1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các lối diễn đạt thế đối lập trong tiếng Pháp trên cơ sơ đối chiếu với tiếng Việt

134 661 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chị cô ây thí ngược lại không thìch ngành y mà muốn làm kinh doanh Việc lựa chọn kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng này thay ví kết tử khác phụ thuộc vào đặc trưng cú pháp, ngữ nghĩa, ng

Trang 2

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do nghiên cứu đề tài 1

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN I.1 Lý thuyết lập luận 5

I.1.1 Khái niệm lập luận 5

I.1.2 Cấu trúc lập luận 7

I.1.2.1 Các luận cứ của lập luận 7

I.1.2.2 Kết luận của lập luận 9

I.1.3 Lẽ thường - cơ sở của lập luận 11

I.1.4 Các quan hệ liên kết giữa các luận cứ và kết luận trong lập luận 12

I.1.4.1 Quan hệ bổ sung 12

I.1.4.1 Quan hệ thời gian 13

I.1.4.1 Quan hệ nguyên nhân 13

I.1.4.1 Quan hệ đối lập 14

I.1.5 Kết tử lập luận và một số vấn đề liên quan đến kết tử lập luận 15

I.1.5.1 Kết tử lập luận 15

I.1.5.2 Một số vấn đề liên quan đến kết tử lập luận 15

I.2 Một số vấn đề về quan hệ đối lập và các phương tiện ngôn ngữ thể hiện quan hệ đối lập 20

I.2.1 Khái niệm đối lập 20

I.2.2 Các kiểu quan hệ đối lập trong lập luận 22

I.2.3 Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện quan hệ đối lập trong lập luận 25

Tiểu kết chương I 28

Trang 3

TRONG TIẾNG PHÁP

II.1 Các kiểu quan hệ đối lập 30

II.1.1 Quan hệ tương phản 30

II.1.2 Quan hệ nhượng bộ 33

II.1.3 Quan hệ bác bỏ - đính chính 36

II.2 Các kết tử chỉ dẫn quan hệ đối lập phổ biến trong tiếng Pháp 39

II.2.1 Mais - kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng phổ biến nhất trong tiếng Pháp 40

II.2.2 Quoique và bien que - kết tử chỉ dẫn quan hệ nhượng bộ điển hình 52

II.2.3 Or - kết tử vừa chỉ dẫn quan hệ ngược hướng và đồng hướng 57

II.2.4 Pourtant, cependant, néanmoins, toutefois – nhóm kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng đồng nghĩa “tuy nhiên”, “tuy vậy” 62

II.2.5 Par contre, en revanche, au contraire – nhóm kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng đồng nghĩa “trái lại”, “ngược lại” 77

Tiểu kết chương II 88

CHƯƠNG III CÁC KẾT TỬ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ VIỆC CHUYỂN DỊCH CÁC KẾT TỬ CHỈ DẪN QUAN HỆ ĐỐI LẬP GIỮA TIẾNG PHÁP VÀ TIẾNG VIỆT III.1 Các kết tử tương đương trong tiếng Việt 91

III.1.1 Các kết tử nhưng, mà, còn 91

III.1.2 Kết tử mặc dù 98

III.1.3 Kết tử tuy nhiên 103

III.1.4 Kết tử vậy mà/thế mà 108

III.1.5 Kết tử ngược lại 109

III.2 Việc chuyển dịch các kết tử chỉ dẫn quan hệ đối lập giữa tiếng Pháp và tiếng Việt 114

III.2.1 Lưu ý về một số vấn đề thường gặp ở người Việt Nam khi sử dụng các kết tử trong tiếng Pháp 114

III.2.2 Đề xuất về trình tự các bước thực hiện khi chuyển dịch các kết tử đối lập 120

Tiểu kết chương III 122

KẾT LUẬN 124 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Đối lập trước hết là một khái niệm của lôgìc học Nhưng đó cũng là một

khái niệm quan trọng được sử dụng trong ngôn ngữ học, đặc biệt trong lý thuyết lập luận Việc tạo ra thế đối lập giữa các luận cứ và kết luận trong lập luận giúp cho người nghe so sánh, đánh giá các lì lẽ, thấy được « sự có lý » trong quan điểm người nói và nhờ đó người nói có thể thuyết phục được người nghe

Trên thế giới đã có những công trính nghiên cứu về các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện thế đối lập trong lập luận Tuy nhiên, đa phần

tập trung xem xét liên từ « nhưng » (mais trong tiếng Pháp hay but trong

tiếng Anh) Hơn nữa, cũng chưa có một nghiên cứu nào về các phương tiện ngôn ngữ này trong tiếng Pháp từ góc độ của người học ngoại ngữ này và trên

cơ sở đối chiếu với một ngôn ngữ thuộc một loại hính khác với tiếng Pháp Mặt khác, từ góc độ của người làm công tác giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật, chúng tôi cũng nhận thấy sự khác biệt về số lượng, bản chất cũng như phương thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ chỉ dẫn quan hệ đối lập trong tiếng Pháp so với tiếng Việt đã đặt ra nhiều khó khăn cho người học và người dịch trong việc lựa chọn cách diễn đạt tương đương trong ngôn ngữ kia Riêng đối với phương tiện kết tử, học sinh Việt Nam rất ìt khi chủ động sử dụng các phương tiện này khi nói và viết tiếng Pháp Các em cũng mắc nhiều lỗi ngữ pháp, ngữ dụng khi sử dụng các kết tử này trong thực hành và dịch thuật Chẳng hạn, nếu phải chuyển dịch sang tiếng Pháp hai câu ở thế đối lập

sau :“Hoa muốn làm y tá Chị cô thì ngược lại muốn làm kinh doanh”, các bạn

sinh viên đã đưa ra các khả năng :

(a) Hoa veut devenir infirmière Sa soeur, par contre, veut faire du business

(b) Hoa veut devenir infirmière Sa soeur, en revanche, veut faire du business

Trang 5

(c) *Hoa veut devenir infirmière Sa soeur, au contraire, veut faire du business

Sở dĩ các em sinh viên đưa ra các giải pháp này rất đơn giản là ví «ngược

lại » trong tiếng Việt có thể được chuyển dịch sang tiếng Pháp là « par contre », « en revanche », hay « au contraire » Thế nhưng nếu nghiên cứu

về các đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của các kết tử này, thí sẽ dễ dàng nhận

thấy giải pháp c không được chấp nhận Nếu muốn sử dụng kết tử au contraire, nội dung mệnh đề sau đó phải có sự thay đổi, chẳng hạn :

(d) Hoa veut devenir infirmière Sa soeur, au contraire, n‟aime pas la médecine, elle

veut faire du business (Hoa muốn trở thành y tá Chị cô ây thí ngược lại không thìch ngành y mà muốn làm kinh doanh)

Việc lựa chọn kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng này thay ví kết tử khác phụ thuộc vào đặc trưng cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của các kết tử

cũng như vào phong cách văn bản và ngữ cảnh giao tiếp

Nghiên cứu đề tài «Các lối diễn đạt thế đối lập trong tiếng Pháp” sẽ góp

phần giải quyết được những vấn đề nêu trên

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để tạo ra thế đối lập trong lập luận nhằm mục đìch thuyết phục dẫn dắt người nghe, làm người nghe chấp nhận quan điểm của mính, người nói có thể

sử dụng nhiều phương tiện ngôn ngữ khác nhau như: các phương thức ngữ pháp (như danh cách (gerondif), bàng thái cách (subjonctif) trong tiếng Pháp), biểu thức điều kiện, một số cấu trúc đặc thù, các yếu tố từ vựng hàm nghĩa

quan hệ đối lập và đặc biệt là các kết tử lập luận chỉ dẫn quan hệ ngược hướng

Luận văn không có tham vọng đề cập đến tất cả các phương tiện ngôn ngữ có thể thể hiện thế đối lập trong tiếng Pháp ví đây là đề tài có phạm vi

nghiên cứu rộng Do vậy, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu một số kết tử lập luận chỉ dẫn quan hệ đối lập phổ biến trong tiếng Pháp trên cơ sở có

sự đối chiếu với tiếng Việt

Trang 6

Để giúp cho công việc nghiên cứu các kết tử lập luận này, luận văn sẽ tiến hành khảo sát các biểu thức ngôn ngữ có dạng :

p K q và các biến thể của nó

trong đó : p, q là hai yếu tố ngôn ngữ (thường là mệnh đề/ phát ngôn) ở thế đối lập ; K là kết tử chỉ dẫn quan hệ đối lập

Luận văn sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau :

1 Bản chất mối quan hệ đối lập giữa p và q

2 Các kết tử được sử dụng phổ biến để liên kết p và q, và các đặc trưng kết học, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các kết tử này

3 Sau khi đã làm sáng tỏ các vấn đề trên, luận văn sẽ đóng góp một số giải pháp cho việc chuyển dịch các kết tử này giữa tiếng Việt và tiếng Pháp

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn sẽ góp phần hệ thống hoá các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng trong tiếng Pháp, phân loại chúng và xây dựng bộ đặc trưng kết học, ngữ nghĩa và ngữ dụng quan yếu của các kết tử này

Về mặt thực tiễn, trong quá trính giảng dạy tiếng Pháp cho người Việt Nam và trong quá trính làm công tác biên phiên dịch và giảng dạy chuyên ngành biên phiên dịch ở bậc đại học, chúng tôi đã phát hiện nhiều khiếm khuyết của người Việt trong việc sử dụng kết tử chỉ dẫn quan hệ đối lập trong tiếng Pháp Người Việt Nam thường có xu hướng mô phỏng tiếng mẹ đẻ, dẫn đến một số lỗi về ngữ pháp và phong cách khi phải thể hiện quan hệ đối lập

Do vậy, có thể nói rằng việc nghiên cứu đề tài này giúp có thêm những hiểu biết cần thiết nhằm thiết thực góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giảng dạy và dịch thuật

Trang 7

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

Việc nghiên cứu các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng trong tiếng Pháp sẽ được thực hiện theo quan điểm ngữ dụng, điều này có nghĩa người nghiên cứu sẽ phải quan sát các phát ngôn có quan hệ đối lập trong các tình huống cụ thể

Luận văn sẽ sử dụng phương pháp diễn giải, qui nạp, các thủ pháp so sánh đối chiếu, công thức hoá, mô hính hoá

Xuất phát từ mục đìch và phương pháp nghiên cứu của luận văn, cứ liệu

của luận văn được xây dựng từ một số giáo trính tiếng Pháp (Panorama, Nouvel Espace, Grammaire progresssif, perspectives ….) và những tư liệu thực, mà chủ yếu là các bài viết trên các báo của Pháp « le Monde »,

« l‟Express », « l‟Humanité », « Le monde diplomatique », « le Point »,

« l‟Expansion », « la Libération», và tiểu thuyết « Mặt trời nhà Scorta » (le Soleil des Scorta), giải Goncourt 2004 của Laurent Gaudé được dịch giả

