Một số công trình nghiên cứu khác như Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Minh Thuyết trong chuyên luận “Thành phần câu tiếng Việt” hoặc trong các nghiên cứu về tác tử tình thái, quan hệ ngữ pháp,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN THỊ BÌNH
KHẢO SÁT NHỮNG TỪ NGỮ CHÊM XEN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hµ néi - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN THỊ BÌNH
KHẢO SÁT NHỮNG TỪ NGỮ CHÊM XEN
BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp
Hà Nội - 2007
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 0
I Lý do chọn đề tài 3
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
III Mục tiêu của luận văn 5
IV Nguồn tư liệu 5
V Phương pháp nghiên cứu 6
VI Ý nghĩa của luận văn 6
VII Bố cục của luận văn 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
I Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học 8
1 Khái niệm chung 8
2 Các kiểu ý nghĩa tình thái 14
3 Các phương tiện biểu thị tình thái 16
II Biểu thức chêm xen tình thái 20
1 Biểu thức chêm xen tình thái – Tiêu chí nhận diện 20
2 Một vài điểm lưu ý trong tiêu chí nhận diện biểu thức chêm xen tình thái đối với tiếng Việt 23
III Phân biệt biểu thức chêm xen tình thái và thành phần phụ chú 26
IV Khảo sát sơ qua những công trình nghiên cứu về các “biểu thức chêm xen tình thái” đã được công bố 29
V Tiểu kết chương I 32
CHƯƠNG II - KHẢO SÁT NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHÊM XEN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG ANH 33
A Xét về mặt kết học 33
I Cấu tạo của thành phần chêm xen biểu thị tình thái trong tiếng Anh 33
1 Phân biệt giữa thán từ tình thái, biểu thức chêm xen tình thái và từ điệp khúc biểu thị tình thái 33
2 Cấu tạo của biểu thức chêm xen tình thái 38
II Vị trí của biểu thức chêm xen biểu thị tình thái trong câu tiếng Anh 67 1 Biểu thức chêm xen tình thái có vị trí đầu câu 67
2 Biểu thức chêm xen tình thái có vị trí giữa câu 73
3 Biểu thức chêm xen tình thái có vị trí cuối câu 83
B Ngữ nghĩa và ngữ dụng của biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh 85
I Ngữ nghĩa của các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh 85
Trang 41 Nghĩa miêu tả của một số biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh 85
2 Ý nghĩa phi miêu tả của các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh 88
II Công dụng của các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh 108
1 Ngữ cảnh sử dụng các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh109
2 Sử dụng biểu thức chêm xen tình thái như một chiến lược giao tiếp 118
III Tiểu kết chương II 124 CHƯƠNG III - BIỂU THỨC CHÊM XEN TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT 125
I Một vài điều lưu ý về cấu tạo và vị trí của các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Việt 125
1.Về vị trí và cấu tạo của các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Việt 125
2 Phân loại các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Việt dựa theo chức năng ngữ nghĩa – ngữ dụng 133
II Tiểu kết chương III 140 CHƯƠNG IV - ĐỐI CHIẾU BIỂU THỨC CHÊM XEN TÌNH THÁI TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT VÀ MỘT VÀI LƯU Ý VỀ VẤN
ĐỀ DỊCH CÁC BIỂU THỨC CHÊM XEN TÌNH THÁI ANH – VIỆT, VIỆT – ANH 141
I Một vài đặc điểm chung nổi bật của các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt 141
II Một vài đặc điểm khác nhau nổi bật của các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt 145 III Biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt nhìn từ góc độ văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo 146
IV Một vài nhận xét về vấn đề dịch các biểu thức chêm xen tình thái từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại 153
1 Một vài nhận xét về vấn đề dịch các biểu thức chêm xen tình thái Anh – Việt và ý kiến đóng góp 155
2 Một số nhận xét về các biểu thức chêm xen tình thái được dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh 162
V Tiểu kết chương IV 167 KẾT LUẬN 168
Trang 52
Quy ƣớc viết tắt
1 ĂMDV: Ăn mày dĩ vãng
2 BLT dịch NTBN: Bùi Liên Thảo dịch Người tù bé nhỏ
3 ĐTH dịch MMĐVC: Đỗ Thu Hà dịch Mật mã Da Vinci
4 LL CLC: Lê Lựu Chuyện làng cuội
5 LL TTHN: Lê Lựu Tiểu thuyết hai nhà
6 MVK MLRTV Trg: Ma Văn Kháng Mảnh đất lắm người nhiều ma
7 NC TPT: Nam Cao tác phẩm tập
8 NCH BĐC: Nguyễn Công Hoan Bước Đường Cùng
9 NCH TNCL: Nguyễn Công Hoan Truyện ngắn chọn lọc
10 NCH TTT2: Nguyễn Công Hoan Tuyển tập tập 2
11 NHT NNNG : Nguyễn Huy Thiệp Như những ngọn gió
12 NHT TPCL : Nguyễn Huy Tưởng Tác phẩm chọn lọc
13 NLFE: Nothing lasts forever
14 NMC MC Nguyễn Minh Châu Miền cháy
15 NTT TPT: Nguyễn Huy Tưởng Tác phẩm tập
16 NTTBVT: Nguyễn Tuân Tuỳ bút viết trước
17 NTTTPT: Ngô Tất Tố Tác phẩm tập
18 PHT dịch KCGMM: Phạm Hương Trà dịch không có gì mãi mãi
19 PQ TTDD : Phùng Quán Tuổi thơ dữ dội
20 TCDGVN: Truyện cười dân gian Việt Nam
21 TCTTĐV : Trần Chiến Tiểu thuyết đèn vàng
22 TĐ dịch XLECLCĐ: Tảo Đình dịch Xin lỗi em chỉ là con đĩ
23 THN& ĐTH dịch BG: Trịnh Huy Ninh- Đoàn Tử Huyến dịch Bố Già
28 TTLVN: Truyện tiếu lâm Việt Nam
29 TTLVN: Truyện tiếu lâm việt Nam
Trang 6là nhân tố tối hậu để lí giải hình thức của công cụ giao tiếp… Trong đó, từ
ngữ chêm xen biểu thị tình thái trong giao tiếp (ví dụ như: cái quái, cái con
khỉ, chết tiệt…) là một hiện tượng đặc biệt thú vị nhưng vẫn chưa được các
nhà nghiên cứu quan tâm nhiều
Những từ ngữ chêm xen tình thái xuất hiện rất phổ biến trong khẩu ngữ hàng ngày trong nhiều ngôn ngữ, trong đó có cả tiếng Anh và tiếng Việt Trên thế giới, đã có một số nhà nghiên cứu về các hiện tượng chêm xen tình thái này nhưng các nghiên cứu về vấn đề này mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh đơn lẻ nào đó Chẳng hạn như C.T James Huang (Harvard Uninversity, 2006)
và Masao Ochi (Osaka University, 2006) có bài nghiên cứu so sánh “Syntax
of the Hell” (Cú pháp của “the Hell”) trong tiếng Anh, tiếng Nhật nhưng họ mới chỉ dừng lại ở phần cấu trúc của một số từ ngữ chêm xen tình thái này
trong cấu trúc câu hỏi nghi vấn có chứa đại từ nghi vấn như what (gì), when
(khi nào), why (tại sao)… Thực ra, trong tiếng Nhật cũng xuất hiện một số
nghiên cứu khác về từ ngữ chêm xen tình thái trong cấu trúc câu hỏi như vậy như Pesetsky (1987), Lasnik và Saito (1992) Trong tiếng Trung Quốc thì có nghiên cứu của Kuo Chin-man (1996) cũng về mối liên hệ giữa từ ngữ chêm xen tình thái với câu hỏi có đại từ nghi vấn… Nhưng theo chúng tôi, tất cả đều được viết theo xu hướng ngữ pháp hình thức, chỉ dừng lại ở mặt kết học chứ chưa đề cập đến về mặt dụng học và nghĩa học
Trang 74
Còn ở Việt Nam cho đến nay chưa có mấy nghiên cứu về vấn đề này Hiện tượng từ ngữ chêm xen tình thái trong khẩu ngữ thường bị bỏ quên trong các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nổi tiếng ở Việt Nam Chẳng hạn như Diệp Quang Ban khi nghiên cứu về các “biệt tố” (hay còn gọi là thành phần biệt lập) không đề cập đến thành phần chêm xen biểu thị tình thái này Nguyễn Tài Cẩn trong nghiên cứu về đoản ngữ trong tiếng Việt cũng bỏ qua hiện tượng này Một số công trình nghiên cứu khác như Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Minh Thuyết trong chuyên luận “Thành phần câu tiếng Việt” hoặc trong các nghiên cứu về tác tử tình thái, quan hệ ngữ pháp, phong cách chức năng, ngôn ngữ học xã hội của một số nhà nghiên cứu khác cũng không nói đến những hiện tượng chêm xen tình thái thú vị này Đặc biệt là trong các sách dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho người nước ngoài thì vấn đề này hoàn toàn không được đề cập đến (theo chúng tôi, một trong những lí do là lối nói chêm xen tình thái này có vẻ “chợ búa”, “bặm trợn”, không lịch sự) Theo tài liệu mà chúng tôi có được, mãi cho đến gần đây mới chỉ có một công trình nghiên cứu về từ ngữ chêm xen tình thái tiếng Việt trong khóa luận tốt nghiệp của chị Phạm Thị Thu Bình năm 2007 Tuy nhiên, do khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ mới nêu ra hiện tượng và có được một vài miêu tả bước đầu về mặt kết học Chiều sâu lí luận của vấn đề, cũng như những chiều kích nghĩa học và dụng học hầu như còn bỏ ngỏ, đặc biệt là chưa thực hiện đối chiếu, so sánh với một ngôn ngữ khác, nhằm thấy được những nét riêng của người Việt trong lối nói chêm xen tình thái này
