ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ HOÀNG THỊ HÀ KHẢO SÁT NGỮ PHÁP HỘI THOẠI TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI QUA CÁC SÁCH GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
HOÀNG THỊ HÀ
KHẢO SÁT NGỮ PHÁP HỘI THOẠI TIẾNG VIỆT
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI QUA CÁC SÁCH GIÁO
TRÌNH TIẾNG VIỆT HIỆN HÀNH Ở TRÌNH ĐỘ A, B
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số : 60 22 01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Văn Đức
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 3 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hà
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Đinh Văn Đức,
người đã tận tình giúp đỡ, đã có những chỉ dẫn, những nhận xét quý báu trong suốt thời gian tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học
đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện để tôi có thêm thời gian và kinh nghiệm để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 3 tháng 10 năm 2014
Học viên
Hoàng Thị Hà
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Tư liệu và phương pháp tiến hành 7
5 Cấu trúc của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1.Vai trò của ngữ pháp trong việc dạy tiếng 10
1.2 Ngữ pháp giao tiếp 11
1.2.1 Khái niệm ngữ pháp giao tiếp 11
1.2.2 Ngữ pháp giao tiếp trong công tác dạy ngoại ngữ 13
1.3 Hội thoại với tư cách là tiêu điểm của ngữ pháp giao tiếp 16
1.3.1 Hội thoại 16
1.3.2 Quy tắc hội thoại 19
1.4 Sơ bộ về hội thoại trong các giáo trình hiện nay 21
1.5 Cơ sở miêu tả 26
1.5.1 Dẫn nhập 26
1.5.2 Miêu tả cuộc thoại 26
1.5.3 Miêu tả đoạn thoại 27
1.5.4 Miêu tả cặp thoại 28
1.5.5 Tham thoại và hành vi ngôn ngữ 29
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ CÁC KIỂU HỘI THOẠI TRONG CÁC GIÁO TRÌNH Ở TRÌNH ĐỘ A, B 31
2.1 Hội thoại trong các giáo trình tiếng Việt 31
2.2 Về câu hỏi trong các giáo trình 42
Trang 62.2.1 Khái quát về câu hỏi 42
2.2.2 Sự thể hiện các kiểu câu hỏi trong hội thoại 49
2.3 Về câu phủ định trong các giáo trình 54
2.3.1 Khái quát về câu phủ định 54
2.3.1.1 Quan điểm về câu phu ̉ đi ̣nh 54
2.3.2 Sự thể hiện của câu phủ định trong hội thoại 58
2.4 Về câu cầu khiến trong các trình 65
2.4.1 Khái quát về câu cầu khiến 65
2.4.2 Sư ̣ thể hiê ̣n của câu cầu khiến trong hội thoại 66
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI BÀN LUẬN VÀ GÓP Ý TRONG VIỆC SOẠN THẢO CÁC BÀI HỘI THOẠI CHO CÁC GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TRÌNH ĐỘ A, B 70
3.1 Một vài bàn luận về các bài hội thoại trong các giáo trình tiếng Việt ở trình độ A, B 70
3.2 Một vài góp ý trong việc soạn thảo các bài hội thoại cho các giáo trình tiếng Việt ở trình độ A, B 78
3.3 Tiểu kết 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7MỘT SỐ QUY ƯỚC Chúng tôi sử dụng một số kí hiệu viết tắt để thể hiện tên giáo trình như sau:
GT1: Tiếng Việt (trình độ A, quyển I) – Đoàn Thiện Thuật, (chủ biên), NXB
GT4: Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập 1) – Phan Văn Giưỡng,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010
GT5: Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập2) - Phan Văn Giưỡng, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2010
GT6: Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập 3) - Phan Văn Giưỡng,
NXB GD Việt Nam (Vietnamese for foreigners), 2010
GT7: Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập 4) - Phan Văn Giưỡng,
Trang 8GT13: Thực hành tiếng Việt (Practice Vietnamese for foreigners), Nguyễn
Việt Hương, NXB ĐHQG HN, 2006
GT14: Tiếng Việt cơ sở (Vietnamese for foreigners), Mai Ngọc Chừ (chủ
biên), NXB Phương Đông, 2009
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mặc dù đã được hình thành từ lâu nhưng sang những năm đầu thế kỷ XXI, khi diện mạo của Việt Nam đang thay đổi, kinh tế đã có những bước phát triển đáng kể, sự hợp tác giao lưu quốc tế bắt đầu “nở rộ”, số lượng người nước ngoài đến tham quan, học tập và làm việc tăng lên nhanh chóng thì công tác dạy tiếng Việt cho người nước ngoài mới thực sự phát triển
Để đáp ứng nhu cầu của người học trong thời đại mới, chất lượng dạy học đã và đang được nâng cao Phải kể đến là sự ra đời của hàng loạt các giáo trình ở các cơ sở dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Các tác giả đều mong muốn đem lại được hiệu quả tốt nhất cho người học qua những cuốn giáo trình của mình nhưng thực tế khó khăn hơn rất nhiều
Khi đi đưa vào hoạt động thực tiễn, các giáo trình hiện nay dù đã có những ưu điểm nhất định nhưng vẫn bộc lộ những yếu kém Trong đó vấn đề ngữ pháp được thể hiện rõ nhất Những cuốn sách với việc cung cấp ngữ pháp hiệu quả vẫn còn nằm trong “suy nghĩ”
Quan tâm đến vấn đề này, nhiều nhà ngôn ngữ đã tiến hành điều tra khảo sát và đưa ra những đóng góp giúp các nhà biên soạn giáo trình có được những cuốn sách hoàn thiện hơn Không nằm ngoà i những mong muốn đó ,
chúng tôi đã “ Khảo sát ngữ pháp hội thoại tiếng Việt cho người nước ngoài
qua các sách giáo trình tiếng Viê ̣t hiê ̣n hành ở trình độ A , B” với mu ̣c đích có
được những cuốn sách phù hợp với nhu cầu t hực tiễn , có cơ sở lý luận và phản ánh được thực tế sử dụng ngôn ngữ của người Việt
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, cần phải có cơ sở vật chất để học tập, đội ngũ giáo viên có chuyên môn và những cuốn giáo trình thực tiễn Trong các yếu tố đó, giáo trình đóng một vài trò đặc biệt quan trọng
Trang 10Giáo trình là công cụ thiết yếu để người học nắm bắt được vốn từ vựng, hệ thống ngữ pháp…để có thể nói tiếng Việt
Trong các cuốn giáo trình hiện nay, có nhiều cách giảng dạy ngữ pháp khác nhau Với mục đích hướng đến một cuốn sách dạy ngữ pháp hoàn thiện, hiệu quả, chúng tôi lựa chọn khảo sát một số hiện tượng ngữ pháp hội thoại trong các kiểu câu hỏi, cầu khiến, phủ định trong các sách tiếng Việt dành cho người nước ngoài ở trình độ A, B
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài này là thông qua hiện trạng về các giáo trình dạy tiếng Viê ̣t ở trình đô ̣ A, B để nhâ ̣n rõ được những thiếu sót, bất câ ̣p trong viê ̣c cung cấp ngữ pháp giao tiếp Từ đó, chúng tôi cũng hướng tới đưa ra những nhâ ̣n xét, bàn luận và một số góp ý để xây dựng các bài hội thoại thực tế và hiê ̣u quả nhất cho người ho ̣c tiếng Viê ̣t