Dương Tường dịch sang tiếng Việt

Trang 8

CHƯƠNG I

Cơ sở lý luận của luận văn

Thế đối lập được đề cập đến trong đề tài « Các lối diễn đạt thế đối trong tiếng Pháp » chình là quan hệ đối lập trong lập luận Chình ví vậy, luận văn

này đã được thực hiện dựa trên cơ sở Lý thuyết lập luận trong ngôn ngữ

(Argumentation dans la langue) của Anscombre & Ducrot

Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là người giới thiệu lý thuyết này và cũng là người tiên phong nghiên cứu lý thuyết lập luận dựa trên ngữ liệu tiếng Việt Tiếp theo là các tác giả Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê, Đỗ Thị Kim Liên,

I.1 Lý thuyết lập luận

Lập luận từng là một phạm trù nghiên cứu của tu từ học và lôgìc học trước khi trở thành đối tượng nghiên cứu trong ngôn ngữ học Sự ra đời của

Lý thuyết lập luận của hai nhà ngôn ngữ học Pháp Oswal Ducrot và Jean Claude Anscombre (Anscombre & Ducrot 1983) đã mở ra hướng nghiên cứu mới cho vấn đề này: đó là nghiên cứu lập luận dưới góc độ dụng học Lý thuyết lập luận của Ducrot & Anscombre dựa trên cơ sở tiền đề là mọi phát ngôn đều hướng đến một loại kết luận nào đó và do đó thường mang tình lập luận

I.1.1 Khái niệm lập luận

Theo Ducrot & Anscombre (1983) , «[…] một người nói thực hiện một hành động lập luận khi người đó trình bày một phát ngôn E 1 (hoặc một tập hợp phát ngôn) nhằm mục đích làm cho người nghe chấp nhận một phát ngôn

Trang 9

chình hiện nay khác với các cuộc khủng hoảng trước đây Nó vẫn chưa kết thúc Ví vậy, khó có thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng này) Đoạn văn bản trên gồm 3 phát ngôn, trong đó phát ngôn thứ nhất : E1a= „Cuộc khủng hoảng tài chình hiện nay khác với các cuộc khủng hoảng trước đây‟ và phát ngôn thứ 2 E1b= „Nó vẫn chưa kết thúc‟ chính là những lý

do được trính bày để người nghe chấp nhập một kết luận được thể hiện bằng phát ngôn thứ 3 E2= „khó có thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng này‟ Theo định nghĩa của Anscombre & Ducrot, hành động trính bày ba nội dung trên được xem là hành động lập luận và ba phát ngôn này làm thành một lập luận

Các tác giả Van Eemeren, Grootendorst & Henkeman (1996) trong cuốn

« Fundamentals of Argumentation Theory » thí định nghĩa lập luận : « là một hành động trí tuệ có tính xã hội và được thể hiện bằng ngôn ngữ nhằm mục đích làm tăng (hoặc giảm) khả năng người nghe (người đọc) chấp nhận một quan điểm gây tranh cãi trên cơ sở đưa ra một tập hợp những mệnh đề để chứng minh (hoặc bác bỏ) quan điểm đó trước một người có khả năng đánh giá sáng suốt2 »

Theo định nghĩa này, vì dụ (1) cũng là một hành động lập luận trong đó việc trính bày tập hợp phát ngôn E1 là để nhằm mục đìch làm tăng khả năng người nghe chấp nhận quan điểm cho rằng „khó có thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chình hiện nay‟

Cả hai định nghĩa trên không có gí mâu thuẫn với nhau Chúng đều cho thấy : lập luận là hành động đưa ra các lý lẽ (mệnh đề) nhằm mục đìch thuyết phục người nghe (đọc) chấp nhận (hoặc bác bỏ) một quan điểm cũng có nghĩa

là chấp nhận một kết luận mà người nói (viết) muốn hướng tới

2

« Argumentation is a verbal and social activity of reason aimed of increasing (or decreasing) the acceptability of a controversal standpoint for the listener or reader, by putting forward a constellation of propositions intended to justify (or refute) the standpoint before a rational judge)”

Trang 10

Lập luận không phải là thuyết phục ví lập luận chỉ là một trong những phương thức để thuyết phục, chỉ nhằm dẫn đến kết luận, còn kết luận đó có thuyết phục được người nghe hay không lại là việc khác

Lập luận cũng không phải là đưa ra các phát ngôn có tình miêu tả thuần tuý Trong lập luận, mỗi phát ngôn đưa ra ngoài giá trị thông tin, miêu tả (chỉ

là giá trị phụ) còn có nhận định, đánh giá và những kết luận mà người muốn hướng tới Chình giá trị lập luận này mới làm nên giá trị chình của các phát ngôn trong lập luận

Lập luận có thể dựa trên sự suy diễn lôgíc nhưng khác với lập luận trong logíc, kết luận rút ra từ lập luận trong ngôn ngữ thường chỉ là kết quả của sự chiêm nghiệm thực tế và việc nắm bắt được nghĩa của phát ngôn lý lẽ

I.1.2 Cấu trúc của lập luận

Thuật ngữ lập luận có thể được hiểu là một hành động lập luận (acte d‟argumentation) cũng có thể được hiểu là sản phẩm của hành động này, tức

là toàn bộ cấu trúc của lập luận cả về nội dung, cả về hính thức Với tư cách là một cấu trúc ngôn ngữ, lập luận có thể bao gồm một hay một tập hợp các lý lẽ được diễn đạt bằng phát ngôn và được gọi là các luận cứ, và một hay một tập hợp các kết luận Nói cách khác, luận cứ và kết luận là những thành phần của lập luận Mối quan hệ lập luận giữa luận cứ và kết luận được biểu diễn bằng biểu thức : p → r

I.1.2.1 Các luận cứ của lập luận

a Về mặt cấu trúc hính thức, luận cứ là những câu hoặc vế câu được liên kết với nhau theo những nguyên tắc cú pháp nhất định (quan hệ giữa tìn hiệu với tìn hiệu) Về mặt lôgìc ngữ nghĩa, luận cứ là những mệnh đề chứa đựng nội dung được tạo nên bởi ý nghĩa của các từ ngữ tương ứng với các sự vật trong thế giới hiện hữu (quan hệ giữa tìn hiệu với sự vật được biểu thị) Về mặt phát ngôn, luận cứ là những lý lẽ chứa đựng một thông tin miêu tả, một

Trang 11

nhận định, hay một quy tắc, nguyên lý xử thế nào đó …có sự liên kết với thế giới khả hữu Về mặt ngữ dụng, luận cứ là những hành động phát ngôn ở lời, những giá trị lập luận đìch thực của các luận cứ được hính thành từ những ngữ cảnh nhất định phù hợp với ý định của người sử dụng (quan hệ giữa tìn hiệu với người lý giải) Các luận cứ được đưa ra nhằm mục đìch dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới (dù kết luận là tường minh hay hàm ẩn)

(2) Jean est intelligent mais brouillon L‟engager n‟est pas une bonne idée (Jean thông minh nhưng ẩu Nhận cậu ấy không phải là ý hay đâu)

(3) Jean est brouillon mais intelligent (Jean ẩu nhưng lại thông minh)

Hai ví dụ này có chung 2 luận cứ : „Jean thông minh‟ & „Jean ẩu‟ Trật tự sắp xếp luận cứ khiến cho 2 lập luận hướng đến 2 kết luận khác nhau: kết luận

ở (2) là tường minh: „không nên nhận Jean‟, còn ở (3) là hàm ẩn: „nên nhận Jean‟

b Luận cứ cũng có thể tường minh hoặc ngầm ẩn Trong hai vì dụ trên, các luận cứ đều tường minh Nhưng ở vì dụ sau, có một luận cứ ở dạng ngầm

ẩn

(4) Je sors parce que je veux quand même prendre l‟air (tôi ra ngoài ví tôi vẫn muốn hóng mát)

Ở vì dụ (4), có hai lập luận đan xen :

Lập luận 1 : hệ quả – nguyên nhân „Tôi ra ngoài ví tôi muốn hóng mát‟

Lập luận 2 : đối lập giữa luận cứ „tôi muốn ra ngoài‟ và một luận cứ ngầm ẩn „trời mưa‟ hoặc „tôi mệt‟ (tôi vẫn muốn ra ngoài dù trời mưa hoặc dù tôi mệt) Luận cứ

ngầm ẩn này được nhận biết nhờ sự hiện diện của cụm từ « quand même » (vẫn)

c Giữa các luận cứ của lập luận có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa

là p và q được đưa ra để hướng tới một kết luận r nào đó

Quan hệ định hướng lập luận có thể đồng hướng hoặc ngược hướng :

Trang 12

i) Trong quan hệ lập luận đồng hướng, các luận cứ được đưa ra để hướng tới cùng một kết luận, để phục vụ cùng một kết luận Trong trường hợp này, các luận cứ có quan hệ tương hợp : chúng lập thành một nhóm luận cứ :

(5) (r)Pierre a bien réussi dans ses études : (p) il a une thèse de troisième cycle , et (q) même une thèse d‟Etat (Pierre là người thành đạt trên con đường học vấn : cậu

ấy đã có bằng tiến sĩ, thậm chì đã nhận cả bằng tiến sĩ cấp Nhà nước)

p và q lập thành một nhóm luận cứ cùng phục vụ cho kết luận r „Pierre là người thành đạt trên con đường học vấn‟

ii) Trong quan hệ lập luận ngược hướng, các luận cứ đưa ra không hướng tới cùng một kết luận Chẳng hạn, p hướng tới kết luận r, q hướng tới kết luận

r (r và r phải cùng một phạm trù hay nói cách khác r là phủ định của r) Trở lại với vì dụ (2) :

(2) (p) Jean est intelligent mais (q) brouillon L‟engager n‟est pas une bonne idée (Jean thông minh nhưng ẩu Nhận cậu ấy không phải là ý hay đâu)

p hướng tới một kết luận r=nên nhận Jean trong khi q hướng tới kết luận trái ngược

r=không nên nhận Jean

Xét theo quan hệ định hướng lập luận, các luận cứ có thể có hiệu lực lập luận khác nhau có nghĩa là p có sức mạnh đối với kết luận r (hoặc  r) lớn hơn

q hoặc ngược lại Trong lập luận, giá trị thực sự của các thông tin miêu tả chình là các hiệu lực lập luận của chúng Thường thì luận cứ có hiệu quả lập luận mạnh hơn được đặt sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn Luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh hơn sẽ quyết định hướng của lập Trong vì dụ (2), chình q là luận cứ có giá trị để đưa đến kết luận của lập luận Vì dụ (3) có sự hoán đổi vị trì giữa p và q nên kết luận của lập luận cũng thay đổi Trong trường hợp quan hệ lập luận đồng hướng (5), tất cả các luận cứ cùng phục vụ cho kết luận, nhưng luận cứ cuối cùng q „Pierre đã nhận cả bằng tiến sĩ cấp nhà nước‟ có hiệu lực lập luận mạnh hơn p „Pierre đã có bằng tiến sĩ‟, tạo cơ

sở vững chắc hơn cho kết luận

I.1.2.2 Kết luận của lập luận

Trang 13

a Kết luận là cái được rút ra từ các luận cứ của lập luận, là cái mà các luận cứ hướng tới Dù các luận cứ cĩ quan hệ đồng hướng hay nghịch hướng cũng đều cĩ sự cộng hưởng hàm ý để tạo nên một kết luận chung Kết luận là cái mà dụng ý người sử dụng muốn đạt tới Cái dụng ý kết luận đĩ cĩ khi được thể hiện tường minh ở một mệnh đề trong câu, ở một phát ngơn khác trong đoạn (vì dụ 2,5) nhưng cũng cĩ khi là một nội dung hàm ẩn để người đọc, người nghe tự rút ra (quan hệ giữa tìn hiệu và người sử dụng, lý giải) (6) La France respecte le principe de démocratie mais aussi celui d‟Etat de droit Et dans un Etat de droit, on a des papiers (nước Pháp tơn trọng các nguyên tắc dân chủ

và cả nguyên tắc Nhà nước pháp quyền Và trong một nhà nước pháp quyền, người dân phải cĩ giấy tờ.)

Trong lập luận trên, người nĩi chỉ đưa ra các luận cứ :i) nước Pháp tơn trọng các nguyên tắc dân chủ, Nhà nước pháp quyền ; ii) trong nhà nước Pháp quyền, người ta phải cĩ giấy tờ Kết luận ở đây ngầm ẩn nhưng người nghe cĩ thể tự rút ra : „những người khơng cĩ giấy tờ hợp lệ khơng được chào đĩn ở Pháp, nên trục xuất họ ra khỏi nước Pháp‟

Cũng cĩ khi kết luận được thể hiện dưới hính thức một câu hỏi tu từ và người nghe, người đọc phải dựa vào các luận cứ cũng như các chỉ dẫn lập luận

để tự rút ra dụng ý kết luận :

(7) Tu n‟es jamais venu chez lui Tu ne sais pas ó il travaille et qui il fréquente Alors que sais–tu de lui? (Cậu chưa bao giờ đến nhà anh ta Cậu khơng biết anh ta làm ở đâu, hay giao du với ai Vậy cậu biết gí về anh ta đây ?)

Kết luận dường như là một phát ngơn hỏi, nhưng dụng ý kết luận khơng phải để chất vấn mà dụng ý này được thể hiện ngầm ẩn qua câu hỏi : cậu chẳng biết gí về anh ta

cả, khơng nên kết bạn với anh ta

b Trong cấu trúc lập luận, vị trì của kết luận cĩ thể thay đổi Sự thay đổi

về vị trì thường kéo theo sự thay đổi về nội dung biểu hiện

Kết luận thường đứng cuối lập luận và nội dung biểu hiện như là một kết quả được rút ra từ những luận cứ đã nêu:

Trang 14

(8) (p)Aujourd‟hui, j‟ai dû payer mes impôts, (q)j‟ai perdu mon portefeuille (r) C‟est vraiment une mauvaise journée (Hôm nay, tôi phải nộp thuế, tôi bị mất vì Đây đúng là một ngày tồi tệ.)

Cũng có khi kết luận đứng đầu lập luận với nội dung như là một nhận xét, đánh giá khái quát về những điều sẽ được giải thìch bằng những luận cứ tiếp theo

(9) (r)Renouveler une carte d‟identité ou un passeport n‟est pas toujours une opération simple (p)L‟examen approfondi, de plus en plus rigoureux, de la situation

du demandeur concerne son identité mais aussi (q) sa nationalité (Việc cấp mới chứng minh thư hay hộ chiếu không phải lúc nào cũng là một thủ tục đơn giản Công việc điều tra sâu về hoàn cảnh người yêu cầu cấp mới ngày càng chặt chẽ, không chỉ liên quan đến danh tình mà cả quốc tịch của người này.)

Cũng có khi kết luận xen vào giữa lập luận và nội dung của kết luận thường là một nhận xét, đánh giá, bộc lộ thái độ nảy sinh từ những luận cứ gợi

ra ở phìa trước và được bổ sung bằng những điều minh hoạ thêm hoặc giải thìch cho kết luận trong những luận cứ sau:

(10) (p) La robe est belle et pas chère Mais (r) je ne l‟achète pas (q) Elle ne me va pas (Chiếc váy đẹp và không đắt Nhưng tôi vẫn không mua nó Nó không vừa với tôi)

I.1.3 Lẽ thường - cơ sở của lập luận

Nếu lập luận trong lôgìc có cơ sở là các tiền đề lôgìc và các thao tác lôgìc, thí cơ sở để nối kết luận cứ với kết luận tạo nên một lập luận trong giao tiếp, trong cuộc sống xã hội lại là các topoi (số ìt là topo3) (Ducrot 1983), tức

là các « lẽ thường » theo cách dịch của Đỗ Hữu Châu hay « lý lẽ chung » theo

đề xuất của Nguyễn Đức Dân

Lẽ thường là những chân lý thông thường có tình kinh nghiệm, không có tình tất yếu, bắt buộc như các tiền đề lôgìc Có những lẽ thường phổ quát chung cho nhân loại được tất cả các dân tộc chấp nhận Chẳng hạn như „thời

3

Thuận ngữ topo là thuật ngữ đã được Aristote đưa ra trong cuốn Topiques để chỉ các nguyên lý chung đươc

chấp nhận trong một cộng đồng ngôn ngữ và được sử dụng làm cơ sở cho lập luận Ducrot đã sử dụng lại thuật ngữ này trong lý thuyết lập luận

Trang 15

tiết xấu‟ thí „mọi người thường ở trong nhà, không đi ra ngoài‟ Nhưng cũng

có lẽ thường chỉ được một dân tộc hoặc một địa phương thừa nhận Chẳng hạn lập luận : «Mới đầu tháng, thế mà cậu đã đi thăm bà đẻ » sẽ trở nên vô lý đối với người nước ngoài, nhưng đối với người Việt Nam thí hoàn toàn có thể giải thìch được Hai luận cứ „đầu tháng‟ và „đi thăm bà đẻ‟ hoàn toàn có thể kết nối được với nhau thông qua lẽ thường được nhiều người Việt biết đến: đầu tháng thường tránh làm những điều mang xui xẻo đến như đi thăm bà đẻ Dựa trên lẽ thường này, người Việt nhận biết được ngay kết luận ngầm ẩn có thể rút ra từ đây là lời cảnh báo „cậu có thể gặp xui xẻo trong tháng‟

Một lập luận có thể dựa trên một hoặc nhiều lẽ thường khác nhau Các lẽ thường khác nhau trong một lập luận không loại trừ nhau, mà chỉ hơn kém nhau hiệu lực trong lập luận Chú trọng lẽ thường nào là ý đồ của người nói (11) a Il fait beau mais je suis fatigué Je ne sors pas4 (Trời đẹp nhưng tôi mệt nên không đi chơi được.)

b Je suis fatigué mais il fait beau Je sors quand même (Tôi mệt nhưng trời đẹp nên tôi vẫn cứ đi chơi.)

Cả hai lập luận này đều dựa trên hai lẽ thường : To1=„trời đẹp thí đi chơi‟, và To2=„mệt thí không đi chơi‟, nhưng (11a) chú trọng lẽ thường To2, còn đối với (11b) To1 có hiệu lực mạnh hơn

Để bác bỏ một lập luận, người ta có thể đơn giản tuyên bố về tình không quan yếu của nó bằng cách đưa ra một lẽ thường khác Chẳng hạn để bác bỏ lập luận „trời đẹp nên đi chơi‟, có thể đưa ra một lẽ thường khác như „mệt thí không nên làm gí khác ngoài nghỉ ngơi‟ hay „sức khoẻ là trên hết‟

I.1.4 Các quan hệ liên kết giữa các luận cứ và kết luận trong lập luận

Các luận cứ liên kết với nhau và liên kết với lập luận không phải chỉ theo các nguyên tắc cú pháp mà còn dựa trên các quan hệ ngữ nghĩa nhất định tùy

4

Vì dụ dẫn theo Moeschler (1985)

Trang 16

theo ý đồ của của người nói Chình sự liên kết ngữ nghĩa này sẽ đảm bảo sự thống nhất và mạch lạc cho lập luận

Halliday & Hassan (1976) phân biệt 4 kiểu quan hệ liên kết : bổ sung, thời gian, nguyên nhân và nghịch đối (đối lập)

I.1.4.1 Quan hệ bổ sung

Đây là kiểu quan hệ giữa hai mệnh đề/phát ngôn đi liền kề nhau, trong đó phát ngôn đi trước chưa bộc lộ hết nghĩa, chưa cung cấp đầy đủ thông tin, phát ngôn đi sau có nhiệm vụ giải thìch, làm rõ, tăng cường ý nghĩa cho phát ngôn trước, hoàn chỉnh ý nghĩa chưa được nêu ra ở phát ngôn trước Kiểu quan hệ này là quan hệ đồng hướng giữa các luận cứ cùng hướng tới một kết luận :

(12) La France n‟a pas participé à la course aux armements De plus, la France s‟est

toujours refusé à faire de l‟arme atomique une arme de "bataille" (Nước Pháp chưa bao giờ tham gia vào cuộc chạy đua vũ trang Hơn nữa, nước này luôn từ chối coi vũ khì nguyên tử là vũ khì chiến đấu.)

I.1.4.2 Quan hệ thời gian

Là kiểu quan hệ giữa hai mệnh đề/phát ngôn đi liên kề nhau theo một trính tự thời gian nào đó như trước sau, liên tục, gián đoạn, đồng thời, nối tiếp,

(13) Pierre Bayle étudie au Collège d'enseignement technique de Castelnaudary Il

travaille en même temps dans une petite poterie de la commune (Pierre Bayle học

tại Trường kỹ thuật ở Castelnaudary Đồng thời, ông làm việc trong một xưởng gốm

ở làng này)

Đây có thể là quan hệ giữa các luận cứ có quan hệ đồng hoặc ngược hướng

I.1.4.3 Quan hệ nguyên nhân

Là quan hệ giữa hai mệnh đề/phát ngôn trong đó một nêu lên nguyên nhân và một thể hiện kết quả của nguyên nhân Phát ngôn thể hiện nguyên nhân có thể đứng trước (14) hoặc đứng sau (15)

Trang 17

(14) Il était là tout à l‟heure Il ne doit donc pas être loin (Anh ta vừa ở đây lúc

nãy Vì thế, anh ta hẳn không ở xa đây.)

(15) Ils ont été condamnés parce qu‟ils avaient commis un vol (Họ đã bị kết án ví

đã phạm tội ăn cắp.)

Quan hệ nguyên nhân - kết quả là quan hệ giữa luận cứ và kết luận: luận

cứ chình là nguyên nhân, còn kết luận là kết quả của nguyên nhân

I.1.4.4 Quan hệ đối lập

Một định nghĩa đầy đủ về quan hệ đối lập sẽ được trính bày cụ thể ở phần I.2 chương I Ở đây chúng tôi chỉ xin đưa ra ví dụ cụ thể về quan hệ đối lập:

(16) Il y a de nombreuses recherches sur la maladie; pourtant aucun vaccin n‟a été

trouvé (Có nhiều nghiên cứu về căn bệnh này ; tuy nhiên không một loại vaxin nào được tím ra)

Lập luận trên gồm hai phát ngôn có quan hệ lập luận ngược hướng : p=có nhiều nghiên cứu về căn bệnh này hướng người nghe tới kết luận r=tím ra được vaxin ngừa bệnh ; còn q đưa ra kết luận trái ngược lại : không có vaxin nào được tím

ra Quan hệ giữa p và q chình là quan hệ đối lập

(17) Il a promis de venir chez moi mais il est allé voir son frère Il n‟a donc pas tenu

sa promesse (Anh ta đã hứa là đến chỗ tôi nhưng anh ta lại đến gặp anh trai mính Vậy là anh ta đã không giữ lời hứa.)

Lập luận này gồm 3 thành phần : hai luận cứ và một kết luận trong đó một luận

cứ không thuận cho kết luận, một là cơ sở khẳng định kết luận Quan hệ giữa hai luận cứ trong vì dụ này cũng là quan hệ đối lập

(18) Elle aime aller au spectacle Lui, au contraire, aime recevoir des amis chez lui

(Cô ấy thìch đi xem biểu diễn Ngược lại, anh ấy thìch tiếp đón bạn bè ở nhà.)

Lập luận 18 cũng gồm hai luận cứ có quan hệ đối lập ví chúng ghi nhận hai sở thìch trái ngược nhau của hai đối tượng

Các vì dụ trên cho thấy quan hệ đối lập có thể tồn tại giữa hai luận cứ hoặc giữa các luận cứ và kết luận Trong trường hợp thứ nhất, người nói đưa

ra hai luận cứ đối lập nhau để tạo nên một sự so sánh dẫn dắt người nghe tới một kết luận nào đó, hoặc nhấn mạnh vào một luận cứ để hướng người nghe đến kết luận mà mính mong muốn Trong trường hợp thứ hai, người nói đưa

ra kết luận trái ngược với luận cứ nhằm khẳng định (áp đặt) quan điểm của

Trang 18

mính và loại trừ khả năng phản bác lại của người đối thoại (ví luận cứ có thể dùng để phản bác đã được trính bày)

I.1.5 Kết tử lập luận và một số vấn đề liên quan đến kết tử lập luận

Định hướng của lập luận cũng như các quan hệ liên kết của các luận cứ

và kết luận có thể nhận biết được nhờ các yếu tố có vai trò chỉ dẫn lập luận như các kết tử lập luận (connecteurs argumentatifs) Trong các vì dụ trên,

các kết tử như de plus, en même temps, donc, parce que, mais, pourtant và

au contraire chình là những chỉ dẫn lập luận giúp nhận biết quan hệ liên kết

trong lập luận

I.1.5.1 Kết tử lập luận

Kết tử lập luận là yếu tố phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập luận duy nhất

(19) Il est 7 heure Alors dépêche-toi ! (Bảy giờ rồi đấy, ví thế hãy khẩn trương lên!)

Kết tử không tác động đến tiềm năng lập luận của phát ngôn chứa nó, mà

« kết nối » mệnh đề/phát ngôn này với một mệnh đề/phát ngôn khác làm thành một lập luận đồng thời định hướng cho lập luận Nhờ kết tử mà các mệnh đề/phát ngôn trở thành luận cứ hay kết luận của một lập luận Nhờ có các kết

tử mà ta biết được quan hệ lập luận là đồng hướng hay ngược hướng, quan hệ lập luận được tạo nên theo cơ chế nào, hoàn cảnh nào và nhằm mục đìch gí

Chẳng hạn trong vì dụ (19) kết tử alors cho ta biết phát ngôn „hãy khẩn trương

lên‟ là kết luận, còn „bảy giờ rồi đấy‟ là luận cứ và quan hệ lập luận giữa chúng là quan hệ nguyên nhân - hệ quả

I.1.5.2 Một số vấn đề về kết tử lập luận :

a Kết tử lập luận thuộc về nhiều lớp từ loại khác nhau : liên từ như mais, donc, et , phó từ như pourtant, cependant, toutefois, néanmoins (đều được

chuyển dịch sang tiếng Việt là tuy nhiên, tuy vậy) ., quán ngữ (cụm từ cố

định) như au contraire, par contre, en revanche (đều được chuyển dịch sang

Trang 19

tiếng Việt là trái lại, ngược lại), hay cụm chủ vị như „tu sais‟ (bạn biết đấy)

Kết tử có thể xuất hiện đơn như các kết tử vừa kể trên hoặc ghép như trường

hợp certes mais, non seulement mais aussi, hay trong tiếng Việt ta

có không những mà còn, đã lại

Do bản chất từ loại khác nhau, nên phạm vi hoạt động của các kết tử cũng khác nhau Có kết tử có thể kết nối mệnh đề có quan hệ chình - phụ (20),

có kết tử được sử dụng để kết nối hai câu, hai phát ngôn độc lập (21)

(20) Bien que les cultures de plantes génétiquement modifiées soient quasiment

inexistantes en France, les OGM entrent progressivement dans notre alimentation (Mặc dù ở Pháp gần như không có việc trồng các loại cây biến đổi gen nhưng sản phẩm biến đổi gen vẫn dần thâm nhập vào thực phẩm của chúng ta.)

(21) Le choc est grand pour le petit royaume nordique Pourtant, le ministre des

Finances se veut rassurant (Đây là cú sốc là lớn đối với vương quốc Bắc Âu nhỏ bé này Tuy nhiên, ngài bộ trưởng tài chình vẫn muốn làm yên lòng mọi người.)

b Kết tử có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau :

i) Tuỳ theo quan hệ với luận cứ và kết luận, các kết tử được chia thành kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận Kết tử dẫn nhập luận cứ

là kết tử đưa một nội dung (hay một hành vi ở lời) vào làm luận cứ cho một

lập luận Đó là các kết tử như parce que (vì), par exemple (vì dụ như), bienque, quoique (mặc dù) Kết tử dẫn nhập kết luận là những kết tử đưa

vào lập luận một nội dung (hay một hành vi ở lời) đóng vai trò kết luận cho

lập luận Đó là các kết tử như donc (ví vậy, nên), alors (cho nên), en tout cas (trong mọi trường hợp), de toute façon (Dù sao đi chăng nữa) Một số kết tử

vừa có thể dẫn nhập luận cứ vừa có thể dẫn nhập kết luận trong lập luận Đó là

trường hợp của kết tử mais trong 2 vì dụ sau :

(22) La robe est belle et pas chère Mais elle ne me va pas.(Chiếc váy đẹp và không đắt Nhưng nó không vừa với tôi) → mais dẫn nhập luận cứ

(23) La robe est belle et pas chère Mais je ne l‟achète pas (Chiếc váy đẹp và không đắt Nhưng tôi vẫn không mua nó.) → mais dẫn nhập kết luận

Trang 20

ii) Tuỳ theo tình chất liên kết phát ngôn tham gia cấu tạo lập luận, các kết

tử lập luận có thể chia thành kết tử 2 vị trì và kết tử 3 vị trì Kết tử 2 vị trì (loại

K (p,r)) là những kết tử chỉ cần hai phát ngôn là đủ lập thành một lập luận ; nó

không cần sự can thiệp của một thành phần ngầm ẩn thứ ba Donc (ví vậy), alors (ví thế), par consequence (do đó), car (vì), parce que (ví), .là những

kết tử 2 vị trì Kết tử 3 vị trì (loại K (p,q,r)) là loại kết tử ngoài hai biến số lập luận còn cần có sự can thiệp của một biến số thứ ba ngầm ẩn hay tường minh

có chức năng như một luận cứ hay kết luận Các kết tử loại này là mais (nhưng), quand même (vẫn), toutefois (tuy nhiên), finalement (cuối cùng thì), d’ailleurs (vả lại), même (thậm chì),

iii) Tuỳ theo khả năng kết nối các luận cứ, kết luận đồng hướng hay ngược hướng, các kết tử lập luận còn có thể chia thành kết tử chỉ dẫn quan hệ

đồng hướng (même, non seulement mais aussi, par ailleurs, de plus, en plus, .) và các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng (mais, or, pourtant, cependant, toutefois, en revanche, par contre, ) Các kết tử chỉ dẫn quan hệ

ngược hướng chình là những phương tiện hữu hiệu để thể hiện quan hệ đối lập

và đây chình là đối tượng khảo sát nghiên cứu của luận văn này

c Với tư cách là một thành phần trong lập luận, kết tử lập luận chỉ dẫn quan hệ ngữ nghĩa (quan hệ đối lập, bổ sung, giải thìch, nhân - quả, thời gian, ) giữa các luận cứ và kết luận Kết tử đồng thời cũng là yếu tố tham gia

tổ chức lập luận, và qua đó tham gia tổ chức văn bản hay diễn ngôn Nhờ sự hiện diện của các kết tử, người đọc, người nghe có thể phân biệt được thông tin chình với thông tin phụ, luận cứ với kết luận, dễ dàng nắm bắt được cấu trúc của văn bản hay diễn ngôn

Văn bản sau đây là một văn bản không dễ nắm bắt mối quan hệ giữa các phát ngôn và cũng không dễ nhận biết cấu trúc nếu không có các kết tử :

Ví dụ (24)

Trang 21

1 Le téléphone nous tyranise 2 Une seule de ses sonneries nous fait nous précipiter sur lui 3 Peu d‟entre nous résistent à l‟envie de savoir qui les appelle et pourquoi 4 Peut-être s‟agit-il d‟un appel urgent 5 Le téléphone nous rend mille

et un services 6 Ils nous épargnent des déplacements inutiles 7 Lors que nous cherchons un article de sport, il est plus efficace de téléphoner aux boutiques spécialisées que de s‟y rendre 8 Il représente une sécurité en cas d‟urgence 9 Le téléphone est un despote indispensable (1 Điện thoại đang thống trị chúng ta 2 Chỉ một tiếng chuông điện thoại reng lên là chúng ta đã lao ngay về phìa nó 3 Rất

ìt người trong số chúng ta chiến thắng được ham muốn biết ai gọi và tại sao 4 Có

lẽ đó là một cuộc gọi khẩn cấp 5 Điện thoại mang đến cho chúng ta một ngàn lẻ một công dụng 6 Nó tránh cho chúng ta những việc đi lại vô bổ 7 Khi chúng ta tím một sản phẩm thể thao, gọi điện đến cửa hàng sẽ hiệu quả hơn là trực tiếp đi đến đó 8 Nó đảm bảo sự an toàn trong trường hợp khẩn cấp 9 Điện thoại là thứ

mà chúng ta phụ thuộc nhưng không thể thiếu.)

