1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát nhóm động từ chỉ hướng vận động trong tiếng Hán (so sánh với tiếng Việt

151 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong ngôn ngữ của các nước đều có các từ chỉ hướng của bầu trời và trái đất như Đông, Tây, Nam, Bắc, các từ ngữ biểu thị hướng ở trạng thái tĩnh như: trên, dưới, trong, ngoài … cũng như

Trang 1

TRỊNH MINH HẢI

Khảo sát nhóm động từ chỉ hướng vận động trong tiếng Hán (so sánh với tiếng Việt)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU - 3

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài - 3

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 4

3 Mục đích và nội dung nghiên cứu - 5

4 Phương pháp nghiên cứu - 6

5 Bố cục của luận văn - 7

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI - 8

I Lịch sử vấn đề - 8

1 Tình hình nghiên cứu về động từ chỉ hướng trong tiếng Hán - 8

2 Tình hình nghiên cứu về động từ chỉ hướng trong tiếng Việt - 12

3 Động từ chỉ hướng nhìn từ góc độ ngôn ngữ tri nhận - 18

CHƯƠNG 2: MIÊU TẢ CÁC ĐỘNG TỪ CHỈ HƯỚNG TIẾNG HÁN VỚI VAI TRÒ LÀ ĐỘNG TỪ CHÍNH TRONG CÂU - 23

2.1 Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của động từ chỉ hướng - 23

2.1.1 Nghĩa không gian - 24

2.1.2 Nghĩa thời gian - 41

2.1.3 Nghĩa trạng thái/kết quả - 46

2.2 Đặc điểm kết hợp của động từ chỉ hướng - 50

2.2.1 Kết hợp với danh từ - 51

2.2.2 Kết hợp với động từ - 53

2.2.3 Kết hợp với tính từ - 55

2.2.4 Kết hợp với các phương vị từ: zhong, qián, shang, wài… - 56

2.2.5 Kết hợp với trợ động từ - 57

Trang 4

2.2.6 Kết hợp với phó từ - 57

2.2.7 Kết hợp với trợ từ - 58

2.2.8 Hình thức lặp của động từ chỉ hướng - 59

2.2.9 Động từ chỉ hướng trong các ngữ cố định - 61

2.3 Đặc điểm chức năng ngữ pháp của động từ chỉ hướng - 65

2.3.1 Là một bộ phận của đoản ngữ - 65

2.2.2 Là thành phần câu - 69

2.3.3 Là câu độc lập - 69

CHƯƠNG 3: MIÊU TẢ CÁC ĐỘNG TỪ CHỈ HƯỚNG TIẾNG HÁN VỚI VAI TRÒ LÀ TỪ PHỤ TRONG CÂU - 72

3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa - 74

3.1.1 Nghĩa chỉ hướng - 75

3.1.2 Nghĩa kết quả - 81

3.1.3 Nghĩa trạng thái - 91

3.2 Đặc điểm kết hợp của từ chỉ hướng - 99

3.2.1 Kết hợp với danh từ - 99

3.2.2 Kết hợp với động từ - 100

3.2.3 Kết hợp với tính từ - 105

3.2.4 Khi xuất hiện trong các ngữ cố định (cụm từ, thành ngữ, tục ngữ) - 105 3.3 Đặc điểm chức năng cú pháp của từ chỉ hướng - 107

3.3.1 Làm bổ ngữ - 108

3.3.2 Là trạng ngữ - 111

PHẦN BA: KẾT LUẬN - 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 117

PHỤ LỤC - 123

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Có thể nói rằng nhận thức chung về hướng của các dân tộc trên thế giới

cơ bản là giống nhau Trong ngôn ngữ của các nước đều có các từ chỉ hướng của bầu trời và trái đất như Đông, Tây, Nam, Bắc, các từ ngữ biểu thị hướng

ở trạng thái tĩnh như: trên, dưới, trong, ngoài … cũng như các hướng di chuyển chung trong không gian như ra, vào, lên, xuống, … Tuy nhiên, đi vào những biểu hiện cụ thể liên quan đến các hoạt động di chuyển trong phạm vi địa lý của mỗi dân tộc và mỗi khu vực, cũng như cách thức biểu thị hướng cho các hoạt động di chuyển thì giữa các dân tộc lại có những cách nhìn nhận

và phản ánh khác nhau Những nhân tố về địa lý, lịch sử, xã hội … có những ảnh hưởng rất lớn và để lại những dấu ấn khá đậm trong cách sử dụng các từ chỉ hướng của nhiều dân tộc Tuy nhiên ngoài những tác động khách quan của xã hội, bản thân các ngôn ngữ đều có những quy luật riêng trong việc tổ chức các đơn vị để điều chỉnh cấu trúc nội bộ của mình và phản ánh tư duy

về hướng theo kiểu của dân tộc mình Luận văn của chúng tôi tập trung vào nghiên cứu việc sử dụng các động từ chuyển động có hướng, các cách thức biểu hiện ý nghĩa hướng trong tiếng Hán so sánh với tiếng Việt để thấy được những đặc thù riêng của mỗi dân tộc trong vấn đề này như thế nào

Để định hướng trong không gian, các ngôn ngữ trên thế giới dùng rất nhiều phương tiện biểu đạt Một trong những phương tiện biểu đạt sự định hướng không gian trong tiếng Hán là động từ chỉ hướng Đây cũng là nhóm

từ được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ đặc biệt là trong một số ngôn ngữ đơn lập không biến hình của khu vực Đông Nam Á như tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Khmer, để biểu thị phương hướng của hành động

Trang 6

Là một giáo viên dạy ngoại ngữ (dạy tiếng Hán cho người Việt và tiếng Việt cho người nước ngoài - đặc biệt là người Trung Quốc) tôi thấy các động từ chỉ hướng này được dùng rất cơ động và xuất hiện với tần số rất cao (cả trong văn nói lẫn văn viết) Mặt khác, hình thức và ý nghĩa của các cấu trúc này vô cùng phức tạp, khiến người học gặp rất nhiều khó khăn khi sử dụng Trong quá trình giảng dạy tôi nhận ra rằng việc hiểu biết sâu hơn về ý nghĩa cũng như cách thức sử dụng những động từ thuộc nhóm này một cách chính xác là rất cần thiết cho sinh viên để họ có thể vận dụng dễ dàng khi nói cũng như khi viết

Chính vì những lý do trên mà tôi đã chọn đề tài này làm đề tài luận văn cao học của mình để có thể nói rõ được đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của chúng một cách đầy đủ Ở một chừng mực nào đó có thể tiến hành so sánh các vấn đề liên quan của tiếng Hán và tiếng Việt, từ đó có thể phân tích lỗi dùng sai động từ chỉ hướng của người nước ngoài khi học tiếng Việt

Ngoài những mục tiêu đó, chúng tôi hy vọng đề tài mình lựa chọn đi vào những khía cạnh mới và có những đóng góp lý luận thực tiễn ở phạm vi liên quan nhất là khi tiếng Việt được nhiều người Trung Quốc học và sử dụng như hiện nay

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Tên đề tài cho thấy chỉ có những động từ có ý nghĩa chỉ hướng của hành động như 来(lái)-đến,去(qù)-đi, 上(shàng)-lên, 下(xìa)-xuống, 进(jìn)-vào,出(chu)-ra, 回(húi)-về, 过(guò)-qua/sang, 起(qi)-lên, 开(kai)-ra, 到 (dào)-đến, 上来(shàng lái), 上去(shàng qù), 下来(xià lái), 下去 (xià qù), 进来 (jìn lái), 进去 (jìn qù), 出来 (chu lái),出去 (chu qù),回来 (húi lái),回去 (húi qù),过来 (guò lái),过去 (guò qù),起来 (qi lái),到…来 (dào lái),到…去 (dào qù), 来到 (lái

Trang 7

dào) trong tiếng Hán và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt như: ra,

vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đi, đến, tới … mới là đối tượng nghiên

cứu Trong tiếng Việt còn có rất nhiều từ đồng âm với những động từ chỉ

hướng trên nhưng không biểu thị hướng của hành động như “đi” trong ăn

đi , những từ này không nằm trong phần nghiên cứu của tôi Với phạm vi

nghiên cứu của luận văn, tôi chỉ xin đề cập đến ý nghĩa gốc và ý nghĩa chuyển dịch của các động từ này cũng như một số cách dùng cố định đặc thù

3 Mục đích và nội dung nghiên cứu

Luận văn được thực hiện với mục đích khai thác tìm hiểu những động

từ chỉ hướng vận động, phân tích các mối quan hệ giữa các thành tố của kết cấu để đi đến nhận xét chung Từ đó tìm hiểu nghĩa của các động từ chỉ hướng để thấy được những nét đặc trưng văn hoá, tư duy của người Trung Quốc Chúng tôi khai thác triệt để những khía cạnh ngữ nghĩa của động từ chỉ hướng để sử dụng một cách hiệu quả trong giao tiếp, hiểu đúng và biết cách dùng chính xác trong văn bản viết cũng như trong giao tiếp tiếng Việt, một ngôn ngữ đang được nhiều người nước ngoài học và sử dụng

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi tiến hành thống kê, tập hợp tư liệu từ hai tác phẩm văn học của hai nhà văn nổi tiếng: AQ chính truyện của