3.2 Nhiê ̣m vụ nghiên cứu
Những nhiê ̣m vu ̣ chính cần thực hiê ̣n trong luâ ̣n văn này bao gồm:
- Thống kê các hiê ̣n tượng ngữ pháp hô ̣i thoa ̣i trong 14 cuốn giáo trình tiếng Viê ̣t trình đô ̣ A, B
- Miêu tả đi ̣nh lượng và đi ̣nh tính
- Chỉ rõ hiện trạng sử dụng ngữ pháp hội thoại trong cả 14 giáo trình, có sự so sánh dựa trên những cứ liê ̣u có được để thấy sự phân bố các hiê ̣n tượng ngữ pháp hô ̣i thoa ̣i trong sách đã phù hợp hay chưa
- Dựa vào vào kế t quả khảo sát để đưa ra những nhâ ̣n xét chính xác Đồng thời cũng đưa ra những đề xuất cho việc xây dựng những bài hội thoại sống đô ̣ng, đáp ứng đúng nhu cầu thực tế
Trang 114 Tư liệu và phương pháp tiến hành
4.1 Tư liệu nghiên cứu
Chúng tôi lựa chọn và tiến hành khảo sát, miêu tả các kiểu hội thoại trong một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở trình độ A, B Dưới đây là danh sách các giáo trình chúng tôi sử du ̣ng để nghiên cứu:
1 Tiếng Việt (trình độ A, quyển I) – Đoàn Thiện Thuật (chủ biên),
4 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (Vietnamese for foreigners),
tập 1 – Phan Văn Giưỡng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010
5 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (Vietnamese for foreigners),
tập 2 – Phan Văn Giưỡng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010
6 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (Vietnamese for foreigners),
tập 3 – Phan Văn Giưỡng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010
7 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (Vietnamese for foreigners),
tập 4 – Phan Văn Giưỡng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010
8 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese as a
second language -VSL), tập 1 – Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB ĐHQG Tp HCM, tái bản 2010
9 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese as a
second language -VSL), tập 2 – Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB ĐHQG Tp HCM, tái bản 2008
10 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese as a
second language -VSL), tập 3 – Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB ĐHQG Tp HCM, 2004
Trang 1211 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese as a
second language -VSL), tập 4 – Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB ĐHQG Tp HCM, 2004
12 Tiếng Việt cơ sở (Vietnamese for beginners) - Vũ Văn Thi, NXB
ĐHQG HN, tái bản 2008
13 Thực hành tiếng Việt (Practice Vietnamese for foreigners) –
Nguyễn Việt Hương, NXB ĐHQG HN, 2004
14 Tiếng Việt cơ sở (Vietnamese for foreigners) - Mai Ngọc Chừ (chủ
biên), NXB Phương Đông, 2011
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn các giáo trình này là vì đây là những giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đang được dử dụng phổ biến hiện nay ở các trong nước và cả ở nước ngoài
Cuốn sách Tiếng Việt của tác giả Đoàn Thiện Thuật (chủ biên) của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển chỉ đưa các bài luyện tập và những công thức ngữ pháp vào phần bài học Dù giáo trình này không có nhiều các đoạn hội thoại như những giáo trình khác nhưng vớ i mong muốn có được cái nhìn tổng quát nên chúng t ôi vẫn đưa vào khảo sá t và xếp vào bộ sách của tác giả Đoàn Thiệt Thuật
4.2 Phương pháp tiến hành
Để đánh giá thực trạng hiện tượng ngữ pháp thực hành trong các giáo trình tiếng Việt dành cho người nước ngoài hiện nay, luận văn của chúng tôi
sẽ được thực hiện theo phương pháp thống kê mô tả định tính định lượng là
cơ bản, bên cạnh đó có sự kết hợp với phương pháp tổng hợp, quy nạp Định hướng của chúng tôi là trên cơ sở của việc khảo sát, miêu tả sẽ đưa ra những kết luận và đề xuất xây dựng hội thoại để có những cuốn giáo trình có tính ứng dụng cao
Luận văn của chúng tôi được trình bày theo thứ tự:
Trang 13- Tiến hành phân loại và miêu tả
- So sánh
- Đưa ra những đề xuất, góp ý
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Khảo sát và miêu tả các kiểu hội thoại trong các giáo trình tiếng Việt trình độ A, B
Chương 3: Một vài nhận xét, bàn luận và góp ý để soạn thảo các bài hội
thoại trong các giáo trình tiếng Việt trình độ A, B
Trang 14Trước kia đã có nhiều ý kiến trái chiều về vai trò của ngữ pháp trong việc dạy và học tiếng Có những người phản đối cũng có những người đề cao vai trò của việc dạy ngữ pháp Về phía những người phản đối phải kể đến như Prabhu (1987), ông chỉ chú trọng vào phát triển năng lực giao tiếp, và cho rằng không cần ghi nhớ các quy tắc ngữ pháp Ngoài Prabhu, Newmark (1966), Corder (1981), Pieneman (1984) cũng đều cho rằng dạy ngữ pháp làm cho người học buồn chán, không hiệu quả nên họ phản đối việc dạy ngữ pháp Trái ngược với các nhà ngôn ngữ trên thì Stevick (1982) và Selinger (1979) chỉ rõ, tri thức ngữ pháp được dạy lúc đầu được lưu giữ ở trí nhớ ngắn hạn, sau đó chuyển lên vùng trí nhớ dài hạn và nhớ vĩnh viễn được sử dụng khi nói năng – đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ Đồng thời, Pienemann (1985) cũng đưa ra kết quả nghiên cứu là đối với người học không có mục đích, động lực và hứng thú thì việc dạy ngữ pháp không có kết quả, nhưng lại
có kết quả rất tốt với học viên có hứng thú học ngữ pháp
Dù thế nào thì chúng ta cũng thấy rằng ngữ pháp có một vị trí đắc địa trong việc dạy ngoại ngữ Ngữ pháp giúp tăng độ chính xác trong ngôn ngữ của người học, đẩy nhanh quá trình thụ đắc, giảm tối đa cách diễn đạt không phù hợp
Biết rõ vai trò và tầm quan trọng của ngữ pháp nhưng không phải tác giả nào cũng thành công khi biên soạn sách giáo trình bởi ngữ pháp cần phải được giới thiệu một cách thực tế, khoa học, có tính ứng dụng cao, phù hợp với
Trang 15trình độ, đáp ứng nhu cầu của đối tượng thì mới có thể có hiệu quả cho việc giảng dạy
1.2 Ngữ pháp giao tiếp
1.2.1 Khái niệm ngữ pháp giao tiếp
Nói đến ngữ pháp, thường hình thành hai khái niệm: ngữ pháp lý thuyết
- Dùng các phương tiện tình thái khá đa dạng
