1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt

97 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình thể hiện tên riêng nước ngoài nói chung và địa danh tiếng Đức nói riêng trong tiếng Việt 3.1.1.. Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu địa danh nước Đức v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ HẠNH

CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN ĐỊA DANH TIẾNG ĐỨC TRONG CÁC

VĂN BẢN TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS VŨ KIM BẢNG

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA DANH

1.3 Một số yêu cầu khi đưa địa danh nước ngoài vào tiếng Việt

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH TIẾNG ĐỨC

2.1 Đặc điểm của hệ thống địa danh tiếng Đức

2.1.1 Đặc điểm cấu tạo

2.1.2 Ý nghĩa của lớp từ địa danh

CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN ĐỊA DANH TIẾNG

ĐỨC TRONG CÁC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT

3.1 Tình hình thể hiện tên riêng nước ngoài nói chung và địa danh tiếng Đức

nói riêng trong tiếng Việt

3.1.1 Hiện trạng

3.1.2 Lý do dẫn đến hiện trạng thiếu thống nhất trong việc thể hiện địa

danh tiếng Đức trong tiếng Việt

44

44

50

Trang 3

3.2 Các quan điểm khác nhau về việc thể hiện tên riêng nước ngoài (địa danh)

3.3 Đề xuất phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong tiếng Việt

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 BCHTWĐ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng

2 BGD & ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 CHDC Cộng hòa Dân chủ

4 ĐH KHXH & NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

5 ĐHQG Đại học Quốc gia

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

1 Bảng 2.1: Từ gốc đặc trưng trong hệ thống địa danh tiếng Đức 23

2 Bảng 2.2: Tỉ lệ những nhóm từ gốc thông dụng trong địa danh tiếng Đức 24

3 Bảng 2.3: Nhóm từ định danh trong địa danh tiếng Đức 26

10 Bảng 3.3: Tương ứng giữa nguyên âm đơn tiếng Đức và tiếng Việt 62

11 Bảng 3.4: Tương ứng giữa nguyên âm đôi tiếng Đức và tiếng Việt 64

12 Bảng 3.5: Tương ứng giữa phụ âm đơn đứng trước hạt nhân tiếng Đức và

Trang 6

nhất GS Nguyễn Văn Khang cũng nhận xét“…vấn đề cách viết, cách đọc tên

riêng nước ngoài trong tiếng Việt đến nay vẫn còn chưa thống nhất Hiện chưa có một văn bản quy định mang tính pháp lý về mặt Nhà nước cho chính

tả tiếng Việt nói chung và tên riêng nước ngoài nói riêng Vì thế, cũng là điều

dễ hiểu khi mỗi ấn phẩm tiếng Việt phải tự chọn cho mình cách xử lý và dẫn đến sự không thống nhất về cách viết, cách đọc tên riêng nước ngoài giữa các

ấn phẩm cũng như trong một ấn phẩm.” [12, tr 1]

Cho đến nay đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về cách thể hiện tên riêng nước ngoài nói chung trong tiếng Việt, ví dụ như các bài viết của GS Hoàng Phê, Nguyễn Kim Thản, Vũ Quang Hào, hay một số chương mục trong các cuốn sách của GS Cao Xuân Hạo, GS Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Mai Ngọc Chừ,… Những bài viết của các tác giả nêu trên chỉ nghiên cứu về vấn đề tên riêng nước ngoài nói chung, chứ chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về vấn đề tên riêng của một ngôn ngữ cụ thể Tiếng Đức là một ngôn ngữ được nhiều quốc gia sử dụng và có vai trò quan trọng trong cộng đồng Châu

Âu Do vậy, cần có những nghiên cứu sâu và tỉ mỉ về địa danh tiếng Đức để góp phần đáp ứng nhu cầu công tác, học tập, giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa Đức

Trang 7

Hơn nữa, chúng ta cũng thấy trong tiếng Việt có nhiều nhóm địa danh tiếng Đức được du nhập vào từ nhiều năm nay, đặc biệt là sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, khi mà quan hệ ngoại giao, kinh tế, thương mại, văn hóa v.v của Việt Nam với CHDC Đức trước kia và bây giờ là nước Đức thống nhất phát triển vô cùng mạnh mẽ Những nhóm từ, ngữ địa danh tiếng Đức chủ yếu là tên các bang, tên sông hồ, tên biển, tên các thành phố và trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa cũng như các danh lam thắng cảnh của nước Đức Địa danh nói chung và địa danh tiếng Đức nói riêng phải được coi là một lớp từ quan trọng Thông qua hệ thống địa danh, người ta có thể hiểu thêm nhiều về một nền văn hóa, biết thêm được về cốt cách của một dân tộc, về lịch

sử của dân tộc đó Đây cũng chính là một trong những lý do khiến chúng tôi lựa chọn đề tài này

Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy tiếng Đức và văn hóa Đức của bản thân, chúng tôi nhận thấy rằng hệ thống tên riêng tiếng Đức trong tiếng Việt gây rất nhiều “hiểu lầm” trong giao tiếp ngôn ngữ Xin lấy ví dụ: Tên thành

phố Köln trong tiếng Đức khi sang tiếng Việt có quá nhiều biến thể, khi là

Cô-lô-nhơ, khi là Côlôgne hoặc có khi được để nguyên dạng là Köln Hay như

tên thủ đô Berlin cũng có tới bốn biến thể: Berlin, Béclin, Béc-lin và Bá Linh

Điều này khiến chúng ta lúng túng trong chuyển dịch, trong giao tiếp - nhiều lúc không biết phải chọn biến thể nào cho phù hợp Vào năm 1979, phát biểu tại Hội nghị toàn quốc “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ”

do Viện Ngôn ngữ học tổ chức, cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn

Đồng đã từng lưu ý: “…trong công việc này chúng ta phải kiên trì Nếu cần

tranh luận thì nên tranh luận rộng rãi Nếu chưa được thì ta còn chờ, không vội Cuối cùng, cuộc sống, nhân dân sẽ quyết định Không nên vội, chớ vội, việc gì phải vội! Có những cái, những hiện tượng mà cuộc sống có cái lý của nó để quyết định và khi mà cuộc sống, thời gian, nhân dân đã quyết định,

Trang 8

thì đó là sự phán quyết cuối cùng.” Đọc những lời phát biểu trên chúng tôi rất

tâm đắc, chỉ có điều trong vấn đề này, chúng ta đã chờ khá lâu 20 năm trôi qua sau câu phát biểu này của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chúng ta vẫn chưa thống nhất để tìm ra một giải pháp hữu hiệu nhất cho vấn đề thể hiện tên riêng nước ngoài trong tiếng Việt Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu địa danh nước Đức về cấu trúc và ngữ nghĩa để từ đó nêu lên những đề xuất cá nhân của mình trong việc thể hiện tên riêng nước ngoài nói chung và đặc biệt là địa danh tiếng Đức nói riêng trong tiếng Việt

0.1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về mặt lí luận, luận văn trình bày một số khái niệm về địa danh và nghiên cứu đặc điểm của hệ thống địa danh tiếng Đức xét về mặt cấu tạo và ý nghĩa trên cơ sở 1000 địa danh được thu thập Bên cạnh đó, luận văn cũng đề cập đến một số quan điểm khác nhau trong việc xử lý tên riêng nói chung và địa danh nước ngoài nói riêng trong tiếng Việt

Về mặt thực tiễn, luận văn đã đề xuất một số phương án thể hiện địa danh tiếng Đức trong tiếng Việt nhằm phục vụ công tác giảng dạy ngôn ngữ, văn hóa Đức tại Việt Nam, phục vụ giảng dạy dịch thuật và qua đó đưa ra một định hướng nhằm chuẩn hóa hệ thống địa danh tiếng Đức trong tiếng Việt

0.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tên riêng nói chung và tên riêng tiếng Đức nói riêng là một phạm trù rộng Trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm của địa danh tiếng Đức và xem xét cách xử lý địa danh (tên địa lý) tiếng Đức trong tiếng Việt

0.3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Trong luận văn này, chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp phân tích, tổng hợp và miêu tả Phương pháp nghiên cứu cụ thể

là phương pháp thống kê và phân tích cấu trúc Trên cơ sở những tên riêng đặc trưng trong tiếng Đức đã thu thập được (cụ thể là tên địa lý), chúng tôi áp dụng các biện pháp để xác định các đặc điểm của hệ thống địa danh tiếng Đức, phân loại hệ thống địa danh, nghiên cứu hiện trạng thể hiện địa danh tiếng Đức trong tiếng Việt hiện nay, sau đó đề xuất hướng xử lý trong việc thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt theo các nhóm nhất định

0.4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về địa danh

Chương 2: Đặc điểm địa danh tiếng Đức

Chương 3: Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA DANH

1.1 Khái niệm về địa danh

Về khái niệm “tên riêng”, GS Nguyễn Thiện Giáp đã viết: “có lẽ tên

riêng nên được coi là những từ, ngữ dùng để gọi tên những thực thể vật chất

và tinh thần có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội, tồn tại với

tư cách là những cá thể trong tư duy của từng dân tộc Đối với người Việt đó là:

- Những tên chỉ người, tên cá nhân, dân tộc, ví dụ: Nguyễn Trãi, Việt

Nam

- Những tên chỉ nơi chốn, núi, sông hồ, tỉnh, ví dụ: (núi) Tản Viên,

(sông) Hồng, (tỉnh) Nghệ An

- Những từ ngữ chỉ công trình xây dựng và văn hóa, ví dụ: (chùa) Dâu,

(cầu) Long Biên, Truyện Kiều

- Những từ ngữ chỉ các cơ quan, tổ chức xã hội, ví dụ: Đại học Quốc gia

Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Những từ ngữ chỉ từng thời kì, từng sự kiện lịch sử, ví dụ: (thời kì)

Lí-Trần, Cách mạng Tháng Tám, Hội nghị Paris, Nghị quyết 8 BCHTWĐ.” [6, tr 326-327]

Khái niệm về tên riêng nói chung của GS Nguyễn Thiện Giáp bao gồm cả khái niệm về địa danh Theo định nghĩa của ông, ta có thể hiểu địa danh chính

là những từ, ngữ để chỉ nơi chốn, núi, sông hồ, tỉnh

Trang 11

Theo Hoàng Thị Châu thì “Địa danh hay là tên địa lý (toponym,

geographical names) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính, được con người đặt ra Qua những thông tin đó, có thể nhận ra được những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị.” [2]

Nhìn ngược lại dòng lịch sử một chút thì khái niệm “địa danh” (toponym) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (topo = Ort/địa điểm/nơi chốn; nym = Name/tên gọi) Và theo như Từ điển địa danh Đức, “địa danh” có nghĩa là tên địa lý

theo nghĩa khái quát nhất Theo định nghĩa này, địa danh chính là tên gọi của các vùng, khu vực nhất định, ví dụ như:

- Tên các châu lục, các khu vực địa hình, các vùng đất khác nhau, các dãy núi, ngọn đồi, các loại địa hình v.v

- Tên các hòn đảo, bán đảo, bờ biển, bãi biển

- Tên các địa phận, cánh đồng, cánh rừng, công viên

- Tên các đơn vị hành chính (Nhà nước, quốc gia, tỉnh thành, )

- Tên các khu dân cư (thành phố, trang trại, đồn điền, )

- Tên các trục đường giao thông (đường cao tốc, đường phố, quảng trường, các con đường, ngõ, trục đường tàu, )

- Tên hồ ao, sông ngòi, hải phận (tên các đại dương, vùng biển, eo biển, sông, suối, kênh đào, hồ ao, )

Trong tiếng Đức, người ta phân chia địa danh thành hai nhóm cơ bản:

Nhóm 1: Tên riêng chỉ các vùng, các khu vực rộng lớn, bao gồm:

- Tên các châu lục, đại dương, các khu vực địa hình, các sa mạc

- Tên các vùng núi

Trang 12

- Tên các hòn đảo, bán đảo

- Tên biển, hồ, đầm lầy, sông, suối, kênh đào

- Tên rừng, tên hạt

- Tên các khu vực dân cư như: thành phố, làng mạc, toà thành, quận huyện

- Tên các khu vực bị sa mạc hoá

- Tên các uỷ ban

Nhóm 2: Tên riêng chỉ các vùng, các khu vực nhỏ, bao gồm:

- Tên các miền địa hình

- Tên các trục đường giao thông, tên ngọn núi, thung lũng

- Tên các thửa ruộng, các khu vực chăn nuôi gia súc, cày cấy

- Tên đường phố, ngõ hẻm, quảng trường

- Tên các khu vực khai thác mỏ

Hoàng Thị Châu đưa ra ý kiến rất xác đáng về một nét đặc điểm của địa danh là tính đa dạng về ngôn ngữ Địa danh của dân tộc, quốc gia nào cũng thường được đặt bằng ngôn ngữ của dân tộc, quốc gia đó Nhưng như chúng

ta đã biết, trong lịch sử loài người đã xảy ra những cuộc di dân lớn và những cuộc viễn chinh để chinh phục các vùng đất khác và điều này làm cho tình hình địa danh trở nên phức tạp hơn rất nhiều Trong Từ điển địa danh Đức, người ta phân ra thành các loại địa danh như địa danh bản địa và địa danh nước ngoài Địa danh nước ngoài khi “nhập nội” vào một ngôn ngữ nhất định thường được xử lý về chữ viết (dựa theo phương thức chuyển tự hoặc phiên

âm và chuyển tự)1 để tạo ra sự phù hợp với ngôn ngữ đích, ví dụ như thủ đô

1

Nội dung này sẽ trình bày kỹ hơn ở những phần tiếp theo của đề tài

Trang 13

nước Nga là Mockba (tiếng Nga) - chuyển tự ra hệ chữ La Tinh là Moskwa và

khi vào tiếng Đức thành Moskau Lúc này nó được gọi là địa danh nước ngoài trong ngôn ngữ đích (ngôn ngữ tiếp nhận địa danh) là tiếng Đức Hoàng Thị Châu còn phân biệt rất rõ ràng giữa địa danh nước ngoài (foreign geographical names) và địa danh ngoại lai (exonyms) Địa danh nước ngoài là địa danh chỉ những vùng, những khu vực nằm ngoài lãnh thổ nước mình hiện nay Nhiều tên địa danh nước ngoài đã được thay đổi, điều tiết theo đặc điểm ngôn ngữ của người sử dụng địa danh Còn địa danh ngoại lai là địa danh có trong mỗi ngôn ngữ, là kết quả của quá trình di dân, của những cuộc chiến tranh chinh phục lẫn nhau Ví dụ một số địa danh trong tiếng Tây Ban Nha (địa danh ngoại lai) bằng tiếng Đức như sau:

1.2 Địa danh trong hệ thống thuật ngữ khoa học

Có thể khẳng định rằng, địa danh cũng là một bộ phận của thuật ngữ, nhưng đây là một hệ thống “từ ngữ đặc biệt”, bởi vì địa danh là các danh pháp địa hình (tức là đi kèm với những danh từ riêng chỉ đối tượng địa hình) Các địa danh tiếng Đức trong tiếng Việt càng phải được hiểu là hệ thống “từ ngữ đặc biệt”, bởi vì đối với người Việt đây là các địa danh “nước ngoài”, cần có phương pháp xử lý một cách hợp lý, đặc biệt trong thời kỳ toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng sôi động hiện nay Do địa danh không phải là “thuật ngữ khoa học chính thống” nên chúng ta không thể xử lý chúng như những thuật ngữ

Trang 14

quốc tế được và cần phải phân định ranh giới một cách thật rõ ràng Ví dụ: Ở

Berlin có một cây cầu rất nổi tiếng tên gọi là Schlossbrücke Nếu ta “chẻ chữ”

ra thì địa danh này bao gồm những cấu phần sau:

Schlossbrücke (Schloss = lâu đài; Brücke = cái cầu, cây cầu)

Và trong các chương trình giới thiệu về du lịch Đức ở Việt Nam người ta đã

viết về Cây cầu lâu đài tại thủ đô Berlin Rõ ràng đây cũng là địa danh, gồm hai từ ghép lại (trong tiếng Đức người ta gọi là từ ghép) “Cầu” trong ngành

cầu đường, giao thông vận tải rõ ràng là thuật ngữ - nhưng trong ví dụ nêu

trên thì “cầu” có phải là thuật ngữ nữa không, hay chỉ là cách để tạo địa danh?

Xử lý địa danh trên trong tiếng Việt như thế nào? Nên dịch ra như người ta đã làm, nên phiên âm, hay để nguyên dạng? Trong trường hợp này, người ta biết được nghĩa của hai từ cấu thành nên địa danh nên dùng phương pháp chuyển dịch Còn những tên địa lý khác mà nét nghĩa của chúng không còn rõ ràng thì xử lý ra sao?

Cũng tương tự, những từ như sông, hồ, eo biển, đảo, bán đảo, là thuộc

hệ thống thuật ngữ của ngành địa lý, nhưng những danh từ như sông Nhuệ,

sông Kim Ngưu, sông Cà Lồ thì lại là địa danh Cũng như vậy, những khái

niệm như Berg (núi), Meer (biển), Hügel (đồi), Insel (đảo), trong tiếng Đức

là thuật ngữ, nhưng nếu ta nói Ostsee (biển Bantíc), Nordsee (biển Bắc) thì

chính là đang đề cập đến địa danh thuộc nước Đức Trong quá trình giảng dạy tiếng Đức, chúng tôi thấy sinh viên thường không ngần ngại chuyển dịch địa

danh Ostsee thành biển Đông (bởi vì Ost có nghĩa là hướng đông, See có nghĩa là biển) - giống hệt như khái niệm Südchinesisches Meer (Nam Hải

Trung Quốc) là khái niệm người Đức dùng để chỉ biển Đông nước ta Cũng liên quan đến vấn đề này, Nguyễn Thị Bích Hà có trích dẫn quan điểm của

nhà khoa học T.Vi-nhô-kúp (T.O Buhokup) như thế này: “Danh pháp (tên

Trang 15

riêng) chỉ là hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt động với những sự vật này.” [7, tr.14]

Nguyễn Thị Bích Hà cho rằng: “Danh pháp chỉ dán nhãn cho đối tượng của

nó” và “danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học Như vậy có nghĩa là danh pháp chỉ gọi tên các sự vật trong một ngành khoa học

mà thôi Chẳng hạn trong địa lý học, các từ như biển, sông, núi, sa mạc, là những thuật ngữ, còn các tên biển, tên sông, tên hồ, cụ thể như sông Hồng, sông Cửu Long, sông Đà, núi Ba Vì, vịnh Hạ Long, hồ Núi Cốc, là danh pháp.” [7, tr 14] Nói như thế có nghĩa là chúng ta phải thực sự xem xét hệ

thống địa danh nước ngoài thật kỹ để có cách xử lý thỏa đáng, chứ không phải

xử lý địa danh nước ngoài giống hệt như thuật ngữ quốc tế Những yêu cầu về tiêu chuẩn đối với thuật ngữ tiếng nước ngoài khi du nhập vào tiếng Việt như

tính chính xác, tính hệ thống, có màu sắc dân tộc, ngắn gọn dễ dùng cần phải

được hiểu khác khi xử lý các lớp từ địa danh nước ngoài Cũng giống như thuật ngữ khoa học, địa danh nước ngoài cần phải được xây dựng thành hệ thống trong tiếng Việt Và chúng tôi thấy rằng, việc xây dựng một hệ thống địa danh tiếng Đức trong tiếng Việt là hết sức cần thiết

1.3 Một số yêu cầu khi đưa địa danh nước ngoài vào tiếng Việt

1.3.1 Tính chính xác

Đặt địa danh cũng như khi đặt thuật ngữ trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó, chúng ta cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Mục đích đặt địa danh là để phân biệt các đối tượng địa hình, phân biệt các vùng miền, khu vực Cho nên một yêu cầu đặt ra khi đưa địa danh nước ngoài vào tiếng Việt là không gây trùng lặp địa danh Hoàng Thị Châu nêu lên một ví dụ rất

Trang 16

hay: “Hai con sông ôm lấy cả một vùng Đông Nam Á có tên gọi ban đầu là

Kông và Giang - đều có nghĩa là sông nước” [2] Nhưng sau đó người ta đã

thêm tên là Mêkông (Sông Mẹ) và Trường Giang (Sông Dài) để tránh trùng

nhau và để phân biệt được hai con sông đặc trưng của vùng Đông Nam Á Đây cũng là một yêu cầu đối với công tác đặt thuật ngữ, du nhập thuật ngữ

quốc tế vào tiếng Việt, – đó là tính chính xác

Chính xác ở đây có nghĩa là không bị trùng lặp nhau, tránh hiện tượng một địa danh chỉ nhiều đối tượng địa hình khác nhau, tránh hiện tượng đồng

âm - đồng nghĩa nhiều quá GS Lưu Vân Lăng đã từng nói đến một yêu cầu

mang tính lý tưởng đối với thuật ngữ là “mỗi khái niệm có một thuật ngữ và

một thuật ngữ chỉ một khái niệm” [15, tr 41]

Theo quan điểm của chúng tôi thì điều này cũng nên trở thành một yêu cầu, một tiêu chí khi đặt địa danh, khi nhập nội địa danh nước ngoài nói chung và địa danh tiếng Đức nói riêng vào tiếng Việt Tất nhiên rất khó có thể thực hiện được một cách tuyệt đối, nhưng nếu đã có định hướng như vậy thì chúng ta có thể phần nào đạt được tính chính xác, tính khoa học khi đưa các tên địa lý nước ngoài vào tiếng Việt Khi nhập nội địa danh, chúng ta không nên tùy tiện, áp đặt, thích “chuyển” thế nào thì chuyển như trường hợp một

ông bố đặt tên con là “mai phạt năm đồng sáu” (một câu chuyện có thật ở

Việt Nam) Trong tiếng Đức có những địa danh giống nhau giữa các bang,

các vùng địa hình của Đức, ví dụ như địa danh Bayerbach Để phân biệt được

rõ ràng địa danh này thuộc vùng nào, người Đức cho thêm một phần giải thích

trong ngoặc Bayerbach (Ergeldsbach) và Bayerbach (Rottal-Inn) Phần bổ

sung này (bổ sung địa danh) giúp ta phân biệt được 2 vùng đất khác nhau nhưng có cùng một tên gọi Xin dẫn thêm một ví dụ nữa: Ở Đức có hai thành

phố đều tên là Frankfurt, để tránh nhầm lẫn, người Đức đã thêm vào một định ngữ xác định rõ vị trí của những thành phố này, đó là Frankfurt am Main và

Trang 17

Frankfurt an der Oder Main và Oder là tên hai con sông chảy qua hai thành

phố trên

Chính xác ở đây còn có nghĩa là không nên có quá nhiều biến thể của cùng một địa danh Một địa danh nước ngoài khi nhập nội vào tiếng Việt chỉ nên có một tương ứng duy nhất Tránh trường hợp một tên gọi có quá nhiều biến thể như ví dụ về thủ đô Berlin và thành phố Köln đã nêu trong phần mở đầu

tính hệ thống và quen dùng: “Nếu muốn tăng tính hệ thống trong cách xử lý

thì phải giảm và thậm chí phải thay đổi cả một số địa danh quen dùng; Nếu

Trang 18

giữ được quen dùng càng nhiều càng tốt thì tính hệ thống sẽ bị phá vỡ càng mạnh” [12, tr 3] Theo ông, tính quen dùng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

như tuổi tác, nghề nghiệp, xã hội Vì vậy, trừ một số tên nước, tên biển, đại dương quá quen thuộc, các địa danh khác đang ở trong tình trạng giáp ranh giữa “kiểu cũ” và “kiểu mới” Như vậy, nên chăng phải đưa ra một danh mục

cụ thể những địa danh nào nên giữ nguyên theo cách dùng lâu đời trong tiếng Việt nhằm có những hướng dẫn cụ thể cho người xử lý, tránh tình trạng mỗi người xử lý theo cảm quan riêng và theo cách riêng của mình?

Nói tóm lại, để đảm bảo tính hệ thống của địa danh nói chung và địa danh nước ngoài trong tiếng Việt nói riêng, chúng ta phải đưa ra được những cách

xử lý không bị trùng lắp trong hệ thống của nó GS Cao Xuân Hạo trong

Tiếng Việt Văn Việt Người Việt đã dẫn ra một ví dụ về cái tên Mác Mác là tên

được Việt hóa của ông Marx Nhưng hiện nay chúng ta thấy có quá nhiều cái tên khác có cách phát âm tương tự như Marc, Match, Mark v.v Một câu hỏi

đặt ra ở đây là thể hiện những tên riêng nước ngoài này trong tiếng Việt ra sao

để phân biệt được Karl Marx với Marc, Match, Mark hay Max v.v.? Ngoài ra,

để đảm bảo tính hệ thống của địa danh nước ngoài trong tiếng Việt, chúng ta cũng cần lựa chọn một phương thức xử lý nhất định, tránh tình trạng lộn xộn, thiếu thống nhất khi thể hiện địa danh nước ngoài như đã đề cập đến ở phần trên (tính chính xác)

1.3.3 Tính đơn giản, dễ dùng

Một điều đáng lưu ý khi “nhập” các địa danh nước ngoài vào tiếng Việt là làm sao cho các cách xử lý thật đơn giản Khoa học là đơn giản, dễ dùng, dễ

áp dụng, đừng để có quá nhiều trường hợp ngoại lệ Khoa học cũng có nghĩa

là làm những vấn đề phức tạp trở nên dễ hiểu và có tính khả thi cao Tất nhiên không thể tránh được những trường hợp ngoại lệ Nhưng nếu có quá nhiều ngoại lệ trong việc xử lý lớp tên địa lý nước ngoài thì người sử dụng sẽ ngại

Trang 19

dùng, họ dùng luôn những cái có sẵn theo lối mòn hoặc dùng theo cách của

họ tự “chế tác ra” Thuật ngữ nói chung và địa danh nước ngoài đưa vào tiếng Việt là để người Việt dùng - nếu đưa vào tiếng Việt mà chúng không được sử dụng thì sẽ nhanh chóng “biến mất” khỏi từ vựng của ta Đúng như người ta

đã nói, thực tiễn kiểm nghiệm chân lý Chúng tôi đã tham khảo bản “Dự thảo

Quy định cách viết, cách đọc tên riêng nước ngoài trong các văn bản quản lý nhà nước” của Viện Ngôn ngữ học Trong phần giải pháp lựa chọn của bản

Dự thảo Quy định, các tác giả viết “Tên riêng nước ngoài xuất hiện trong các

văn bản quản lý nhà nước được viết và đọc theo cách viết, cách đọc của chữ quốc ngữ - phiên chuyển ra tiếng Việt: Viết rời từng âm tiết, có dấu chữ, dấu thanh, có gạch nối giữa các âm tiết, tận dụng khả năng ghi âm của chữ quốc ngữ

Giải thích bổ sung:

- Chỉ dùng các con chữ ghi âm cuối là –p, -t, -c, -ch, -m, -n, -ng, -nh (mà

không sử dụng các con chữ khác như –v, -r, -l) Ví dụ: bôn<Humboldt

Hum Có sử dụng thêm các con chữ kép như pl, xt, cr, Ví dụ:

Cô-xta Ri-ca<Costa Rica.” [23]

Để đảm bảo tính thống nhất trong việc xử lý tên riêng nước ngoài trong tiếng Việt, việc đưa ra quy định như trên là cần thiết Nhưng cách xử lý mà bản Dự thảo đưa ra dường như còn khá phức tạp và có nhiều ngoại lệ Nhiều

ngoại lệ quá sẽ làm cho quy định khó khả thi Ví dụ tên riêng Costa Rica viết thành Cô-xta Ri-ca thì không khác nhiều phần nguyên ngữ Cần thiết chăng

phải chuyển nguyên thể “st” (Costa) thành “xt” (Cô-xta) trong tiếng Việt? Có

lẽ là không nên bởi với cả hai cách viết như trên, người Việt bình thường (biết

Trang 20

đọc, biết viết) sẽ đọc như nhau Nếu viết Cô-xta Ri-ca có khi còn khó hơn trong nguyên ngữ La Tinh

Một tiêu chí nữa khi đưa các tên địa lý nước ngoài vào tiếng Việt là chúng

ta phải nghĩ đến sự phát triển trong tương lai, đặc biệt là trong khi giao lưu quốc tế đang diễn ra với một tốc độ chóng mặt như hiện nay, trong khi cả dân tộc ta, cả Bộ Giáo dục và Đào tạo đang có những động thái tích cực để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên, cho cán bộ, trong khi số người biết ngoại ngữ ngày càng tăng Tiêu chí này cũng rất quan trọng, bởi nếu không cân nhắc kỹ lưỡng, chúng ta chỉ có thể đưa ra được những quy định

“đoản thọ” mà thôi

1.4 Tiểu kết

Chương 1 của luận văn đã nêu lên một cách khái quát và ngắn gọn những vấn đề lý luận liên quan đến địa danh nói chung và địa danh nước ngoài nói riêng Chúng tôi đồng ý với ý kiến của Hoàng Thị Châu cho rằng địa danh là tên địa lí, là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình, tên nơi cư trú, tên hành chính, được con người đặt ra Qua những địa danh đó, chúng ta có thể nhận ra được những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị của một dân tộc Có thể chia địa danh thành 2 nhóm chính, đó là nhóm địa danh bản địa và địa danh nước ngoài Nhóm địa danh nước ngoài là nhóm địa danh rất phức tạp, bởi vì nó liên quan đến những đặc trưng về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, xã hội, chính trị v.v của các dân tộc khác trên thế giới và đối với nhóm địa danh này, chúng ta cần phải có một số cách thức xử lý khác với nhóm địa danh bản địa Nhóm địa danh nước ngoài,

cụ thể là địa danh tiếng Đức sẽ được trình bày chi tiết hơn trong các chương tiếp theo của đề tài

Trang 21

Ngoài ra cũng trong chương này, chúng tôi trình bày ngắn gọn về vị trí của địa danh nước ngoài trong hệ thống thuật ngữ khoa học quốc tế (thuật ngữ khoa học tiếng nước ngoài) Có thể nói rằng, địa danh nước ngoài không phải

là “thuật ngữ khoa học chính thống” và chúng tôi xếp nhóm từ ngữ này vào nhóm “từ, ngữ nước ngoài đặc biệt” Cũng chính vì thế mà đối với nhóm từ ngữ này phải có những phương thức “du nhập” thật hợp lý vào tiếng Việt, bởi

vì chúng khác với hệ thống thuật ngữ khoa học thực thụ Tuy vậy, chúng ta cũng thấy là địa danh nước ngoài thường đi kèm với danh pháp Trong một số tiểu nhóm địa danh nước ngoài nhất định như địa danh về các đơn vị hành chính, các công trình xây dựng, kiến trúc thì ranh giới phân biệt giữa địa danh nước ngoài và thuật ngữ khoa học quốc tế rất mờ nhạt, có chỗ ta thấy hiện tượng trùng khít giữa địa danh và thuật ngữ nước ngoài Đối với tiểu nhóm địa danh này thì cách xử lý sẽ giống như khi xử lý thuật ngữ khoa học quốc

tế

Cũng trong chương 1, chúng tôi đã đề cập đến một số yêu cầu khi nhập nội tên địa lí nước ngoài vào tiếng Việt, như tính chính xác, tính hệ thống và tính đơn giản, dễ dùng Ngoài ra, chúng tôi còn lưu ý đến việc hạn chế ngoại

lệ trong quá trình nhập nội địa danh nước ngoài do tính phức tạp của nó Có quá nhiều ngoại lệ trong thể hiện địa danh nước ngoài tạo “cơ hội” cho những lối mòn trong xử lý địa danh nước ngoài nói riêng và tên riêng nước ngoài nói chung tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng

Trang 22

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH TIẾNG ĐỨC

2.1 Đặc điểm của hệ thống địa danh tiếng Đức

Ở đây, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu nhóm địa danh bản địa, tức là nhóm địa danh chỉ những vùng miền, những khu vực, nằm trên lãnh thổ nước Đức, do người Đức đặt tên

2.1.1 Đặc điểm cấu tạo

Xét về mặt cấu trúc, địa danh tiếng Đức được phân chia thành hai nhóm cơ bản:

- Địa danh được tạo thành từ một từ (Einwortnamen)

- Địa danh được tạo thành từ một cụm từ (Mehrwortnamen)

2.1.1.1 Địa danh được tạo thành từ một từ

Nhiều nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và địa danh học Đức như A Bach, G Baner và D Berger cho thấy: địa danh được tạo thành từ một từ chiếm số lượng rất lớn trong lớp từ địa danh tiếng Đức Trong nhóm này,

người ta lại phân biệt giữa nhóm địa danh được hình thành từ một từ đơn (Simplicia) và nhóm địa danh được hình thành bằng phương thức phái sinh (Ableitungen) và phương thức ghép từ (Namenkomposita)

a Địa danh được hình thành bằng phương thức ghép từ

Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và địa danh học Đức như A

Bach, G Baner và D Berger, địa danh tiếng Đức chính thống bao gồm một từ gốc (Grundwort) và phía trước thường có một thành tố có chức năng xác định

rõ nghĩa hơn cho từ gốc, thành tố này chúng tôi tạm gọi là từ định danh

Trang 23

(Bestimmungswort) Ví dụ trong địa danh Burgwald thì Burg là từ định danh, Wald là từ gốc Từ gốc thường là danh từ và từ định danh có thể là

danh từ, tính từ hoặc động từ Như vậy, ta có mô hình tạo địa danh tiếng Đức như sau:

- Danh từ + danh từ: Bienen + Wald > Bienenwald

- Động từ + danh từ: bücken + Berge > Bückeberge

- Tính từ + danh từ: schwarz + Wald > Schwarzwald

+ Từ gốc trong địa danh tiếng Đức

Các nét nghĩa của từ gốc trong nguyên văn tiếng Đức (Grundwort) đã nói

rõ chức năng của bộ phận này trong lớp tên địa lí tiếng Đức “Từ gốc nêu rõ lý

còn được các nhà ngôn ngữ học, địa danh học gọi là vĩ tố (Endung), bởi vì

những từ gốc luôn đứng sau trong các địa danh tiếng Đức, có nghĩa là khái

niệm này đã xóa nhòa ranh giới với khái niệm hậu tố (Suffix) trong địa danh

Nói như thế để chúng ta thấy tính phức tạp khi đề cập đến đặc điểm cấu tạo của địa danh tiếng Đức, bởi vì những từ gốc có thể đứng độc lập và có thể chúng đóng vai trò làm từ định danh Dưới đây là bảng tổng hợp từ gốc đặc

trưng và thông dụng trong hệ thống địa danh tiếng Đức (Dựa theo số liệu của Dieter Berger (1999) trong cuốn Duden Geographische Namen in

Deutschland Herkunft und Bedeutung der Namen von Ländern, Bergen und Gewässern, 2 Auflage)

2

Từ Grund trong tiếng Đức có nghĩa là „lý do“

Trang 24

Bảng 2.1: Từ gốc đặc trưng trong hệ thống địa danh tiếng Đức

ST

T

3 -bek, -beck có nguồn nước, có suối (theo

thổ ngữ vùng bắc Đức/Niederdeutsch)

Eggebek, Gladbeck

4 -berg, -burg khu vực có núi, có thành Heidelberg,

-dorp, -trop, -trup

khu vực làng mạc, khu dân cư Düsseldorf,

Nortrup

8 -eck(e), -egg địa danh nằm ở một vị trí đặc

biệt (ở một góc đường nào đó)

Planegg

9 -furt3, -fort, -ford khu vực có cầu, phà qua sông Erfurt

12 -hausen, -husen khu vực dân cư Babenhausen

13 -leben, -leve4 khu vực là tài sản thừa kế Ebeleben

3

Flußdurchquerung

Trang 25

14 -kirchen, -kerken khu vực có nhà thờ Bergkirchen

15 rode, rade,

-reuth

Walsrode

16 -stadt, -stet nơi chốn, khu vực Neustadt

Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, những từ gốc

trong các địa danh thường bị mờ nghĩa, ví dụ như từ gốc là –heim chuyển thành –em, –en, –um, có nghĩa là lúc này, các từ gốc đã trở thành hậu tố

2 -dorf, -drup, -dorp, -trop, -trup 5,2%

Hinterlassenschaft

Trang 26

Nhận xét:

Như đã trình bày ở trên, số lượng nhóm từ gốc trong địa danh tiếng Đức tương đối lớn Do có quá nhiều nhóm từ có thể đóng vai trò là từ gốc trong hệ thống địa danh tiếng Đức cho nên tỉ lệ của mỗi nhóm từ tương đối khiêm tốn

Số liệu thống kê cho thấy, nhóm từ gốc trong địa danh tiếng Đức thông dụng nhất là nhóm từ chỉ những nét đặc biệt của môi trường tự nhiên tại khu

vực địa hình: Nhóm từ gốc là -berg, -burg (núi, thành) chiếm 8,4%, tiếp theo

là nhóm từ gốc -dorf, -drup, -dorp, -trop, -trup (làng mạc) chiếm tỉ lệ là 5,2% Nhóm từ gốc là -heim, -hem, -em (nhà, làng) chiếm một vị trí khiêm tốn hơn (5,1%), -bach (suối) với tỉ lệ 4,7% và -stadt, -stedt với tỉ lệ 3,2%

Trang 27

Còn những nhóm từ gốc thông dụng khác chỉ chiếm một tỉ lệ rất thấp theo

thống kê, ví dụ hai nhóm từ gốc -eck, -egg và -furt, -fort, -ford chỉ tham gia với tỉ lệ là 0,2% và nhóm từ gốc -leben, -leve là 0,3%

+ Từ định danh trong địa danh tiếng Đức

Từ định danh trong địa danh tiếng Đức cho ta thấy mối quan hệ cụ thể hơn, rõ ràng hơn với địa danh được nêu lên ở từ gốc, cho thấy những đặc điểm, tính chất cụ thể của địa danh Như ở Việt Nam, nhân danh thường gồm

hai phần: Họ cha hoặc họ cha + họ mẹ và sau đó là tên (tên đệm và tên gọi)

Về nguyên tắc, cha mẹ đặt tên con cái thế nào cũng được Để thể hiện ước vọng của mình đối với con, có bậc cha mẹ đặt tên con là Hiếu, là Thuận, là Kiên, là Cường (nay mai những đứa con đó có hiếu, thuận hay không là chuyện hoàn toàn khác) Có người coi con cái là vật báu của gia đình, họ mạc thì đặt tên con là Gia Bảo, Bảo Khánh v.v Có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Một tên địa lý tiếng Đức gồm hai phần chính: từ gốc (coi như họ trong nhân danh5) và từ định danh (coi như tên gọi trong nhân danh) Điểm khác ở đây là người Đức thường dựa vào đặc điểm cụ thể của vùng đất đó, của khu vực địa hình đó như đặc điểm về địa chất, về môi trường tự nhiên, về dân cư

để đặt tên địa lý Xin xem bảng thống kê sau (dựa theo số liệu trên trang web:

http://de.wikipedia.org/wiki/Ortsname) để thấy rõ hơn về ý nghĩa các nhóm từ định danh trong địa danh tiếng Đức.6

Bảng 2.3: Nhóm từ định danh trong địa danh tiếng Đức

STT Ý nghĩa của từ định danh Ví dụ và chú giải

Trang 28

1 chỉ người thành lập, khai sáng

ra một vùng đất

Grafen7berg, Grafendorf (Graf có nghĩa là Bá tước)

2 nêu lên biểu tượng của một

vùng đất, của một địa danh

Falksee, Lamenburg (Falk có nghĩa

là chim ưng và Lamen chỉ con sư tử)

3 nêu vị trí pháp lý của một

vùng đất, của một bang

Ở Đức có một bang có tên là Freistaat Bayern (nghĩa là quốc gia

tự trị, quốc gia tự do) Chính vì điều này mà nhiều người vùng Bayern rất

tự hào nói rằng: “Ich bin kein

Deutscher, ich bin Bayer.” (Tôi không phải là người Đức, tôi là người xứ Bayern.)

4 chỉ điều kiện tự nhiên Bergfeld (vùng sơn địa)

5 chỉ đặc điểm cấu tạo địa tầng Sandhausen (vùng đất cát)

6 chỉ các loài động vật sinh

sống trong khu vực

Vogelsberg (vùng có các loài chim muông sinh sống)

7 chỉ các loài thực vật Nußdorf (vùng có nhiều cây hạt dẻ)

8 chỉ những tòa nhà trung tâm

của khu vực

Kirchberg (khu vực có nhà thờ, và ở Đức thì nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm thành phố, thị trấn Giống như ở một số vùng nông thôn truyền thống Việt Nam, bàn thờ gia tiên bao giờ cũng đặt ở gian nhà giữa.)

7

Những từ có gạch dưới là nhóm từ định danh

Trang 29

Marktplatz (khu trung tâm mua bán)

11 chỉ các trục đường giao thông Wegberg (tiếp giáp với đường giao

thông)

12 chỉ tài nguyên tự nhiên trong

khu vực

Eisennach (khu vực có quặng sắt)

13 chỉ vị trí Düsseldorf (cạnh sông Düssel)

b Địa danh được hình thành bằng phương thức phái sinh

Cấu trúc của lớp từ địa danh thuộc nhóm này thường gồm: gốc từ (Wortstamm) + hậu tố (Suffix)

Ví dụ: Berlin, Apolda

Như đã trình bày ở các mục trước, hậu tố trong địa danh tiếng Đức có thể chiếm vị trí của từ gốc trong từ ghép Nguyên do là vì: Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, từ gốc trong nhiều địa danh đã bị biến đổi, rụng bớt một vài thành tố và trở thành hậu tố Xin tham khảo bảng thống kê về hậu tố dưới

đây (dựa theo số liệu của G Bauer (1985) trong cuốn Namenkunde des

Deutschen: Germanistische Lehrbuchsammlung, Band 21, Bern):

Bảng 2.4: Hậu tố trong địa danh tiếng Đức

1 -ach, -ich, -ig, -igt, -at, -et, -it, -es, -is Haslach, Leipzig

Trang 30

2 -te, -nit, -net Adnet (Salzburg)

3 -ede, -de, -da, -te, -ta, -t Apolda

5 -ing, -ingen, -ung, -ungen Eislingen

6 -itz, -itsch, -witz Gauernitz (gốc Xlavơ)

Nhận xét:

- Như chúng ta đã biết, địa danh tiếng Đức cũng như các nhóm từ trong các lĩnh vực khác đều hình thành bằng những con đường thông dụng như rụng bớt thành tố, bằng cách ghép từ8 và bằng hình thức phái sinh9

- Khi nói đến hậu tố trong địa danh tiếng Đức tức là nói đến cách tạo tên địa lí bằng phương thức phái sinh, sử dụng một số hậu tố nhất định để tạo địa danh mới

- Trong các hậu tố thống kê ở bảng trên, chúng ta thấy số nhóm hậu tố gốc Xlavơ chiếm tỉ lệ rất cao (33%) Điều đó cho thấy, trong lịch sử từ ngàn xưa đã xảy ra những cuộc di dân, tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa rất mạnh mẽ Theo như tài liệu của các nhà địa danh học Đức thì khoảng thế kỷ thứ 13, vùng đất phía Đông của sông Elbe chủ yếu là người Xlavơ Trong nhiều hậu tố của hệ thống địa danh tiếng Đức, chúng ta không còn nhận thấy nguồn gốc Xlavơ nữa, bởi vì những hậu

Trang 31

tố này đã được người Đức “nhập nội” rất tài tình Chẳng hạn như từ

Berlin theo tiếng Xlavơ (brl-in) cho thấy vùng này trước kia là vùng

sình lầy Chemnitz từ gốc Nga là “kamen-ica” cho biết đây là vùng có suối chảy từ trong núi đá (steiniger Bach) Hay một địa danh khác vô

cùng quen thuộc với những người học và nghiên cứu ngôn ngữ và văn

hóa Đức là thành phố Dresden cổ kính Tên thành phố này được phái sinh từ tiếng Xlavơ “dreschd-jane” có nghĩa là „những người sống

trong rừng‟ Một vài nhận xét ngắn gọn trên dựa vào những tài liệu mà chúng tôi thu thập được cho thấy: Việc nghiên cứu địa danh nói chung

và địa danh tiếng Đức nói riêng cần phải được lưu tâm hơn nữa, đây không chỉ là những yếu tố ngôn ngữ mà chính là văn hóa, lịch sử Đó cũng là lý do tại sao ngành địa danh học liên quan mật thiết đến khảo

cổ học, nhân chủng học và lịch sử học

c Địa danh được hình thành từ một từ đơn

Nhiều nghiên cứu cho thấy: Địa danh tiếng Đức được hình thành từ một từ

đơn chiếm số lượng rất ít, ví dụ như: Bonn, Brey Phần lớn địa danh tiếng Đức

được hình thành bằng phương thức phái sinh và phương thức ghép từ Do vậy, lớp từ địa danh thường là từ phức

Có một số từ đơn chỉ địa danh tiếng Đức có nguồn gốc xuất xứ từ tiếng

nước ngoài Ví dụ như: Köln < Colonia, Groitzsch < Grodišćo

Quá trình hình thành những địa danh nêu trên gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội Lí giải được cách hình thành các địa danh đó chỉ có thể là các nghiên cứu về lịch sử nói chung và lịch sử hình thành địa danh nói riêng

2.1.1.2 Địa danh được hình thành từ một cụm từ

Trong tiếng Đức, tên riêng được hình thành từ một cụm từ thường xuất hiện ở lớp từ địa danh (sau đó là ở lớp từ chỉ nhan đề các tác phẩm nghệ thuật

Trang 32

và tên các cơ quan, tổ chức) Địa danh được hình thành từ một cụm từ có thể giải thích rõ thêm một đặc điểm nhất định nào đó của vùng đất mà nó gọi tên,

ví dụ: das Schwarze Meer (Biển Đen) Đặc điểm đó có thể là đặc điểm về vị trí địa lý của một vùng đất, ví dụ: An der Bahn (Bên cạnh đường ray)

Ngoài ra, trong hệ thống địa danh tiếng Đức, hiện tượng trùng tên không phải là hiếm Để khắc phục điều đó, người ta không đổi tên mà bổ sung thêm

một số thành tố vào những cái tên đã có Ví dụ: Frankfurt am Main hoặc

Frankfurt/Main (Frankfurt bên dòng sông Main) và Frankfurt an der Oder

hoặc Frankfurt/Oder (Frankfurt bên dòng sông Oder)

Phương thức định danh của lớp từ này bao gồm:

+ Cụm danh từ

Những địa danh thuộc nhóm này được cấu tạo từ một danh từ (N) với tư cách là hạt nhân và yếu tố mở rộng là tính từ (A), giới từ (P) hoặc danh từ (N)

Tính từ với tư cách là yếu tố mở rộng trong cụm danh từ có vai trò nêu lên

một đặc điểm nào đó của vùng đất mà nó gọi tên

Ví dụ: das Schwarze Meer Hohes Venn

A (đen) N A (cao) N

hoặc tính từ cũng có thể được phái sinh từ danh từ riêng, biểu thị nguồn gốc xuất xứ hay quan hệ sở hữu của địa danh mà nó biểu trưng

Ví dụ: Thüringer Wald (Thüringer phái sinh từ Thüringen – một bang ở

Đức, nó cho biết địa danh này (một khu rừng - Wald) thuộc bang Thüringen)

Giới từ (thường là giới từ chỉ vị trí) được sử dụng chính là để phân biệt hai

địa danh có cùng tên gọi Ví dụ:

Frankfurt am Main Frankfurt an der Oder

Trang 33

N P N P

Trong cụm danh từ, ngoài tính từ và giới từ còn có danh từ đóng vai trò

làm yếu tố mở rộng Có thể thấy khá nhiều địa danh tiếng Đức được hình

thành từ cách thức cấu tạo này, ví dụ như: Bad Schönborn, Bad Rodach,

Tuy nhiên chúng tôi chưa xác định được danh từ nào là hạt nhân trong những cụm danh từ này

+ Cụm giới từ

Những địa danh thuộc nhóm này được cấu tạo từ một giới từ (giữ vai trò làm hạt nhân) và một danh từ là yếu tố mở rộng cho giới từ đó Tên gọi được hình thành từ phương thức cấu tạo này cho ta thấy rõ vị trí của một vùng đất nào đó Ví dụ:

An der Bahn (Bên cạnh đường ray)

P N

Hinter den Scheunen (Đằng sau những kho chứa ngũ cốc / rơm / cỏ)

P N

2.1.2 Ý nghĩa của lớp từ địa danh

Những cái tên địa lí xuất hiện không hoàn toàn mang tính võ đoán Qua nghiên cứu của mình, các nhà địa danh Đức có thể lí giải tên gọi của rất nhiều vùng trên lãnh thổ nước Đức Nguyên do hình thành hay xuất xứ của nhiều địa danh còn hiển hiện rõ trong nghĩa của các thành tố cấu tạo nên chúng Ở một số địa danh, nét nghĩa của các yếu tố cấu thành có thể bị mờ đi nhưng người ta vẫn có khả năng xác định từ nguyên để tìm ra xuất xứ của tên gọi Tuy nhiên vẫn có một số vùng mà người ta chưa lí giải được tên gọi của chúng Theo Uwe Förster, địa danh tiếng Đức được hình thành từ các nguồn sau đây:

2.1.2.1 Tên các loài vật (Tiere)

Trang 34

Trong nghiên cứu của mình, Uwe Förster đã nêu ra rất nhiều địa danh có

một bộ phận cấu thành là tên các loài vật Chẳng hạn như: con ong (Bienen) trong Bienenwald, con nai (Habicht) trong Habichtswald, con quạ (Rabe) trong Ravensberger Land Trong quá trình biến đổi ngữ âm, một số địa danh

đã đổi khác nhưng người ta vẫn xác định được nguồn gốc xuất xứ của chúng

Chẳng hạn: Ell trong Ellwanger Berge chính là con nai (Elch) và Spessart có nguồn gốc xuất xứ từ chim gõ kiến (Specht) Tuy nhiên ở một số địa danh,

người ta vẫn còn nghi hoặc liệu chúng có phải được hình thành từ tên các loài

vật hay không Ví dụ như: Gocher Heide có thể được gọi tên từ loài chim cu gáy (Kuckkuck), Lauenburg có thể từ loài sư tử (Löwe), hay tên gọi Coburger

Land có khả năng xuất phát từ loài bò cái (Kuh) Ở vùng hạ lưu sông Elbe,

người ta có một cái tên khác dành cho loài tôm (Krabbe) là Kraut – và tên gọi

này là một bộ phận cấu thành nên tên hòn đảo Krautsand

Qua những ví dụ trên ta có thể thấy: Trong các địa danh tiếng Đức, tên các loài vật thường đóng vai trò là từ định danh (Bestimmungswort) Chưa thấy xuất hiện trường hợp nào mà chúng đứng ở vị trí của từ gốc (Grundwort)

2.1.2.2 Các hoạt động của con người (Menschliches Tun)

Con người làm chủ trái đất và luôn có những hoạt động cải tạo trái đất, thể hiện quyền làm chủ của mình Thời xa xưa, người Đức thường có xu hướng khoanh vùng, định ranh giới cho những khu vực nhất định Hoạt động này

còn in dấu ấn ở một số địa danh Có một từ Đức trung cổ hagen (có nghĩa

„rào quanh bằng bụi cây hoặc lùm cây‟) biến đổi thành từ hain ngày nay Và

chúng ta có thể thấy từ này trong tên gọi một vùng phía Đông bắc Eisennach

là Hainich Đây là một vùng được bao bọc bởi một hàng rào bảo vệ Trường

hợp tương tự ta cũng có thể thấy ở Tây nam thành phố Hannover Đó là vùng

Bückeberge Bücken có nghĩa là „uốn cong, bẻ cong‟ Đây là một vùng đất

Trang 35

được bao quanh bởi một bờ dậu do con người đan dệt, uốn cong mà thành Phía đông Aachen có một vùng đất cũng được bao quanh bởi một hàng rào

(Hürde) nên có tên gọi Hürtgenwald

2.1.2.3 Những cánh đồng và khu rừng (Felder und Wälder)

Ta có thể thấy khá nhiều vùng đất trên nước Đức có tên gọi chỉ những cánh đồng hay khu rừng Xin đơn cử một vài ví dụ trong nghiên cứu của Uwe

Förste: Địa danh Korngäu chỉ cánh đồng trồng ngũ cốc, Goldene Grund và

Goldene Aue chỉ những cánh đồng màu mỡ hay Baar (tiếng Đức cổ beran)

chỉ một vùng đất có thể mang lại vụ mùa bội thu

Và ta cũng thấy không ít những vùng đất được gọi tên theo những cánh rừng, cụ thể hơn là gọi tên theo các loại cây cối trong rừng Rất nhiều cánh

rừng có tên gọi đơn giản là Holz (gỗ) hay Hölzung Chính vì vậy, nhiều vùng đất cũng có cái tên na ná Cái tên Briloner Hochfläche có nghĩa rằng nơi đó

có cây cối, bởi lon là dạng thức số nhiều, cách 3 của lô (có nghĩa Gehölz –

cây cối) Trong địa danh Neuwieder Becken, chúng ta có thể thấy một từ Đức

cổ là witu (có nghĩa là Wald – cánh rừng) Vùng núi cao trung bình với cái tên Harz là rặng núi có cây cối Tương tự, ta cũng bắt gặp những cái tên như:

Haard (phía Bắc Recklinghausen), Hardtwald (phía Bắc và Nam Karlsruhe),

nổi tiếng nhất là Haardt (phía Tây thành phố Heidelberg)

Ngoài ra, có một số địa danh xuất phát từ tên loài cây Ví dụ:

Fichtelgebirge có tên gọi từ cây thông (Fichten) Schönbuch có tên gọi từ cây

dẻ gai (Buche) Elm có tên gọi từ cây du Ulme (tiếng Anh: elm = Ulme) Đảo

Pellworm có tên gọi từ cây lau, sậy (Pell = Piel - phương ngữ vùng

Nordfriesisch) Rheinerland cũng có tên gọi từ loài cây này (Ried, Rohr, Schilf) Bentheim có chứa từ Binse – cũng chỉ cây sậy, cây lau

2.1.2.4 Bề mặt trái đất (Das Antlitz der Erde)

Trang 36

Những đặc trưng của bề mặt trái đất như khô cằn, màu mỡ, ẩm ướt, bùn lầy, sình lầy, nhiều sỏi vụn, đá tảng, phiến thạch hay trọc trụi đều được thể

hiện ở một số địa danh Tên gọi của hòn đảo hẹp và dài 18 km Juist chính là xuất phát từ từ Güst Güst trong tiếng Đức thời trung cổ có nghĩa là „khô cằn,

không màu mỡ‟ Đặc trưng này cũng được thể hiện ở tên gọi một vùng thuộc

thành phố Kassel – vùng Söhre Söhre trong tiếng Đức cổ là sôr, có nghĩa là

„hạn hán, khô cằn‟ Ngược lại, tên gọi vùng đất phía Đông thành phố Berlin Rotes Luch lại cho biết đây là một vùng đất ẩm ướt, mềm xốp – Luch là biến

thể của lug trong tiếng Sorbisch cổ, có nghĩa là „ẩm ướt‟

Ở miền Nam nước Đức có hai địa danh là Dachauer Moos và Erdinger

Moos Phương ngữ miền Nam Moos ở hai địa danh trên trong tiếng Đức

chuẩn mực là Moor, có nghĩa „đầm lầy‟ Ta có thể thấy từ này xuất hiện ở một địa danh khác là Teufelsmoor Ở miền Tây bắc nước Đức thời trung cổ, người

ta thường hay dùng một từ khác cũng với nghĩa „đầm lầy‟, đó là từ fen Từ này còn lưu lại trong tên gọi một vùng đất Hohes Venn

Ở các miền duyên hải, vùng đất ẩm ướt, màu mỡ trong tiếng Đức là

Marsch (xuất hiện trong tên gọi một khu vực ven biển Bắc Dithmarschen) Ở

lưu vực các con sông, vùng đất có đặc trưng này lại là Börde (xuất hiện trong địa danh Magdeburger Börde)

Hai đặc trưng khác của bề mặt trái đất là trọc trụi (kahl) và có nhiều sỏi vụn cũng được thể hiện ở một số địa danh như Kalbesche Werder và

Hümmling

2.1.2.5 Màu sắc (Farben)

Thế giới vốn nhiều màu sắc Điều đó cũng được thể hiện ở một số địa danh

nước Đức: màu xanh (Grün) trong tên gọi cánh rừng Grunewald, màu đen (Schwarz) trong cánh rừng Hochschwarzwald Màu đỏ (Rot) trong vùng núi

Trang 37

Rothaargebirge là màu đỏ của quặng sắt được khai thác tại đó Dòng nước

của một vùng đất lịch sử phía Tây nam Passau có màu đỏ nâu nên vùng đất

này cũng có tên gọi là Rottal Có một cái tên khác cũng khá thú vị là

Hassberge Hass trong tiếng Đức hiện đại là „sự ghét bỏ‟, nhưng thực ra tên

vùng đất này không liên quan gì đến trạng thái cảm xúc của con người Hass trong phương ngữ cổ bang Sachsen (altsächsisch) là hasu, có nghĩa là „màu

xanh‟

2.1.2.6 Vị trí địa lí (Lage der Landschaften)

Có rất nhiều cái tên thể hiện vị trí địa lí của vùng đất mà chúng biểu trưng

Cả hai địa danh thuộc bang Thüringen là Hainleite và Windleite đều thể hiện

vị trí ở dốc núi, sườn núi (Leite trong tiếng Đức trung cổ có nghĩa là „dốc núi,

sườn núi‟) Tên hòn đảo Wangerrooge thuộc quần đảo Ostfriesisch cho biết

đây là một vùng đất ven sông Trong cái tên Wagrien (phía Đông thành phố Kiel) có ẩn chứa từ wâg với nghĩa „sóng, thuỷ triều‟, và ở cái tên Stedingen (phía Tây bang Bremen) có ẩn chứa từ stade với nghĩa là „bờ‟ Cả hai vùng

này đều là các vùng ven biển

Bán đảo Eiderstedt có nghĩa là Eidergestade (vùng ven sông Eider) Vùng

Stadland phía Tây bắc bang Bremen cũng mang nghĩa „ven biển, ven sông‟ Mark trong địa danh Hohe Mark có nguồn gốc Xlavơ „marka‟ với nghĩa „biên giới‟

2.1.2.7 Quản lí hành chính (Land muss verwaltet werden)

Một số tên vùng đất ngày nay còn cho thấy rõ: Ở thời trung cổ, chúng

thuộc sự cai quản của một vị quan chức nào đó Vùng Grafschaft ngày xưa thuộc sự cai quản của một vị bá tước (Grafschaft có nghĩa là vùng đất cai quản của bá tước) Vùng đất Markgräfler Land là một vùng đất ở bờ cõi biên thuỳ dưới sự cai trị của bá tước (Graf) Vùng Werdenfelser Land thuộc về toà

Trang 38

thành Werdenfels Vùng Wittgensteiner Land nằm dưới sự thống trị của bá tước Wittgenstein Vùng Westrich ở thủ phủ Saarbrücken có nghĩa là

Westreich, chỉ khu vực thuộc quyền sở hữu tư nhân của nhà vua

Có những đơn vị quản lí hành chính được gọi tên theo số lượng các khu vực thuộc về chúng Địa danh cổ phía Đông nam thành phố Hamburg

Vierlande (vier: bốn) gồm bốn vùng: Altengamme, Neuengamme, Curslack

và Kirchenwerder Tương tự, địa danh Viertäler cũng bao gồm bốn vùng:

Bacharach, Steeg, Diebach và Manubach Một vùng đất lịch sử ở biên giới

oberfränkisch-böhmisch với tên gọi Sechsämterland (sechs: sáu) thuộc sự cai

quản của sáu viên chức cao cấp (Amtmänner) do các vị bá tước vùng

Nürnberg cử đến Tuy nhiên, vùng núi Siebengebirge (sieben: bảy) không thể

hiện một con số chính xác mà chỉ thể hiện một sự rộng lớn không xác định Như chúng ta đã biết, ở nước Đức thời xa xưa, nhà thờ Thiên chúa giáo

giữ vai trò thống trị Vùng Probstei nằm dưới sự cai quản của các vị linh mục (Pröpste) và các nữ tu viện trưởng (Priorinnen) Hòn đảo Helgoland ngày nay

ở thế kỷ 11 có tên gọi là Halagland, một vùng đất thần thánh (halag có nghĩa

là heilig – thiêng liêng, thần thánh)

2.1.2.8 Nguồn gốc xuất xứ và con người (Stämme und Personen)

Rất nhiều vùng đất được đặt tên dựa vào nguồn gốc xuất xứ của chúng,

chẳng hạn như: Thüringer Wald (khu rừng thuộc bang Thüringen),

Böhmerwald (khu rừng thuộc vùng Böhmen) Vùng Fläming là do người dân

Bỉ định cư (Flamen), còn Wendland là do người miền tây Xlavơ định cư (Wenden)

Có khá nhiều vùng đất có tên gọi từ nhân danh Một ví dụ điển hình nhất là

khu rừng Reinhardswald (phía Bắc thành phố Kassel) xuất phát từ nhân danh

Reinhard, còn khu rừng Ebersberger Forst (phía Đông thành phố München)

Trang 39

có chứa dạng rút gọn của nhân danh Eberhard Một số những địa điểm du lịch

nổi tiếng cũng được gọi tên theo con người Chẳng hạn vùng núi

Karwendelgebirge có tên gọi xuất phát từ tên người Karwentil, Chiemgau

xuất phát từ Chiemo Còn vùng đất Mansfelder Land lại mang một danh từ chung chỉ người Mann (với nghĩa là „môn đồ‟ - Gefolgsmann)

2.1.2.9 Tên các con sông (Einfluß der Flüsse)

Rất hiếm khi tên một vùng đất lại trùng khớp hoàn toàn với tên sông như

một vùng đất ở miền Đông thành phố Marburg, vùng đất với cái tên Schwalm

Trái lại, tên các con sông chỉ là thành tố định danh (Bestimmungswort) trong

một địa danh nào đó Chẳng hạn: Elbsandsteingebirge (sông Elbe),

Aischgrund (sông Aisch), Oderbruch (sông Oder), Rhinluch (sông Rhin), Rheingau (sông Rhein), Saargau (sông Saar), Spreewald (sông Spree), Leinebergland (sông Leine), Weserbergland (sông Weser), Ruhrgebiet (sông Ruhr), Isarwinkel (sông Isar), Taubergrund (sông Tauber), Ammergebirge

(sông Ammer), Wetterau (sông Wetter), Donaumoos (sông Donau) Ngay cả tên những con sông cũng có ý nghĩa của nó Elbe có nghĩa nước sáng, Aisch

có nghĩa nước sáng, trong và lấp lánh Sông Spree phun trào, sông Leine nhỏ

giọt (tröpfelt und sickert) Sông Elster và sông Weser cuồn cuộn, loang tràn Sông Ruhr và Isar chảy xiết

Trên đây, chúng tôi vừa trình bày nguồn gốc xuất xứ của những địa danh thuộc lãnh thổ nước Đức dựa vào một số nghiên cứu của các nhà địa danh học Tuy nhiên, người ta cho rằng có tới 1/3 tên những vùng đất không lý giải nổi Đó vẫn là những bí ẩn thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu

2.2 Phân loại địa danh tiếng Đức trong tiếng Việt

Trang 40

Ở phần này chúng tôi xin trình bày ngắn gọn các nhóm địa danh tiếng Đức

đã được “nhập nội” vào tiếng Việt Như chúng ta đã biết, đầu tiên thì khái niệm “địa danh” (Ortsname/Toponym) được hiểu theo hai hướng Theo nghĩa hẹp thì địa danh là tên gọi của các khu vực dân cư sinh sống như làng mạc, thành phố, các khu phố Theo nghĩa rộng thì địa danh bao gồm tất cả các tên địa lý Trên cơ sở định nghĩa địa danh theo nghĩa rộng của khái niệm, tác giả thống kê được những nhóm địa danh tiếng Đức chủ yếu xuất hiện trong văn bản tiếng Việt sau đây:

2.2.1 Nhóm địa danh chỉ các bang của nước Đức

Nước Đức có 16 bang, giống như 16 quốc gia độc lập như Berlin,

Hamburg, Bremen10, Bayern v.v Xin xem bảng sau:

Bảng 2.5: Nhóm địa danh chỉ các bang của nước Đức

Tiếng Đức Các biến thể xuất hiện trong tiếng Việt

1 Baden-Württemberg Ba-đen Vu-then-béc, Baden-Württemberg

3 Berlin Béc-lin, Berlin, Bá Linh

4 Brandenburg Bran-đen-buốc, Brandenburg

7 Hessen Hét-sen, Hét-xen, Hessen

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Từ gốc đặc trƣng trong hệ thống địa danh tiếng Đức - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 2.1 Từ gốc đặc trƣng trong hệ thống địa danh tiếng Đức (Trang 24)
Bảng 2.2: Tỉ lệ những nhóm từ gốc thông dụng trong địa danh tiếng Đức - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 2.2 Tỉ lệ những nhóm từ gốc thông dụng trong địa danh tiếng Đức (Trang 25)
Bảng 2.4: Hậu tố trong địa danh tiếng Đức - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 2.4 Hậu tố trong địa danh tiếng Đức (Trang 29)
Bảng 2.5: Nhóm địa danh chỉ các bang của nước Đức - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 2.5 Nhóm địa danh chỉ các bang của nước Đức (Trang 40)
Bảng 2.6: Nhóm địa danh chỉ biển, sông, hồ - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 2.6 Nhóm địa danh chỉ biển, sông, hồ (Trang 41)
Bảng 2.7: Nhóm địa danh thủ phủ các bang của Đức - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 2.7 Nhóm địa danh thủ phủ các bang của Đức (Trang 42)
Bảng  3.1: Tên một số con sông lớn ở Đức - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
ng 3.1: Tên một số con sông lớn ở Đức (Trang 59)
Bảng 3.3: Tương ứng giữa nguyên âm đơn tiếng Đức và tiếng Việt - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 3.3 Tương ứng giữa nguyên âm đơn tiếng Đức và tiếng Việt (Trang 63)
Bảng 3.5: Tương ứng giữa phụ âm đơn đứng trước hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 3.5 Tương ứng giữa phụ âm đơn đứng trước hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt (Trang 66)
Bảng 3.6: Tương ứng giữa hai phụ âm đứng trước hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 3.6 Tương ứng giữa hai phụ âm đứng trước hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt (Trang 67)
Bảng 3.7: Tương ứng giữa ba phụ âm đứng trước hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 3.7 Tương ứng giữa ba phụ âm đứng trước hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt (Trang 68)
Bảng 3.8: Tương ứng giữa phụ âm đơn đứng sau hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 3.8 Tương ứng giữa phụ âm đơn đứng sau hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt (Trang 68)
Bảng 3.9: Tương ứng giữa hai phụ âm đứng sau hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt - Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt
Bảng 3.9 Tương ứng giữa hai phụ âm đứng sau hạt nhân tiếng Đức và tiếng Việt (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w