Lỗ Tấn, Tường Lạc Đà của Lão Xá và bản dịch tiếng Việt của hai tác phẩm này Đây là hai tác phẩm được nhiều độc giả biết đến, đặc biệt là chúng được giảng dạy trong các trường học cho người theo học tiếng Hán Sau khi tập hợp tạm đủ, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích về đặc điểm ngữ nghĩa , đặc điểm kết hợp và cấu trúc ngữ pháp của nhóm từ này

Kết cấu, ngữ nghĩa của động từ chỉ hướng trong tiếng Hán và hình thức tương ứng trong tiếng Việt có nhiều điểm không giống nhau, có những điểm đan xen với nhau, cho nên khi sử dụng đôi khi người học thấy khó khăn Mục

Trang 8

hướng trong tiếng Hán với các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt; tìm hiểu các nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ này đồng thời xem xét cách chuyển dịch các từ chỉ hướng từ tiếng Hán sang tiếng Việt để vận dụng vào việc dạy tiếng Trung cho sinh viên Việt Nam Nắm vững cách dùng động

từ chỉ hướng là một việc rất quan trọng đối với những người làm công việc giảng dạy ngoại ngữ Chúng tôi cần phải hiểu rõ những khó khăn mà người học thường mắc phải, giúp họ tự tin hơn khi gặp phải các trường hợp đặc biệt

4 Phương pháp nghiên cứu

Từ việc phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm kết hợp và chức năng ngữ pháp của các động từ chỉ hướng, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để lấy tư liệu về từ chỉ hướng trong tiếng Việt từ hai tác phẩm văn học

Như vậy ngoài các phương pháp luận chung là quy nạp, luận văn đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thường gặp trong ngôn ngữ học như: phương pháp miêu tả (thao tác phân tích cấu trúc, thao tác phân tích ngữ nghĩa, thao tác thống kê), so sánh đối chiếu… Cùng với việc quan sát cách sử dụng từ chỉ hướng trong giao tiếp cũng như trong sách báo hàng ngày, chúng tôi tập hợp tư liệu chủ yếu từ hai tác phẩm văn học của hai nhà văn nổi tiếng:

AQ chính truyện của Lỗ Tấn, Tường Lạc Đà của Lão Xá và bản dịch tiếng Việt Ngoài ra luận văn cũng sử dụng một số tư liệu được lấy từ các giáo trình, các sách ngữ pháp, từ những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước …

Từ hai tác phẩm tiếng Trung và hai bản dịch tiếng Việt nói trên, chúng tôi đã tiến hành thống kê phân loại ra được 3700 phiếu Mỗi phiếu là một câu

có chứa ít nhất một động từ chỉ hướng Trong 3700 phiếu tư liệu, chúng tôi lấy ra khoảng 330 phiếu điển hình để đưa vào luận văn Hơn 330 phiếu này là

Trang 9

330 câu có những đặc điểm mà luận văn đã đề cập đến trong chương hai và chương ba Chúng tôi phân loại các câu này thành hai loại lớn như luận văn

đã khảo sát: Động từ chỉ hướng với vai trò là chính tố và phụ tố Từ hai loại trên, các động từ chỉ hướng này cũng được chia tiếp thành các loại nhỏ hơn

theo đúng như nội dung luận văn đã tiến hành phân loại khảo sát

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn được chia làm

ba chương chính như sau:

Chương 1: Lịch sử vấn đề và cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài

Chương 2: Miêu tả các động từ chỉ hướng tiếng Hán với vai trò là động từ

chính trong câu (so sánh với tiếng Việt)

Chương 3: Miêu tả các động từ chỉ hướng tiếng Hán với vai trò là từ phụ

trong câu (so sánh với tiếng Việt)

Trang 10

từ biểu thị phương hướng của chuyển động Thuật ngữ này được giới nghiên cứu ngôn ngữ học thế giới quan tâm Nhóm động từ này là một trong những công cụ từ vựng biểu đạt quan hệ không gian rất hữu hiệu đặc biệt trong tiếng Hán và tiếng Việt – hai ngôn ngữ có cùng loại hình với nhau Trước khi đi sâu phân tích đặc trưng của hệ thống từ loại này chúng ta sẽ tìm hiểu các thành tựu nghiên cứu có liên quan của các nhà Hán ngữ học, Việt ngữ học

1 Tình hình nghiên cứu về động từ chỉ hướng trong tiếng Hán

Cho đến nay, hầu như các sách ngữ pháp, sách giáo khoa đều gọi các từ biểu thị hướng như 来 (lái) - đến,去 (qù) - đi , 上 (shàng) - lên,下 (xìa) - xuống,进 (jìn) - vào, 出 (chu) - ra, 回 (húi) - về, 过 (guò) - qua/sang, 起 (qi) - lên, 开 (kai) - ra, 到 (dào) - đến,

上来 (shànglái),上去 (shàng qù), 下来 (xià lái), 下去 (xià qù), 进来 (jìn lái), 进去 (jìn qù), 出来(chu lái),出去(chu qù),回来(húi lái),回去 (húi qù),过来 (guò lái),过去 (guò qù),起来 (qi lái),到…来 (dào lái),到… 去 (dào qù), 来到 (lái dào) trong tiếng Hán là động từ chỉ hướng, đồng thời coi chúng như một tiểu loại hay một loại phụ của động từ Động từ chỉ hướng là một từ loại khá đặc thù trong tiếng Hán vì thế nó gây được nhiều sự chú ý của các nhà Hán ngữ học Trong hệ thống từ loại tiếng Hán từ chỉ hướng là loại động từ có tần số xuất hiện khá cao, ngoài những đặc điểm cơ bản của động từ, chúng cũng có những cá tính riêng của mình, những

Trang 11

loại từ này số lượng có hạn Theo các nghiên cứu của các học giả ngữ pháp Hán ngữ như Lục Kiệm Minh [39], Lưu Nguyệt Hoa [37] và một số học giả khác thì động từ chỉ hướng trong tiếng Hán có tổng cộng là 24 từ, đại thể phân thành các nhóm sau:

là một loại từ đặc biệt, được sử dụng rộng rãi, ngữ pháp khá phức tạp Có động từ chỉ hướng đơn âm tiết như ở nhóm 1, nhóm 2; hoặc song âm tiết như

ở nhóm 3 Nhóm 3 bao gồm các từ được tạo thành từ sự kết hợp của nhóm 1

và nhóm 2

Khi nghiên cứu về ý nghĩa của bổ ngữ chỉ hướng, rất nhiều học giả đều nhất trí về ý nghĩa chỉ hướng của động từ chỉ hướng đặt sau động từ chính làm bổ ngữ Trong [34], Đinh Thanh Thụ nhấn mạnh: trong các loại hình ý nghĩa của bổ ngữ, động từ chỉ hướng đảm nhiệm thành phần đứng sau trung tâm, chỉ phương hướng, bổ sung và nói rõ sự biến hóa của hành vi động tác hay trạng thái

Trong nghiên cứu của mình, Lưu Nguyệt Hoa [37] có chỉ ra rằng từ chỉ hướng trong cấu trúc động bổ có ba ý nghĩa ngữ pháp Đó là nghĩa không gian, nghĩa kết quả, và nghĩa trạng thái, đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra tiêu chí về mặt hình thức ngữ pháp để phân biệt loại ý nghĩa này Một số nhà nghiên cứu khác đã quy nạp được bảy loại nghĩa của bổ ngữ chỉ hướng và đặc điểm hình thức ngữ pháp của đoản ngữ chỉ hướng

Trang 12

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu miêu tả và giải thích rất tỉ mỉ cặn kẽ cấu trúc ĐT +TCH Lã Thúc Tương [36] đã đề cập đến cấu trúc từ chỉ hướng đi sau động từ, miêu tả cấu trúc này từ phương diện phân bố

Trong các nghiên cứu về động từ chỉ hướng ở vị trí sau động từ, rất nhiều học giả nhất trí về ý nghĩa chỉ hướng của động từ nhưng quan điểm về

ý nghĩa ngoài nghĩa chỉ hướng lại rất khác nhau Những từ nói trên không phải lúc nào cũng biểu thị nghĩa phương hướng, có lúc nghĩa của chúng tương đối thực, tự do và linh hoạt, có lúc lại nửa thực nửa hư, kết chặt và định vị, dường như ở giữa hai loại

Trần Mạo Lai [44] đã chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng này đồng thời cũng chỉ ra phương pháp nghiên cứu động từ chỉ hướng Trần Mạo Lai cho rằng hướng của động từ chỉ hướng ở vị trí này xét về mặt ý nghĩa có ít nhất 3 loại nghĩa: nghĩa phương hướng không gian, nghĩa kết quả và nghĩa động thái Lưu Nguyệt Hoa [37] cũng đã chỉ ra tiêu chí về mặt hình thức ngữ pháp

để phân biệt 3 loại ý nghĩa: nghĩa phương hướng, nghĩa kết quả và nghĩa trạng thái này

Theo các nhà Hán ngữ học thì nghĩa của động từ chỉ hướng ở vị trí bổ ngữ là vô cùng phức tạp, ngoài nghĩa cơ bản (nghĩa chỉ hướng) ra, đều là nghĩa đã bị hư hoá từ nghĩa gốc, thậm chí mức độ chênh lệch khá nhiều, khó

mà nắm vững được Bên cạnh đó, tiếng Hán thiếu sự biến hoá hình thái, sử dụng cùng một hình thức để biểu thị ý nghĩa khác nhau, vì thế rất khó lấy tiêu chuẩn hình thức đơn giản mà có hiệu quả để phân biệt ý nghĩa của những từ này Vì vậy, việc xuất hiện các ý kiến khác nhau trong nghiên cứu về ý nghĩa của động từ chỉ hướng là điều khó tránh khỏi

Cũng có nhà nghiên cứu đã phân ra động từ chỉ hướng ở vị trí bổ ngữ

có bổ ngữ chỉ hướng đơn và bổ ngữ chỉ hướng phức, trong đó bổ ngữ chỉ hướng phức ngoài việc là các bổ ngữ chỉ phương hướng ra còn là các bổ ngữ

Trang 13

chỉ hướng đã chuyển nghĩa Động từ chỉ hướng ở vị trí này như qỉ lái (起来), xià lái (下来), xià qù (下去) … cũng có thể dùng sau tính từ

Đến giai đoạn sau, giai đoạn từ những năm 80 đến nay, dưới ánh sáng của lý luận ngữ dụng học, ngôn ngữ học tri nhận, giới nghiên cứu Hán ngữ học bắt đầu chú ý tới đặc trưng ngữ dụng của từ chỉ hướng và mối quan hệ

giữa nhóm từ này với “điểm quy chiếu”, tìm hiểu đặc trưng ngữ dụng và tri

nhận không gian của cấu trúc hướng Họ đã tìm hiểu đặc điểm hệ thống quy

chiếu không gian trong tiếng Hán Khái niệm “điểm quy chiếu” đã được đưa

vào các nghiên cứu về động từ chỉ hướng

Nhiều nhà Hán ngữ học đã có quan điểm rất mới về nghiên cứu nhân

tố qui định vị trí của bổ ngữ chỉ hướng ở vị trí sau động từ chính nhìn từ góc

độ cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng

Các nghiên cứu mang tính ứng dụng có thể kể đến như : Lý Thúc Giang trong quá trình dạy động từ chỉ hướng cho sinh viên người Mỹ đã quy nạp lỗi trên 4 phương diện Ngô Lệ Quân Đẳng phân tích lỗi động từ chỉ hướng của sinh viên Nhật Bản Dương Đức Phong đã phát hiện từ một số sinh viên Hàn Quốc khi dùng câu có động từ chỉ hướng làm bổ ngữ Các tác giả này chủ yếu xuất phát từ tình hình sử dụng trong thực tế của các lưu học

Trang 14

chính xác, so sánh các động từ chỉ hướng có sự giao thoa về mặt ý nghĩa hoặc hiện tượng bất cân xứng trong sử dụng các cặp từ chỉ hướng trái nghĩa có tần

số sử dụng cao, từ đó rút ra đặc điểm ý nghĩa, đặc trưng ngữ pháp của các từ chỉ hướng, những đặc điểm cần chú ý trong dạy và học động từ chỉ hướng

Trên thực tế các nghiên cứu trên mới chỉ tập trung mô tả đặc trưng cú pháp, ngữ nghĩa của một số động từ chỉ hướng có tần số sử dụng cao chứ chưa chỉ ra mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ chỉ hướng trong hệ thống Các nghiên cứu theo hướng ứng dụng mới bước đầu tìm hiểu sự khác biệt giữa một số động từ chỉ hướng tiếng Hán với các động từ chỉ hướng trong các ngôn ngữ Ấn Âu – những ngôn ngữ không cùng loại hình với tiếng Hán

Tuy nhiên có thể thấy được nghiên cứu trên đã khẳng định vị trí đặc thù và quan trọng của động từ chỉ hướng vận động trong hệ thống từ loại tiếng Hán

2 Tình hình nghiên cứu về động từ chỉ hướng trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt có một nhóm từ được gọi là nhóm từ biểu thị sự dời

chỗ có hướng, gồm : ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đi, đến, tới …

Những từ này có thể hoạt động độc lập với tư cách là động từ trong các phát

ngôn kiểu : Tôi vào vườn ; Mẹ lên gác ; Mai xuống tầng một … Chúng cũng

có thể kết hợp với các tính từ hay động từ khác làm thành tổ hợp kiểu : Tôi

đi ra vườn ; Nam mang xe vào ; Anh ấy trắng ra …

Từ lâu các nhà Việt ngữ học cũng đã rất quan tâm đến nhóm từ chỉ hướng trong tiếng Việt Các công trình nghiên cứu tập trung theo hai hướng :

nhóm từ biểu thị quan hệ không gian trạng thái tĩnh : trước, sau, trên, dưới …

và nhóm từ biểu thị quan hệ không gian trạng thái động : nhóm từ chỉ hướng vận động – Nguyễn Lai [12] Nhóm động từ chỉ hướng vận động là những từ dùng để biểu thị không gian trạng thái động

Trang 15

Về các nghiên cứu liên quan đến nhóm từ này, các nhà Việt ngữ học quan tâm tập trung thảo luận các vấn đề: xác định từ loại (có nhiều quan điểm khác nhau), mô tả đặc điểm ngữ pháp và chức vụ cú pháp, mô tả đặc điểm ngữ nghĩa (không gian - Nguyễn Minh Thuyết, thời gian - Nguyễn Kim Thản), và tâm lý (Nguyễn Lai) và tiếp cận một số nhóm động từ chỉ hướng từ góc độ tri nhận và ngữ dụng Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Nguyễn Lai, Đinh Văn Đức, Nguyễn Anh Quế, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Kim Thản, Lý Toàn Thắng, Nguyễn Thị Quy…

Trong [6] Đinh Văn Đức có chỉ ra rằng trong tiếng Việt, các động từ với ý nghĩa chuyển động có số lượng khá phong phú Ngoài các động từ chỉ

các dạng khác nhau của chuyển động như đi, chạy, bay, bò, leo, trượt, lướt …

còn có một nhóm các động từ chuyển động có ngữ nghĩa khá đặc biệt Đó là

các động từ chuyển động bao hàm hướng chuyển động như ra, vào, lên,

xuống, sang, qua, lại, tới, đến, về … Ví dụ : Tôi đi Hà Nội ; Nó lên tầng hai ;

Tôi về nhà … Các động từ thuộc nhóm này có đầy đủ chức năng của động từ

Nhưng chính ngay những từ này trong nhiều trường hợp khác đã không còn

là động từ chuyển động nữa : chúng trở thành từ phụ chỉ hướng của động từ -

tức làm thành tố phụ cho trung tâm động ngữ : chạy ra, nhìn vào, đi lên, kéo

về …, hoặc trở thành từ nối (có tính chất của một giới từ) Ví dụ : nghĩ đến,

nói về, nhớ ra, bàn tới, … Tác giả có chỉ ra rằng ở phần cuối động ngữ : các

từ phụ với ý nghĩa chung chỉ hướng : ra, vào, … khi đứng sau động từ có đặc điểm ngữ pháp khá đa dạng, ví dụ từ “ đến” đóng vai trò một từ phụ chỉ hướng (bò đến, đi đến ) hoặc chỉ kết quả (nói đến, nghĩ đến …) Khi “đến”

đứng sau động từ nhưng tiếp theo đó là một danh từ (ĐT + đến +DT) thì

“đến” giống như một giới từ Các từ phụ chỉ hướng khác cũng có một tình hình chung trên đại thể như vậy nhưng đi vào cụ thể từng từ thì đặc điểm ngữ pháp cũng mang những sắc thái khác nhau

Trang 16

Nguyễn Kim Thản [11] nhận thấy, những động từ này quả là rất giống

những động từ có ý nghĩa trừu tượng như làm lụng, yêu thương Nhưng

đứng về mặt cấu tạo, chúng có những đặc điểm khác Chúng là những từ biểu thị vận động có phương hướng xác định hay nói cách khác, tự thân nó đã bao hàm ý nghĩa về phương hướng rồi Ông gọi những từ này là động từ phương hướng vận động khi chúng đảm nhận chức năng động từ chính và gọi là trợ động từ khi chúng ở vị trí sau động từ Cũng như một số tác giả khác, Nguyễn Kim Thản cũng đã giải thích được sắc thái ý nghĩa một số từ chỉ hướng bằng nguyên nhân lịch sử xã hội của dân tộc Việt Nam Ông cũng nhấn mạnh rằng những từ này khi đặt sau động từ khác thì mất đi đặc điểm

cơ bản về hình thức ngữ pháp của động từ, đã giảm sút ý nghĩa từ vựng ban đầu, thậm chí mất hẳn nghĩa

N.S.Bystrov [19] gọi những động từ trong nhóm này là động từ phương hướng chuyển động và trợ động từ Các nghiên cứu của Bystrov tập trung vào các thành phần đi sau động từ chỉ hướng và vị trí của các thành phần này trong đoản ngữ chỉ hướng Ngoài ra, tác giả còn đề xuất hướng phân loại thành nhóm nhỏ những động từ có thể kết hợp với động từ chỉ hướng Tương tự như Bystrov, Dương Thanh Bình cũng có những nghiên cứu tương tự liên quan đến các từ loại đứng sau động từ chỉ hướng