Khác với ngữ pháp lý thuyết, ngữ pháp thực hành (hay còn được go ̣i với các tên khác như “ngữ pháp giao tiếp” , “ngữ pháp hô ̣i thoa ̣i” ) - chính là ngữ pháp trong quá trình giao tiếp thườ ng đưa ra các quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt đến người sử dụng, người học, theo định hướng giao tiếp thông qua các
kỹ năng nghe, nói, đọc viết và có sự đối chiếu với chuẩn mực Đối với người học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai họ có thể tái lập được hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ cùng với việc từng bước mở rộng khả năng giao tiếp trong khi học Trong việc dạy tiếng, mối quan hệ giữa ngữ pháp miêu tả và ngữ pháp thực hành là rất quan trọng Khả năng miêu tả ngữ pháp của một ngôn ngữ có ảnh hưởng rõ tới khả năng thực hành tiếng Khi học ngữ pháp, người học sẽ vận dụng nó trong những câu nói cụ thể trong quá trình giao tiếp Chính vì vậy ở đây chúng tôi muốn đề cập đến chính là khái niệm “ngữ pháp giao tiếp”
Trang 16Ngữ pháp giao tiếp (Communicative Grammar) luôn đi theo hướng thực hành Ngữ pháp giao tiếp khác với ngữ pháp cổ điển, nó cùng lúc chỉ ra các quy tắc kết hợp lời nói trên những bậc khác nhau và các quy tắc sử dụng chúng trong những tình huống giao tiếp khác nhau để diễn đạt tư duy
[10] Các nhà ngữ pháp chức năng có cùng chung một nhận thức cốt lõi về bản chất của hành động ngôn từ, với ngữ pháp giao tiếp thì câu là đơn vị ngữ pháp trung tâm, là đơn vị căn bản của việc truyền đạt thông tin còn các đơn vị khác (từ, đoản ngữ, các tổ hợp đẳng lập,…) chỉ là phương tiện thuộc về một bậc thứ cấp trên phương diện tổ chức câu Trong mối tương quan giữa nội dung và hình thức, hay nói cách khác là ngữ nghĩa và ngữ pháp, đối với ngữ pháp giao tiếp thì ngữ nghĩa của phát ngôn là cơ bản Một hình thức ngữ pháp
có thể dùng để biểu đạt hai ba nội dung nghĩa khác nhau cũng như một nội dung ngữ nghĩa cũng có thể được biểu đạt bằng hai ba hai ba hình thức ngữ pháp Thực tế, mối quan hệ giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa không phải là một đối một
Ngữ pháp giao tiếp, theo chức năng luận sau mấy chục năm hình thành vẫn được xác lập với ba bộ phận có quan hệ chặt chẽ với nhau:
Trang 17trong giao tiếp Vế đứng trước là Đề ngữ, vế đứng sau là Thuyết ngữ Ranh giới giữa đề ngữ và thuyết ngữ được đánh dấu ngữ pháp bắc các từ công cụ
“thì, là”
Đề là biểu thức thứ nhất, luôn đứng trước có thể thêm “thì” (là, mà) để đánh dấu ranh giới giữa hai vế Về nghĩa, đề luôn luôn là điểm xuất phát của thông tin về sự tình Nó không mô tả sự tình mà chỉ giới thiệu chủ thể hoặc không gian, thời gian ứng với sự tình Trong một số trường hợp, biểu thức Đề
có thể vắng trong đối thoại khi người nghe biết rõ người nói đề cập đến sự tình gì Đề có thể là một chủ thể, hoặc có thể là một cái khung nào đó chỉ ra phạm vi có giá trị với Thuyết
Thuyết là biểu thức thứ hai, trong tiếng Việt luôn đứng sau đề, nó nói rõ
sự tình của câu, mô tả thông tin sự tình Trong câu đơn, trên nguyên tắc, thuyết trùng với vị ngữ trong phân tích ngữ pháp truyền thống, nó thể hiện bằng động từ, tính từ, danh từ hoặc giới ngữ Thuyết được biểu đạt sự tình của câu nên đa phần biểu thức Thuyết được diễn đạt bằng cấu trúc động ngữ và tính ngữ
Trong cấu trúc của biểu thức Đề và biểu thức Thuyết thì ngữ pháp chức năng tuy thiên về các hành động ngôn từ, nhưng cái nghĩa đó luôn hiện diện trong các phương tiện ngữ pháp
1.2.2 Ngữ pháp giao tiếp trong công tác dạy ngoại ngữ
Hiện nay công tác dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã phát triển khá mạnh Nhiều tài liệu, tập bài giảng, sách giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài được phát hành Nhiều thành công đã đạt được nhưng cũng có nhiều hạn chế có thể nhận thấy rõ Trong đó có những mặt yếu kém như đội ngũ giáo viên chưa chuyên nghiệp, phương pháp giảng dạy chưa phù hợp và giáo trình trình chưa hoàn thiện
Trào lưu mới là ngữ pháp chức năng (functional grammar) phát triển mạnh mẽ trong ngữ học quốc tế nhưng lại đến Việt Nam chưa lâu Cả một
Trang 18thời gian dài, việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài chỉ tập trung nhiều vào việc truyền đạt các quy tắc ngữ pháp, nhất là các quy tắc hình thức, việc giảng dạy ngữ pháp chỉ chú ý đến cú học (syntax), được hiểu như là hệ thống của các quy tắc kết hợp thuần túy từ với từ để tạo ra các đơn vị cấu trúc hình thức của câu
Phù hợp với yêu cầu dạy tiếng theo định hướng tình huống giao tiếp và theo phương pháp thực hành có ý thức hiện nay nhưng những quan niệm về ngữ pháp chức năng còn quá thô sơ và chưa có đảm bảo chất lượng Trong khi đó, trên thế giới, phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp ra đời từ cuối những năm 60 ở Anh và đã lan rộng sang các nước phương Đông khoảng 20 năm cuối thế kỷ XX Phương pháp này đã khắc phục được những hạn chế và kế thừa những ưu điểm của các phương pháp truyền thống (phương pháp ngữ pháp
- dịch, phương pháp nghe – nói, phương pháp tình huống, phương pháp trực chỉ…) trước kia Chúng ta nhận thức được những điểm mạnh của nó nhưng chúng ta chưa áp dụng một cách có hiệu quả trong việc dạy tiếng cho người nước ngoài
Trong bài “Ngữ pháp chức năng giúp gì cho việc dạy tiếng Việt ở nước ta” trong cuốn “Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài”
(1997), GS Đinh Văn Đức đã trình bày: “Khi ngữ pháp chức năng xuất hiện,
người ta tôn trọng cú học như một tất yếu bởi sự thực cú học vẫn là một yếu
tố không thể thiếu nhưng ngữ pháp chức năng đã bổ sung thêm nghĩa học và dụng học Đây chính là cơ sở sâu xa trong việc dạy tiếng theo tình huống giao tiếp Nghĩa của câu không chỉ là nghĩa của các từ trong câu cộng lại mà còn bao gồm các tham tố tạo nghĩa khác như bối cảnh của một phát ngôn và mục đích phát ngôn” [2, tr 65]
Ngữ pháp giao tiếp là một tập hợp các công cụ và kỹ năng để tiếp cận
tiếng Việt như một ngoại ngữ theo nguyên tắc: “Người bản ngữ bao giờ cũng
Trang 19nói, đều nói và hiểu được tiếng mẹ đẻ một cách hoàn hảo về cơ bản, ít nhất là
về phương diện ngữ pháp” Cũng theo ông thì khi đến năm tuổi một đứa trẻ
đã nắm được toàn bộ ngữ pháp cơ bản của tiếng mẹ đẻ một cách không hiển ngôn Như vậy trong giảng dạy tiếng Việt chúng ta phải luôn luôn tôn trọng người bản ngữ và hãy học cách nói như những gì người bản ngữ nói Có thể anh nói đúng như ngữ pháp nhưng không phải là cách mà người Việt nói Hoặc có thể anh nói không đúng với quy tắc ngữ pháp nhưng lại đúng với cách nói của người Việt Đây chính là cái mà người học cần học trong ngữ pháp giao tiếp
Mục tiêu của ngữ pháp giao tiếp là giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt hiểu đúng và nói đúng thuật giao tiếp của người Việt và sau đó là sử dụng thành thạo tiếng Việt
Theo Lưu Tuấn Anh – Nguyễn Thị Thanh Trúc trong cuốn “Kỷ yếu hội thảo Khoa học Quốc tế” (2009) cũng đề cập đến vấn đề ngữ pháp giao tiếp trong bài viết “ Ngữ pháp giao tiếp - ứng dụng vào việc dạy tiếng”, họ cho
rằng “Mỗi cấu trúc ngữ pháp không những được dạy với bốn kỹ năng phối
hợp: nghe, nói, đọc, viết mà có chú ý hình thức (form), ý nghĩa (meaning) và cách sử dụng (use)” [16, tr.12]
Giao tiếp xã hội được coi là mục tiêu quan trọng Theo xu hướng truyền thống thì người ta coi đích giao tiếp là việc nắm vững cấu trúc cú pháp và từ vựng của ngôn ngữ nhưng theo xu hướng hiện đại thì chúng ta phải chú ý cách mà người học ngoại ngữ sử dụng các quy tắc ngôn ngữ như thế nào để diễn đạt khả năng giao tiếp, phản xạ trong giao tiếp thực tế
Xoay quanh vấn đề “ngữ pháp giao tiếp”, Canale and Swain (1980) cũng
có đưa ra thuật ngữ “ năng lực giao tiếp” với bốn yếu tố:
- Năng lực ngữ pháp
- Năng lực xã hội
- Năng lực diễn ngôn
Trang 20- Năng lực chiến lược
Bốn yếu tố này được biểu diễn dưới mô hình:
Sử dụng phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp nhấn mạnh được khả năng tương tác của người học trong tình huống giao tiếp, cũng như phản xạ của người học phải thích ứng với sự thay đổi ngẫu hứng phụ thuộc vào đối tượng cùng tham gian Áp dụng dạy ngữ pháp giao tiếp đẩy mạnh được vai trò hoạt động giao tiếp của người học
Nguyễn Anh Quế trong cuốn “Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” (1997) đã bày tỏ quan điểm rằng với một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập như tiếng Việt, việc nghên cứu một hệ phương pháp luận về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cùng những thủ pháp cụ thể là việc làm không đơn giản [18, tr.6]
1.3 Hội thoại với tư cách là tiêu điểm của ngữ pháp giao tiếp
1.3.1 Hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản và phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này
Năng lực ngữ pháp
Năng lực diễn ngôn
Năng lực chiến lược
Năng lực
xã hội Năng lực ngữ pháp
Trang 21Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học” (tái bản lần thứ 5,
năm 2010) đã viết rằng: “Hội thoại là một mảnh đất sống của ngôn ngữ và là
một môi trường hoạt động của con người, một biểu hiện của cái gọi là xã hội loài người Qua hội thoại các yếu tố, đơn vị của ngôn ngữ mới được đóng dấu chứng nhận tư cách đơn vị ngôn ngữ của mình và các quy tắc, các cơ chế vận hành các yếu tố, đơn bị đó mới bộc lộ ra, phát huy tác dụng”.[5, tr.358]
Như vậy chúng ta có thể thấy rõ được hội thoại là một nội dung rất quan trọng trong nghiên cứu ngữ pháp giao tiếp
Gotz Hinderlang đã có những nghiên cứu rất cụ thể về hội thoại và ngữ pháp hội thoại Ông cho rằng nói đến ngữ pháp của hội thoại là ngầm thừa nhận sự tồn tại của hệ thống những quy tắc chi phối chuỗi những hành vi ngôn ngữ quyết định một cuộc hội thoại có tính mạch lạc [12, tr.335]
Cũng theo quan điểm của Gotz Hinderlang thì các quy tắc của hội thoại là quy tắc của các trò chơi ngôn ngữ, đó là những quy tắc cho phép chúng ta miêu tả vận động của những người nói như là vận động được điều khiển bởi hướng và đích
“Ngữ pháp hội thoại miêu tả điều người ta làm khi tham gia vào hội thoại mà hội thoại là những hoạt động ngôn ngữ bị chi phối bởi quy tắc (rule governed), có đích (goal – directed) và có hướng (purposeful) Phạm trù đích đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng mô hình hội thoại” (Gotz
Hinderlang)
Trong hội thoại chúng ta có hội thoại đơn giản và hội thoại phức hợp Nếu dựa vào tiêu chí phân loại là tiêu chí kết hợp đích và lợi ích của Franke (1990) và Hundsnurscher (1995) thì cần phân biệt hội thoại hài hòa và hội thoại bất hòa Hội thoại hài hòa là những hội thoại mà lợi ích của Sp1 và Sp2 hoặc đã đồng nhất từ đầu hoặc dễ dàng tương hợp Còn hội thoại bất hòa thì lợi ích của Sp1 và Sp2 hoặc khác nhau hoặc trái ngược nhau lúc đầu Chúng
ta có thể thấy bốn mô hình hội thoại có đích:
Trang 22Hội thoại có đích
Hài hòa Bất hòa
Lợi ích của Lợi ích của Sp1/Sp2 sẵn Sp1/Sp2 không Sp1/Sp2 là SP1/SP2 dễ dàng sàng nhân sẵn sàng nhân đồng nhất tương hợp nhượng nhượng
Ghi chú:
Sp1: ngườ i nói
Sp2: ngườ i nghe
Riêng ở các cuộc hội thoại phức hợp, đây là những cuộc hội thoại trong
đó đích của Sp1 và Sp2 là phức hợp đến mức không thể thể hiện bằng một hành vi ở lời duy nhất với hiệu lực ở lời của nó Trong trường hợp này người nói phải tìm được con đường thích hợp để dẫn đến đích của mình Nhưng có những hội thoại mà đích không mới và đặc biệt Ở những trường hợp này có những lề lối đi tới đích quen thuộc đối với mọi người trong một cộng đồng Nếu những lề lối hội thoại đi tới đích đã cố định, thì có thể xây dựng mô hình hội thoại phức hợp cho những cuộc hội thoại đó
Để có một hội thoại, cần thiết phải có các yếu tố vận hành nên nó Đây là những yếu tố vận động thiết yếu bao gồm:
Trang 23mặt đó thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở
quan điểm của Sp1 trong nội dung của lượt lời trao
Thứ hai là sự trao đáp (exchange) Khi Sp2 (vai nói) nói ra lượt lời đáp
lại lượt lời của Sp1 thì cuộc hội thoại chính thức hình thành Sự hồi đáp có thể
thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời Nó có thể có các hành vi
ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập lập thành cặp nhưng cũng có thể
thực hiện bằng những hành vi bất kỳ, không tương thích thích với hành vi dẫn
nhập Có những hành vi tự thân không đòi hỏi sự hồ đáp như hành vi cảm
than hay khảo nghiệm vẫn cần được hồi đáp
Cuối cùng là sự tương tác Tham gia một quá trình hội thoại thì các nhân
vật hội thoại có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau Giữa họ có sự tác động qua
lại về mọi phương diện, và cái mà chúng tôi đang quan tâm là sự tác động đến