Nếu đưa vào văn bản này lần lượt các kết tử : en effet (quả thật), il faut dire que (phải nói rằng), d‟ailleurs (vả lại), en revanche (ngược lại), ainsi (vì thế), par exemple (ví dụ như), aussi (cũng), en somme (tóm lại) để kết nối các

phát ngôn trong văn bản, thí mối quan hệ giữa các phát ngôn cũng như cấu trúc của toàn bộ văn bản sẽ dễ dàng được nhận biết :

Văn bản và các cấp độ của các phát ngôn trong văn bản

Cấp 1 1 Le téléphone nous tyranise

Cấp 2 2 Une seule de ses sonneries nous fait, en effet, nous précipiter

sur lui

Cấp 3 3 Il faut dire que peu d‟entre nous résistent à l‟envie

de savoir qui les appelle et pourquoi

Cấp 3 4 D’ailleurs, peut-être s‟agit-il d‟un appel urgent

Cấp 1 5 En revanche, le téléphone nous rend mille et un services

Cấp 2 6 Ainsi, il nous épargne des déplacements inutiles

Cấp 3 7 Lors que nous cherchons un article de sport, par

exemple, il est plus efficace de téléphoner aux

boutiques spécialisées que de s‟y rendre Cấp 2 8 Il représente aussi une sécurité en cas d‟urgence

Cấp 1 9 En somme, le téléphone est un despote indispensable

Trang 22

d Kết tử lập luận không phải chỉ liên kết các nội dung mệnh đề của các phát ngôn (hiển ngôn) mà còn có thể liên kết một nội dung hiển ngôn với một hàm ngôn, một nội dung hiển ngôn với một tiền giả định, thậm chì có thể liên kết các hành vi ngôn ngữ ở lời Các vì dụ sau sẽ minh chứng cho điều này :

(25) Marie est jolie mais Anne est intelligente (Marie xinh xắn còn Anne thông

minh.)

(26) - Il fait froid, ferme la porte (Trời lạnh, đóng cửa lại đi)

- Mais elle n‟est pas ouverte! (Nhưng cửa đâu có mở.)

(27) Marie est malade parce qu‟elle a trop mangé (Marie bị đau bụng ví cô ấy ăn

quá nhiều.)

(28) Est-ce que Marie est malade ? Parce que je ne l‟ai pas vue (Có phải Marie bị

ốm ? Ví tôi không thấy cô ấy.)

(29) Il y a du poulet dans le frigo, parce que je n‟ai pas envie de faire à manger (Có

thịt gà ở trong tủ lạnh đấy, ví tôi không muốn nấu ăn.)

Ở các vì dụ (25) và (27), kết tử lập luận được sử dụng để liên kết hai hiển

ngôn : mais liên kết hai hiển ngôn „Marie xinh xắn‟ và „Anne thông minh‟ (25); parce que kết nối hai hiển ngôn „Marie bị đau bụng‟ (hệ quả) với

„cô ấy ăn quá nhiều‟ (nguyên nhân) (27) Tuy nhiên, ở vì dụ (25), kết tử mais

không chỉ biểu hiện sự đối lập giữa phẩm chất trì tuệ (thông minh) và phẩm chất hính thức (xinh xắn), mà đằng sau sự so sánh đối chiếu ngầm ẩn giữa thuộc tình xinh xắn của Marie với thuộc tình cùng trên thang độ của Anne :

Anne kém xinh hơn Marie Tương tự, trong (25) còn một điều ngầm ẩn khác :

Marie kém thông minh hơn Anne Vậy là kết tử mais trong (25) còn biểu hiện

sự đối lập giữa một điều tường minh và một điều ngầm ẩn :

Marie xinh xắn (hiển ngôn) vs Anne kém xinh xắn (hàm ngôn)

Marie kém thông minh (hàm ngôn) vs Anne thông minh (hiển ngôn)

Trong vì dụ (26), mệnh lệnh "đóng cửa lại" có tiền giả định là "có một cái cửa đang mở » Lời đáp „cửa đâu có mở‟ thực chất có quan hệ đối lập trực tiếp với tiền giả định của mệnh lệnh đưa ra Người đáp đã bắt bẻ, phản bác lại

Trang 23

người nói, vạch ra cái sai của tiền giả định Trong trường hợp này, mais biểu

thị sự đối lập của một phát ngôn với tiền giả định của phát ngôn trước

Khác với vì dụ (27), ở vì dụ (28) parce que không liên kết nguyên nhân

với hệ quả hiển ngôn mà liên kết nguyên nhân „Tôi không thấy cô ấy‟ với một hành vi hỏi:

Có phải Marie bị ốm ? Tôi hỏi ví tôi không thấy cô ấy

Tương tự ở vì dụ (29), „tôi không muốn nấu ăn‟ không phải là nguyên nhân của việc „có thịt gà ở trong tủ lạnh‟ mà là nguyên nhân của hành động phát ngôn nội dung này :

Có thịt gà ở trong tủ lạnh đấy, tôi nói thế ví tôi không muốn nấu ăn

I.2 Một số vấn đề về quan hệ đối lập và các phương tiện ngôn ngữ thể hiện quan hệ đối lập trong lập luận

I.2.1 Khái niệm “đối lập »

a Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về quan hệ đối lập Tuy nhiên, họ đề cập đến quan hệ này dưới nhiều tên gọi khác nhau : Halliday và

Hassan (1976) gọi nó là quan hệ "nghịch đối” (Adversative relations), Roulet (1985) thì coi đó là quan hệ mâu thuẫn (relations de contradiction), Ducrot (1980, 1983) gọi nó là quan hệ đối lập (relations d’opposition), với Trần Ngọc Thêm (1985) thí đó là quan hệ "tương phản - đối lập"; David Nunan (1993) cũng dùng "nghịch đối" để chỉ một kiểu loại trong số bốn kiểu

loại quan hệ của phép nối ; còn Diệp Quang Ban (1998) trên cơ sở phân loại

phép nối liên kết văn bản tiếng Việt đã dùng thuật ngữ quan hệ tương phản

Luận văn sử dụng thuật ngữ quan hệ đối lập để chỉ các quan hệ ngược

hướng được biết đến với những tên gọi trên

b Khi định nghĩa “quan hệ đối lập”, các nhà ngôn ngữ học cũng có những ý kiến khác nhau

Trang 24

Theo định nghĩa của Từ điển Petit Robert, thí quan hệ đối lập không chỉ

là quan hệ giữa hai sự vật, sự việc trái ngược nhau mà còn có thể là quan hệ giữa các sự vật, sự việc mà người ta đặt ở vị trì đối nhau5

Các tác giả của Grammaire Larousse du français contemporain (1964)

thí định nghĩa đối lập là quan hệ ở nhiều cấp độ : i) hoặc giữa hai sự tính tồn

tại hay có thể tồn tại song song đồng thời ; ii) hoặc giữa hai sự tính cùng tồn tại hoặc có thể cùng tồn tại nhưng một trong hai sự tính lẽ ra phải hoặc phải cản trở sự tính kia diễn ra6

Ở Việt Nam, Diệp Quang Ban (1998) cho rằng quan hệ tương phản (bao

hàm cả quan hệ nhương bộ) là kiểu quan hệ mà ý nghĩa của hai câu – phát ngôn đi liền nhau có ý nghĩa tương phản, lập luận ngược hướng nhau 8

7

« The basic meaning of the adversative relations is „contrary to expectation » The expectation may be derived from the content of what is being said, or from the communication process, the speaker – hearer situation …”

Trang 25

I.2.2 Các kiểu quan hệ đối lập trong lập luận

Lập luận có thể được xây dựng dựa trên quan hệ đối lập Tuỳ theo mục đích lập luận và cấu trúc lập luận, quan hệ đối lập có thể mang những đặc thù khác nhau Một số tác giả nghiên cứu về quan hệ đối lập đã cố gắng đưa ra một cách phân loại các kiểu quan hệ đối lập

Lakoff (1971) khi bàn về các cách sử dụng khác nhau của liên từ but

trong tiếng Anh đã phân biệt hai kiểu đối lập:

Đối lập ngữ nghĩa hay tương phản (opposition sémantique):

(30) Tom is tall but Bill is short (Tôm cao, còn Bill thấp)

Phủ nhận mong đợi (Déni d‟attente) :

(31) John is tall but he‟s not good at basketball (John cao nhưng anh ta chơi bóng rổ không tốt)

John cao  Mong đợi: John chơi bóng rổ tốt Mệnh đề thứ hai trên thực tế đã phủ nhận sự mong đợi này

Halliday và Hassan (1976) thí nói tới quan hệ nghịch đối nội tại và ngoại tại Về bản chất, quan hệ nghịch đối ngoại tại tương ứng với tương

phản và quan hệ nghịch đối nội tại thí tương ứng với phủ nhận mong đợi trong cách phân loại của Lakoff

Blackmore (1987) lại hợp nhất hai kiểu đối lập này dưới cùng một tên gọi

“tương phản” (contrast use of but) trên cơ sở chỉ ra rằng cả hai trường hợp

trên đều vận hành theo cùng một cơ chế ngôn ngữ: đều hướng người nghe

hiểu cái mệnh đề được “but” dẫn nhập trong thế tương phản với mệnh đề

trước (đối lập ngữ nghĩa) hoặc với mệnh đề được suy ra từ mệnh đề trước

(phủ nhận mong đợi)

Các tác giả của Grammaire Larousse du français contemporain (1964)

thí cho rằng: ứng với hai cấp độ đối lập là hai kiểu quan hệ đối lập : đối lập

8

Dẫn theo Lương Đính Dũng, Phép nối và một vài suy nghĩ về phương pháp dạy phép nôi trong tiếng Việt,

Tạp chì ngôn ngữ số 6, năm 2005

Trang 26

đơn giản (opposition simple) và nhượng bộ (concession) Cách phân chia này

gần với G.Mauger (1968) trong Grammaire pratique du français d‟aujourd‟hui khi tác giả này cũng cho rằng có hai loại đối lập:

i) Đối lập bao hàm nguyên nhân không hiệu quả được gọi là nhượng bộ (concession):

(32) Malgré ses défauts, je l‟aime (Mặc dù anh ấy có nhược điểm, tôi vẫn yêu anh ấy)

ii) Đối lập song song (opposition parallèle): hai sự tính được đặt song song với nhau:

(33) Pierre est travailleur tandis que Paul est paresseux (Pierre chăm chỉ trong khi Paul lười biếng)

Các tác giả nghiên cứu về quan hệ đối lập trong tiếng Pháp như Anscombre & Ducrot (1983), Roulet (1985) và Morel (1996) cũng nói đến

nhƣợng bộ (concession) như một kiểu quan hệ ngược hướng điển hính

Nhưng khái niệm nhượng bộ theo quan điểm của Anscombre & Ducrot có phạm vi rộng hơn so với quan niệm của Mauger : đó là quan hệ giữa hai phát ngôn p, q hướng tới hai kết luận trái ngược nhau r & r : p →r ; q → r (34) (p) Cet étudiant est assez intelligent mais (q) il est trop feignant (Cậu sinh viên này tương đối thông minh nhưng lười quá.)

p → r = đây là một sinh viên tốt vs q → r= đây là một sinh viên không tốt

Trong khuôn khổ Lý thuyết cấu trúc hùng biện (Rhetorical Structure Theory – RST), Mann và Thompson (1987) cho rằng ngoài tương phản và nhượng bộ, quan hệ đối lập còn bao hàm cả :

Quan hệ phản luận (antithèse): quan hệ giữa các mệnh đề thể hiện các

trạng thái hoặc sự kiện không tương thìch và người nói nêu lên ưu tiên (hoặc niềm tin) của mính đối với tính huống được thể hiện trong mệnh đề chình: (35) An enlarged NATO will threaten no one, on the contrary it will enhance stability (Một NATO mở rộng không đe dọa ai cả mà ngược lại sẽ tăng cường sự ổn định.)

Trang 27

Phản diều kiện (anticondition): Quan hệ giữa vế chình và phụ, trong đó

hành động hay tính huống ở vế chình xảy ra do điều kiện được nêu ở vế phụ không được thực hiện:

(36) Anyone desiring to update their entry in this brochure, should have their copy

in by Dec.1 Otherwise the existing entry will be used (Ai muốn cập nhật các thông tin để đưa vào cuốn catalô này nên nộp các thông tin chỉnh sửa vào khoảng ngày 1 tháng 12 Nếu không các thông tin hiện có sẽ được sử dụng.)

Có thể nói, hiện còn nhiều vấn đề phải tranh cãi về ranh giới phân định các kiểu quan hệ đối lập để có thể đạt tới một cách phân loại chình xác và chặt chẽ Tuy nhiên, chúng tôi không có tham vọng giải quyết những vấn đề này ở đây Trên cơ sở tiếp thu, phân tìch, tổng hợp các ý kiến nêu trên, đồng thời xét mục đìch của đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã lựa chọn một cách phân loại quan hệ đối lập phù hợp với mục đìch nghiên cứu, phân loại các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng Cụ thể, chúng tôi nhận thấy:

- phủ nhận mong đợi thực chất là một trường hợp đặc biệt của nhượng

bộ trong đó r=-q (thay ví q → r) :

Xét vì dụ (31) : p „John cao‟ → r „John chơi bóng rổ tốt‟

q = John chơi bóng rổ không tốt = r

- quan hệ phản điều kiện trong cách phân loại của RST là một trường hợp đặc biệt của tương phản trong đó mỗi vế ở thế tương phản là một biểu thức điều kiện: Nếu A thí B, (còn) nếu  A thì C

Do đó, chúng tôi chỉ chia quan hệ đối lập thành 3 loại khác nhau :

Trang 28

- Phản luận hay bác bỏ-đính chính :

(39) Ce n‟était pas un défilé unitaire, mais une juxtaposition de groupes aux slogans contradictoires et aux objectifs disparates (Đây không phải là một cuộc diễu binh thống nhất mà là một tập hợp hỗn tạp các nhóm có khẩu hiệu trái ngược nhau và các mục tiêu rời rạc.)

Các tiêu chì nhận diện và phân loại các kiểu quan hệ đối lập này sẽ được trính bày cụ thể ở chương II của luận văn

I.2.3 Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện quan hệ đối lập trong lập luận

a Quan hệ đối lập có thể được biểu đạt bằng nhiều phương tiện ngôn ngữ khác nhau Phương tiện biểu đạt quan hệ đối lập phổ biến nhất trong các ngôn

ngữ chình là các từ ngữ có chức năng liên kết, chỉ dẫn quan hệ đối lập, nói cách khác là các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng Trong tiếng Việt, đó

là nhưng, song, còn, tuy, dù, mặc dù, thế mà, trái lại, ngược lại, tuy nhiên, tuy vậy :

(40) Ngồi một lúc thị thấy rằng : cứ ngồi mãi thù ngủ mất Nhưng thị đã ngủ đến hai

phần rồi Chí phèo – Nam Cao

(41) Tài nguyên, trữ lượng nước ngầm ở Cà Mau là rất lớn Tuy nhiên, người dân

nơi đây lại sử dụng nguồn tài nguyên này hết sức phung phì

Trong tiếng Pháp, người ta cũng thường sử dụng các kết tử là các liên từ

như mais, or, bien que, quoique, các phó từ liên kết như pourtant, cependant, toutefois, néanmoins, hay các cụm từ cố định (quán ngữ) có tính chất phó từ hoạt động như các liên từ : par contre, au contraire, en revanche, …:

Trang 29

(44) Nous avons établi le plan de l‟ouvrage mais il n‟est pas encore définitif

(Chúng tôi đã làm xong bản thiết kết công trính nhưng nó vẫn chưa phải là bản chình thức)

(45) Il ne travaille guère ; et pourtant il arrive à gagner sa vie ! (Anh ta không làm

việc gí cả ; thế mà anh ta vẫn kiếm đủ tiền để sống !)

(46) Il est vrai qu‟elle n‟est pas jolie ; en revanche elle a beaucoup d‟esprit et un

caractère charmant (Đúng là cô ấy không xinh; ngược lại, cô ấy có trì tuệ và tình cách hay.)

b Quan hệ đối lập cũng có thể được biểu đạt mà không cần đến sự hiện diện của các từ ngữ có chức năng liên kết Tình chất đối lập ở đây được thể

hiện thông qua việc sử dụng các yếu tố từ vựng có nội dung ý nghĩa trái ngƣợc nhau:

(47) Giàu sang, âu yếm, tính quen thuộc

Bần tiện, thờ ơ, dạ bạc đen Vì tiền – Thơ Tú Xương

(48) Dans les années 1990, le tourisme français, porteur de toutes les promesses, était attendu comme la grande industrie du nouveau millénaire Aujourd'hui, rien ne

va plus, la plupart de nos grands fleurons nationaux sont à la peine (Vào những năm

90, ngành du lịch Pháp, đầy hứa hẹn, được chờ đợi là ngành công nghiệp số 1 trong thiên niên kỉ mới Giờ đây, không có gí ổn cả, phần lớn những công ty du lịch hàng

đầu của chúng ta đều gặp khó khăn.) Nouvel observateur – 21/6/2007

c Biểu thức điều kiện cũng là một phương tiện biểu đạt quan hệ đối lập

một cách hiệu quả trong nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Việt:

(49) If John is very talkative, his brother is quiet and reclusive (Nếu John rất hay

nói, thí anh trai cậu ấy ìt nói và thìch khép mính.)

Understanding and using english grammar - Azar, Betty Schrampfer

(50) Si la pauvreté recule, elle reste endémique et les inégalités se creusent (Nếu

tình trạng nghèo đói có giảm bớt, thí nó vẫn còn phổ biến và sự bất bính đẳng vẫn gia tăng.)

Le monde – diplomatique số tháng 2/2007

(51) Nếu Oanh có vẻ đẹp đài các thì Hoa lại có sự duyên dáng của người phụ nữ

thôn quê

Trang 30

d Các hình thức biểu đạt quan hệ đối lập trên đây mang tính phổ niệm Bên cạnh các phương tiện này còn có những phương tiện mang tính đặc thù của một hay một số ngôn ngữ Trong tiếng Pháp, phương thức ngữ pháp

„danh cách‟ (le gérondif) là một phương tiện hữu hiệu để biểu đạt thế đối lập:

(52) Tout en sachant que j‟allais refuser, il m‟a demandé de lui prêter de l‟argent

(Dù biết là tôi sẽ từ chối nhưng anh ta vẫn yêu cầu tôi cho anh ta mượn tiền.)

Le Nouveau Sans Frontière 3 – trang 166

Ngoài ra, trong tiếng Pháp còn sử dụng một số cấu trúc đặc thù như : tính

từ nghi vấn quel hoặc phó từ điều kiện si +tính từ+ liên từ que + mệnh đề ở bàng thái cách (subjonctif) hay cấu trúc : phó từ tout + tính từ + liên từ que + mệnh đề, để thể hiện quan hệ nhượng bộ :

(53) Quelle changeante qu‟elle soit, je la crois sincère (Dù cô ấy hay thay đổi

nhưng tôi tin cô ấy là người chân thành.)

(54) Tout intelligent qu’il est, il ne comprend pas que le moment n‟était pas

favorable (Dù rất thông minh, anh ta vẫn không hiểu là đây không phải là lúc thìch hợp.)

Trong tiếng Hàn Quốc và tiếng Nhật, hình vị (additive particles) không

chỉ được sử dụng để tạo nên các từ trái nghĩa mà còn được sử dụng để tạo nên thế đối lập trong các lập luận:

(55) Amega hutte – mo pikunikku-ni iku9

Mưa DT đến – hình vị dã ngoại – GT đi - thời hiện tại (DT: danh từ ; GT: giới từ)

Dù trời mưa, nhưng cô ấy vẫn đi dã ngoại

Trong vì dụ trên của tiếng Nhật, hậu tố - mo chình là yếu tố chỉ dẫn quan hệ đối lập

giữa hai vế : trời mưa vs cô ấy đi dã ngoại

Luận văn này tập trung vào nghiên cứu phương tiện biểu đạt quan hệ đối lập trong tiếng Pháp, cụ thể là các liên từ, phó từ liên kết hay cụm từ cố định

có tình chất của phó từ hoạt động như các liên từ Các phương tiện này được

gọi chung dưới cái tên là « kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng hay quan

Trang 31

- Các luận cứ có thể đồng hướng hoặc ngược hướng với nhau, kết luận của lập luận cũng có thể đồng hướng và ngược hướng với các luận cứ Các luận cứ và kết luận của lập luận có thể hiển ngôn hoặc ngầm ẩn

- Các luận cứ liên kết với nhau và liên kết với lập luận không phải chỉ theo các nguyên tắc cú pháp mà còn dựa trên các quan hệ ngữ nghĩa nhất định tuỳ theo ý đồ của của người nói Các quan hệ này có thể là quan hệ bổ sung, quan hệ thời gian, quan hệ nguyên nhân và quan hệ đối lập Các quan hệ liên kết này có thể được nhận biết nhờ các yếu tố chỉ dẫn lập luận như kết tử lập luận

- Kết tử lập luận là yếu tố phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập luận duy nhất Kết tử có thể dẫn nhập luận cứ hay kết luận Tuỳ theo tình chất liên kết phát ngôn tham gia cấu tạo lập luận, kết tử lập luận có thể chia thành kết tử 2 vị trì và kết tử 3 vị trì Tuỳ theo khả năng kết nối các luận cứ và kết luận có quan hệ đồng hướng hay ngược hướng, các kết tử lập luận còn có thể chia thành kết tử chỉ dẫn quan hệ đồng hướng và các kết tử chỉ dẫn quan

hệ ngược hướng Kết tử lập luận không phải chỉ liên kết các nội dung mệnh đề của các phát ngôn (hiển ngôn) mà còn có thể liên kết một nội dung hiển ngôn với một hàm ngôn, thậm chì cả với hành vi ngôn ngữ ở lời

Trang 32

* Một số vấn đề về quan hệ đối lập và các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt quan hệ đối lập trong lập luận

- Đối lập là một trong các quan hệ liên kết ngữ nghĩa trong lập luận giữa

các luận cứ với nhau hay giữa luận cứ và kết luận Đây là quan hệ tồn tại giữa hai mệnh đề/ phát ngôn đi liền nhau có ý nghĩa trái ngược nhau, hoặc

có ý nghĩa khác nhau được đặt song hành với nhau, hoặc hướng tới những kết luận trái ngược nhau

- Quan hệ đối lập có thể được chia thành 3 loại : tương phản, nhượng bộ

và bác bỏ - đình chình

- Quan hệ đối lập, tuỳ theo các đặc tình kiểu loại, có thể được biểu đạt bằng nhiều phương tiện ngôn ngữ khác nhau, có phương tiện mang tình phổ niệm có phương tiện mang tình đặc thù gắn với một hoặc một số ngôn ngữ cụ thể Phương tiện ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất để chỉ dẫn quan hệ đối lập trong các ngôn ngữ là các kết tử lập luận Các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng có thể thay đổi tuỳ theo kiểu quan hệ đối lập được xây dựng trong lập luận Các kết tử này chình là đối tượng nghiên cứu và khảo sát của luận văn

Trang 33

Chương II Quan hệ đối lập trong lập luận và các kết tử chỉ dẫn quan hệ

đối lập trong tiếng Pháp II.1 Các kiểu quan hệ đối lập

Trước hết, phải khẳng định rằng rất khó có thể phân định rạch ròi ranh giới giữa các kiểu quan hệ đối lập Tuy nhiên, sự phân loại này là cần thiết nhằm mục đìch tạo điều kiện cho việc tiếp thu và sử dụng các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng này trong tiếng Pháp Cách phân loại được lựa chọn trong luận văn này dựa trên các tiêu chì sau:

- Tình chất độc lập hay không độc lập của hai vế đối lập

- Quan hệ giữa các vế đối lập là như thế nào? Đối lập trực tiếp hay gián tiếp (thông qua một phát ngôn ngầm ẩn)? Đó là hai luận cứ hướng tới hai hai kết luận trái ngược hay một trong hai chình là kết luận tường minh của lập luận? Hai luận cứ có bác bỏ nhau trong lập luận ngược hướng không?

- Mục đìch lập luận của thế đối lập được tạo ra: để hướng người nghe tới một sự so sánh hay một kết luận cụ thể khác (được thể hiện tường minh hay ngầm ẩn)

Dựa trên các tiêu chì này, chúng tôi chia quan hệ đối lập thành ba kiểu quan hệ đối lập : tương phản, nhượng bộ và bác bỏ - đình chình

II.1.1 Quan hệ tương phản

Quan hệ tương phản là kiểu quan hệ đối lập trực tiếp giữa hai sự tính tồn tại độc lập với nhau Tình chất đối lập giữa hai vế có thể được thế hiện một

cách tường minh thông qua hai cặp từ hay cụm từ có ý nghĩa đối nhau như vì

dụ (37) đã dẫn trong chương I :

(p) Paul est parti mais (q) Jean est resté (Paul đã ra đi còn Jean thí ở lại.)

Trang 34

Trong vì dụ này, hai vế p và q ở thế đối lập trực tiếp, sự đối lập này được thể hiện thông qua hai cặp từ : Paul vs Jean ; partir (ra đi) vs rester (ở lại) Sự đối lập về ngữ nghĩa này là lý do tại sao một số tác giả còn gọi quan hệ tương phản là quan hệ « đối lập ngữ nghĩa »

Mục đìch lập luận ở đây là để đưa ra một sự so sánh làm nổi rõ sự khác biệt Ví thế, kết luận mà lập luận dựa trên quan hệ tương phản hướng tới thường ngầm ẩn, để người nghe tự suy ra sự khác biệt hoặc đó là một kết luận dựa đều trên cả 2 luận cứ, nói cách khác hiệu lực lập luận của 2 luận cứ là ngang nhau :

(1) (p) Paul est parti mais (q) Jean est resté (r) Alors, je ne sais pas s‟il faut partir ou

rester (q) (Paul đã ra đi còn Jean thí ở lại Do vậy, tôi không biết nên đi hay ở )

Vì dụ sau cũng là một trường hợp của quan hệ tương phản :

(2) L‟attractivité du haut débit joue toujours à plein : le nombre d‟abonnés est en

hausse de 77% Par contre, la branche de téléphonie fixe, désormais le maillon

faible du groupe, a fléchi de 1,3% (Internet tốc độ cao vẫn luôn hấp dẫn : số thuê bao tăng 77% Ngược lại, dịch vụ điện thoại cố định, từ nay là mắt xìch yếu của tập đoàn, đã giảm 1.3%.)

để có thể thực hiện phép so sánh : phải có hai đối tượng để so sánh và để làm nên thế tương phản, hai đối tượng phải có sự khác nhau về thuộc tính (trạng thái, hành động, ) Đối tượng so sánh cũng như thuộc tình của đối tượng đều phải có thể qui về cùng một phạm trù để xác định được quan

hệ tương phản giữa chúng

Trang 35

Sự đối lập ngữ nghĩa trong quan hệ tương phản không phải lúc nào cũng mang tình tuyệt đối và được thể hiện tường minh thông qua việc sử dụng các yếu tố từ vựng trái nghĩa nhau như ở vì dụ trên Đôi khi, sự đối lập có thể chỉ dừng lại ở sự khác biệt như ở vì dụ (3) Điều này cũng không có gí vô lý vì trong quan niệm của lôgìc học, quan hệ đối lập bao hàm các quan hệ mâu thuẫn, đối chọi và cả thứ bậc (khác nhau về mức độ, định lượng, )

(3) Tandis que l‟Irak plonge chaque jour un peu plus dans le chaos, le

gouvernement israélien se prépare à retirer ses troupes d‟occupation de Gaza (Trong khi Irắc sa lầy mỗi ngày một sâu hơn trong sự hỗn độn thì chình phủ Israel đang phải chuẩn bị rút quân khỏi dải Gaza.)

Le monde diplomatique số tháng 6 năm 2005

Vế thứ nhất nói về tình hình khó khăn của Irắc ; vế thứ 2 về tình hình khó khăn ở Israel Hai sự tình được đặt song hành với nhau tạo nên một thế tương phản Sự đối lập ở đây chỉ dừng lại mức độ khó khăn khác nhau của Irắc và Israel

Ngoài quan hệ đối lập ngữ nghĩa này, giữa các vế đối lập không có mối quan hệ lôgìc nào khác như quan hệ suy diễn (dạng nguyên nhân - hệ quả nghịch, hay lý do - kết luận nghịch), hay phủ nhận bác bỏ lẫn nhau :

(4) (p) Les vieux allaient et venaient du port au village, montant et descendant les

hauts escaliers avec la lenteur des mulets qui s‟économisent sous le soleil alors que

(q) des grappes d‟enfants dévalaient les marches sans jamais se fatiguer (Các cụ già

đi tới đi lui từ cảng đến làng lên lên xuống xuống các cầu thang cao, lừ đừ như những con la tiết kiệm sức dưới án nắng trong khi từng đám trẻ con ào ào lao xuống các bậc thang không biết mệt.)

Tiểu thuyết Mặt trời nhà Scorta

Ở vì dụ trên, p và q là hai sự tính đối lập tương phản với nhau : một bên

là những người già đi lại chậm chạp, tiết kiệm sức, còn một bên là đám trẻ ào

ào lao xuống cầu thang không biết mỏi Ngoài quan hệ đối lập này, giữa p và

q không có quan hệ mâu thuẫn lôgìc, không có quan hệ suy diễn, cũng không

có sự phủ nhận, bác bỏ

Trang 36

Có thể khái quát quan hệ tương phản với đặc trưng đối lập kép thông qua biểu thức sau :

« Traité de l‟Argumentation » (Qui ước lập luận), đã định nghĩa về nhượng

bộ : « Mỗi khi ta đi theo người đối thoại sang lãnh địa của anh ta, tức là ta đang dành cho anh ta một sự nhượng bộ [ ] Nhượng bộ là để đối phó với những nguy hiểm quá lớn ; nó cho thấy ta cởi mở tiếp nhận một số lý lẽ thực

sự của đối thủ hoặc được cho là của đối thủ [ ] Hiệu quả của nhượng bộ gần giống như hiệu quả mà ta đạt được khi không loại bỏ hết được mọi hoàn cảnh bất lợi 10

Trang 37

khi p hướng tới kết luận r, còn q hướng tới một kết luận trái ngược r (Anscombre & Ducrot 1977):

(5) (p) Du temps de Mao [ ], les revenus étaient faibles, certes, mais (q) tout le

monde logeait à la même enseigne (Đúng là dưới thời Mao, thu nhập thấp nhưng

mọi người đều bính đẳng với nhau.) L'Express ngày 09/02/2006

p = dưới thời Mao, thu nhập thấp‟ hướng tới kết luận r „thời kỳ này không tốt‟ trong khi q = mọi người đều bính đẳng với nhau‟ lại ủng hộ cho kết luận ngược lại r

„thời kỳ này có điểm tìch cực‟

Khác với quan hệ tương phản, quan hệ nhượng bộ là quan hệ diễn ngôn không nhằm mục đìch so sánh hai sự tính Mục đìch lập luận rất rõ ràng : hướng người nghe đến một kết luận mong muốn Diễn biến lập luận được chia làm hai giai đoạn : 1 Người nói bắt đầu lập luận bằng việc thừa nhận giá trị của một luận cứ; 2 sau đó, người nói nêu ra một luận cứ khác hay kết luận phản lại để hạn chế hoặc làm mất giá trị luận cứ trước

Quan hệ đối lập mang tình nhượng bộ không dễ nhận diện thông qua các yếu tố hiển ngôn như các yếu tố từ vựng trái nghĩa mà phải thông qua các kết luận ngầm ẩn Trong vì dụ (9), quan hệ đối lập giữa hai phát ngôn được thiết lập thông qua các kết luận ngầm ẩn : „thời kỳ Mao không tốt‟ vs „thời kỳ Mao

có điểm tìch cực‟ Quan hệ đối lập ở đây mang tính gián tiếp, qua suy diễn Trong quan hệ nhượng bộ, kết luận  r có thể xuất hiện một cách tường minh ở vị trì của q Đây là một trường hợp đặc biệt của quan hệ nhượng bộ : (6) (p)La France, qui en est aujourd'hui l'un des grands défenseurs, n'a adhéré au

TNP qu'en 1992, après la fin de la guerre froide Mais(q) Paris en respectait les

règles, assure François Géré [ ] (Nước Pháp hiện là một trong những nước bảo vệ TNP (Hiệp ước không phổ biến vũ khì hạt nhân) chỉ gia nhập Hiệp ước này vào năm

1992 sau khi chiến tranh lạnh đã kết thúc Nhưng Paris đã luôn tuân thủ các nguyên tắc của Hiệp ước này - François Géré đảm bảo.)

http://www.liberation.fr/page.php?Article=361523

 p „Nước Pháp chỉ gia nhập TNP vào năm 1992 sau khi chiến tranh lạnh đã kết thúc‟ là luận cứ hướng đến kết luận r „Pháp không phải tuân thủ các quy định của TNP trong thời gian trước năm 1992‟ – kết luận này trái ngược với chính q = „Paris

Trang 38

đã luôn tuân thủ các nguyên tắc của TNP‟, vậy là chỉ cần một lần suy diễn đã có thể thiết lập được quan hệ đối lập ví q =r

Trường hợp này còn được Lakoff gọi là sự phủ nhận mong đợi : mong đợi từ p: Pháp không phải tuân thủ các quy định của TNP trong thời gian trước 1992; q là kết luận phủ nhận mong đợi mà p mang đến Hai vế đối lập trong vì dụ này là một hàm ngôn và một hiển ngôn : „Pháp không phải tuân thủ TNP‟ (được suy ra từ p) vs „Paris đã luôn tôn trọng các nguyên tắc của TNP‟

Quan hệ nhượng bộ còn có một trường hợp đặc biệt khác : luận cứ thứ hai q chình là sự phủ định luận cứ thứ nhất p, qua đó kết luận mà nó hướng tới

sẽ phủ định kết luận mà p hướng tới : p Kq với p → r và q = p →r :

(7) (r) La conception même du système de données est jugée lacunaire Pour faciliter les transferts de fichiers, le Centre de contrôle dispose de deux bases (p) Chacune d'elles devrait donc contenir le même nombre d'informations Or, (q) ce n'est pas le cas (Bản thân việc thiết kế hệ thống dữ liệu bị đánh giá là có thiếu sót

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền các tệp dữ liệu, Trung tâm kiểm soát phải

có hai cơ sở dữ liệu Ví vậy, mỗi cơ sở dữ liệu phải có số lượng thông tin như nhau Vậy mà, trên thực tế không phải vậy.) Le Monde-11/09/2007

p „mỗi cơ sở dữ liệu phải có cùng số lượng thông tin như nhau‟ là điều kiện để đảm bảo r = „hệ thống dữ liệu hoàn thiện‟ ; q = p =  (mỗi cơ sở dữ liệu phải có cùng

số lượng thông tin như nhau)  thực tế không phải vậy →  r = (hệ thống dữ liệu hoàn thiện)  ngay việc thiết kế hệ thống dữ liệu đã bị đánh giá là có thiếu sót

Như vậy, quan hệ nhượng bộ có thể chia thành ba trường hợp :

- trường hợp khái quát : p K q với p  r ; q r

- trường hợp đặc biệt dạng 1 : p K q với p  r ; q = r

- trường hợp đặc biệt dạng 2 : p K q với p  r ; q = pr

Trong đó, p, q là các luận cứ ; r là kết luận mà p hướng tới, r là kết luận mà q hướng tới

Nhín từ góc độ lập luận, cấu trúc lập luận dựa trên quan hệ nhượng bộ có thể bao gồm : i) hai luận cứ tường minh và một kết luận ngầm ẩn hoặc tường

Trang 39

minh (trường hợp nhượng bộ khái quát và trường hợp đặc biệt dạng 2) ; ii) một luận cứ và một kết luận tường minh ngược hướng với kết luận ngầm ẩn

mà luận cứ hướng tới (trường hợp đặc biệt dạng 1)

Mối quan hệ giữa mỗi luận cứ và kết luận mà nó hướng tới, tức là quan

hệ giữa p và r , q và r hay đều là quan hệ suy diễn trực tiếp hay gián tiếp dạng quan hệ nhân - quả, điều kiện - kết quả hoặc lý do - kết luận

Về hiệu lực lập luận, tuỳ thuộc vào đặc trưng của kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng được sử dụng kết nối mà luận cứ q hay p có hiệu lực lập luận mạnh hơn, tạo điều kiện để kết luận mà nó hướng tới trở thành kết luận chung cho lập luận Các kết tử được sử dụng phổ biến để chỉ dẫn quan hệ nhượng bộ

là mais, cependant, pourtant, toutefois, néanmoins, quand même, bien que

và quoique

II.1.3 Quan hệ bác bỏ - đính chính

Nói đến bác bỏ trong lập luận là nói đến sự phủ định : phủ định, bác bỏ tình xác thực của một lý lẽ để nhấn mạnh một lý lẽ khác Adam khi nghiên

cứu về cách sử dụng bác bỏ của mais đã lưu ý rằng các kết tử chỉ dẫn quan hệ

bác bỏ tương quan với một sử phủ định đối với một lý lẽ Qui trính lập luận có thể được mô tả như sau :

 Bác bỏ thông qua việc phủ định p chuẩn bị cho việc nhấn mạnh q

 Cho p là sản phẩm của người phát ngôn khác, hay một chuẩn mực, một hệ thống giá trị chuẩn mực, văn hoá, tư tưởng mà người nói không chia sẻ

 Chuyển từ bác bỏ (phủ định p) sang khẳng định q - cái mà cho đến thời điểm này bị hạn chế bởi p và cũng chình là cái minh chứng cho sự bác bỏ Với việc khẳng định q như một mệnh đề ĐÚNG – CÓ HIỆU LỰC (mà người nói lấy là quan điểm của mính), người nói cho thấy tình chất KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ của p11

Trang 40

Vì dụ (39) đã dẫn ở chương I là một minh chứng cho sơ đồ lập luận này:

Ce n‟était pas un défilé unitaire, mais une juxtaposition de groupes aux slogans

contradictoires et aux objectifs disparates (Đây không phải là một cuộc diễu binh thống nhất mà là một tập hợp hỗn tạp các nhóm có khẩu hiệu trái ngược nhau và các mục tiêu rời rạc)

 Người nói phủ định p „đây là một cuộc diễu binh thống nhất‟ - điều mà anh ta không cho là đúng, để sau đó nhấn mạnh điều ngược lại q„đây là một tập hợp hỗn tạp các nhóm có khẩu hiệu trái ngược nhau và các mục tiêu rời rạc‟ – lý do chứng minh cho việc bác bỏ luận cứ p

Tương tự, ở vì dụ sau kết tử au contraire cũng được sử dụng để chỉ dẫn quan hệ bác bỏ - đình chình như mais trong vì dụ trên:

(8) Créée il y a dix ans, l‟OMC n‟est pas en effet, comme on l‟entend trop souvent,

une machine à libéraliser Elle est au contraire, une organisation qui a pour objectif

de fixer les règles du jeu dans le commerce mondial et de les faire respecter (Được thành lập cách đây 10 năm, WTO quả thật không phải là một cỗ máy tự do hoá như người ta thường hiểu Mà ngược lại, nó là một tổ chức có mục đìch đặt ra các qui định cho thương mại toàn cầu và thực thi các qui định này.)

Les Echos -12/12/2005

Lập luận trên bác bỏ p : p= (WTO là một cỗ máy tự do hoá) để rồi khẳng định q

„nó là một tổ chức có mục đìch đặt ra các qui định cho thương mại toàn cầu và thực thi chúng

Tất nhiên, trong lập luận dựa trên quan hệ bác bỏ - đình chình, đôi khi

người ta không sử dụng kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng, nhất là khi lập

luận này đan xen với một lập luận khác đã sử dụng kết tử đối lập rồi Chẳng hạn, vì dụ (15) có thể sửa thành : « l‟OMC n‟est pas une machine à libéraliser comme on l‟entend trop souvent  Elle est une organisation qui a pour objectif de

fixer les règles du jeu dans le commerce mondial et de les faire respecter » Tuy nhiên, sự có mặt của kết tử có giá trị làm nổi rõ thế đối lập, giúp người nghe nhận thấy ngay điều muốn nói

- attribution de P à un énonciateur – c'est-à-dire à une norme, un système de valeurs normé, culturel,

idéologique – avec lequel le locuteur ne s'identifie pas (ou plus), soit un effet dialogique ou polyphonique;

- passage de la réfutation (NON-P) à l'assertion d'une proposition Q jusqu'alors empêchée par la

proposition P et qui, de plus, justifie la réfutation En posant Q comme une proposition VRAIE-VALIDE

(qu'il prend en charge, donc), le locuteur dénonce la NON-VALIDITÉ de P »

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1999) - Văn bản và liên kết trong tiếng Việt : Văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn - Tái bản lần thứ 1 - Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt : Văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. Diệp Quang Ban - Hoàng Dân (2000) Ngữ pháp tiếng Việt (Sách dùng cho hệ Cao đẳng sư phạm), Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
3. Đỗ Hữu Châu (2003) – Đại cương ngôn ngữ học - Tập II – Nhà xuất bản Giáo dục – tái bản lần thứ nhất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục – tái bản lần thứ nhất
4. Nguyễn Đức Dân (1976) – Lôgíc và sắc thái liên từ tiếng Việt – Tạp chí ngôn ngữ số 4 – 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgíc và sắc thái liên từ tiếng Việt
5. Nguyễn Đức Dân (1998) – Lôgíc và Tiếng Việt – Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgíc và Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
6. Nguyễn Đức Dân (2002) – Nhập môn lôgíc hình thức và lôgíc phi hình thức – Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lôgíc hình thức và lôgíc phi hình thức
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
7. Nguyễn Đức Dân & Lê Đông (1985) - Phương thức liên kết của từ nối - Tạp chí ngôn ngữ số 1- 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức liên kết của từ nối
Tác giả: Nguyễn Đức Dân, Lê Đông
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 1985
8. Nguyễn Hoài Thu Ba (2001) – Ngữ nghĩa của nhưng so với but – Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học và tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa của nhưng so với but
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
9. Lương Đình Dũng (2005)– Phép nối và một vài suy nghĩ về phương pháp dạy phép nối trong tiếng Việt - Tạp chí ngôn ngữ số 6 – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phép nối và một vài suy nghĩ về phương pháp dạy phép nối trong tiếng Việt
Tác giả: Lương Đình Dũng
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
Năm: 2005
10. Cao Xuân Hạo (2004) – Sơ thảo ngữ pháp chức năng Tái bản lần thứ 1 - Nhà xuất ban Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nhà xuất ban Giáo dục
Năm: 2004
11. Hoàng Huy Lập (1998)- Sự tham gia của hư từ cú pháp vào việc hình thành ngữ nghĩa của câu tiếng Việt : qua một số kết tử chỉ dẫn lập luận đồng hướng trong tiếng Việt - Luận án tiến sĩ ngữ văn tại Đại học Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của hư từ cú pháp vào việc hình thành ngữ nghĩa của câu tiếng Việt : qua một số kết tử chỉ dẫn lập luận đồng hướng trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Huy Lập
Năm: 1998
12. Đỗ Thị Kim Liên (2005) – Giáo trình Ngữ dụng học – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ dụng học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
13. Trần Ngọc Thêm (1985) - Hệ thống Liên kết văn bản tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Hệ thống Liên kết văn bản tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
14. Nguyễn Hữu Tiến (1998) - Mạch lạc và vai trò của các từ chuyển tiếp chỉ quan hệ so sánh, tuyển chọn trong văn bản - Tạp chí ngôn ngữ số 4- 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạch lạc và vai trò của các từ chuyển tiếp chỉ quan hệ so sánh, tuyển chọn trong văn bản
15. Nguyễn Hữu Tiến (1999) – Quan hệ liên câu trong văn bản tiếng Việt - Tạp chí ngôn ngữ số 1- 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ liên câu trong văn bản tiếng Việt
17. Csûry István (1996) – Quelques éléments pour une grammaire textuelle (comparộe), Revue d’Etudes franỗaises 1, Budapest : ELTE, 346-347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quelques éléments pour une grammaire textuelle (comparộe)
18. Ducrot Oswald et al (1981) – Les mots du discours, Edition Minuit Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les mots du discours
19. Gettrup, H. & Nứlke, H. (1984) - Stratộgies concessives : Une ộtude de six adverbes franỗais - Revue Romane 191, trang 3-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stratégies concessives : Une étude de six adverbes franỗais -
20. Halliday & HasSan (1976) – Cohesion in English, Longman Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cohesion in English
Tác giả: Halliday, HasSan
Nhà XB: Longman
Năm: 1976
21. Lee Chungmin (2006) – Contrastive topic/focus and polarity in discourse - Where Semantics meets pragmatics – trang 381-420 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contrastive topic/focus and polarity in discourse

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w