Trong các nghiên cứu của mình, Nguyễn Tài Cẩn [17] có cái nhìn từ góc độ quan hệ từ, qua đó nêu lên khá đầy đủ tính chất phức tạp của từ chỉ hướng ở vị trí này Quan điểm này của ông cũng được nhiều học giả ủng hộ

Cũng như Phan Ngọc, L.Cadiere [8] chú ý đến khả năng kết hợp với danh từ phía sau các động từ chỉ hướng, ông không gọi những động từ chỉ hướng là từ trống, ông đã chứng minh rằng có những trường hợp ở vị trí ấy nhưng động từ chỉ hướng hoàn toàn không hư, không trống hay không hao mòn nghĩa Ngoài ra, ông còn dùng phương thức xen yếu tố phủ định vào

Trang 17

giữa động từ chính và từ chỉ hướng sau động từ chính để xét mối quan hệ giữa hai yếu tố về mặt nghĩa

Nguyễn Thị Quy [16] đã liệt các động từ chỉ hướng vận động vào một trong những loại vị từ thông dụng nhất trong tiếng Việt Tác giả đã sử dụng phương pháp ngữ pháp chức năng để giải thích đặc trưng ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp của các từ chỉ hướng

Từ chỉ hướng ra đời là kết quả của quá trình nhận thức về những trạng thái vận động di chuyển; trong đó đích không gian mà chủ thể di động đang hướng tới, luôn luôn nằm trong thế đối ứng với điểm xuất phát Ở đây cần nhấn mạnh rằng, nếu chủ thể vận động không có ý niệm về mối tương quan

kích thước không gian (cao-thấp, trên-dưới, rộng-hẹp, trong-ngoài) thì thiếu tiền đề làm định hình ý niệm “lên, xuống, ra, vào” và ngược lại nếu chỉ ý

thức được sự đối ứng kích thước không gian mà không ý thức được trạng thái vận động di chuyển thì cũng thiếu tiền đề cho ra, vào, lên, xuống định hình

Trong tiếng Việt và những ngôn ngữ có cùng loại hình như tiếng Hán,

ý niệm hướng vận động trên được định hình gắn liền với dấu hiệu hình thái hoàn chỉnh Nó có thể dùng tương tự yếu tố phụ gia, đồng thời vừa được dùng độc lập, với vai trò hạt nhân, trong các kết cấu biểu hiện sự vận động

không gian (ví dụ “vào” trong “nó vào nhà” và “vào” trong “nó chạy vào”)

Có mối tương quan chặt chẽ giữa các phạm trù chuyển động – hướng –

đích Ba yếu tố này không tồn tại tự thân hoặc tách rời; trái lại, chúng liên

quan đến nhau mật thiết và gắn chặt với hoạt động thực tiễn của con người, nhất là trong hoạt động không gian Và đặc biệt khi có đích thì hầu như phạm trù hướng trở thành một phạm trù trung gian không thể thiếu

Nguyễn Lai [12] chỉ ra rằng: “Từ chỉ hướng hình thành từ tiền đề nhận thức về tính đối ứng của quá trình vận động, thông qua sự so sánh tương đối

Trang 18

lý này đã tạo ra tính cơ động cho quá trình chuyển hóa nghĩa giữa các phạm trù đối với chủ thể sáng tạo ngôn ngữ Chính đặc điểm bao quát gắn với chiều sâu của tiền đề nhận thức vừa nêu, là cơ sở tạo cho nhóm từ này nhiều sắc thái tinh tế trong quá trình phát triển và chuyển hóa nghĩa Trên bình diện đồng đại, ta có thể quy thành ba hướng đối ứng thuộc ba phạm trù nghĩa có

phẩm chất khác nhau: phạm trù không gian, phạm trù thời gian và phạm trù

tâm lý Ví dụ: nó chạy ra đường (di chuyển từ không gian hẹp đến rộng thuộc

phạm trù không gian); Nó tìm ra đáp số (thông báo kết quả gắn với phạm trù thời gian); Nó đẹp ra (bình phẩm theo sắc thái tâm lý) ”

Như vậy, không có một dạng chuyển hóa nào đưa đến hiện tượng mất nghĩa để một từ nào đó trở thành “hư” và “trống” như một số tác giả quan niệm Mà thực chất ở đây là vấn đề chuyển hóa nghĩa, từ nghĩa gốc (không gian – với từ chỉ hướng vận động) sang những sắc thái khác Và sự biến động

về mặt từ vựng ngữ nghĩa luôn lấy quá trình phát triển nhận thức làm tiền đề này có liên quan trực tiếp đến các cấp độ tự điều chỉnh của bản thân ngôn ngữ, nhưng không phải với hệ thống đóng kín mà là với hệ thống mở trong sự vận động giữa chức năng và hình thái

Nguyễn Lai [12] đã khẳng định, tùy từng động từ chính khác nhau mà

hướng của hoạt động bị trừu tượng hóa dần, (mang về - nói về - nghĩ về) Qua

quá trình phân tích, ngược lại với những người đi trước, tác giả đặt vấn đề: phải chăng từ chỉ hướng ngoài phạm vi động từ (X) mới là nguồn gốc của X khi hoạt động độc lập ở dạng động từ Khi tìm hiểu khả năng kết hợp của các

từ X với nhau, Nguyễn Lai đã dựa vào tiêu chí “hướng” của chuyển động để phân nhóm từ này thành các nhóm nhỏ

Còn với các tổ hợp mang tính chất cố định tương đối rõ như: Ít ra, thật

ra, thành ra, đúng ra, nói lên, nêu lên … Vũ Thế Thạch [27] cho rằng các

động từ chỉ hướng như ra, lên … trong tổ hợp này bị hư hóa đến mức khó có

thể nhận ra nghĩa của chúng trong tổ hợp Tác giả thấy rõ nghĩa của các từ chỉ

Trang 19

hướng được khái quát hóa, trừu tượng hóa tùy thuộc vào đặc điểm ngữ nghĩa của động từ chính trước nó Sự trừu tượng hóa nghĩa của nó có thể dẫn tới sự biến đổi nghĩa của chúng thậm chí còn dẫn đến sự chuyển hóa từ loại của chúng, song cấu trúc nghĩa của chúng vẫn không thay đổi

Có thể thấy việc xác định đặc điểm ngữ nghĩa của các từ chỉ hướng

trong tiếng Việt không hề đơn giản Ví dụ: nó chạy ra đường và nó chạy ra

tiền Các nhà ngôn ngữ học gọi đây là hiện tượng chuyển di từ loại Đó là hiện tượng một từ khi thì được dùng với ý nghĩa này, khi thì được dùng với ý nghĩa khác (Diệp Quang Ban [1]) Đây là hiện tượng phổ biến trong nhiều ngôn ngữ

Ở người Việt, bên cạnh cách định vị khách quan, còn phổ biển cách định vị có tính chủ quan (dựa vào mối quan hệ không gian giữa đối tượng định vị và bản thân người nói hoặc người nghe)… Chính cách thức chủ quan này đã định ra tập quán sử dụng những kết cấu như: trên trời, dưới đất, trên bến, dưới thuyền, vào Nam ra Bắc, trong nhà, ngoài sân, trong bụng, ngoài mặt … Theo Dương Kỳ Đức, ở người Việt đã hình thành một động hình văn hóa nhạy cảm với sự cao thấp trong không gian là môi trường sống của cộng đồng Giáo sư thừa nhận rằng mọi dân tộc người đều có thể nhận ra sự khác biệt “cao”, “thấp” đó, sự khác nhau là ở chỗ chúng được phản ánh vào ngôn ngữ như thế nào Như vậy tuy cách nhìn nhận của Nguyễn Lai và Dương Kỳ Đức theo hai hướng khác nhau - di chuyển từ rộng đến hẹp, nguyên lý

“trong”, “ngoài”nhưng điều chung nhất mà các tác giả có thể nêu ra là cách chia cắt không gian của người Việt khác xa đối với người Mỹ và Anh Lý do khác biệt bắt nguồn từ điều kiện sống và vốn sống, tất nhiên phải kể đến cách tri nhận không gian và thời gian và cả phương thức tư duy đã hằn sâu trong tâm thức của các thành viên trong những cộng đồng này Nói một cách khác, cội nguồn của sự khác biệt chính là những không gian tương đồng trong các

Trang 20

3 Động từ chỉ hướng nhìn từ góc độ ngôn ngữ tri nhận

Ngôn ngữ học tri nhận là một trào lưu mới mẻ còn rất non trẻ và đang rất thịnh hành của ngôn ngữ học hiện đại trên phạm vi thế giới Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó (Lý Toàn Thắng [7])

Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hóa – bản ngữ đó, thường gọi

là “bức tranh thế giới” Những mô hình đó ngoài cái chung, cái phổ quát còn

có cái riêng cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy

Trong nhiều công trình nghiên cứu về tri nhận không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt, các học giả đã đặt ngôn ngữ trong mối quan hệ chặt chẽ với con người và thế giới của nó Các tác giả đã tập trung đi sâu vào sự tri nhận không gian của con người như : nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, khảo sát những đặc trưng bản sắc dân tộc của mô hình thế giới trên ngữ liệu về cách tri nhận không gian của cộng đồng bản ngữ

Đây là cơ sở để chúng ta tìm hiểu sự khác biệt về tri nhận không gian hoặc nói một cách cụ thể hơn là sự lựa chọn chiến lược định vị định hướng không gian của người Hán và người Việt

Về chức năng ngữ pháp và chức năng biểu đạt cơ bản của những từ này, nhiều nhà nghiên cứu đi trước đã miêu tả tương đối khái quát tường tận Các động từ chỉ hướng ngoài việc có thể biểu đạt phương hướng cụ thể của hành động còn có thể biểu đạt mối quan hệ về thời gian, vì nhận thức của con

Trang 21

người về quan hệ không gian và về thời gian tồn tại một cơ sở nhận thức giống nhau

Có thể thấy ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến vấn đề động

từ chỉ hướng trong hệ thống biểu đạt các quan hệ không gian dưới ánh sáng của lý luận ngôn ngữ học tri nhận Các công trình nghiên cứu đó phải kể đến nghiên cứu của Lý Toàn Thắng [7]

Thực vậy, quan hệ không gian là một loại quan hệ tồn tại cơ bản trong thế giới khách quan Cho dù trong ngôn ngữ nào cũng đều không tranh khỏi vấn đề biểu đạt có liên quan đến quan hệ không gian Nhưng nhận thức về quan hệ không gian, khái niệm không gian như thế nào, thiết lập mối quan hệ giải mã ngôn ngữ như thế nào? Các ngôn ngữ khác nhau có những thủ pháp không giống nhau để biểu đạt

Về vấn đề tri nhận điểm tham chiếu, đặc biệt là vấn đề liên quan đến điểm tham chiếu của động từ chỉ hướng, Phương Kinh Dân đã từng có rất nhiều cuộc thảo luận khá chi tiết Điểm tham chiếu không gian và định vị không gian chủ yếu chỉ quan hệ vị trí giữa vị trí người tham gia và phương hướng không gian trong hoàn cảnh cụ thể Quan hệ vị trí này có liên quan đến cơ cấu cú pháp trong ngôn ngữ, quan trọng hơn là có liên quan đến sự sắp xếp của người nói với thông tin hội thoại Khi chúng ta biểu đạt quan hệ phương hướng không gian bằng ngôn ngữ, nếu đứng ở góc độ là người nói, trước hết ta phải xác định quan hệ vị trí cụ thể của CN hoặc BN hoặc điểm tham chiếu Ông cho rằng cú pháp và thông tin ngữ nghĩa có tác dụng rất lớn trong quá trình giải mã nhưng trong tiếng Hán biểu đồ tri nhận còn quan trọng hơn Việc giải thích một câu không phải là phân tích kết cấu trước, sau

đó phân tích ngữ nghĩa thì mới đạt được ý nghĩa của câu mà là phải thông qua biểu đồ tri nhận mới có thể đạt được ý nghĩa của câu một cách tổng hợp

Trang 22

Không gian trong ngôn ngữ là một khái niệm cụ thể, được biểu đạt trong ngôn ngữ của các từ chỉ không gian Dựa vào nguồn ngữ liệu này người

ta có thể phục chế được không gian tri nhận trong não con người… (trích Lý Toàn Thắng [7])

Như vậy trong ba yếu tố tạo nên quan niệm không gian trong ngôn ngữ

đã nói ở trên có thể thấy vị trí của người quan sát cũng rất quan trọng Đây có thể coi là yếu tố thứ tư trong cấu trúc tri nhận không gian của con người

Một trong những tiêu chí để phân loại các quan hệ không gian là khi biểu thị phương hướng của vật thể, ta có thể chia thành quan hệ không gian trạng thái động và quan hệ không gian trạng thái tĩnh Quan hệ không gian

mà các động từ chỉ hướng thể hiện là quan hệ không gian động Động từ chỉ hướng có tác dụng cụ thể hóa ý nghĩa phương hướng của vật thể được quan sát

Trong tiếng Việt việc biểu đạt các đặc trưng về phương hướng trong không gian phụ thuộc rất nhiều vào cách nhìn ngây thơ về không gian của người Việt và luôn có tính toán đến cái điều rằng : bản thân chủ thể tri nhận – con người là một thực thể vật chất, chiếm một vị trí nhất định trong không gian và có những thuộc tính không gian nhất định : độ choán, đại lượng, hình dáng

Nghiên cứu về từ chỉ hướng của những người đi trước đã đạt được không ít các thành tựu, từ sự quy thuộc tính chất của động từ chỉ hướng, đến việc miêu tả, phân tích về kết cấu, ý nghĩa của chúng đều rất chi tiết, tỉ mỉ Mặt khác, những nghiên cứu trước đây đã vận dụng rất nhiều lý luận ngữ pháp mới mẻ: phép đối chiếu, lý luận ngữ pháp hoá, lý luận ký hiệu, lý luận tri nhận Có thể nói, những thành quả nghiên cứu của những người đi trước

đã mang đến rất nhiều tư liệu tham khảo có giá trị cho những người đi sau nghiên cứu, đồng thời cũng cung cấp thêm rất nhiều gợi ý có ích cho nghiên cứu của thế hệ đi sau chúng tôi

Trang 23

Tuy vậy, các nghiên cứu về một số động từ chỉ hướng có tần số xuất hiện thấp và chưa được chú ý tập trung Phần lớn các nghiên cứu trước chủ yếu nhấn mạnh vào các từ chỉ hướng ở vị trí động từ chính và vị trí sau động

từ chính chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu từ chỉ hướng ở vị trí sau tính từ

Tiếng Hán và tiếng Việt tuy không cùng nguồn gốc nhưng xét về loại hình ngôn ngữ chúng đều có đặc điểm chung là ngôn ngữ đơn lập phân tích tính Vì thế có khá nhiều đặc điểm tương đồng giữa hai ngôn ngữ này cả ở bình diện từ vựng lẫn ngữ pháp song cũng tồn tại nhiều mặt dị biệt giữa hai ngôn ngữ cùng loại hình này Phần lớn các nhà Hán ngữ học và Việt ngữ học thường tập trung nhiều vào so sánh đối chiếu nhóm từ chỉ hướng này với các ngôn ngữ không cùng loại hình như các ngôn ngữ Ấn – Âu (Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Đức …) Đây cũng là một hạn chế cho nghiên cứu của chúng tôi về nguồn tài liệu Tôi cho rằng, một trong những mục đích của các học giả nghiên cứu so sánh đối chiếu ngữ pháp tiếng Hán hiện đại với ngôn ngữ khác

là hy vọng muốn thúc đẩy việc giảng dạy tiếng Hán Song, những nghiên cứu

đi trước còn xem thường tính thực dụng của việc giảng dạy Vì vậy, luận văn này lấy nghiên cứu đi trước làm nền tảng cơ sở tiến hành nghiên cứu, miêu

tả, phân tích, so sánh sâu hơn về các động từ chỉ hướng, tìm ra sự khác biệt

cụ thể giữa chúng

Luận văn đi vào các vấn đề như: Các biểu hiện từ vựng ngữ pháp của động từ chỉ hướng tiếng Hán tương đương trong tiếng Việt và mô tả đặc điểm các biểu đạt này; những điểm giống nhau và khác nhau giữa động từ chỉ hướng tiếng Hán và tiếng Việt Từ đó tìm hiểu sự khác biệt về tri nhận không gian của người Hán và người Việt thể hiện trong ngữ nghĩa của các từ ngữ biểu thị phương hướng trong hai ngôn ngữ này Trên cơ sở đó tiến hành khảo sát thực nghiệm về tình hình chuyển dịch và những điểm cần chú ý trong quá trình chuyển dịch từ chỉ hướng tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt và ngược

Trang 24

hướng tiếng Hán với đối tượng là người Việt nói riêng Từ đó có thể mở rộng cho đối tượng là người nước ngoài nói chung

Dựa trên hai tác phẩm văn học tiếng Hán đã nêu chúng tôi đã thống kê được khoảng 3700 động từ chỉ hướng Xét theo đặc điểm cấu tạo, các từ này được chia thành 3 loại là từ chỉ hướng đơn, từ chỉ hướng kép và ngữ cố định Dưới đây chúng tôi tiến hành miêu tả đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của 3 loại từ chỉ hướng trên ở hai vị trí: là chính

tố và là yếu tố phụ cho động từ (so sánh với tiếng Việt)

Trang 25

CHƯƠNG 2 MIÊU TẢ CÁC ĐỘNG TỪ CHỈ HƯỚNG TIẾNG HÁN

VỚI VAI TRÒ LÀ ĐỘNG TỪ CHÍNH TRONG CÂU

(So sánh với tiếng Việt)

Trong tiếng Hán động từ chỉ hướng là một trong những loại động từ có tần số xuất hiện khá cao Các động từ chỉ hướng ngoài đặc điểm cơ bản của một động từ thường, đó là nêu đặc trưng thông tin cho chủ ngữ thì chúng cũng có nét đặc trưng riêng của mình vừa chỉ vận động vừa bao gồm nét nghĩa hướng Tuy vậy những động từ chỉ hướng này có số lượng giới hạn Tiếng Hán có khoảng gần 30 động từ chỉ hướng (đơn và phức) Để hiểu rõ hơn về động từ chỉ hướng trong tiếng Hán chúng tôi khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp của nhóm từ chỉ hướng bao gồm nhóm các từ chỉ hướng đơn và nhóm các từ chỉ hướng phức

2.1 Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của động từ chỉ hướng:

Có nhiều quan điểm phân nhóm các động từ chỉ hướng tiếng Hán nhưng phổ biến hơn cả là cách chia thành 3 tiểu loại dựa vào ngữ nghĩa Dưới đây chúng tôi sẽ miêu tả các nét nghĩa (không gian, thời gian, tâm lý) của các động từ chỉ hướng tiếng Hán so sánh với tiếng Việt theo 3 nhóm đã trình bày đồng thời cũng đưa ra các bản dịch tương ứng trong tiếng Việt Trong cả ba nhóm này chúng tôi tiến hành miêu tả các động từ chỉ hướng với các sắc thái nghĩa khác nhau Thứ nhất là nghĩa chỉ hướng không gian Nghĩa không gian

là nghĩa cơ bản, nghĩa gốc của động từ chỉ hướng Tiếp đó phải kể đến nghĩa thời gian, nghĩa trạng thái tâm lý, nghĩa chỉ mục đích … Các nét nghĩa này có thể xuất hiện ở động từ chỉ hướng này mà không có ở từ kia vì vậy khi đi vào miêu tả nghĩa của các động từ chỉ hướng, chúng tôi chỉ giới thiệu những nghĩa mà mỗi động từ chỉ hướng bao hàm

Trang 26

2.1.1 Nghĩa không gian

2.1.1.1 Nhóm 1: bao gồm hai động từ chỉ hướng đơn:

来(lái)-đến,去(qù)-đi

a, Hướng do (lái) biểu thị: có hướng chuyển động tới phía người nói, lấy

người nói làm trung tâm, biểu thị sự di chuyển đến điểm tiếp cận, từ xa tới

gần Trong tiếng Việt tương ứng với lái là đến

đích 来 (lái) điểm xuất phát Hướng của 来 (lái) : 

Ví dụ:

(3) 你来得正好 (Ni lái dé zheng hăo) Này, anh đến thật vừa khéo Trong ví dụ (3), hướng của chuyển động là hướng đến phía người nói

Trong 112 câu tiếng Hán có chứa từ 来 (lái) ở vị trí động từ chính

từ hai tác phẩm văn học thì có đến 43 câu từ 来 (lái) được chuyển dịch thành "đến", khoảng 10 câu dịch thành "tới" hoặc "lại", còn lại được chuyển

dịch thành các từ khác như ra, về, lên, xuống Ví dụ:

(4) 哪儿来的? (Năr lái de?) Ở đâu đến thế ?

(5) 你来不来? (Ni lái bù lái?) Anh có đến không?

(Ni yòu lái shén me shi?)

Bác lại tới đây làm gì nữa kia ? (7) 他来自乡间 (Ta lái zi xiang jian) Anh ta từ thôn quê lên

(8) 还说你马上就来

(Hái shuo ni mă shàng jìu lái.)

Anh sẽ về ngay đấy

Tuy được chuyển dịch là ra, lên, về, xuống nhưng nghĩa của từ "lái"

không biểu thị các hướng của các từ được chuyển dịch mà nó vẫn mang nghĩa cơ bản - từ xa đến gần, từ nơi khác đến phía chủ thể là người nói Các cách chuyển dịch này phong phú và phù hợp với từng văn cảnh cụ thể

Trang 27

Cũng trong một số câu trong bản dịch tiếng Việt của hai tác phẩm đã

thống kê, từ "lái" không được chuyển dịch tương đương thành đến mà chỉ

được dịch bằng một động từ khác ở phía sau Xét các ví dụ sau:

(Ta ting zhe you méi you

jiăo bù shengr lái)

Lắng nghe có tiếng bước chân hay không

từ phụ)

b, Hướng do "(qù)": biểu thị: hướng chuyển động ra xa người nói, lấy

người nói làm điểm xuất phát, biểu thị sự di chuyển đến một mục tiêu khác theo hướng từ gần đến xa Tiếng Việt có động từ tương ứng là "đi"

qù Hướng của 去(qù) - đi : 

Trang 28

Ví dụ :

(Dà tài tài hăn xiáng zi qù

jie xué sheng)

Bà cả sai Tường đi đón bọn trẻ về

Hướng của chuyển động trong ví dụ 2 là từ phía "Tường" tới nơi bọn trẻ học, lấy nơi Tường đang đứng làm điểm đích, hướng từ gần đi xa

Có khoảng 320 câu tiếng Hán từ hai tác phẩm văn học nói trên có động

từ qù ở vị trí động từ chính Trong số đó phổ biến được dịch thành đi, (khoảng 110 phiếu), còn lại được dịch thành đến, tới, vào, ra, sang, về, qua

Ví dụ:

* Dịch thành đi

(Ta dei lìng qù zhăo shì)

Anh ta lại tiếp tục đi kiếm việc khác

(Dà tài tài jiào ta qù tiào shui)

Bà cả bảo anh ta đi gánh nước

Trong ví dụ 12 và 13, "đi" thực hiện hành động di chuyển xa khỏi điểm xuất phát

* Dịch thành đến, tới, vào, ra, sang, về, qua…

(14) 他就可以去向刘四爷把钱要回

(Ta jìu ke yi qù xiàng líu sì yé bă

qián yào húi)

Anh ta có thể đến lão Tư Lưu đòi tiền về

(15) 你别去开门 (Ni bié qù kai mén) Anh chớ có ra mở cửa đấy! (16) 过两天,你就先去一趟

(Guò liăng tian, ni jìu xian qù yì tang)

Độ mấy ngày nữa anh về trước xem sao

(17) 我去告诉太太一声

(Wo qù gào sù tài tài yì sheng)

Tôi vào nói với bà một tiếng

Trang 29

Trong các ví dụ 14, 15, 16,17 dịch giả đã chuyển dịch qù thành các từ chỉ hướng như đến, vào, ra, về, để biểu thị hướng đến điểm đích Nếu đầy đủ thì phải là đi đến, đi vào, đi ra, đi về … Các từ chỉ hướng trong ví dụ này chỉ biểu thị hướng chứ không biểu thị hành động Từ biểu thị hành động - đi -

không được dịch giả nhắc đến

* Không chuyển dịch:

(18) 祥子没去端碗

(Xiáng zi méi qù duan wăn)

Tường chưa bưng bát vội

(19) 祥子又要去按电铃

(Xiáng zi yòu yào qù an diàn líng)

Tường lại định bấm chuông

Qù trong 18, 19, 20 và qù trong 21, 22 có sự khác nhau Nếu như qù

trong 18, 19, 20 biểu thị thực hiện hành động có hướng ra xa hướng của

người nói, động từ đứng sau qù có hàm ý đi (đi bưng , đi bấm , đi mò ) thì qù trong 21 không biểu thị hành động, không biểu thị hướng mà để chỉ ý phải làm việc gì đó (phải chú ý, phải cố gắng) Trong tiếng Việt khi muốn biểu thị ý phải làm việc gì đó người Việt không nói đi chú ý, đi cố gắng…

Từ thống kê, chúng tôi xin được cụ thể hóa hướng của 来 (lái) -

đến,去 (qù) - đi bằng sơ đồ sau:

Trang 30

Cũng như động từ lái, qù cũng được sử dụng khá nhiều để biểu thị mục đích

Phần này chúng tôi cũng xin được trình bày rõ ở chương 3

2.1.1.2 Nhóm 2

Nhóm 2 cũng bao gồm các động từ chỉ hướng đơn nhưng các động

từ này lại bao hàm hướng chuyển động vào trong, ra ngoài, lên cao, xuống

thấp, sang ngang … Đó là các từ chỉ hướng: 上 (shàng) - lên, 下

(xìa) - xuống, 进 (jìn) - vào, 出 (chu) - ra, 回 (húi) - về, 过 (guò) - qua, 起 (qi) - lên,开 (kai) - ra,到 (dào) - đến

a, Hướng do 上(shàng)-lên biểu thị: Đây là hướng thông qua động tác người

hay vật di chuyển từ phía dưới lên phía trên Trong tiếng Việt tương ứng với shàng là động từ "lên" đích

Hướng của 上(shàng) - lên

 shàng

(23) 上下坡儿的时候,他特别的小心

(Shàng xià por de shí hòu, ta te

bié de xiăo xin)

Lúc lên dốc xuống dốc anh ta hết sức cẩn thận

Phát ngôn trên lấy dốc làm trung tâm, bao hàm ý biểu thị hướng từ phía dưới lên phía trên

Người Trung Quốc và người Việt Nam có sự tri nhận giống nhau khi

nói lên phố Trong tư duy của họ thì phố cao hơn so với nhà Người Việt đôi khi còn nói xuống phố khi nhà của họ ở tầng cao, thậm chí họ còn có thể nói

ra phố vì theo họ phố ở bên ngoài nhà, họ đi từ trong nhà ra ngoài nhà

Trang 31

Ngoài hướng chuyển động lên cao, shàng còn biểu thị nghĩa thông qua động tác làm cho người hoặc vật lại gần mục tiêu (giống qù, dịch thành đi,

tới) Ví dụ:

(Nỉ shàng năr wo ye zhăo dé zháo)

Anh đi đâu tôi cũng tìm ra được

(Hướng của anh đi ra xa phía tôi)

b, Hướng do 下 (xià) - xuống biểu thị: là hướng thông qua động tác làm vật

hay người di chuyển từ vị trí cao đến vị trí thấp Trong tiếng Việt tương

ứng với xià là xuống xuất phát

Hướng của 下 (xià) - xuống : 

xià

(Xue yi xià le cun duo hòu)

Tuyết xuống dày hơn một tấc

lấy đất làm đích, bao hàm hướng chuyển động từ cao xuống thấp

Ngoài nghĩa cơ bản từ trên xuống dưới, xìa cũng được chuyển dịch

thành các động từ vận động bản thân có hướng như: rơi, đẻ, quỳ hoặc các động từ chỉ hướng khác mà không mang nghĩa từ trên xuống dưới như: về,

vào

(27) 大概在半夜里就不下了

(Dà gài zài bàn yè li jìu bù xià le)

Chừng như vào quãng nửa

đêm thì không rơi nữa

(28) 钱就会下钱 (Qián jìu hùi xià qián) Bạc lại đẻ ra bạc

(29) 给虎妞下了一跪

(Gei hu Niu xià le yì gùi)

Quỳ xuống trước mặt ả Nĩu

Tự thân các từ rơi, đẻ, quỳ đã mang nghĩa chỉ hướng từ trên xuống dưới

Trang 32

(30) 就是不能下乡

(Jìu shì bù néng xià xiang)

Chỉ cần không phải về quê là được

(31) 他们下狱 (Ta men xià láo) Bọn chúng vào tù

(32) 下小店? (Xià xiăo diàn ?) Vào quán trọ chăng?

Đối với việc đi đến những nơi cấp thấp (từ thành phố đến quận, từ trường đến các khoa …) người Trung Quốc và người Việt đều có tư duy

giống nhau và đều sử dụng xià - xuống Trong bản dịch, dịch giả đã dịch

thành về (quay trở lại) quê, vào (từ ngoài vào trong) tù, vào (từ ngoài vào trong) quán trọ …

c, Hướng do 进(jìn)-vào biểu thị: hướng chuyển động từ ngoài vào trong

Tương ứng trong tiếng Việt có động từ vào

Hướng của 进 (jìn) - vào xuất phát

Ví dụ:

(Xiáng zi jìn le rén hé chăng)

Tường vào hãng xe Nhân Hòa

lấy hãng xe Nhân Hòa làm đích, bao hàm hướng từ bên ngoài vào trong hãng

(AQ jìn san bù, xiăo D biàn tùi san bù)

Hễ AQ tiến lên ba bước thì

cu D lùi ba bước

进 (jìn) cũng có thể được dịch thành các động từ đứng sau hướng như: kiếm (tiền), thu, bước (vào), chui (vào), rẽ (vào) … Vì đây là các động từ đa hướng nên muốn biểu thị hướng vào trong hay hướng về phía trước, trong

đích

Trang 33

tiếng Việt có sử dụng thêm từ "vào" hay "lên" sau các động từ cho rõ nghĩa

Ví dụ:

(35) 一天进个块儿八 毛的

(Yi tian jìn gè kuài ba jiu máo de)

Một ngày thu tám chín hào một đồng

(36) 他进了小胡同

(Ta jìn le xiăo hú tong)

Anh ta rẽ vào một ngõ nhỏ

(37) 进了屋,他四下里看了一眼

(Jìn le wù, ta sì xià li kàn le yì yăn)

Bước vào buồng hắn nhìn ngang nhìn ngửa

(Ta yòu jìn le dà yuàn)

Anh ta lại quay vào trong xóm

d, Hướng do 出(chu)-ra biểu thị: hướng chuyển động từ trong ra ngoài

Trong tiếng Việt tương ứng là ra

Hướng của 出 (chu) - ra

Ví dụ:

(40) 祥子出了曹宅 (Xiáng zi chu le Cáo zhái) Tường ra khỏi nhà ông Tào lấy 曹宅 (Cáo zhái) - nhà ông Tào làm điểm xuất phát, hàm ý từ nhà ông Tào

đi tới bên ngoài

Từ 出 (chu) trong tiếng Hán cũng có thể được dịch bằng các động từ mà tự

thân mang hướng từ trong ra ngoài như: nói (lời từ trong miệng phát ra ngoài), thoát (được tự do, không còn ở bên trong nữa), lấy chồng/xuất gia (đi lấy chồng, không còn ở trong nhà mình nữa), toát/vã (mồ hôi từ trong cơ thể thoát ra ngoài), ra đời/xuất thân (sinh ra), lòi (lộ ra bên ngoài), vọng (âm

xuất phát

Trang 34

(42) 眼看是没有出嫁的希望了

(Yăn kàn shì méi you chu jià de

xi wàng le)

Xem chừng cũng không còn

hy vọng có ai đến rước đi nữa

(43) 他出了汗 (Ta chu le hàn) Anh ta toát cả mồ hôi

(44) 不能在亲友面前出丑

(Bù néng zài qin you miàn

qián chu chou)

Không thể lòi mặt xấu ra được

(45) 但是她又不象是由妓女出身

(Dàn shì ta yòu bù xiàng shì yóu

ji nu chu shen)

Mà xem ra cũng chẳng phải hạng người xuất thân từ gái đĩ

(46) 屋里出了声 (Wu li chu le sheng) Trong nhà có tiếng vọng ra (47) 价钱决不会比别家出得少

(Jia qián qué bù hùi bi bié jia

chu dé shăo)

Đây không bao giờ trả rẻ đâu

Đôi khi từ 出 (chu) trong tiếng Hán còn được dịch bằng những từ chỉ hướng

khác như: qua, đi, lên

遇上 (Chu le xi zhí mén, zhen shì

lián yì liàng che ye méi yù shàng)

Qua của Tây Trực quả thật không gặp một chiếc xe nào cả

(49) 早出晚归 (Zăo chu wăn gùi) Đi sớm về muộn

(50) 一出太 阳就得八点

(Yì chu tài yáng jìu dei ba diăn)

Mặt trời lên là tám giờ rồi đấy

Từ 出 (chu) ở các ví dụ trên tuy được dịch là qua, đi, lên nhưng nghĩa của

chúng vẫn mang hướng từ trong ra ngoài Thực chất chúng có thêm một

Trang 35

(Zăo chu wăn gùi)

Đi sớm về muộn Ra khỏi nhà đi làm

出太 阳 (chu tài yáng) Mặt trời lên Mặt trời bắt đầu xuất hiện

e, Hướng do (húi) biểu thị: hướng chuyển động trở lại điểm xuất phát

Từ tương ứng trong Tiếng Việt là về hoặc (quay) lại

Hướng của 回 (húi) - về

xuất phát (tiền giả định)

đích (cuối cùng)

- đích (tiền giả định)

xuất phát (hiển ngôn)

Ví dụ:

(51) 他必须回车厂 (Ta bì xù huí che chăng) Anh ta phải về hãng

lấy 车厂(che chăng) - hãng là đích cuối cùng, bao hàm ý trở lại hãng

(là nơi đã xuất phát)

Người ta cũng có thể dùng các động từ có hướng trở lại, quay lại như:

quay, ngoái, ngoảnh để biểu thị hướng của 回 (húi), có thể thêm về, lại ở

phía sau các động từ này để nhấn mạnh về hướng Ví dụ:

(52) 祥子一回头 (Xiáng zi yì húi tóu) Tường quay đầu lại

(53) 祥子连头也没回

(Xiáng zi lián tóu ye méi húi)

Tường không ngoái cổ lại

(Xiăo D ye húi guò tóu lái shuo)

Cu D cũng ngoảnh đầu lại chửi với

f, Hướng do (guò) biểu thị: chuyển động sang ngang, từ bên này sang bên

kia Từ tương ứng trong tiếng Việt là qua/sang

Hướng của 过 (guò) - qua/sang

Trang 36

A (xuất phát) o B (đích)

Ví dụ:

(Ta wăng dong bei guăi,

guò jin ding shan)

Anh ta rẽ lên phía Đông Bắc, qua núi Kim Đỉnh

lấy 金顶山 (jin ding shan) - núi Kim Đỉnh làm đích, biểu thị hướng chuyển động sang ngang núi Kim Đỉnh

Cũng như các động từ chỉ hướng khác, 过 (guò) cũng có thể được dịch

bằng động từ có hướng sang ngang như: vượt, leo, lút… khi đó qua là yếu tố

phụ cho động từ đó Ví dụ:

(56) 非过了这一关,他不能放胆的去跑

(Fei guò le zhè yì guàn, ta bù néng fàng

dăn de qù păo)

Không vượt qua thì chẳng

có gan đâu mà kéo

(57) 骆驼不会过山 (Luó tuó bù hùi guò shan) Lạc đà không leo được núi (58) 地上的水过了脚面

(Dì shàng de shui guò le jiăo miàn)

Nước trên đường lút mắt

cá chân Tiếng Hán còn sử dụng động từ 过 (guò) để biểu thị sự trôi đi của thời gian, thời gian trôi đi đến một thời điểm nào đó Trong trường hợp này tiếng

Việt vẫn sử dụng từ qua như với hướng không gian Ví dụ:

(59) 仿佛一过了二十七,他就有了

解决一切的办法

(Făng fù yì guò le èr shí qi, ta jìu

you le jie jué yì qiè de bàn fă.)