Đó là lí do chúng tôi chọn nghiên cứu về hiện tượng chêm xen tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt Hiện tượng chêm xen tình thái này trong hai ngôn ngữ đều được chúng tôi quan tâm nghiên cứu ngang nhau, nhưng do đặc điểm nghề nghiệp của chúng tôi (là giáo viên tiếng Anh), nên cách trình bày được lựa chọn là các vấn đề được nêu ra để miêu tả, so sánh sẽ được bắt đầu bằng tiếng Anh
Trang 85
II Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn này là các từ ngữ chêm xen tình thái thuộc cấp
độ câu trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt xuất hiện những từ ngữ vừa có thể là thán từ, vừa có thể là từ ngữ chêm xen tình thái Đặc biệt, các thán từ vừa có thể tồn tại độc lập trong dạng câu đặc biệt, vừa có thể tồn tại chêm vào một câu khác Trong luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những từ ngữ chêm xen tình thái, được chêm vào trong cấu trúc câu khác mà không nghiên cứu về những trường hợp thán
từ tồn tại như một câu độc lập, hoặc một vế câu độc lập
III Mục tiêu của luận văn
Luận văn sẽ tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo, vị trí, ngữ nghĩa, công dụng của các từ ngữ chêm xen tình thái trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt xét trên khía cạnh văn hóa và đặc điểm ngôn ngữ Đặc biệt là chúng tôi sẽ tìm hiểu các qui tắc theo đó từ ngữ chêm xen tình thái được dịch như thế nào từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
IV Nguồn tƣ liệu
Các đơn vị từ ngữ này được thu thập trong giao tiếp hàng ngày trong những môi trường giao tiếp khác nhau như ở những nơi công cộng như chợ, bến
xe, nhà ga, trường học, cả những nơi công sở, ở gia đình…bao quát nhiều mối quan hệ khác nhau giữa những người tham gia giao tiếp, những người ở những trình độ học vấn, vị trí khác nhau trong xã hội Ngoài ra, chúng tôi còn thu thập
tư liệu từ những đàm thoại trong các tác phẩm văn học nước ngoài và các tác phẩm văn học Việt Nam, trong các tác phẩm được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại, trong phim truyện, từ các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, trong một số luận văn và công trình nghiên cứu khác…
Tổng số câu chúng tôi thu thập được từ các nguồn tư liệu là: 1309 câu tiếng Anh và 1498 câu tiếng Việt
Trang 96
Theo chúng tôi, khối tư liệu rộng lớn như vậy có thể cho thấy được toàn cảnh hoạt động (cấu trúc, nghĩa và công dụng) của những từ ngữ chêm xen tình thái
V Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Trước hết, luận văn sẽ sử dụng phương pháp thực nghiệm để thu thập
tư liệu từ những nguồn trong thực tế, trong những môi trường, hoàn cảnh giao tiếp và đối tượng giao tiếp khác nhau Sau khi có được tư liệu, chúng tôi sẽ sử dụng thủ pháp nghiên cứu phân tích dựa vào ngữ cảnh, vận dụng các thao tác ngôn ngữ học nhằm khúc giải, miêu tả…để thấy được sự hoạt động của các từ ngữ chêm xen tình thái ở cả ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Đây là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của ngữ pháp chức năng hiện đại Chúng tôi sẽ sử dụng tổng hợp những phương pháp như thống kê, diễn dịch, quy nạp, so sánh đối chiếu… nhằm làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu
VI Ý nghĩa của luận văn
- Giá trị về mặt lý luận: Đóng góp thêm về lí luận tình thái và các
vấn đề tình thái, đặc biệt là thấy sự khác nhau về tình thái giữa ngôn ngữ biến hình và ngôn ngữ đơn lập Cụ thể luận văn xem xét về đặc điểm cấu tạo, vị trí, cách hành chức, ý nghĩa, công dụng của các từ ngữ chêm xen tình thái trong giao tiếp tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó làm nổi bật những đặc trưng văn hóa, tâm lý của những người nói hai ngôn ngữ này
- Giá trị về mặt thực tiễn: Góp phần nâng cao, biên soạn các giáo
trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, các giáo trình dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là biên soạn từ điển Những kết quả khảo sát này cũng ứng dụng trong một số lĩnh vực khác như biên dịch, phiên dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại Ngoài ra, luận văn cũng góp phần vào việc nghiên cứu và
Trang 107
sáng tạo nghệ thuật văn chương, sân khấu, phim truyện, kịch… liên quan đến cách sử dụng câu nói có những từ ngữ chêm xen tình thái
VII Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm bốn chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày những lý thuyết có
liên quan để làm cơ sở cho các phân tích trong các chương kế tiếp
Chương II: Thành phần chêm xen tình thái trong tiếng Anh Chương
này đi sâu vào nghiên cứu, phân tích cả ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học của các từ ngữ chêm xen tình thái trong tiếng Anh
Chương III: Thành phần chêm xen tình thái trong tiếng Việt Chương
này xem xét vị trí, khả năng kết hợp của các từ ngữ chêm xen tình thái với một số thành phần khác trong câu và phân loại ngữ cảnh sử dụng chúng
Chương IV: Đối chiếu biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh và
tiếng Việt và lưu ý về vấn đề dịch các từ ngữ chêm xen tình thái Anh – Việt, Việt-Anh Chương này đối chiếu một số điểm nổi bật về cách sử dụng các từ
ngữ chêm xen tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt đề làm rõ sự khác nhau
về đặc điểm văn hóa của những dân tộc nói tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất và dân tộc Việt Nam Chương này cũng nêu ra một số nhận xét về việc dịch các
biểu thức chêm xen tình thái từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
Trang 118
NỘI DUNG CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
1 Khái niệm chung
Khái niệm tình thái không còn là một khái niệm mới mẻ hay xa lạ của ngôn ngữ học Cho đến nay, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về tình thái
Ở mỗi khuynh hướng, mỗi trường phái ngôn ngữ khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau về tình thái Và “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt
và đối lập nhau như phạm trù tình thái.” (V.Z Palfilov, 1997, tr 37-38) Vì thế
mà ngôn ngữ học vẫn chưa có một hệ thống quan điểm thống nhất về tình thái Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự quan tâm ngày càng sâu sắc hơn đến nhân tố con người, đến quan hệ liên nhân trong hoạt động ngôn ngữ, vấn đề tình thái của ngôn ngữ tự nhiên được đặc biệt quan tâm trong ngành ngôn ngữ học Điều này là một tất yếu, bởi lẽ bất kì một nội dung nhận thức và giao tiếp hiện thực nào cũng phải gắn liền với những yếu tố như mục đích, nhu cầu, tình cảm, thái độ đánh giá… của người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với hiện thưc, với đối tượng giao tiếp Vì thế
mà tình thái vốn được coi là “linh hồn của phát ngôn” (Ch Bally)
Nhưng câu hỏi thế nào là tình thái nói chung và tình thái trong ngôn ngữ học nói riêng lại không phải là câu hỏi dễ trả lời Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới đề cập đến khái niệm tính tình thái trong ngôn ngữ học Trong số các nhà nghiên cứu đó phải kể đến Ch Bally, người được xem như là một trong những người đầu tiên có công lớn nhất mở đường cho việc nghiên cứu
về tính tình thái của ngôn ngữ học một cách có hệ thống Ông cho rằng trong một câu nói bao giờ cũng hàm chứa hai thành phần chủ chốt:
Trang 129
-Nội dung thông tin miêu tả sự tình của thế giới hiện thực
-Thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá… của người nói đối với nội dung thông tin sự kiện đó, với hiện thực và đối với người đối thoại
Thành phần thứ nhất được Ch Bally gọi là Dictum (nội dung mệnh đề)
và thành phần thứ hai được ông gọi là Modus (tình thái) thể hiện thái độ, đánh giá… của người nói
Hai thành phần này luôn gắn kết, không tách rời nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong các phát ngôn Tuy hai thành phần nội dung mệnh đề và nội dung tình thái có đối lập nhau nhưng chúng đối lập trong sự thống nhất biện chứng để tạo nên một phát ngôn Thành phần gắn với chức năng thông tin mệnh
đề, chức năng miêu tả của ngôn ngữ được Ch Bally gọi là Dictum Còn thành phần gắn với bình diện tâm lý, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, tình cảm, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với hiện thực được nói ra, với người đối thoại và đối với hoàn cảnh giao tiếp thì được ông gọi là Modus Tình thái là nhân tố quan trọng để thực tại hóa câu, biến nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực Modus sẽ thể hiện sự tình trong phát ngôn là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định, thể hiện mức độ cam kết của người nói đối với độ chân thực của thông tin cùng những đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, mục đích… của người nói
Trên thực tế, các nhà lô gích học cũng đã đề cập đến vấn đề tình thái và cốt lõi mệnh đề của câu từ rất lâu Tuy nhiên, trong lô gích học, vấn đề tính tình thái chỉ được quan tâm dưới góc độ nó ảnh hưởng như thế nào đến giá trị chân ngụy của mệnh đề (với các toán tử tình thái tất yếu và khả năng, các phép toán về mệnh đề sẽ chuyển từ lô gích song trị sang lô gích đa trị) Nhưng phải đến Ch Bally thì vấn đề này mới được đặt ra nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống Ông đã phân biệt chúng một cách rõ ràng và xem xét chúng như là hai thành phần có vị trí trung tâm của ngôn ngữ học Nhờ thế,
Trang 1310
vấn đề tình thái của ngôn ngữ mới được nhìn nhận đúng với vị thế của nó
Ngoài Ch Bally, trên thế giới cũng có rất nhiều các nhà nghiên cứu khác quan tâm đến vấn đề tình thái của ngôn ngữ Điển hình có thể kể đến Ch Fillmore, N Chomsky, F P Palmer, J Lyons…
Đối với Fillmore, khi nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của câu theo quan điểm của ngữ nghĩa học tạo sinh, ông cũng chia nội dung câu thành hai bộ phận gồm: mệnh đề (P- Proposition) và tình thái (M - Modus) Thành phần
“mệnh đề” được hiểu như là tập hợp những quan hệ có tính phi thời (tenseless) giữa các động từ và các danh từ, phân biệt với thành phần “tình thái” – gồm các loại ý nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu (the sentence-as-a-whole) như phủ định, thì, thức và thể (Fillmore, 1968, tr 23) Quan niệm của Fillmore được thể hiện dưới công thức:
S = M + P (trong đó: S – sentence; M – Modus; P – Proposition)
Chomsky, một nhà ngôn ngữ học người Mỹ, cũng rất chú ý đến vấn đề tình thái trong khuôn khổ của ngôn ngữ học tạo sinh Theo Chomsky, tất cả các câu trong ngôn ngữ đều được quy về ba loại: tường thuật, nghi vấn và mệnh lệnh; và yếu tố làm nên sự khác nhau của ba kiểu câu này chính là tình thái Chomsky dùng hai thuật ngữ “Tình thái” và “Hạt nhân” để chỉ tính tình thái và nội dung mệnh đề, hai yếu tố bắt buộc phải có để tạo câu cơ sở - thuộc cấu trúc bề sâu Để có được những phát ngôn cụ thể, cấu trúc bề sâu phải chuyển thành những cấu trúc bề mặt thông qua những phép cải biến nhất định
Và Chomsky đã phân biệt hai loại tình thái là: tình thái bắt buộc (tường thuật, nghi vấn, mệnh lệnh) và tình thái tùy nghi (tình thái xuất hiện trong mỗi cuộc giao tiếp hiện thực) như sự thừa nhận, phủ nhận, chủ động, bị động, nhấn mạnh (Chomsky, 1972)
Trang 1411
Như vậy, cả Chomsky và Fillmore cũng phân biệt hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu mà Ch Bally đã nêu ra Thế nhưng quan điểm của Chomsky và Fillmore về tình thái có phần hạn hẹp Các tác giả này mới chỉ giới hạn tình thái trong phạm vi nghĩa học chứ chưa thực sự đặt nó trong phạm vi dụng học rộng hơn
Cho đến những năm gần đây, khi lý thuyết hành vi ngôn ngữ và ngữ dụng học được đặc biệt quan tâm thì nghiên cứu về tình thái thực sự trở thành một trong những vấn đề trung tâm của ngôn ngữ học Về cơ bản thì tư tưởng của Ch Bally vẫn được các nhà ngôn ngữ học sau này thừa nhận rộng rãi, tuy nhiên khái niệm tình thái của ông đã được mở rộng hơn nhiều
Trên thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan niệm về tình thái Chẳng hạn như F P Palmer thì cho rằng: “tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra” và ông chủ trương phân biệt những yếu tố biểu thị tình thái với những yếu tố biểu thị mệnh đề (dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp,
1998, tr 216) Còn J Lyons, một người cũng thừa nhận tình thái là một bộ phận quan trọng thuộc bình diện cấu trúc ngữ nghĩa của câu, cho rằng: “Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả.” (J Lyons, 1977, tr 452) Cũng coi tình thái là một thành phần cơ bản của cấu tạo câu, Bondarko nhận xét: “tình thái
là một phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan hệ khách quan được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung chính của câu đó theo quan điểm của chính người nói.” (dẫn theo Phạm Hùng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 2, 1994, tr 48) Ngoài ra, Liapon (1990) khi viết về tình thái cũng cho rằng: “tình thái là một phạm trù của chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ giữa người nói với mối quan hệ
Trang 1512
khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan
khác nhau của điều được thông báo.” (dẫn theo Phạm Hùng Việt, 1994)
Còn đối với Culioli thì ông lại gọi hai mặt đối lập của phát ngôn là
“tình thái” và “ngôn liệu” Ông dùng thuật ngữ “ngôn liệu” (lexis) thay cho
“mệnh đề” (Proposition) vì ông cho rằng thuật ngữ mệnh đề là một thuật ngữ
mơ hồ về nghĩa Người ta không rõ nó được hiểu theo nghĩa của logic hay theo nghĩa nào khác (chẳng hạn, khái niệm “mệnh đề” được dùng trong ngôn ngữ học khác với mệnh đề trong lô gích học.) Thuật ngữ ngôn liệu (lexis) về thực chất là tương đương với “Dictum” của Ch Bally nhưng nhấn mạnh tính chất nguyên liệu, tiềm tàng, phi tình thái, chưa có tư cách là một sự tình với những mối liên hệ hiện thực nào đó giữa vị từ trung tâm và các tham tố của nó (dẫn theo Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp 2001)
Đặc biệt với việc đặt tình thái vào khung lí thuyết hành vi ngôn ngữ thì nghiên cứu tình thái đã có những bước phát triển mới “Sự phân biệt giữa nội
dung mệnh đề và tính tình thái rất gần gũi với sự phân biệt giữa hành vi tạo
lời và hành vi tại lời theo tinh thần của Austin Trong hành vi tạo lời, chúng ta nói về một điều gì đó, còn trong hành vi tại lời chúng ta làm một cái gì đó như trả lời một câu hỏi, thông báo một phán quyết, khuyến cáo hoặc hứa hẹn” (Palmer 1986, tr 14) Hiện nay, phần lớn tác giả cho rằng lý thuyết hành vi ngôn ngữ là khung lý thuyết thích hợp để nghiên cứu vấn đề tình thái của câu
Trên đây là một số quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới Còn ở Việt Nam thì sao? Ở Việt Nam, vấn đề tính thái trong ngôn ngữ cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Hoàng Trọng Phiến (1980) thì cho rằng: “tình thái là phạm trù ngữ pháp của câu ở dạng tiềm tàng, nó có mặt trong tất cả các kiểu câu Điều này thể hiện ở chỗ câu có giá trị thời sự, nó có tác dụng thông báo một điều mới mẻ…” Còn Đỗ Hữu Châu nhận xét: “tình thái sẽ bao gồm toàn bộ những ý nghĩa thuộc phạm vi dụng học và sẽ tập hợp
Trang 1613
lại thành thông điệp bộc lộ kèm với lõi P của câu” (Tạp chí ngôn ngữ số 3/ 1983) Hoàng Tuệ trong bài viết “Về khái niệm tình thái” thì cho rằng: “tình thái là một khá niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn, tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ.” (“Tiếng Việt”, số phụ của Tạp chí ngôn ngữ, 1998, tr 3) Đối với
Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2001), khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học được hiểu theo nghĩa rất rộng và bao gồm các kiểu ý nghĩa khác nhau như:
- Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành vi ngôn ngữ, kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, ra lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên, mời, vv…) gắn trực tiếp với chiều tương tác liên nhân của giao tiếp, với kiểu tác động của người nói với người đối thoại
- Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc của người nói với nội dung thông báo, về mức độ quan trọng, về độ tin cậy, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực, bất ngờ, ngoài chờ đợi, về tính khả năng, tính hiện thực, vv…
- Ý nghĩa thuộc đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình
- Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung vị từ và mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (thời, thể hay các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái…)
- Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn với ngữ cảnh, theo quan điểm, đánh giá của người nói Ví dụ: đặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh
Trang 1714
giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác…
Những quan niệm về tình thái được trình bày trên đây đã thể hiện sự phức tạp, đa dạng của khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học Tuy nhiên, nếu tạm gác lại những bất đồng, thì phần lớn các tác giả thiên về cách hiểu tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa chức năng đa dạng, phức tạp, phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế, cũng như những quan điểm, thái độ đánh giá và những thông tin định tính khác nhau của người nói đối với nội dung hiện thực được đề cập trong câu, với đối tượng giao tiếp và với hoàn cảnh giao tiếp Do vậy, việc nghiên cứu tính tình thái của phát ngôn phải tính đến sự tương tác phức tạp, khúc xạ qua nhiều tầng bậc, trong mối liên hệ của các yếu tố liên quan trong quá trình giao tiếp Đây sẽ là quan điểm về tình thái mà chúng tôi chọn làm cơ sở triển khai những nghiên cứu về các vấn đề của luận văn
2 Các kiểu ý nghĩa tình thái
Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều kiểu phân loại ý nghĩa tình thái khác nhau Chẳng hạn như theo A V Bondarko thì chỉ có hai nhóm ý nghĩa dưới đây mới đúng là các ý nghĩa tình thái:
- Tính khả năng, tính thực tế và tính cần yếu Nhóm ý nghĩa này là cơ
sở cho tình thái khách quan
- Sự nghi ngờ, tính không chắc chắn (giả định khả năng) và tính dứt khoát Nhóm ý nghĩa này là cơ sở cho tình thái chủ quan
Trong khi đó E M Volf lại cho rằng có nhiều kiểu ý nghĩa tình thái Sự đánh giá có thể coi như một trong những kiểu tình thái trùm lên nội dung được miêu tả của sự kiện biểu thị ngôn ngữ Ngoài ra còn có các kiểu ý nghĩa tình thái khác như: tình thái cần yếu, tình thái mong muốn, tình thái yêu cầu, tình thái khuyên nhủ, tình thái ngăn cấm và cảnh báo trước, tình thái răn đe…
Trang 1815
J Liapon (1990), ở một mức độ khái quát hơn, cho rằng “hướng đi được nhiều người công nhận nhất là phân chia phạm trù tình thái thành phạm trù tình thái khách quan và tình thái chủ quan” Ông giải thích: “tình thái khách quan thể hiện mối quan hệ giữa cái được thông báo với thực tế ở bình diện hiện thực tính Tình thái khách quan là dấu hiệu tất yếu của một phát ngôn bất kỳ (phạm trù thức của động từ là phương tiện chính thể hiện tình thái
ở chức năng này); tình thái chủ quan là quan hệ của người nói với điều được thông báo, là dấu hiệu không bắt buộc của một phát ngôn Dung lượng ngữ nghĩa của tình thái chủ quan rộng hơn dung lượng của tình thái khách quan và không đồng loại Khái niệm đánh giá làm nên cơ sở ngữ nghĩa cho tình thái chủ quan Khái niệm này không chỉ bao gồm các đánh giá lô gích (lý tính, duy lý) về điều được thông báo mà còn gồm cả các dạng khác nhau về phản ứng
có tính cảm giác (phi lý tính) (dẫn theo Phạm Hùng Việt, 1996)
Còn trong tiếng Việt thì Cao Xuân Hạo phân biệt hai loại tình thái: tình thái của hành động phát ngôn (modalité d‟énonciation) và tình thái của lời phát ngôn (modalité d‟énoncé) Tình thái của hành động phát ngôn thuộc về lĩnh vực dụng pháp, phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng trong giao tiếp bao gồm sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến vốn đã được ngữ pháp hóa cho nên đã được ngữ pháp truyền thống miêu tả; những câu có giá trị ngôn trung được đánh dấu như: câu xác nhận, câu phản bác và câu ngôn hành Tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt trong câu trần thuật hay câu hỏi, nó có liên quan đến thái độ của người nói với điều mình nói ra, hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Đó là một phần quan trọng của bình diện nghĩa học (Cao Xuân Hạo, 1991)
Gần đây, Nguyễn Văn Hiệp đã có một bài viết tổng kết những đối lập chủ yếu trong phạm vi tình thái, theo đó bên cạnh những đối lập tình thái như
Trang 1916
trên đây còn có những đối lập hết sức phức tạp khác như tình thái căn bản/tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa/tình thái trạng huống, tình thái khả tất/tình thái khả suy Do khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi không thể đi sâu hơn vào những phân biệt này (xin xem Nguyễn Văn Hiệp : “Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 8/ 2007)
3 Các phương tiện biểu thị tình thái
Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên cũng rất đa dạng, có thể chia thành ba nhóm lớn là: các phương tiện ngữ âm, các phương tiện ngữ pháp và các phương tiện từ vựng
a Các phương tiện ngữ âm
Các phương tiện ngữ âm của tình thái là phương thức dùng ngữ điệu và trọng âm của từ, câu để thể hiện thái độ, tình cảm, cách đánh giá vào những thông tin mà người nói cho là cần nhấn mạnh hoặc biểu thị những mục đích phát ngôn nào đó
b Các phương tiện ngữ pháp
Đối với các ngôn ngữ biến hình thì thức (mood) và thời (tense) của động từ có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái Còn đối với các ngôn ngữ không biến hình, hay ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt thì các phương tiện ngữ pháp thường gặp là: đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc của câu để thực hiện mục đích của người nói muốn nhấn mạnh vào điểm nào trong phát ngôn
c Các phương tiện từ vựng
Việc sử dụng các phương tiện từ vựng để thể hiện tình thái là một trong những phương thức phổ biến và có vai trò tích cực trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái
Trước hết, và rất quan trọng, là các động từ tình thái (modal verbs)
Trang 2017
trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong tiếng Anh, các động từ tính thái như can, may, must, need, shall, will có thể biểu thị rất nhiều nội dung tình thái khác nhau Tình hình cũng tương tự như vậy đối với tiếng Việt (xin tham khảo luận
án tiến sĩ của Bùi Trọng Ngoãn “Động từ tình thái trong tiếng Việt”, 2004)
Thứ đến là các tính từ và trạng từ tình thái Chẳng hạn như trong tiếng Anh, có một số nhóm trạng từ và tính từ có chức năng chuyên biểu thị tình thái, đặc biệt các trạng từ tình thái tiếng Anh có một vị trí khá đặc biệt trong
mô hình câu tổng quát Những trạng từ tình thái thường gặp là: certainly (tất nhiên), of course (tất nhiên), necessarily (tất nhiên) maybe (có thể, có lẽ),
possibly (có thể), probably (rất có thể), obviously (rõ ràng, hiển nhiên)
thường đứng ở đầu câu
Ngoài ra, trong tiếng Anh còn dùng những phương tiện đặc biệt để biểu
thị nội dung nhận thức, đó là các kết cấu như I think, I guess, I believe, I
hope… Các động từ trong kết câu này được gọi là động từ thái độ mệnh đề
(propositional attitude verbs) hoặc động từ trong ngoặc (parenthese verbs), vì chúng không biểu thị thông tin miêu tả, mà là biểu thị thái độ của người nói đối với điều được nói ra (được thể hiện trong tiểu cú làm bổ ngữ), tức biểu thị nội dung tình thái Ví dụ:
-I think exercise is really beneficial, to anybody
(Tôi nghĩ bài tập quả thật có ích cho mọi người)
(Dẫn theo Bài giảng chuyên đề về nghĩa và tình thái của Nguyễn Văn Hiệp, 2006)
Trong tiếng Việt, người ta đặc biệt chú ý đến những đơn vị được gọi là
quán ngữ tình thái như: theo ý tôi, gì thì gì, nghe nói, nghe đâu, thế nào
cũng… Ví dụ:
- Theo ý tôi thì chúng ta nên ở lại
Trang 2118
- Nghe đâu hắn mới mua được một cái nhà đẹp lắm
Ngoài ra, các tiểu từ tình thái hay còn được gọi là các tiểu từ diễn ngôn (discourse particles) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc biểu thị tình thái Chúng xuất hiện ở rất nhiều loại hình ngôn ngữ khác nhau… Vì vậy, có thể coi chúng là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến Đây là những yếu tố có nghĩa, thường rất ngắn, "có thể xuất hiện đâu đó trong phát ngôn, không nhất thiết là ở cuối, biểu thị những ý nghĩa bổ trợ cho phát ngôn" [Platt J 1987; tr 392] Tất nhiên, số lượng và vai trò cụ thể của chúng ở các ngôn ngữ là rất khác nhau, và ngay trong những biến thể của cùng một ngôn ngữ, cũng có thể
là khác nhau
Chẳng hạn, phương tiện này không phổ biến trong tiếng Anh British (British English), nhưng lại khá phổ biến ở tiếng Anh Mĩ (American English), nơi mà « too » và « so » có thể được dùng như các tiểu từ tình thái để biểu thị điều mà người nói cho là trái ngược với điều mà người nghe trước đó đã nói, hoặc đã nghĩ Ví dụ :
-Affective is too a word !
(Tạm dịch: “Nói mũi lòng mà được à!”)
-There is so a Santa Claus!
(Tạm dịch: “Đến mồng thất mới có ông già Nô- en!”)
(Dẫn theo các bài giảng chuyên đề về nghĩa và tình thái của Nguyễn Văn Hiệp, 2006)
Trong tiếng Việt, nhóm tiểu từ tình thái ( à, ư, nhỉ, nhé, cơ à, đấy mà, chăng…) bao giờ cũng xuất hiện ở cuối câu Ví dụ :
- Thế mà cũng 10 giờ rồi nhỉ?
- Đã 10 giờ rồi cơ à?
- Ít nhất cũng phải 10 giờ rồi chứ?
Trang 2219
- Nhớ đến trước 10 giờ nhé?
Trong các ngôn ngữ còn có các thán từ giữ chức năng tình thái trong câu Ví dụ như trong tiếng Việt thì thường có các thán từ: ôi, chà, chao, chết, trời ơi, ối trời ơi…
- Chà, con bé nhanh nhẹn thật
- Ối trời ơi, tôi lạy hồn
Các thán từ cũng xuất hiện nhiều trong các ngôn ngữ khác như “Gee”,
“Wow”, “oh”…trong tiếng Anh
- Gee! It‟s clever (Trời! Nó thật thông minh)
- Wow! It‟s fantastic (Chà! Nó tuyệt vời thật.)
Đối với các ngôn ngữ biến hình thì các phương tiện ngữ pháp dùng để biểu thị các ý nghĩa tình thái như thức, thể của động từ… được các nhà nghiên cứu quan tâm hơn so với các phương tiện từ vựng Ngược lại, ở các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt thì các phương tiện từ vựng được chú trọng hơn và và có tần suất sử dụng cao, linh hoạt hơn so với các phương tiện ngữ pháp Trên đây chỉ là một số minh họa về các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt Nếu để có một hệ thống, kết luận xác đáng thì cần phải đi sâu nghiên cứu nhiều hơn Nhiệm vụ này là quá tầm đối với luận văn của chúng tôi
Tuy nhiên, cả hai ngôn ngữ đều dùng các biểu thức chêm xen làm phương tiện biểu thị tình thái và đây là đối tượng nghiên cứu của luận văn của chúng tôi Trong những phần sau, chúng tôi sẽ đi sâu trình bày loại phương tiện này
Trang 2320
II Biểu thức chêm xen tình thái
1 Biểu thức chêm xen tình thái – Tiêu chí nhận diện
Trong tiếng Anh hoặc tiếng Việt, đặc biệt là trong khẩu ngữ tồn tại một thành phần được chêm xen vào phát ngôn gồm các từ ngữ chêm xen (interjections) để nhấn mạnh hay biểu thị thái độ, tình cảm của chủ thể phát ngôn Các từ ngữ chêm xen này có cấu trúc khá phức tạp và đa dạng ở cả bậc
từ, bậc ngữ, thậm chí cả ở bậc mệnh đề nên chúng tôi gọi chung chúng là những biểu thức chêm xen tình thái (modal expletive expressions) Vì nếu dùng “interjections” thì thuật ngữ này thường được liên tưởng nhiều đến thành phần chêm xen tồn tại ở bậc từ Như sẽ thấy, biểu thức chêm xen tình thái tồn tại rất đa dạng cả về cấu tạo, vị trí, về mặt nghĩa học và dụng học Vì vậy trong luận văn này, trước hết, chúng tôi sẽ đưa ra một số tiêu chí nhận diện cơ bản để làm tiền đề cho việc thu thập, phân tích, đánh giá và nghiên cứu các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt Theo chúng tôi, biểu thức chêm xen tình thái có những đặc điểm sau:
- Là những biểu thức biểu thị thái độ, tình cảm, ý chí, mục đích, đánh giá… của chủ thể phát ngôn đối với nội dung của phát ngôn, đối với hiện thực, đối với các vai tham gia giao tiếp khác và với hoàn cảnh giao tiếp
- Các biểu thức chêm xen tình thái phải nằm trong các mối quan hệ liên nhân giữa các vai giao tiếp và quan hệ của người nói đối với thực tại hoặc đối với đối tượng của lời nói
- Chúng không thuộc vào thành phần của nhóm thực từ và có thể lược
bỏ một cách dễ dàng mà không làm thay đổi nội dung mệnh đề cơ bản của câu Việc lược bỏ các biểu thức chêm xen tình thái trong câu có thể dẫn đến việc thay đổi ý nghĩa tình thái của câu, có ảnh hưởng đến mức độ đánh giá (ví
dụ như mức độ quá tốt hoặc quá xấu), hình thức cấu trúc của câu nhưng nội
Trang 24có thể tồn tại độc lập dưới dạng một phát ngôn đặc biệt, cụ thể là tồn tại dưới dạng câu cảm thán không hoàn chỉnh về cấu trúc cú pháp Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi chỉ quan tâm đến các biểu thức tình thái được “chêm xen” trong phát ngôn chứ không phải là các biểu thức tồn tại độc lập ngoài
phát ngôn như: “Shit! He’s gone.” (Mẹ kiếp! Hắn đi mất rồi.” Biểu thức chêm xen tình thái “Shit!” (Mẹ kiếp) ở đây tồn tại dưới dạng lời độc thoại của chủ thể phát ngôn trước một hiện thực là “He’s gone” (Hắn đã đi rồi)
Hơn nữa, các biểu thức chêm xen tình thái và các biểu thức tình thái tồn tại dưới dạng câu độc lập đôi khi có chút khác biệt về mặt ngữ nghĩa học và
dụng học Chẳng hạn như việc sử dụng biểu thức chêm xen tình thái “the
hell” như trong các cấu trúc “What the hell?/ How the hell?/ Where the hell?/ When the hell?…” (Cái quái gì?/ Thế quái nào?Nơi quái nào? Khi quái nào?…) là hoàn toàn khác với “Hell!” hoặc “Oh, hell!” Khi “Hell!” hoặc
“Oh, hell!” đứng một mình độc lập thì nó tạo thành một câu có cấu trúc cú
pháp đặc biệt: không chủ ngữ, không vị ngữ hay bổ ngữ …gì cả Mà nó chỉ là
một câu cảm thán tồn tại dưới dạng phát ngôn đặc biệt mà thôi “Hell!” hoặc
“Oh, hell!” chỉ là cách nói chêm vào khi người nói làm hỏng việc gì hoặc một
việc gì đó bị làm hỏng ảnh hưởng đến họ hoặc khi họ không hài lòng về một việc không may mắn nào đó Nói cách khác là thái độ của chủ thể phát ngôn
Trang 25Cũng tương tự như vậy, một ví dụ khác trong tiếng Việt như trường
hợp từ “Quái” Từ này có thể là một thán từ tồn tại độc lập trong một câu đặc
biệt hoặc tồn tại ở đầu câu Tuy nhiên, chúng cũng xuất hiện ở giữa câu
nhưng với một chức năng ngữ nghĩa, ngữ dụng khác Khi “Quái” là một thán
từ tồn tại độc lập trong một câu đặc biệt hoặc đứng ở đầu câu trong những phát ngôn độc thoại thì nó thể hiện sự băn khoăn của người nói về một điều gì
đó người nói cho là kỳ lạ, rất đáng ngạc nhiên và có gì đó khó hiểu Còn khi
“quái” giữ chức năng là một trợ từ thì nó biểu thị ý nhấn mạnh sắc thái phủ
định hoặc nghi ngờ, ngạc nhiên So sánh:
(1a) Quái, sao hôm nay tôi thấy lao đao thế này, hay là say sóng rồi đây?
(Nguyễn Công Hoan, TNCL, Thế là mợ nó đi Tây, tr 111)
(1b) Quái, không biết mợ nó đi gọi cậu nó hay đi mua quả bóng
(Nguyễn Công Hoan, TNCL, Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn, tr 75)
(1c) Quái! Cái ví của moi đâu mất rồi!
(Nguyễn Công Hoan, TNCL, Cái ví ấy của ai, tr.207)
(1d) Thế thì việc quái gì phải bày vẽ ra thế này cho thêm tốn!
(Nguyễn Công Hoan, TNCL, Xin chữ cụ nghè, tr.121)
Như vậy, “quái” trong ví dụ (1a), (1b) và (1c) là những thán từ xuất
hiện trong các câu độc thoại thể hiện sự băn khoăn, ngạc nhiên của người nói
trước một điều mà người nói cho là lạ, là khó hiểu Chỉ có “quái” trong (1d)
Trang 26Ngoài những tiêu chí nhận diện biểu thức chêm xen tình thái vừa được
đề cập ở phần trên, trong tiếng Việt, đôi khi có sự trùng hợp giữa một số từ là phụ từ phủ định (hay còn gọi là từ kèm phủ định) và từ chêm xen tình thái Vì vậy, chúng tôi sẽ đưa ra một vài đặc điểm phân biệt hai loại này
Thực tế là, trong tiếng Việt có một số từ như “cóc, đếch, đéo…” khi thì
tồn tại dưới dạng phụ từ phủ định, khi thì hành chức như là những từ chêm xen tình thái Xét một số ví dụ trong khẩu ngữ hàng ngày sau đây:
(2a) Đù mẹ, ăn nói chẳng lịch sự đéo (1) gì cả! Nói mãi đéo (2) được,
bảo mãi đéo (3) nghe, tức mình bố mày đéo (4) thèm nói nữa
(Khẩu ngữ)
(2b) Anh đánh đéo gì tôi?
(Chu Lai, Ăn mày dĩ vãng, tr 108)
(2c) Nó đi lang thang ở chợ cả buổi mà đéo mua được gì hết
Trang 2724
(2e) Con tôi nó cũng đếch cần
(Trung Trung Đỉnh- Bảo Ninh, TTVNTKĐM, tr 168)
phép lược bỏ bốn từ “đéo” trong ví dụ (2a) thì câu này sẽ trở thành:
(2a‟) Đù mẹ, ăn nói chẳng lịch sự (1) gì cả! Nói mãi (2) được, bảo mãi (3) nghe, tức mình bố mày (4) thèm nói nữa
Ở câu (2a‟) chỉ còn câu chứa (1) là không thay đổi về phần nội dung mệnh đề và mục đích ngôn trung bởi nó vẫn giữ nguyên là một câu phủ định Còn câu chứa (2), (3), (4) thì vô lý về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa Nó không còn mang ý nghĩa phủ định như ban đầu nữa
Chúng tôi làm phép lược bỏ tương tự như vậy đối với từ “đếch” trong
hai câu phủ định (2d) và (2e):
(2d‟) Làm gì có em gái, nó chỉ có bà chị gái sứt môi lồi rốn bán thịt chó sống ở đầu chợ thôi
(2e‟) Con tôi nó cũng cần
Như vậy, vế đầu của câu (2d‟) vẫn giữ nguyên được cấu trúc, ý nghĩa
và sắc thái phủ định nhờ vào cụm từ “làm gì” Đây là một loại câu phủ định dùng cụm từ có từ để hỏi “gì” Thế nhưng câu (2e‟) lại trở thành một câu khẳng định do thiếu vắng từ “đếch” Vậy là cấu trúc và ý nghĩa của câu (2e‟)
đã hoàn toàn thay đổi so với câu (2e) Câu (2e‟) không còn là một câu phủ định nữa mà nó đã trở thành một câu khẳng định đích thực Nếu chúng tôi
thay từ “đếch” trong câu (2e) bằng “không” hoặc “chẳng”, “chả” :
Trang 28Điều tương tự cũng xảy ra đối với “cóc” trong 2 câu (2f) và (2g)
Từ đó, chúng tôi nhận thấy rằng “đéo” (2, 3, 4) trong câu (2a), “đéo” trong câu (2c), “đếch” trong câu (2e), “cóc” trong câu (2f) đều có chức năng
tương tự như những phụ từ phủ định (từ kèm phủ định) “không, chưa, chẳng…” trong tiếng Việt Bản thân chúng cũng là những phụ từ Như vậy, chúng có thể được gọi là những phụ từ phủ định
Còn các từ “đéo”, “đếch”, “cóc” trong những câu khác khi lược bỏ đi
mà không làm thay đổi cấu trúc, ý nghĩa nội dung mệnh đề của câu thì chúng thuộc về những từ chêm xen biểu thị tình thái, tức chúng chỉ là những từ ngữ
“kí sinh” vào cấu trúc câu đã hoàn chỉnh trước đó Khi đó, chúng có chức
năng như những trợ từ tình thái Chúng khác với các phụ từ phủ định “đếch”,
“cóc”, “đéo” ở những câu phủ định với ý nghĩa nhấn mạnh về sắc thái phủ
định, đó là phủ định dứt khoát và phủ định một cách nặng lời
Xét về vị trí trong cấu trúc cú pháp thì các phụ từ phủ định này thường đứng trước động từ vị từ trong câu Còn các từ chêm xen tình thái này thì lại thường đứng sau động từ vị từ hoặc các vị từ khác trong câu
Một điểm đáng chú ý nữa là một từ vừa là phụ từ phủ định, vừa là từ chêm xen tình thái thì thường không tồn tại trong cùng một mệnh đề hoặc một câu như:
Trang 2926
(2h) Hắn đếch thèm biết đến cái đếch gì cả
Sự không lặp lại này có lẽ là do tránh sự dư thừa, nhàm chán về từ
trong cùng một câu Tuy vậy, “đếch”, “đéo” hay “cóc” khi là những phụ từ
phủ định lại có thể đi với những từ ngữ chêm xen tình thái khác như:
(2i) Hắn đếch biết cái cóc khô gì cả
(2g) Hắn đếch biết cái quái gì cả
(2k) Hắn đếch biết đéo gì cả
(Khẩu ngữ)
(2l) Im đi cậu đếch biết cái quái gì
(MVK, GR, tr 300) Ngoài ra, trong khẩu ngữ hàng ngày, nhiều người luôn sử dụng những
từ thô tục như “Đ Mẹ” hay “mẹ” chêm vào lời nói trong mọi ngữ cảnh giao tiếp như một thói quen Trong trường hợp này, những từ ngữ chêm xen này chỉ là những từ ngữ chêm xen bình thường chứ không phải từ ngữ chêm xen tình thái Do vậy, chúng không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn này
III Phân biệt biểu thức chêm xen tình thái và thành phần phụ chú
Nói một cách vắn tắt thì biểu thức chêm xen tình thái là thành phần được chêm vào trong phát ngôn nhằm thể hiện thái độ, tình cảm, đánh giá, mục đích… của người nói đối với hiện thực được nói đến, với các đối tượng tham gia giao tiếp khác, thể hiện mối quan hệ liên nhân giữa các vai tham gia giao tiếp, với hoàn cảnh giao tiếp Về hình thức chúng có thể được lược bỏ đi một cách dễ dàng mà không làm thay đổi nội dung mệnh đề cốt lõi của câu hay thành phần ngôn liệu của câu Khi nhìn nhận, đánh giá biểu thức chêm xen tình thái ở những khía cạnh như vậy thì chúng tôi thấy rằng ở góc độ nào đấy những thành phần này có một số nét tương đồng với thành phần phụ chú
Trang 3027
(parenthesis) trong câu Chúng đều thuộc vào thành phần biệt lập trong câu
mà Diệp Quang Ban gọi là “biệt tố”
Xét trên quan điểm thành phần phụ chú trong tiếng Việt, một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Thành phần phụ chú là thành phần được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu Thành phần phụ chú thường được đặt giữa hai đầu gạch ngang, hai dấu phẩy, hai dấu ngoặc đơn hoặc giữa một dấu gạch ngang với một dấu phẩy Nhiều khi thành phần phụ chú còn được đặt sau dấu hai chấm.” Ví dụ:
- Lúc đi, đứa con gái đầu lòng của anh – và cũng là đứa con duy
nhất của anh, chưa đầy một tuổi
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)
- Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm
(Lam Cao, Lão Hạc)
- Chúng tôi, mọi người – kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) (dẫn theo sách Ngữ Văn lớp 9, tập 2, NXB Giáo Dục) Một trong những đặc điểm nổi bật của chúng giống với các biểu thức chêm xen tình thái là chúng cũng là những thành phần biệt lập, có thể được lược bỏ đi một cách dễ dàng mà không làm thay đổi đến nội dung mệnh đề của câu
Tuy nhiên, công dụng chính của thành phần phụ chú ở trong câu là bổ sung thêm một số chi tiết cho nội dung miêu tả của câu chứ không mang một nét nghĩa tình thái nào cả Chúng thường mang tính chất giải thích, cung cấp thêm thông tin và thường nằm sau các thành phần được chúng bổ sung ý nghĩa, thường được tách với thành phần khác bằng dấu phẩy, dấu gạch ngang hay dấu hai chấm
Trang 31(3a) Lấy làm gì cái thằng ăn cháo đái bát đó
Biểu thức chêm xen tình thái “ăn cháo đái bát” trong câu (3a) không
hề có ý nghĩa cộng gộp của các thành viên trong nó mà nó có nghĩa là “Ví thái
độ chịu ơn người rồi bội bạc, phụ ơn ngay” (Viện Ngôn ngữ học, Từ điển
tiếng Việt, tr 12) Còn thành phần “có ai ngờ” trong câu (3b) là thành phần
phụ chú với ý nghĩa tương đương tương đối là “không ai nghĩ rằng” Hơn
nữa, biểu thức “ăn cháo đái bát” trong câu (3a) còn vượt ra khỏi ý nghĩa ngôn
liệu và biểu thị một loại ý nghĩa phi miêu tả; đó là nghĩa tình thái Nó thể hiện thái độ chê bai, coi thường của người nói đối với đối tượng được nói tới
Nói tóm lại, cả hai thành phần “phụ chú” và “biểu thức chêm xen tình thái” đều “là những yếu tố không chịu sự ấn định của vị tố về mặt nghĩa, không trực tiếp tham gia vào phần nghĩa chỉ sự thể trong câu chứa chúng, chúng không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, và chúng có quan hệ với nghĩa của toàn bộ câu hoặc với nghĩa của yếu tố thích hợp trong câu.” (dẫn
Trang 3229
theo Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, tr 61) Tuy nhiên, chúng khác nhau cơ bản về sự đối lập giữa ý nghĩa ngôn liệu và tình thái: một đằng (thành phần phụ chú) góp thêm vào nghĩa miêu tả hay ngôn liệu của câu, một đằng (biểu thức chêm xen tình thái) biểu thị đánh giá tình thái cho câu
IV Khảo sát sơ qua những công trình nghiên cứu về các “biểu thức chêm xen tình thái” đã đƣợc công bố
Cho đến nay, ở Việt Nam, biểu thức chêm xen tình thái vẫn chưa được chú trọng nghiên cứu nhiều Duy nhất chỉ có một công trình nghiên cứu gần
đây của chị Phạm Thị Thu Bình, cựu sinh viên khoa ngôn ngữ học, trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn nghiên cứu về các biểu thức chêm xen tình
thái trong tiếng Việt trong khóa luận tốt nghiệp có tiêu đề “Cú pháp và ngữ
nghĩa của những từ chêm xen tình thái trong tiếng Việt” (2007) Để giản tiện
cho việc nghiên cứu các biểu thức chêm xen tình thái trong luận văn này,
chúng tôi sẽ điểm lại những ý chính trong khóa luận của chị Phạm Thị Thu
Bình và chỉ ra một vài điểm chưa tương đồng với luận văn này
Theo Phạm Thị Thu Bình, thành phần chêm xen tình thái trong tiếng Việt tồn tại dưới dạng các từ đơn như: cha, mẹ, cụ, bà, cóc, đinh, đĩ ĩ…hoặc
các từ ghép như: cóc khô, quỷ quái, súc sinh, mẹ khỉ,
Ngoài ra chúng cònn tồn tại dưới dạng các cụm từ như: rời đánh thánh
Xét về mặt từ loại, Phạm Thị Thu Bình cho rằng biểu thức chêm xen tình thái có thê là:
- Danh từ chêm xen tình thái: Ví dụ: chó, lợn, cha, mẹ, con mụ .
- Trợ từ chêm xen tnh thái Ví dụ: quái, đếch, mốc,
- Tính từ chêm xen tnh thái Ví dụ: lưu manh, mất dạy, dê già… …n
Trang 3330
Về ngữ nghĩa và chức năng của c c từ ngữ chêm xen t nh thái trong
t ếng Việt, Phạm Thị Thu Bình phân biệt
chữ đưa lại Cá từ chêm xen t nh thái là c c từ chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc,chỉ động vật,chỉ tên nhân vật trong tá phẩm văn học
Khóa luận tốt nghiệp của chị Phạm Thị Thu Bình đã đề cập khá đầy đủ
về cấu tạo và chức năng của các từ ngữ chêm xen tình thái trong tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của tác giả là một tham khảo quan trọng đối với luận văn của chúng tôi Về cơ bản, chúng tôi đồng tình cách triển khai vấn đề của khóa luận Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng trong khóa luận của mình, chị Phạm Thị Thu Bình còn chưa phân biệt thực sự rõ ràng giữa danh từ trung tâm và thành phần chêm xen trong đoản ngữ chêm xen tình thái Ví dụ như:
Cha con mẹ nó làm cho người ta lúc hú vía
DT CX
(Ngô Tất Tố 1975) (Phạm Thị Thu Bình, CPVNNCNTCXTTTTV, tr 40)
Ở ví dụ này, chị Phạm Thị Thu Bình cho rằng “cha” là danh từ, còn
“con mẹ” là thành phần chêm xen Trong trường hợp này “Cha con mẹ nó” là một đoản ngữ danh từ “Nó” không thể lược bỏ đi được nhưng “cha con mẹ”
Trang 3431
thì có thể lược bỏ đi được Như vậy “nó” ở đây là danh từ còn “cha con mẹ”
là một thành phần chêm xen tồn tại dưới dạng từ ghép đẳng lập được ghép lại
từ hai thành phần “cha” và “con mẹ” Bởi lẽ, đoản ngữ này hoàn toàn có thể lược bỏ “cha” hoặc “con mẹ” mà đoản ngữ vẫn tồn tại được Như vậy, “cha
con mẹ” là thành phần chêm xen tình thái dưới dạng từ ghép giống như từ
ghép chêm xen tình thái “mẹ đĩ” trong:
Cái con mẹ đĩ kia mày làm gì thế hả?
Ngày tao bằng tuổi hắn tao biết cái cóc khô chi?
(Phùng Quán - Tuổi thơ dữ dội) (Phạm Thị Thu Bình, CPVNNCNTCXTTTTV, tr 24) Trong khóa luận của chị Phạm Thị Thu Bình, ở một ví dụ trang 41, chị coi “đếch” – một phụ từ phủ định – là một từ chêm xen tình thái
tôi không xét “đếch” với chức năng là phụ từ phủ định như là một thành phần
chêm xen tình thái
Điều đáng lưu ý là khóa luận của chị Phạm Thị Thu Bình chỉ mới nêu
ra mà chưa đi sâu vào xem xét và phân loại các biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Việt dựa theo chức năng ngữ nghĩa - ngữ dụng Hơn nữa, chị
Trang 3532
cũng chưa đề cập đến vị trí, mối quan hệ của các biểu thức chêm xen tình thái với các đại từ nghi vấn và các trợ từ cùng hình thức cấu trúc với đại từ nghi vấn nhưng có chức năng khác nhau Đây sẽ là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà luận văn của chúng tôi muốn khảo sát, đặc biệt trong phối cảnh
so sánh giữa tiếng Anh và tiếng Việt
V Tiểu kết chương I
Trong chương I, chúng tôi đã trình bày vắn tắt khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học hiện đại, một khái niệm khá phức tạp và gây nhiều tranh cãi từ trước đến nay Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những nhà nghiên cứu
đi trước, chúng tôi đã xác lập cho mình một cách hiểu về khái niệm tình thái
để triển khai những vấn đề nghiên cứu trong luận văn Đó là một cách hiểu tương đối rộng về tình thái, xem tình thái là phạm trù ngữ nghĩa của câu biểu thị sự đánh giá, thái độ của người nói đối với điều được nói đến trong câu, mối quan giữa người nói và những người tham gia giao tiếp khác và với hoàn cảnh của phát ngôn Chúng tôi cũng đã nêu ra những phương tiện biểu thị tình thái cơ bản trong ngôn ngữ Đặc biệt, chúng tôi đã đưa ra các tiêu chí nhận diện cho thành phần chêm xen tình thái và lấy đó là tiêu chí cho toàn luận văn Ở chương này, luận văn cũng đã phân biệt sự giống và khác nhau giữa các biểu thức chêm xen tình thái và thành phần phụ chú trong câu Sau cùng, chúng tôi đã điểm qua những kết luận của công trình đi trước để lấy đó làm tiền đề cho những nhiệm vụ triển khai tiếp theo trong luận văn này
Trang 3633
CHƯƠNG II - KHẢO SÁT NHỮNG HIỆN TƯỢNG
CHÊM XEN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG ANH.
A Xét về mặt kết học
I Cấu tạo của thành phần chêm xen biểu thị tình thái trong tiếng Anh
Theo Heather MacFadyen (2006), các biểu thức chêm xen tình thái là những từ ngữ được chêm vào trong phát ngôn nhằm thể hiện thái độ hoặc sắc thái tình cảm của người nói Những biểu thức chêm xen tình thái này không
có quan hệ ngữ pháp chặt chẽ với bất kỳ một thành phần nào khác trong câu Ông cũng cho rằng thành phần này hiếm xuất hiện trong văn phong mang tính chất nghi thức, trang trọng, trừ một số trường hợp trích dẫn trực tiếp
Biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng Anh tồn tại dưới nhiều hình thức với cấu tạo, ý nghĩa và chức năng khác nhau Chúng có thể là những từ hay những cụm từ có nghĩa miêu tả hoặc không có nghĩa miêu tả, có chức năng định danh hay không có chức năng định danh Tuy nhiên, chúng đều có một đặc điểm chung là chứa đựng ý nghĩa tình thái, một loại nghĩa phi miêu
tả Vì điều kiện còn hạn chế nên luận văn này chỉ đi sâu nghiên cứu những biểu thức chêm xen tình thái được cấu tạo từ những thành phần có ý nghĩa Để phân biệt được biểu thức chêm xen tình thái với các thành phần chêm xen tình thái khác trong câu, sau đây chúng tôi sẽ phân biệt sự khác nhau giữa biểu thức chêm xen tình thái và các thán từ tình thái trong tiếng Anh
1 Phân biệt giữa thán từ tình thái, biểu thức chêm xen tình thái và
từ điệp khúc biểu thị tình thái
Trong tiếng Anh khẩu ngữ tồn tại một bộ phận không lớn các từ chêm xen không có chức năng định danh hay chức năng ngữ pháp, không mang
nghĩa từ vựng mà chỉ mang lại ý nghĩa tình thái như: Wow (chà), Yuck
(khiếp), Ouch (Ui da, ái)… Thành phần này mang chức năng lời nói thứ yếu
Chúng hoạt động như là những cử chỉ bằng lời của người phát ngôn Trong
Trang 3734
thực tế, nhiều khi hình thức ngôn ngữ này không được coi là ngôn ngữ mà chúng chỉ là thứ ngôn ngữ nguyên sơ (protolanguage) như: Wow, oh, gee, whew, alas, oops, hurrah, ugh…Các từ này thường có vị trí ở đầu câu và cuối câu hoặc đứng độc lập một mình dưới dạng một phát ngôn đặc biệt
- Ouch, that hurt!
(Ui da, đau quá!)
(http://www.arts.uottawa.ca/writcent/hypergrammar/interjct.html)
- Yuck, I stepped in dog shit!
(Khiếp quá, tôi đã giẫm phải phân chó!)
(Lê Huy Lâm biên dịch, SDTLTGT, Tr.115)
- Gee, I really can‟t
(Trời, mình thực sự không thể.)
(Jack C Richards, Listen for it, tr.59)
- Arg! We can‟t go fishing
(Ối! Chúng ta không thể đi câu được.)
- Eep! I was feeling a little hungry
(Không! Tôi cảm thấy hơi đói bụng.)
- Yikes! Is he going to raise our rent?
(Ối, trời ơi! Ông ấy sắp tăng tiền thuê nhà của chúng ta à?)
(Lê Huy Lâm biên dịch, SDTLTGT, Tr.80)
(Hắn có một cái xe mới, hả?)
(Khẩu ngữ)
Trang 3835
Thứ ngôn ngữ nguyên sơ này thường được các nhà ngôn ngữ học gọi là các thán từ tình thái Chúng thường được thốt lên khi chủ thể phát ngôn cảm thấy kinh ngạc, hay khi gặp sự việc phiền phức, phải chứng kiến những cảnh không ngờ tới hay khi nghi hoặc trước một sự việc hiện tượng nào đó ở thế giới quanh họ Nói cách khác là chúng chỉ diễn đạt những phản ứng tâm sinh
lí của con người mà không mang nghĩa biểu hiện hay nghĩa miêu tả
Những thán từ tình thái này bị hạn chế về mặt cấu tạo, vị trí cũng như
ý nghĩa, chức năng của chúng trong giao tiếp so với các biểu thức chêm xen
tình thái như “the hell” (địa ngục), “the devil” (ma quái), “damn” (nguyền
rủa)… Các biểu thức chêm xen tình thái được cấu tạo từ những từ có nghĩa gốc đầy đủ, đa dạng về cấu trúc, vị trí và ý nghĩa trong phát ngôn Chúng có
thể tồn tại dưới dạng từ như “hell” (mẹ kiếp) hoặc dạng ngữ như “son of a
bitch” (đồ con hoang, đồ chó chết) Không những phong phú về mặt cấu tạo
mà chúng còn đa dạng cả về mặt vị trí và chức năng trong câu Chúng có thể đứng đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu Các biểu thức chêm xen tình thái không chỉ đơn thuần biểu thị sự ngạc nhiên, nghi hoặc, bực bội mà chúng còn nhiều chức năng khác như chức năng nhấn mạnh, đánh giá biểu cảm, đánh giá chủ quan của chủ thể phát ngôn trước một hiện thực nào đó và đôi khi còn tham gia biểu thị mục đích phát ngôn Những đặc điểm này không có ở những thán từ tình thái Đặc biệt là thán từ tình thái không chứa đựng đánh giá chủ quan của chủ ngôn mà chỉ là phản ứng tâm sinh lý của con người Hơn nữa, trong khi các thán từ không phải là những từ ngữ mang ý nghĩa miêu tả thì các biểu thức chêm xen tình thái đều có nguồn gốc từ những từ ngữ có nghĩa miêu tả Khi các biểu thức chêm xen tình thái được chêm xen vào phát ngôn, chúng bị mất đi ý nghĩa miêu tả của mình và thay vào đó là một ý nghĩa tình thái Còn các thán từ thì không có sự thay đổi về ý nghĩa (từ nghĩa miêu tả chuyển sang nghĩa tình thái) vì bản thân chúng không hề có nghĩa miêu tả
Trang 3936
- Hell, who needs a job?
(Mẹ kiếp, ai cần việc chứ?)
(James Thayer, Force 12, tr.542)
(Glick đang ở chỗ quái quỉ nào không biết nữa?)
(Don Brown, Angles and Demons, tr 341)
- I'm going to sue you, you dirty son of a bitch
(Đồ chó, tao sẽ đưa mày ra tòa.) (PHT dịch KCGMM, tr 90)
(Sidney Sheldon, Nothing lasts forever, tr 64) Ngoài ra, trong khẩu ngữ tiếng Anh còn tồn tại những biệt tố tình thái được hình thành từ những từ thông thường được nói luyến vì một lý do tôn giáo hay tín ngưỡng nào đó Những từ được nói luyến này được gọi là những
từ điệp khúc Loại từ điệp khúc này là những từ ngữ chêm xen được chỉnh sửa chút ít về mặt ngữ âm để giảm mức độ thô tục hoặc tránh nói trực tiếp (vì cấm
kỵ hoặc mang tính tôn giáo) Chúng đều bắt nguồn từ những từ gốc có nghĩa
miêu tả và có cấu tạo vỏ âm thanh khá gần với từ gốc Chẳng hạn từ “shit” (phân) được chuyển thành “shoot” hoặc “shaatz” như trong:
- Shaatz! Look at those cool shoes
(Tuyệt thật! Hãy nhìn đôi giày xinh đẹp kia kìa.)
- Shoot, get out of my side!
(Mẹ kiếp, biến khỏi mắt tao ngay!)
(Khẩu ngữ)
Trang 40(Lê Huy Lâm biên dịch, SDTLTGT, tr 195)
- Jesus Christ, Mike! We‟re at the frigging North Pole and you still
manage to meet gorgeous women
(Lạy chúa tôi, Mike! Ở tận cực Bắc khỉ ho cò gáy này mà anh vẫn kiếm được những cô gái chân dài.) (PHT dịch KCGMM, tr 95)
(Dan Brown, Deception point, tr 110) Ngôn ngữ điệp khúc trong những từ ngữ mang tính tôn giáo cũng được dùng rất nhiều trong khẩu ngữ Bởi lẽ tôn giáo là rất đa dạng và nhiều người nhạy cảm với những lời nói mang tính chất tôn giáo Đó là lí do họ đã dùng biện pháp điệp khúc từ để tránh xúc phạm đến tôn giáo của họ Chẳng hạn
như “gosh” thay cho “God!” (Đức Chúa Trời), “Jeez” thay cho “Jesus” (Chúa
Jê su), “heck” thay cho “hell” (địa ngục, quỷ quái)
- Jeez, I can‟t
(Lạy chúa tôi, tôi không thể.)
(Lê Huy Lâm biên dịch, SDTLTGT, Tr.66)
(Ôi, lạy Chúa tôi, nó chết rồi.)
(Mày đang nói cái quái gì vậy?)
(Khẩu ngữ)