lời nói của nhua Trong hội thoại, nhân vật hội thoại là nhân vật liên tương tác Hội thoại có thể ở hai cực, cực điều hòa, nhịp nhàng hoặc là hỗn độn
Cái này chúng ta có thể thấy rõ trong đời sống hiện thực Ví dụ như những hội
thoại trong nhà trường, nơi công sở…thường là những cuộc hội thoại có tính
hài hòa nhịp nhàng Nhưng ở ngoài chợ, bến tàu, ga xe lửa… vẫn thường xảy
ra những cuộc cãi lộn thì đó lại là hội thoại ở cực hỗn độn
Trong hội thoại, có các nhân vật tham gia và giữa các nhân vật tương tác
có sự liên hòa phối bằng hệ thống các lượt lời Những tín hiệu phát ngôn
trong hội thoại là những tín hiệu bảo đảm sự liên hòa phối các lượt lời
Tóm lại, trong ba vận động đặc trưng của hội thoại thì vận động trao lời
và vận động trao đáp do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp với nhau trở
thành yếu tố thứ ba là vận động tương tác
1.3.2 Quy tắc hội thoại
Trong quá trình vận động, hội thoại có những quy tắc nhất định
Hàng ngày chúng ta có thể nghe và tham gia rất nhiều hội thoại, từ đơn giản
đến phức tạp, trong đó có rất nhiều điều ngỡ như không có quy tắc nhưng về
Trang 24thực chất, hội thoại không chỉ đơn giản như những gì chúng gì chúng ta nhìn thấy bên ngoài
Hội thoại có quy tắc, tuy những quy tắc đó không hoàn toàn xác định và cũng không thật chặt chẽ Theo C.K Orecchioni thì quy tắc hội thoại có một
số tính chất đặc thù như: quy tắc hội thoại có bản chất đa dạng, có quy tắc tổ chức hội thoại và quy tắc chuẩn tắc, có quy tắc chung cho mọi cuộc hội thoại
và cũng có quy tắc riêng cho mỗi kiểu hội thoại, có quy tắc gắn rất chặt với ngữ cảnh,
Ông đã chia các quy tắc hội thoại thành ba nhóm:
- Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời: Khi các quy tắc luân phiên lượt lời được vận hành tốt thì cuộc hội thoại có kết quả
- Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại: Hội thoại cần có sự điều hành quan hệ giữa nội dung các lượt lời Nội dung của diễn ngôn, của hội thoại gồm nội dung miêu tả, nội dung thông tin, nội dung liên cá nhân và nội dung ngữ dụng học Các quy tắc điều hành nội dung điều hành tất các các nội dung đó
Trong quy tắc này có hai nguyên tắc là nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) và nguyên tắc quan yếu H.P Grice chính là tác giả của nguyên tắc
cộng tác Cộng tác có nghĩa là “hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng
như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào” [6, tr.229]
Grice cho rằng hội thoại chỉ là một trường hợp riêng trong các giao đãi của con người Giao đãi là sự phối hợp của những hành động có ý định, thậm chí bị điều khiển bởi lí trí Tất cả các giao đãi của con người trong đó có hội thoại đều có đặc trưng là có đích chung cho những người tham gia
Thứ hai là nguyên tắc quan yếu Wilson và Sperber cho rằng hoạt động thuyết giải các phát ngôn của chúng ta gồm hai giai đoạn:
Trang 25+ Giai đoạn suy ý: đây là giai đoạn trung tâm của hoạt động thuyết giải
- Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự
Trong tương tác bằng lời và tương tác xã hội những quan hệ liên cá nhân
có vai trò quan trọng và quy tắc lịch sự chi phối quan hệ giữa thể diện của người nói và người nghe trong hội thọai Phép lịch sự có hiệu lực giải thích các phát ngôn, các cách thức nói năng và giải thích hàm ngôn, hành vi gián tiếp
1.4 Sơ bộ về hội thoại trong các giáo trình hiện nay
Những năm gần đây, giới học thuật đã thực sự quan tâm đến việc dạy và học tiếng Việt Đặc biệt là việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Trong xu hướng phát triển chung thì việc giới thiệu ngôn ngữ, văn hóa ra thế giới cũng là một nhân
tố góp phần nâng cao tầm vóc Việt Nam trên con đường hội nhập quốc tế
Nguyễn Thiện Nam trong cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học (2005) khi bàn
về vấn đề da ̣y tiếng Viê ̣t cũng cho rằng “giảng dạy tiếng Việt như một ngoại
ngữ là một công việc hết sức có ý nghĩa và cần thiết trong thời đại Việt Nam làm bạn với thế giới”.[28, tr.396]
Trên thực tế công tác dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ngày càng được chú trọng phát triển Bên cạnh việc xây dựng một đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp thì việc xây dựng giáo trình chuẩn, có tính khoa học cao cũng được chú ý Giáo trình là công cụ của người dạy và người học, một cuốn giáo trình đáp ứng nhu cầu giảng dạy và mang lại hiệu quả cho người học là điêu cần thiết
Trong nhữ ng năm gần đây , hàng loạt tập bài giảng, tài liệu, giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, từ bậc cơ sở đến bậc nâng cao đã và đang được biên soạn Mặc dù các tác giả luôn cố gắng tạo ra được những công trình tối ưu nhất và có hiệu quả nhất đối với người học nhưng với hàng loạt những cuốn sách được phát hành và đi vào sử dụng hiện nay thì trên thực
tế nó đã đáp ứng được nhu cầu của người học hay chưa, câu trả lời chắc chắn cho vấn đề này sẽ là hệ thống giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài của chúng ta chưa thực sự hoàn thiện
Trang 26Nói như PGS.TS Nguyễn Văn Khang trong bài viết “ Giáo trình tiếng Việt với vấn đề giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ” ( Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài , 1997)
đã bàn luận rằng “Đáng tiếc là, do nhiều lẽ mà các cơ sở giảng dạy, nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và tiếng Việt nói riêng ở nước ta chưa có điều kiện tập hợp, thu thập được hết hoặc ít ra là phần lớn các tài liệu” [34, tr.116]
Nhưng dù sao chúng ta cũng đã có một số giáo trình để giảng dạy với những hiệu quả nhất định, nói đến sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài phổ biến hiện nay có sách của các tác giả như: Đoàn Thiện Thuật, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Việt Hương, Vũ Văn Thi, Nguyễn Thiện Nam, Nguyễn Văn Huệ, Phan Văn Giưỡng…Các sách này có thể được biên soạn ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hoặc ở nước ngoài (như giáo trình của Phan Văn Giưỡng) Nhìn một cách tổng quát, các sách ở bậc cơ sở thì nhiều nhưng lại thiếu những giáo trình “dài hơi” ở trình độ nâng cao