Hầu như qua ngày hăm bảy anh

ta có cách giải quyết được mọi chuyện

g, Hướng do 起 (qỉ) biểu thị: chuyển động theo hướng từ thấp lên cao, cũng

có hướng từ trong ra ngoài như chu (lộ ra) Trong tiếng Việt tương ứng với qi

Hướng của 起 (qỉ) - lên

đích

Trang 37

Trong tiếng Hán, qi được sử dụng với tần số thấp, khi dịch sang tiếng Việt lên là yếu tố đứng sau động từ chính Tiếng Việt thường được dịch bằng

những động từ có hướng lên cao, hoặc ra ngoài chẳng hạn như động từ: rộp (lên), tóe, ngóc (lên), thốc (tới), dậy (từ tư thế nằm chuyển sang tư thế ngồi hoặc đứng) …

(Yá chuáng shàng qi le yì líu zi pào)

Lợi rộp lên tím bầm lại

(61) 他眼前起了金星

(Ta yăn qián qi le jin xìng)

Anh ta thấy mắt toé đom đóm

(You shi hòu qi le kuáng feng)

Có khi gió mạnh thốc tới

(Xiăo fú zi ye qi dé wăn)

Phúc cũng dậy muộn

h, Hướng do 开 (kai) biểu thị: từ trong ra ngoài Trong tiếng Việt tương ứng

với kai là từ ra

Hướng của 开 (kai) - ra

Trang 38

) 你别去开门 (Ni bié qù kai mén) Anh chớ có ra cửa mở đấy

lấy cửa làm đích, đẩy cửa ra phía bên ngoài = mở (mở ra)

Với từ 开 (kai), tiếng Việt có thể dịch bằng các động từ biểu thị hướng ra bên

ngoài như các động từ nở, vạch, bật, nói, bày, hé Khi đó những động từ này cũng kết hợp với lên, ra để nhấn mạnh hướng Ví dụ:

(68) 老程开了灯 (Lăo Chéng kai le deng) Trình bật đèn

i, Hướng do "dào" biểu thị: bao hàm chuyển động của lái Tiếng Việt tương

ứng có "đến" 到 được dịch thành đến là phổ biến nhất, trong một số trường hợp dào được dịch thành tới, về, vào, qua, lên, xuống Trong những trường hợp này, hướng của dào vẫn là hướng của lái

* (dào) được dịch thành đến, tới:

(Ta màn màn de zou, jiàng dào

qiu diàn mén kou)

AQ chậm rãi đi tới quán rượu

(72) 虎妞到娘娘庙

(Hu Niu dào niáng niáng miào)

Ả Nĩu đến miếu Cô

Trong các ví dụ trên, dào được dịch thành đến, tới, hướng biểu thị của dào là hướng từ xa đến gần Đích của các câu này chính là bên cạnh, nhà, quán

Trang 39

rượu, miếu Cô Tuy không được nói rõ nhưng chắc chắn rằng chủ thể hành

động đang ở phía đích hoặc ở gần điểm đích

* (dào) được dịch thành về, vào, qua, lên, xuống:

của người phương Đông nói chung - lên tỉnh, lên thành phố), xuống (ví dụ

76, theo quan niệm tri nhận không gian của người Trung Quốc, Thượng Hải

ở gần biển, vì vậy địa hình thấp hơn = xuống) Nếu xa rời văn cảnh thì không hiểu tường tận vị trí mà chủ thể đang đứng, cũng không hiểu quan niệm , tư duy dân tộc được thể hiện qua bức tranh địa lý dân tộc

Từ sự miêu tả khá tường tận các hướng mà động từ chỉ hướng biểu thị, chúng tôi có sự khái quát nghĩa của chúng bằng sơ đồ các cặp từ chỉ hướng

có ý nghĩa hướng trái ngược nhau như sau:

Trang 40

2.1.1.3 Nhóm 3 - các động từ chỉ hướng phức:

Nhóm 3 là nhóm các từ chỉ hướng phức được tạo thành bởi “来 (lái),去 (qù)” của nhóm 1 lần lượt kết hợp với các từ chỉ hướng đơn ở nhóm 2 Ví dụ 上来 (shàng lái), 上去 (shàng qù), 下来 (xià lái), 下去 (xià qù), 进来 (jìn lái), 进去 (jìn qù), 出来 (chu lái),出去 (chu qù),回来 (húi lái),回去 (húi qù,过来 (guò lái),过去 (guò qù),起来 (qi lái),到…来 (dào lái),到…去 (dào qù), 来到 (lái dào)

Vì có sự kết hợp như vậy nên các từ chỉ hướng của nhóm này vừa có đặc điểm của nhóm 1 vừa có đặc điểm của nhóm 2, vừa có trung tâm là người nói, vừa có trung tâm là sự vật Tiếng Việt cũng có các động từ chỉ hướng

phức như: đi đến, đi ra, đi vào, đi tới, đi về, đi sang, đi lên, đi xuống, đi qua,

ra về, về tới thậm chí có những từ chỉ hướng phức gồm 3 từ chỉ hướng như:

đi ra đến, đi ra tới, đi về đến … Phần lớn các từ chỉ hướng này bắt đầu với đi

điểm xuất phát

đi đến/lại

lên

xuống

vào

ra

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban - Ngữ pháp Tiếng Việt (tập 1-2) - Nhà xuất bản Giáo dục - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục - 2003
4. Đào Thị Hà Ninh - Phương vị từ tiếng Hán - Luận án Tiến sĩ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương vị từ tiếng Hán
5. Đinh Văn Đức. Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại - Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội - 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại -
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội - 1986
6. Lý Toàn Thắng. Ngôn ngữ học tri nhận. Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn Tiếng Việt – Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận. Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội – 2005
7. L.Cadiere - Cú pháp Tiếng Việt. Paris, 1958 (Bản dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp Tiếng Việt
8. Moskva, 1963. Những thuộc tính về mặt loại hình của các ngôn ngữ đơn lập. Tạp chí ngôn ngữ, Hà nội, số 3, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thuộc tính về mặt loại hình của các ngôn ngữ đơn lập
9. Nguyễn Anh Quế. Ngữ pháp tiếng Việt - Nhà xuất bản giáo dục 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục 1996
10. Nguyễn Kim Thản. Động từ trong tiếng Việt - Nhà xuất bản khoa học xã hội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động từ trong tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội 1997
11. Nguyễn Lai. Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt. Tủ sách trường đại học Tổng hợp 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt
12. Nguyễn Lai. Tìm hiểu sự chuyển hóa nghĩa từ vựng theo hướng hư hóa (kỷ yếu HNKH), Hà Nội, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự chuyển hóa nghĩa từ vựng theo hướng hư hóa
13. Nguyễn Lai. Suy nghĩ thêm về bản chất nhóm từ chỉ hướng vận động. Tạp chí Ngôn ngữ, Hà Nội, số 1-2,1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ thêm về bản chất nhóm từ chỉ hướng vận động
14. Nguyễn Minh Thuyết. Vấn đề xác định từ hư trong tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ, Hà nội, số 3, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xác định từ hư trong tiếng Việt
15. Nguyễn Thị Quy. Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (vị từ hành động) – Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (vị từ hành động)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – 1995
16. Nguyễn Tài Cẩn. Ngữ pháp tiếng Việt - Nhà xuất bản đại học quốc gia 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia 1996
17. Nguyễn Văn Khang (chủ biên). Từ điển thành ngữ tục ngữ Hán Việt - Nhà xuất bản khoa học xã hội - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ Hán Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội - 1998
19. Phan Ngọc, Phạm Đức Dương. 1983 - Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, Viện Đông Nam Á - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á
20. Phan Văn Các. Từ điển Hán Việt - Nhà xuất bản tổng hợp TP HCM-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp TP HCM-1999
21. S.Jakhontov. Phạm trù động từ trong tiếng Hán. Leningrad, (bản dịch) 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm trù động từ trong tiếng Hán
22. Trần Thị Chung Toàn. Các phương thức biểu thị hướng của hành động trong tiếng Nhật và tiếng Việt - Tiểu luận - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương thức biểu thị hướng của hành động trong tiếng Nhật và tiếng Việt
23. Trần Văn Cơ. Ngôn ngữ học tri nhận là gì? Tạp chí Ngôn ngữ,số 7,2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận là gì

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  thống  kờ  dưới  đõy  thể  hiện  rừ  tần  số  xuất  hiện  của  cỏc  từ  chỉ  hướng đơn có hoặc không có danh từ chỉ nơi chốn ở sau - Khảo sát nhóm động từ chỉ hướng vận động trong tiếng Hán (so sánh với tiếng Việt
ng thống kờ dưới đõy thể hiện rừ tần số xuất hiện của cỏc từ chỉ hướng đơn có hoặc không có danh từ chỉ nơi chốn ở sau (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm