1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát sự biến đổi ý nghĩa của từ ngữ Hán Việt từ từ điển Việt Bôd la (1651) đến từ điển tiếng Việt (2000

95 3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 5,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các côn g trình nói trên chủ yếu khảo sát lớp từ ngữ gốc Hán nói chung hoặc từ ngữ Hán Yiệl hoặc Hán cổ, Hán Việt Việt hóa nói riêng, theo hai bình diện đã trình bày trên, trong đời sống

Trang 2

2 2 N hận d iện lớp từ ngữ Hán V iệt và g iớ i hạn vấn đề

n gh iên cứu của luận văn

CHƯƠNG 2: BỨC TRANH CHUNG VỂ CÁC TỪ NGỮ HÁN VIỆT

TRONG T ừ ĐIỂN VIỆT B ổ LA 1651 (ĐỐI CHIÊU VỚI T ừ ĐIỂN TIẾNG VIỆT 2000)

2 1 Vài lời g iả i thích ch o tư liệu

2.1 ỉ N hữ ng cái khó của v iệ c xử lí đề tài

Trang 3

2.2 D anh sách c á o đ ơ n v ị từ vựng Hán V iệt trong Từ đ iển

V B L đ ối c h iếu với từ đ iển TV 2 0 0 0 và k iểm chứng bằng

2 2 1 N h ó m I: Các đơn v ị từ vựng H án V iệt có trong V BL

2 2 2 N h óm II: Các đơn v ị từ vự ng Hán V iệt tương ứng

n gh ĩa 1:1 (ch ỉ có m ột n gh ĩa duy nhất) 38

2 2 3 N h óm III: Các đơn v ị từ vựng Hán V iệt tương ứng

CHƯƠNG 3: MỘT s ố ĐẶC Đ lỂM VỂ s ự PHÁT TRIỂN c ủ a c á c

TỪ NGỮ HÁN VIỆT TƯ TƯ ĐlỂN v i ệ t B ổ LA ĐẾN

3 1 1 N h ó m I: Các đơn vị ch ỉ có trong V BL mà k h ôn g có

3 1 2 N h ó m II: C ác đơn v ị tương ứng n gh ĩa 1:1 6 2

3 1 3 N h óm III: Các đơn vị tương ứng n gh ĩa 1: > 2 68

3 1 4 N hữ ng biến đổi v ề hình thức n gữ âm và ch ín h tả của

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VÃN

T V 2 0 0 0 Từ đ iển tiến g V iệt của V iện N g ô n ngữ h ọc,

d danh từ hay danh ngữ hoặc tổ hợp tương đương

đ đại từ hay tổ hợp đại từ

đg đ ộng từ hay động ngữ hoặc tổ hợp tương đương

Trang 5

1 LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỂ

Trong lịch sử hình thành và phát triển của ngôn ngữ tiếng V iệt, có m ột cuộc tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa vừa lâu dài về thời gian, vừa gần gũi về không gian đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tiếng Việt: đó là tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa Hán V iệt Theo đó, trong tiếng V iệt đã xuất hiện lớp từ ngữ gốc Hán tồn tại, phát triển và giao hoà cùng với các từ ngữ thuần V iệt từ đó cho tới ngày nay Sức sống của các từ ngữ g ố c Hán này mạnh đến nỗi, ngày nay chúng là m ột bộ phận chiếm tỉ lệ khá lớn và không thể thiếu được trong đời sống của tiếng V iệt nói chung.

Chính vì bộ phận từ vựng này quan trọng như vậy, cho nên, từ trước tới nay nhiều nhà V iệt ngữ học đã để tâm nghiên cứu chúng trên nhiều bình diện khác nhau, từ những hướng liếp cận khác nhau Có thể kể ra m ột số xu hướng chính như sau:

1 Đ a số các công trình nghiên cứu nhằm vào bình diện từ vựng - ngữ nghĩa của lớp từ ngữ g ố c Hán nói chung hoặc chỉ riêng lớp từ ngữ Hán Việt Các công trình này gồm m ột số ít ]à các giáo trình từ vựng - ngữ nghĩa học, còn lại là các bài tạp ch í hoặc kỉ yếu khoa học chuyên ngành, v ề giáo trình

và sách chuyên khảo, có thể kể những tác giả sau: N guyễn Văn Tu (1976);

Đ ỗ Hữu Châu (1981); N guyễn Thiện Giáp (1 9 8 5 ) Phan N g ọ c (1 9 9 8 ) v ề các bài tạp ch í và kỉ yếu khoa học chuyên ngành có: H oàng Văn Hành, H ồ

Lê, N guyễn Văn Thạc (1968), Phan Văn Các, Trương Chính, Quang Đạm , Lại Cao N g u y ện , N gu yễn Thị Tân, Bùi Đ ức Tịnh, N gu yễn Văn Tu (1981);

N guyễn Vãn K hang (1 9 8 8 ), (1 9 9 2 ), (1994); N v Stankevich (1 9 9 1 ), Lê Anh H iền (2 0 0 0 ); N gu yễn Đ ức Tồn (2 0 0 1 ), v.v.

2 M ột vài côn g trình của các nhà nghiên cứu trong nước nhằm vào bình diện n °ũ ủ m lịch 5 7? của từ ngữ Hán V iệt mà điển hình là các cuốn sách

MỞ ĐẨU

Trang 6

Các côn g trình nói trên chủ yếu khảo sát lớp từ ngữ gốc Hán nói chung hoặc từ ngữ Hán Yiệl hoặc Hán cổ, Hán Việt Việt hóa nói riêng, theo hai bình diện đã trình bày trên, trong đời sống tiếng V iệt Trong số các

cô n s trình trên hầu như chưa có c ỏ n s trình nào khảo sát từ ngữ Hán V iệt trong m ột tác phẩm cụ thể, đặc hiệl là m ột cuốn từ điển tiếng V iệt của thế

kỉ X V II như là V iệt Bồ La Đ áy cũng chính là lí do quan trọng nhất để chúng tôi chọn đề tài này.

2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM v ụ , Đ ố i TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u CỦA LUẬN VĂN

M ục đích của luận vãn nàv là chi’ ra m ột cách khái quát diện mạo

sự phái triển về ngữ nghĩa của m ột bộ phận từ ngữ Hán V iệt ở th ế kỉ X V II được thu thập trong từ điển V iệ l Bổ La cho tới ngày nay Đ ể thực hiện được mục đích trên, luận vãn có nhiệm vụ phải nhậìi diệnxác đinh cho được một danh sách các đơn vị từ vựng được gọi là Hán Việt trong từ điển nói trên, sau đó miều lảchỉ ra được những biến đổi và phát triển về nội dung ý nghĩa của chúne Đ ố i tượng n sh iên cứu của luận văn là các đơn vị Hán - V iệt trong Từ điển V iệt Bồ La Phạm vi nghiên cứu ỏ' đây ]à bình diện từ vựng - ngữ nghĩa, của các đơn vị Hán V iệt đó, xét trong quá trình phát triển tới ngày nay N goài ra m ột số biến đổi về hình thức, nếu có được

đề cập, là để bổ sun? thêm cho phần nội dung ngữ nghĩa Thực ra, đây là một đề tài khá lớn đòi hỏi rất nhiều công sức trong khi, bản thân tầm của

m ột luận văn thạc sĩ như chúne lôi chỉ có giớ i hạn nhất định Đ ó là m ộ l mâu thuẫn lớn giữa đòi hỏi của đề tài và nsười thực hiện đề tài V ì thế, trong

Trang 7

khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ đối chiếu các đơn vị Hán V iệt trong

từ điển V iệt Bồ La, là cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên, ra đời vào thế kỉ XVII (1 6 5 1 ), với chính chúng, trong m ột cuốn từ điển tiếng V iệt m ới nhất là

Từ điển tiếng Việt, của tập thể tác giả Viện N gôn ngữ h ọc xuất bản năm

2 0 0 0 (sau đây, xin g ọ i tắt là Từ điển tiếng Việt 2000). N g a y trong nội dung này, chúng tôi cũng chỉ dừng lại ở việc m iêu tả và khảo sát theo bình diện từ vựng - ngữ nghĩa các đơn vị Hán Việt trong hai từ điển nói trên, chứ không

có điều kiện khảo sát các đơn vị đó trong sử dụng Cụ thể, mỗi đơn vị Hán Việt xác định được trong Từ điển Việt Bồ La, theo danh sách sẽ được phân loại và đối chiếu với chính nó trong Từ điển tiếng Việt 2 0 0 0 để thực hiện các m ục đích và nhiệm vụ mà luận văn đã nêu trên.

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI LUẬN VÃN

Thực hiện các m ục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn hi vọn g được góp m ột phần nhỏ bé vào côn g việc nghiên cứu lớp từ g ố c Hán nói chung đang tồn tại và hành chức trong vốn từ tiếng V iệt, nhất là, phần nào giúp

ch o v iệ c xác định diện m ạo của bộ phận từ Hán - V iệt và những biến đổi lịch đại của chúng Qua đó, có thể hiểu rõ hơn vai trò của các từ ngữ này trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, nhằm góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt T hông qua những khảo sát cụ thể, luận vãn sẽ cung cấp phần nào bằng chứng về những biến đổi ngữ âm lịch sử và chữ viết của tiếng Việt mà các nhà nghiên cứu đi trước đã từng kiến giải.

4 NGỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Như đã nói, luận văn sẽ được tiến hành trên tư liệu là các mục từ được xác định là Hán Việt trong Từ điển Việt Bồ La (từ điển gốc) và chính các mục từ đó

trong Từ điển tiếng Việt 2 0 0 0 (từ điển đích) Các mục từ trong từ điển gốc được thu thập trước và chúng quyết định số lượng m ục từ trong danh sách

m ục từ Tuy nhiên, vì m ục từ trong từ điển gốc rất không nhất quán về mặt ngôn ngữ h ọc (vấn đề này sẽ được nói rõ ở đầu chương 2 ), ch o nên, các m ục

Trang 8

từ trong từ điển đích (là m ột từ điển chuẩn ngôn ngữ học) sẽ là các m ục từ chuẩn của các từ ngữ Hán Việt đang xét V ì dung lượng của luận văn, danh sách này chỉ ghi các m ục từ và từ loại, sô' lượng các nghĩa chứ không ghi phần định nghĩa Các m iêu tả, phân tích, lí giải cụ thể đều phải dựa vào nguyên văn các lời định nghĩa trọn vẹn trong hai cuốn từ điển nói trên.

Phương pháp nghiên cứu chính của luận văn là m iêu tả, phân tích và đối chiếu về mặt định tính và định lượng của tư liệu để đi đến các kết luận

cụ thể.

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VÃN

Luận vãn gồm các phần và các chương chính như sau:

MỞ ĐẦU

Chương ]: MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.

Chương 2: BỨC TRANH CHUNG VỂ CÁC TỪ NGỮ HÁN VIỆT TRONG TỪ

ĐIỂN VIỆT BỒ LA (ĐỐI CHIỂU VỚI TỪ ĐlỂN t i ế n g v i ệ t

2000 ).

Chương 3: MỘT s ố ĐẶC ĐIỂM VỀ s ự BIẾN Đ ổ i Ý NGHĨA CỦA CÁC TỪ

NGỮ HÁN VIỆT TỪ TỪ ĐlỂN v i ệ t B ồ LA ĐẾN TỪ ĐlỂN TIẾNG VIỆT 2000).

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Chương 1 MỘT VÀI VẤN ĐỂ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỂ TÀI

1 Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa Hán - Việt và sự hình thành lớp từ ngữ Hán - Việt

1.1 Tiếp xúc ngôn ngữ là một quy luật khách quan của mọi ngôn ngữ

Trong quá trình hoạt động và phát triển của m ỗi ngôn ngữ, sự tiếp xúc và vay mượn từ vựng của nó đối với các ngôn ngữ khác để làm giàu thêm cho mình là m ột quy luật tất yếu Tiếng V iệt và tiếng Hán cũng không nằm ngoài quy luật đó Các công trình nghiên cứu về lịch sử tiếng V iệt, từ Hán - V iệt và song ngữ đã minh chứng cho quy luật này Sự tiếp xúc của tiếng V iệt với tiếng Hán không phải là m ột quá trình ngắn ngủi, đơn giản m à là m ột quá trình lâu dài và phức tạp, nhiều chiều, đòi hỏi những nghiên cứu công phu

T iếng Hán, từ lâu, đã được thừa nhận là một ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu rộng

ở Đ ôn g N am Á và nói chung hầu hết châu Á, đối với các nước như V iệt Nam , Thái Lan, Lào, M ông c ổ , Nhật Bản, Triều Tiên, X inhgapo, M alaixia v.v nhưng không phải vì thế mà sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và các ngôn ngữ khác chỉ xảy ra có m ột chiều, bắt đầu từ Hán Các nhà nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ và tiếp xúc Hán - V iệt đã chỉ ra rằng sự tiếp xú c giữa hai ngôn ngữ bao g iờ cũng xảy ra theo cả hai chiều, có đi có lại, tuy nhiên, có chiều yếu có chiều mạnh, trong sự tương hỗ lẫn nhau Bởi vì, "ngôn ngữ cũng như các nền văn minh khác, bản thân 11 Ó không lự túc" (E.Sapir).

1.2 Các điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng

Hán

Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ nói chung, các nhà ngôn ngữ học thường nêu ra hàng loạt các nhân tố ngoài ngôn ngữ như thương m ại, quân sự, chiến tranh, địa lí, v.v Qua trình tiếp xúc Hán V iệt cũng không phải là m ội ngoại

lệ Tuy nhiên, có thể thấy, ở đây nổi lên m ột số nhân tố chính như sau:

Trang 10

1.2.1 V ề mặt chính trị: Từ khi Triệu Đà xâm lược (1 7 9 tr.CN) đến khi

N gô Quyền đại thắng quân N am Hán giành độc lập cho nước nhà (9 3 9 ), nước

ta bị phong kiến Trung Q uốc đô hộ hơn 1000 năm Trong suốt thời gian đó,

nhiều cuộc khởi nghĩa của dân ta nổi lên một thời gian rồi lại bị dập tắt và

nước ta vẫn nằm trong v òn g cương toả của phong kiến Trung Hoa Nhìn chung, bộ m áy cai trị của người Hán ở Việt Nam vần luôn vận hành theo m ột hướng, cho dù chính quyền ở Trung Q uốc lúc thịnh, lúc suy Đ ó là m ột bộ máy thống trị kiểu Hán, được thiết k ế ngày càng chặt chẽ từ trung ương xuống tận địa phương để cai trị nhân dân ta.

Từ thời Đ ôn g Hán, người Hán nắm chính quyền chặt hon trước Bắt đầu

từ chính sách của Mã V iện, chính quyền cấp huyện lọt hẳn vào tay quan lại người Hán Sau chiến tranh N am Bắc triều, bộ m áy thống trị của người Hán ngày càng thắt chặt Sang đến đời Đường, bộ m áy này được thiết k ế xuống tận xã Theo An Nam chí nạuyện, Cao Biền đi đến đâu lập hương ấp đến đấy, riêng Biền đã lập được 159 hương cả thảy (q l.tr 6 0 ) V iệc hoàn thiện và thắt chặt bộ m áy chính quyền kiểu Hán nói trên là bước đi quan trọng của người Hán trong v iệc đô hộ nước ta và cũng là nhân tố đầu tiên ch o quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt Thậm chí, sau này, ngay cả khi nước nhà giành được độc lập, cơ cấu bộ m áy hành chính của nhà nước p hong kiến Việt Nam vẫn theo m ô hình của nhà nước phong kiến kiểu Hán ở Trung Q uốc.

1.2.2 Vê mặt x ã hội: ở thời kì đô hộ nước ta, do sự thiết lập chính quyền

ngày càng chặt chẽ như trên, người Hán đã dần dần thâm nhập vào hầu hết các hoạt động quan trọng của đời sống và xã hội V iệt N am Trong xã hội, ngoài tầng lớp quan lại, còn có m ột lực lượng đông đảo khác là các "kiều nhân" Hán, theo cách gọi của Tẩn 77ỉW (q.l00, lOa) H ọ là những người Hán sang Việt Nam thuộc đủ thành phần, vì nhiều lí do khác nhau: sang theo người nhà, sang lánh nạn, sang làm ãn v.v Tầng lớp "kiều nhân" nàv tập hợp thành m ột lực lượng đông đảo và có th ế lực trone xã hội thời bấy eiờ Bên cạnh đó, binh lính người Hán luôn là m ột lực lượng h ùnc hậu tron2 xã hội.

6

Trang 11

này thường ở lẫn với người V iệt và cùng tham gia m ọi hoạt động xã hội với người Việt Khi nước nhà giành được độc lập, các cu ộc xâm lược của phong kiến Trung Q uốc vẫn tiếp diễn Triều đình phong kiến V iệt N am vẫn chịu ảnh

hưởng của m ô hình nhà nước phong kiến Trung Q uốc Tất cả các điều kiện xã hội trên đã tạo thành m ột nhân tố quan trọng cho sự tiếp xúc chật chẽ, sâu sắc

và lâu dài giữa hai ngôn ngữ V iệt - Hán.

1.2.3 Vê' mặt văn hoá: Cả khi bị đô hộ cũng như khi đã giành được độc lập, ở nước ta luôn có sự truyền bá chữ Hán, văn hoá Hán ra khắp vùng và sự hình thành m ột tầng lớp quý tộc người Việt để thực thi sự truyền bá đó Sau

khi Triệu Đ à vừa xâm chiếm x on g Âu Lạc, xã hội Âu Lạc đã chuyển biến

theo con đường phong kiến hoá kiểu Hán Chính điều này đã tạo điều kiện

cho việc tiếp thu văn hoá Hán và chữ Hán, làm cho xã hội V iệt Nam ảnh

hưởng ngày càng sâu sắc nền vãn hóa đó Càng về sau này, bọn phong kiến

thống trị Trung Q uốc càng thi hành chính sách đồng hoá dân ta mạnh mẽ

hơn Trong tầng lớp quý tộc V iệt N am , dần dần xuất hiện những người có học

thức Người Hán thi hành chính sách hai mật: m ột mặt m ở trường dạy chữ Hán, mặt khác, vẫn kìm hãm , hạn ch ế v iệc học hành của người Việt Phổ biến

chữ Hán cũng tức ]à phổ biến N ho giáo, cũng như Đ ạo g iá o , Phật giáo và ngược lại chính sự truyền bá các đạo này đã làm cho chữ Hán ngày càng được

phổ biến sâu rộng ở nước ta Đ ến đời Tuỳ Đ ường, giai cấp p hong kiến Việt Nam đã tương đối có thế lực Lúc này c h ế độ khoa cử được đẩy m ạnh và con cái các nhà có thế lực nhiều người học hành, đỗ đạt và được bổ làm các chức quan to N hiều người có tài văn chương, chữ nghĩa N hiều v ị cao tăng Việt Nam được m òi sang tận kinh đô Trung Q uốc để giảng kinh ch o vua Đường Nhiều vị nhờ tinh thông cả chữ Hán lẫn chữ Phạn đã dịch kinh Phật từ Phạn văn ra Hán vãn Đ ến thời kì này, vãn hóa Hán nói chung và ngôn ngữ (viết) Hán nói riêng, đã có m ột ảnh hưởng sâu rộng trên toàn cõi V iệt N am , đặc biệt

Trang 12

là tại các trung tâm của chính quyền phong kiến Đ ây là nhân tố quan trọng thứ ba của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - V iệt nói trên.

1.3 Các giai đoạn tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán

T heo nhiều nhà nghiên cứu, sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán - V iệt không chỉ xảy ra trong thời kì Bắc thuộc ở nước ta mà còn tiếp diễn trong nhiều thế kỉ tiếp theo nữa "Khi nói đến sự tiếp xúc với tiếng Hán, trước nay chúng ta thường chỉ tập trung nói đến sự tiếp xúc quy m ô, lâu dài trong ihời gian từ đời Triệu Đà và nhất là từ đời nhà Hán đến cuối đời nhà Đường Chúng ta hầu như không n gh ĩ đến khả năng vẫn có thể có những đợt tiếp xúc khác, sau khi

V iệt Nam đã giành được độc lập Thực ra, sau thế kỉ X, khả nãng đó vẫn còn" (N guyễn Tài c ẩ n , 1979) N ếu như thế ki’ X được các nhà sử học coi như cái

m ốc để phán đôi lịch sử dân tộc, m ột nửa Bắc thuộc, còn nứa kia là độc lập lâu dài, thì các nhà ngôn ngữ học cũng có thể coi đây là cái m ốc để phân đôi hai giai đoạn tiếp xúc ngôn ngữ Hán - V iệt Giai đoạn đầu là giai đoạn tiếp xúc m ột cách tự nhiên giữa tiếng V iệt với tiếng Hán của đạo quân xâm lược với tư cách là công cụ đồng hoá nhân dân ta Trong suốt thời kì Bắc thuộc, chữ Hán được dùng trong ngôn ngữ hành chính của nhà nước quan liêu, trong nhà chùa, trong việc thờ cúng, sáng tác văn chương, Irong ghi chép hàng ngày Tuy nhiên, tiếng Hán V iệt Nam thời kì này chỉ được coi như m ột thứ ngoại ngữ mà người V iệt N am cần học chứ nó không đồng hoá nổi tiếng V iệt Theo m ột n sh iên cứu gần đây nhất, tác giả Vương Lộc (1985) cho biết, chỉ có

401 yếu tố từ vựng Hán V iệt cổ đơn tiết trong tiếng V iệt N ói về song ngữ, đây là trạng thái "song ngữ bất bình đẳng, song chủ yếu là tình trạng song ngữ tự nhiên trong khẩu ngữ của những người V iệt có biết nói tiếng Hán song ngữ" (H oàng Tuệ 1996, tr 72) Giai đoạn hai là giai đoạn tiếp xúc m ột cách

có ý thức của tiếng V iệt đối với tiếng Hán, m ột ngôn ngữ của những tri thức

về các kiểu mẫu tổ chức nhà nước và chính quyền, những tri thức về kinh tế văn hoá và tư tưởng phong kiến điển hình "Chính vào lúc sự tiếp xúc ngôn

n sữ không bị ràng buộc bởi yêu cầu chính trị iheo quan hệ chinh phục, nó lại

Trang 13

đi sâu vào ngôn ngữ Sự vay mượn lúc này đã đóng vai trò của chính ngôn ngữ đi vay, không phải là sự cưỡng ép" (Phan N g ọ c, 1985) Đ â y chính là cái

lí do để tiếng Hán ở V iệt N am thời kì này đã tách ra khỏi tiếng Hán ở Trung Quốc và phát triển theo con đường riêng của m ình, theo quy luật riêng của tiếng V iệt và cách sử dụng riêng của người V iệt Đ iều đáng lưu ý là, thời kì này, m ặc dù V iệt N am đã giành được độc lập nhưng ưu thế và chức năng của tiếng Hán vẫn còn khá quan trọng Tiếng Hán (vãn tự) vẫn được dùng làm ngôn ngữ chính thức của nhà nước phong kiến, trong hành chính, giáo dục, khoa cử, sáng tác văn học, văn hoá, tế lễ, là thứ ngôn ngữ bác học bên cạnh tiếng V iệt, tiếng N ôm là ngôn ngữ bình dân được dùng trong giao tiếp đời thường N ói về song ngữ, thì đây vẫn là trạng thái "song ngữ bất bỉnh đẳng,

song đã là trạng thái song ngữ văn hoá, chủ yếu qua sách Hán, văn chương Hán" (H oàng Tuệ, 1996, tr.73).

1.4 Sự hình thành và đặc điểm của lớp từ ngữ Hán Việt

K ết quả là, hai giai đoạn tiếp xúc trên đã đem lại cho kho từ vựng tiếng

V iệt m ột khối lượng từ ngữ Hán - V iệl khổng lồ, mà theo sô' liệu của m ột số nhà nghiên cứu, chiếm tới 60% tổng số các đơn vị từ vựng trong tiếng V iệt Theo N gu yễn Văn Khang (1 9 9 4 ) các từ ngữ Hán - V iệt này có đậc điểm là: (1) Chúng nhập vào tiếng V iệt không phải cùng lúc mà trong suốt một thời gian dài với các m ức độ khác nhau, lúc rời rạc, ]ẻ tẻ, lúc ồ ạt, có tính hệ thống.

(2) Chúng được nhập vào bằng các con đường khác nhau và từ các nguồn khác nhau (từ tiếng phổ thông hoặc từ phương ngữ Hán; từ khẩu ngữ hoặc từ sách vở)

(3) Chúng bị V iệt hoá theo những m ức độ khác nhau.

Chính các đặc điểm trên đã làm cho lớp từ Hán - V iệt vừa đa dạng, phong phú lại vừa phức tạp, khó xử lí trong nhiều tình huống cụ thể Sự đa dạng và phức tạp đó thể hiện trên cả ba hình diện: ngữ ảm, ngữ nghĩacấu lạo từ. N hư vậy, sự xuất hiện của từ ngữ Hán - V iệt trong vốn từ tiếng V iệt là

Trang 14

một hệ quả tất yếu của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ lâu dài của tiếng V iệt với tiếng Hán, đồng thời là của quá trình song ngữ Hán - V iệt, "từ song ngữ bất bình đẳng đến song ngữ cân bằng" (H oàng Tuệ, 1996).

1.5 Vê cách đọc Hán - Việt, yếu tố gốc Hán và yếu tô'Hán - Việt

N ói đến từ Hán - V iệt, không thể không nói đến cách đọc Hán - Việt, yếu lô'gốc Hányếu tố Hán Việt.

Cách đọc Hán - Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng V iệt với tiếng Hán và nền vãn tự Hán xảy ra vào đời Đường, theo hệ thống ngữ âm tiếng Hán mà cụ thể là hệ thống Đường âm dạy ở G iao Châu (khoảng TK VIII-IX) T heo GS N gu yễn Tài c ẩ n (1 9 7 9 ), "nói đến cách đọc Hán - Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà người V iệt Nam gán cho hệ thống vãn lự Hán, bất luận những chữ đó là gì" V í dụ: những chữ vốn ghi những tiếng Hán đã du nhập và được dùng trong tiếng V iệt như: tuyết, học, cao, lìiv v.v hoặc những chữ không liên quan gì đến tiếng V iệt như: chẩm, giá, ma, v.v

Yếu í ỏ' gốc Hán ]à những yếu tố vốn của tiếng Hán nhưng nay đã được

du nhập vào tiếng V iệt, bất luận đó là yếu tô' như ih ế nào V í dụ: quốc, gia, sơn, lìuiỷ, v.v hay những yếu tố như: mùa, gần, mì chính, v.v vốn là do vụ, cận, vị tinh, v.v mà ra Yếìt lô'HÚII - Việt là m ột bộ phận nàm trong yếu tô gấc Hán nhưng irực liếp liên quan đến cách đọc Hán - V iệt, hay nói cụ thể,

đó là vếu tố g ố c Hán đã được đ ọc theo âm Hán - V iệt và ghi bằng chữ quốc ngữ hiện hành Có thể hình dung rõ hơn những điều vừa trình bày trong sơ đồ

mà GS N gu yễn Tài c ẩ n đã trình bày như sau:

Các yếu tô'

g ố c Hán trong tiến g

V iệ i

Trang 15

a) Khu vực I là những chữ có thể đọc theo cách đ ọc Hán - V iệt nhưng chỉ liên quan đến tiếng Hán, không có trong tiếng V iệt V í dụ: chẩm, giá, ma, v.v

b) Khu vực II là những chữ người V iệt mượn từ tiếng Hán nhưng không trực tiếp liên quan đến cách đọc Hán - V iệt Có thể kể ra ba loại khác nhau:

- Những chữ vào tiếng V iệt trước khi có cách đọc Hán - V iệt như mùa, mùi, buồng, buồm, v.v.

- Những chữ vào từ đời Đường cùng với cách đ ọc Hán - V iệt nhưng sau

có cách đọc khác Hán - V iệt như: gan, gần, vốn, ván v.v.

- Những chữ vào tiếng V iệt thông qua m ột phương ngữ tiếng Hán như:

mì chính, ca la thấu, vần thắn, xá xíu, v.v.

c) Khu vực III là những chữ mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc Hán

- V iệt nên được gọi là các yếu tố Hán Việt. Các yếu tố Hán - V iệt này có thể chia làm 2 loại: loại là từ, có thể dùng đ ộc lập như: tuyết, học, dân, số, đoàn, toán, v.v và loại không phải là từ, không thể dùng đ ộc lập, chỉ là các yếu tố cấu tạo từ như: quốc, gia, sơn, thuỷ, giang, v.v.

Sơ đồ Irên có thể cho ta hình dunu toàn cảnh những gì có liên quan đến

từ ngữ Hán - V iệt trong vốn từ tiếng V iệt hiện nay, nói chung và vấn đề mà luận văn đang quan tâm nghiên cứu, nói riêng.

2 Nhận diện lớp từ ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt và giói hạn vấn

Trang 16

những quan niệm không g iố n g nhau v ề lớp từ ngữ Hán - V iệt này Sau đây, chúng tôi sẽ tổng kết các ý kiến đó, trước khi đưa ra quan đ iểm và những ý kiến của m ình để nhận diện lớp từ ngữ đặc biệt này N hìn chung, có thể chia các ý kiến của các tác giả đi trước thành 5 nhóm khác nhau như sau:

2 1 1 Nhóm A : gồm các tác giả N guyễn Văn Thạc, N gu yễn Văn Tu,

N guyễn Tài c ẩ n , Đ ỗ Hữu Châu, Phan Văn Các, T hế Long và N gu yễn Thiện Giáp N hóm này nhận diện từ ngữ Hán - V iệt thông qua v iệ c phân nhóm chúng trong tiếng Việt Sau đây là các ý kiến của các tác giả cụ thể:

N g u y ễn Văn Thạc (1 9 6 8 ) cho rằng, có thể chia những từ m à tiếng Việt

đã mượn của tiếng Hán thành ba nhóm: nhóm Hán - Việt c ổ, nhóm Hán - Việt

và nhóm từ mượn qua tiếng địa phương của tiếng Hán ở vùng giáp giới biên giới V iệt N am Tất cả họp lại thành lớp từ mượn tiếng Hán trong tiếng Việt hiện đại.

T heo N guyễn Văn Tu (1 9 7 6 ) tương ứng với lịch sử nước ta hai lần bị phong kiến Trung Q uốc thống trị hàng ngàn nãm, tiếng Hán cũng vào nước ta theo hai thời kì: thời kì thứ nhất, theo con đường khẩu ngũ' tự nhiên (đời Hán)

và thời kì thứ hai, theo con đường cả khẩu ngữ lẫn sách vở (đời Đ ường) Những từ Hán vào nước ta đều chịu sự chi phối của quy luật ngữ âm tiếng

V iệt, vì thế, chúng biến đổi về mặt ngữ âm D o đó, có thể chia các từ Hán vào tiếng V iệt làm 3 loại:

(a) Từ Hán c ổ là những từ vào từ trước đời Đường, tức là trong thời kì Triệu Đ à và nhà Hán thống trị nước ta Những từ này đã ăn sâu vào khẩu ngữ tiếng V iệt, hoàn toàn không giữ lại hình dáng của tiếng Hán nữa và chúng hiện được coi là nhũng từ thuần Việt Chẳng hạn: chè, xe, hè, ngói, chìm v v

là các từ đọc theo âm Hán cổ mà theo âm Hán - Việt hiện nay tương ứng là các từ trà, xa, hạ, ngoã, trâm v.v.

(b) Từ ẹốc Hán mượn của đời Đường-, là những từ g ố c Hán cần thiết cho

v iệc g ia o tế ch o lúc đó, nhất là trong ngón ngữ viết, thường aọi là từ Hán

-12

Trang 17

Việt. Tuy có số lượng lớn nhưng những từ này vào tiếng V iệt đều chịu sự chi phối của tiếng V iệt và biến đổi về ngữ âm, ngữ nghĩa và cấu tạo theo quy luật nội bộ của tiếng V iệt Chẳng hạn: khoa cử, văn chương, tú tài, cử nhân, tiến

sĩ, ch ế độ, chiếm hữu, xung đột, bá quyền, chiến trường, thành trì, cáo trạng

v.v.

(c) Từ gốc Hán đ ã Việt hoá: là những từ ra đời sau khi ta đã mượn toàn

bộ hệ thống từ g ố c Hán và chúng cũng được dùng phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày Đ ây là những từ đã V iệt hoá về ngữ âm từ những từ g ố c Hán Chẳng hạn các từ như: gương (kính), gác (các), gang (cang), vạch (hoạch),

vốn (bổn), ván (bản), (bổ), vỡ (phá), sức (lực), xanh (thanh), đời (đại), v.v.

Tác giả N guyễn Tài c ẩ n (1 9 7 9 ), khi nghiên cứu quá trình hình thành cách đọc Hán V iệt, đã chia các yếu tố g ố c Hán có trong tiếng V iệt làm 3 loại, theo ba khu vực: khu vực I, là những chữ, tuy được đọc theo âm Hán - V iệt nhưng chi’ có trong tiếng Hán, không có trong tiếng Việt; khu vực II là các yếu tố g ố c Hán trong tiếng V iệt nhưng không liên quan trực tiếp đến cách đọc Hán Việt; còn khu vực III là các yếu tố g ố c Hán được đọc theo âm Hán - V iệt gọi là các yếu t ố Hán - Việt (đã nói 0 m ục 1.5.).

Theo Đ ỗ Hữu Châu (1 9 8 1 ), các từ Hán xâm nhập vào tiếng V iệt theo hai thời kì Thời kì thứ nhất là trước đời Đường, các từ Hán được phát âm theo hệ thống ngữ âm Hán cổ, do vậy, chúng hoà lẫn vào các từ thuần V iệt, rất khó nhận biết Thời kì thứ hai là vào đời Đ ường, gồm hai bộ phận:

- Các từ Hán V iệt đã bị V iệt hoá, như: gương (kính), gan (can), gang

(cang), ghi (kí), vạ (hoạ), dừng (đình), dao (đao), sen (liên), vạch (hoạch),

vốn (bổn), ván (bản), sức (lực), buồng (phòng), giường (sàng), giấy (chỉ),

giêng (chính).

- Đ a sô các yếu tố g ố c Hán còn lại vẫn giữ cách phát âm cũ, ý nghĩa cũ, chưa được V iệt hoá, còn m ang đậm màu sắc ngoại lai Đ áy mới thực sự là các vếu tố Hán Việt. Chúng chỉ đóng vai trò là các hình vị cấu tạo từ trong tiếng

Trang 18

Việt V í dụ: ái (yêu ), ám (không lộ rõ), ấu (trẻ nhỏ), bản (vốn , g ố c ), bán

(nửa), bảo (gìn giữ), bảo (quý giá), dị (khác), ho ả (lửa), thuỷ (nước), v.v.

Phan Văn Các (1 9 8 1 ) quan niệm rằng "chỉ nên coi là đơn vị gốc Hán những yếu t ố d ã thực sự đi vào tiếng Việt". D o vậy, theo tác giả này, cần phân biệt rõ hai khái niệm , hai loại từ ngữ có liên quan là từ gốc Hántừ mượn Hán Từ gốc Hán là những từ đã được biến đổi ở:

NGỮÂM:

1 Phụ âm đầu: gan < can; gác < các; với < bái v.v.

2 Phần vần: a dua < a du; bằng < bình; ép < áp v.v.

3 Thanh điệu: loài < loại; liều < liêu; cám (ơn) < cảm (ơn) v.v.

4 Phụ âm đầu và vần: bùa < phù; buồn < phiền; buồng < phòng v.v.

5 Phụ âm đầu và thanh điệu: gấm < cẩm; gần < cận; goá < quả v.v.

6 Vần và thanh điệu: báu < bảo; beo < báo; ngờ< nghi v.v.

7 Phụ ám đầu, vần và thanh điệu: buồng < phòng; chém < trảm; gươm <

T h ế Long (1 9 8 4 ) cho rằng từ gốc Hán được mượn vào tiếng Việt và được

14

Trang 19

V iệt hoá về nhiều mặt: ngữ âm, ngữ nghĩa, kết cấu, khả năng kết hợp cú pháp Theo đó, lớp từ này được chia thành hai bộ phận:

1- B ộ phận từ Hán c ổ vào tiếng V iệt từ trước đời Đ ường, chủ yếu qua con đường khẩu ngữ, nay đã được V iệt hoá hoàn toàn trở thành từ thuần V iệt 2- Bộ phận lớn hơn là bộ phận từ vựng tiếng Hán hiện đại vào tiếng V iệt theo con đường ngôn ngữ viết, được đ ọc toàn bộ bằng âm Hán - V iệt, được

V iệt hoá hoàn toàn về mặt ngữ âm V í dụ: phì nhiêu, sơ bộ, thị lực, quán triệt,

v.v.

Theo N gu yễn Thiện Giáp (1 9 8 5 ), vì người ta có thể đ ọc tất cả các chữ Hán (xưa và nay) theo âm Hán - V iệt nên cần phân biệt lừ gốc Hán trong liếng Việt với các từ Hán đọc theo âm Việt. Chỉ được coi là từ V iệt g ố c Hán những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng V iệt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ nháp tiếng V iệt T heo tác giả trên, các từ gốc Hán trong tiếng Việt gồm hai bộ phận chính như sau:

a) Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - V iệt, gọi tắt ]à các từ Hán - Việt, bao gồm :

+ N hững từ ngữ Hán - V iệi được tiếp nhận từ đời Đ ường đến ngày nay, gồm:

- N hững từ tiếng V iệt trực tiếp tiếp nhận từ tiếng Hán Loại này chiếm đa

số, thuộc đủ m ọi lĩnh vực V í dụ: c h ế độ, triều đình, giám sát, công nghiệp, nông nghiệp, văn chương, chiến trường, anh hùng, nguyên c á o , cáo trạng, bệnh nhân, bệnh viện, v.v.

- N hững từ tiếng V iệt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác, thông qua tiếng Hán V í dụ: câu lạc bộ (A nh), kinh tế, trường hợp (Nhật).

+ N hững từ Hán V iệt được cấu tạo ở V iệt Nam Đ â y là những từ mà tiếng V iệt sử dụng các yếu tố g ố c Hán làm chất liệu để tạo ta các từ m ới.

Những từ này không có trong tiếng Hán N hữne từ loại này gồm :

Trang 20

- Những đơn vị do các yếu tố g ố c Hán kết hợp tạo thành V í dụ: an trí,

tiểu đoàn, đại đội, thiếu tá v.v.

- N hững đơn vị do m ột yếu tô' g ố c Hán + m ột yếu tô' thuần V iệt tạo thành V í dụ: binh lính, tàu hoả, tàu thuỷ, súng trường, cướp đoạt, đói khổ

v.v.

b) Các từ ngữ g ố c Hán không đọc theo âm Hán - V iệt Loại này ít hơn loại trên nhiều, bao gồm:

+ Những từ Hán vào V iệt N am trước đời Đường, gọi là lừ Hán cổ.

Tuy nhiên, đến đời Đ ường, những từ Hán này lại nhập vào V iệt Nam một lần nữa và được đọc theo âm Hán Việt Thành thử, ở V iệt N am tồn tại những cặp từ g ố c Hán cùng g ố c, đồng nghĩa nhưng có cách đ ọ c khác nhau

Trang 21

giống dạng ngữ âm Hán V iệt ban đầu nữa V í dụ:

Bùi Đ ức Tịnh (1 9 8 1 ) nhận diện từ gốc Hán trong các trường hợp: a) Những kết hợp của những thành phần g ố c Hán theo ngữ pháp Hán

b) Các từ m ột âm tiết nói thế nào hiểu thế ấy, có khả nãng ngữ pháp như các từ thuần Việt: ông, bà, trường, học, tiến, v.v.

c) Các từ m ột âm tiết g ố c Hán kết hợp với m ột từ thuần V iệt lạo thành

m ột tổ hợp, thường gọi là từ kép: ca hát, ìí lẽ, máu huyết, v.v.

ìtru h&T hH' ^ 'Ị

Trang 22

Trương Chính (1 9 8 9 ) phân biệt để nhận diện 8 loại từ g ố c Hán trong tiếng V iệt như sau:

a) Những từ mượn của tiếng Hán từ thời thượng cổ (Hán cổ ) như: cải,

cìĩén, chém, ngựa, lừa , v.v.

b) Những từ mượn tiếng Hán theo con đường bình dân như: lạp p í lù, mì chính, phá xang, xêhg xáng, vằn thổn, v.v.

c) Những từ mượn tiếng Hán, đọc theo âm Hán V iệt, khác với âm của từ

đó trong tiếng Hán Đ ây là những từ nhập theo con đường bác học, đ ọc theo Đường âm, vào từ đời Đường.

d) N hững từ trên khi đi vào quần chúng lại đổi âm m ộl lần nữa, do người bình dân đọc sai trại mà ra V í dụ: phù n ì —> bù trì, bù chì; phản ánh —> phản ảnh; đ ể kháng —> đ ề kháng; cảm ân -> cảm ơn, v.v.

e) N hững từ được ghép bằng hai yếu tô' g ố c Hán, nhưng do người V iệt đật ra, khác hẳn với từ đó trong tiếng Hán hoặc không có trong tiếng Hán V í

hộ lí (Hán: hộ sĩ)

hoạ s ĩ (Hán: hoạ sư)

báo thù (Hán: báo cừu) v.v.

g) N hững từ tiếng Hán khi nhập vào tiếng V iệt thay đổi trật tự, như:

Trang 23

động dao> dao động phụ đảm -> đảm phụ nhiệt náo -> náo nhiệt

cử tiến - » tiến cử

v.v.

h) Những từ Hán nhập vào tiếng V iệt không còn giữ nguyên nghĩa gốc,

m ở rộng hoặc thu hẹp nghĩa, thay đổi cách dùng, thay đổi sắc thái tu từ V í dụ:

khúc chiết theo tiếng Hán là "quanh co", theo tiếng V iệt lại là "gãy gọn"

đáo đ ể "đến tận cùng", - - - "đanh đá"

ỷ tứ - - - "ý vị" - - - "cẩn thận" v.v.

i) N hững từ Hán sau khi nhập vào tiếng V iệt vẫn giữ nguyên ý nghĩa như trong tiếng Hán Đ a số đây ]à các thuật ngữ các ngành như: kinh tế, chính trị, khoa học, k ĩ thuật, văn hóa, nhản văn, v.v.

Theo tác giả trên "cả tám loại trên đều là từ Việt gốc Hán, vay mượn của tiếng Hán, đã nhập tịch vào tiếng V iệt và cũng đều có thể g ọ i là từ Hán Việt

cả".

Có thể xếp vào nhóm nàv cả các tác giả Lê Anh H iền, N g u y ễn Đ ứ c Tồn

Lê Anh H iền (2 0 0 0 ) nêu ra ba tiêu ch í để nhận diện từ Hán - V iệt trong tiếng

V iệt như sau:

1 V ề ỷ nghĩa: từ Hán - V iệt là những từ thường phải giải nghĩa m ới hiểu

Trang 24

N gu yễn Đ ứ c Tồn (2 0 0 1 ) có cách nhân diện từ Hán - V iệt độc đáo, dựa vào đặc điểm cấu tạo âm thanh của chúng.

Loại thứ ỉ : Các cấu tạo âm thanh chỉ có ở các tiếng Hán - V iệt như:

UYÊN (ngoại lệ, trừ nguyền, chuyền, chuyện): duyên, truyện, quyến, v.v UYẾT : tuyệt, quyết, tuyết, thuyết, v.v.

UY : tuy, tuỳ, tuỷ, tuỷ, quỷ, quỷ, quỵ.

Loại thứ hai: Các cấu tạo âm thanh chỉ có các tiếng thuần V iệt, chẳng hạn, các tiếng có vần ết, ưng, phụ âm đầu r, v.v.

Loại thứ ba: Các cấu tạo âm thanh có ở cả tiếng Hán - V iệt lẫn thuần Việt Loại này, theo tác giả, có thể nhận diện bằng ba tiêu ch í mà Lê Anh

H iền đã nêu trên.

2 1 3 Nhóm C: gồm các tác giả Quang Đ ạm , Lại Cao N gu yện , N gu yễn Thị Tân (1981) Các tác giả trên, nhìn chung, đã m ặc nhiên côn g nhận các từ Hán - V iệt trong tiếng V iệt khi viết về các vấn đề cụ thể mà không đưa ra m ột tiêu chí nhận diện nào cả.

2 1 4 Nhóm D: gồm các tác giả H oàng Văn Hành - H ồ L ê, H oàng Vãn Hành và nhóm tác giả V iện N gôn ngữ học N hóm này không phân loại mà xác định khái niệm từ Hán - V iệt trước khi đi vào nghiên cứu lớp từ ngữ này Sau đây là các ý kiến cụ thể.

H oàng Vãn Hành - H ồ Lê (1 9 6 8 ) ch o rằng "theo cách hiểu thông thường

từ ngữ Hán - Việt là những từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt". Tuy nhiên, theo hai đồng tác giả trên, khi bàn về lớp từ này, "nói chung, người ta chỉ nhằm vào những từ ngữ Hán - V iệt hai âm tiết hoặc trên hai âm tiết, bởi vì trong thực tế, hầu như tất cả các từ Hán - V iệt m ột âm tiết (ví dụ: cung, đồng,

áo, vụ, ti, bộ, v.v.) đều đã được V iệt hoá hoàn toàn, và do đó, không phải là

Trang 25

đối tượng ( )" (để nghiên cứu) Như vậy, theo cách hiểu này, hầu hết các từ Hán - V iệt m ột âm tiết đều đã được V iệt hoá và được coi như từ thuần V iệt.

Theo H oàng Văn Hành và nhóm tác giả V iện N gôn ngữ h ọ c (19 9 1 ), khoảng 60% vốn từ tiếng V iệt hiện đại có nguồn g ố c từ tiếng H án Đ ó là các

từ Hán - V iệt Toàn bộ vốn từ ngữ Hán - V iệt nói trên đều được tạo thành từ một lượng hữu hạn các yếu tố g ố c Hán đơn tiết gọi là yếu tố Hán - Việt và hiện có khoảng 3 5 0 0 yếu tố Hán - V iệt (đơn tiết) đang hoạt động trong tiếng Việt M ột bộ phận nhỏ hoạt động trong tư cách là các tò đ ộc lập, chúng là các

từ gốc Hán đã V iệt hoá hoàn toàn (như: dân, số, đoàn, toán, V.V.) M ột bộ phận khác chiếm đa số là các yếu tố Hán - V iệt không có khả nãng hoạt động như m ột từ độc lập mà lồn tại và hành chức như là m ột yến tô cấu tạo từ tức

hình vị (như địa trong địa cầu, địa lí, địa phận: thuỷ trong íliuỷ lợi, tliuỷ văn, thuỷ triều, V.V.) Các yếu tố Hán - V iệt này có mật hầu hết trong các từ ngữ

g ố c Hán đa tiết vàcác từ lai tạo (pidgin), trong đó, gồm có m ột thành tố g ố c Hán (yếu tố Hán - V iệt) và m ột thành tố khác g ố c Ấn Âu hoặc V iệt (như:

ampe kế, mạch máu, V.V.) T heo quan niệm này, tất cả các từ có nguồn g ố c Hán đều là từ Hán - \ 'iệt và chúng được tạo nên từ các yếu tố g ố c Hán đơn tiết kết hợp với: a) zêzô; b) yếu tố Hán - Việt khác; c) thành tố gốc Án Âu; d)

thành t ố thuần Việt.

1.5 Nhóm E: gồm các tác giả Phan N g ọ c và N gu yễn Văn K hang N hóm này xác định khái niệm đồng thời nêu các cách và tiêu ch í nhận diện từ Hán

V iệt trong tiếng V iệt.

Phan N g ọ c (1 9 9 2 , 2 0 0 0 ) trước khi đi vào vào m ẹo giải nghĩa từ Hán -

V iệt đã đưa ra định nghĩa "Xél vé mặỉ lịch sử, một từ Hán - Việt là một từ được viết ra bằng chữ khối vuông của Trung Quốc, nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán - Việt, người Việt vẫn dùng đ ể đọc mọi văn bản viết bằng

Trang 26

2 2

chữ Hán, dù đó là của người Hán liay của người Việt Hán Việt chỉ là cách phát âm riêng của người Việt vê chữ Hán" (ư 12) Tuy nhiên, cũng như Hoàng Văn Hành - H ồ Lê, tác giả này quan niệm rằng "bất kì âm tiết nào có thể hoạt động làm thành từ ăơn ĩiếĩ đểu được xem ìà lừ thuần Việt". D o vậy,

"sự phân biệt giữa thuần \ 'iệl với Hán 1 'iệl hay ngoại lai chỉ bắt đầu từ từ song tiết trở lên mà thôi" (tr 15) Như vậy, tác giả đã gạt ra ngoài không xét các yếu lố Hán - Việt có thể hoạt động độc lập như m ột từ hay là các tứ gốc Hán đơn tiết, như m ột số tác giả đi trước đã quan niệm Theo đó, tác giả đã tìm ra 4 loại âm tiết A B C D trong tiếng V iệt, trong đó, âm tiết Hán V iệt thuộc loại B, "là những tiếng không tự do và không đơn nhất" (tr.26).Tác giả này đã đưa ra m ột cách nhận diện rất riêng Đ ó là cách nhận diện dựa vào cái cảm thức ngôn ngữ của cá nhân: "lôi đi lìm cái Ún tượng Hán - Việt troìig tâm hổn ĩôi chứ không phải đi tìm cái từ nguyên Hán Việt khách quan". Bởi vì, theo tác giả, do rất đơn giản: người bình thường nói lìăìig và viết ỉách không hề quan tâm lới lich sử Anh la nối và viêì dựa vào cái cảm lìiức ngôn ngữ của mình Anh la cảm thấy từ này lủ ilniàìi Yiệí, lừ kia là Hán Việí, lừ này d ể hiểu, lừ kia khó hiếu, tử này nghe sang trọng, lù' kia nghe quá mộc mạc, từ này nghe kêu, từ kia íl âm hưởng nghe không kêu, lừ ììùy iiíỊÌie buồn, lừ kia nghe vui v.v Những án tượng ấy rá) mơ hồ nhưng cỏ lliực". (IX 14).

N guyễn Vãn K hang (1 9 9 4 ) quan niệm ràng từ Hán Việt "là những lừ Hán có cách đọc Hán Việt, được nhập vào tiếng Việt và trỏ thành véìi tố của

hệ thống từvtptg tiếng \ Tác giả đã nêu ba bước để nhận diện từ Hán V iệt như sau: "Bước I, tất cả những từ Hán có cách đọc Hán V iệt được nhập vào tiếng V iệt trở thành yếu tố của hệ thốna từ vựng Hán V iệt thì đểu là từ Hán Việt Bước 2, nhữns trường hợp mà m ột từ Hán nhập vào hoạt động tronq tiếng V iệt còn có cách đọc khác, ncoài cách đọc phiên thiếl thì phải được xem xét từnq irườns hợp cụ ihể Sẽ chấp nhân là từ Hán V iệt nếu nó tồn lại ít nhất trong m ột tổ hợp Hán V iệt (với một yếu lố kia là Hán V iệt) (Thí dụ:

Trang 27

chúa, bổn, chánh, ảo v.v trong các tổ hợp như: công chúa, chúa nhật, bổn phận, chánh án, chánh chủ khảo, ảo lliuậl, ảo ảnh, V.V.) Bước 3: Tuỳ m ục đích mà quy định đối tượng, tức là, phạm vi từ Hán V iệt được giới hạn theo mục đích nghiên cứu và sử dụng cụ thể".

2 1.6 Tóm lại, qua ý kiến của các tác giả trên, có m ấy cách tiếp cận và nhìn nhận về nì gốc Hán như sau:

A Đ ối lập từ Hán Việttử không phải Hán Việt (tức từ có cách đọc Hán V iệt và từ không có cách đọc Hán V iệt) Đ ại diện xu hướng này có các tác giả N guyễn Văn Tu, N guyễn Tài c ẩ n , T hế Long, N gu yễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn N hóm này bàn đến tất cả các từ có nguồn g ố c Hán trong tiếng Việt.

B Coi tất cả các từ có nguồn g ố c từ liếng Hán và có cách đ ọc Hán V iệt

là các tứ Hán Việt. Đại diện cho xu hướng này là các tác giả Bùi Đ ức Tịnh, Lê Anh Hiền, N guyễn Thị Tân, N guyễn Văn Khang N hóm này và nhóm sau chỉ bàn riêng vể từ Hán V iệt.

c Chỉ coi là từ Hán - V iệl những từ g ố c Hán từ hai âm tiết trở lên có cách đọc Hán - V iệt và gạl ra khỏi diện từ Hán - V iệt các từ m ột âm tiết, cho

dù chúng có được đọc theo âm Hán V iệt N hóm này gồm các tác giả H oàng Văn Hành - H ồ Lê và Phan N g ọ c.

D Đ ối lập từ gốc Hán với từ mượn Hán. T heo đó, từ gốc Hán là những

từ có nguồn g ố c Hán đã V iệt hoá như gan, gác, vái, bằng, ép, loài, v.v Thực chất đây là các từ Hán Việt đ ã Việt hoá. Còn từ mượn Hán là những từ Hán đã mượn vào tiếng V iệt mà không được V iệt hoá như khoái tr á, đ ể kháng, cấu aní cẩu an, hỗ trợ/ hộ trợ, v.v Thực chất đây là các từ Hán Yiệí (đọc theo ám Hán - V iệl) Thành thử, cách nhìn nhận này về bản chấl là g iố n g cách A trên, chỉ khác ở thuật ngữ gọi tên Đại diện nhóm này là Phan Văn Các.

Trang 28

Từ các ý kiến trên, có thể thấy các tác giả m ột số điểm chung tương đối nhất trí như sau:

a) Tất cả những từ có nguồn g ố c từ tiếng Hán đã nhập vào và đang hoạt

động trong tiếng V iệt được gọi là lừ gốc Hán.

b) Tất cả các từ gốc Hán có cách đọc Hán V iệt đều được g ọ i là từ Hán

-Việt.

c) Tất cả các từ gốc Hán không có cách đọc Hán V iệt (bao gồm từ Hán

cổ, từ Hán - V iệt việt hoá và từ gốc Hán khẩu ngữ) đều không phải là từ Hán Việt.

Những điểm chung trên là cơ sở quan trọng đầu tiên cho v iệc nhận diện

từ Hán V iệt của luận văn ở phần tiếp theo.

2.2 Nhận diện lớp từ ngữ Hán - Việt và giới hạn vân đê nghiêĩi cứu của luận vân

2 2 1 Nhận diện lớp lừ ngữ Hán - Việt irong tiếng Việt

Trên cơ sở ý kiến của các lác giả đi trước về từ ngữ g ố c Hán nói chung

và từ ngữ Hán V iệt nói riêng, chúng tôi xin đề xuất m ột số tiêu ch í nhận diện các từ ngữ Hán - V iệt trong tiếng V iệt như sau:

a Về hình thức:

a l Trước hết, đó là những từ g ố c Hán được đọc theo âm Hán - V iệt Có thể nhận ra chúng bằng "cảm thức ngôn ngữ" của người Việt: từ Hán - V iệt nghe trang trọng, tao nhã và khó hiểu hơn các từ thuần V iệt.

a.2 Đ ối với các từ song tiết, mượn nguyên khối từ tiếng Hán, nếu là từ ghép chính phụ, từ Hán V iệt là các từ có cấu tạo nội tại ngược với trật tự từ thông thường của tiếng V iệt, yếu tố phụ đặt trước yếu tố chính V í dụ: thiên bẩm, thiên tliời, địa lí, địa ốc, íìiuỷ quản, ihuỷ cung, v.v N ếu là từ ghép đẳng lập ta sẽ áp dụng tiêu ch í a l để nhận diện từng yếu tố V í dụ: giang sơn

Trang 29

quốc gia, công danh, thi ca, nguy hiểm, v.v.

a.3 Đ ối với các từ song tiết Hán V iệt được tạo ra trong tiếng V iệt mà tiếng Hán không có (trong đó có m ột yếu tố g ố c Hán hoặc cả hai yếu tô' đều

là g ố c Hán) nhất là khi chúng được tạo ra theo trật tự xuôi của tiếng Việt, chẳng hạn: kẻ địch, kẻ thù, ràu hoả, viện phó, trưởng phòng, trường học, ngoại lệ, v.v thì tình hình sẽ khó khãn hơn Lúc này cơ sở nhận diện sẽ là việc nhận diện từng yếu tố đơn lẻ: tập hợp đó sẽ là từ Hán - V iệt nếu có ít nhất m ột trong hai yếu tố là Hán - V iệt, tức là ta sẽ áp dụng tiêu ch í hình thức

a l đầu tiên.

a.4 Với các từ đơn tiết Hán - V iệt, thường đó là các từ g ố c Hán đã V iệt hoá hầu như hoàn toàn về mặt ngữ âm và được coi như là m ột từ thuần V iệt thì việc xác định xem chúng có phải là từ Hán V iệt hay không là điều rất khó

Đ ó là các trường hợp của các từ: ông, bà, có, cậu, bạn, kính, sách, kiếm, mệnh, trà, hổ, báo, lợi, hại, thiện, ác, giảng, học, tập, v.v T heo chúng tôi nghĩ, cách tốt nhất là kiểm chứng bằng các cuốn từ điển Hán V iệt, mà tốt nhất là m ột cuốn từ điển về các yếu tố Hán - V iệt thông dụng trong tiếng Việt.

b Về nội dung:

Các từ ngữ Hán - V iệt chủ yếu là các thuật ngữ về hầu hết các lĩnh vực hoạt động xã hội như: kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, vãn hoá, văn học, nghệ thuật, y học, v.v N goài ra, có m ột số từ thông dung về đời sống sinh hoạt hàng ngày như phụ nữ, nhi đồng, mẫu tử, nội nhật, ngoại thành, hi hữu, khúc chiết, náo nhiệt, v.v.

N ói chung, khi xác định từ nào là từ Hán V iệt, để tăng thêm độ tin cậy, việc kết hợp đồng thời hai tiêu ch í hình thức và nội dung là cần thiết, trong

đó, dường như tiêu ch í hình thức là quan trọng hơn, nhất là đối với những từ ngữ thuộc khu vực sinh hoạt hàng ngày thường dễ lẫn với từ thuần V iệt.

Trang 30

2 2.2 Giới hạn vấn đ ề nghiên cứu

N hư đầu đề của luận văn đã nêu rõ, ở đây chúng tôi chỉ quan tâm nghiên cứu những từ ngữ Hán Việt hay nói đúng hơn là các đơn vị từ vựng Hán Việt

(có thể là từ, có thể là yếu tô' cấu tạo từ) xuất hiện trong từ điển V iệt-B ồ-L a của A de R hodes Như vậy, các từ Hán cổ, Hán Việt Việt hoáHán mượn theo con đường khẩu ngữ sẽ không thuộc diện khảo sát của luận văn này Luận văn sẽ tiến hành dựng lại và m iêu tả m ột cách khái quát bức tranh toàn cảnh v ề các từ ngữ Hán V iệt được thu thập và giải thích trong cuốn từ điển tiếng Việt được xem là cổ nhất này, đối chiếu với m ột cuốn từ điển tiếng Việt hiện đại nhất là Tiêng Việt 2000, để tìm ra các đặc điểm biến đổi về mật ý nghĩa của chúng D o khuôn khổ và trình độ của luận văn, ch o nên, chúng tôi chấp nhận m ột sô thuật ngữ chung có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu

mà các tác giả đi trước đã dùng tương đối thống nhất như: từ gốc Hán, từ Hán Việt, từ Hán Việt Việt hoá, từ Hán cổ, từ Hán mượn qua con đường khẩu ngữ

v.v cùng các thuật ngữ ngôn ngữ học chung khác.

Bức tranh khái quát về các từ ngữ Hán Việt trong từ điển V iệt-B ồ-L a như thế nào cùng sự biến đổi của chúng ra sao? Các câu hỏi trên sẽ lần lượt được trả lời ở các chương sau.

Trang 31

C hư ơng 2BỨC TRANH CHUNG VỂ CÁC TỪ NGỮ HÁN VIỆT

TRONG Từ ĐIỂN VIỆT Bổ LA 1651 (ĐỐI CHIẾU VỚI Từ ĐIỂN TIẾNG VIỆT 2000)

2.1 Vài lòi giải thích cho tư liệu

2.1.1 Những cái khó của việc xử lí đề tài

V iệc xác định và tìm ra một danh sách đầy đủ các từ ngữ Hán Việt trong

T ừ điển V iệt Bồ L a (sau đây sẽ được viết tắt là VBL) là m ột việc làm không đơn giản, bởi nhiều lẽ sau đây:

a Tác giả từ điển VBL là một linh mục, biên soạn cuốn sách với mục đích phục vụ truyền đạo là chính, chứ không phải truyền bá ngôn ngữ Do hoàn cảnh lịch sử như vậy, cho nên cuốn sách có khá nhiều khiếm khuyết về mặt từ điển Chẳng hạn:

- Đ a số các mục từ không rõ ràng, từ để định nghĩa thường lẫn với từ hoặc cụm từ minh hoạ V í dụ:

ÁC, THÂM: Đ en ác: Con gà đen Mèo ác: Con m èo đen.

ÂM DƯƠNG, XIN ÂM DƯƠNG: G ieo quẻ bằng tiền.

ÁM, QUỈ ÁM, NGƯỜI QUỈ ÁM: Người bị quỷ ám.

- N hiều mục từ khiến người đọc không hiểu tác giả định đối chiếu hay giải nghĩa từ nào V í dụ:

ÁC QUẠ, CÁI ÁC: Con quạ.

AM, AM HIỂU: Người thợ toàn hảo, tinh vi.

- M ục từ thu thập cả các đơn vị là từ và các đơn vị không phải là từ như

Trang 32

yếu tố cấu tạo từ hoặc cụm từ tự do V í dụ:

BÊ CON: M ang con trong cánh tay.

BỄ: Cái bễ, ống bễ Bễ thổi lửa: ống bễ để thổi lửa.

BÊ, t h ổ i B ẻ : Dựng những ống bễ như là m ột dụng cụ.

DIÉC NHAU: Vạch những khuyết điểm của nhau trong khi cãi nhau.

ĐỆ, EM: Người em sinh sau.

Trang 33

việc xác định từ nói chung và từ ngữ Hán V iệt nói riêng V í dụ:

AN, AN UỶ: An ủi, nâng đỡ.

BA, PHU BA: Phong ba.

BUẦN: Buồn rầu, u buồn.

BẦN NHIN: N gười nghèo, người ăn m ày.

2.1.2 Cách xác định và xử lí các từ ngữ Hán - Việt của luận ván

a. Luận vãn áp dụng các tiêu chí nhận diện đã đề ra ở chương trước để nhận diện các từ ngữ Hán - V iệt trong từ điển VBL Đ ể cho chắc chắn, m ỗi đơn vị từ vựng Hán - V iệt sau khi đã được nhận diện, đều được kiểm chứng bằng Từ điển yếu tô' H án Việt thông dụng của nhóm lác giả V iện ngôn ngữ học (1991) (từ đây được gọi tắt là từ điển Y T H V ), trước khi đưa vào danh sách chính thức Trong trường hợp m ột đơn vị từ vựng Hán - V iệt nào đó mà không

có trong từ điển Y T H V thì đơn vị đó sẽ được kiểm chứng bằng Hán Việt từ điển của Đ ào D uy A nh (từ đây sẽ được gọi tắt là từ điển Đ D A ), trước khi đưa vào danh sách đó N hư vậy, các đơn vị đã đưa vào danh sách đều được đảm bảo chắc chắn là các đơn vị từ vựng Hán V iệt bởi hai cuốn từ điển kiểm chứng trên.

b. Vì luận văn khảo sát các từ ngữ Hán V iệt trong m ột cuốn từ điển nửa đối chiếu, nửa tường giải, ch o nên, tác giả luận văn đã tận dụng triệt để các lời giải nghĩa, các m ục từ, v í dụ minh hoa, rồi xét đoán nghĩa, để cuối cùng có thể xác định chắc chắn m ột đơn vị nào đó là gì, được dùng với nghĩa nào và có

Trang 34

phải là Hán V iệt hay không.

c. Vì các từ ngữ trong từ điển V B L là của tiếng V iệt cổ, hình thức ngữ

âm và chính tả rất khác hiện nay, cho nên việc xác định cho đúng m ột từ ngữ Hán V iệt nào đó đôi khi không dễ dàng Trong trường hợp gặp m ột từ mang

âm cổ hoặc hình thức chính tả khác ngày nay, chúng tôi căn cứ vào lời văn dịch hoặc tường giải cùng với việc đối chiếu với từ điển Y T H V để xác định xem từ đó ngày nay là gì Từ ngữ hiện đại xác định được sẽ là đơn vị đối chiếu trong Từ điển tiếng Việt 2000.

d. Vì từ đ iển V B L có những khiếm khuyết về mật từ điển, như đã nói ở mục a, cho nên, việc xác định đơn vị nào là Hán V iệt để đưa vào danh sách là một việc khó Khi gập những m ục từ không rõ ràng, chúng tôi sẽ gạn lấy m ột đơn vị từ vựng nào đó đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của m ột đơn vị từ vựng Hán V iệt như đã xác định ở chương 1 N goài ra, chúng tôi còn lọc lấy thêm một số từ ngữ Hán V iệt ở phần ví dụ minh hoạ của từ điển V B L để làm phong phú thêm cho danh sách, ở m ột chừng mực có thể, để tránh sai sót Các cách

xử lí trên sẽ được vận dụng kết hợp với nhau trong khi xác định danh sách từ ngữ Hán V iệt cho luận văn Chẳng hạn:

LỎÂN, TRẦM LỐÂN: "Sự luân chuyển của các hình k h ổ”.

-> đơn vị Hán Việt: TRẦM LUÂN LUÂN HỒI: "Sự chuyển sinh của hồn".

-> đơn vị Hán Việt: LUÂN H ồi NGUIEN, ĐỖ TRẠNG NGUIEN: "Đạt tới bậc cao nhất trong văn học, như Tiến sĩ".

-> đơn vị Hán Việt: TRẠNG NGUYÊN.

v.v.

e Hướng đi đó đã quyết định cách thành lập Danh sách các đơn vị từ vựng Hán Việt được thu Ihập trong từ điển V BL của luận văn như sau:

Trang 35

+ Danh sách được chia làm ba phần, m ỗi phần có ba cột m ang tiêu đề như nhau.

- Phần I: Các đơn vị Hán V iệt chỉ có trong từ điển V B L mà không có (kí hiệu #) trong từ điển TV 2000.

- Phần II: Các đơn vị Hán V iệt có trong cả hai từ điển V B L và TV 2000, tương ứng nghĩa là 1:1, nghĩa là chúng chỉ có m ột nghĩa duy nhất trong cả hai từ điển nói trên.

- Phần III: Các đơn vị Hán V iệt có trong cả hai từ điển V B L và TV 2000, tương ứng nghĩa là 1 : > 2 (xin đọc là: một-hai trỏ lên), nghĩa là, ở VBL các đơn vị này chỉ có một nghĩa, nhưng ở TV 2 0 0 0 chúng có từ hai nghĩa trở lên.

- Ba cột trong m ỗi phần lần lượt là: VBL - Y TH V - TV 2 0 0 0

+ Thông số từng cột như sau:

- Cột I (VBL): ghi tên các đơn vị Hán V iệt trong m ục từ Đ ể cho rõ nghĩa, cột này ưu tiên hết phần mục từ không bỏ sót chữ và dấu nào trong nguyên bản (phần chữ in đậm).

- Cột II (YTH V): ghi chỗ có thể tìm ra đơn vị Hán V iệt đó trong từ điển YTH V hoặc từ điển Đ D A Đ ây ]à phần đảm bảo cho tính tin cậy của các đơn vị từ vựng Hán V iệt trong cột I (V BL) Cột này ghi tên yếu tố Hán V iệt gố c, vị trí để tìm đơn vị Hán V iệt đang nói đến: ở từ loại nào, nghĩa thứ m ấy (phần trong m óc vuông).

- Cột III (TV 2000): ghi hình thức ngữ âm, chính tả và số lượng các nét nghĩa của từ ngữ Hán V iệt đó trong tiếng V iệt hiện đại ngày nay Cụ thể là:

Tên đơn vị Hán V iệt hiện đại, từ loại của nó (nếu tương ứng nghĩa 1:1)

• Các thông số trên, cùng số lần chuyển loại (ghi sô' La m ã) và các nshTa

Trang 36

Các v í dụ trên được cắt nghĩa như sau:

- ĐỆ (thuộc nhóm I), có thể được tìm thấy ở m ục từ ĐỆ trong từ điển YTHV, nhưng không có trong từ điển TV 2000.

- AM HIỂU (thuộc nhóm II), có thể được tìm thấy ở m ục từ AM, trong từ điển YTH V , và từ này trong tiếng V iệt hiện đại vẫn có hình thức là AM HIỂU, với nghĩa động từ.

- BẠN (thuộc nhóm III), có thể được tìm thấy mục từ BẠN,, nghĩa 1, trong từ điển YTH V Từ này trong liếng V iệt hiện đại vẫn có hình thức

là BẠN, nhưng đã phái triển: hai lần chuyển loại (I danh từ, II động từ), với 5 nghĩa khác nhau.

• M ộl số đơn vị Hán V iệl trong VBL, mà không có Irong TV 2000, nhưng lại xuất hiện trong ihực ĩiễìi sử dụng tiếng V iệi hiện thời, sẽ vẫn được tính đến và được đánh dấu hoa thị (*).

+ D o khuôn khổ và số trang quy định của luận văn, trong danh sách này, chúng tôi không thể đưa phần tường giải nghĩa của các đơn vị Hán V iệt vào Phần ý nghĩa của từ ngữ sẽ được khảo sát và phân tích sơ bộ ở chương III, để chỉ ra sự vận động và phát triển của các đơn vị từ vựng Hán V iệt trong từ điển VBL đến nay (qua TV 20 0 0 ).

g. Cuối cùng, để cho danh sách trên thực sự có giá trị, tác giả luận văn không thể không giả định rằng: tất cả các đơn vị từ vựng trong từ điển VBL là

Trang 37

thực sự tồn tại trong thực tiễn sử dụng của tiếng Việt thời đó Điều đó cũng có nghĩa là, A de Rhodes đã thu thập những đơn vị từ vựng có thực trong dời sống hàng ngày, chứ không phải là những đơn vị trên giấy tờ, trong từ điển Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với các đơn vị từ vựng thuộc nhóm I, chủ yếu là các yếu tô'Hán Việt có mặt trong từ điển VBL mà không có mặt trong

từ điển TV 2000, có nghĩa là, ngày nay chúng chỉ có tư cách là các hình vị cấu tạo từ trong tiếng Việt.

2.2 D anh sách các đơn từ vựng H án V iệt trong từ điển V B L đối chiếu với từ điển T V 2000 và kiểm chứng bằng tù điển Y T H V

2.2.1 NHÓM I: CÁC ĐƠN VỊ TỪ VỤNG HÁN VIỆT CÓ TRONG VBL MÀ

Trang 38

24 hoài, sinh, hoài thai hoài [II.2 ] #

Trang 39

40 mĩ, tốt m ĩ [1 ] #

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Ván Các (1981), "Từ ngữ gốc Hán với việc giữ gìn tình trong sáng của tiêng Việt", Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt vê mặt từ ngữ, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 272 - 279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ gốc Hán với việc giữ gìn tình trong sáng của tiêng Việt
Tác giả: Phan Ván Các
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1981
2. Phan Vãn Các (1994), Từ điển từ Hán Việt, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Vãn Các" (1994), "Từ điển từ Hán Việt
Tác giả: Phan Vãn Các
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1994
3. Nguyễn Tài Cán (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tài Cán" (1975), "Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cán
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1975
4. Nguyễn Tài Cán (1979), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tài Cán" (1979), "Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cán
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1979
5. Nguyễn Tài cẩn (1997), Giáo trình lịch sử ngữ ủm tiếng Việt , Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tài cẩn" (1997), "Giáo trình lịch sử ngữ ủm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài cẩn
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1997
6. Đỗ Hữu Cháu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Cháu" (1981), "Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Cháu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1981
7. Đỗ Hữu Cháu (1986), Các bình diện của lừ và từ tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Cháu" (1986), "Các bình diện của lừ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Cháu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1986
8. Hoàng Thị Cháu (1989), Tiếng Việt trên các miền đấl Iiước, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1989), "Tiếng Việt trên các miền đấl Iiước
Tác giả: Hoàng Thị Cháu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1989
9. Trương Chính (1981), "Từ lời dạy của Bác đến việc biên soạn một cuốn từ điển Hán Việt mới", Giữ gìn sự trong sáng của liếng Việt vé mặt từ ngữ, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 295-303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ lời dạy của Bác đến việc biên soạn một cuốn từ điển Hán Việt mới
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1981
10. Trương Chính (1989), "Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông", Tiếng Việt , sô' phụ của tạp chí Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1989
11. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến (1990), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng \ iệi, Nxb ĐH và GDCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1990), "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng \ iệi
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb ĐH và GDCN
Năm: 1990
12. Hoàng Dũng (1991), "Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes - nguồn cứ liệu soi sáng quan hệ giữa các tổ hợp phụ âm kì, pl, bì, tl và mì trong tiêng Việt", Ngôn ngữ, sô 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes - nguồn cứ liệu soi sáng quan hệ giữa các tổ hợp phụ âm kì, pl, bì, tl và mì trong tiêng Việt
Tác giả: Hoàng Dũng
Năm: 1991
13. Hữu Đạt, Trăn Trí Dõi, Đào Thanh Lan (1998), Cơ sở tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1998), "Cơ sở tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt, Trăn Trí Dõi, Đào Thanh Lan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Quang Đạm (1981), "Nghĩa gốc và nghĩa dùng của một số từ Hán Việt", Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt vê mặt ĩừ ngữ, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 279-289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa gốc và nghĩa dùng của một số từ Hán Việt
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1981
15. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học liếng Việt, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thiện Giáp" (1985), "Từ vựng học liếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1985
16. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ vả nhận diện từ tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thiện Giáp" (1996), "Từ vả nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
17. Nguyễn Thiện Giáp (cb) - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết (1997), Dần luận ngôn ngữ học, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thiện Giáp" (cb) - "Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết" (1997), "Dần luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (cb) - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1997
18. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thiện Giáp" (1998), "Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
19. Nguyễn Thiện Giáp - Nguyễn Đức Tồn - Vũ Đức Nghiêu (1999), sổ lay lừ ngữ Hán Việt bậc tiểu học. Nxb TG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thiện Giáp - Nguyễn Đức Tồn - Vũ Đức Nghiêu" (1999), "sổ lay lừ ngữ Hán Việt bậc tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp - Nguyễn Đức Tồn - Vũ Đức Nghiêu
Nhà XB: Nxb TG
Năm: 1999
20. Hoàng Văn Hành và Hổ Lé (1968), "Bàn về cách dùng từ ngữ thuần Việt thay thế cho từ ngữ Hán Việt", Nghiên ám ngôn ngữ học, tập I, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cách dùng từ ngữ thuần Việt thay thế cho từ ngữ Hán Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành và Hổ Lé
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1968

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w