Chưa bàn đến vấn đề tổng thể, trong luận văn này chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu vấn đề giảng dạy hội thoại trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay
Ở các bộ giáo trình khác nhau, kết cấu của bài học khác nhau nhưng nhìn chung đều rất hợp lý Bố cục của các bài học đều được chia thành các phần như:
Trang 27Về cơ bản các sách có kết cấu giống nhau, chỉ có một số tác giả thay đổi trật tự của các phần Trong bài điều này điều mà c húng tôi muốn bàn là phải làm sao để người ho ̣c có thể thủ đắc kiến thức và thủ đắc các kỹ năng kỹ xảo thực hành được dễ dàng [7]
Đối với người học, họ luôn quan tâm tới hội thoại đầu tiên Bởi vậy ở hầu hết các sách thì phần quan trọng vẫn là phần hội thoại, trong hội thoại thì các hiện tượng ngữ pháp đã định trước sẽ được lồng ghép Điều này hiệu quả trong việc giúp các nhà biên soạn đi tiếp khâu giải thích các hiện tượng ngữ pháp ở phần sau
Với một số giáo trình, sự lồng ghép này rất tự nhiên, giúp người học dễ dàng tiếp thu và tái tạo được những mẫu câu dễ dàng Sau khi học, người học
có thể có những giao tiếp tối thiểu với người bản ngữ
Ở mỗi trình độ khác nhau thì việc cung cấp hội thoại khác nhau Ở bậc
cơ sở, vốn từ vựng của người học còn hạn hẹp, nhưng câu giao tiếp thường
ngắn và chỉ tập trung ở một số mẫu cơ bản như hỏi tên, tuổi, nghề nghiệp, sức
khỏe, đồ vật…
Các cuốn giáo trình cơ sở điển hình như:
- Tiếng Việt cơ sơ (Vietnamse for beginners) – Vũ Văn Thi, NXB ĐHQG HN
- Thực hành tiếng Việt (Practice Vietnamese use for foreigners) – Nguyễn Việt Hương - NXB ĐHQG HN
- Tiếng Việt (trình độ A - B) – Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế giới
- Tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese for foreigners) – Nguyễn Văn Phúc (chủ biên), NXB ĐHQG HN
- Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese as a second language) tập 1, tập 2, tập 3, tập 4 - Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) – NXB ĐHQG TP HCM
Trang 28- Tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese for foreigners) – Nguyễn Anh Quế - NXB VHTT HN
Phần lớn các sách giáo trình dạy tiếng Việt cho người nuớc ngoài hiện nay ở bậc cơ sở đã đạt được những nhiệm vụ nhất định như các mẫu hội thoại ngắn làm cho người học dễ tiếp thu dễ nhớ, giúp học viên có được những giao tiếp cơ bản với người bản ngữ Tuy nhiên, ở một số giáo trình khác thì các tác giả đã đưa vào những mẩu hội thoại chưa điển hình, quá gò bó, đưa ngữ pháp vào hội thoại một cách khiên cưỡng làm cho lời nói không tự nhiên, không
“thuần Việt” dẫn đến tình trạng có những người học sau khi học xong, họ ra giao tiếp với người Việt, người Việt nhận ra ngay sự dập khuôn, máy móc trong cách nói thậm chí là sai
Hơn thế nữa, mặc dù ở trình độ cơ sở nhưng nhiều tác giả đã đề cập những ngữ pháp quá khó trong hội thoại, làm người học khó hình dung và khó tái lập trong giao tiếp đơn giản hàng ngày gây tâm lý nản cho học viên Nhiều bài thì nội dung bài hội thoại trước dài hơn, phức tạp hơn hội thoại sau và chưa có một cách kết hợp logic để bài sau có thể kế tiếp được những ngữ pháp trong hội thoại đã học ở bài trước
Như Nguyễn Văn Khang nhận xét “một số giáo trình tiếng Việt được
biên soạn ở nước ngoài đã sử dụng không ít mẫu câu không phải mẫu câu tiếng Việt (…) dường như những mẫu câu này có được là nhờ sự chuyển dịch
từ tiếng nước ngoài” Tuy nhiên số lượng các giáo trình này không nhiều và
không phổ biến trong môi trường học tiếng Việt trong nước [26, tr.118]
Đến bậc nâng cao thì giáo trình được soạn theo kết cấu: bài hội thoại – bài đọc hoặc bài đọc – bài hội thoại, ghi chú ngữ pháp, bài đọc thêm và bài luyện tập, bài tập các bài hội thoại nhằm giới thiệu ngôn ngữ giao tiếp và các mẫu câu giao tiếp khó và phức tạp hơn ở trình độ cơ sở
Các giáo trình có thể kể đến như:
Trang 29- Tiếng Việt nâng cao (cho người nước ngoài quyển II) – Nguyễn Thiện Nam, NXB Giáo dục
- Tiếng Việt cho người nước ngoài (Trình độ nâng cao) – Trịnh Đức Hiển (chủ biên), NXB ĐHQG HN
- Thực hành tiếng Việt (trình độ C) – Đoàn Thiện Thuật (chủ biên)- NXB Thế giới
- Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (Vietnamese as a second language) tập 5, tập 6 - Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) – NXB ĐHQG TP HCM Nhìn chung, ở các giáo trình này, các tác giả đã cố gắng để có thể có những hội thoại thiết thực cho người học và đã đưa ra các ngữ pháp theo trình
độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó Nhưng thực tế vẫn còn nhiều điểm hạn chế, cần bàn luận Một số giáo trình có sự thiếu cân đối và thiếu tính toàn diện Hội thoại được đưa vào giảng dạy chưa đạt được hiệu quả cao Tuy có chủ đề rõ ràng nhưng nội dung trong hội thoại chưa thực sự đưa ra những cái cơ bản
và sát thực đối với chủ đề đó
Bên cạnh đó thì việc phân khối không đều các hiện tượng ngữ pháp trong các giáo trình ở cả trình độ cơ sở lẫn trình độ nâng cao cũng cần được bàn luận Nếu một bài hội thoại, số lượng ngữ pháp đưa ra vừa phải thì người học có thể tiếp thu và nhớ được nhưng ở một số giáo trình, người biên soạn
do quá “tham” đã cung cấp quá nhiều ngữ pháp làm cho người học bị “rối” thậm chí còn gây cả khó khăn cho người dạy
Thậm chí trong một số trường hợp, ngữ pháp mới được lồng ghép trong hội thoại nhưng lại không có chú giải ngữ pháp hoặc chú giải ngữ pháp quá sơ sài và nhiều khi thiếu chính xác
So với giáo trình nâng cao, giáo trình tiếng Việt cơ sở cho người nước ngoài phong phú hơn nhiều và người học có thể dễ dàng lựa chọn cho mình những quyển sách phù hợp với những hội thoại phong phú hơn Còn ở bậc cơ
sở, đòi hỏi nhiều hơn là ở vai trò của người giáo viên vì thực sự lượng hội
Trang 30thoại cung cấp trong giáo trình chưa thực sự đáp ứng đủ và chưa thực sự sát thực với người học
1.5 Cơ sở miêu tả
1.5.1 Dẫn nhập
Để miêu tả ngữ pháp hội thoại trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, chúng tôi dựa vào lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp để nghiên cứu Đây là lý thuyết bắt đầu từ năm 1980, với những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tiêu biểu như Eddy Roulet (ở Thụy Sĩ) và Catherine Kerbrat Orecchioni (ở Pháp)
Phục vụ cho công tác miêu tả để khảo sát thì công việct trước tiên là xác định cấu trúc của các hội thoại được đưa ra trong các giáo trình tiếng Việt hiện nay Trong cuộc sống, chúng ta có vô vàn những hội thoại và dù phức tạp đến đâu và tưởng chừng như chúng không có cơ cấu tổ chức nào thì sự thực trong nó luôn bao gồm các đơn vị hội thoại, bao gồm:
- Các đơn vị có tính chất lưỡng thoại, hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại:
1.5.2 Miêu tả cuộc thoại
Trong các đơn vị có tính chất lưỡng phân, cuộc thoại (conversation) là đơn vị hội thoại lớn nhất Đỗ Hữu Châu, trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ
Trang 31dằng dặc những lời đối đáp Việc phải tách ra trong chuỗi dằng dặc những lời đối đáp của con người những đơn vị gọi là cuộc thoại là cần thiết để nghiên cứu [6, tr.312]
Theo C K Orecchioni cho rằng “để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”.[28, tr.313] Nhìn chung các tiêu chí để xác định được cuộc thoại và ranh giới cuộc thoại không thực sự dứt khoát, người ta có thể dựa vào dấu hiệu hình thức để nhận diện nhưng ngay cả những dấu hiệu hình thức cũng không thực sự rõ ràng Tuy công việc phân định ranh giới này là khó khăn, nhưng những người nghiên cứu buộc phải phân chia theo tính võ đoán Mặc dù là võ đoán nhưng chúng ta vẫn phải lựa chọn sự phân chia vì nó thực sự cần thiết trong nghiên cứu hội thoại
1.5.3 Miêu tả đoạn thoại
Đoạn thoại bao gồm các sự kiện lời nói Có thể đoạn thoại do một sự kiện lời nói mà cũng có thể do một số sự kiện lời nói tạo nên Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề, một chủ đề duy nhất còn về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích
Tương tự như sự phân định cuộc thoại, sự phân định đoạn thoại cũng không rành mạch nhưng nó là một đơn vị có thực Để xác định đoạn thoại nhiều khi phải dựa vào trực cảm, võ đoán
Có thể thấy cấu trúc chung của đoạn thoại là:
- Đoạn thoại mở thoại
- Thân
- Đoạn thoại kết thúc
Đoạn thoại mở thoại sẽ chuyển từ sự im lặng sang nói năng còn đoạn thoại kết thúc sẽ chuyển từ hoạt động nói năng sang im lặng, để thực hiện hai
Trang 32sự chuyển tiếp này đều không dễ dàng Đoạn thoại mở đầu phần lớn là công thức hóa, mang nhiều tính chất “đưa đẩy” giữa các nhân vật, ngoài chức năng
mở ra cuộc hội thoại nó còn có chức năng “thương lượng hội thoại” về đề tài diễn ngôn, thăm dò đối phương về mọi mặt
Đoạn thoại kết thúc không chỉ có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp
gỡ mà còn tìm cách xác định cái cách để khép lại vấn đề Thông thường, đoạn thoại mở đầu thường biểu lộ niềm vui khi gặp gỡ, còn đoạn thoại kết thúc biểu lộ sự nuối tiếc phải chia tay
1.5.4 Miêu tả cặp thoại
Cặp thoại là đơn vị lưỡng phân tối thiểu Đây là đơn vị cơ sở của hội
thoại và nó được cấu thành từ các tham thoại mà “tham thoại là phần đóng
góp của từng nhân vật hội thoại và một cặp thoại nhất định”
Có thể phân loại các cặp thoại dựa vào số lượng tham thoại:
- Cặp thoại một tham thoại
- Cặp thoại hai tham thoại
- Cặp thoại ba tham thoại
Ở cặp thoại một tham thoại là những trường hợp mà một trong hai tham thoại cấu thành nên nó thực hiện những hành vi kèm hoặc vật lí còn các yếu
tố ngôn ngữ nếu được phát ra thì chỉ có tính chất phù trợ nên không nhất thiết phải có Với những trường hợp, khi người nói không được người nghe hồi đáp bằng một hành vi tương ứng tỏ ra không thích thú với tham thoại của người kia thì chúng ta gọi đây là cặp thoại hẫng
Đối với cặp thoại hai tham thoại thì tham thoại thứ nhất được gọi là tham thoại dẫn nhập còn tham thoại thứ hai gọi là tham thoại hồi đáp
Còn lại là cặp thoại ba tham thoại Khi có hai tham thoại là đã hoàn chỉnh một cặp thoại nhưng có thêm tham thoại thứ ba để đóng lại cặp thoại đó hoặc mở ra một cặp thoại khác khi cần thiết, tham thoại thứ ba có thể là tham
Trang 33Một cuộc thoại có thể xem là chuỗi liên kết các cặp thoại, đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, điển hình là liên kết tuyến tính theo mô hình:
Cặp thoại 1 + cặp thoại 2 + cặp thoại 3 +…+cặp thoại n
Theo Đỗ Hữu Châu thì các cặp thoại đó có thể hài hòa, tích cực, mà cũng
có thể không hài hòa, tiêu cực
1.5.5 Tham thoại và hành vi ngôn ngữ
Tham thoại và hành vi ngôn ngữ là những đơn vị có tính chất đơn thoại Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Nó là nhân tố hình thành nên cặp thoại Cũng như các đơn vị lưỡng thoại, việc phân định tham thoại cũng không dễ dàng Về tổ chức, tham thoại
do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên
Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn ngữ Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ được xem là đơn vị nhỏ nhất của “ngữ pháp hội thoại” Theo Austin – Searle, hành vi ngôn ngữ có tính chất cô lập, nằm ngoài hoàn cảnh Vai trò và chức năng của các hành vi ngôn ngữ nằm trong mạng lưới hội thoại, không chỉ nằm trong quan hệ một lần giữa người nói và người nhận
mà quan trọng hơn nhiều là nằm trong quan hệ giữa các lời thoại thổ chức nên tham thoại, cặp thoại và tác động lên các nhân vật hội thoại trong từng thời điểm tạo nên cuộc thoại
Trong ngôn ngữ học cơ bản, có ba kiểu hành vi ngôn ngữ:
Trang 34- Hành vi liên hành vi
Ở những hành vi có hiệu lực ở lời là những hành vi xét trong quan hệ giữa các tham thoại của các nhân vật hội thoại với nhau Ví dụ, chúng ta có những hành vi nhƣ: hỏi/ trả lời, cầu khiến/ đáp ứng
Những hành vi liên hành vi nằm trong quan hệ giữa các hành vi tạo nên một tham thoại, chúng có tính chất đơn thoại trong khi các hành vi ở lời có tính chất đối thoại
Nhƣ vậy, trên đây chúng tôi đã giới thiệu cơ sở lý thuyết để miêu tả, khảo sát ngữ pháp hội thoại trong các sách giáo trình Từ những đơn vị của hội thoại chúng tôi sẽ đi đến xác định cấu trúc của hội thoại, nhận diện vấn đề và đƣa ra những đề xuất trong việc giảng dạy và biên soạn sách giáo trình tiếng Việt
Trang 35CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ CÁC KIỂU HỘI THOẠI TRONG CÁC
GIÁO TRÌNH Ở TRÌNH ĐỘ A, B
2.1 Hội thoại trong các giáo trình tiếng Việt
Trong đời sống hàng ngày chúng ta gặp vô số kiểu hội thoại Nó có thể bắt đầu bằng các câu hỏi, cảm thán, nghi vấn… Nghe vô cùng phức tạp nhưng thực chất chúng đều nằm trong những mô hình nhất định Để cung cấp các kiểu hội thoại này cho người nước ngoài hiểu không phải là một vấn đề đơn giản Với mục đích xây dựng được các hội thoại dễ hiểu, tự nhiên và gần gũi với sinh hoạt hàng ngày chúng tôi tiến hành khảo sát ngữ pháp hội thoa ̣i được cung cấp cụ thể trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay
Để tiện cho quá trình khảo chúng tôi sử dụng kí hiệu cho các giáo trình như sau:
hiệu
1 Tiếng Việt (trình độ A, quyển I) – Đoàn Thiện Thuật
(chủ biên), NXB Thế giới Hà Nội, 2006
GT1
2 Tiếng Việt (trình độ A, quyển II) – Đoàn Thiện Thuật
(chủ biên), NXB Thế giới Hà Nội, 2006
GT2
3 Thực hành tiếng Việt (trình độ B) – Đoàn Thiện Thuật
(chủ biên), NXB Thế giới, tái bản 2009
GT3
4 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập 1) – Phan Văn
Giưỡng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010
GT4
5 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập2) - Phan Văn
Giưỡng, NXB Giáo dục Việt Nam
GT5
6 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập 3) - Phan Văn
Giưỡng, NXB GD Việt Nam (Vietnamese for foreigners)
GT6
Trang 367 Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tập 4) - Phan Văn
Giưỡng, NXB GD Việt Nam
GT7
8 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (VSL1),
Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB GD
GT8
9 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (VSL2),
Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB GD, 2008
GT9
10 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (VSL3),
Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB GD
GT10
11 Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài (VSL4),
Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), NXB GD
GT11
12 Tiếng Việt cơ sở (Vietnamese for beginners)
Vũ Văn Thi, NXB ĐHQG HN
GT12
13 Thực hành tiếng Việt (Practice Vietnamese for foreigners)
Nguyễn Việt Hương, NXB ĐHQG HN, 2006
GT13
14 Tiếng Việt cơ sở (Vietnamese for foreigners)
Mai Ngọc Chừ (chủ biên), NXB Phương Đông, 2009
GT14
Qua khảo sát chúng tôi có cái nhìn về hội thoại trong các giáo trình như sau:
* Giáo trình của Đoàn Thiện Thuật (chủ biên)
Có rất nhiều cuốn sách tiếng Việt hiện nay do Đoàn Thiện Thuật biên
soạn, sử dụng phổ biến ở miền Bắc là cuốn Tiếng Việt trình độ A tập I và tập
II, Tiếng Việt trình độ B và Tiếng Việt trình độ C Tuy nhiên trong phạm vi luâ ̣n văn này, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 3 cuốn ở trình đô ̣ A và B Chúng tôi đã thống kê các câu hội thoại trong các giáo trình như sau:
Trang 37Nhâ ̣n xét:
GT1:
Cuốn sách bao gồm 14 bài, trong đó có hai bài ôn tập (bài 7 và bài 14) Trong số 12 bài còn lại chỉ có 4 bài được cung cấp hội thoại với dung lượng ngắn Số lượng các câu được cung cấp rất ít Các câu trong hội thoại khá ngắn, chỉ dao động từ 1 đến 7 từ với nội dung tương đối đơn giản Vai trò chính của giáo trình này thiên về cung cấp từ vựng và ngữ pháp và không thể hiện được những hội thoại phong phú đời thường
Cuốn sách hoàn toàn không coi tro ̣ng đến hô ̣i th oại mà chủ yếu là giới thiê ̣u từ vựng và ngữ pháp cơ bản
GT2:
Tương tự như cuốn giáo trình A tập I, trong cuốn sách tập II cũng bao gồm 14 bài với hai bài ôn (bài 21 và bài 28) Chỉ có 5 bài được cung cấp hội thoại Trong đó, câu ngắn và đơn giản nhất được sử dụng là một từ Câu dài nhất 12 từ So với giáo trình tập I, số lượng câu tăng lên nhưng không đáng kể
và có sự phân chia không đều Có bài không có hội thoại nhưng như bài 15 được cung cấp tới 3 đoạn hội thoại và bài 23 là 2 hội thoại
Hô ̣i thoa ̣i tuy có nhưng số lượng quá ít và nằm trong phần phu ̣ của cuốn sách Mục đích chính của giáo trình này vẫn là giới thiệu từ vựng và ngữ pháp
cơ bản, không chú tro ̣ng hô ̣i thoa ̣i
Trang 38Tất cả 16 bài trong cuốn sách đều bao gồm 5 phần với trật tự trên 16 bài với 16 chủ đề khác nhau Hầu hết mỗi bài có một đoạn hội thoại với dung lượng vừa phải Bài 8, bài 10, bài 12 và bài 13 được chia ra 2 đoạn hội thoại nhưng vẫn xuyên suốt trong một nội dung chủ đề Riêng bài 14 và bài 15 bao gồm 3 đoạn hội thoại ngắn
Ở giáo trình này số lượng các câu trong mỗi bài tăng lên, dung lượng tương đối bằng nhau Cả giáo trình gồm 440 câu, trung bình mỗi bài hội thoại
có 28 câu Câu dài nhất bao gồm 27 từ Câu đơn giản và ngắn nhất vẫn bao gồm 1 từ
So với hai giáo trình đầu, ở giáo trình này tác giả coi hội thoại là vấn đề trung tâm, trong hội ngoa ̣i chứa đựng những ngữ pháp mới của bài ho ̣c
Mô ̣t điều đáng chú ý nữa là mỗi bài là mô ̣t chủ đề riêng biê ̣t chứ không còn là cách sắp xếp theo ngữ pháp ở hai giáo trình trước
* Giáo trình của Phan Văn Giưỡng
Bốn tâ ̣p giáo trình của Phan Văn Giưỡng vẫn chỉ nằm ở trình đô ̣ A ,B Đây là cuốn sách song ngữ Tùy các tập sách số lượng hội thoại được cung cấp khác nhau
Chúng tôi đã thống kê được số lượng câu được thể hiện ở phần hội thoại trong từng giáo trình Kết quả như sau:
Trang 39Trong 10 bài có hội thoại, tổng cả có 201 câu, trung bình mỗi bài có 14 câu Câu ngắn nhất bao gồm 1 từ, câu dài nhất là 10 từ Độ dài của câu từ 3 đến 6 từ
GT6:
Tất cả có 12 bài trong giáo trình, mỗi bài thiên về một chủ đề khác nhau Hội thoại chỉ có mặt ở một số bài, có thể đứng ở đầu hoặc sau phần luyện tập
và bài đọc Có tổng 126 câu trong 8 bài có hội thoại, mỗi bài trung bình gồm
11 câu Riêng bài 2 có hai hội thoại ngắn còn các bài còn lại bao gồm một hội
Trang 40thoại Câu ngắn nhất gồm 1 từ, câu dài nhất gồm 21 từ Độ dài trung bình của các câu dao động từ 5 đến 9 từ
GT7:
Cuốn giáo trình gồm 12 bài với 2 bài ôn và tự đánh giá Về cơ bản thì mỗi bài gồm 3 phần chính: Bài đọc – hội thoại – Luyện tập Tuy nhiên chúng không được phân chia theo bố cục rõ ràng, không có sự thống nhất xuyên suốt giữa các bài Bài tập được lồng ghép sau phần bài đọc hoặc hội thoại
Phần hội thoại có thể xuất hiện trước hoặc sau bài đọc, một bài có thể có tới 2 hội thoại nhưng có bài không có
Cũng tương tự như GT6, giáo trình này có 8 bài được cung cấp hội thoại với 176 câu, trung bình mỗi bài có 15 câu Câu ngắn nhất gồm 1 từ, dài nhất gồm 33 từ, độ dài trung bình của câu dao động từ 5 đến 12 từ
Giáo trình của tác giả Nguyễn Văn Huệ (chủ biên)
Khảo sát 4 tập giáo trình của Nguyễn Văn Huệ, chúng tôi có kết quả như sau: