang Thiêm. Ngữ nghĩa học. Nxb Giáo dục. H. 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1. Bảng tổng hợp sự phát triển nghĩa trên cơ sở tư liệu thuật ngữ: - Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt
2.1. Bảng tổng hợp sự phát triển nghĩa trên cơ sở tư liệu thuật ngữ: (Trang 57)
3.1. Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ trong BLDS - Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt
3.1. Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ trong BLDS (Trang 76)
3.3. Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ trong BLHS - Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt
3.3. Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ trong BLHS (Trang 80)
49  Bảng giá đất  2  0  0  2 - Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt
49 Bảng giá đất 2 0 0 2 (Trang 98)
381  Hình phạt  1  235  0  236 - Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt
381 Hình phạt 1 235 0 236 (Trang 112)
Hình sự  0  1  0  1 - Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt
Hình s ự 0 1 0 1 (Trang 137)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w